không đủ để đáp ứng nhu cầu công việc đề ra.Để đóng góp phần nào tìm hiểu tình hình chăn nuôi lợn thịt hiện nay tại các cơ sở chăn nuôi, đồng thời áp dụng phương pháp chăn nuôi có hiệu q
Trang 1PHẠM VĂN SỸ
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG
VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN THỊT NUÔI TẠI TRẠI LỢN
PHẠM KHẮC BỘ - THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2015 - 2019
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2PHẠM VĂN SỸ
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG
VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN THỊT NUÔI TẠI TRẠI LỢN
PHẠM KHẮC BỘ - THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thú y
Giảng viên hướng dẫn: TS La Văn Công
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quãng thời gian học tập và rèn luyện dưới ngôi trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Cũng như trong quãng thời gian thực tập tốt nghiệp tại trang trại chăn nuôi lợn thuộc Công ty Cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam Em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô trong khoa Chăn nuôi Thú y Nhân dịp này em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới: Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn TS
La Văn Công đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, nhắc nhở và chỉ bảo chu đáo để
em có thể hoàn thành tốt khóa luận này
Đồng thời em cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Công ty Cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam, cùng với gia đình chủ trang trại là bác Phạm Khắc Bộ và toàn thể cán bộ kỹ sư trong trại đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em hoàn thành đợt thực tập tốt nghiệp này
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, những người thân cùng bạn bè đã động viên khích lệ tinh thần giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
Sinh viên
Phạm Văn Sỹ
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Lịch tiêm phòng vắc xin được áp dụng cho lợn thịt tại trại 36
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn của trại trong 3 năm qua 39
Bảng 4.2: Số lượng lợn thịt được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại trại 40
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện công tác chăm sóc,nuôi dưỡng và quản lý đàn lợn 41
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh sát trùng 42
Bảng 4.5 Kết quả tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn tại trại 43
Bảng 4.6 Kết quả chẩn đoán một số bệnh trên đàn lợn thịt của trại 44
Bảng 4.7 Kết quả điều trị một số bệnh trên đàn lợn thịt của trại 46
Bảng 4.8 Kết quả thực hiện công tác nhập và xuất bán lợn tại trại 52
Bảng 4.9 Kết quả thực hiện các công việc khác 53
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Cl Perfringens : Clostridium perfringens
E coli : Escherichia coli
Nxb : Nhà xuất bản Scs : Sau cai sữa
S typhimurium : Salmonella typhimurium
PED : Dịch tiêu chảy cấp ở lợn
TT : Thể trọng
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Vị trí địa lí 3
2.1.2 Điều kiện khí hậu 3
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại 4
2.1.4 Cơ sở vật chất của trại 4
2.1.5 Thuận lợi và khó khăn 6
2.2 Tổng quan tài liệu trong và ngoài nước 7
2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng khả năng sản xuất và phẩm chất thịt của lợn 7
2.2.2 Một số bệnh thường gặp ở lợn thịt 9
2.2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 24
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 30
3.1 Đối tượng 30
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 30
3.3 Nội dung thực hiện 30
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 30
Trang 73.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 30
3.4.2 Phương pháp thực hiện 31
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39
4.1 Tình hình sản xuất chăn nuôi của trại Phạm Khắc Bộ, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên 39
4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn thịt của trại 39
4.2.1 Số lượng lợn thịt được giao trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trong 06 tháng thực tập 39
4.2.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý đàn lợn 40 4.3 Kết quả thực hiện phòng và trị bệnh cho đàn lợn tại trại Phạm Khắc Bộ 42 4.3.1 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh sát trùng chuồng trại 42
4.3.2 Kết quả thực hiện công tác phòng bệnh bằng vắc xin 43
4.3.3.Kết quả thực hiện công tác chẩn đoán một số bệnh cho đàn lợn thịt nuôi tại trại 44
4.3.4 Kết điều trị một số bệnh ở lợn thịt tại trại 45
4.4 Kết quả thực hiện một số công việc khác trong thời gian thực tập 49
4.4.1 Nhập lợn 49
4.4.2 Xuất lợn 50
4.4.3 Các công việc khác 53
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Đề nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 PHỤ LỤC
Trang 8Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Nông nghiệp là một trong ba ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng trong năm 2019 vừa qua gặp nhiều biến động, đứng trước những áp lực, thách thức, khó khăn về chất lượng sản phẩm thịt lợn và khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như thị trường quốc tế
Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn đã và đang được chú trọng đầu tư và phát triển, áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật Những tiến bộ về giống, thức ăn, công tác thú y, làm cho đàn lợn không ngừng tăng lên về số lượng cũng như chất lượng ngày càng được nâng cao Không chỉ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước mà còn phục vụ xuất khẩu
Phát triển ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng mang lại lợi nhuận kinh tế trước tiên là đối với người chăn nuôi, sau đó là tạo động lực tiền đề đem lại lợi ích kinh tế cho quốc gia Tuy nhiên, để đạt được những thành tựu đó, trong chăn nuôi lợn vấn đề quan trọng cần đặc biệt quan tâm đó là phòng chống dịch bệnh và vệ sinh thú y Dịch bệnh là yếu
tố hết sức quan trọng, ảnh hưởng đến chi phí chăn nuôi và giá thành của sản phẩm Cùng với đó là phải thực hiện tốt công tác chăm sóc và nuôi dưỡng quản lý đàn vật nuôi Đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu, cũng như rất nhiều loại thuốc được sử dụng để phòng và trị bệnh, nhưng kết quả đem lại không như mong muốn, lợn khỏi bệnh thường không triệt để và hay bị tái phát
Nhiều công ty, trang trại đang gặp nhiều khó khăn trong công tác nuôi dưỡng, phòng và điều trị bệnh cho đàn lợn Nguồn nhân lực trong công ty
Trang 9không đủ để đáp ứng nhu cầu công việc đề ra.Để đóng góp phần nào tìm hiểu tình hình chăn nuôi lợn thịt hiện nay tại các cơ sở chăn nuôi, đồng thời áp dụng phương pháp chăn nuôi có hiệu quả cao, từ yêu cầu thực tiễn đó, em tiến
hành nghiên cứu chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn thịt nuôi tại trại lợn Phạm Khắc Bộ - thị xã Mỹ Hào - tỉnh Hưng Yên”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu
- Xác định tình hình nhiễm bệnh, để đưa ra biện pháp phòng và trị bệnh
cho đàn lợn thịt nuôi tại trang trại
- Hoàn thành những kế hoạch của cơ sở đặt ra
- Sinh viên phải chăm chỉ, cần cù, chịu khó, có thái độ, ý thức tốt với công việc của mình
- Chủ động, sáng tạo trong công việc, dưới sự giám sát của cơ sở, sẵn
sàng hoàn thành những nhiệm vụ mà cơ sở phân công
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Vị trí địa lí
Trang trại chăn nuôi lợn Phạm Khắc Bộ là trại gia công của Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam, với quy mô 1161 con lợn thịt do ông Phạm Khắc Bộ làm chủ trại Trang trại được xây dựng trên địa bàn Thôn Đọ - Xã Bạch Sam – thị xã Mỹ Hào - tỉnh Hưng Yên với tổng diện tích là 4000m2
Mỹ Hào là một thị xã nằm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, phía Bắc giáp huyện Văn Lâm, phía Tây giáp huyện Yên Mỹ, phía Nam giáp huyện Ân Thi, của tỉnh Hưng Yên Phía Đông giáp các huyện của tỉnh Hải Dương là: Cẩm Giàng (ở phía Đông Bắc) và huyện Bình Giang (ở phía Đông Nam)
Diện tích tự nhiên của thị xã Mỹ Hào là 79,1 km²
Huyện nằm trên trục đường quốc lộ 5 chạy từ Hà Nội, qua thị trấn Bần Yên Nhân, sau đó xuyên qua giữa huyện, sang tỉnh Hải Dương Quốc lộ
39 xuất phát từ ngã ba với quốc lộ 5 tại thị trấn Bần Yên Nhân đi thành phố Hưng Yên, rồi sang Thái Bình Phía Đông có quốc lộ 38 chạy ghé qua, giao với quốc lộ 5 tại ranh giới với huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
2.1.2 Điều kiện khí hậu
Hưng Yên nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chia làm 4 mùa rõ rệt (Xuân, Hạ, Thu, Đông) Mùa mưa kéo dài từ cuối tháng 4 đến tháng 10 hàng năm Lượng mưa trong mùa mưa chiếm tới 70% tổng lượng mưa cả năm
Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.450 – 1.650 mm
Nhiệt độ trung bình: 23,2 °C
Số giờ nắng trong năm: 1.519 giờ
Độ ẩm tương đối trung bình: 85 – 87%
Trang 112.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại
Trại gồm có 04 người:
+ 01 chủ trại
+ 01 kỹ sư chính của Công ty
+ 02 sinh viên thực tập
2.1.4 Cơ sở vật chất của trại
+ Cơ sở vật chất của trang trại
- Trại lợn có khoảng 4000m2 đất, trong đó hơn 1,500m2 đất dùng để xây khu chăn nuôi tập trung Khoảng 2,500m2 là xây dựng nhà ở cho kỹ sư ,sinh viên thực tập, bếp ăn, công trình phục vụ cho các hoạt động khác của trại, trồng cây xanh và ao hồ xung quanh
-Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 1000 con lợn thịt bao gồm: 2 chuồng (HB01 và HB02), mỗi chuồng có 2 dãy (có đường đi ở giữa) Mỗi chuồng có 15 ô: 13 ô lớn có kích thước 5 m × 7m/ô, 02 ô cách ly được ngăn đôi từ một ô lớn gần phía quạt thông gió kích thước 2,5 m × 7 m/ô
- Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có quạt thông gió, mỗi chuồng có 6 quạt (4 quạt
to và 2 quạt bé) Tường ở dãy ngoài mỗi bên chuồng nuôi có cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m², cách nền 1,2 m Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh
- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
- Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống, nước tắm, nước phục vụ cho công tác khác được cấp từ một bể lớn, bể được bố trí xây dựng ở đầu chuồng có hệ thống lọc và xử lí trước khi dẫn nước vào chuồng
Trang 12- Có đầy đủ các trang thiết bị, máy móc để phục vụ cho kỹ sư và sinh viên sinh hoạt hàng ngày như: khu tắm nóng lạnh, tivi, tủ lạnh, quạt, bình lọc nước,
- Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi được trang trại chú trọng
và đầu tư hơn hết
- Có các hệ thống quạt gió, giàn mát, điện sáng, vòi uống nước cho lợn tự động
- Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông và lúc úm lợn con mới nhập
- Ngoài ra, trại còn có một máy phát điện công suất lớn và một máy phát điện dự phòng đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi khi mất điện
- Kho chứa thuốc có đầy đủ các loại thuốc, các dụng cụ trang thiết bị phục vụ cho công tác điều trị bệnh cho lợn Có tủ lạnh bảo quản vắc xin và tủ thuốc để bảo quản, dự trữ thuốc cho trại khi nhập từ công ty về
- Hệ thống sát trùng: Nhà sát trùng cho người được chia làm 3 khu gồm
1 khu thay đồ, một khu sát trùng và một khu tắm tráng với các trang thiết bị như: Bình nóng lạnh, vòi hoa sen, chậu rửa, móc quần áo, tủ đựng quần áo, khăn, xà bông, dầu gội Hệ thống sát trùng khu ngoài chuồng nuôi gồm: nhà
Trang 13sát trùng xe, hố sát trùng, máy nén để phun sát trùng di động trong khu vực chuồng nuôi lợn
- Hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi: Chất thải được xử lý bằng hệ thống lọc vật rắn, máy ép phân, biogas trước khi thải ra môi trường, có điểm tiêu chất thải, có giàn khử mùi phía sau quạt hút gió
2.1.5 Thuận lợi và khó khăn
Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn, năng lực, nhiệt tình năng động Sinh viên làm việc chăm chỉ tuân thủ tốt quy định của trại và có ý thức trách nhiệm trong công việc
Chủ trang trại có năng lực, trình độ và lòng đam mê yêu nghề, luôn nắm bắt được tình hình xã hội Chăm lo quan tâm đến đời sống của anh em cán bộ kỹ sư và sinh viên thực tập
Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trại
Trang 14Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý nước thải của trại gặp nhiều khó khăn
Giá lợn biến động thất thường khiến việc đầu tư các trang thiết bị cơ sở
hạ tầng, nâng cấp hệ thống xử lý chất thải gặp nhiều khó khăn
2.2 Tổng quan tài liệu trong và ngoài nước
2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng khả năng sản xuất và phẩm chất thịt của lợn
2.2.1.1 Đặc điểm sinh trưởng, cơ sở di truyền của sự sinh trưởng
Theo Đặng Hoàng Biên (2016) [1], sinh trưởng là quá trình sinh tổng hợp, tích lũy các chất dinh dưỡng từ bên ngoài được đưa vào để tăng lên về kích thước các mô trong cơ thể, làm cho kích thước và khối lượng cơ thể tăng lên
Sinh trưởng chính là quá trình gia tăng về khối lượng và kích thước cơ thể do sự tăng lên về khối lượng và kích thước của tế bào
Để xác định sinh trưởng người ta dùng phương pháp cân định kỳ khối lượng và đo kích thước các chiều của cơ thể Ở lợn thường đo 4 chiều: Dài thân, vòng ngực, cao vây, vòng ống Thời điểm đo thường ở các tháng tuổi:
sơ sinh 1, 2, 4, 6, 8, 10, 12, 18, 24, 36
2.2.1.2 Sự phát triển các cơ quan trong cơ thể
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của lợn, các tổ chức khác nhau được ưu tiên tích luỹ khác nhau Các hệ thống chức năng như hệ thần kinh, hệ tiêu hoá, tuyến nội tiết được ưu tiên phát triển trước hết Sau đó là bộ xương, hệ thống cơ bắp và cuối cùng là mô mỡ
Cơ bắp là phần quan trọng tạo nên sản phẩm thịt lợn Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cơ thể, từ lúc sơ sinh đến khi trưởng thành, số lượng các bó cơ và sợi cơ ổn định Tuy nhiên, giai đoạn lợn còn nhỏ đến khoảng 60
kg trong cơ thể có sự ưu tiên cho sự phát triển các tổ chức nạc
Đối với mô mỡ, sự tăng lên về số lượng và kích thước tế bào mỡ là nguyên nhân chính gây nên sự tăng về khối lượng của mô mỡ Ở giai đoạn
Trang 15cuối của quá trình phát triển trong cơ thể lợn có quá trình ưu tiên phát triển và
sự tích luỹ mỡ
2.2.1.3 Quy luật ưu tiên các chất dinh dưỡng trong cơ thể
Trong cơ thể lợn, có sự ưu tiên dinh dưỡng khác nhau và theo từng giai đoạn sinh trưởng phát triển cho từng hoạt động chức năng của tất cả các bộ phận trong cơ thể
Trước hết, dinh dưỡng được ưu tiên cho hoạt động thần kinh, tiếp đến cho hoạt động sinh sản, cho sự phát triển bộ xương, cho sự tích luỹ nạc và cuối cùng cho sự tích luỹ mỡ Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, khi dinh dưỡng cung cấp bị giảm xuống 20% so với tiêu chuẩn ăn cho lợn thì quá trình tích luỹ mỡ bị ngưng trệ, khi dinh dưỡng giảm xuống 40% thì sự tích luỹ nạc,
mỡ của lợn bị dừng lại Vì vậy, nuôi lợn không đủ dinh dưỡng thì lợn sẽ không tăng khối lượng
2.2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất thịt lợn
Mỗi giống lợn có thể tạo ra chất lượng thịt và năng suất thịt khác nhau Các giống lợn nội có khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt thấp hơn các giống lợn ngoại
Khả năng sản xuất và chất lượng thịt ngoài điều kiện ngoại cảnh và thức ăn thì yếu tố di truyền là yếu tố quan trọng có khả năng ảnh hưởng lớn nhất Theo Trịnh Hồng Sơn (2014) [25], các chỉ tiêu thân thịt như tỷ lệ móc hàm, tỷ lệ nạc, độ dày mỡ lưng, chiều dài thân thịt và diện tích cơ thăn ở các giống lợn khác nhau là khác nhau
Phẩm chất thịt của lợn ngoại và lợn lai cũng tốt hơn so với lợn địa phương, tỷ lệ thịt nạc của các giống lợn ngoại là cao hơn nhiều so với lợn nội Hiện nay, người ta lợi dụng ưu thế lai của phép lai kinh tế để phối hợp nhiều giống vào trong 1 con lai nhằm tận dụng các đặc điểm tốt từ các giống lợn khác nhau Đồng thời, sản phẩm của phương pháp lai là các con giống có thể đáp ứng
Trang 16tốt yêu cầu của thị trường, nâng cao năng suất và chất lượng thịt Kết quả khảo sát năng suất và phẩm chất thịt của 1 số giống lợn của Đặng Hoàng Biên (2016) [1] cho thấy, khả năng tăng khối lượng, tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ thịt nạc của lợn Landrace và lợn yorksire đều cao hơn nhiều so với của lợn Móng Cái
Theo Trịnh Hồng Sơn (2014) [25], thời gian và chế độ nuôi là hai nhân
tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và phẩm chất thịt lợn Trần Văn Phùng
và cs (2004) [23] cho biết: Sự thay đổi thành phần hoá học của mô cơ, mô
mỡ của lợn chủ yếu xảy ra trong giai đoạn trước 4 tháng tuổi Dựa vào quy luật sinh trưởng tích lũy chất dinh dưỡng trong cơ thể lợn người ta đề ra hai phương thức nuôi: nuôi lấy nạc đòi hỏi thời gian nuôi ngắn, khối lượng giết thịt nhỏ hơn phương thức nuôi lấy thịt - mỡ, còn phương thức nuôi lấy mỡ cần thời gian nuôi dài, khối lượng giết thịt lớn hơn Phương thức cho ăn tự do hay hạn chế cũng làm ảnh hưởng đến năng suất thịt, cho ăn tự do sẽ cho khả năng sản xuất thịt nhiều hơn cho ăn khẩu phần hạn chế
* Khí hậu và thời tiết
Khí hậu mát mẻ, nhiệt độ và độ ẩm thích hợp thì lợn ăn tốt, tỷ lệ tiêu hoá cao, tích lũy cao, sinh trưởng và phát triển nhanh, năng suất cao hơn Khi nhiệt độ chuồng nuôi quá cao, lợn ăn ít, tỷ lệ tiêu hoá kém, dẫn đến giảm tăng khối lượng Nhiệt độ quá thấp, lợn tiêu hao nhiều năng lượng để chống rét, tiêu tốn thức ăn cao
2.2.2 Một số bệnh thường gặp ở lợn thịt
2.2.2.1 Bệnh viêm phổi (Bệnh suyễn lợn)
Nguyên nhân
Theo Lê Văn Lãnh và cs (2012) [12], bệnh suyễn lợn hay “Dịch viêm
phổi địa phương ở lợn” (Enzootic pneumonia) là bệnh truyền nhiễm mãn tính
ở lợn Tỷ lệ chết không cao nhưng bệnh gây ra thiệt hại lớn trong nghành
Trang 17chăn nuôi lợn làm giảm tốc độ tăng trọng và gia tăng tỷ lệ mắc các bệnh kế phát, đặc biệt là những bệnh về đường hô hấp
Nguyễn Ngọc Nhiên (1996) [20], Cù Hữu Phú và cs (2005) [24], đã có những nghiên cứu về vai trò của các vi khuẩn kế phát trong bệnh suyễn lợn Kết quả cho thấy, nếu kết hợp với các vi trùng gây viêm phổi khác sẽ tạo nên
tình trạng viêm phổi nặng với triệu chứng sốt cao, ho nhiều, khó thở
Mycoplasma được coi là nguồn gốc gây viêm đường hô hấp trên lợn ở nước ta
và các nước trên thế giới
TheoTajima, Yagihashi (1982) [42] cho biết, Mycoplasma hyopneumoniae có
kích thước khá nhỏ, bằng khoảng 1/5 vi trùng (400 - 1200 nm, bộ gene khoảng 893 -
920 kb) Tế bào vi khuẩn không có vách mà chỉ có một lớp màng rất linh động, là vi khuẩn Gram (-), tuy nhiên không thể quan sát dưới kính hiển vi quang học
Sức đề kháng: Mycoplasma hyopneumoniae bị bất hoạt sau 48 giờ
trong điều kiện khô, nhưng có thể tồn tại đến 17 ngày trong môi trường nước mưa ở nhiệt độ 2 - 7oC Trong phổi tồn tại 2 tháng ở nhiệt độ âm 25oC và từ 9
- 11 ngày ở nhiệt độ l - 6oC và chỉ 3 - 7 ngày ở nhiệt độ 17 - 25oC
Triệu chứng
Theo Lê Văn Năm (2013) [16], thời kỳ nung bệnh dài từ1 - 4 tuần,
nhưng cũng có thể sau 1 - 3 ngày nếu chưa có mặt của Haemophillus
Bệnh thường phát triển rất chậm trên nền của viêm phế quản phổi và thông thường có 2 thể biểu hiện: á cấp tính và mãn tính
Trang 18+ Lúc đầu ho khan từng tiếng, ho chủ yếu về đêm, sau đó chuyển thành cơn, ho ướt nghe rõ nhất là vào sáng sớm đặc biệt là các buổi khi trời se lạnh, gió lùa đột ngột, nước mũi nước mắt chảy ra nhiều
+ Vì phổi bị tổn thương nên lợn thở thể ngực phải chuyển sang thở thể bụng, nhiều con thở ngồi như chó thở Rõ nhất là sau khi bị xua đuổi, có những con mệt quá nằm lỳ ra mà không có phản xạ sợ sệt, vẻ mặt rầu rĩ, mí mắt sụp, tai không ve vẩy Xương sườn và cơ bụng nhô lên hạ xuống theo nhịp thở gấp
+ Nhịp tim và nhịp thở đều tăng cao
+ Khi sờ nắn hoặc gõ để khám bệnh, lợn cảm thấy đau ở vùng phổi, rõ nhất là 1 - 2 đôi xương sườn đầu giáp bả vai Lợn vẫn thèm ăn nhưng ăn uống thất thường
+ Nếu không điều trị, lợn bệnh sẽ chết sau 7 - 20 ngày Tỷ lệ chết phụ thuộc rất nhiều vào lứa tuổi, sức đề kháng cơ thể và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng cũng như bệnh thứ phát
- Thể mãn tính
Đây là thể bệnh thường gặp nhất ở những đàn mang trùng
+ Lợn bệnh ho húng hắng liên tục và bệnh kéo dài gây cảm giác rất khó chịu
+ Đàn lợn ăn uống bình thường, nhưng lợn chậm lớn còi cọc
+ Da lợn kém bóng, lông cứng và xù dựng đứng, nhiều trường hợp thấy
da bị quăn và xuất hiện nhiều vảy nâu
+ Trong trại có một số con bị viêm khớp và vì thế chúng đi lại khó khăn đôi khi thấy liệt và bán liệt Ở lợn nái, có thể có thấy thai chết lưu, sảy thai và đẻ ra con chết yểu
+ Nếu bị bội nhiễm thì lợn bệnh ho thường sổ mũi như mủ khiến các triệu chứng lâm sàng càng trở nên phức tạp
Trang 19+ Cả hai thể cấp và mãn tính đều có tiên lượng xấu đi do lợn còi cọc, chậm lớn hao hụt số đầu con, chi phí thức ăn thuốc men tăng
+ Nếu lợn bệnh qua được thì khả năng hồi phục cũng rất kém, do phổi
bị tổn thương nặng, lợn trở nên còi cọc và chậm lớn
Hiệu quả của các biện pháp phòng bệnh viêm phổi do Mycoplasma phụ
thuộc rất nhiều vào các biện pháp quản lý đàn lợn Cần phải tạo được môi trường thuận lợi cho đàn lợn như không khí sạch sẽ, thông gió thường xuyên, nhiệt độ ấm áp và mật độ trong chuồng phù hợp Trong dãy chuồng không nên nuôi lẫn lộn các đàn lợn có lứa tuổi cách nhau quá 3 tuần
Ở các trại lợn cung cấp giống, để xây dựng đàn lợn không nhiễm
Mycoplasma cần sử dụng kháng sinh cho lợn nái từ giai đoạn cuối của quá
trình mang thai cho đến khi cai sữa
Ngoài ra, còn phòng bệnh bằng vắc xin hoặc cho uống thuốc định kỳ sẽ giúp đàn lợn giảm thiểu được sự xâm nhập và gây bệnh của vi khuẩn
Những kháng sinh có hiệu lực điều trị với Mycoplasma là tetracycline,
tylosin và tiamulin hay gentamycin, ngoài ra còn kết hợp các kháng sinh kháng viêm và một số thuốc bổ trợ để rút ngắn quá trình điều trị cho hiệu quả cao Nếu phát hiện và điều trị sớm thì đạt được hiệu quả chữa bệnh cao
Hiện nay, vắc xin đã được tìm thấy để giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh, nhưng không ngăn chặn các bệnh xảy ra từ trong toàn bộ số lợn mắc bệnh do một số nguyên nhân từ cá thể hoặc ngoại cảnh làm vắc xin giảm hay không có hiệu lực
Trang 202.2.2.2 Hội chứng tiêu chảy ở lợn
Theo Nguyễn Đức Thủy (2015) [28], tiêu chảy là một hiện tượng bệnh
lý ở đường tiêu hóa và do nhiều nguyên nhân khác nhau, chúng ta có thể phân loại ra là nguyên nhân nguyên phát và nguyên nhân thứ phát Muốn phân biệt rạch ròi giữa hai nguyên nhân này là rất khó khăn Tuy nhiên, cho dù là nguyên nhân nào cũng gây hậu quả lớn đến cơ thể và đường tiêu hóa của lợn Qua nhiều nghiên cứu cho thấy, nguyên nhân bị tiêu chảy ở lợn là do một số nguyên nhân sau đây:
+ Do vi khuẩn:
Trong đường ruột của lợn có rất nhiều vi sinh vật sinh sống Vi sinh vật trong đường ruột tồn tại dưới dạng một hệ sinh thái Nguyễn Đức Thủy (2015) [28] cho biết: vi sinh vật bao gồm các loại virut, vi khuẩn và các loại nấm mốc Hoạt động của hệ sinh thái trong đường ruột luôn được duy trì ở mức cân bằng và ổn định, một khi do một số yếu tố bất lợi làm giảm sức đề kháng của lợn thì vi sinh vật có hại trong đường ruột có cơ hội phát triển mạnh hơn vi sinh vật có lợi, gây mất cân bằng và dẫn đến lợn bị tiêu chảy
Theo Bùi Tiến Văn (2015) [34], một số vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường
ruột là E coli, salmonella sp., shigela, Klebsiella, Cl pefringens … Đó là những
vi khuẩn quan trọng gây rối loạn tiêu hóa ở người và nhiều loài động vật
Nhiều tác giả nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy đã chứng minh rằng, khi gặp điều kiện thuận lợi, những vi khuẩn thường gặp ở đường tiêu hoá sẽ tăng độc tính, phát triển với số lượng lớn trở thành có hại và gây bệnh
Theo Nguyễn Đức Thủy (2015) [28], bình thường E coli cư trú ở
ruột già và phần cuối của ruột non, nhưng khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ nhân lên với số lượng lớn ở lớp sâu tế bào thành ruột, đi vào máu đến các nội tạng Ở trong các cơ quan nội tạng, vi khuẩn này tiếp tục phát triển và
Trang 21cư trú làm cho con vật rơi vào trạng thái bệnh lý Theo Sa Đình Chiến và
Cù Hữu Phú (2016) [3], khẳng định rằng vi khuẩn E coli là nguyên nhân
gây bệnh phổ biến và quan trọng nhất của hội chứng tiêu chảy ở lợn
Nghiêm Thị Anh Đào (2008) [6] đã nghiên cứu và kết luận, từ mẫu
phân và phủ tạng lợn bệnh phân lập được vi khuẩn E coli với các tỷ lệ nhiễm
lần lượt là: ở phân 92,8%, ở gan 75,0%, ở lách 83,3% và ở ruột là 100%
Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [15], khi xét nghiệm phân gia súc khoẻ và gia súc bị tiêu chảy đã nhận thấy trong phân lợn thường xuyên
có các loại vi khuẩn hiếu khí: E coli, Salmonella, Streptococcus, Bacilus
subtilis Khi lợn bị tiêu chảy thì E coli, Salmonella tăng lên một cách
bội nhiễm
E coli có sẵn trong đường ruột của lợn, nhưng không phải lúc nào cũng
gây bệnh mà chỉ gây bệnh khi sức đề kháng của lợn giảm sút do chăm sóc nuôi dưỡng kém, điều kiện thời tiết thay đổi đột ngột, các bệnh kế phát
Khi nghiên cứu về E coli và Salmonella trong phân lợn tiêu chảy và lợn
không tiêu chảy, Nguyễn Thị Ngữ (2005) [21] cho biết, ở lợn không tiêu chảy có
83,30% - 88,29% số mẫu có E coli, 61,00% - 70,50% số mẫu có mặt Salmonella
Trong khi đó, ở mẫu phân của lợn bị tiêu chảy có tới 93,7% - 96,4% cố mẫu phân
lập có E coli và 75,0% - 78,6% số mẫu phân lập có Salmonella
+ Do virus
Đã có nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng, virus cũng là nguyên nhân gây
tiêu chảy ở lợn Nhiều tác giả nghiên cứu đã kết luận 1 số virus như
Rota-virus, TGE, ParvoRota-virus, Adenovirus có vai trò nhất định gây hội chứng tiêu
chảy ở lợn Sự xuất hiện của virus đã làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hoá, suy giảm sức đề kháng của cơ thể và gây ỉa chảy ở thể cấp tính
TGE (Transmisssible gastro enteritis) được chú ý nhiều trong hội chứng
tiêu chảy ở lợn TGE gây bệnh viên dạ dày ruột truyền nhiễm ở lợn, là một
bệnh có tính chất truyền nhiễm cao, biểu hiện đặc trưng là nôn mửa và tiêu
Trang 22chảy nghiêm trọng Bệnh thường xảy ra ở các cơ sở nuôi tập trung khi thời tiết rét, lạnh và chỉ gây bệnh cho lợn Ở lợn, virus nhân lên mạnh nhất ở niêm mạc của không tràng và tá tràng, rồi đến hồi tràng, chúng không sinh sản trong dạ dày và kết tràng
Có một loại virus cực kì nguy hiểm nữa có thể gây thành dịch tiêu chảy
hàng loạt trên lợn đó là virut PED (Porcin Epidemic Diarrhoea) Theo Trần Thu Trang (2013) [31], PED là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở lợn con mọi lứa tuổi, bệnh lây lan rất nhanh Nguyên nhân gây ra bệnh là do virus Coronavius,
lần đầu tiên được phát hiện tại Anh Quốc vào năm 1971, nhưng lúc đó chưa được công bố dịch
+ Do ký sinh trùng
Ký sinh trùng ký sinh trong hệ tiêu hoá là một trong những nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy Ký sinh trùng ngoài việc lấy đi dinh dưỡng của lợn, tiết độc tố đầu độc cho lợn, chúng còn gây tác động cơ giới làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa và là cơ hội khởi đầu cho quá trình nhiễm trùng Có nhiều loại ký sinh trùng đường ruột tác động gây ra bệnh tiêu chảy như sán lá ruột lợn, giun đũa lợn Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Ngà (2015) [17], ngoài tác động cơ giới lên thành ruột thì giun sán còn tiết độc tố có thể gây rối loạn tiêu hóa, làm lợn còi cọc chậm lớn và mở đường cho nhiều loại vi rút vi khuẩn xâm nhập
+ Do thời tiết, khí hậu
Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể lợn Khi điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột: nóng quá, lạnh quá, mưa, gió, độ ẩm không khí cao đều là yếu tố tác động trực tiếp đến lợn, đặc biệt là lợn con
Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [4], các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng thay đổi bất thường của điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng
Trang 23trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, vì các phản ứng thích nghi của cơ thể lợn con còn yếu
Theo Nguyễn Văn Tâm và cs (2006) [22], Hồ Văn Nam và cs (1997) [15] cho biết: khi lợn bị lạnh, ẩm kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác động thực bào, do đó lợn dễ bị vi khuẩn cường độc gây bệnh
+ Do kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng
Kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng là yếu tố vô cùng quan trọng, việc chăm sóc nuôi dưỡng nếu không đảm bảo quy trình kỹ thuật thì sẽ ảnh hưởng đến sức đề kháng của lợn, một khi sức đề kháng giảm thì các vi khuẩn có hại có điều kiện để phát triển mạnh lên, đặc biệt là vi khuẩn đường ruột Việc thực hiện đúng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng trong chăn nuôi sẽ giúp nâng cao sức đề kháng và khả năng sinh trưởng của lợn Thức ăn bị nhiễm độc tố nấm mốc cũng là nguyên nhân gây ra tiêu chảy Khẩu phần thức ăn của lợn thiếu khoáng và các vitamin cũng là nguyên nhân làm lợn dễ mắc bệnh
Thức ăn kém chất lượng, ôi thiu cũng là nguyên nhân làm cho lợn con bị tiêu chảy Vậy cần có phương thức chăm sóc nuôi dưỡng tốt, khẩu phần ăn hợp lý để hạn chế bệnh viêm ruột cho lợn
Thức ăn thiếu đạm, tỷ lệ protein và axit amin không cân đối dẫn đến quá trình hấp thu chất dinh dưỡng không tốt Cơ thể lợn thiếu dinh dưỡng, hàm lượng albumin huyết thanh giảm và kéo theo hàm lượng globulin huyết thanh cũng giảm Hệ quả là khả năng miễn dịch của cơ thể giảm rõ rệt, tạo điều kiện cho các vi khuẩn phát triển gây bệnh
Vitamin là yếu tố không thể thiếu được với mọi cơ thể lợn, nó đảm bảo cho quá trình chuyển hóa trong cơ thể diễn ra bình thường.Thiếu một vitamin
sẽ làm cho lợn còi cọc, sinh trưởng kém, dễ mắc bệnh đường tiêu hóa
+ Do stress
Stress là yếu tố ảnh hưởng lớn đến sức đề kháng của lợn Tất cả mọi nguyên nhân dẫn đến stress cho lợn như sự thay đổi thời tiết, tiếng ồn, mật độ
Trang 24chuồng nuôi cũng ảnh hưởng đến sức khỏe và bệnh tật trong đó có hội chứng tiêu chảy
Triệu chứng
Lợn con mắc bệnh lúc đầu ăn bình thường Sau đó lợn ít ăn hoặc bỏ ăn, gầy nhanh, lông xù, đuôi rũ, da nhăn nheo nhợt nhạt, hai chân sau đứng co rúm lại và run rẩy, đuôi dính đầy phân, khi lợn đi ỉa rặn nhiều, lưng uốn cong, bụng thóp lại, thể trạng đờ đẫn, ít vận động
- Thể quá cấp tính: Lợn chết nhanh, thường sau 2 - 12 giờ kể từ khi bỏ
ăn, lợn bỏ ăn hoàn toàn đi xiêu vẹo, loạng choạng, thích nằm bẹp một chỗ, mõm tím tái, thở thể bụng khó khăn, phân lỏng màu trắng lầy nhầy, mùi tanh thối Lợn nằm co giật yếu dần rồi chết
- Thể cấp tính: Lợn chết chậm hơn 2 - 4 ngày kể từ khi bỏ ăn, lợn ỉa chảy, mất dinh dưỡng, nước, khoáng, yếu rồi chết dần
- Thể mạn tính: Lợn ỉa chảy liên miên, phân lúc nước lúc sền sệt, mùi khó chịu, hậu môn dính phân, bẩn, lợn gầy sụt, xù lông, nếu không chết thì cũng còi cọc
nhiều vi khuẩn Salmonella Hiện tượng này tạo nên u xơ gan, lách sưng to và
đỏ xám hoặc đỏ sẫm, đôi khi có màu đen, rìa lách cong Niêm mạc ruột bị tổn
Trang 25thương, có vết loét Thận không có biến đổi đặc trưng, phổi viêm đôi khi có ổ
mủ Tim sưng, hơi nhão, xoang bao tim chứa đầy nước vàng, cơ tim xuất huyết
+ Vệ sinh phòng bệnh
Trong chăn nuôi khâu vệ sinh là hết sức quan trọng và cần thiết Vệ sinh tạo ra môi trường tốt, làm tăng sức đề kháng nhằm ngăn ngừa mầm bệnh lây lan Thực hiện nghiêm ngặt các khâu như: Vệ sinh, sát trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi cách ly động vật mới nhập, động vật ốm luôn là những biện pháp cần thiết trong khâu vệ sinh phòng bệnh
Như vậy, việc đảm bảo tốt kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng như thức ăn đảm bảo chất lượng, tập cho lợn con ăn sớm, đảm bảo tốt vệ sinh chuồng nuôi, vệ sinh tiểu khí hậu chuồng nuôi là rất quan trọng nhằm hạn chế tỷ lệ lợn con mắc bệnh tiêu chảy
- Phòng bệnh bằng vắc xin
Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [10], vắc xin là một chế phẩm sinh học
mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào
đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới - vắc xin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng
sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễm dịch làm cho động vật có miễm dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng Vắc xin phòng tiêu chảy lợn đã được nghiên cứu khá lâu và đã được sử dụng để phòng ngừa tiêu chảy nhằm tạo ra miễn dịch chủ động cho đàn lợn chống lại bệnh, các loại vắc xin này đã và đang cho kết quả phòng bệnh một cách khách quan, đạt được mục tiêu làm giảm tỷ lệ mắc bệnh
Trang 26Qua nhiều nghiên cứu khác nhau cho thấy, có thể chế tạo vắc xin phòng
E coli hiệu quả bằng cách lấy vi khuẩn E coli có trong chất chứa đường ruột
của lợn bị tiêu chảy cấy vào sữa và cho lợn mẹ ăn canh trùng đó trước khi đẻ
1 tháng cho kết quả phòng tiêu chảy ở lợn con tốt, phương pháp này hiện nay vẫn đang được dùng ở Mỹ
Bên cạnh các loại vắc xin phòng E coli, các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu chế vắc xin phòng Salmonella Hiện nay, trên thế giới đã nghiên cứu ra nhiều loại vắc xin phòng bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra ở lợn
Mỹ đã sản xuất ra vắc xin đa giá thành phần gồm E coli, Salmonella
choleraesuis Hungari chế vắc xin chủng Salmonella có bổ trợ glucoza
+ Phòng bệnh bằng chế phẩm sinh học
Chế phẩm sinh học là môi trường nuôi cấy một loại vi sinh vật có lợi nào đó khi đưa vào cơ thể có tác dụng bổ sung các vi sinh vật hữu ích, giúp duy trì và lập lại trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa…
Các chế phẩm sinh học, trong đó, có chế phẩm probiotic đã được nghiên cứu và sử dụng khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Những nghiên cứu hệ vi sinh vật đường ruột, sử dụng probiotic trong phòng trị bệnh cho lợn, phục vụ phát triển chăn nuôi ở nước ta mới phát triển từ những năm
80 của thế kỷ trước
Trần Thị Hạnh và cs (2004) [7] đã chế tạo sinh phẩm E coli - sữa và
Cl perfringens - toxoid dùng phòng tiêu chảy cho lợn con đã có tác dụng rõ
rệt trong việc giảm tỷ lệ mắc bệnh phân trắng do E coli và Cl perfringens
Bạch Quốc Thắng (2011) [27] đã nghiên cứu sản xuất chế phẩm E Lac
để phòng hội chứng tiêu chảy cho lợn con theo mẹ, tạo sự cân bằng vi sinh vật đường ruột theo hướng có lợi Các vi khuẩn có lợi probiotic tăng, các vi
khuẩn gây bệnh E coli, S typhimurium và Cl perfringens giảm
Trang 27Ngoài ra, nhiều nhà chăn nuôi đã sử dụng biện pháp đưa kháng sinh vào thức ăn, nước uống hàng ngày của lợn để phòng tiêu chảy và đã cho các kết quả rất khả quan Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh đã để lại nhiều hậu quả không tốt như gây tồn dư kháng sinh trong thực phẩm, làm tăng số lượng
vi khuẩn kháng thuốc… nên hiện nay, đa số các nước đã cấm sử dụng biện pháp này hoặc chỉ áp dụng trong điều kiện nhất định và phải tuân thủ quy định về thời gian ngừng thuốc trước khi giết mổ
- Điều trị nguyên nhân gây bệnh
Theo Nguyễn Văn Tuyên và Dương Văn Quảng (2016) [33], các chủng
vi khuẩn phân lập được đều mẫn cảm với amikacin và ceftifour (100%); flumequine (86,2%) và norfloxacin (75,9%) Tuy nhiên 100% chủng kiểm tra đều kháng colistin, tetracyline Tình trạng kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn gây bệnh ở lợn ngày càng tăng
- Điều trị triệu chứng tiêu chảy
Nguyễn Văn Tâm, Cù Hữu Phú (2006) [26], trong điều trị cần thực hiện tốt chế độ ăn uống, chống nhiễm khuẩn và điều trị hiện tượng mất nước, chất điện giải Trong đó, bổ sung nước và chất điện giải có vai trò quan trọng
- Bệnh xảy ra do môi trường nuôi không đạt yêu cầu:
+ Mật độ nuôi đông, ồn ào, gió lùa
+ Cho lợn thiếu ăn, làm cho lợn thiếu dinh dưỡng dễ bị stress
Trang 28- Bệnh cũng có thể do trại sử dụng thức ăn trộn không đảm bảo vệ sinh,
có độc tố nấm mốc, làm giảm tính ngon miệng của thức ăn hoặc thức ăn trộn thiếu cân bằng dinh dưỡng dẫn đến lợn ăn ít và bị suy dưỡng
-Tai, đuôi viêm, lở loét
- Lợn ít ăn, suy dinh dưỡng
- Đàn lợn hoảng loạn và có thể dẫn đến chết (Do khi lợn bị tổn thương chảy máu thì những con khác trong đàn tiếp tục cắn gây hoảng loạn, không can thiệp ngay sẽ dẫn đến chết)
- Cách ly toàn bộ những con bị cắn đuôi
nhiễm trùng khớp và các mô bao quanh bởi vi khuẩn (Streptococcus suis, E
coli, Staphylococcus…) và Mycoplasma
* Triệu chứng
Chia làm 2 dạng viêm khớp ở lợn: Viêm khớp do thiếu canxi, photpho
và viêm khớp do vi khuẩn
Trang 29Triệu chứng thường thấy do thiếu canxi, photpho là lợn đi lại khó khăn Còn viêm khớp do vi khuẩn là: Lợn bị sốt cao, bỏ ăn, lờ đờ, suy yếu Lợn còn
có biểu hiện triệu chứng thần kinh như mất thăng bằng, liệt, đi lại khập khiễng, uốn người ra sau, run rẩy, co giật, què, có những u sưng ở khớp, lợn
có thể bị mù, điếc
Bệnh làm ảnh hưởng đến chất lượng thân thịt khi xuất chuồng, làm cho lợn tăng trọng kém và giảm số lượng lợn con sau cai sữa trong đàn, gây thiệt hại cho người chăn nuôi
Từ những tác hại do vi khuẩn gây ra bệnh viêm khớp trên đàn lợn, em đã
điều tra, nghiên cứu và tìm hiểu sâu về bệnh viêm khớp do vi khuẩn S suis gây ra
Streptococcus suis gây viêm khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi
Bệnh này thường gây ra cho lợn con 1 - 6 tuần tuổi, bệnh được phân loại như
một phần của hội chứng yếu khớp kết hợp với viêm rốn S suis có thể khu
chú ở amidan của gia súc khỏe, khi gặp điều kiện môi trường thuận lợi như: lợn trong tình trạng stress, nhiệt độ môi trường thay đổi thất thường làm giảm sức đề kháng lợn lúc này dễ dàng phát bệnh Mầm bệnh được tiết ra từ dịch
âm hộ, dịch đường hô hấp và sữa lợn mẹ Các vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể lợn con bằng đường rốn, vết thương ngoài da
Bệnh xảy ra lẻ tẻ, tỷ lệ mắc bệnh từ 10 - 20% Bệnh thường xảy ra ở lợn từ 1 - 6 tuần tuổi Bệnh xảy ra ở 3 thể: Thể quá cấp tính; thể cấp tính và thể mãn tính
- Thể quá cấp tính: Gây chết lợn nhanh, lợn sốt rất cao, bỏ ăn, lờ đờ, suy yếu Lợn có triệu chứng thần kinh như mất thăng bằng, liệt, đi lại khập khiễng, uốn người ra sau, run rẩy, co giật, què Lợn có thể bị mù, điếc, viêm màng não gây tụ máu não, màng não, dịch não tủy nhiều và có màu đục
- Thể cấp tính: Đặc trưng bởi sốt, lông da sởn lên suy nhược và què Khi bệnh tiến triển, lợn bệnh có thể sút cân, các khớp bị nhiễm sưng to Một
Trang 30hoặc vài khớp có thể bị tổn thương, các khớp chân trước và chân sau, mắt cá chân thường sưng phồng lên Bệnh làm cho lợn đau đớn không thể di chuyển được, hạn chế khả năng đi lại để bú của lợn con
- Thể mãn tính: Lợn bệnh còi cọc và bị viêm khớp mãn tính suốt đời Các khớp bệnh chứa nhiều dịch khớp đục với các cục sợi tơ huyết (fibrin) Các màng sưng phồng, mất màu, tấy đỏ Các mô liên kết bọc xung quanh mô dày lên và có thể chứa các ổ mủ nhỏ (áp xe) Khi bệnh trở thành mãn tính có thể làm tổn thương sụn khớp Các bệnh tích cũng có thể thấy được trong sự phát triển của các khúc xương
vệ sinh chuồng trại, tiêu độc khử trùng khu vực chăn nuôi, bằng các loại hoá chất (phenol, iốt, hypocrit, axit phenic 3 - 5%, formol 5%); tăng cường công tác chăm sóc nuôi dưỡng, quản lý đàn
Khi có dịch liên cầu khuẩn xảy ra thì phải xử lý đúng như xử lý một ổ dịch truyền nhiễm: Cách ly lợn ốm để điều trị, lợn ốm chết phải chôn, đổ thuốc sát trùng hoặc tiêu huỷ, chuồng trại và môi trường chăn nuôi phải phun thuốc sát trùng, để trống chuồng 2 tuần mới nuôi lợn trở lại Đối với vùng có lợn bệnh cần theo dõi, phát hiện sớm lợn bệnh, cách ly và điều trị kịp thời cho đến khi khỏi hẳn bệnh mới cho nhập đàn Cấm hoàn toàn việc di chuyển và giết mổ lợn tập trung khi có dịch bệnh ở lợn xảy ra
Trang 31- Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp mang lại hiệu quả cao nhất Ở Việt Nam đã chế tạo được vắc xin Salsco đa giá, vô hoạt, bổ trợ keo phèn, bao
gồm các chủng vi khuẩn đường ruột là: Salmonella, E coli và Streptococcus,
tiêm cho lợn con 21 ngày tuổi để phòng bệnh tiêu chảy ở lợn con Tỷ lệ bảo
hộ đạt 70 - 80%, vắc xin dùng rộng rãi trong cơ sở chăn nuôi Khương Bích Ngọc (1996) [19] cho biết: qua nghiên cứu bệnh cầu khuẩn ở lợn đã chế tạo vắc xin cầu khuẩn có bổ trợ keo phèn tiêm phòng cho lợn nái, đạt bảo hộ cao
- Phòng bệnh bằng kháng sinh cũng đem lại hiệu quả Vi khuẩn S suis
rất mẫn cảm với các loại kháng sinh, nhưng cũng rất dễ kháng kháng sinh trong quá trình phòng bệnh và điều trị Vì vậy cần thận trọng khi dùng thuốc kháng sinh để phòng bệnh Khi dùng bằng cách cho ăn hoặc cho uống cần chú ý: hiệu lực, đường đi của thuốc… Trịnh Phú Ngọc, (2001) [18] cho biết: vi
khuẩn có xu hướng kháng với các loại thuốc tetracycline và sulfonamide
* Điều trị
Trước hết là điều trị hỗ trợ với các biện pháp hồi sức tích cực, nhiễm Liên cầu lợn là bệnh do vi khuẩn gây ra nên kháng sinh vẫn là thuốc điều trị đặc hiệu, trong đó penicillin là thuốc được lựa chọn để điều trị bệnh này,
có thể khỏi bệnh hoàn toàn và tránh được tử vong Tuy nhiên tình trạng kháng penicillin của vi khuẩn cũng đã được ghi nhận Trong trường hợp vi khuẩn đã kháng penicillin, các kháng sinh khác thuộc nhóm beta lactamin được điều trị thay thế cho lợn bệnh
2.2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Bệnh viêm phổi do Mycoplasma (bệnh suyễn lợn)
Theo nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [13], bệnh suyễn lợn
(Swine enzootic pneumonia) có những tên gọi khác nhau như: Viêm phổi
truyền nhiễm, viêm phế quản phổi lưu hành là một bệnh truyền nhiễm thường
Trang 32ở thể á cấp tính, cấp tính và lưu hành ở một địa phương, do Mycoplasma gây
ra và đặc điểm là một chứng viêm phế quản phổi tiến triển chậm Ngoài ra có
nhiều loại vi trùng kế phát như: Streptococcus, Staphylococcus, Salmonella,…
Đặng Xuân Bình và cs (2007) [2] nghiên cứu tình hình nhiễm
Actinobacillus, Pleuropneumoniae và bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn đã
cho biết: Lợn thịt giai đoạn 2 - 3 tháng tuổi tỷ lệ mắc bệnh viêm phổi theo đàn
là 100%, trung bình 36,53% theo cá thể và các tác giả cũng đã phân lập được
vi khuẩn Actinobacillus, Pleuropneumoniae với tỷ lệ đạt 31,25 - 55,55%,
trung bình là 37,83%
Theo Trương Quang Hải và cs (2012) [9], khi xác định khả năng mẫn
cảm với kháng sinh của vi khuẩn S suis phân lập được ở lợn mắc bệnh viêm phổi cho biết các chủng vi khuẩn S suis mẫn cảm cao với các loại kháng sinh
như ceftiofur, florfenicol, amoxicillin, amikacin và có hiện tượng kháng lại một số kháng sinh streptomycin, neomycin, tetracycline Điều này đã thể hiện
theo thời gian vi khuẩn S suis đã có hiện tượng kháng thuốc với một số kháng
sinh thông dụng như streptomycin, neomycin, tetracycline và penicillin G
Tùy theo đặc điểm, tính chất, diễn biến, tùy theo độ tuổi của lợn, tùy theo yếu tố được cho là nguyên nhân chính mà hội chứng tiêu chảy được gọi bằng các tên khác nhau như: Bệnh lợn con ỉa phân trắng, chứng khó tiêu, chứng rối loạn tiêu hóa
Các nghiên cứu bênh lý tiêu chảy ở gia súc cho thấy, biểu hiện bệnh lý chủ yếu là tình trạng mất nước và chất điện giải và cuối cùng con vật trúng độc, kiệt sức và chết Vì lẽ đó trong điều trị tiêu chảy việc bổ sung nước và các chất điện giải là yếu tố cần thiết
Theo Nguyễn Ngọc Minh Tuấn (2010) [30], lợn mắc tiêu chảy và chết
do tiêu chảy cao nhất vào mùa xuân và thấp nhất vào mùa thu
Trang 33Nguyễn Chí Dũng (2013) [5] đã nghiên cứu và kết luận, vào các tháng
có nhiệt độ thấp và độ ẩm cao, tỷ lệ lợn mắc bệnh tiêu chảy cao hơn so với các tháng khác (26,98% đến 38,18%)
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Bá Hiên (2001) [10], nguyên
nhân vi khuẩn gây tiêu chảy chính ở lợn là E coli, Salmonella và Clostridium
Theo Trần Đức Hạnh (2013) [8], lợn con ở một số tỉnh phía Bắc mắc tiêu chảy và chết với tỷ lệ trung bình là 30,32% và 5,12%, tỷ lệ mắc tiêu chảy
và chết giảm dần theo lứa tuổi, cao nhất ở lợn giai đoạn từ 21 - 40 ngày (30,97% và 4,93%) và giảm ở giai đoạn từ 41 - 60 ngày (30,27% và 4,75%)
Nghiêm Thị Anh Đào (2008) [6] đã nghiên cứu và kết luận, từ mẫu
phân và phủ tạng lợn bệnh phân lập được vi khuẩn E coli với các tỷ lệ nhiễm
lần lượt là: ở phân 92,8%, ở gan 75,0%, ở lách 83,3% và ở ruột là 100%
Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Bá Tiếp (2013) [32] đã nghiên cứu và
cho biết, vi khuẩn E coli và Salmonella là những yếu tố đóng vai trò quan
trọng trong bệnh tiêu chảy ở lợn con trong chăn nuôi công nghiệp Tuy nhiên,
trong điều kiện nuôi công nghiệp như nghiên cứu này, E coli có khả năng đóng vai trò nhiều hơn so với Salmonella
Đoàn Thị Kim Dung (2004) [4] cũng cho biết, khi lợn bị tiêu chảy số loại vi khuẩn và tổng số vi khuẩn hiếu khí trong 1 gam phân tăng lên so với ở lợn không bị tiêu chảy Khi phân lập tác giả thấy rằng các vi khuẩn đóng vai
trò quan trọng trong hội chứng tiêu chảy như: E coli, Salmonella và
Streptococus tăng lên trong khi Staphylococus và Bacillus subtilis giảm đi
Sau khi nghiên cứu biến động của vi khuẩn đường ruột thường gặp ở gia súc khỏe mạnh và bị tiêu chảy, Nguyễn Bá Hiên (2001) [10] đã chỉ ra
rằng, khi lợn bị tiêu chảy, số lượng vi khuẩn E coli trung bình tăng 1,9 lần, số lượng vi khuẩn Cl perfringens tăng 100 lần so với lợn khỏe mạnh
Ngoài các vấn đề trên, hội chứng tiêu chảy còn bị ảnh hưởng bởi các tác nhân gây bệnh do virus, vi khuẩn Các tác giả đều cho rằng, khi lợn bị
Trang 34mắc tiêu chảy do các tác nhân là vi sinh vật thường làm tăng tỷ lệ mắc bệnh
và tỷ lệ chết
* Bệnh viêm khớp
Phạm Sỹ Lăng, (2007) [14] cho biết: ở Việt Nam, đã phát hiện bệnh liên cầu khuẩn tại trại Cầu Thị - Hà Nội Nghiên cứu của Khương Bích Ngọc (1996) [19] cho biết: bệnh liên cầu khuẩn xảy ra ở hầu hết các trại chăn nuôi tập chung trong những năm 70 - 80 đã cho thấy vi khuẩn thuộc nhóm cầu
khuẩn bao gồm Staphylococcus aureus, S suis và Diplococcus là các nguyên
nhân chính gây bệnh cầu khuẩn ở lợn, với các triệu chứng sốt cao, chết đột ngột, khớp chân bị sưng to, liệt chân Kết quả phân lập vi khuẩn đã cho thấy
vi khuẩn S suis chiếm tỷ lệ cao nhất 60% tiếp đến là Diplococcus 33% và
Staphylococcus aureus 7%
Theo nghiên cứu của viện thú y Quốc gia đã phân lập được 35 serotype, trong đó serotype 2 có 8 chủng Tuy nhiên, đầu năm 2007 cho đến nay không
phát hiện được ổ dịch do vi khuẩn S suis gây ra trên lợn ở Việt nam, các
trường hợp bị bệnh đơn lẻ, các thể chưa được xác định Đặng Văn Kỳ (2007) [11] Cũng theo Đặng Văn Kỳ (2007) [11], ở Tứ Xuyên, Trung Quốc ổ dịch liên cầu khuẩn bắt dầu xuất hiện từ cuối tháng 6 năm 2005 đến tháng 8 năm
2005 Theo thống kê có 6736 lợn bị mắc bệnh với 641 ổ dịch, số lợn chết 319 con Quan trọng hơn vi khuẩn liên cầu thuộc serotype 2 đã làm cho 214 người
bị nhiễm bệnh và 44 người tử vong Trong thời gian gần đây, bệnh viêm khớp
ở trên lợn vẫn xảy ra ở hầu hết các tỉnh trên cả nước Tuy nhiên, bệnh chỉ xảy
ra lẻ tẻ và cá thể trong 1 đàn lợn
Theo Trịnh Phú Ngọc (2001) [18], đã tiến hành phân lập vi khuẩn
S suis từ 105 mẫu bệnh phẩm xét nghiệm được lấy từ các cơ quan, phủ
tạng khác nhau của lợn ốm, khỏe và giết mổ, tỷ lệ phân lập bình quân chung là 52,9%
Trang 352.2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Bệnh viêm phổi do Mycoplasma (Bệnh suyễn lợn)
Theo Katri Levonen (2000) [38], việc chẩn đoán M hyopneumoniae có
thể dựa trên phương pháp chẩn đoán truyền thống là: phát hiện những biểu hiện lâm sàng của hội chứng viêm phổi và việc kiểm tra những tổn thương
sau khi giết mổ dùng phản ứng kết tủa và phản ứng phân lập Pasteurella
multocida thành 12 type (được ký kiệu từ 1 đến 12)
Kielstein (1966) [39] và nhiều tác giả khác cho rằng, vi khuẩn
Pasteurella multocida là một trong những tác nhân chính gây bệnh viêm phổi
ở lợn Trong đó, chủ yếu là do Pasteurella multocida type A gây ra và một phần nhỏ do Pasteurella multocida type D
Clifton Harlley và Alexanderand Enright (1986) [36] đã nghiên cứu và
xác định được vi khuẩn Streptococcus suis luôn có mặt trong hạch Amidan và
xoang mũi của lợn khỏe mà không có triệu chứng lâm sàng, nhưng chúng là một trong những tác nhân gây bệnh ở lợn khi có điều kiện thuận lợi Bệnh do
Streptococcus suis gây ra có thể phát sinh dịch bệnh vào đầu mùa xuân hoặc
sau những thay đổi thời tiết đột ngột Streptococcus suis là những nguyên nhân
của những ổ dịch nhiễm trùng huyết, viêm não, viêm khớp, viêm hạch dưới
hàm Bên cạnh đó Streptococcus suis có liên quan đến viêm não tủy, viêm phế
quản phổi, viêm màng bao
Viêm phổi là hiện tượng viêm do vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng hoặc các tác nhân vật lý và hoá học gây ra Nó thường kèm với viêm phế quản, viêm phế nang và viêm màng phổi Vì thế thuật ngữ “viêm phổi - phế quản” thường được sử dụng để chỉ bệnh này Ở lợn, bệnh viêm phổi địa
phương do Mycoplasma hyopneumoniae và viêm phổi màng phổi do
Haemophilus pleuropneumoniae là hay gặp nhất