PHẠM MINH HỘI Tên chuyên đề: THỰC HIỆN QUI TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI CÔNG TY TNHH MTV CHĂN NUÔI HÒA PHÁT - BẮC GIANG KHÓA
Trang 1PHẠM MINH HỘI
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUI TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI CÔNG TY
TNHH MTV CHĂN NUÔI HÒA PHÁT - BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2015 - 2019
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2PHẠM MINH HỘI
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUI TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI CÔNG TY
TNHH MTV CHĂN NUÔI HÒA PHÁT - BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Thị Hoan
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập, rèn nghề dưới mái trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như thực tập tốt nghiệp, em nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô trong khoa Chăn nuôi Thú y cũng như các thầy cô giáo trong trường đã trang bị cho em những kiến thức cơ bản, cho em được niềm tin vững bước trong cuộc sống và công tác sau này Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới: Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa cùng toàn thể các thầy giáo,
cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình dạy bảo, chỉ dạy và giúp đỡ
em trong toàn khóa học
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn
TS Trần Thị Hoan đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa
luận này
Đồng thời, cho em gửi lời cảm ơn tới ban giám đốc, cán bộ công nhân viên Công ty TNHH MTV Hòa Phát – Bắc Giang đã tạo mọi điều kiện cho
em thực tập và rèn luyện tại cơ sở
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em học tập và hoàn thành tốt quá trình thực tập
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
Sinh viên
Phạm Minh Hội
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
PHỤ LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện của trang trại 3
2.1.3 Tình hình hoạt động của trại 7
2.1.4 Thuận lợi, khó khăn 9
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước 10
2.2.1 Những hiểu biết về sinh sản của lợn nái 10
2.2.2 Những hiểu biết về đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 12
2.2.3 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn con và lợn nái sinh sản giai đoạn chửa, đẻ, nuôi con 16
2.2.4 Những hiểu biết về phòng và trị bệnh cho vật nuôi 24
2.2.5 Một số bệnh hay gặp ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 28
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 36
3.1 Đối tượng 36
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 36
3.3 Nội dung tiến hành 36
Trang 53.4 Các chỉ tiêu thực hiện và phương pháp tiến hành 36
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi nái đẻ 36
3.4.2 Các chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái 37
3.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi bệnh sinh sản 37
3.4.4 Phương pháp tiến hành 37
3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 37
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39
4.1 Tình hình sản xuất chăn nuôi của cơ sở 39
4.2 Kết quả thực hiện biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản 40
4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại cơ sở 40
4.4 Kết quả theo dõi công việc chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn con tại cơ sở 41
4.5 Kết quả thực hiện các biện pháp vệ sinh phòng bệnh cho lợn nái sinh sản tại cơ sở 43
4.5.1 Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh 43
4.5.2 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con 44
4.6 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn nái và lợn con tại trại 46
4.6.1 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn nái 46
4.6.2 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn con 48
4.7 Kết quả thực hiện các công tác khác 50
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Đề nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Những biểu hiện khi lợn nái sắp đẻ 21
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại 39
Bảng 4.2 Số lượng lợn nái và lợn con trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 40
Bảng 4.3 Kết quả theo dõi tình hình sinh sản của lợn nái 40
Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con sơ sinh/lứa của lợn nái 42
Bảng 4.5 Kết quả khử trùng tại cơ sở 43
Bảng 4.6 Lịch phòng vắc xin cho lợn của trại 45
Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnh cho lợn nái 46
Bảng 4.8 Kết quả chẩn đoán cho đàn lợn con tại trại 48
Bảng 4.9 Kết quả công tác chuyên môn khác 51
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Ý nghĩa
ATSH CNTY
An toàn sinh học Chăn nuôi thú y
cs Cộng sự ĐVT Đơn vị tính LMLM
MTV
Lở mồm long móng Một thành viên NLTĐ Năng lượng trao đổi Nxb Nhà xuất bản
TB TNHH UBND
Trung bình Trách nhiệm hữu hạn
Ủy ban nhân dân
Trang 8
Để phát triển hơn nữa ngành chăn nuôi lợn ở nước ta, chăn nuôi lợn nái
là một trong những khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công trong ngành chăn nuôi lợn Đặc biệt là trong việc chăn nuôi lợn nái ở nước ta
để có đàn con nuôi thịt sinh trưởng và phát triển tốt, cho tỷ lệ nạc cao và đây cũng chính là mắt xích quan trọng để tăng nhanh đàn lợn cả về số lượng và chất lượng, để chăn nuôi lợn không bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh các trang trại luôn hướng tới việc xây dựng quy trình chăn nuôi khép kín Ở mỗi dãy chuồng đều có lắp đặt hệ thống dàn mát, tạo mát mẻ mùa hè, ấm về mùa đông, có quạt thông gió để hút không khí và hơi nước từ dàn mát Có hầm biogas xử lý chất thải và hệ thống nước máy tự động ở mỗi dãy chuồng để lợn uống nước
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa CNTY, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập, em đã thực hiện chuyên đề:
“Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái
Bắc Giang”
Trang 91.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục đích
- Đánh giá chung tình hình chăn nuôi tại trại
- Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho lợn nái sinh sản tại trại
- Thực hiện quy trình phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Thực hiện được quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho đàn nái sinh sản nuôi tại trại
- Thực hiện được quy trình phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện của trang trại
2.1.1.1 Vị trí địa lí và điều kiện khí hậu tại trại
Trại nằm trên địa bàn thôn Đồng Chòi, xã Long Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang với tổng diện tích là 67ha Khu vực trại cách Thị trấn An Châu, huyện Sơn Động khoảng 20km về phía Đông Nam Trại nằm gần quốc
lộ 279, tuyến đường liên tỉnh quan trọng của các tỉnh miền núi phía Bắc, nối Quốc lộ 31 với tỉnh lộ 326, giúp thông thương giữa thị trấn An Châu, huyện Sơn Động và xã Tân Dân, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh Trại có tổng diện tích là 67ha, được bao quanh bởi đồi cao, cách xa khu dân cư khoảng 2
km về phía Đông Bắc, cách UBND xã Long Sơn 2,5 km về phía Đông Bắc Điều kiện lý tưởng để đảm bảo ATSH trong chăn nuôi
Vị trí địa lý của trại: Phía Tây Nam: Giáp đất canh tác của nhân dân thôn
Hạ, cách đường quốc lộ 279 khoảng 2,5 Km Phía Đông Bắc: Giáp Sông Bè Phía Đông Nam: Giáp cánh đồng thôn Bản Bầu, huyện Sơn Động Phía Tây Bắc: Giáp rừng trồng sản xuất thôn Đồng Chòi, huyện Sơn Động, huyện Sơn Động có diện tích 845,77km², dân số năm 2009 là 67.724 người
Trang 11* Điều kiện khí hậu:
Trại lợn nằm trong vùng khí hậu đặc trưng, hàng năm có bốn mùa xuân,
hạ, thu, đông Mùa xuân và mùa thu là 2 mùa chuyển tiếp, khí hậu ôn hòa, mùa hạ nóng, mưa nhiều, mùa đông lạnh khô hanh, ít mưa
Nhiệt độ trung bình: 22,60C
Nhiệt độ trung bình cao nhất: 32,90C
Nhiệt độ trung bình thấp nhất: 11,60C
Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.564mm
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại
Trại hoạt động theo phương thức trại của công ty Cán bộ kỹ thuật của Công ty TNHH MTV Chăn nuôi Hòa Phát Bắc Giang chịu trách nhiệm và giám sát mọi hoạt động của trại
Cơ cấu tổ chức của trại gồm 2 nhóm gồm 79 cán bộ công nhân viên: Lao động gián tiếp có 16 người :
Tổng giám đốc công ty : 1 người
Kế toán: 1 người
Nhân viên hành chính: 2 người
Làm vườn, nấu ăn: 2 người
Vệ sinh: 2 người
Cơ điện: 4 người
Bảo vệ: 4 người
Lao động trực tiếp gồm có 63 người :
Trưởng trại:1 người
Phó trại: 1 người
Trưởng khu: 3 người
Kỹ sư chăn nuôi: 4 người
Công nhân 3 khu :48 người
Sinh viên thực tập: 6 sinh viên
Trang 122.1.2 Cơ sở vật chất của trại
Trại lợn của công ty được xây dựng trên diện tích 67 ha, trong đó chuồng trại chăn nuôi 10ha, 5 ha là nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp
ăn và các công trình phụ phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại và khu vực ngoài trại Diện tích còn lại là hệ thống các hạng mục đường giao thông nội bộ, cây xanh và hệ thống các công trình phụ trợ như hệ thống thoát nước, hệ thống xử lý nước thải, phòng cháy chữa cháy
Hệ thống các công trình chuồng trại và các công trình phụ trợ được phân
bổ thành từng khu vực chuyên biệt trên khu đất Giao thông trong khu vực dự
án được bố trí liên hoàn đảm bảo thuận tiện cho quá trình hoạt động Ngoài
ra, còn hệ thống cây xanh giúp tăng yếu tố cảnh quan và cải thiện điều kiện vi khí hậu cho khu vực dự án
Hệ thống cấp nước được bố trí đến từng trại, đảm bảo việc cấp nước đầy
đủ cho công tác chăm sóc lợn Đồng thời, để đảm bảo yếu tố môi trường chủ
dự án xây dựng hệ thống xử lý nước thải đảm bảo nước thải sau khi xử lý đạt Quy chuẩn Việt Nam trước khi thải ra nguồn tiếp nhận
Trại chuyên nuôi lợn nái sinh sản, con giống do Công ty Cổ phần Phát triển Chăn nuôi Hòa Phát cung cấp từ các trại giống trong hệ thống thuộc công ty
Trại bố trí thanh 3 khu riêng biệt đảm bảo an toàn sinh học trong chăn nuôi: Khu cách ly: Cách ly người vào trại trước khi vào khu sản xuất
Khu sinh hoạt: Gồm nhà điều hành + nhà ở + nhà ăn và khu sinh hoạt chung Khu sản xuất gồm 4 khu chuồng: Chuồng cách ly - chuồng phối + mang thai - chuồng đẻ - chuồng cai sữa, trong đó có:
Chuồng cách ly: 1 chuồng
Khu chuồng phối + mang thai có: 2 chuồng phối, 3 chuồng mang thai, 1 chuồng phát triển hậu bị
Trang 13Khu chuồng đẻ có: 3 chuồng đẻ mỗi chuồng có 184 ô chuồng
Khu chuồng cai sữa + chuồng thịt có: 4 chuồng cai sữa mỗi chuồng có
64 ô chuồng
Các chuồng đẻ và chuồng cai sữa có sàn đan bằng nhựa cứng để tiện cho việc rửa chuồng và sát trùng còn chuồng thịt và chuồng phối - mang thai nền được đổ bê tông và thiết kế bán hầm Trại phân ra nhiều khu chuồng trại liên hoàn nhau để nuôi lợn theo từng giai đoạn riêng và áp dụng chế độ dinh dưỡng phù hợp cho từng loại lợn Lợn được nuôi trong chuồng kín có hệ thống quạt thông gió, giàn mát, hệ thống sưởi ấm đủ về yêu cầu nhiệt độ Trại áp dụng theo quy trình kỹ thuật cao từ khâu chọn giống, khẩu phần
ăn và các quy trình chăm sóc lợn nái, lợn con do công ty đề ra
Thức ăn cho mọi giai đoạn lợn là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao do công ty TNHH thức ăn chăn nuôi Hòa Phát Hưng Yên
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng, hệ thống mương luôn được thông ra
bể biogas để xử lý
Hệ thống nước trong trại chăn nuôi cho lợn uống là nước giếng khoan Nước tắm cho lợn, nước xả gầm, rửa chuồng được bơm từ ao chứa nước trong trang trại lên bể chứa và theo hệ thống ống nước dẫn tới các chuồng khác nhau Các công trình khác:
Khu cổng trại có nhà bảo vệ, nhà sát trùng xung quanh trại là hệ thống tường rào bằng bê tông và thép
Gần khu chăn nuôi trại xây dựng 1 nhà cách ly có hệ thống sát trùng, 1 phòng làm việc cho các cán bộ kỹ thuật trại, 1 nhà ăn, 2 dãy nhà ở, nhà vệ sinh cho cán bộ công nhân viên trong trại, 1 nhà kho UV, 1 kho thuốc, 1 kho cám, 1 nhà sát trùng thay đồ và tắm giặt cho công nhân
Trang 14Bên cạnh đó trại còn xây dựng 2 giếng khoan, 2 bể chứa để cung cấp nước sạch cho sinh hoạt của cán bộ công nhân viên trong trại
Trang trại đã góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong vùng còn nhiều khó khăn này Với việc chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi của trại được thực hiện chủ động và tích cực Kỹ sư của trại đã chủ động tổ chức tiêm phòng đầy đủ cho đàn lợn Mỗi con lợn đều có một hồ sơ riêng cho việc phối tinh, đẻ, xuất chuồng, nhập chuồng…chính xác tới từng ngày Để phòng tránh dịch bệnh, khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt Mọi nhân viên trong trại cho đến khách, muốn vào chuồng lợn đều phải đi qua hệ thống sát trùng, tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo và đi ủng chuyên dụng Trong các chuồng lợn, ngày vài lần, công nhân làm vệ sinh cũng như phun thuốc sát trùng xuống nền chuồng Xung quanh trạng trại được trồng cây xanh để tạo môi trường tự nhiên thông thoáng cho lợn sinh trưởng và phát triển tốt nhất Hàng ngày, toàn bộ phân mà đàn lợn thải ra đều được đóng bao, chuyển ra khu để chất thải để bán ra cho người dân trồng rau, lúa quanh vùng Nhau thai và lợn bệnh chết được đưa đến nhà nhà xác để tiêu hủy Nguồn nước thải được xử lý tại các khu dành riêng cho chất thải và thải xuống hầm biogas
2.1.3 Tình hình hoạt động của trại
Tháng 6 năm 2018 trại có 875 con nái sinh sản (con lai F1(L x Y) 535 con
và F1(Y x L) 340 con) và 35 đực giống Duroc
Đến tháng 5 năm 2019 tổng nái sinh sản có 4511 con (con lai F1(L x Y)
3500 con và F1(Y x L) 1011 con), đực giống 38 con Duroc và 10756 heo con Các giống lợn ngoại hướng nạc được nuôi trong công ty để sản xuất ra lợn thương phẩm: là con lai giữa lợn nái F1(LY), F1(YL) với lợn bố Duroc
Để phát triển và đảm bảo chất lượng đàn giống, chi nhánh đã nâng cấp
cơ sở vật chất ngày càng tốt hơn Với từng loại lợn khác nhau thì kiểu chuồng
Trang 15cũng được thiết kế phù hợp, mỗi dãy chuồng đều có hệ thống làm mát vào mùa hè, hệ thống sưởi ấm vào mùa đông Bên cạnh đó công ty có hệ thống cho ăn theo silo tự động giúp căn chỉnh chính xác cho ăn theo nái cũng như giảm nhân công lao động
Lợn con theo mẹ được nuôi đến 21- 28 ngày tuổi thì cai sữa và chuyển sang khu nuôi sau cai sữa Sau khi được nuôi ở khu cai sữa 7 tuần thì được chuyển sang khu thịt hoặc bán ra ngoài tùy vào thời gian và giá cả của thị trường
Lợn hậu bị sau khi được đưa về từ trại giống được chuyển đến khu cách
ly nuôi, sau khi nuôi ở khu cách ly trên 1 tháng được chuyển sang chuồng nuôi lợn hậu bị chờ phối Sau khi phối đạt và siêu âm có thai thì chuyển sang chuồng mang thai, đến khoảng trước ngày đẻ 7 -10 ngày thì chuyển lên khu nái đẻ Lợn nái tách con được chuyển xuống chuồng chờ phối, thường sau khoảng 3-7 ngày là cho phối giống trở lại
Các dãy chuồng tách biệt nhau, có hố sát trùng khi ra vào các chuồng, nhằm hạn chế dịch bệnh giữa các chuồng Lợn đực được thay phiên nhau khai thác và bảo quản tinh chủ động nguồn tinh dịch cho công tác phối giống của đàn lợn trong trang trại
Trang trại nằm ở vị trí xa khu dân cư và thuận lợi về giao thông, nguồn nước, có địa hình khá bằng phẳng và khí hậu thuận lợi Trại bao gồm: khu văn phòng, khu cách ly, kho thuốc, kho cám, khu chuồng lợn nái đẻ, khu chuồng phối - mang thai, khu chuồng cách ly, khu chuồng cai sữa, khu lợn đực,phòng sản xuất tinh Ngoài ra có khu sinh hoạt chung phục vụ công tác chăn nuôi, có khu ăn uống và nghỉ ngơi cho công nhân, kỹ sư và sinh viên thực tập
Khu chuồng lợn nái đẻ: bao gồm 5 chuồng kép và 1 chuồng đơn, mỗi chuồng có 92 ô, thiết kế các ô chuồng dành riêng cho nái đẻ và nuôi con Nái trước khi đẻ từ 7-10 ngày sẽ được chuyển đến đây và sau khi lợn con cai sữa sẽ
Trang 16được chuyển lên chuồng phối.
Khu chuồng cách ly: là nơi nuôi lợn nái hậu bị chưa được lên giống, sau khi xác định được thời điểm có thể phối giống được thì đưa lên chuồng phối Khu chuồng phối - mang thai: gồm 4 chuồng, gồm có 2 chuồng phối(mỗi chuồng 6 dãy) và 2 chuồng mang thai (mỗi chuồng 6 dãy), là nơi nuôi dưỡng lợn nái chờ phối, lợn nái mang thai Đến trước khi đẻ 7-10 ngày thì chuyển lên khu nái đẻ
Chuồng phối là các ô chuồng dành cho lợn nái hậu bị sau khi nuôi cách
ly, đủ điều kiện phối giống và nái sau khi cai sữa Theo dõi lợn lên giống, thử lợn và thụ tinh nhân tạo cũng ở dãy chuồng này
Chuồng mang thai là các ô chuồng nuôi lợn mang thai,sau khi siêu âm xác định lợn có thai, lợn được đuổi từ chuồng phối sang chuồng mang thai Phòng sản xuất tinh gồm các dụng cụ để pha tinh, sổ sách theo dõi ở chuồng phối - mang thai, sau khi lấy tinh, tinh sẽ được pha và bảo quản ở phòng này
Tất cả các chuồng đều được thiết kế với hệ thống chống nóng: dàn mát
và quạt thông gió tự động điều chỉnh theo nhiệt độ chuồng, hệ thống bạt chống gió lùa để tận dụng ánh sáng tự nhiên
Ngoài ra trại còn có khu kho vôi, nhà bao, bể biogas, vườn cây, vườn rau
để tận dụng phụ phẩm của chuồng nuôi lợn
2.1.4 Thuận lợi, khó khăn
* Thuận lợi
- Trại được xây dựng ở vị trí cách xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông
- Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, có tinh
thần trách nhiệm cao trong công việc
- Công nhân có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm với công việc
Trang 17- Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,
do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước
2.2.1 Những hiểu biết về sinh sản của lợn nái
Theo Nguyễn Quang Linh (2005) [11]: Thời gian chửa của lợn trung bình là
114 ngày, dao động trong vòng từ 112 ngày đến 116 ngày chia làm hai giai đoạn: + Giai đoạn chửa kỳ I: Từ lúc phối giống có chửa đến ngày chửa thứ 84 Bào thai phát triển chậm, chỉ chiếm 1/4 khối lượng lợn con sơ sinh
+ Giai đoạn chửa kỳ II: Từ ngày 84 đến khi đẻ, bào thai lớn nhanh chiếm 3/4 trọng lượng sơ sinh
Mỗi giai đoạn này đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc là khác nhau Đặc biệt chú
ý trong 2 tuần cuối (100 - 114 ngày) dinh dưỡng và chăm sóc phải thật hợp lý Đây là thời kỳ lợn mẹ cần nhiều chất dinh dưỡng nhất cho sự phát triển của bào thai Tuy nhiên, thể tích bào thai lớn làm giảm lượng thức ăn thu nhận, vì vậy cần phải cho nái ăn nhiều bữa và đảm bảo chất dinh dưỡng Trong thời kỳ mang thai tính thèm ăn của nái bị giảm xuống, để khắc phục điều này cần chế biến và bảo quản thức ăn thật tốt, kích thích tính ngon miệng cho nái thu nhận thức ăn cao Giai đoạn này lợn mẹ cần sự yên tĩnh, những tác động kích thích
từ bên ngoài dễ dẫn đến hiện tượng đẻ non hay xáo trộn sinh lý lợn mẹ, gây khó khăn khi đẻ
Khi thai đã thành thục sẽ được cơ thể mẹ đẩy ra ngoài (trong khoảng 113
- 116 ngày), lợn thường đẻ vào ban đêm, thời gian đẻ trung bình từ 2 - 6 giờ
Trang 18Nếu sức khoẻ của lợn mẹ và các thai bình thường thì không cần can thiệp nhiều trong khi lợn đẻ
Một số chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái
- Số con sơ sinh còn sống đến 24h/lứa đẻ
Lợn con mới sinh có thể chia thành 3 dạng dưới đây:
Loại thai non: Là loại thai phát triển không hoàn toàn, chết trong thời gian có chửa và trước khi sinh ra
Loại thai gỗ: Là loại thai chết trong tử cung lợn mẹ lúc 25 - 90 ngày tuổi Dịch thai và tất cả các dịch trong tế bào tổ chức bào thai được cơ thể mẹ hấp thụ qua niêm mạc tử cung, các tổ chức khác của thai rắn lại, thể tích co nhỏ thành cục màu nâu đen, cứng
Loại đẻ ra còn sống: Trong vòng 24 giờ sau khi sinh, những lợn con không đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống, không phát dục hoàn toàn,
dị dạng thì sẽ bị loại thải Ngoài ra, một số lợn con mới sinh chưa nhanh nhẹn dễ bị lợn mẹ đè chết
Số con chết lúc sơ sinh, số thai non, số thai gỗ là nguyên nhân làm giảm
số lượng lợn con sơ sinh sống đến 24 giờ/lứa
- Số con cai sữa/nái/năm
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [16] hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản được đánh giá bằng số lợn con cai sữa/nái/năm Các nhà nghiên cứu tập trung vào vấn đề lợn con chết từ sơ sinh đến cai sữa đã thống kê khoảng 3 - 5% số lợn con chết khi sơ sinh, bao gồm: Lợn chết do lợn mẹ đẻ khó và lợn con chết trong giai đoạn chửa kỳ cuối Các nguyên nhân chủ yếu lợn con chết trong giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa là bị lợn mẹ đè và không bú được chiếm 50%, nhiễm khuẩn 11,1%, dinh dưỡng kém 8%, di truyền 4,5%, các nguyên nhân khác 26,4% Do đó, cùng với việc cải tạo điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, tích cực kiểm tra thành tích sinh sản của lợn nái thì khả năng truyền
Trang 19giống của lợn đực rất cần thiết, có ý nghĩa trong công tác giống và thực tiễn sản xuất
2.2.2 Những hiểu biết về đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ
Đặc điểm về sinh trưởng, phát dục
Đối với lợn con nối riêng và gia súc nói chung, thời kỳ gia súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh con khoẻ mạnh
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [16] so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp
4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 – 8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 – 14 lần
Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần Có sự giảm này
là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm Do lợn con sinh tưởng nhanh nên quá trình tích luỹ các chất dinh dưỡng mạnh
Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy 9 – 14 gam protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn con trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3 – 0,4 gam protein/1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng nghĩa là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành Vì vậy, cơ thể của lợn con chủ yếu là nạc,
mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để tạo ra 1kg mỡ
Đặc điểm tiêu hoá
Đặc điểm giải phẫu cơ quan tiêu hoá của lợn con: miệng, hầu, thực quản,
dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn
Trang 20Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh, các tuyến tiêu hoá phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hoá còn nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần
Dung tích bộ máy tiêu hoá tăng nhanh trong 60 ngày đầu: dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,12 lít) Còn dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh
Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hoá giúp lợn con tích luỹ được nhiều thức
ăn và tăng khả năng tiêu hoá các chất
Mặc dù vậy, ở lợn con, các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc biệt là hệ thần kinh Do đó, lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu
tố tác động lên chúng Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hoá của lợn con cũng rất dễ mắc bệnh, dễ rỗi loạn tiêu hoá
Một đặc điểm cần lưu ý ở lợn con là có giai đoạn không có axit HCl trong dạ dày Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên Nhờ vậy nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein mà chỉ có khả năng làm vón sữa đầu và sữa Còn huyết thanh chứa albumin và globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu
Ở lợn con từ 14 – 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày không còn gọi là trạng thái bình thường nữa Việc tập cho lợn con ăn sớm có tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl Bởi vì khi được bổ sung thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với con trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày)
Trang 21Lợn con dưới 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng này gọi là hypohydric Do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hoá protein của thức ăn Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hoá protein
Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hoá thực tế của dịch vị có enzym, sự tiêu hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh Hơn nữa dịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hoá nhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa, đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con
Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh
ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, khi lợn con sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh đường tiêu hoá Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn, vi khuẩn gây thối rữa ở lợn con mới sinh
Đặc điểm về cơ năng điều tiết của lợn con
Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não của lợn con chưa phát triển hoàn thiện Do đó việc điều tiết thân nhiệt và năng lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, độ ẩm)
Ở lợn con, khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh dưỡng ngày càng tăng cao Trong khi đó sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần cả về chất và lượng Đây là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn
Trang 22mẹ Nếu không kịp thời bổ sung thức ăn cho lợn con thì lợn thiếu dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầy còm, nhiều lợn con mắc bệnh Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phục tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa
Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa cân bằng
Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau thai, điều kiện sống tương đối ổn định Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh còi cọc và chết
Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dự trữ trong cơ thể lợn con thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi
Đặc điểm về khả năng hình thành kháng thể miễn dịch của lợn con
Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể Phần lớn các chất lạ
là mầm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối dễ dàng, do chức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá và lượng HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, dẫn tới khả năng tiêu hoá kém, hấp thu kém Trong giai
đoạn này mầm bệnh (salmonella spp, E.coli…) dễ dàng xâm nhập vào cơ thể
qua đường tiêu hoá và gây bệnh
Lợn con đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể Lượng kháng thể tăng nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ
Trang 23Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [16] trong sữa đầu của lợn mẹ hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa
chiếm 18 – 19%, trong đó lượng γ globulin chiếm số lượng khá lớn (30 –
35%) Nó có tác dụng tạo sức đề kháng, vì vậy sữa đầu có vai trò quan trọng
đối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu lượng γ globulin bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn nguyên tử γ globulin
giảm đi rất nhanh theo thời gian Nó chỉ có khả năng hấp thu qua ruột non của lợn con rất tốt trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của men tripsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách tế
bào vách ruột của lợn con hẹp dần, sự hấp thu γ globulin kém hơn, hàm lượng
γ globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt
khoảng 24mg/100ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng 65mg/100ml máu), do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 – 25 ngày tuổi mới có khả năng
tự tổng hợp kháng thể, những lợn con không được bú sữa đầu thì sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao
2.2.3 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn con và lợn nái sinh sản giai đoạn chửa, đẻ, nuôi con
* Chế độ dinh dưỡng
Yếu tố quan trọng đối với lợn nái mang thai và nuôi con là phải cung cấp đầy đủ số lượng và chất lượng dinh dưỡng cần thiết để có hiệu quả sinh sản cao Chế độ dinh dưỡng bao gồm: Dinh dưỡng năng lượng, dinh dưỡng protein, ảnh hưởng của khoáng chất, nguyên tố đa vi lượng và ảnh hưởng của vitamin
- Nhu cầu năng lượng
Năng lượng không thể thiếu được cho cơ thể mẹ duy trì nuôi thai, tiết sữa, nuôi con Nhu cầu năng lượng khác nhau tùy thuộc từng giai đoạn Cần phải đủ nhu cầu về năng lượng cho lợn nái, tránh cung cấp thừa gây lãng phí
Trang 24thức ăn, giảm giá thành sản phẩm Nếu thiếu sẽ ảnh hưởng đến sinh lý bình thường của con vật Năng lượng được cung cấp dưới hai dạng: gluxit chiếm
70 - 80%, lipit 10 - 13% tổng số năng lượng cung cấp
- Ảnh hưởng của khoáng chất
Trong cơ thể lợn khoáng chất chứa 3% trong đó có tới 75% là canxi và photpho, xấp xỉ 25% là natri và kali, cũng có một lượng nhỏ magie, sắt, kẽm, đồng, các nguyên tố khác ở dạng dấu vết Ví dụ canxi làm ngăn trở việc hấp thu kém gây hiện tượng rối loạn ở da, gây sừng hóa
- Ảnh hưởng của vitamin
Vitamin cần cho sự chuyển hóa bình thường của mô bào, cho sức khỏe, sinh trưởng và duy trì Một số vitamin lợn có thể tự tổng hợp để đáp ứng nhu cầu như vitamin B12 và một số loại vitamin lợn hay thiếu cần phải bổ sung (A, D, E) Nếu bổ sung không đúng, thừa hoặc thiếu đều không tốt
+ Thiếu vitamin A: Lợn con chậm lớn, da khô, mắt kém, lợn nái mang thai dễ sảy thai, đẻ non
+ Thiếu vitamin D: Thai kém phát triển, dễ bị liệt chân trước và sau khi đẻ + Thiếu vitamin E: Lợn có hiện tượng chết phôi, chết thai, lợn không động dục hoặc chậm động dục
Đặc biệt lợn nái mang thai nếu thiếu vitamin sẽ ảnh hưởng tới khả năng sinh sản Do vậy dinh dưỡng đầy đủ, khẩu phần ăn hợp lý, đáp ứng được nhu cầu sinh trưởng, phát dục trước và sau khi đẻ, nuôi con, là một trong những biện pháp hữu hiệu để nâng cao năng suất sinh sản, hiệu quả chăn nuôi
- Nhu cầu về protein
Protein là thành phần quan trọng trong khẩu phần thức ăn cung cấp cho lợn, là thành phần không thể thay thế được cần thiết trước tiên cho mọi hoạt động trao đổi chất trong cơ thể và tham gia cấu tạo nên các mô trong cơ thể
Do protein tham gia vào cấu tạo hoạt động trao đổi chất nên hàng ngày luôn
Trang 25có một lượng nhất định protein mất đi Trong quá trình đồng hóa và dị hóa của cơ thể thì hằng ngày luôn có các tế bào sinh trưởng và phát triển, phân chia và các tế bào già cỗi được loại thải ra ngoài Do đó protein được cung cấp để bù đắp lại phần mất đi và một phần khác xây dựng lên các tế bào mới, tạo sản phẩm chăn nuôi Tuy nhiên, việc cung cấp protein phải đảm bảo đủ về
số lượng và cân đối về các thành phần axit amin thiết yếu: Lyzine, methionine, histidin, cystein, tryptophan, hay chính xác hơn nhu cầu về protein của lợn chính là nhu cầu về axit amin Ngoài ra, thức ăn phải có giá trị sinh học cao, dễ tiêu hóa, dễ hấp thu Để đáp ứng tốt các nhu cầu trên cần cho lợn ăn bằng nhiều loại thức ăn
* Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa
- Dinh dưỡng lợn nái có chửa
Nguyên tắc nuôi lợn nái có chửa: Cho ăn đúng khẩu phần, đảm bảo chất dinh dưỡng, đặc biệt chú ý cho ăn đủ vitamin và khoáng chất Thiếu khoáng, xương lợn con phát triển kém, lợn nái chửa có nguy cơ bại liệt Thiếu vitamin, lợn con phát triển chậm, sức sống kém Không cho ăn quá nhiều tinh bột để chống béo, khó đẻ
+ Nhu cầu dinh dưỡng của lợn chửa: Đạm thô 13%, NLTĐ 2900 kcal/kg thức ăn
+ Mức ăn cho lợn nái có chửa (kg thức ăn đã phối trộn/con/ngày)
Giai đoạn chửa kì I: Cho ăn thức ăn 566
Nái hậu bị: 1,6 – 1,8 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần/ngày
Nái đẻ: 2 – 2,2 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần/ngày
Giai đoạn chửa kì II: Từ 84 - 100 ngày cho ăn thức ăn 566, từ 100 - 114 ngày cho ăn thức ăn 567
Với nái hậu bị: 2,5 kg/con/ngày, cho ăn 2 lần/ngày
Với nái đẻ: 3 kg/con/ngày, cho ăn 2 lần/ngày
Trang 26+ Mức ăn cho nái chửa còn tùy thuộc vào thể trạng của nái: Nái quá gầy phải cho ăn thêm thức ăn tinh, nái quá béo phải giảm thức ăn tinh
+ Vào mùa đông những ngày nhiệt độ dưới 15oC, lợn nái cần cho ăn thêm 0,2 - 0,3 kg/con/ngày để bù phần năng lượng mất đi do chống rét
+ Không được cho lợn nái chửa ăn thức ăn ẩm mốc, khô dầu bông, lá đu
đủ do dễ gây sảy thai
+ Cho lợn uống nước tự do
- Chăm sóc lợn nái chửa
+ Cho lợn yên tĩnh tuần đầu tiên sau khi phối giống
+ Kiểm tra theo dõi lợn có chửa vào ngày thứ 21 và ngày thứ 42 sau khi phối xem có động dục trở lại không
+ Tắm: 1 lần/ngày vào những ngày nắng nóng
+ Vệ sinh xoa bóp bầu vú trước dự kiến đẻ 10 - 15 ngày để kích thích sữa ra nhiều khi lợn sinh con Nếu vú bị xây xước hoặc nứt nẻ cần bôi vazơlin
Trang 27- Quy trình dinh dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [16]: Thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức
ăn, đẻ trước 2 – 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5 kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ
có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái
- 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng nái đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn
bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ
Trang 281 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm
hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng chửa sang chuồng nái đẻ để lợn quen dần với chuồng mới
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Đồng thời, ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm: 1,2 x 1,5 m Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh
Bảng 2.1 Những biểu hiện khi lợn nái sắp đẻ
0 – 10 ngày Vú căng lên và cứng, âm hộ trương mọng
2 ngày Bầu vú cương cứng hơn và tiết ra chất lỏng trong
12 – 14 giờ Nái bồn chồn, tuyến vú bắt đầu tiết sữa
6 giờ Sữa tiết ra nhiều hơn qua 2 lỗ tia sữa
2 – 4 giờ Các vú đều có sữa non vọt thành tia dài
30 phút – 2 giờ Tăng nhịp thở, đi lại không yên
15 – 30 phút Âm hộ tiết ra dịch nhờn màu hồng
15 giây – 5 phút Nái nằm nghiêng 1 bên, hơi thở đứt quãng, ép bụng,
ép đùi, quẩy đuôi rặn đẻ
Trang 29Từ những ghi chép về các biểu hiện của lợn nái sắp đẻ, đã giúp ích cho
em rất nhiều trong việc củng cố kỹ năng quan sát, theo dõi, cũng như tạo cho
em những kinh nghiệm làm việc sau này trong quá trình chăn nuôi lợn nái Việc xác định được thời điểm lợn nái đẻ cũng sẽ giúp cho người chăn nuôi chủ động được công tác chuẩn bị đỡ đẻ cho lợn con và lợn mẹ được chu đáo
và cẩn thận, đem lại hiệu quả cao, nâng cao được tỷ lệ nuôi sống của lợn con sau khi sinh
* Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái nuôi con
Mục đích của chăn nuôi lợn nái nuôi con là áp dụng các biện pháp khoa học để tăng sản lượng sữa mẹ, đảm bảo cho lợn mẹ có sức khỏe tốt Lợn con sinh trưởng phát triển nhanh, đạt số con sau cai sữa và khối lượng cai sữa cao Lợn nái chóng được phối giống trở lại sau khi tách con
- Quy trình nuôi dưỡng
Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn bổ sung đạm động vật, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin
Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng qui định như NLTĐ 3100 kcal/kg, protein 15%, canxi từ 0,9 – 1,0%, phốt pho 0,7%
Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ chất dinh dưỡng cho lợn mẹ
Trang 30Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [16] trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:
Đối với lợn nái ngoại
+ Ngày cắn ổ đẻ: Cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do
+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ
1 - 2 - 3 kg tương ứng
+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: Cho ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày
+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức
Lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/con)
+ Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)
+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày
+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 – 2 kg rau xanh/ngày sau bữa ăn tinh (nếu
Trang 31Ngoài ra, yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không ẩm ướt, vì vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô
úm lợn con và máng tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp
là 18 – 20oC, độ ẩm 70 – 75%
Quy trình chăm sóc đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa
Ngay sau khi đẻ ra lợn được tiến hành cắt rốn, bấm nanh
- Lợn con 2 - 3 ngày tuổi được cắt số tai, cắt đuôi và tiêm Fe - Dextran - B12 10%, cho uống thuốc phòng phân trắng lợn con và tiêu chảy
- Lợn con 3 - 4 ngày tuổi cho lợn con uống thuốc phòng cầu trùng
- Lợn con 4 - 5 ngày tuổi tiến hành thiến lợn đực
- Lợn con được từ 4 - 6 ngày tuổi tập cho ăn bằng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh 550SF
- Lợn con được 10 - 14 ngày tuổi tiêm vắc xin Mycoplasma
- Lợn con được 16 - 18 ngày tuổi tiêm phòng vắc xin dịch tả
- Lợn con được 21 - 25 ngày tuổi tiến hành cai sữa cho lợn con
2.2.4 Những hiểu biết về phòng và trị bệnh cho vật nuôi
Phòng bệnh
Như ta đã biết “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, là các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:
Theo Nguyễn Ngọc Phục (2005) [15], bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc là bệnh không truyền nhiễm Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng nhằm
Trang 32kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn, phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [18], vi khuẩn E coli gây bệnh ở lợn là vi
khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hóa của vật chủ Khi môi trường quá ô nhiễm do vệ sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bị nhiễm vi khuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bị cảm nhiễm
E coli, bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vệ sinh, chăm sóc có một ý nghĩa lớn
trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khỏe mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái cần phải được vệ sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo 27 – 30oC đối với lợn sơ sinh và 28 – 30oC với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không ẩm ướt Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh để phòng bệnh cho lợn con phân trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi:
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau
đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử
lý theo hưỡng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ, toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học Chất thải lỏng, nước
Trang 33rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1 – 2 lần tuần trong suốt trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi
- Phòng bệnh bằng vắc xin:
Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [7], vắc xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó có chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN ) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới – vắc xin công nghệ gen) Lúc đó chúng không có khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật
nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có thể miễn dịch chống lại
sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng
Khi vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 – 21 ngày (tùy theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch