Ngoài ra, còn một số chương trình hợp tác song phương khác trong đó Quốc hội/Văn phòng Quốc hội đóng vai trò là cơ quan thực hiện chính, gồm có Chương trình hợp tác với Cộng đồng châu Âu
Trang 11
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT DỰ ÁN
“Tăng cường năng lực của các cơ quan đại diện ở Việt Nam – Giai đoạn 3”
A THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ DỰ ÁN
1 Tên dự án:
“Tăng cường năng lực của các cơ quan đại diện ở Việt Nam – giai đoạn 3”
2 Tên nhà tài trợ: Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP)
3 Cơ quan chủ quản: Văn phòng Quốc hội
a Địa chỉ liên lạc: 35 Ngô Quyền, Hà Nội b Đt 080 46616/Fax 080 46310
4 Cơ quan đề xuất dự án: Văn phòng Quốc hội
5 Cơ quan thực hiện Dự án: Văn phòng Quốc hội (Phòng Quản lý Dự án, Trung tâm Thông tin, Thư viện và Nghiên cứu khoa học)
6 Thời gian dự kiến thực hiện dự án: 5 năm (2007 - 2012)
7 Địa điểm thực hiện dự án: Hà Nội và một số tỉnh/thành phố được lựa chọn
8 Tổng vốn dự kiến của dự án: 7.585.400 đô-la Mỹ (bảy triệu năm trăm tám lăm ngàn bốn trăm đô-la Mỹ)
Trong đó:
- Vốn ODA dự kiến: 7.265.000 đô-la Mỹ
- Vốn đối ứng dự kiến: (tiền) 300.000 đô-la Mỹ
(hiện vật) 20.400 đô-la Mỹ
9 Hình thức cung cấp ODA: Hỗ trợ kỹ thuật thông qua viện trợ không hoàn lại
Trang 2B ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT DỰ ÁN
I Bối cảnh và sự cần thiết của dự án
Từ khi tiến hành cải cách Đổi Mới vào cuối những năm 80 đến nay, Việt nam đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao cùng với sự hội nhập nhanh chóng vào nền kinh tế toàn cầu đồng thời giảm đáng kể tỷ lệ đói nghèo Những thành tựu đạt được về kinh tế và xã hội này đòi hỏi những nỗ lực không ngừng nhằm phát triển khung pháp lý và xây dựng các quy định pháp luât phù hợp với các quy định, nguyên tắc và thông lệ quốc tế
Trong năm 2001, Quốc hội Việt Nam đã thông qua một số những sửa đổi trong Hiến pháp năm 1992, tiếp theo là những sửa đổi trong Luật tổ chức Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, và ban hành Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp năm
2003 Những sửa đổi này đã tạo ra nền tảng cơ bản cho việc tiếp tục tăng cường năng lực của các cơ quan đại diện ở Việt nam, được xem như một phần của tiến trình cải cách sâu rộng hơn, cởi mở hơn hướng tới việc tự do biểu hiện, sự phát triển của xã hội dân sự, một xu thế
rõ nét trong việc phân cấp quyền lực công, một bước tiến trong việc nâng cao trách nhiệm giải trình nhằm mang lại những dịch vụ công tốt hơn
Như một kết quả tất yếu, Quốc hội hiện nay đã thực sự phát huy vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Cụ thể là năng lực lập pháp và giám sát của Quốc hội được tăng cường, thể hiện rõ nét qua việc trung bình hàng năm Quốc hội xem xét và thông qua được nhiều luật hơn so với trước đây; các phiên chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội đã thực sự trở thành những công cụ hữu hiệu nhằm nâng cao hơn trách nhiệm giải trình của các thành viên của Chính phủ trước Quốc hội, và việc mở rộng hoạt động báo chí, thông tin tuyên truyền về các hoạt động của Quốc hội đã đưa những thảo luận của Quốc hội vào gia đình của những người dân thường Việt Nam Bên cạnh đó, Quốc hội cũng đã trở thành một diễn đàn thảo luận chính sách sâu rộng về những nội dung liên quan đến tương lai phát triển của đất nước
Mặc dù vậy, hiện nay Quốc hội vẫn đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức Trước tiên là,
Trang 33
đối với việc tăng cường trách nhiệm giải trình, tính minh bạch và sự tham gia của người dân vào cuộc sống cộng đồng, yêu cầu đối với các đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân ngày càng tăng Tại Quốc hôi khóa XII, có khoảng 70% (345 trên tổng số 493) số đại biểu Quốc hội là đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu Theo Luật sửa đổi một số điều của Luật tổ chức Quốc hội, đã được thông qua đầu năm 2007, Ủy ban Pháp luật và Ủy ban Kinh tế và Ngân sách, mỗi ủy ban đã được tách thành 2 Ủy ban Đây là dấu hiệu rõ nét cho thấy cam kết của lãnh đạo nhà nước Việt Nam trong việc tăng cường vai trò của các cơ quan dân chủ đại diện trong tiến trình đổi mới
Tuy nhiên, việc hạn chế về thời gian không chỉ là khó khăn duy nhất mà các đại biểu Quốc hội đang gặp phải Để chủ động thẩm định, quyết định một cách hiệu quả những vấn đề chính sách được vạch ra ngày càng nhiều trong chương trình xây dựng pháp luật, cần thiết phải có những quy trình và thủ tục phục vụ đại biểu tìm kiếm và nhận biết tốt hơn những mối quan tâm của công chúng, những quan điểm của các nhà chuyên môn ở từng lĩnh vực cụ thể và sự ủng hộ tại khu vực bầu cử Cùng với việc các nhà tài trợ hỗ trợ việc tổ chức các hội thảo chính sách, thu hút sự quan tâm của các đại biểu vào những vấn đề như các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, các hiệp định quốc tế và vấn đề chống tham nhũng, những hoạt động tham vấn ý kiến và các biện pháp khác nhằm thúc đẩy sự tương tác giữa người dân – cơ quan đại diện cũng cần được thể chế hóa để có tác động lâu dài
Một trường hợp cụ thể dẫn chứng cho nhu cầu cần tăng cường năng lực của các đại biểu Quốc hội trong việc thúc đẩy bình đẳng giới, đó là: trong khi 25,76 % đại biểu Quốc hội và 16% đại biểu Hội đồng nhân dân là nữ, thì phụ nữ nói chung vẫn chưa tham gia một cách tối đa hoặc ngang bằng với nam giới trong lĩnh vực hoạt động cộng đồng
Ví dụ, trong 8 ủy ban của Quốc hội khóa XI, chỉ có hai ủy ban có chủ nhiệm là nữ Đối với các ủy ban được xem là đặc quyền của nam giới (như Đối ngoại, Quốc phòng – An ninh, Khoa học và Công nghệ môi trường), tỉ lệ các thành viên là đại biểu nữ chiếm trung bình ít hơn 15% Cuối cùng, trong số 127 đại biểu chuyên trách của Quốc hội khóa XI thì chỉ có 29 người là nữ, chiếm 23%
Trang 4Cùng với Chiến lược Quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2010 và Luật Bình đẳng giới (được Quốc hội thông qua vào tháng 11/2006), việc tăng cường năng lực của các đại biểu nữ cần được quan tâm hàng đầu
Có thể thấy rõ ràng là Hội đồng nhân dân sẽ phải nhận thức được gánh nặng trách nhiệm ngày càng tăng bởi vì quá trình phân cấp và phân quyền đang được thúc đẩy nhanh chóng (gần một nửa việc chi tiêu ngân sách của Việt Nam hiện nay là do các cấp lãnh đạo của chính quyền địa phương trực thuộc trung ương quyết định, chính điều này đã làm cho Việt Nam trở thành quốc gia phi tập trung hóa cao) Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện thông qua bầu
cử ở các cấp tỉnh/thành phố, huyện/quận, và xã/phường
Hội đồng nhân dân của 64 tỉnh/thành phố trong cả nước được giao nhiệm vụ quyết định các chính sách và xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, phân bổ thu, chi ngân sách của địa phương; xem xét và quyết định phân bổ ngân sách cho chính quyền cấp dưới, kiểm tra, xem xét và giám sát việc thực hiện các kế hoạch kinh tế - xã hội và đầu tư Thực tế hiện nay tỉ lệ đại biểu chuyên trách của Hội đồng nhân dân (5%) thậm chí còn ít hơn
so với của Quốc hội Theo kết quả của một cuộc điều tra nhu cầu được tiến hành gần đây, các đại biểu quan tâm nhiều đến sự hạn chế của các biện pháp tiếp cận được với những nguồn thông tin tổng hợp phục vụ cho việc lập kế hoạch và ban hành quyết định, cũng như sự hạn chế về năng lực của các cán bộ giúp việc Một thực tế đáng ngạc nhiên là hầu hết các Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhận được rất ít những trợ giúp có thể giúp họ khắc phục những hạn chế về năng lực
Lãnh đạo nhà nước Việt Nam nhận thức rất rõ ràng về những hạn chế năng lực đang tồn tại
và những nhu cầu bồi dưỡng, tập huấn đối với đại biểu và cán bộ giúp việc của Quốc hội và Hội đồng nhân dân Thách thức này có thể sẽ còn tăng nhiều hơn trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII
Trong bối cảnh này, vào tháng 11/2004, Văn phòng Quốc hội đã chính thức thành lập Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử (TCER) Trung tâm này thực hiện vai trò là trung tâm nguồn
và điều phối các nhu cầu về tập huấn, bồi dưỡng cho đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân Tuy nhiên, vào thời điểm hiện tại, Trung tâm này vẫn đang tiếp tục kiện toàn bộ máy tổ
Trang 55
chức nhân sự và cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Mặc dù vậy, với sự chỉ đạo của Lãnh đạo Quốc hội và sự quyết tâm của Văn phòng Quốc hội nhằm phát triển hoạt động của Trung tâm, những kinh nghiệm về việc triển khai đào tạo, tập huấn là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động của Trung tâm trong thời gian tới
Trong thời gian vừa qua, cam kết chính trị nhằm tăng cường năng lực của Quốc hội và Hội đồng nhân dân đã mở ra nhiều cơ hội cho việc hợp tác với cộng đồng tài trợ quốc tế Trong quan hệ đối tác với các tổ chức song phương và đa phương, Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) đã có chương trình hợp tác với Quốc hội/Văn phòng Quốc hội từ giữa những năm 1990 Dự án hiện nay đang triển khai „Tăng cường năng lực của các cơ quan dân
cử ở Việt Nam” (VIE/02/007), đồng tài trợ bởi các quốc gia Thụy Sĩ, Ca-na-da, Anh và rơ-len, được bắt đầu từ năm 2003 Ngoài ra, còn một số chương trình hợp tác song phương khác trong đó Quốc hội/Văn phòng Quốc hội đóng vai trò là cơ quan thực hiện chính, gồm có Chương trình hợp tác với Cộng đồng châu Âu về Hỗ trợ phát triển thể chế (2006-2009),
Ai-“Chương trình hợp tác giữa Văn phòng Quốc hội Việt Nam và Văn phòng Quốc hội Thụy Điển” do Cơ quan Hợp tác và Phát triển Thụy Điển (SIDA) tài trợ (2003-2007) mới kết thúc gần đây, giai đoạn III của Dự án “Hỗ trợ cải cách pháp luật và tư pháp ở Việt Nam” do Cơ quan Hợp tác và Phát triển Đan Mạch tài trợ, và Dự án “Tăng cường năng lực của Quốc hội
và Hội đồng nhân dân ở Việt Nam trong việc thẩm tra, quyết định và giám sát ngân sách nhà nước” (VIE/02/008) do Ca-na-da, Ai-rơ-len, Anh, Cộng đồng châu Âu và UNDP đồng tài trợ
Thông tin chi tiết về các chương trình hợp tác giữa Quốc hội và cộng đồng tài trợ quốc tế được nêu cụ thể trong Báo cáo “Hỗ trợ của các nhà tài trợ đối với sự phát triển của Quốc hội Việt Nam” Báo cáo này được thực hiện theo chương trình của Dự án VIE/02/007, là một phần của quá trình xây dựng lại kế hoạch, bao gồm cả việc phát triển chiến lược bồi dưỡng, tập huấn cho các đại biểu dân cử (tiến hành đầu năm 2006) Hoạt động này đã xác định một loạt các ưu tiên cho việc tăng cường năng lực của các cơ quan đại diện của nhân dân, mà dựa vào đó các khuyến nghị sau đây đã được đề xuất:
Hỗ trợ tiếp tục cho Quốc hội và Hội đồng nhân dân cần được liên kết với các nỗ lực xóa đói nghèo và đạt được những Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ;
Trang 6Yêu cầu tăng cường năng lực của các cơ quan đại diện trong việc quản lý ngân sách công một cách có trách nhiệm và nâng cao hơn sự liêm chính trong việc thực thi các vấn đề công cộng cần được ưu tiên quan tâm;
Hoạt động tập huấn và phát triển năng lực cho các cơ quan đại diện nên được mở rộng hơn và thể chế hóa cùng với việc giới thiệu các nguyên tắc hoạt động nghị viện chuẩn mực đã được chấp nhận trên thế giới;
Cần có thêm nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu phát triển năng lực của Hội đồng nhân dân;
Lồng ghép giới và thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào các quy trình chính trị đòi hỏi sự quan tâm cấp thiết và dứt khoát;
Cần tiến hành nhiều biện pháp để tăng cường sự phối hợp và chia sẻ thông tin giữa các
dự án hỗ trợ cho Quốc hội và Hội đồng nhân dân, đề cập đến tính chất ngắn hạn của những hỗ trợ này
Ngoài ra, phù hợp với Tuyên bố Hà Nội về Hiệu quả tài trợ, còn có sự nhất trí rằng việc phát triển năng lực của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh/thành phố trong tương lai phải hướng tới việc đạt được những kết quả cụ thể, với những thành quả có thể đánh giá được một cách khách quan và sự cảm nhận rõ ràng về việc năng lực được tăng cường đáng kể trong suốt thời gian thực hiện dự án
Để đạt được điều đó, vào tháng 8 năm 2007, dự án đã tổ chức một Hội nghị cấp cao do Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu chủ trì dành cho các nhà lãnh đạo các cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội và cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế nhằm mục đích xác định các lĩnh vực ưu tiên cho việc phát triển năng lực của Quốc hội khóa XII, trong đó có dự kiến các thành quả cụ thể nhằm thu hút sự quan tâm hỗ trợ của quốc tế
Tuy nhiên, giai đoạn mới của dự án dự kiến sẽ được triển khai dựa trên một số kết quả đã đạt được của dự án trong giai đoạn II, cụ thể là:
Thể chế hóa việc bồi dưỡng/tập huấn thông qua việc thành lập Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử;
Trang 77
Góp phần hỗ trợ việc tăng cường năng lực của Quốc hội trong việc xem xét, thông qua
các văn bản pháp luật trong quá trình lập pháp, trong đó có Luật Bình đẳng giới;
Tăng cường năng lực của Quốc hội trong việc xây dựng các văn bản pháp luật;
Đảm bảo 30% số người tham dự trong từng nội dung của dự án là nữ;
Hỗ trợ biên soạn, in ấn và phát hành các tài liệu tập huấn về các chủ đề cụ thể; và
Mở rộng việc bồi dưỡng/tập huấn cho các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh/thành phố và cán bộ Văn phòng Quốc hội
Mặt khác, giai đoạn II của dự án được thực hiện chủ yếu theo cách thức ngắn hạn và ít tập trung đến sự thay đổi cụ thể về thể chế; nhiều khóa tập huấn và các ấn phẩm được tổ chức và xuất bản chủ yếu tập trung vào các kỹ năng của cá nhân đại biểu và không chú ý đến sự thay đổi thể chế cần thiết cho sự thay đổi hệ thống Vì vậy, kết quả đạt được còn hạn chế trên phương diện xem xét đến sự tiến bộ, phát triển năng lực của Quốc hội trong việc thực hiện vai trò đại diện cho lợi ích của cử tri; năng lực xem xét, thẩm định kỹ lưỡng các dự thảo luật hoặc đảm bảo các văn bản luật được thông qua sẽ được triển khai một cách hiệu quả Cụ thể
là, đã không có sự thay đổi đáng kể nào được ghi nhận liên quan đến những cải tiến về quy trình và thủ tục của Quốc hội nhằm tăng cường năng lực thể chế để thực hiện vai trò của mình trong quá trình quản trị quốc gia
Từ những phân tích trên, giai đoạn III của Dự án dự kiến sẽ tập trung vào các nội dung sau:
Thể chế hóa công tác bồi dưỡng cho các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân
và cán bộ Văn phòng Quốc hội nhằm nâng cao năng lực cho từng cá nhân đại biểu, từ đó tăng cường năng lực cho các cơ quan lập pháp của Việt Nam;
Tạo cơ hội cho Quốc hội và Hội đồng nhân dân nâng cao năng lực để thực hiện những chức năng chính (vai trò đại diện, chức năng lập pháp và chức năng giám sát đối với các
cơ quan của chính phủ) trong quá trình đổi mới đang diễn ra nhanh chóng tại Việt Nam; Đảm bảo nguồn tài trợ đối với Quốc hội và các Hội đồng nhân dân được điều phối một cách hiệu quả;
Tạo ra các kết quả khả quan và lâu dài cho Quốc hội và các Hội đồng nhân dân thông qua các thay đổi về thể chế nhằm đảm bảo việc phát triển năng lực bền vững
Trang 8Các đối tượng thụ hưởng chính của Dự án gồm có:
Các cơ quan:
Ủy ban thường vụ Quốc hội
Văn phòng Quốc hội và một số Ủy ban của Quốc hội
Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử của Văn phòng Quốc hội
Các Hội đồng nhân dân cấp tỉnh/thành phố
Các cá nhân:
Lãnh đạo Quốc hội
Các đại biểu Quốc hội
Lãnh đạo và cán bộ Văn phòng Quốc hội
Ban quản lý và cán bộ của Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử của VPQH
Đại biểu Hội đồng nhân dân các tỉnh/ thành phố
Ban lãnh đạo và cán bộ giúp việc của Hội đồng nhân dân các tỉnh/ thành phố
Dự án cũng sẽ hướng tới việc thúc đẩy sự tham gia của người dân, các tổ chức xã hội dân sự
và các cơ quan thông tấn và các nhà báo ở Trung ương và địa phương trong các hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân Điều này đồng nghĩa với việc đây cũng sẽ là những nhóm đối tượng được thụ hưởng Dự án
II Cơ sở đề xuất nhà tài trợ
1 Tính phù hợp của mục tiêu dự án với chính sách và định hướng ưu tiên của nhà tài trợ
Dự án nhằm hướng tới việc thực hiện các cam kết chung và các thành quả được xác định rõ trong Kế hoạch Một Liên Hợp Quốc (2007-2010) được Chính phủ Việt Nam và Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) ký kết năm 2007 Cụ thể, Dự án sẽ góp phần trong
việc hiện thực hóa Thành quả 4, “Nguyên tắc về trách nhiệm giải trình, tính minh bạch, sự
tham gia của người dân và nhà nước pháp quyền sẽ được hợp nhất trong hệ thống đại diện, hành chính, tư pháp và pháp luật Việt Nam”, và các kết quả đầu ra cụ thể liên quan đến các
cơ quan đại diện của nhân dân được xác định trong đó, bao gồm cả thành quả 4.7 “Tăng
cường năng lực cho Quốc hội và HĐND trong việc giám sát hoạt động của cơ quan hành
Trang 99
Dự án sẽ tiếp nối những thành tựu đã đạt được và các bài học kinh nghiệm rút ra từ Dự án
“Tăng cường năng lực của các cơ quan dân cử ở Việt Nam” (VIE/02/007), tuy nhiên cũng sẽ khác với Dự án này ở những điểm cơ bản sau đây:
Bổ sung thêm một hợp phần riêng biệt nhằm tăng cường đối thoại chính sách giữa Quốc hội/ Văn phòng Quốc hội với cộng đồng tài trợ quốc tế và điều phối các Dự án hợp tác quốc tế với Quốc hội/ Văn phòng Quốc hội;
Mở rộng hơn về số lượng và phạm vi của các hoạt động dành cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh/thành phố mà hiện nay chưa nhận được nhiều sự hỗ trợ của quốc tế, đồng thời vẫn tiếp tục tập trung vào việc phát triển các hoạt động liên quan đến Quốc hội;
Tăng cường tập trung hơn nữa việc thực hiện chức năng/vai trò đại diện của đại biểu (giới thiệu các kỹ năng và thiết lập cơ sở hạ tầng cho việc thúc đẩy mối quan hệ với đơn vị bầu
cử, tham khảo ý kiến của công chúng, và sự tác động của các tổ chức/đơn vị phi nhà nước);
Tăng cường năng lực cho các cơ quan có liên quan thông qua việc tập trung không những vào công tác tập huấn và bồi dưỡng mà còn vào việc hỗ trợ thể chế hóa các năng lực đã được tăng cường, đặc biệt trong các lĩnh vực giám sát và đại diện;
Phát triển hơn nữa năng lực thực hiện bồi dưỡng, tập huấn tại Văn phòng Quốc hội nhằm thúc đẩy việc tích lũy tri thức của các đại biểu dân cử ở cả cấp trung ương và địa phương; Đảm bảo các đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện/quận và cấp xã/phường được thụ hưởng từ các hoạt động tập huấn, bồi dưỡng của Dự án, đồng thời tiếp tục đảm bảo sự tham gia của nhóm đối tượng chính là đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Để đảm bảo sự liên tục trong hoạt động tài trợ và sự chuyển tiếp thuận lợi sang giai đoạn mới của dự án, cần xây dựng được kế hoạch tiến hành các hoạt động quản lý dự án như một phần hoạt động của dự án VIE/02/007
Cần phải nhấn mạnh rằng dự án giai đoạn tiếp theo này lớn hơn nhiều so với dự án đang triển khai thực hiện về cả quy mô và phạm vi hoạt động Phương pháp tiếp cận có hệ thống đối với việc tăng cường năng lực và việc phân chia Dự án thành các hợp phần riêng biệt sẽ đòi hỏi việc tăng cường hơn nữa năng lực lập kế hoạch, quản lý và triển khai các hoạt động trong phạm vi dự án Bên cạnh đó, dự án sẽ dành nhiều thời gian hơn cho việc trao đổi, xin ý kiến
Trang 10chỉ đạo, đi công tác thực tế và tổ chức triển khai các hoạt động của dự án phù hợp với mong muốn mở rộng phạm vi các hoạt động của dự án đến Hội đồng nhân dân cấp tỉnh/thành phố
Phù hợp với Cam kết Hà Nội về hiệu quả viện trợ, điều kiện tiên quyết quan trọng cho thành công của dự án là các hoạt động của dự án sẽ thuộc về Văn phòng Quốc hội Những hỗ trợ của UNDP và các cơ quan đồng tài trợ khác chỉ có tính chất bổ trợ, bổ sung thêm giá trị gia tăng nhằm giúp Văn phòng Quốc hội có thể thực hiện những công việc mà trước đây không
có điều kiện thực hiện bằng nguồn lực sẵn có Như vậy, hiệu quả và ích lợi của dự án sẽ được
mở rộng hơn thông qua những kinh nghiệm hoạt động tốt của quốc tế và sự tham gia đóng góp của các chuyên gia quốc tế
Căn cứ vào những sáng kiến và cơ chế đã được xây dựng trong hoạt động của dự án VIE/02/007, dự án cũng sẽ dành sự quan tâm hàng đầu đến yêu cầu điều phối và truyền thông với số lượng khá đông các đối tác liên quan, bao gồm cả các dự án do nước ngoài tài trợ có mục tiêu tương tự Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự thành công của dự án Cụ thể là cần khởi xướng một cuộc đối thoại về những cách thức phối hợp có thể giữa các dự án
do Cộng đồng châu Âu và Đan Mạch tài trợ, cũng như với dự án VIE/02/008 của UNDP
Tương tự như vậy, một yếu tố quan trọng trong chiến lược của dự án là thúc đẩy sự gắn kết chặt chẽ mang tính hệ thống rộng khắp của Liên hiệp quốc trong lĩnh vực phát triển nghị viện Bên cạnh việc trao đổi thông tin thường xuyên với các tổ chức có liên quan trong hệ thống Liên hiệp quốc về kế hoạch cũng như tiến độ thực hiện dự án, các nỗ lực cụ thể sẽ được tiến hành để đề ra những cách thức phối hợp có thể trong những sáng kiến/đề xuất các chương trình hợp tác giữa Quốc hội với các tổ chức Quỹ Nhi đồng của Liên Hiệp Quốc (UNICEF), Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Quỹ Phát triển Phụ nữ của Liên Hiệp Quốc (UNIFEM) và Tổ chức Lao động thế giới (ILO)
Chiến lược Bình đẳng giới
Căn cứ vào các kiến nghị và đề xuất trong “báo cáo xây dựng lại kế hoạch dự án” được tiến hành đầu năm 2006 và dựa trên các động lực tạo ra từ các hoạt động trước đó trong việc thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, dự án sẽ được thực hiện và triển khai theo việc
Trang 11cho việc xem xét, thẩm tra các văn bản pháp luật về vấn đề giới (ví dụ như Luật về
phòng, chống bạo lực gia đình); cung cấp sự hỗ trợ chính sách để đảm bảo tất cả các văn
bản pháp luật đều có xem xét nhiều đến các yếu tố về giới; trang bị cho các đại biểu Quốc hội các kỹ năng phân tích cơ bản về giới đặc biệt là dự thảo ngân sách giới và điều phối việc trao đổi các kinh nghiệm và kiến thức giữa các đại biểu Quốc hội nữ trong khu vực;
Sự lồng ghép các yếu tố về bình đẳng giới trong tất cả các hoạt động của dự án, đặc biệt
Thu thập và phân tích dữ liệu phân tách về giới tính, nhằm giám sát các tiến trình liên quan đến các vấn đề về giới
Để đảm bảo các năng lực cần thiết đều sẵn sàng cho việc triển khai thực hiện một cách hiệu quả chiến lược đề ra, một cố vấn cao cấp về lĩnh vực giới cho dự án sẽ được tuyển dụng vào làm việc theo cơ chế bán thời gian (không chuyên trách) trong suốt thời gian hoạt động của
dự án Cố vấn cao cấp về giới sẽ tham gia tích cực vào việc soạn thảo kế hoạch hoạt động hàng năm, theo dõi quá trình và cung cấp các đầu vào cho việc thiết kế, xây dựng các hoạt động và tuyển dung chuyên gia cho dự án Mô tả công việc của cố vấn cao cấp về giới được trình bày ở phụ lục 2 - 4 Cần xem xét việc tuyển dụng các chuyên gia từ những cơ quan/tổ chức trong nước hoặc các tổ chức phi chính phủ nhằm gián tiếp tăng cường mạng lưới hợp tác giữa các cơ quan trong nước hoạt động trong lĩnh vực bình đẳng giới và các đại biểu Quốc hội nữ, đồng thời tăng cường năng lực nghiên cứu và truyền thông của các cơ quan này Quỹ Phát triển Phụ nữ của Liên Hiệp Quốc (UNIFEM) là tổ chức có chuyên môn và kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực bình đẳng giới và sự tham gia vào hoạt động chính trị
Trang 12của phụ nữ và việc tham gia của tổ chức này sẽ tăng cường các kinh nghiệm và mạng lưới trong khu vực/toàn cầu
2 Đánh giá năng lực của cơ quan đối tác
Văn phòng Quốc hội, với nhiệm vụ cơ bản là cơ quan giúp việc của Quốc hội và hỗ trợ hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, được xác định là cơ quan phù hợp nhất trong việc chủ trì triển khai thực hiện loai hình dự án này Văn phòng Quốc hội là cơ quan quốc gia điều hành của những dự án do UNDP tài trợ cho Quốc hội từ hơn 10 năm qua, rất hiểu và quen thuộc với những quy trình, thủ tục của UNDP trong việc triển khai dự án Văn phòng Quốc hội được tổ chức với một số vụ, đơn vị trực thuộc phụ trách các mảng công việc cụ thể như hành chính quản trị, chuyên môn, nghiên cứu khoa học và quản lý nhân sự Từ giữa những năm 90, một số nhà tài trợ quốc tế đã có những chương trình hợp tác trực tiếp với Văn phòng Quốc hội, và vì thế Văn phòng Quốc hội có vị trí quan trọng trong việc điều phối hoạt động tài trợ của quốc tế cho Quốc hội và Hội đồng nhân dân
Trong nhiều năm vừa qua, mối quan hệ đối tác chặt chẽ đã được thiết lập giữa lãnh đạo của Văn phòng Quốc hội và UNDP Các cuộc đối thoại đã được diễn ra một cách cởi mở và thẳng thắn, và việc triển khai thực hiện các hoạt động của dự án nhìn chung thuận lợi Dự án VIE/02/007 được ghi nhận là có tỷ lệ giải ngân cao, đạt trung bình 90% trong 3 năm vừa qua Bên cạnh đó, các bên đối tác của dự án cũng nêu ra một số lo ngại về việc các hoạt động của
dự án không hoàn toàn theo đúng kế hoạch đã được các bên thông qua, và mặc dù sự linh hoạt là quan trọng nhưng một vài hoạt động vẫn còn mang tính vụ việc Trong các cuộc họp tổng kết hoạt động của dự án hàng năm, các bên đối tác của dự án đã đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường năng lực điều hành/ thực hiện dự án của Văn phòng Quốc hội, bao gồm:
Tăng cường năng lực và nguồn nhân lực quản lý dự án của VPQH; bố trí các cán bộ dự
án làm việc trong cùng một văn phòng chung;
Đảm bảo việc trao đổi, xin ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Quốc hội được tiến hành thường xuyên hơn để đảm bảo tính khả thi của các kế hoạch đã được các bên thông qua và của các hoạt động nhạy cảm nhằm tránh những thay đổi vào phút chót hoặc những hoạt động không được dự tính trước
Trang 1313
III Mục tiêu của dự án
1 Mục tiêu dài hạn: Một hệ thống quản trị quốc gia dựa trên các nguyên tắc cơ bản là trách nhiệm giải trình, tính minh bạch, sự tham gia của người dân và sự công bằng, cũng như phù hợp với nhà nước pháp quyền và nền dân chủ
2 Mục tiêu ngắn hạn: Năng lực của Quốc hội và Hội đồng nhân dân được tăng cường trong việc thực hiện các chức năng đại diện, lập pháp và giám sát
IV Các kết quả chủ yếu của dự án
Hợp phần A tập trung vào việc tăng cường đối thoại chính sách và điều phối tài trợ Kết quả
mong đợi của hợp phần này là Văn phòng Quốc hội và UNDP sẽ ngày càng đóng vài trò quan trọng trong việc điều phối hoạt động về phát triển Quốc hội ở Việt Nam Phù hợp với Tuyên bố Pari và Cam kết Hà Nội về hiệu quả viện trợ, hợp phần này của dự án sẽ thúc đẩy:
Đối thoại chính sách giữa lãnh đạo của Quốc hội với cộng đồng tài trợ quốc tế về các vấn
đề mà các bên cùng quan tâm (ví dụ như bao gồm vai trò của Quốc hội trong việc đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên nhiên kỷ, thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, chống tham nhũng, v.v.) Các chủ đề cụ thể sẽ được xác định trong quá trình xây dựng kế hoạch hoạt động hàng năm của dự án, tuy nhiên dự kiến trong năm đầu tiên dự
án sẽ tổ chức một cuộc hội thảo với sự tham gia của các đại biểu Quốc hội nữ trong khu vực để giới thiệu những tiến bộ mà Việt Nam đã đạt được liên quan đến nội dung trên, đồng thời thảo luận về những thách thức chung và các chiến lược phát triển chung; và
Trang 14Các chương trình và các dự án hợp tác quốc tế với Quốc hội, Văn phòng Quốc hội và các Hội đồng nhân dân, bao gồm cả các cơ quan của Liên hợp quốc và các dự án quốc tế tài trợ khác
Hợp phần B tập trung vào việc phát triển năng lực của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội
Cụ thể là hợp phần này sẽ tập trung vào những nội dung sau:
Tăng cường năng lực của các đại biểu Quốc hội trong hoạt động tiếp xúc với cử tri ở khu vực bầu cử thông qua việc giới thiệu và xây dựng các kỹ năng mới, quy trình thủ tục mới,
hệ thống và các điều kiện thuận lợi cho việc tiếp xúc giữa đại biểu và khu vực cử tri; Tăng cường mối quan hệ, trao đổi giữa các đại biểu Quốc hội và các nhân tố chính trong tiến trình dân chủ hóa đang diễn ra, bao gồm các cơ quan thông tấn báo chí, các tổ chức quần chúng và các đơn vị bầu cử Các hoạt động có thể bao gồm việc thiết lập các chiến lược điện tử cho việc chia sẻ thông tin, đào tạo cho các nhà báo và tổ chức chính trị, xã hội;
Thúc đẩy các hoạt động lấy ý kiến công chúng thông qua các dự án thí điểm và sự thay đổi thể chế, xem đây là cơ chế để cải thiện chất lượng công tác lập pháp và thực tiễn giám sát của Quốc hội;
Tìm kiếm các kinh nghiệm quốc tế về việc tăng cường sự liêm chính và đạo đức ứng xử trong Quốc hội và nghiên cứu cách vận dụng phù hợp trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam;
Tăng cường các thực tiễn và quy tắc giám sát trong Quốc hội tập trung vào vai trò của hoạt động lấy ý kiến công chúng trong lĩnh vực này
Hợp phần C tập trung vào việc phát triển năng lực cho Hội đồng nhân dân để thực hiện các
nhiệm vụ được giao trong tiến trình phân cấp tới các địa phương đang diễn ra Các nội dung
của hợp phần này sẽ nhằm đáp ứng những nhu cầu của một phần đông các Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua việc mở rộng các cơ hội đào tạo, đồng thời phát triển mối liên kết chặt chẽ và chiến lược phát triển năng lực rộng rãi hơn cho một số Hội đồng nhân dân cấp tỉnh/ thành phố thể hiện sự cam kết đổi mới Kết quả mong đợi ở đây là những hoạt động này sẽ tạo ra những bài học thực tiễn tốt và có thể nhân ra rộng rãi hơn Hợp phần này có tính phức hợp và là thách thức do việc triển khai chỉ được thực hiện ở một số địa phương nhất định và
Trang 15Giới thiệu các công cụ để thúc đẩy việc triển khai lấy ý kiến công chúng trở thành một cơ chế nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND và việc tổ chức thí điểm việc lấy ý kiến công chúng tại một số địa phương;
Khuyến khích các hành vi ứng xử đạo đức và giới thiệu những quy tắc mẫu như một phần trong hoạt động của HĐND nhằm tăng cường năng lực của các cơ quan này trong việc giám sát hoạt động của cơ quan hành pháp;
Với các Hội đồng nhân dân cấp huyện và xã, dự án sẽ thông qua Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử của VPQH để thực hiện các chương trình bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực cho các đại biểu HĐND ở các cấp này Tuy nhiên, dự án cũng sẽ tiến hành phân tích, đánh giá năng lực của HĐND các cấp huyện và xã để xác định những khó khăn, thách thức trong tương lai
Hợp phần D tập trung vào việc tăng cường các hoạt động bồi dưỡng, tập huấn và chia sẻ
kiến thức trong Văn phòng Quốc hội để trước hết đáp ứng được các yêu cầu của các đại biểu dân cử ở cấp Trung ương và địa phương Hợp phần này đóng vai trò then chốt cho sự
thành công và tính bền vững của dự án vì nó đề cập đến vấn đề về thể chế hóa năng lực đào tạo trong Quốc hội Như đã được đề cập rõ trong những sáng kiến hỗ trợ cho Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử của Văn phòng Quốc hội trong khuôn khổ hoạt động của dự án VIE/02/007, đây là một nhiệm vụ rất đa dạng và thách thức căn cứ vào khối lượng các hoạt động đào tạo, tập huấn cần thiết để đáp ứng được với các yêu cầu của nhiệm kỳ Quốc hội mới từ 2007-
2012, và sự đa dạng của việc tổ chức các chương trình bồi dưỡng này Hợp phần này sẽ bao gồm 2 nhóm các hoạt động, cụ thể như sau:
Thiết kế và triển khai thực hiện các chương trình bồi dưỡng trọn gói cho các đại biểu dân
cử Các chương trình này bao gồm các khóa tập huấn giới thiệu cho các đại biểu tham gia
Trang 16Quốc hội lần đầu, các khóa tập huấn theo chủ đề Mục tiêu đầu ra 1 trong Bảng khuôn khổ về kết quả đã chỉ ra các mục tiêu đào tạo dành cho các đại biểu Quốc hội và cán bộ Quốc hội Mục tiêu đầu ra 2 đề cập các khóa tập huấn dành cho các đại biểu Hội đồng nhân dân và cán bộ Văn phòng HĐND;
Nâng cao năng lực thể chế của Văn phòng Quốc hội để điều phối hoạt động bồi dưỡng cho các đại biểu dân cử thông qua việc hỗ trợ đào tạo và phát triển tổ chức của Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử Các hoạt động bao gồm việc hỗ trợ đào tạo cho cán bộ của Trung tâm về kỹ năng quản lý và tổ chức các chương trình đào tạo, phát triển hệ thống quản trị, hành chính, và quảng bá các sáng kiến đào tạo của Trung tâm và đặc biệt là sự tham gia của Trung tâm vào việc tổ chức các hoạt động bồi dưỡng trong chương trình của
dự án (được xem như một hình thức vừa học vừa làm) Điều đáng lưu ý là các hỗ trợ của
dự án đối với Trung tâm được định hướng ngay trong những năm đầu của dự án là nhằm đảm bảo năng lực của Trung tâm được tăng cường nhanh chóng để đảm đương được nhiệm vụ đào tạo trong chương trình dự án vào những năm sau
Trang 1717
V Cấu phần, hoạt động chủ yếu và dự kiến phân bổ nguồn lực của dự án
(Kết quả mong đợi của Chương trình Quốc gia đã được thông qua giữa Chính phủ Việt Nam và UNDP)
“Một hệ thống quản trị quốc gia dựa trên các nguyên tắc cơ bản là trách nhiệm giải trình, tính minh bạch,
sự tham gia của người dân và sự công bằng, cũng như phù hợp với nhà nước pháp quyền và nền dân chủ.
Hợp phần C
Phát triển năng lực của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Hợp phần D
Bồi dưỡng và Tập huấn cho các đại biểu dân
của Quốc hội
Điều phối tài trợ
Đối thoại chính sách
Vai trò đại diện Tham khảo ý kiến công chúng
Sự liêm khiết và đạo đức
Chức năng giám sát
Vai trò đại diện Tham khảo ý kiến công chúng
Sự liêm khiết và đạo đức
Chức năng giám sát Chức năng quyết định
Tập huấn cho đại biểu Quốc hội và cán bộ VPQH Tập huấn cho đại biểu Hội đồng nhân dân và cán bộ VP HĐND
Phát triển năng lực cho Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân
cử của VPQH
THÀNH QUẢ CỦA DỰ ÁN Năng lực của Quốc hội và Hội đồng nhân dân được tăng cường trong việc thực hiện các chức năng đại diện, lập
pháp và giám sát
Trang 18Kiến nghị cơ chế tài chính trong nước đối với dự án
1 Đối với vốn ODA
Vốn ODA dự kiến: 7.265.000 đô-la Mỹ trong đó:
- Ngân sách cấp phát hành chính sự nghiệp: 0% tổng vốn ODA
- Cho vay lại: 0% tổng vốn ODA
2 Đối với vốn đối ứng
Vốn đối ứng dự kiến: (tiền) 300.000 đô la Mỹ
(hiện vật) 20.400 đô la Mỹ Nguồn vốn đối ứng được huy động theo hình thức sau:
- Vốn ngân sách trung ương cấp phát: 320.400 đô la Mỹ (bằng 100%) tổng vốn đối ứng
- Vốn khác: không
Phân bổ ngân sách
Hỗ trợ kỹ thuật (Cố vấn Kỹ thuật cao
cấp, Chuyên gia trong nước, Chuyên
gia quốc tế)
18.7%
Trong nước (35%)
Quốc tế (65%)
Đào tạo (Hội nghị, hội thảo, đoàn
Các chi phí hành chính (lương cho cán bộ DA,
chi phí đi lại, chi phí hoạt động văn phòng…)
VI Tổ chức quản lý thực hiện dự án
1 Phương thức tổ chức quản lý thực hiện dự án
Văn phòng Quốc hội, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của một cán bộ cấp lãnh đạo cao cấp phụ
Trang 19Việc tuyển dụng nhân sự cho các vị trí mới của dự án cần được tiến hành ngay sau khi văn kiện
dự án này được ký kết, nếu có thể thì tiến hành trước khi các hoạt động của dự án VIE/02/007 kết thúc Hợp đồng lao động sẽ có hiệu lực khi giai đoạn mới bắt đầu;
Kế hoạch hoạt động năm 2007 của dự án VIE/02/007 sẽ bao gồm phần kế hoạch dự phòng để đảm bảo các công việc chuẩn bị cho dự án mới được sẵn sàng;
Những trang thiết bị phục vụ công việc của dự án VIE/02/007 sẽ tiếp tục được sử dụng trong giai đoạn chuyển tiếp giữa hai dự án
Được xem như một phần đóng góp bằng hiện vật cho dự án, Văn phòng Quốc hội sẽ cung cấp văn phòng làm việc, các trang thiết bị cần thiết và bổ nhiệm một cán bộ lãnh đạo cao cấp đảm nhiệm vị trí Giám đốc dự án quốc gia Giám đốc dự án quốc gia, thay mặt Văn phòng Quốc hội, sẽ chịu trách nhiệm trước UNDP về những vấn đề sau:
Sử dụng hợp lý tất cả các nguồn tài trợ của dự án
Đảm bảo chất lượng và hiệu quả của những kết quả dự án đạt được;
Triển khai đúng tiến độ các hoạt động đã được phê duyệt;
Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, bao gồm cả các chuyên gia quốc tế, và
Điều phối hợp lý sự tham gia của các đối tác liên quan của dự án, cụ thể là các bên đối tác trong nước
Chuyên gia về truyền thông
Chuyên gia về Quốc hội và HĐND
Chuyên gia về đào tạo
Trang 20Cố vấn cao cấp về vấn đề giới (không chuyên trách)
Cố vấn quốc tế về các cơ quan đại diện ở địa phương (không chuyên trách)
Cố vấn quốc tế về đào tạo (không chuyên trách)
Năng lực của dự án để triển khai các hoạt động đạt chất lượng/hiệu quả cao và theo đúng kế hoạch có quan hệ trực tiếp đến việc xây dựng một đội ngũ cán bộ dự án giỏi và một văn phòng dự án được tổ chức quản lý hiệu quả Kinh nghiệm triển khai dự án trong thời gian qua cho thấy sự liên quan chặt chẽ giữa số lượng cán bộ dự án trong nước và các chuyên gia quốc
tế với số lượng và phạm vi của các hoạt động của dự án có thể triển khai được trong một năm
Các cán bộ dự án sẽ được lựa chọn thông qua hình thức thi tuyển và tuân thủ các quy định và thủ tục của UNDP và của Chính phủ Việt Nam Các cán bộ dự án sẽ ký kết hợp đồng lao động với dự án, trong đó nêu rõ phạm vi công việc, trách nhiệm cá nhân và các kết quả mong đợi (xem thêm dự thảo các Đề cương tham chiếu trong Phụ lục 2) Các cán bộ của dự án VIE/02/007 sẽ được gia hạn thời gian làm việc phù hợp với bối cảnh nêu trên để đảm bảo sự liên tục và sử dụng được các nguồn lực sẵn có của dự án
Việc sử dụng một cách hiệu quả các chi phí sẽ được đảm bảo thông qua chuyển giao sang dự
án mới các trang thiết bị văn phòng, ô tô, máy phôtôcopy và các thiết bị khác đã được mua sắm trong hai giai đoạn/dự án trước Các nhu cầu mua sắm bổ sung sẽ được xác định trong quá trình xây dựng kế hoạch hàng năm Bảng danh mục thiết bị cơ bản sẽ được đề cập trong văn kiện này tại Phụ Lục 1
Trang 2121
Giám đốc dự án quốc gia
Quản đốc dự án quốc gia
Cán bộ tài chính/kế toán Các trợ lý hành chính/trợ
lý kế toán
Cơ cấu tổ chức dự án: Công tác quản lý và tài chính
Quản đốc dự án quốc gia
Chuyên gia về truyền thông
Cố vấn kỹ thuật cao cấp của
UNDP
Chuyên gia về đào tạo
Chuyên gia về các cơ quan đại diện ở địa phương
Cố vấn quốc tế về đào tạo
Cố vấn cao cấp quốc tế về các
cơ quan đại diện ở địa phương
Hợp phần A, B & C Chính sách và phát triển năng lực cho Quốc hội & HĐND
Hợp phần D Đàotạo
Cơ cấu tổ chức dự án: Các hợp phần chuyên môn
Ban điều hành dự án
Ban điều hành dự án
Chú giải: Quan hệ giám sát, chỉ đạo
Quan hệ phối hợp triển khai
Chú giải: Quan hệ giám sát, chỉ đạo
Quan hệ phối hợp triển khai
Cố vấn cao cấp quốc tế về
vấn đề giới
Công tác quản lý chung
Giám đốc dự án quốc gia
Chuyên gia về Quốc hội (&
HĐND)
Phó QĐ DA QG (Hợp phần B & C) Phó QĐ DA QG (Hợp phần A & D )
Phó Quản đốc dự án quốc gia
Trang 22(ii) Ban điều hành dự án
Dự án sẽ do Ban điều hành dự án trực tiếp chỉ đạo Ban điều hành dự án do Giám đốc dự án quốc gia làm chủ tịch và gồm có một đại diện lãnh đạo của UNDP và đại diện luân phiên của các cơ quan đồng tài trợ Ban điều hành dự án sẽ họp hai lần trong một năm để xem xét và đánh giá tiến trình thực hiện dự án và quyết định những vấn đề liên quan đến việc triển khai thực hiện dự án Quan trọng nhất là Ban điều hành dự án sẽ xem xét và phê duyệt kế hoạch hoạt động hàng năm của dự án và quyết định những thay đổi kế hoạch hoạt động và điều chỉnh việc phân bổ ngân sách của dự án trong năm nếu có
(iii) Kế hoạch hoạt động hàng năm
Việc phân bổ và chi tiêu ngân sách của dự án sẽ được thực hiện căn cứ theo Kế hoạch hoạt động hàng năm của dự án UNDP sẽ chuyển ngân sách cho Văn phòng Quốc hội thông qua các đề nghị tạm ứng hàng quý và các khoản thanh toán trực tiếp (khi có đề nghị cụ thể) Ngân sách tạm ứng hàng quý sẽ được thực hiện dựa trên báo cáo tiến độ thực hiện/ và chi tiêu của
dự án hàng quý và kế hoạch triển khai hoạt động của dự án hàng quý và đề nghị tạm ứng
(iv) Quyền sở hữu trí tuệ
Văn phòng Quốc hội và UNDP cùng có quyền sở hữu trí tuệ đối với các thành quả và sản phẩm là kết quả hoạt động của dự án Khi công bố các báo cáo và các tài liệu của dự án, biểu trưng của hai cơ quan này, cũng như là của các cơ quan đồng tài trợ khác phải được nêu rõ và
sự ghi nhận quyền sở hữu phải được đề cập cụ thể cho dự án, hai cơ quan đối tác chính và các cơ quan đồng tài trợ khác
Công tác truyền thông và thông tin công chúng
Công tác truyền thông, thông tin công chúng và quảng bá hoạt động là yếu tố quan trọng của
dự án và được xem như một điều kiện tiên quyết đối với sự thành công của dự án Với ý nghĩa này, dự án sẽ phát huy và mở rộng hơn hoạt động thông tin công chúng và chiến lược truyền thông đã được dự án VIE/02/007 khởi xướng và thực hiện Việc phát triển mở rông này sẽ gồm có việc phát hành các ấn phẩm truyền thông bằng tiếng Việt, các giải pháp công nghệ thông tin và truyền thông mang tính sáng tạo, và tăng hơn số lượng các ấn phẩm tài liệu tham khảo Những hoạt động này đồng thời cũng sẽ giúp cập nhật thông tin một cách thường
Trang 2323
xuyên tới các bên liên quan của dự án gồm có các cơ quan tài trợ và đối tác phía Việt nam về tiến độ thực hiện và những tác động của dự án Những hoạt động này sẽ được triển khai trong phạm vi hợp phần A của dự án về phát triển đối thoại chính sách và điều phối nguồn tài trợ Các hoạt động cụ thể sẽ bao gồm:
Phát hành và gửi các bản tin định kỳ cập nhật các hoạt động của dự án tới các đơn vị có liên quan trong Văn phòng Quốc hội và Hội đồng nhân dân;
Thường xuyên đưa tin về hoạt động của dự án trên tờ báo “Người Đại biểu Nhân dân” và các ấn phẩm định kỳ khác của Quốc hội/Văn phòng Quốc hội;
Thường xuyên cập nhật trang thông tin điện tử (website) của dự án và phát triển phiên bản tiếng Việt của trang thông tin này;
Tổ chức các cuộc tọa đàm theo các chủ đề cụ thể, các hội nghị tổng kết hoạt động hàng năm của dự án, các cuộc đối thoại với các cơ quan tài trợ (xem Phu lục 3- Các kết quả và khuôn khổ nguồn lực) để đảm bảo việc thông tin chính xác, kịp thời đến các đối tác bên ngoài về tiến độ triển khai của dự án;
Tham dự các cuộc hội thảo về hoạt động điều phối tài trợ do các cơ quan tài trợ khác tổ chức;
Tham dự các diễn đàn quốc tế, khu vực và quốc gia (các hội nghị, hội thảo,…) và sử dụng các phương tiện truyền thông khác để quảng bá thông tin về hoạt động và kết quả của
dự án mà không tiêu tốn thêm chi phí của dự án
Văn phòng quốc gia hỗ trợ thực hiện dự án
Văn phòng Quốc hội sẽ nhận được sự trợ giúp của Văn phòng UNDP tại Việt Nam trong việc triển khai thực hiện dự án, ví dụ như việc tuyển chọn các chuyên gia quốc tế làm việc cho dự
án Khi có yêu cầu đối với những trợ giúp này, Văn phòng Quốc hội sẽ gửi tới Văn phòng UNDP một văn bản đề nghị theo mẫu có sẵn cùng với đề cương tham chiếu cụ thể và các tài liệu liên quan khác
2 Khái quát cơ chế làm việc, quan hệ giữa các cơ quan
a Phối hợp với các cơ quan của Quốc hội, các vụ, đơn vị thuộc VPQH
Trang 24Kể từ khi thành lập vào năm 1996, Phòng Quản lý dự án thuộc Trung tâm Thông tin, Thư viện và Nghiên cứu khoa học của Văn phòng Quốc hội đã triển khai thực hiện một số dự án hợp tác giữa một số nhà tài trợ quốc tế với Văn phòng Quốc hội hoặc các Ủy ban của Quốc hội Hoạt động điều phối giữa Phòng Quản lý dự án với các bộ phận khác của Văn phòng Quốc hội được thực hiện thường xuyên dưới sự chỉ đạo trực tiếp của một Phó Chủ nhiệm của Văn phòng Quốc hội được phân công phụ trách
Văn phòng Quốc hội với vai trò là cơ quan điều hành sẽ là đầu mối tiếp cận với các Hội đồng nhân dân và các Ủy ban của QH để đảm bảo việc đạt được các thành quả của dự án Ở mức cao hơn, với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước, Văn phòng Quốc hội hoạt động độc lập trên
cơ sở điều phối các nguồn tài trợ
b Phối hợp với các nhà tài trợ
Cũng như giai đoạn II của Dự án, các nhà tài trợ sẽ được cập nhật thông tin thường xuyên về các hoạt động của dự án ở các hai hình thức chính thức và không chính thức Nếu UNDP vẫn
là cơ quan điều phối tài trợ duy nhất của dự án thì việc điều phối hoạt động của Dự án sẽ bao gồm:
Tổ chức họp/thảo luận hàng ngày giữa Cố vấn kỹ thuật cao cấp, Quản đốc dự án và Cán
bộ Dự án của UNDP;
Tổ chức họp nhóm hàng tuần về điều phối dự án giữa UNDP và các cán bộ dự án;
Tổ chức họp hàng tháng giữa Cố vấn kỹ thuật cao cấp của dự án và Phó giám đốc Quốc gia UNDP;
Chuẩn bị báo cáo Quý và Năm của Dự án cho UNDP
Tổ chức hội nghị đánh giá giữa năm của dự án
Tổ chức hội nghị tổng kết dự án hàng năm
Thực hiện Báo cáo đánh giá giữa kỳ của Dự án; và
Thực hiện Báo cáo tổng kết vào giai đoạn kết thúc của Dự án
c Quản lý tài chính
Trang 25d Công tác giám sát, đánh giá và báo cáo
(i) Giám sát
Dự án sẽ được giám sát và đánh giá theo quy định trong tài liệu “Hướng dẫn tạm thời về Quản lý dự án” đã được UNDP và Chính phủ Việt Nam thông qua, và các quy định pháp lý khác của Việt Nam về việc quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA
Các công cụ/phương thức giám sát bao gồm:
Các báo cáo nghiên cứu thực trạng
Báo cáo tiến độ thực hiện dự án hàng quý
Báo cáo tiến độ thực hiện dự án hàng năm
Hội nghị tổng kết dự án hàng năm
Các chuyến khảo sát thực tế tại dự án hoặc tại địa phương
Các phiếu đánh giá của các khóa tập huấn, đào tạo
Các báo cáo tài chính1
Các chỉ số thực hiện cụ thể được đề cập trong phần Các kết quả và khuôn khổ nguồn lực tại
Phụ lục 3 dưới đây
(ii) Đánh giá
1 Để biết thêm thông tin về các cách thức giám sát, xin xem thêm Hướng dẫn của Chính phủ Việt Nam và UNDP (2005)
về Quản lý dự án: Thực hiện các Dự án Quốc gia Điều hành, Hà Nội tháng 10 năm 2005, trang 75-79
Trang 26Việc đánh giá dự án là một hoạt động quan trọng nhằm xem xét một cách có hệ thống và khách quan việc triển khai dự án trong việc đạt được các thành quả của dự án Sau 2 năm triển khai thực hiện, dự kiến vào cuối năm 2009, dự án sẽ được đánh giá giữa kỳ Mục đích của việc đánh giá là xem xét những kết quả đạt được của dự án tính đến thời điểm đó, đồng thời cũng đưa ra những khuyến nghị cần thiết về những vấn đề trọng tâm, phạm vi và việc tổ chức thực hiện dự án trong tương lai
Sau khi kết thúc việc triển khai dự án hàng năm, hoạt động kiểm toán tài chính độc lập sẽ được
tiến hành theo lịch kiểm toán hàng năm và theo các trình tự thủ tục của UNDP (iii) Phân tích rủi ro
Rủi ro Mức độ rủi ro Biện pháp giảm thiểu rủi ro
dự án trong giai đoạn khởi động của
dự án Sẽ có 2 Phó quản đốc dự án trong giai đoạn mới để tăng cường năng lực quản lý của Dự án
Thiếu sự điều phối
Trung bình Các hoạt động của dự án sẽ được
khởi xướng nhằm đáp ứng yêu cầu
về triển khai thực hiện và điều phối tài trợ
Thiếu các kinh nghiệm
chuyên môn trong
nước về việc triển khai
thực hiện các hoạt
động đào tạo, tập huấn
Cao Các hoạt động của dự án sẽ được
khởi xướng nhằm đáp ứng yêu cầu của việc đào tạo những người thực hiện đào tạo (training of trainers) và xác lập những quan hệ hợp tác giữa Văn phòng Quốc hội và các cơ sở/tổ chức đào tạo
Việc đối thoại chính sách sẽ được tiếp tục nhằm khuyến khích và thúc đẩy việc phát triển một mạng lưới đối tác gồm các giảng viên và các
Trang 27Trung bình Nhiều biện pháp sẽ được áp dụng
để đảm bảo các cuộc đối thoại được
tổ chức thường xuyên với cộng đồng tài trợ quốc tế về tiến trình thực hiện dự án cũng như xem xét đến bối cảnh trong nước
VII Phân tích sơ bộ tính khả thi của dự án
Đề cương chi tiết dự án này là giai đoạn III của một dự án đã triển khai được 8 năm Trong hai giai đoạn trước, Dự án đã đạt được nhiều thành quả to lớn, góp phần tăng cường năng lực cho các cơ quan dân cử ở Việt Nam
“Kế hoạch một Liên Hợp Quốc” với cam kết hỗ trợ đáng kể từ các nhà tài trợ quốc tế được Chính phủ Việt Nam thông qua vào tháng 8 năm 2007 sẽ tạo cơ sở cho dự án tiếp tục có được sự tài trợ về nguồn lực và kinh phí để thực hiện các thành quả/mục tiêu đã đề ra Mặc
dù giai đoạn III của Dự án là một giai đoạn có quy mô lớn với số lượng thành quả dự kiến, số lượng cán bộ thực hiện (trong nước và quốc tế) và nguồn ngân sách nhiều hơn so với hai giai đoạn trước nhưng việc thực hiện những thành quả dự kiến đó vẫn nằm trong khả năng của đội ngũ cán bộ dự án và của UNDP
VIII Phân tích sơ bộ hiệu quả của dự án
Như đã được đề cập đến trong giai đoạn II, mục tiêu chính trong giai đoạn III của Dự án là hướng tới sự thể chế hóa việc tăng cường năng lực của Quốc hội và Hội đồng nhân dân Những thay đổi về thể chế là một yêu cầu rõ rằng và cấp thiết nhằm đảm bảo hiệu quả cho việc tăng cường năng lực Đây cũng chính là kết luận được đưa ra qua đánh giá về những nỗ lực của dự án trong những giai đoạn trước và của một số dự án khác
Trang 28Dự án nhận thức được nhu cầu về sự thay đổi về thế chế này nên một trong những ưu tiên trong giai đoạn mới, thể hiện ở các thành quả của dự án, là đảm bảo trong 5 năm tới, các cơ quan dân cử được hỗ trợ để có được năng lực được thể chế hóa cao hơn
1 Đánh giá hiệu quả trực tiếp đối với đơn vị thực hiện
Trong thời gian qua, Văn phòng Quốc hội là cơ quan triển khai dự án giai đoạn I và II, với mục tiêu tăng cường năng lực của các cơ quan dân cử tại Việt Nam
Dự kiến trong giai đoạn III, dự án sẽ mở rộng quy mô hoạt động, tham gia hỗ trợ cho các vụ khác của Văn phòng quốc hội, các UB khác của QH khi dự án hỗ trợ trực tiếp cho các UB và
QH thông qua các hoạt động thí điểm và sự thể chế hóa tiến trình tăng cường năng lực để đảm bảo sự đại diện, lập pháp và giám sát hiệu quả hơn Vì vậy, Văn phòng Quốc hội với tư cách là cơ quan thực hiện dự án và các vụ, đơn vị trực tiếp phục vụ công việc cho các UB của Quốc hội cũng sẽ được hỗ trợ nâng cao năng lực để hoàn thành chức năng của mình một cách hiệu quả
Trong giai đoạn này, sẽ có riêng một hợp phần dành cho Trung tâm Bồi dưỡng ĐBDC thuộc VPQH, tập trung vào việc tăng cường năng lực của Trung tâm, qua đó nâng cao chất lượng của các khóa tập huấn, bồi dưỡng của Trung tâm đối cho cán bộ VPQH và các đại biểu
2 Tác động đối với kinh tế - xã hội
Vì giai đoạn III của dự án dự kiến tập trung vào việc tăng cường năng lực của QH và HĐND cấp tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương nên sẽ không có những tác động trực tiếp đến cơ cấu kinh tế - xã hội của Việt Nam mà chỉ nhằm tăng cường năng lực của Quốc hội và HĐND
Liên quan đến các đạo luật trong các lĩnh vực khác nhau như thuế, bạo lực gia đình và các vấn đề người dân quan tâm hiện đang được Quốc hội xem xét, trong giai đoạn tiếp theo, dự
án sẽ hỗ trợ Quốc hội và các đại biểu tăng cường năng lực thẩm tra luật và đảm bảo để cơ quan hành pháp có trách nhiệm đối với công việc của mình Tất cả những việc đó sẽ có tác động gián tiếp tới cơ cấu kinh tế - xã hội của Việt Nam
Trang 2929
3 Tính bền vững của dự án
Đóng góp vào việc thành lập Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử của Văn phòng Quốc hội
là một thành quả có tính quan trọng lâu dài của Dự án Một phần công việc của Dự án trong giai đoạn III sẽ được triển khai thông qua Trung tâm này nhằm hỗ trợ cho Trung tâm có đầy
đủ năng lực để đáp ứng nhu cầu nâng cao năng lực của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội và các Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Dự án cũng sẽ hỗ trợ cán bộ của Văn phòng Quốc hội, các Ủy ban của Quốc hội và các đại biểu trong việc tăng cường năng lực của họ trong việc thực hiện hoạt động liên quan đến các lĩnh vực đại diện, lập pháp và giám sát Thông qua việc tổ chức các lớp bồi dưỡng kỹ năng cho cán bộ cơ quan giúp việc, các đại biểu và hỗ trợ các Ủy ban của Quốc hội mở rộng vai trò trong việc thẩm định luật và giám sát các hoạt động của Chính phủ, Dự án sẽ hỗ trợ để Quốc hội, Văn phòng Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xây dựng một năng lực bền vững, và phát huy được năng lực đó kể cả sau khi dự án đã kết thúc
Trang 30PHỤ LỤC 1 -1 DANH MỤC TRANG THIẾT BỊ CỦA DỰ ÁN
8 Máy tính cá nhân 8.000 Nội địa
8 Màn hình máy tính LCD 2.400 Nội địa
3 Các máy tính xách tay 6.000 Nội địa
1 Máy in laser xách tay 500 Nội địa
10 Bộ bàn ghế văn phòng 2.000 Nội địa
2 Máy quay phim kỹ thuật số 3.000 Nội địa
1
Thiết bị nhận tín hiệu internet
20 Thiết bị dịch thuật 2.000 Nội địa
Trang 31
31
PHỤ LỤC 1 - 2: DANH MỤC THIẾT BỊ CHUYỂN SANG GIAI ĐOẠN MỚI
Thiết bị từ giai đoạn 2 - Dự án VIE/02/007
1 Máy hủy giấy SHREDDER GEHA
3 Máy tính xách tay HP COMPAQ EVO
4 Máy tính cá nhân DELL Optiplex 160L 5 2003 02-BQLDA; 03-HTDA
6 Máy ảnh SONY Model: Cybershot
12 Máy quay ca-me-ra DVD DCR - DVD
02-HTDA
Trang 32PHỤ LỤC 2-1
Mô tả công việc
Cố vấn kỹ thuật cao cấp Chức danh: Cố vấn kỹ thuật cao cấp
Nơi làm việc: Hà Nội và các chuyến công tác ngắn ngày ở các tỉnh Thời gian: Một năm, và có thể gia hạn đến 5 năm
êbs
1 Bối cảnh
Từ khi quá trình cải cách quản lý được bắt đầu giữa những năm 90, UNDP và các nhà tài trợ song phương đã hỗ trợ cho chính phủ Việt Nam trong việc thực hiện lộ trình cải cách Đối với UNDP, hoạt động hỗ trợ này bao gồm các chương trình hợp tác với Văn phòng Quốc hội, Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhằm tăng cường việc thực hiện các chức năng của các cơ quan này Đến đầu năm 2000, quy mô các dự án do UNDP và VPQH phối hợp thực hiện đã được
mở rộng nhằm thúc đẩy hoạt động của Quốc hội, tăng cường việc thảo luận của Quốc hội về những vần đề quan trọng của quốc gia, như là các vấn đề về Bình đẳng giới, việc thực hiện Các Mục tiêu Phát triển Thiên nhiên kỷ và hoạt động chống tham nhũng; tăng cường chức năng đại diện của các đại biểu (bao gồm cả các đại biểu Hội đồng nhân dân) Dự án VIE/02/007 “Tăng cường năng lực cho các cơ quan dân cử ở Việt nam – giai đoạng II” được bắt đầu từ năm 2003 và thực hiện đến cuối năm 2007
Dự án VIE/02/007 – Tăng cường năng lực cho các cơ quan dân cử ở Việt nam giai đoạn II sẽ được nối tiếp bằng một dự án khác lớn hơn, nhiều lĩnh vực hoạt động hơn nhằm hỗ trợ cho các
cơ quan dân cử - Giai đoạn III “Tăng cường năng lực của các cơ quan đại diện ở Việt Nam” Dự
án sẽ do Văn phòng Quốc hội triển khai thực hiện Đề cương tham chiếu này được xây dựng dựa trên nội dung cơ bản của Văn kiện dự án giai đoạn III
Giai đoạn III sẽ bao gồm 4 hợp phần có mối quan hệ tương hỗ, bao gồm:
Hợp phần A: Phát triển chính sách và Điều phối tài trợ Hợp phần B: Phát triển năng lực của Quốc hội
Trang 33Có vai trò chỉ đạo trong việc giám sát xây dựng và triển khai hợp phần A và hợp phần B của
dự án Cố vấn kỹ thuật cao cấp sẽ phối hợp chặt chẽ với chuyên gia trong nước về Quốc hội trong việc thực hiện nhiệm vụ này
Cố vấn kỹ thuật cao cấp sẽ hỗ trợ cho Dự án thông qua việc đưa lại những kinh nghiệm hay nhất trong việc phát triển Quốc hội và thúc đẩy việc áp dụng những ý kiến chuyên môn hay và phù
hợp trên phạm vi toàn cầu nhằm hỗ trợ cho Dự án khi cần thiết
2 Báo cáo
Dưới sự giám sát trực tiếp của Giám đốc dự án, Cố vấn kỹ thuật cao cấp sẽ phối hợp với Quản đốc dự án để triển khai những nhiệm vụ cơ bản của mình và một số nhiệm vụ cụ thể được giao khác
Theo các Quy định dành cho nhân viên của UNDP, việc thực hiện nhiệm vụ hàng năm của Cố vấn kỹ thuật cao cấp sẽ được xem xét, đánh giá thông qua mẫu “Đánh giá kết quả và năng lực làm việc” (RCA) Mẫu RCA sẽ do Cố vấn kỹ thuật cao cấp chuẩn bị với sự tham vấn của Giám đốc dự án và UNDP Văn bản này sẽ được Nhóm đánh giá công tác của UNDP do Đại diện thường trú của UNDP xem xét.Như vậy, Cố vấn kỹ thuật cao cấp cũng sẽ chịu trách nhiệm trước UNDP với vai trò là cơ quan tài trợ của Dự án
3 Các nhiệm vụ cơ bản:
Trang 34Cố vấn kỹ thuật cao cấp sẽ tham gia và đóng góp những ý kiến tư vấn mang tính chất kỹ thuật trong các lĩnh vực chính bao gồm: Lập kế hoạch dự án
Quản lý và triển khai dự án
Đảm bảo chất lượng/kết quả của dự án
Các hoạt động điều phối
Giám sát và đánh giá kết quả các hoạt động của dự án
Các Hội thảo/tọa dàm mang tính chính sách
Xây dựng năng lực và chia sẻ kiến thức
4 Những nhiệm vụ cụ thể
Lập kế hoạch dự án: Tư vấn về mặt kỹ thuật cho dự án trong việc xác định các lĩnh vực cần ưu
tiên và nhu cầu phát triển năng lực để đưa vào kế hoạch hoạt động quý và năm, đồng thời điều phối việc thực hiện lập kế hoạch dự án được tiến hành đúng thời hạn quy định và có sự tham gia của các bên liên quan
Quản lý và triển khai dự án: Đề xuất các tư vấn kỹ thuật cho dự án trong việc thiết kế, tổ chức
và triển khai các hoạt động đã được phê duyệt, bao gồm việc biên soạn và/hoặc xem xét Đề cương tham chiếu cho các hoạt động cụ thể và hỗ trợ trong việc tìm các chuyên gia làm việc ngắn hạn về các lĩnh vực hoạt động cụ thể
Đảm bảo chất lượng của dự án: Đề xuất các tư vấn kỹ thuật cho dự án nhằm đảm bảo sự phù
hợp, việc triển khai thực hiện và sự bền vững của các hoạt động cuả dự án, đồng thời đảm bảo tính hiệu quả và chất lượng của các kết quả đầu ra của dự án, và việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định có liên quan của UNDP
Điều phối dự án: Đề xuất các tư vấn kỹ thuật cho dự án để tăng cường mối quan hệ đối tác và
điều phối giữa dự án và các cơ quan của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Chính phủ, các nhà tài trợ và các bên có liên quan khác, bao gồm cả việc thông tin, trao đổi và chia sẻ các bài học thực tiễn và các kinh nghiệm hay
Giám sát và đánh giá dự án: Đề xuất các tư vấn kỹ thuật cho dự án trong việc xây dựng các chỉ
số cho việc giám sát và đánh giá dự án, cũng như việc xây dựng các báo cáo của dự án tập trung
Trang 3535
vào việc ghi nhận các kết quả, bài học thực tiễn và các kinh nghiệm hay có thể phổ biến và nhân rộng
Tăng cường các đối thoại chính sách: Thực hiện vai trò thúc đẩy các giá trị chuẩn mực bắt
buộc của Liên hiệp quốc và các chính sách của UNDP về quản trị dân chủ thông qua các cuộc đối thoại với Quốc hội và điều phối việc triển khai thực hiện những hệ quả của các cuộc đối thoại này thông qua các hoạt động của dự án Đóng góp những tư vấn mang tính kỹ thuật cho việc soạn thảo các văn bản, tuyên bố, mang tính chính sách của Chính phủ Việt Nam và UNDP cho những sự kiện quan trọng (ví dụ như Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ - CG, các diễn đàn của các nhà tài trợ, các hội thảo quốc tế, v.v.)
Phát triển và chia sẻ kiến thức: Hỗ trợ dự án trong việc xác định những thiếu hụt về kiến thức của các
cán bộ của dự án, các nhóm đối tượng quan tâm cụ thể và những đối tượng thụ hưởng, và đề xuất những biện pháp xử lý; hỗ trợ tích cực cho việc chia sẻ các kết quả và thành tựu, các bài học thực tiễn và những kinh nghiệm hay của dự án với những dự án khác, các cơ quan chính phủ, các nhà tài trợ, v.v.; và tham gia vào mạng lưới chia sẻ kiến thức toàn cầu của UNDP
Cố vấn kỹ thuật sẽ chịu trách nhiệm soạn thảo báo cáo khởi động cũng như là báo cáo kết thúc của mỗi hoạt động dự án, mô tả và phân tích các bài học thực tiễn và kinh nghiệm hay của dự án, đồng thời xác định những vấn quan trọng còn nhiều tranh luận cần được UNDP xem xét thêm
5 Các khả năng của cố vấn cao cấp
Khả năng hòa nhập:
Thể hiện sự cam kết đối với các nhiệm vụ, tầm nhìn và các giá trị chuẩn mực của UNDP
Thể hiện rõ các khả năng thích nghi và sự nhạy cảm đối với các vấn đề về văn hóa, giới tính, tôn giáo, chủng tộc, quốc tịch và tuổi tác
Năng lực làm việc:
Quản lý dự án
Có nhiều khả năng và kinh nghiệm trong việc thực hiện phương thức quản lý theo kết quả đối với việc triển khai dự án
Trang 36Giao tiếp và thông tin liên lạc
Có kỹ năng giao tiếp tốt và khả năng giải quyết các xung đột để thúc đẩy hoạt động giữa các nhóm và hòa giải những xung đột về lợi ích của các các bên liên quan
Có kỹ năng viết tốt, với khả năng phân tích và tổng hợp các kết quả đạt được của dự án và có những ý kiến phù hợp trong việc chuẩn bị các báo cáo có chất lượng cho dự án
Có kiến thức và kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực tăng cường viễc tiếp cận vào những cải cách tư pháp và mạng lưới chuyên gia và các nhà hoạch định chính sách
Sự trưởng thành và tự tin trong việc tiếp cận, giải quyết công việc với các quan chức cao cấp của các cơ quan trong nước và quốc tế, các cơ quan chính phủ và phi chính phủ
Quản lý và bồi dưỡng kiến thức
Khả năng chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm
Cố vấn tích cực cho đội ngũ cán bộ của Ban quản lý dự án
Khả năng lãnh đạo và tự quản lý
Quan tâm đến kết quả cho đối tác và phản ứng tích cực đối với các phản hồi
Luôn duy trì được năng lực, thái độ tích cực và tinh thần xây dựng trong công việc
Luôn giữ được bình tĩnh, kiểm soát được tình hình và vui vẻ trước những áp lực của công việc
Có khả năng lãnh đạo nhóm và gây dựng tinh thần làm việc cho nhóm, khuyến khích các
thành viên trong nhóm làm việc có chất lượng, đúng thời hạn và minh bạch
Có khả năng nói, viết báo cáo và trình bày bằng tiếng Anh Có thể sử dụng tiếng Việt là một
Trang 3737
Có khả năng giao tiếp tốt, làm việc với môi trường áp lực để đáp ứng việc hoàn thành công việc đúng thời hạn Có khả năng xử lý những vấn đề phức tạp và nhạy cảm về chính trị; có quan hệ rộng và kỹ năng xây dựng nhóm
Trang 38PHỤ LỤC 2-2
Đề cương tham chiếu
Cố vấn quốc tế về các cơ quan đại diện ở địa phương Thời gian làm việc: 6 tháng mỗi năm trong thời gian 5 năm
Nơi làm việc: Hà Nội và các chuyến công tác ngắn ngày ở các tỉnh
Thời gian: Một năm, và có thể gia hạn đến 5 năm
Dự án – “Tăng cường năng lực cho các cơ quan đại diện ở Việt Nam” – Giai đoạn III
Hợp phần A: Phát triển chính sách và Điều phối tài trợ
Hợp phần B: Phát triển năng lực của Quốc hội
Hợp phần C: Phát triển năng lực của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Hợp phần D: Bồi dưỡng và tập huấn cho các đại biểu dân cử và cán bộ giúp việc của họ
Nhiệm vụ
Cố vấn quốc tế về các cơ quan đại diện ở địa phương sẽ chịu trách nhiệm cụ thể trong việc triển
khai các hoạt động thuộc hợp phần C của dự án (Phát triển năng lực của Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh) căn cứ vào số lượng lớn các Hội đồng nhân dân; phạm vi địa lý; những thách thức đa dạng,
phức tạp mà họ đang gặp phải và những kinh nghiệm còn hạn chế của các Hội đồng nhân dân
khi họ làm việc với các cơ quan nước ngoài hoặc tiếp nhận nguồn viện trợ phát triển
Cố vấn quốc tế về các cơ quan đại diện tại địa phương chịu trách nhiệm chính trong việc
giám sát việc thiết kế và triển khai thực hiện Hợp phần C của dự án “Phát triển năng lực của
các Hội đồng nhân dân cấp tỉnh”
Cố vấn quốc tế về các cơ quan đại diện tại địa phương sẽ tham gia vào các hoạt động có liên
quan tới nhu cầu bồi dưỡng về năng lực cho các đại biểu Hội đồng nhân dân của Hợp phần D
“Bồi dưỡng và tập huấn cho các đại biểu dân cử và các cán bộ giúp việc của họ”
Một nhiệm vụ quan trọng của Cố vấn quốc tế về các cơ quan đại diện tại địa phương là đảm
bảo các tài liệu đào tạo và các chủ đề đào tạo/tập huấn do dự án đề xuất phù hợp và đáp ứng
được nhu cầu của các đại biểu ở địa phương và khắc phục được các thách thức về phát triển
năng lực mà các Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đang phải đối mặt Để thực hiện nhiệm vụ này,
Trang 39Giới thiệu các phương thức để thúc đẩy việc tham khảo ý kiến công chúng trở thành một cơ chế để cải thiện hiệu quả làm việc của các Hội đồng nhân dân và tiến hành thí điểm hoạt động tham khảo ý kiến công chúng tại một số địa phương
Thúc đẩy cách hành xử đạo đức trở thành một phần công việc/hoạt động của Hội đồng nhân dân và nâng cao hiệu quả hoạt động của họ trong việc giám sát hoạt động của các cơ quan hành pháp
Hỗ trợ việc thể chế hóa các nỗ lực tăng cường năng lực vào hệ thống của Văn phòng Quốc hội
Tiến hành bồi dưỡng cho chuyên gia trong nước về chính quyền địa phương
Với những nhiệm vụ trên, Cố vấn quốc tế về các cơ quan đại diện ở địa phương sẽ tham gia vào các hoạt động sau:
Biên soạn Cẩm nang dành cho các đại biểu Hội đồng nhân dân của Việt Nam về “Hoạt động tại khu vực cử tri”
Xây dựng báo cáo nghiên cứu – “Mối quan hệ với khu vực cử tri: thành tựu và thách thức đối với Hội đồng nhân dân ở Việt nam”
Tổ chức hội thảo thường niên về “Mối quan hệ với khu vực cử tri” nhằm đánh giá, phân tích thực trạng và đề ra phương hướng hoạt động cho năm tới
Tổ chức các hội thảo dành cho các phóng viên báo chí ở địa phương và trung ương về “Hoạt động tiếp xúc/đối thoại giữa Hội đồng nhân dân với người dân”
Tổ chức Hội thảo dành cho các tổ chức quần chúng của VN và các tổ chức phi chính phủ về
“Hoạt động tiếp xúc/đối thoại giữa các Hộiđồng nhân dân với người dân”
Trang 40Xây dựng Cẩm nang hướng dẫn thực hiện tổ chức việc tham khảo ý kiến công chúng ở các Hội đồng nhân dân cấp tỉnh – tổ chức hai lần một năm ở một số địa phương được lựa chọn
Tổ chức thí điểm việc tham khảo ý kiến công chúng
Biên soạn và phổ biến báo cáo so sánh kinh nghiệm hay về chống tham nhũng trong hoạt động của các cơ quan đại diện
Biên soạn và phổ biến báo cáo về việc tham khảo ý kiến công chúng
Tổ chức hội thảo tổng kết và phổ biến kinh nghiệm tới các Hội đồng nhân dân về việc thực hiện thí điểm việc tham khảo ý kiến công chúng
Xây dựng báo cáo so sánh kinh nghiệm hay về “Quy tắc về đạo đức/ứng xử của Quốc hội” (do Chương trình Quản lý nhà nước khu vực châu Á của UNDP thực hiện)
Hội thảo dành cho các đại biểu HĐND về “Hội đồng nhân dân với việc thúc đẩy sự liêm chính và công tác chống tham nhũng ở Việt Nam”
Tổ chức hội thảo cho các đại biểu Hội đồng nhân dân về “Hội đồng nhân dân với công tác giám sát và triển khai thực hiện luật bình đẳng giới” Hỗ trợ việc biên soạn các báo cáo/bài học kinh nghiệm
Tổ chức hội thảo cho các đại biểu Hội đồng nhân dân về “Vai trò của HĐND trong việc giám sát thực hiện các kế hoạch xóa đói giảm nghèo” Hỗ trợ việc biên soạn các báo cáo/bài học kinh nghiệm
Tổ chức hội thảo “Các kinh nghiệm thực tiễn hay của quốc tế về vấn đề giám sát của chính quyền địa phương”
Đảm bảo rằng mỗi năm sẽ có ít nhất hai quyết định quan trọng của địa phương được đưa ra thảo luận tại các Hội nghị tham khảo ý kiến công chúng, được tổ chức thí điểm ở 3 Hội đồng nhân dân với sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức xã hội dân sự
Tổ chức các hội thảo chính sách dành cho các đại biểu Hội đồng nhân dân về các lĩnh vực liên quan đến những chính sách đổi mới như : phân cấp tài chính, phân tích ngân sách giới,
kế hoạch đô thị hóa và sự cung cấp hiệu quả các loại hình dịch vụ
Xây dựng Báo cáo nghiên cứu: “Phương thức cải thiện việc tổ chức và quản lý các cuộc bầu
cử Hội đồng nhân dân”
Cố vấn quốc tế về các cơ quan đại diện tại địa phương có trách nhiệm tìm kiếm và phổ biến những kinh nghiệm hoạt động thực tiễn hay trong việc phát triển thể chế các cơ quan đại diện địa