Bên cạnh đó, Luật Giáo dục và Giáo dục Đại học sửa đổi, bổ sung có hiệu lực thi hành tạo hành lang pháp lý cho việc tự chủ về tổ chức tuyển sinh, đào tạo, cấp bằng sau khi tốt nghiệp cho
Trang 1-oo -
TÀI LIỆU
HỘI THẢO CHUYÊN ĐỀ
“CÔNG TÁC TUYỂN SINH – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP”
Đà Nẵng, tháng 12/2019
Trang 2MỤC LỤC
1 Thực trạng công tác tuyển sinh giai đoạn 2015 – 2019, định hướng năm 2020 và những
năm tiếp theo
Phòng Đào tạo, QLKH&HTQT
01
2 Một số vấn đề về tư vấn, cách tiếp cận thí sinh trong tuyển sinh
Ths Hoàng Ngọc Viết Phòng Đào tạo, QLKH&HTQT
17
3 Giải pháp mang tính đột phá trong công tác tuyển sinh và khẳng định thương hiệu Trường
Đại học TDTT Đà Nẵng
Ths Phan Thị Ngà Khoa Kiến thức cơ bản
23
4 Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp đổi mới công tác tuyển sinh
Ths Lê Chí Hùng Khoa Huấn luyện thể thao
26
5 Thực trạng chương trình đào tạo ngành Giáo dục thể chất 2018 và định hướng đào tạo
nghề nghiệp theo nhu cầu xã hội hiện nay
TS Nguyễn Mạnh Cường - TS Phạm Tuấn Hùng
49
8 Chất lượng đào tạo: góc nhìn qua công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ và một số giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Ths Nguyễn Tùng
Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng giáo dục
54
9 Củng cố, nâng cao chất lượng dạy học – giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn
trong công tác tuyển sinh ở trường Đại học TDTT Đà Nẵng
Ths Nguyễn Văn Vinh - Ths Phạm Thị Thanh Thúy
Khoa Kiến thức cơ bản
63
10 Một số nhiệm vụ nâng cao chất lượng giảng dạy nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác
tuyển sinh trường Đại học TDTT Đà Nẵng
TS Võ Văn Quyết
Khoa Kiến thức và Kỹ năng cơ sở ngành
68
Trang 311 Phát huy tính tích cực, chủ động của sinh viên trong trong học tập các môn thực hành đáp
ứng yêu cầu của phương thức đào tạo tín chỉ
Ths.Nguyễn Nhất Hùng - TS Phạm Tuấn Hùng Khoa Kiến thức và Kỹ năng cơ sở ngành - Khoa Giáo dục thể chất
72
12 Hoạt động kết nối doanh nghiệp trong đào tạo và giải quyết việc làm cho sinh viên trường
Đại học TDTT Đà Nẵng gắn với nhu cầu xã hội: thực trạng, nguyên nhân và giải pháp
Ths Lê Minh Tuấn Phòng Công tác học sinh, sinh viên
78
13 Truyền thông trong bối cảnh tự chủ đại học tại trường Đại học TDTT Đà Nẵng
Ths Nguyễn Thị Hùng Trung tâm Thông tin – Thư viện
89
PHẦN TRAO ĐỔI CỦA KHÁCH MỜI
14 Công tác tuyến sinh phân hiệu trường Đại học Nội vụ Hà Nội - Thực trạng và những giải
pháp đổi mới
Ths Hồ Phan Lâm Trường Phòng Quản lý Đào tạo và Công tác Sinh viên
94
Trang 5THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TUYỂN SINH GIAI ĐOẠN 2015 – 2019, ĐỊNH HƯỚNG NĂM 2020 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO
- Năm 2015 và năm 2016: Tổ chức 02 loại cụm thi, 01 cụm xét tốt nghiệp do
Sở giáo dục đào tạo chủ trì và 01 cụm do các các trường đại học chủ trì - phối hợp với sở giáo dục và đào tạo để vừa xét tốt nghiệp và xét tuyển đại học
- Năm 2017: Tổ chức duy nhất một loại cụm thi tại mỗi tỉnh do sở GDĐT chủ trì, các trường ĐH, CĐ phối hợp; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác tổ chức thi và xét tuyển ĐH, CĐ; tổ chức thi theo bài với 3 bài thi độc lập (Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ) và 2 bài thi tổ hợp là Khoa học Tự nhiên và Khoa học Xã hội Đồng thời, áp dụng hình thức thi trắc nghiệm khách quan với hầu hết các bài thi, môn thi (trừ bài thi Ngữ văn)
- Năm 2018 và năm 2019: Phát huy kết quả đã đạt được qua 3 năm đổi mới thi và tuyển sinh, Bộ GDĐT đã báo cáo và được Thủ tướng Chính phủ đồng ý giữ
ổn định phương án tổ chức kỳ thi THPT quốc gia và xét tuyển sinh vào ĐH, CĐ các năm tiếp theo với những điều chỉnh kỹ thuật trên cơ sở rút kinh nghiệm tổ chức thi và tuyển sinh từng năm Trong đó, có việc nâng cao ngưỡng đảm bảo đầu vào đối với ngành sư phạm, đào tạo giáo viên và y - dược
1.2 Tình hình tổ chức tuyển sinh của Trường Đại học TDTT Đà Nẵng
Trước chủ trương của Chính phủ và Bộ GDĐT về đổi mới phương thức kỳ thi THPT vừa kết hợp xét tốt nghiệp, vừa xét tuyển đại học, cao đẳng Lãnh đạo Trường đã chỉ đạo bộ phận chức năng nghiên cứu xây dựng các phương thức tuyển sinh, Đề án tuyển sinh và tổ chức thực hiện phù hợp theo năng lực và điều kiện của Nhà trường
1.2.1.Đối với tuyển sinh đại học chính quy
- Kỳ thi tuyển sinh năm 2015, tổ chức tuyển sinh 02 đợt thi theo phương thức sử dụng kết quả Kỳ thi THPT quốc gia kết hợp thi tuyển năng khiếu TDTT Đây là năm đầu tiên Trường nhận thông tin đăng ký của thí sinh từ Bộ GDĐT và
kênh riêng của Trường (những năm trước nhận hồ sơ từ Sở GDĐT các tỉnh)
- Kỳ thi tuyển sinh năm 2016:Tuyển sinh theo Đề án riêng được Bộ GDĐT phê duyệt, tổ chức 02 đợt thi theo 02 tổ hợp môn xét tuyển và thi NK ở địa phương
và tại Trường
- Kỳ thi tuyển sinh năm 2017: Tổ chức tuyển sinh theo Đề án tự chủ (Bộ
GDĐT chỉ kiểm tra tính xác thực so với Quy chế), với 02 phương thức: xét kết quả
thi THPT Quốc gia và xét kết quả học tập lớp 12 theo 02 tổ hợp T00 và T02; Tổ chức thi tuyển tại các địa phương và tại Trường
Trang 6- Kỳ thi tuyển sinh năm 2018 và năm 2019: Sau 03 năm triển khai công tác tuyển sinh theo chủ trương của Bộ GDĐT, đã có sự điều chỉnh về chỉ tiêu, phương thức và tổ hợp môn xét tuyển, mở rộng đối tượng ưu tiên nhằm đảm bảo theo quy định ngưỡng đầu vào của Quy chế tuyển sinh đại học chính quy
Tất cả các khâu, từ xây dựng kế hoạch, tổ chức truyên truyền, tư vấn và thực hiện công tác tuyển sinh được thực hiện theo quy định và các văn bản hướng dẫn của Bộ GDĐT
1.2.2 Tuyển sinh cao học và liên thông
Tuyển sinh trình độ thạc sĩ giai đoạn 2015 - 2019 được duy trì ổn định theo Thông tư 15/2015/TT-BGDĐT ngày 15/5/2014 của Bộ trưởng Bộ GDĐT về việc Ban hành Quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ Kỳ thi hàng năm tổ chức từ một đến hai đợt thi theo số lượng đăng ký dự thi của thí sinh trên tổng số chỉ tiêu được phê duyệt
Đối với tuyển sinh liên thông (chính quy, VLVH), do nhu cầu của xã hội và
các quy định về tuyển sinh và đào tạo, từ năm 2015 đến năm 2017 không tuyển sinh và tổ chức đào tạo Từ năm 2018 đến nay, theo nhu cầu về nâng chuẩn trình
độ theo Luật Giáo dục bổ sung, sửa đổi Trường đã xây dựng văn bản quy định tuyển sinh và tổ chức đào tạo về liên thông theo Quyết định sô 18/2017QĐ-TTg ngày 31/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ Quy định về đào tạo liên thông, đến nay
đã tuyển sinh được 02 khóa của năm 2018 và 2019 với số lượng 79 sinh viên
2 KẾT QUẢ TUYỂN SINH GIAI ĐOẠN 2015 - 2019
2.1 Chỉ tiêu tuyển sinh
Chỉ tiêu tuyển sinh được xác định theo các quy định về xác định chỉ tiêu tuyển sinh, Bộ GDĐT kiểm soát chặt chẽ các trường trong việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh Xác định chỉ tiêu đúng, hợp lý theo quy định sẽ khẳng định quy mô đào tạo, thương hiệu của Nhà trường
Bảng 1 Tổng chỉ tiêu tuyển sinh từ năm 2015 – 2019
Hệ
đào tạo
Năm Ngành
2015 2016 2017 2018 2019
Tổng cộng
- Tổng chỉ tiêu đối với hệ đại học chính quy từ năm 2015 – 2019 là 3852 chỉ
tiêu (trung bình 700CT/năm), trong đó chỉ tiêu trung bình của năm 2015 và 2016 là 1075CT/năm quá cao so với điều kiện thực tế thí sinh dự thi và nhập học (do kế
thừa của chỉ tiêu tuyển sinh trước thời điểm thay đổi phương thức và là thời điểm cao nhất trong thực hiện chỉ tiêu tuyển sinh của Trường; năm 2013 là 1.100 chỉ tiêu; năm 2014 là 1200 chỉ tiêu đều thực hiện đủ)
Trang 7- Tổng chỉ tiêu tuyển sinh của cao học trong 5 năm là 355 chỉ tiêu (trung
bình 71CT/năm, chỉ tiêu này phù hợp với nhu cầu nguồn tuyển và điều kiện xác
định chỉ tiêu của Trường (tổng số lượng giảng viên có trình độ PGS.TS, TS căn cứ
xác định chỉ tiêu)
2.2 Kết quả tuyển sinh
2.2.1 Tuyển sinh đại học chính quy
2.2.1.1 Kỳ thi tuyển sinh năm 2015:
Năm 2015, tổ chức tuyển sinh theo phương thức xét tuyển điểm thi THPT
quốc gia (đối với cụm thi trung ương - cụm thi cho thí sinh đăng ký xét tuyển đại
học) kết hợp thi tuyển năng khiếu TDTT với 02 tổ hợp xét tuyển T00 (Toán – Sinh
2.2.1.2 Kỳ thi tuyển sinh năm 2016:
Kết quả tuyển sinh năm 2015 chưa đạt yêu cầu đề ra (45,33% chỉ tiêu), Đảng
ủy, Ban Giám hiệu đã chỉ đạo bộ phận chuyên môn nghiên cứu xây dựng Đề án tuyển sinh riêng trên cơ sở những thay đổi của Kỳ thi THPT quốc gia của Bộ GDĐT Điểm mới trong tuyển sinh năm 2016 là sử dụng 02 phương thức tuyển
sinh (Xét điểm thi THPT và xét kết quả học bạ lớp 12); Ngoài ra, tổ chức thi tuyển
năng khiếu tại địa phương (Quảng Nam – Quảng Ngãi) và tại Trường
Kết quả tổ chức thi năng khiếu tại địa bàn Quảng Nam và Quảng Ngãi có tỷ
lệ nhập học đạt từ 48,54 % và 53,45% so với thí sinh đăng ký Tuy nhiên, kết quả tuyển sinh năm 2016 đạt tỷ lệ rất thấp (chỉ 28,00%) so với chỉ tiêu đề ra
Bảng 3 Kết quả thực hiện theo chỉ tiêu tuyển sinh năm 2016
Theo
Đề án
Kỳ thi THPT
2.2.1.3 Kỳ thi tuyển sinh năm 2017:
Sau 02 năm áp dụng theo những Quy định mới trong kỳ thi THPT quốc gia
sử dụng để xét tuyển đại học, cao đẳng do Bộ GDĐT ban hành đã khiến cho công tác tuyển sinh của Trường gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện chỉ tiêu
tuyển sinh Tổng chỉ tiêu không đạt yêu cầu đề ra (năm 2016 giảm gần 50% số
thực tuyển so với năm 2015 đối với tuyển sinh đại học chính quy), do đó cần có sự
Trang 8thay đổi về cách thức tuyển sinh trong năm 2017, nhất là việc xác định lại chỉ tiêu tuyển sinh và dự báo những thay đổi trong việc áp dụng tổ hợp các môn thi khoa học tự nhiên (có môn xét tuyển);
Bảng 4 Kết quả thực hiện theo chỉ tiêu tuyển sinh năm 2017
Theo
Đề án
Kỳ thi THPT
2.2.1.4 Kỳ thi tuyển sinh năm 2018:
Năm 2018, ngành GDTC bị khống chế ngưỡng đầu theo 02 phương thức xét
điểm thi THPT quốc gia và xét theo Đề án tuyển sinh (học bạ lớp 12, ưu tiên xét
tuyển), do vậy số thí sinh trúng tuyển vào ngành HLTT đạt 110% chỉ tiêu (do nhiều thí sinh không trúng tuyển ngành GDTC nên chuyển sang ngành HLTT)
Bảng 5 Kết quả thực hiện theo chỉ tiêu tuyển sinh năm 2018
Theo
Đề án
Kỳ thi THPT
2.2.5 Kỳ thi tuyển sinh năm 2019:
Năm 2019, Bộ GDĐT điều chỉnh Quy chế tuyển sinh, trong đó ngành GDTC, HLTT được đưa vào diện khối ngành xác định ngưỡng đảm bảo đầu vào theo 02 phương thức xét điểm thi THPT quốc gia, xét tuyển theo Đề án tuyển sinh Tuy vậy, việc xác định ngưỡng điểm sàn tổ hợp xét tuyển theo phương thức sử dụng kết quả điểm thi THPT bằng trung bình cộng của ngưỡng điểm sàn ngành đào tạo giáo viên
là quá cao (trung bình 01 môn văn hóa đạt 6,0 điểm trở lên)
Bảng 6 Kết quả thực hiện theo chỉ tiêu tuyển sinh năm 2019
Ngành
Chỉ tiêu Số thí sinh nhập học
Tỷ lệ (%)
Kỳ thi THPT
Theo
Đề án
Kỳ thi THPT
Trang 92.2.2 Tuyển sinh cao học, liên thông và bồi dưỡng
2.2.2.1 Đối với tuyển sinh cao học:
Tuyển sinh trình độ thạc sĩ được tổ chức theo Kỳ thi riêng do Hội đồng tuyển sinh của Trường tổ chức có sự giám sát trực tiếp của Bộ VHTTDL và báo cáo gián tiếp Bộ GDĐT qua văn bản Tất cả các khâu tuyến sinh được đảm bảo theo đúng Quy chế
Bảng 7 Kết quả tuyển sinh trình độ thạc sĩ từ năm 2015 - 2019
tuyển sinh
Chỉ tiêu được giao
Số thí sinh nhập học Tỷ lệ (%)
2.2.2.2 Tuyển sinh liên thông và các lớp bồi dưỡng:
- Đối với tuyển sinh đại học liên thông: Sau 03 (từ 2015 – 2017) không đủ thí sinh dự thi để mở lớp, song đến năm 2018 và năm 2019, tổ chức tuyển sinh
được 02 khóa (ĐH LT8 có 30/50 chỉ tiêu nhập học; ĐH LT9 có 49/40 chỉ tiêu dự
thi) với số lượng đạt từ 60% - 100% chỉ tiêu đề ra
- Tuyển sinh các lớp bồi dưỡng: Sau những năm tuyển sinh đại học chính quy không đạt chỉ tiêu đề ra, theo chủ trương chung của Lãnh đạo Trường triển khai tổ chức các loại hình đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn nhằm tăng cường quy mô
và đa dạng hóa loại hình đào tạo
Bảng 8 Kết quả tuyển sinh các lớp bồi dưỡng
lượng
Địa điểm
1 HLV chính 2017 55 Tại Trường
2 HLV, HLV chính 2019 58 Tại Trường
85 Tại địa phương
3 Bơi cứu hộ, cứu đuối 2019 51 Tại Trường
142 Tại địa phương
2.3 Đánh giá chung
Qua 5 năm tổ chức triển khai tuyển sinh theo chủ trương của Bộ GDĐT về thay đổi kỳ thi THPT quốc gia để xét tuyển đại học và cao đẳng, tuy kết quả còn thấp, song công tác chỉ đạo, lãnh đạo và tổ chức tuyển sinh đã đạt được những mặt tích cực:
- Văn bản về tuyển sinh (Đề án, kế hoạch, thông báo ) đã dần được ổn định
về nội dung, bám sát với thực tiễn nhu cầu xã hội và Quy chế tuyển sinh - đào tạo
Trang 10- Hình thành được mối liên hệ và có sự kết nối với các trường THPT, các Sở GDĐT, Sở VHTT, Sở VHTTDL, Trung tâm TDTT các tỉnh, thành phố trong khu vực miền Trung và Tây Nguyên
- Thu thập được dữ liệu đội ngũ cộng tác viên tại các trường THPT và bước đầu vận hành trong việc thu thập dữ liệu và hướng dẫn cho thí sinh đăng ký dự thi vào Trường
- Công tác tư vấn, tiếp cận thí sinh đã có nhiều sự lựa chọn hơn trong cách chuyển tải thông tin đến thí sinh, đội ngũ cán bộ tư vấn phần nào đã nắm bắt được đặc điểm và nhu cầu của thí sinh theo địa bàn và khu vực
- Đội ngũ trực tiếp xử lý dữ liệu và chuyên môn về tuyển sinh đã tiếp cận và khai thác được dữ liệu thí sinh và các thông tin liên quan trên phần mềm tuyển sinh của Bộ GDĐT
- Đã có sự phối hợp giữa các bộ phận chức năng và các Ban giúp việc của Hội đồng tuyển sinh trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ tuyển sinh
Về kết quả của 5 năm: Tuy đã có dự báo trước được những khó khăn do sự
thay đổi của Kỳ thi THPT quốc gia và nhu cầu nghề nghiệp của người học nhưng kết quả tuyển sinh giai đoạn 2015 - 2019 chưa đạt chỉ tiêu đề ra Kết quả cụ thể của công tác tuyển sinh từ năm 2015 đến năm 2019 chỉ đạt ở mức thấp và ở trung bình theo từng năm
- Nguyên nhân kết quả nêu trên được xác định là Bộ GDĐT có những thay đổi về mặt kỹ thuật trong thực hiện quy chế và ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào đối với các ngành đào tạo giáo viên (GDTC, HLTT) ngày càng nâng cao sau mỗi năm tuyển sinh cũng nhu cầu lựa chọn nghề nghiệp của người học đã có sự thay đổi
- Giai đoạn 2015 - 2017, kết quả tuyển sinh đạt chỉ tiêu thấp do 02 nguyên nhân chính: mới thay đổi phương thức thi và xác định chỉ tiêu cao so với nhu cầu người học
- Giai đoạn 2018 - 2019: Tuy đã có sự đánh giá chính xác về nhu cầu của thí sinh để xác định lại chỉ tiêu tuyển sinh, song kết quả tuyển sinh chỉ đạt từ 50% đến 52%
Trang 11- Đối với tuyển sinh trình độ thạc sĩ: năm 2018 và năm 2019, nguồn tuyển sinh trình độ thạc sĩ ngày càng giảm, do người học chưa sắp xếp thời gian đi học trong giờ hành chính, công tác tuyên truyền và quảng bá về tuyển sinh và đào tạo trình độ thạc sĩ chưa được chú trọng và đầu tư đúng mức
2.4.1 Tổ chức thực hiện công tác tuyển sinh
2.4.1.1 Dự báo tình hình và năm bắt thông tin:
- Công tác dự báo và nắm bắt thông tin về những thay đổi về phương thức tuyển sinh của Bộ GDĐT chưa tốt, mối liên hệ giữa Trường và Vụ Giáo dục Đại học chưa được gắn kết nên thiếu thông tin dự báo Chưa có chiến lược, kế hoạch dài hạn về tuyển sinh của Trường
- Thông tin về dữ liệu đăng ký của thí sinh cập nhật chậm (năm 2019 Bộ GDĐT mở cổng thông tin muộn so với năm 2018) nên bị động trong công tác tổ chức tuyển sinh NK tại các địa phương
- Phân chia chỉ tiêu theo hình thức sử dụng điểm thi THPT và theo Đề án
của Trường (xét học bạ, ưu tiên xét tuyển) chưa sát thực tế Kết quả số thí sinh
nhập học theo phương thức riêng của Trường chiếm 2/3 số thí sinh trúng tuyển sử dụng kỳ thi THPT quốc gia
- Thiếu phương án trong việc thực hiện quy định ngưỡng đầu vào đối với phương thức xét tuyển điểm thi THPT quốc gia năm 2019 (trung bình mỗi môn văn hóa ≥ 6.0 điểm trở lêm) nên bị động và chưa có hiệu quả đối với phương thức
này Dẫn đến việc tổ chức thêm tổ hợp NK2 (năng khiếu chuyên môn chưa đạt yêu
cầu đề ra, gây khó khăn trong việc tổ chức thi NK tại địa phương)
- Dù đã có dự báo được những khó khăn về thay đổi tỷ lệ xét tốt nghiệp THPT của Bộ GDĐT (thí sinh trượt tốt nghiệp), nhưng số lượng thí sinh trượt tốt
nghiệp năm 2019 rất cao, chiếm 24% tổng số thí sinh đăng ký dự thi (có 230/956
thí sinh trựợt tốt nghiệp THPT, trong đó có 47 thí sinh đã thi NK trượt tốt nghiệp)
- Tuy đã lường trước được những khó khăn về nhu cầu của xã hội, song việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm, phân vùng địa bàn chưa sát với thực tế và
chưa có sự tư vấn chăm sóc “chu đáo” cho thí sinh (khu vực Bình Định - Phú Yên
dù đã dự thi NK đủ điệu kiện trúng tuyển, song thí sinh lựa chọn học GDTC tại ĐH Quy Nhơn 04 thí sinh)
2.4.1.2 Đề án tuyển sinh và triển khai văn bản
- Tuy Bộ GDĐT đã cho các trường tự chủ trong công tác tuyển sinh, song các điều kiện về ngưỡng đầu vào, quy định ưu tiên xét tuyển vẫn quy định ràng buộc cho ngành GDTC và HLTT nên đã gây khó khăn trong việc mở rộng phương thức, tổ hợp và chế độ ưu tiên xét tuyển trong việc xây dựng Đề án tuyển sinh
Trang 12- Thông tin Đề án tuyển sinh (thông tin về ưu tiên xét tuyển, tổ hợp môn thi
và xét tuyển, thời gian thi NK…) chưa được tiếp cận đồng loạt đến các trường
THPT, Trung tâm Đào tạo VĐV, Trung tâm HLTT các tỉnh, thành phố trong khu vực miền Trung và Tây Nguyên
- Các đợt thi tuyển NK tại địa phương và những đợt thi bổ sung chưa đạt hiệu quả cao (tổng các đợt thi bổ sung năm 2019 chỉ bằng 1/3 so với đợt chính thức), nguyên nhân là do công tác tuyên truyền, thông báo tuyển sinh và xét tuyển chưa triển khai kịp thời, đội ngũ cán bộ tuyển sinh tập trung xử lý số liệu đợt tuyển sinh chính và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn khác của phòng
- Công tác xây dựng kế hoạch, thông báo tuyển sinh, nộp hồ sơ xét tuyển tuy
đã triển khia theo quy định, song việc tổ chức thực hiện còn chậm, chưa có kiểm tra đánh giá thường xuyên
2.4.2 Đội ngũ tham gia công tác tuyển sinh
Đội ngũ tham gia công tác tuyển sinh (tư vấn, tuyên truyền, tiếp cận thí sinh,
tổ chức tuyển sinh ) còn thiếu, chưa chuyên nghiệp, bị động trong công việc, chưa
mạnh dạn và còn thiếu phương pháp tiếp cận thí sinh Chưa huy động được nguồn lực tham gia công tác tuyển sinh của các khoa, bộ môn do tâm lý về suy nghĩ trách nhiệm công tác tuyển sinh là của phòng ĐT,QLKH&HTQT nên còn một số CBGV chưa quan tâm đến công tác tuyển sinh của Trường
2.4.2.1 Đội ngũ tư vấn, tiếp cận thí sinh:
* Hạn chế:
- Đội ngũ tham gia trực tiếp công tác tư vấn tuyển sinh chưa được bồi dưỡng
về chuyên môn và cách tiếp cận thí sinh, cán bộ tư vấn mang tính thời vụ chủ yếu kết hợp trong Ban Chỉ đạo thực tập và một số cá nhân tại các phòng, khoa, bộ môn
- Nội dung tư vấn chưa có tính hệ thống, thiếu cẩm nang, catolog hướng dẫn chi tiết, chủ yếu theo thông tin tuyển sinh từng năm nên cách chuyển tải thông tin đến thí sinh của cán bộ tham gia tư vấn chưa đồng nhất, thông tin thiếu chính xác
- Cách thức tiếp cận đến thí sinh, cộng tác viên chưa đồng bộ, chủ yếu mang tính cá nhân dựa trên mối quan hệ và khả năng của cán bộ tư vấn với giáo viên thể dục, cộng tác viên và tiếp cận thí sinh theo từng địa bàn
- Công tác chuẩn bị cơ sở vật chất cho truyền thông, tư vấn và tiếp cận thí sinh (băng rôn, thiết kế tờ rơi, poster…) chưa có cá nhân, đơn vị phụ trách chính, chỉ giao cho bộ phận tuyển sinh của phòng ĐT,QLKH&HTQT nên còn bị động, nội dung chưa phong phú
* Nguyên nhân:
- Chưa có đội ngũ chuyên trách về công tác tuyển sinh, tư vấn tuyển sinh, việc xây dựng kế hoạch tư vấn, truyền thông và tiếp cận thí sinh còn mang tính thời vụ, nhỏ lẻ
- Nội dung tư vấn, tiếp cận và hướng dẫn thí sinh đăng ký dự thi không ổn định, bị động, phụ thuộc theo những thay đổi về điều kiện bắt buộc trong Quy chế tuyển sinh của Bộ GDĐT nên chưa biên tập được cẩm nang, catolog thông tin tuyển sinh và truyền thông về hình ảnh của Nhà trường
- Tuy đã có dữ liệu cộng tác viên tại các cơ sở, song cách tiếp cận, việc thay đổi nhân sự đến các cơ sở, chưa có đầu mối quản trị chung và cơ sở dữ liệu cộng tác viên nên thiếu sự thống nhất
Trang 13- Chưa có bộ phận chuyên trách về thiết kế market, catolog, tờ rơi, ấn phẩm
về thông tin tuyển sinh mà chỉ giao cho bộ phận tuyển sinh của phòng ĐT,QLKH&HTQT
2.4.2.2 Hình thức tư vấn, tiếp cận thí sinh:
* Hạn chế:
- Chất lượng tư vấn, chuyển tải thông tin tuyển sinh đạt hiệu quả không cao, phạm vi tuy rộng nhưng thiếu trọng điểm, chưa khoanh vùng được địa bàn có tiềm năng
- Nội dung chuyển tải thông tin đến thí sinh và các địa bàn có đối tượng tuyển sinh chưa phong phú và thiếu công cụ để đánh giá tính hiệu quả
- Phương thức tiếp cận thí sinh và người nhà thí sinh chưa linh hoạt, thời gian tiếp cận ngắn, đơn giản và chủ yếu qua hình thức gián tiếp (tờ rơi, băng rôn, poster, phiếu đăng ký và đội ngũ cộng tác viên)
- Hiệu quả xác thực của tư vấn, chuyển tải thông tin và tiếp cận thí sinh chưa
có sơ sở kiểm chứng, chủ yếu chỉ thông qua cơ sở dữ liệu đăng ký của bộ GDĐT
và đội ngũ giáo viên thể dục, cộng tác viên tại các cơ sở
* Nguyên nhân:
- Chưa xây dựng chiến lược tư vấn, chuyển tải thông tin tuyển sinh dài hạn, còn bị động vào chủ trương của Bộ GDĐT về những thay đổi theo giải pháp kỹ thuật của kỳ thi THPT quốc gia và xét tuyển đại học, cao đẳng
- Tư vấn và tiếp cận thí sinh chủ yếu kết hợp với công tác thực tập của sinh viên tại các địa bàn theo từng năm Thời gian trực tiếp gặp thí sinh để tư vấn, hướng dẫn cách thức đăng ký dự thi và xét tuyển vào các ngành của Trường không
nhiều (thậm chí không có), do thời gian ngắn, đi nhiều trường, khoảng cách của
các trường THPT nằm cách xa nhau…
- Chưa kết nối và xây dựng được kế hoạch (thời gian - địa điểm) cụ thể về tư
vấn, tiếp cận và hướng dẫn học sinh tại các giờ học thể dục của các trường THPT
2.4.2.3 Đội ngũ thực hiện công tác chuyên môn về tuyển sinh:
* Hạn chế:
- Đội ngũ trực tiếp thực hiện công tác chuyên môn về tuyển sinh (thư ký, xử
lý hồ sơ xét tuyển, nghiên cứu quy chế tuyển sinh, tư vấn trực tiếp tại trường…)
còn mỏng, thiếu kinh nghiệm và chưa chuyên sâu
- Nội dung, thời gian triển khai công tác nghiệp vụ chuyên môn cho bộ phận thư ký, đón tiếp thí sinh (làm thủ tục) chưa sâu sát, thông tin chuyển tải chưa đồng nhất gây nhầm lẫn cho thí sinh
- Bộ phận giải đáp thắc mắc, hướng dẫn cho thí sinh còn bị động về cách thức tư vấn, chưa nắm sâu về quy chế tuyển sinh và chủ trương tuyển sinh theo Đề
án tuyển sinh của Trường
- Việc chuyển tải thông tin cho thí sinh về thời gian thi NK còn bị động và chậm, thiếu nhân lực tham gia
Trang 14- Bộ phận thư ký tuyển sinh chủ yếu ở phòng ĐT,QLKH&HTQT và một số đại diện của khoa, song trong thời điểm tuyển sinh khối lượng công việc chuyên môn của Phòng khá nhiều nên sắp xếp thời gian đầu tư cho công tác thu thập số liệu, hướng dẫn, tư vấn cho thí sinh chưa kịp thời và thường xuyên
2.4.3 Công tác truyền thông, quảng bá
* Hạn chế:
- Công tác truyền thông của Trường nói chung và truyền thông trong hoạt động phục vụ tuyển sinh nói riêng còn yếu, chưa có chiến lược cụ thể Giai đoạn tuyển sinh từ năm 2015 - 2019, công tác truyền thông chưa được triển khai theo đúng nghĩa của truyền thông, phương thức chủ yếu là đưa thông tin tuyển sinh và hình ảnh của Nhà trường chỉ thông qua những sự kiện lớn của Trường (thành lập Trường; đăng cai các giải thể thao các cấp )
- Hình thức truyền thông qua phương tiện thông tin đại chúng, các trình duyệt web, mạng xã hội chưa phong phú, thiếu tính đồng bộ và chiến lược lâu dài nên hiệu quả chưa cao
- Nội dung truyền thông đơn điệu, việc xây dựng hình ảnh, catolog, infographic, dữ liệu hình ảnh và chuyển tải thông tin truyền thông về tuyển sinh chưa thường xuyên, chưa có kế hoạch cụ thể, chủ yếu kết hợp với việc đăng tải các thông tin về tuyển sinh như tờ rơi, poster và các ấn phẩm của Nhà trường
- Các trang mạng xã hội về truyền thông, quảng bá hình ảnh nhà trường thiếu đội ngũ quản trị chuyên nghiệp, chưa thường xuyên cập nhật thông tin và có quá nhiều trang thông tin nên thiếu đồng bộ
2.4.4 Những hạn chế và nguyên nhân khác
2.4.4.1 Về Chương trình đào tạo:
- Chương trình đào tạo của các ngành tuyển sinh chưa thu hút được người học, chưa đáp ứng được nhu cầu của thí sinh: Ngành Quản lý TDTT không bị khống chế đầu vào nhưng chương trình đào tạo không có chuyên ngành các môn thực hành nên khó lôi cuốn thí sinh
- Chương trình đào tạo ngành GDTC tuy đã điều chỉnh, bổ sung song chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội Chỉ 01 chương trình đáp ứng vị trí việc làm cho tất cả các cấp học từ tiểu học, phổ thông đến cao đẳng, đại học và trong các cơ quan nhà nước cũng như doanh nghiệp Do vậy, cần có hướng nghiên cứu điều chỉnh thành GDTC cho trường học và GDTC cho cộng đồng để thu hút nhu cầu sử dụng nhân lực của doanh nghiệp và cơ quan đơn vị
- Tính liên kết của 03 ngành đào tạo chưa có, nhất là khối lượng kiến thức chuyên ngành khác nhau nên khó khăn trong việc tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo
Trang 15- Chưa triển khai đào tạo song ngành nên chưa thu hút được thí sinh và sinh
viên nhất là thí sinh trúng tuyển ngành Quản lý TDTT (không trúng tuyển ngành
GDTC, HLTT) theo học
2.4.4.2 Hướng nghiệp và giải quyết việc làm cho sinh viên:
- Chưa có bộ phận chuyên trách về hướng nghiệp và hỗ trợ sinh viên trong học tập, tìm kiếm cơ hội việc làm Bộ phận CVHT chưa đầu tư thời gian và nghiên cứu các quy định về đào tạo và định hướng việc làm cho sinh viên nên ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô đào tạo và gián tiếp nguồn tuyển sinh
- Vấn đề giải quyết nhu cầu việc làm cho sinh viên chưa được đầu tư trọng điểm, việc gắn kết giữa nhà trường với doanh nghiệp và cơ sở tuyển dụng chưa có chiến lược cụ thể
2.4.4.3 Môi trường học tập và các nguyên nhân khác
Trong thành phố Đà Nẵng và khu vực Trung Trung bộ có rất nhiều trường đại học, bao gồm các trường sư phạm và không phải trường sư phạm, hoặc ngành
đào tạo giáo viên (Đại học Huế; Đại học Đà Nẵng, các trường tại Đà Nẵng,
Quảng Nam, Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum) có mức điểm xét tuyển
hàng năm không cao, thậm chí là thấp so với ngưỡng đầu vào của các ngành GDTC, HLTT (dao động từ 14 - 17 điểm) nên thí sinh có nhiều lựa chọn trong việc xác định môi trường học tập
3 ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC TUYỂN SINH NĂM 2020 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO
3.1 Cơ sở định hướng
3.1.1 Chủ trương của Chính phủ và Bộ GDĐT
Tại cuộc họp Hội đồng Quốc gia Giáo dục vào ngày 25/9/2019, Bộ GDĐT
đã trình Chính phủ phương án thi tốt nghiệp THPT quốc gia và tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2020 – 2025 cơ bản tiếp tục tổ chức ổn định như kỳ thi năm 2019
Do vậy, tất cả các quy định có liên quan đến kỳ thi tuyển sinh năm 2019 ảnh hưởng đến quy trình tổ chức và hiệu quả của công tác tuyển sinh của Trường trong năm 2020 và những năm tiếp theo
Bên cạnh đó, Luật Giáo dục và Giáo dục Đại học sửa đổi, bổ sung có hiệu lực thi hành tạo hành lang pháp lý cho việc tự chủ về tổ chức tuyển sinh, đào tạo, cấp bằng sau khi tốt nghiệp cho sinh viên, đặc biệt là vấn đề là sinh viên ngành đào
tạo giáo viên (GDTC, HLTT) cần được xã hội và cơ quan tuyển dụng công nhận là
đề thi THPT và kết quả xét tốt nghiệp của thí sinh; dự báo theo hướng giữ nguyên
hoặc tăng chứ không giảm;
- Nhu cầu định hướng nghề nghiệp, cũng như sự lựa chọn của người học đã
có nhiều sự thay đổi, khó dự báo;
- Nhiều Khoa GDTC của các trường đại học trong khu vực miền Trung -
Tây Nguyên cũng đang tuyên truyền tăng cường đầu tư để tuyển sinh (ĐH Vinh;
ĐH Quảng Bình; ĐH Huế; ĐH Đà Nẵng; ĐH Quy Nhơn; ĐH Tây Nguyên);
Trang 16- Dù môn học GDTC trong các trường học (từ tiểu học - THPT) là môn học bắt buộc theo chương trình GDPT mới, song nguồn tuyển dụng đối với sinh viên tốt nghiệp ngành GDTC đang bó hẹp, thiếu chỉ tiêu biên chế và chưa có những chủ trương và hướng dẫn cụ thể;
- Thị trường việc làm về lĩnh vực liên quan đến TDTT tuy đã có tín hiệu tích cực, nhu cầu lớn và đa dạng, song mức độ đáp ứng của các ngành đang đào tạo chưa thực sự sát với nhu cầu của thị trường sử dụng;
3.1.2.2 Định hướng, mục tiêu chung của Trường:
Xác định những khó khăn, thách thức cũng như phân tích các điểm mạnh, điểm yếu và những cơ hội của Trường về công tác tuyển sinh - đào tạo trong giai đoạn 2015 - 2019 Từ đó, định hướng mục tiêu, tìm ra các phương án, giải pháp nâng cao chất lượng tuyển sinh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Nhà trường trong giai đoạn hiện nay
3.2 Định hướng công tác tuyển sinh năm 2020
3.2.1 Xác định chỉ tiêu và phương thức tuyển sinh
3.2.1.1 Chỉ tiêu tuyển sinh:
- Cần xác định tổng chỉ tiêu tuyển sinh một phù hợp với xu hướng hiện nay
(Nghị quyết Hội nghị CBCC,CV năm 2019 đề ra 350 tổng chỉ tiêu toàn trường), cụ
thể từ 450 - 500 chỉ tiêu, trong đó đại học chính quy (bao gồm cả liên thông đại học) từ 400 – 420, chỉ tiêu tuyển sinh trình độ thạc sĩ từ 70 – 80 chỉ tiêu (xin chủ trưởng liên kết đào tạo trình độ thạc sĩ tại các địa phương trong năm 2020)
- Việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh ngành GDTC ảnh hưởng đến chỉ tiêu đào tạo liên thông, do đó cần xác định lại phù hợp để tổ chức đào tạo liên thông đại học (chính quy và VLVH) theo nhu cầu của chuẩn trình độ của Luật Giáo dục sửa đổi năm 2019 có hiệu lực vào tháng 7/2020
3.2.1.2 Phương thức tuyển sinh và tổ hợp xét tuyển:
- Về phương thức: Giữ ổn định theo 02 phương thức như tuyển sinh năm
2019 (xét điểm thi THPT;xét học bạ và ưu tiên xét tuyển theo Đề án của Trường),
tuy nhiên cần xác định trọng tâm là xét tuyển theo Đề án riêng để tăng khả năng trúng tuyển cao hơn đối với 02 ngành GDTC và HLTT
- Về tổ hợp xét tuyển và nội dung thi tuyển năng khiếu: Xác định lại tổ hợp chỉ có nội dung thi năng khiếu chung cho cả hai phương thức, nên duy trì 03 tổ hợp
có ảnh hưởng đến ngưỡng đảm bảo dầu vào (T00: Toán – Sinh – NK chung; T02:
Toán – Ngữ văn – NK chung và T05: Ngữ văn – GDCD – NK chung) Đây là
những môn thuộc 03 tổ hợp thí sinh có mức điểm dễ đạt ngưỡng trong xét tuyển điểm thi THPT quốc gia và xét học bạ, dễ dàng tổ chức tuyển sinh năng khiếu tại các địa phương
- Mở rộng đối tượng ưu tiên xét tuyển đối với thí sinh có huy chương các giải thể thao cấp tỉnh, thành phố và khu vực
- Duy trì việc tổ chức thi NK tại các địa phương, thu thập dữ liệu sớm để tổ chức tại cụm các trường THPT theo địa bàn của huyện
3.2.2 Xác định thời gian và địa bàn trọng điểm để xây dựng kế hoạch
- Xây dựng chiến lược về tuyển sinh và tổ chức tuyển sinh theo giai đoạn, trong đó xác định các giai đoạn trọng điểm, Phòng ĐT,QLKH&HTQT tham mưu
về chiến lược tuyển sinh trong tổng thể chiến lược phát triển Nhà trường Trong
Trang 17đó, xây dựng kế hoạch đồng bộ, xuyên suốt về công tác tuyển sinh cho tất cả các
hệ, cụ thể theo các giai đoạn cơ bản của năm 2020 như sau:
* Giai đoạn 1: Từ 20/12/2019 - 20/01/2020: Công bố thông tin nội dung
tuyển sinh, phương thức, tổ hợp xét tuyển và các điều kiện tuyển sinh trên các phương tiện thông tin, mạng xã hội, liên hệ và gửi về đội ngũ cộng tác viên…;
* Giai đoạn 2: Từ 17/02/2020 – 18/4/2020: Triển khai phương thức tư vấn,
tiếp cận thí sinh, đội ngũ cộng tác viên để hướng dẫn thí sinh đăng ký dự thi và khảo sát địa bàn thi năng khiếu tại các trường THPT; Triển khai thông tin tuyển sinh trình độ thạc sĩ, liên thông tại Trường và liên kết tại các địa phương;
* Giai đoạn 3: Từ 04/5/2020 – 10/6/2020: Xác định số liệu, tuyên truyền
thông tin và tổ chức thi năng khiếu tại các địa phương; Tổ chức tuyển sinh trình độ thạc sĩ và liên thông;
* Giai đoạn 4: Từ 30/6/2020 – 20/7/2020: Chuẩn bị các điều kiện cho việc
chuẩn bị thi tuyển năng khiếu đợt chính thức, (liên hệ với thí sinh, cộng tác viên để gọi thí sinh dự thi năng khiếu, cần thiết có thể tổ chức tại địa phương nếu nhu cầu của thí sinh đảm bảo được số lượng tổ chức);
* Giai đoạn 5: Từ 26/7/2020 – 15/8/2020: Truyền thông, tuyên truyền về hồ
sơ xét tuyển, thủ tục điều kiện trúng tuyển và phương thức xác nhận nhập học;
* Giai đoạn 6: Từ 20/8/2020 – 30/9/2020; Triển khai công tác đón tiếp thí
sinh nhập học đợt chính thức và thông báo thi và xét tuyển các đợt bổ sung (02 đợt
bổ sung);
- Nghiên cứu xác định lại địa bàn trọng điểm về nguồn tuyển sinh, như TP Đà
Nẵng, Quảng Nam, Gia Lai và Kon Tum (số lượng thí sinh nhập học duy trì từ
năm 2015 – 2019 ổn định, trong đó Đà Nẵng tăng dần từ năm 2017 – 2019) để đầu
tư nhân lực trong tuyên truyền, tư vấn và tiếp cận thí sinh
- Thường xuyên tổ chức đào tạo bồi dưỡng cấp chứng nhận, chứng chỉ chuyên môn
3.2.3 Các giải pháp thực hiện chính
3.2.3.1 Xây dựng đội ngũ và tổ chức thực hiện
- Đề xuất Hiệu trưởng thành lập bộ phận chuyên trách về công tác tuyển sinh của Trường (05 – 07 thành viên): bao gồm Phòng ĐT,QLKH&HTQT, các khoa, và một số cán bộ, giảng viên của các bộ môn thuộc các khoa Phát huy vai trò chủ động của các khoa, đội ngũ giảng viên của các khoa, bộ môn trong việc xây dựng đội ngũ và tổ chức thực hiện công tác tuyển sinh của Trường;
- Xây dựng kế hoạch, quy chế hoạt động của bộ phận chuyên trách tuyển sinh theo các giai đoạn của năm 2020;
- Tập hợp dữ liệu và thông tin cộng tác viên, địa chỉ các trường THPT từng địa phương để đội ngũ cán bộ tuyển sinh, CBGV nhà trường cùng tham gia;
- Giao chỉ tiêu cho 03 khoa có đào tạo sinh viên, tổ chức phát động phong
trào mỗi CBGV là một cán bộ tuyển sinh và thực hiện 01 chỉ tiêu tuyển sinh (giới
thiệu 01 thí sinh đăng ký dự thi đại học hoặc thạc sĩ);
- Cử cán bộ khảo sát địa bàn về nhu cầu đào tạo thạc sĩ, liên thông và tổ
chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ (kết hợp qua công tác tư vấn, đưa
thông tin kiểm tra thực tập tại các trường THPT, các cơ quan có nguồn tuyển sinh)
Trang 183.2.3.2.Tổ chức tư vấn và tiếp cận thí sinh:
- Xây dựng quy trình, quy định về tư vấn và tổ chức tuyển sinh để tổ chức thực hiện theo chuyên trách;
- Bộ phận chuyên trách công tác tuyển sinh hoạt động liên tục quanh năm
theo kế hoạch tuyển sinh, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn (có thể mời chuyên gia)
cho bộ phận chuyên trách tuyển sinh, đội ngũ thư ký và tăng cường thêm số lượng giảng viên tại các khoa, bộ môn tham gia;
- Các khoa có tuyển sinh chịu trách nhiệm chính về biên tập nội dung tư vấn,
catalog, cẩm nang tuyển sinh (gồm các thông tin về Trường, ngành nghề đào tạo,
cơ hội việc làm và thông tin tuyển sinh – đào tạo các ngành…);
- Khoa QLTDTT: Cần xây dựng kế hoạch (chiến lược – mục tiêu) tiếp cận
tạo mối liên hệ với các cơ quan quản lý nhà nước về TDTT, các doanh nghiệp để giải quyết vấn đề việc làm, tạo nguồn tuyển sinh các lớp đào tạo cấp chứng nhận, chỉ chỉ chuyên môn nghiệp vụ;
- Khoa GDTC: Xây dựng kế hoạch, tổ chức các hoạt động liên kết với các
Sở GDĐT, các trường THPT để tạo triển khai các hoạt động thực tập, thực tế cho sinh viên ngành GDTC Tạo cơ sở đặt hàng qua đội ngũ cán bộ phụ trách công tác GDTC tại các Sở GDĐT, đội ngũ cộng tác viên, giáo viên thể dục tại các trường THPT để tăng hiệu quả trong công tác tư vấn, tiếp cận thí sinh;
- Khoa HLTT: Tăng cường kết nối với các Trung tâm HLĐT VĐV, Trung
tâm huấn luyện và thi đấu TDTT các tỉnh, thành phố trong khu vực miền Trung – Tây Nguyên để tạo nguồn tuyển sinh và triển khai các hoạt động thực tế, thực tập cho sinh viên ngành HLTT;
- Khoa KN&KTCSN và các Bộ môn chuyên ngành: Cần chủ động liên hệ với
Liên đoàn, Hiệp hội các môn thể thao để xây dựng kế hoạch, chương trình đào tạo, bồi dưỡng, cấp giấy chứng nhận, chứng chỉ các môn thể thao theo chuyên ngành;
- Tiếp tục sử dụng sinh viên thực tập khóa ĐH10 để kết nối đội ngũ cộng tác
viên tại các trường THPT (không tổ chức đi theo đoàn trực tiếp xuống tại cơ sở
thực tập, cử đại diện phụ trách theo địa bàn để thu thập, hoàn thiện dữ liệu nguồn tuyển sinh, cộng tác viên, bồi dưỡng và nguồn tuyển sinh cao học);
- Tổ chức triển khai tư vấn, tiếp cận thí sinh theo từng địa bàn (mỗi thành
viên phụ trách 01 địa bàn) trong tuyển sinh đại học chính quy, cao học Ngoài ra
kết hợp để tìm nguồn mở các dịch vụ liên quan đến TDTT, việc làm của sinh viên;
- Xác định 01 – 02 địa phương để tham gia tổ chức ngày hội tư vấn tuyển sinh (dự kiến Quảng Nam – Gia Lai)
3.2.2.3 Tổ chức tốt công tác đào tạo, liên kết đào tạo, hướng nghiệp, tư vấn giới thiệu việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp
Mục tiêu chung: Đổi mới nội dung chương trình đào tạo, chương trình môn
học; nâng cao chất lượng đào tạo; tăng cường công tác hướng nghiệp, tạo mối quan
hệ bền vững giữa nhà trường với doanh nghiệp và địa phương để xây dựng và khẳng định thương hiệu Nhà trường Nội dung cụ thể bao gồm những vấn đề chính sau:
- Đánh giá, điều chỉnh nội dung chương trình đào tạo của cả 03 ngành, trong
đó cần điều chỉnh nội dung chương trình đào tạo của ngành GDTC, Quản lý TDTT
Trang 19theo hướng tiếp cận theo chương trình GDPT mới và nhu cầu của doanh nghiệp Đây là vấn đề cấp thiết, cần làm ngay trong năm 2020;
- Cần đổi mới nội dung chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ phù hợp, thực tiễn theo hướng nghiên cứu ứng dụng của lĩnh vực TDTT Tập trung xây dựng, điều chỉnh một số học phần chuyên đề theo lĩnh vực công tác của học viên, hướng nghiên cứu của luận văn thạc sĩ của học viên để tăng tính tự chủ cho học viên và rút ngắn thời gian học tập trung tại Trường;
- Tập trung nghiên cứu để phát triển chương trình đào tạo theo chiến lược phát triển Nhà trường, trong đó nghiên cứu mở các chương trình đào tạo tiến tiến,
chất lượng cao và đa dạng hóa các loại hình đào tạo (liên kết đào tạo; đào tạo theo
nhu cầu địa phương và tổ chức bồi dưỡng trại hè - TDTT, học kỳ hè, tuần hoạt động kỹ năng – thi đấu thể thao cho đối tượng học sinh phổ thông…)
- Điều chỉnh nội dung thực tập của các ngành thành 02 phần; Thực tập 1 có khối lượng 02 – 03 tín chỉ cho sinh viên đi thực tập, thực tế tại các trường THPT,
cơ sở đào tạo ở khu vực Đà Nẵng và một số địa bàn của tỉnh Quảng Nam Thực tập 2 có khối lượng từ 05 – 06 tín chỉ tổ chức thực tập như hiện nay, trong đó điều chỉnh thời gian thực tập cho ngành HLTT và Quản lý TDTT theo nhu cầu của cơ
sở thực tập (Áp dụng từ khóa ĐH11 trở đi);
- Triển khai chương trình đào tạo song ngành để kích thích sinh viên ngành Quản lý TDTT tham gia học tập tránh tình trạng sinh viên không thích học do không có môn thể thao chuyên ngành;
- Hoàn thiện công tác kiểm định chất lượng đào tạo và các quy định về tổ chức đào tạo, tổ chức thi học phần nhằm nâng cao nề nếp, chất lượng hoạt động dạy và học trong nhà trường;
- Tăng cường hoạt động của bộ phận Hỗ trợ sinh viên và hướng nghiệp việc làm, giới thiệu đại chỉ thực tập, thực tế để giải quyết tình trạng đầu ra cho sinh viên
3.2.3.4 Truyền thông,quảng bá hình ảnh
- Xây dựng chiến lược và kế hoạch truyền thông theo các giai đoạn chính của nhiệm vụ tuyển sinh, trong đó chú trọng về đội ngũ và nội dung, công cụ (hình thức) để triển khai truyền thông;
- Cần có kế hoạch chi tiết về hoạt động truyền thông và quảng bá hình ảnh, trong đó bám sát chương trình hoạt động công tác năm để có sự phân công, phối hợp giữa các đơn vị chức năng trong Nhà trường trong việc thông tin các sự kiện,
hoạt động của Trường để truyền thông xuyên suốt trong cả năm học
- Thành lập bộ phận truyền thông từ 03 – 05 thành viên, giao đầu mối phụ
trách (Phòng CTHS,SV chịu trách nhiệm chính hoặc Trung tâm TT-TV chịu trách
nhiệm chính) tổ chức hoạt động dưới sự chỉ đạo của Ban Giám hiệu Trường;
- Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn về truyền thông, chuyên môn về tuyển sinh, hướng nghiệp… để thiết lập các công cụ và phương tiện phục vụ cho truyền thông;
- Bộ phận truyền thông chịu trách nhiệm thiết kế chính về ấn phẩm, catalog, Brochure, infographic hoặc cẩm nang truyền thông để chạy trên nền tảng web, youtobe, facebook và đưa về các trường THPT
Trang 203.3 Định hướng tuyển sinh những năm tiếp theo
- Bộ phận tham mưu, thường trực công tác tuyển sinh cần nắm bắt thông tin
về chủ trưởng của Chính phủ và Bộ GDĐT,Bộ VHTTDL trong việc phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục và thể dục thể thao, từ đó tham mưu Lãnh đạo Trường xây dựng chiến lược phát triển nhà trường giai đoạn 2020 – 2030, chiến lược công tác tuyển sinh thực tế hơn về dự báo quy mô đào tạo và nguồn lực cán bộ
- Cần có tổng hợp số liệu để dự báo nguồn lực tuyển sinh theo từng năm, nhất là đối với đào tạo liên thông đại học (chính quy, VLVH), sau khi Luật Giáo dục có hiệu lực để xác định chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm và tổ chức liên kết đào tạo theo hình thức này tại khu vực Tây Nguyên và một số địa bàn thuận lợi
- Nguồn tuyển sinh các lớp đào tạo và bồi dưỡng các cấp cần xem xét lại các chủ trương và văn bản quy định của Chính phủ và Bộ, ngành liên quan để có định hướng trong xây dựng kế hoạch tổ chức tuyển sinh và liên kết đào tạo
- Tuyển sinh đại học chính quy và trình độ thạc sĩ là vấn đề cốt lõi của Nhà trường trong việc xây dựng chiến lược phát triển Do đó, cần xác định lại nhu cầu đào tạo của xã hội, thu thập tình hình việc làm của sinh viên đã ra trường để xây dựng chiến lược phát triển Nhà trường phù hợp với tình hình trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo
Trên đây là một số vấn đề về thực trạng công tác tuyển sinh giai đoạn từ năm 2015 – 2019, một số định hướng tuyển sinh năm 2020 và những năm tiếp theo Công tác tư vấn tuyển sinh là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của nhà trường, những nội dung định hướng nêu trên chỉ mới là một trong những giải pháp cơ bản Để công tác tuyển sinh thật
sự có sự chuyển biến mạnh mẽ và chất lượng, nhà trường cần phải kết hợp đồng bộ nhiều biện pháp khác nhau để công tác tuyển sinh đạt hiệu quả theo chỉ tiêu đề ra
Trang 21MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TƯ VẤN, TIẾP CẬN THÍ SINH
TRONG TUYỂN SINH
Ths Hoàng Ngọc Viết - Phòng ĐT,QLKH&HTQT
1 Đặt vấn đề
Từ năm 2015 đến nay, sự thay đổi phương thức tổ chức thi tuyển sinh đại học, cao đẳng từ thi tuyển sang xét tuyển dựa vào kết quả của kỳ thi THPT quốc gia đã tạo nên những khó khăn nhất định trong việc thông tin và tổ chức tuyển sinh của các trường đại học, cao đẳng, trong đó có trường Đại học TDTT Đà Nẵng:
- Khó khăn từ việc thay đổi cách thức tiếp nhận thông tin đăng ký dự thi của thí sinh, bởi từ năm 2014 trở về trước việc thu nhận hồ sơ đăng ký thi tuyển sinh của Trường được thực hiện chủ yếu từ các trường THPT, trung tâm GDTX và các
Sở Giáo dục Đào tạo của các tỉnh thành trong khu vực tuyển sinh;
- Nội dung về thông tin tuyển sinh của Trường được đăng tải trong “Những điều cần biết về thông tin tuyển sinh hàng năm” được thông tin về các Sở Giáo dục
và Đào tạo, các trường THPT và đơn vị có tuyển sinh để chuyển tải cho thí sinhđăng ký Nhưng từ năm 2015 trở đi, thông tin này có sự thay đổi hoàn toàn: Trường tự chủ trong các hoạt động thông tin tuyển sinh đến thí sinh, Bộ Giáo dục
và Đào tạo chỉ tiếp nhận thông tin tuyển sinh của Trường qua mẫu để cập nhật trên công thông tin tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Thay đổi đổi lớn nhất là không nắm được thông tin số lượng thí sinh dự thi một cách chính xác, dữ liệu đăng ký dự thi của thí sinh (theo phương thức xét điểm thi THPT) được Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý chỉ cung cấp cho Trường trong thời điểm thích hợp Số lượng thí sinh đăng ký dự thi theo phương thức xét theo
Đề án tuyển sinh (xét học bạ, ưu tiến xét tuyển) tùy thuộc vào mức độ tìm hiểu của thí sinh và nguồn thông tin thí sinh nhận được từ công tác thông tin, tuyên truyền,
tư vấn
Tất cả những vấn đề đó đã gây nên những khó khăn, bất cập và chưa thật sự mang lại hiệu quả cao trong công tác tuyển sinh từ năm 2015 đến nay, nhất là thời điểm năm 2015 - 2017, do vậy việc tuyên truyền, tư vấn và tiếp cận thí sinh để chuyển tải thông tin tuyển sinh của Trường đến thí sinh là vấn đề rất quan trọng Đây là cơ sở để có những dự báo xác thực để triển khai kế hoạch và tổ chức tuyển sinh năng khiếu kỳ thi tuyển sinh của Trường Nếu không quan tâm đến vấn đề tư vấn, tuyên truyền và tiếp cận thí sinh đúng thời điểm thì những thông tin về ngành đào tạo, thời gian, cách thức và phương thức đăng ký thì ảnh hưởng rất lớn đến số lượng thí sinh đăng ký dự thi vào trường hằng năm
Trang 222 Công tác tư vấn, tiếp cận thí sinh
Tư vấn tuyển sinh hay tiếp cận thí sinh để đưa thông tin, tư vấn cho thí sinh vềnhững nội dung liên quan đến thông tin tuyển sinh của ngành nghề đào tạo Thông thường, các trường đại học có quy mô tuyển sinh lớn, đa ngành nghề thì công tác tư vấn tuyển sinh, tiếp cận thí sinh đều có chiến lược, kế hoạch chi tiếtvề truyền thông và tư vấn Tổ chức thực hiện theo nhiều phương diện, từ tham gia chương trình tư vấn tuyển sinh tại các trường THPT địa phương, cụm địa phương
do Báo Tuổi trẻ, Báo Thanh niên phối hợp với Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Bộ Giáo dục & Đào tạo đến xây dựng cẩm nang tuyển sinh, ấn phẩm để phát miễn phí cho các trường THPT, hoặc cử đội ngũ trực tiếp về tại các trường THPT để gặp trực tiếp học sinh để tư vấn, thông tin và tiếp cận thí sinh dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm mục đích đưa thông tin tuyển sinh của cơ sở mình đến học sin càng nhiều, càng tốt Tuy nhiên, để làm được những vấn đề này cần phải đầu tư nguồn lực lớn về nhân lực, tài chính và chính sách… và chỉ có các trường
có nguồn lực lớn về tài chính, quy mô tuyển sinh – đào tạo lớn, đa ngành, đa lĩnh lĩnh vực mới có thể thực hiện thường xuyên và quy mô lớn Còn đối với các trường đơn ngành, quy môn nhỏ, lĩnh vực đặc thù như các trường khối TDTT thì rất khó thực hiện và thiếu công cụ để đánh giá hiệu quả trực tiếp theo những cách thức nói trên Do đó cần có cách thức tư vấn, tuyên truyền và tiếp cận thí sinh phù hợp để mang lại những hiệu quả nhất định trong công tác tư vấn tuyển sinh là một vấn đề thách thức đặt ra cho đội ngũ cán bộ tham gia công tác tuyển sinh của Trường trong giai đoạn hiện nay
2.1 Phương thức tư vấn, tiếp cận thí sinh Trường Đại học TDTT Đà Nẵng
Công tác tư vấn tuyển sinh, tiếp cận thí sinh từ năm 2015 đến nay được thực hiện kết hợp dưới nhiều phương thức khác nhau, từ công tác thực tập của sinh viên, đến thành lập Ban Tư vấn tuyển sinh và cử các đoàn, cá nhân về các Sở GDĐT, Sở VHTTDL các tỉnh có tổ chức các cuộc thi thể thao của học sinh đểtriển khai Cụ thể như sau:
Năm 2015: Tổ chức kết hợp với công tác thực tập của khóa đại học 5 (2011 – 2015) ở khu vực Đà Nẵng và một số trường THPT ở Quảng Nam giáp với TP Đà Nẵng đưa thông tin (tờ rơi, phiếu đăng ký dự thi NK) đến học sinh qua giáo sinh và giáo viên hướng dẫn thực tập tại các trường
Năm 2016: Quy mô thực tập được mở rộng từ Nghệ An đến Tây Nguyên, Bình Định - Phú Yên, do vậy công tác tư vấn, tiếp cận thí sinh được thực hiện theo
02 công đoạn: Đưa thông tin tuyển sinh qua poster và phiếu đăng ký dự thi năng khiếu cho các đoàn sinh viên thực tập chuyển về các trường THPT; tổ chức các
Trang 23đoàn kết hợp kiểm tra công tác thực tập, thu thập thông tin, tiếp cận thí sinh tại các trường;
Năm 2017: Thành lập Ban Tư vấn tuyển sinh kết hợp với Ban Chỉ đạo thực tập, tổ chức cho các thành viên của bộ phận tư vấn tự túc về các địa bàn có sinh viên thực tập để triển khai công tác tư vấn, tiếp cận thí sinh để chuyển tải thông tin qua appic và poster tuyển sinh từ Nghệ An – Hà Tĩnh đến các tỉnh Tây Nguyên Bước đầu thu thập thông tin đội ngũ công tác viên, thiết lập mối liên hệ với cộng tác viên trong việc hỗ trợ công tác tư vấn và nắm bắt số lượng thí sinh dự thi;
Năm 2018 – 2019: Kết nối đội ngũ cộng tác viên qua chuyên viên GDTC các Sở GDĐT để triển khai tư vấn, tiếp cận thí sinh qua giáo viên thể dục, trưởng đoàn, HLV tại các giải thể thao học sinh cấp tỉnh; tổ chức các đoàn kiểm tra thực tập kết hợp đưa thông tin về tuyển sinh đến các trường THPT; Sử dụng công nghệ (mạng xã hội facebook, zalo, viber, email…) chuyển tải thông tin tuyển sinh cho thí sinh và tương tác trực tuyến với thí sinh
2.2 Hiệu quả của công tác tư vấn, tiếp cận thí sinh
Hiệu quả của công tác tư vấn, tiếp cận thí sinh nói riêng và hiệu quả tuyển sinh nói riêng phụ thuộc rất nhiều yếu tố, từ cách tư vấn, tiếp cận và chuyển tải những thông tin liên quan tuyển sinh cho thí sinh, đế nắm bắt nhu cầu của thí sinh
về ngành nghề đào tạo, việc làm và cả sở thích đam mê đến số lượng thí sinh đăng ký dự thi, tham gia thi tuyển và nhập học vấn đề này phải trãi qua một công đoạn chăm sóc thường xuyên, liên tục và “công phu” thì mới đạt hiệu quả tương xứng Tuy nhiên, tỷ lệ thí sinh đăng ký thi tuyển với số lượng lớn hoặc tương ứng với chỉ tiêu vẫn là những tín hiệu khả quan ban đầu, tiền đề cho thành công trong tuyển sinh, đây chính là cơ sở để có kết quả cuối cùng khi thí sinh khẳng định nhập học thì hiệu quả của tuyển sinh mới thành hiện thực
Kết quả của công tác tư vấn, tiếp cận thí sinh về công tác tuyển sinh của Trường Đại học TDTT Đà Nẵng trong những năm qua tuy chưa mang lại kết quả cao, song phần nào nói lên được việc duy trì các hình thức tư vấn, tuyên truyền và tiếp cận thí sinh cũng như việc quảng bá tạo nên thương hiệu Nhà trường Điều này thể hiện số lượng thí sinh đăng ký dự thi theo các năm ở bảng 1
Bảng 1 Kết quả số lượng thí sinh đăng ký dự thi từ năm 2015 – 2019
Tỷ lệ TS nhập học/TS đăng ký
Trang 24(*): Bao gồm số thí sinh thi NK tại 04 địa phương (Q.Nam – Q Ngãi – Q.Bình và Gia Lai)
Qua kết quả ở bảng 1 cho thấy, tuy kết quả thí sinh nhập học so với tỷ lệ đăng ký ban đầu chưa cao, song phần nào nói lên được về số lượng thí sinh đăng
ký ban đầu ở mức tương đối, trung bình 1000 nguyện vọng/năm Điều này phần nào khẳng định rằng, thông tin tuyển sinh, thương hiệu quả Nhà trường vẫn được thí sinh, phụ huynh của thí sinh nắm bắt và tiếp cận
Kết quả nhập học không đạt tỷ lệ cao so với số lượng đăng ký ban đầu và số lượng thí sinh dự thi tuyển năng khiếu nhưng không nhập học chiếm từ 50,83% đến 64,15%, đây là vấn đề đã được phân tích, đánh giá trong thực trạng công tác
tuyển sinh từ năm 2015 - đến năm 2019 của Trường (số lượng thí sinh rớt tốt
nghiệp, thay đổi nguyện vọng, không đủ ngưỡng đầu vào và các trường khác lấy điểm đầu vào thấp ) Đây là những vấn đề cầnđánh giá cụ thể, khách quan, cầu thị
làm sáng tỏ hơn trong việc tư vấn, tiếp cận thí sinh để nâng cao hiệu qủa tuyển sinh trong thời gian tới
3 Một số vấn đề liên quan đến tư vấn, tiếp cận thí sinh thời gian đến
Mục đích của tư vấn, tiếp cận thí sinh trong trong tuyển sinh là đưa thông tin
về tuyển sinh và tiếp cận càng nhiều càng tốt, tuy nhiên không phải số lượng càng nhiều thí sinh tiếp cận được thông tin thì hiệu quả tư vấn, kết quả tuyển sinh càng cao.Mà vấn đề ở đây còn là kết quả cuối cùng thí sinh nhập học, bên cạnh đó, hiệu quả của công tác tư vấn, tiếp cận thí sinh còn thể hiện ở vấn đề bài toán kinh tế liên quan đến đầu tư tài chính, chi phí nhiều cho công tác tư vấn, tiếp cận thí sinh quá nhiều, song kết quả của công tác tuyển sinh quá thấp so với chi phí bỏ ra Hoặc ngược lại, với chi phí ở mức cần thiết, thì kết quả vẫn đạt kết quả tương đối thì cần
có giải pháp và phương thức thích hợp hơn
Điều này còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố khác nhau, từ khách quan đến chủ quan và có cả những vấn đề tức thời (theo thời điểm của xã hội), theo quan điểm của cá nhân trong thời gian tham gia tư vấn, tiếp cận thí sinh trong thời gian qua để khắc phục những vấn đề này thì cần làm rõ những 03 vấn đề cơ bản sau:
3.1 Đối tượng, địa bàn cần tư vấn và tiếp cận:
- Cần xác định được đối tượng tuyển sinh của Trường là ai, học sinh có năng khiếu về TDTT, yêu thích thể thao, học sinh vùng nông thôn hay thành thị hoặc là nhóm học sinh không đủ năng lực (học lực) để vào các trường đại học tốp trên để tiếp cận Hầu hết rất nhiều thí sinh đã đăng ký và dự thi năng khiếu, song vẫn chưa khẳng định nhập học và có thể thay đổi nguyện vọng hoặc đi học nghề, vì vậy cần xác định rõ đối tượng để có hướng tư vấn và tiếp cận phù hợp
Trang 25- Lựa chọn địa bàn cũng là một yếu tố để phần cao hiệu quả công tác tư vấn, tiếp cận thí sinh, phân tích dữ liệu số lượng thí sinh đăng ký dự thi, nhập học theo khu vực, địa bàn để xác định nguồn tuyển sinh và có hướng đầu tư trọng điểm trong việc tổ chức các hoạt động tư vấn mang quy mô lớn (tổ chức gian hàng giới thiệu tuyển sinh, quảng bá trên truyền hình, tổ chức sự kiện thể thao ) Kết quả bảng 2 về số lượng thí sinh đăng ký theo địa bàn của năm 2018 và năm 2019 của
14 tỉnh khu vực miền Trung - Tây Nguyên cho thấy sự ổn định về nguồn tuyển sinh Trong đó, các tỉnh có nguồn tuyển tiềm năng là khu vực TP Đà Nẵng - Quảng Nam - Quảng Ngãi; khu vực Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Bình - Quảng Trị và Khu vực Tây Nguyên (Kon Tum - Gia Lai - Đắk lắk) và Bình Định
Bảng 2 Kết quả số liệu đăng ký dự thi năm 2018 và năm 2019 theo địa bàn
3.2 Nội dung và hình thức cần tư vấn và tiếp cận:
Đây là nội dung quan trọng trong việc chuyển tải vấn đề thí sinh cần quan tâm để đăng ký xét tuyển và thi tuyển nội dung năng khiếu, nếu chuyển tải tốt nội dung này theo hình thức phù hợp thì mức độ nắm bắt thông tin của thí sinh càng có trọng tâm và dễ dàng hơn trong lựa chọn ngành nghề
- Nội dung thông tin cần cô động các vấn đề liên quan, có thể phân thành 02 phần chính: Phương thức, tổ hợp xét tuyển, nội dung và thời gian tổ chức thi năng khiếu; Môi trường học tập và cơ hội việc làm sau khí tốt nghiệp
- Hình thức tư vấn, tiếp cận: Duy trì phương thức gửi thông tin (qua poster, catalog, phiếu đăng ký dự thi ) về cho đội ngũ cộng tác viên tại các trường THPT
Trang 26theo các địa bàn trọng điểm có nguồn tuyển sinh ổn định, trong đó cần cử cán bộ liên lạc và đi thu thập dữ liệu và hướng dẫn cụ thể các nội dung trong thông tin
3.3 Xây dựng đội ngũ tư vấn, tiếp cận thí sinh
Cần có chiến lược và kế hoạch về tư vấn, tuyên tuyền và tiếp cận thí sinh lâu dài, trong đó chú trọng đến chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ tư vấn, tiếp cận thí sinh để tổ chức triển khai một cách đồng bộ, thường xuyên, liên tục trong suốt
cả năm, thậm chí từ 02 - 03 năm
- Thành lập bộ phận chuyên trách tuyển sinh về tư vấn, tiếp cận thí sinh, tổ chức xây dựng quy chế hoạt động và xây dựng kế hoạch hoạt động chi tiết, phân công trách nhiệm của các thành viên, có đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng về công tác tuyển sinh của Nhà trường
- Lựa chọn đội ngũ phải có trách nhiệm, nhiệt tình, có khả năng chuyển tải thông tin và am hiểu về công tác tuyển sinh (không lấy mục đích cơ bản để giải quyết vấn đề thiếu khối lượng giảng dạy làm tiêu chí ban đầu), trong đó, cần chú trọng về mối quan hệ và nắm vững địa bàn và được bồi dưỡng chuyên môn trước khi triển khai công tác
Công tác tuyển sinh là một vấn đề rất quan trọng, ảnh hưởng đến quy mô, chiến lược phát triển của nhà trường, để nâng cao hiệu quả công tác tuyển sinh cần
có các giải pháp mang tính thực tiễn, khả thi và đồng bộ trong tất cả các khâu tổ chức thực hiện, trong đó giải quyết tốt vấn đề tư vấn, tiếp cận thí sinh là tiền đề cho việc triển khai các công tác tiếp theo./
Trang 27GIẢI PHÁP MANG TÍNH ĐỘT PHÁ TRONG CÔNG TÁC TUYỂN SINH
VÀ KHẲNG ĐỊNH THƯƠNG HIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC TDTT ĐÀ NẴNG
Ths Phan Thị Ngà - Khoa Kiến thức cơ bản
MỞ ĐẦU
Công tác tuyển sinh trong những năm gần đây của trường Đại học TDTT Đà Nẵng gặp nhiều khó khăn, đến cả sinh viên đang học ở trường cũng bỏ học nhiều Trong khi cơ sở vật chất nhà trường ngày càng được đầu tư trang bị đầy đủ, đội ngũ giảng viên có trình độ cao ngày một tăng lên Toàn thể tập thể lãnh đạo, quản
lý cũng như cán bộ viên chức nhà trường cũng đã quan tâm đề ra những giải pháp
để khắc phục tình hình hiện tại Tuy nhiên vẫn chưa có kết quả, tình hình tuyển sinh vẫn không cải thiện, sinh viên vẫn nghỉ học, cơ hội việc làm của sinh viên ra trường vẫn gặp khó khăn
Vì vậy, việc hướng tới một giải pháp mang tính đột phá nào đó để nâng cao hiệu quả công tác tuyển sinh và khẳng định thương hiệu trường là vấn đề được quan tâm cấp bách nhất hiện nay
NỘI DUNG
1 Những nguyên nhân khó khăn trong công tác tuyển sinh
1.1 Nguyên nhân khách quan
Đó là khó khăn chung của tất cả các trường Đại học, Cao đẳng thuộc tốp trung và dưới, khi mà số lượng chỉ tiêu tuyển sinh vào quá nhiều, trong khi nhu cầu học Đại học, Cao đẳng của các học sinh sau khi tốt nghiệp lại giảm xuống
Quy chế tuyển sinh Đại học, Cao đẳng của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định
đã ảnh hưởng rất lớn đến công tác tuyển sinh của các trường, nhất là các trường Bộ
có quy định chuẩn tuyển sinh đầu vào
1.2 Nguyên nhân khác
Công tác tư vấn, truyền thông trong tuyển sinh của trường Đại học TDTT
Đà Nẵng chưa đủ mạnh, chưa phong phú để thu hút thí sinh quan tâm
Chính sách thu hút nguồn tuyển sinh đầu vào chưa được quan tâm sử dụng, chưa tuyển được thí sinh tài năng vào học
Thương hiệu sinh viên trường Đại học TDTT Đà Nẵng khi ra trường chưa được được nhà tuyển dụng chú ý nhiều, tỷ lệ sinh viên thất nghiệp còn cao, nếu có việc làm thì cũng ở mức lương không cao
Trường chưa có đội ngũ chuyên trách về công tác tuyển sinh, công việc tuyển sinh chỉ làm theo mùa
2 Những thuận lợi của trường Đại học TDTT Đà Nẵng trong công tác tuyển sinh
- Trường Đại học TDTT Đà Nẵng là trường đào tạo chuyên ngành về lĩnh vực TDTT ở miền Trung có thương hiệu trên toàn quốc Nếu chọn lĩnh vực TDTT
để học tập và nghiên cứu thì có lẽ địa chỉ đầu tiên ở miền Trung phải là Trường Đại học TDTT Đà Nẵng
- Cơ sở vật chất của trường Đại học TDTT đầy đủ, đáp ứng yêu cầu đào tạo
Có thể nói cơ sở vật chất của trường Đại học TDTT Đà Nẵng nếu đem lên truyền thông để quảng cáo thì sẽ thu hút được rất nhiều đối tượng xã hội quan tâm Nhưng
Trang 28sân Bóng Ném dường như đã lãng phí, mỗi lần sử dụng chỉ là phục vụ mục đích khác Nhà tập Võ dường như đang bị bỏ trống….Các máy móc, thiết bị ở Viện KHCN chưa được khai thác sử dụng hết
- Có nguồn nhân lực dồi dào về chuyên môn, tâm huyết với nghề nghiệp để
phục vụ đào tạo: Có 38 Tiến sĩ/107 cán bộ làm công tác giảng dạy, chiếm tỷ lệ
36% đội ngũ giảng dạy có trình độ Tiến sĩ Đây là cũng là một tỷ lệ “đáng mơ
ước” của các trường Đại học Nhưng cũng không phải ai cũng biết về tỷ lệ này ở trường Đại học TDTT Đà Nẵng, và Tiến sĩ ở trường Đại học TDTT vẫn còn đôi lúc nhàn rỗi, chưa có cơ hội phục vụ trường, phục vụ sự nghiệp đào tạo của đất nước
3 Giải pháp đột phá trong công tác tuyển sinh và khẳng định thương hiệu trường
3.1 Tung học bổng, thu hút người tài giỏi vào học
“Tung học bổng” đã được các trường trên thế giới thực hiện từ lâu để dòng
“chảy máu chất xám” về với trường họ, nước họ, kèm theo đó là thương hiệu trường được biết đến Những năm gần đây các trường Đại học ở Việt nam cũng sử dụng chính sách tung học bổng rất nhiều, từ các Đại học danh tiếng đến các Đại học Dân lập Thậm chí mới đây, Đại học VinUni với định hướng chỉ tuyển tài năng
đã tung gói học bổng toàn phần trị giá 4,6 tỷ VNĐ
Tung học bổng có ít nhất 3 lợi ích cho nhà trường:
-Thu hút được người giỏi vào học, chính những sinh viên giỏi này sẽ tạo động lực và môi trường học tập, nghiên cứu trong nhà trường, chất lượng đào tạo của nhà trường sẽ nâng lên
- Sự thành công trong sự nghiệp của những tài năng này sẽ kèm theo tiếng vang danh tiếng cho trường mình, thương hiệu của trường sẽ một phần được chính các sinh viên tài năng này khẳng định, truyền đi
- Thông qua các quảng cáo tung học bổng là một hình thức quảng bá trường, khi nhìn thấy dòng chữ “Học bổng toàn phần, học bổng 100%, học bổng 50% ” chắc chắn rằng phụ huynh và hoc sinh lớp 12 sẽ quan tâm
Người tài năng, học giỏi đa số sẽ thành công trong sự nghiệp của mình Đó
sẽ là tấm gương để các thế hệ sau mơ ước mà chọn trường mà các bậc anh chị đi trước đã học từ ngôi trường ấy ra và đã rất thành đạt
Về phía người học, được ưu ái về tài chính, được nâng nui về đẳng cấp và được tạo điều kiện tốt nhất cho bản thân học tập, rèn luyện và nghiên cứu thì họ sẽ chọn các trường có học bổng đó để học
Câu hỏi đặt ra là: Nguồn tài chính ở đâu để “Tung học bổng” ? Một lớp học
25 sinh viên hay 30 sinh viên thì giảng viên vẫn lên lớp 1 tiết dạy như nhau, sử dụng sơ sở vật chất trong nhà trường đều là có sẵn, nếu có cấp luôn cả nội trú thì cũng là cơ cở vật chất mà nhà trường đang có
- Cấp học sau đại học thì cấp kinh phí NCKH nếu có những định hướng nghiên cứu thiết thực với nhà trường, ở Châu Âu nghiên cứu sinh tiến sĩ đều có lương là vậy
Trang 293.2 Chạy quảng cáo trên Google
Đây là hình thức không mới, quá phổ biến, nhưng quả thật đây là quảng cáo hiệu quả nhất với thế giới công nghệ ngày nay, người người cầm Smartphone mọi lúc mọi nơi
Để tiết kiệm chi phí thì chỉ nên chọn độ tuổi để hiển thị quảng cáo: 17-22 tuổi là học sinh, sinh viên và 32-50 tuổi là đối tượng phụ huynh
Thời gian quảng cáo nên kéo từ tháng 12 đến tháng 8, vì định hướng chọn trường đại học không chỉ đến lúc điền hồ sơ mới chọn, mà là sự ấp ủ ít nhất là năm học lớp 12
3.3 Thành lập bộ phận chuyên trách làm công tác tuyển sinh
Tuyển sinh là nhiệm vụ phải được coi là “sống còn” của trường Đại học trong giai đoạn hiện nay, nhưng ở trường Đại học TDTT Đà Nẵng thì bộ phận đào tạo hình như chỉ làm theo mùa
Phải nhận thức được vai trò hết sức quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và chất lượng về công tác tuyển sinh của nhà trường là cần có một bộ phận chuyên trách về công tác tuyển sinh Bộ phận này sẽ xây dựng và triển khai kế hoạch quảng bá, tư vấn và tuyển sinh tất cả các hệ đào tạo trong nhà trường
3.4 Hướng tới đào tạo cái xã hội cần chứ không phải cái mình có, để sinh viên ra trường có nhiều cơ hội việc làm
Hiện nay, mặc dù trường luôn thay đổi, cập nhật chương trình đào tạo của nhà trường Nhưng xem ra với một giảng viên có thâm niên 20 năm giảng dạy ở trường thì sự thay đổi này chưa có gì là đột phá, là hướng tới nhu cầu xã hội, đa số
là thay đổi theo yêu cầu của quản lý cấp trên như các Bộ, Ban ngành
Nhìn nhận lại những sinh viên các khóa hơn 10 năm về trước ra trường, nếu
so sánh dù chỉ mang tính định tính hay cảm tính thì những sinh viên năm ấy giỏi nhiều mặt hơn sinh viên hiện tại Điều đó ít nhất đã được chứng minh bằng những
ý kiến của giảng viên chuyên ngành phát biểu trong các cuộc họp xây dựng đổi mới chương trình
Kỹ năng mềm luôn dược nhà trường quan tâm nhắc đến, nhưng chỉ nhắc, bàn luận rồi để đó Nó chưa được đưa vào rèn luyện cho sinh viên của nhà trường, Sinh viên trường Đại học TDTT Đà Nẵng vẫn luôn còn thiếu kỹ năng mềm
KẾT LUẬN
Với tâm huyết của một giảng viên vừa làm công tác giảng dạy vừa làm quản
lý, thâm niêm gắn bó với nhà trường hơn 20 năm, tham luận này được đúc kết từ những trăn trở cùng với nhà trường trong những năm qua Sự mạnh dạn nêu ra những ý kiến mang tính táo bạo như tung học bổng hay các ý kiến trùng lặp khác như quảng cáo trên Google, thì cũng mong ban lãnh đạo nhà trường cũng như toàn thể cán bộ viên chức quan tâm nghiên cứu, nhìn nhận vấn đề ở góc độ lâu dài
Trên đây là những ý tưởng đang được nêu ở mức chung chung, nếu được xem xét đi vào cụ thể thì chắc chắn cần được thảo luận, xây dựng những kế hoạch, phân mức, để có thể đi đến những định hướng cụ thể, nhằm đạt hiệu quả và chất lượng cho công tác tuyển sinh và khẳng định thương hiệu trường Đại học TDTT
Đà Nẵng
Trang 30ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
ĐỔI MỚI CÔNG TÁC TUYỂN SINH
Ths Lê Chí Hùng – Khoa Huấn luyện thể thao
Song song với công tác đào tạo, hàng năm Nhà trường có những chiến lược trong công tác tuyển sinh Xác định được vai trò và nhiệm vụ, lãnh đạo Nhà trường đã
có nhiều giải pháp nhằm phát huy hiệu quả đào tạo, trong đó có các giải pháp về tuyển sinh, tuy nhiên đối với những thay đổi về chương trình, đào tạo trong thời gian gần đây, công tác tuyển sinh của Nhà trường đang gặp nhiều bất cập, đòi hỏi phải đổi mới Việc tìm ra các giải pháp đổi mới công tác tuyển sinh để mở rộng qui mô đào tạo được đặc biệt chú trọng và xem đây là một yếu tố tiên quyết ảnh hưởng đến sự tồn tại
và phát triển của trường
I Thực trạng công tác tuyển sinh ở trường Đại học TDTT Đà Nẵng
- Nhà trường đào tạo nhiều ngành, có những ngành không cần quảng bá, tư vấn nhiều nhưng số lượng sinh viên tuyển được luôn đạt chỉ tiêu như các chuyên ngành Bóng đá, Bóng chuyền, Bơi lội…
- Hình ảnh nhà trường được thường xuyên quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo, internet, mạng xã hội… qua việc triển khai thực hiện từ đó giúp học sinh nắm bắt được tình hình đào tạo của Nhà trường để có lựa chọn đăng ký thi vào trường;
- Hàng năm Nhà trường đều có kế hoạch tuyển sinh, trong đó chú ý đến việc quảng bá đến các trường phổ thông trung học, các trung tâm giáo dục thường xuyên, các hiệu trưởng của một số trường trong khu vực miền Trung và Tây Nguyên
2.Khó khăn:
- Hiện tại phần lớn cán bộ, viên chức Nhà trường chưa quan tâm hỗ trợ công tác tuyển sinh, xem công tác tuyển sinh là nhiệm vụ của phòng Đào tạo, QLKH và HTQT
- Đội ngũ làm công tác tuyển sinh vừa ít vừa không có nghiệp vụ: đội ngũ đi tư vấn tuyển sinh thường là lãnh đạo và chuyên viên của một số phòng, khoa, đội ngũ này lại thay đổi hàng năm nên không chuyên nghiệp và chất lượng tư vấn tuyển sinh không cao
Trang 31- Hoạt động quảng bá, tư vấn tuyển sinh được thực hiện theo mùa vụ, thiếu tính thường xuyên, mỗi năm đến mùa tuyển sinh mới lập các nhóm tuyển sinh đi về các địa phương để quảng bá các ngành học và chuyên ngành;
- Công tác tuyển sinh của chúng ta từ trước đến nay chủ yếu là quảng bá về các ngành sẽ tuyển để đào tạo, công tác tư vấn chưa được chú ý nhiều, hình thức quảng
bá, tư vấn tuyển sinh còn đơn điệu, chưa thu hút sự chú ý của học sinh;
- Ngành học chưa đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay từ đó ảnh hưởng đến công tác tuyển sinh;
- Do sự thay đổi về cơ chế chính sách, các trường đại học được thành lập nhiều, điểm chuẩn đầu vào đại học thấp, vì vậy số lượng các thí sinh có nguyện vọng
dự thi vào trường giảm theo từng năm;
- Do có qui định mới về điểm chuẩn của các ngành nên ảnh hưởng đến việc tuyển sinh;
- Nhu cầu học tập một số ngành của trường đào tạo giảm vì ra trường khó tìm việc làm
Công tác tuyển sinh của chúng ta trong những năm gần đây gặp nhiều khó khăn, một số ngành đào tạo không tuyển được sinh viên, tỷ lệ tuyển sinh không cao, giảm so với các năm trước, vì thế việc đổi mới công tác tuyển sinh là hết sức cần thiết
và phải có những giải pháp thích hợp
II Một số giải pháp đổi mới công tác tuyển sinh
1 Xây dựng đội ngũ làm công tác tuyển sinh
Đội ngũ tuyển sinh đóng vai trò hết sức quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và chất lượng công tác tuyển sinh, vì thế cần xây dựng đội ngũ này hết sức
đa dạng gồm những đối tượng sau:
- Bộ phận chuyên trách làm công tác tuyển sinh: Bộ phận chuyên trách tuyển sinh đóng vai trò hết sức quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và chất lượng
về công tác tuyển sinh của nhà trường Bộ phận này sẽ xây dựng và triển khai kế hoạch quảng bá, tư vấn và tuyển sinh tất cả các hệ đào tạo trong nhà trường kể cả chính quy, vừa học vừa làm, liên thông, liên kết, hoạt động suốt năm học; Tuyển sinh quanh năm, năm này sinh viên nhập học thì đội ngũ này đã vạch kế hoạch cho năm tới tiếp theo là công tác tuyển sinh thường xuyên liên tục, tìm mọi cách để đạt mục tiêu Không phải đợi có kế hoạch tuyển sinh mới bắt tay vào làm Ngoài công tác tuyển sinh thì đội ngũ này cũng tìm các đội thuê sân bãi, tổ chức thi đấu cho các giải để đem thu nhập cho nhà trường Bộ phận tham gia công tác tuyển sinh được giảm khối lượng giảng dạy
- Bộ phận cán bộ, viên chức: Công tác tuyển sinh là hoạt động của toàn trường, mọi thành viên trong trường phải có trách nhiệm tham gia, để thực hiện được điều này mỗi cán bộ, viên chức trước hết cần phải nhận thức rằng công việc tham gia tuyển sinh của họ có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của nhà trường vì
Trang 32không có sinh viên đồng nghĩa với việc trường sẽ không hoạt động được và hệ quả là cán bộ, giảng viên sẽ phải giảm Để thực hiện được điều này nhà trường phải có những biện pháp động viên khích lệ, chẳng hạn như giao khoán mức thưởng trên mỗi
hồ sơ khi học sinh, sinh viên do cán bộ, giảng viên vận động đã thực tế vào học hoặc khen thưởng kịp thời trong các ngày lễ, các dịp tổng kết nhằm tạo lên một không khí thi đua, phấn đấu trong mỗi cán bộ, viên chức trong hoạt động tuyển sinh
Mở rộng cộng tác viên công tác tuyển sinh Ví dụ: Sinh viên đang học trường ta nếu giới thiệu được sinh viên vào nhập học nộp học phí thì được trả thù lao công tác cộng tác viên tuyển sinh Với mỗi giảng viên, CBCNV nhà trường công tác tuyển sinh
là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Hàng năm đưa ra chỉ tiêu mỗi GV, CBNV nhà trường phải phấn đấu tuyển sinh được ít nhất 1 sinh viên vào trường, GV, CB nào vượt chỉ tiêu tuyên dương trao thưởng nhằm khuyến khích cho các năm sau Ngoài công tác tuyển sinh viên vào trường, thì việc tìm kiếm tuyển sinh được học viên cao học, các đội thuê sân bãi thì nhà trường cũng nên có các chế độ thù lao cho CBNV đó Với những ưu đãi như vậy, tôi tin chắc rằng công tác tuyển sinh mới được thúc đẩy hơn
Để làm được thì phải có quy định rõ ràng, mỗi GV, CBNV nắm được để họ phấn đấu Ví dụ trích bao nhiêu phần % cho một hợp đồng thuê sân bãi thi đấu các giải hội thao, hay tổ chức một đợt tập huấn đem lại một khoản thu nhập cho nhà trường thì quy định rõ trong quy chế chi tiêu nội bộ
- Bộ phận học sinh, sinh viên: Huy động lực lượng học sinh, sinh viên tham gia công tác tuyển sinh qua việc động viên các em quảng bá các ngành nghề đào tạo và chất lượng đào tạo của nhà trường đến người thân, bạn bè, đồng thời có chế độ khen thưởng cho học sinh, sinh viên vận động được nhiều người vào học ở trường
2 Đa dạng hóa các hình thức quảng bá, tư vấn tuyển sinh
Quảng bá, tư vấn là một trong những biện pháp nhằm đưa thông tin trực tiếp hay gián tiếp đến với đối tượng học sinh và những người có liên quan Muốn vậy, việc quảng bá, tư vấn phải được thực hiện bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng và thường xuyên, qua việc tuyên truyền trên các kênh phát thanh, truyền hình; bằng các pa-nô, áp-phích và đặc biệt là đưa các thông tin trực tiếp đến các đối tượng qua việc
tư vấn qua điện thoại, tư vấn qua email Bởi vì qua các phương tiện thông tin có lúc chưa truyền tải hết tất cả những thông tin chi tiết đối với công tác đào tạo và các thông tin liên quan Hơn nữa, đối tượng học sinh và những người liên quan khác, đôi lúc muốn hiểu thêm các vấn đề về đào tạo thì phải có cán bộ tuyển sinh giải thích trực tiếp mới phát huy hiệu quả
3 Tăng cường công tác quản lý việc dạy và học
Dạy và học là hai hoạt động mà ban đầu chúng ta nghĩ là không có liên quan gì đến công tác tuyển sinh của nhà trường Bởi vì công tác dạy và học nó diễn ra khi mà công tác tuyển sinh đã kết thúc Tuy nhiên nếu suy nghĩ như vậy thì thật là sai lầm,
Trang 33phải nói là công tác quản lý dạy và học để nâng cao chất lượng đào tạo có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả tuyển sinh của nhà truờng Bởi lẽ chúng ta biết rằng những học sinh, sinh viên đang theo học tại trường của chúng ta là những "cán bộ tuyên truyền viên" hết sức quan trọng Những gì đang diễn ra ở trường về chất lượng đào tạo được
họ phản ánh lại với gia đình, bạn bè, người thân từ đó tạo động lực cho học sinh đăng ký dự thi vào trường chúng ta
Vì vậy cần phải quản lý công tác dạy và học ở Nhà trường thật tốt, tạo nhiều ấn tượng đẹp đối với sinh viên thì những ấn tượng đó sẽ được truyền phát ra xã hội ngày càng nhiều
Muốn thực hiện được điều này, Nhà trường cần phải làm tốt những nhiệm vụ sau:
- Đổi mới phương pháp dạy học nhằm tạo hứng thú học tập cho sinh viên
- Xây dựng chương trình đào tạo phù hợp; đồng thời đáp ứng được với nhu cầu của thị trường lao động khi sinh viên tốt nghiệp
- Tăng cuờng công tác quản lý học sinh - sinh viên; phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và phụ huynh để nâng cao chất lượng đào tạo
4 Tăng cường quan hệ với các doanh nghiệp
Một thành phần rất quan trọng có ảnh hưởng đến công tác tư vấn tuyển sinh đó
là các doanh nghiệp, những đơn vị đang hoạt động trên các lĩnh vực có liên quan đến các ngành nghề đào tạo của trường Vì vậy Nhà trường cũng cần phải có sự phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp để họ cùng tham gia hỗ trợ tuyển sinh; tham gia xây dựng chương trình, giáo trình; tham gia đánh giá kết quả học tập của sinh viên khi tốt nghiệp và điều quan trọng là họ sẵn sàng tiếp nhận những sinh viên của Nhà trường sau khi tốt nghiệp vào làm việc trong doanh nghiệp Làm được điều này thì uy tín và thương hiệu của trường ngày càng được nâng lên và từ đó góp phần tích cực trong công tác tư vấn tuyển sinh trong thời gian tới
5 Mở thêm ngành đào tạo, đa dạng hóa các hình thức đào tạo
Mở thêm một số ngành đào tạo mới để thay thế những ngành đào tạo của Nhà trường mà nhu cầu việc làm đã bão hòa; tăng cường phối hợp với các địa phương để đào tạo các lớp ngắn hạn; liên thông, liên kết với các trường đại học trong khu vực để đào tạo hệ đại học, mở rộng quy mô đào tạo Ví dụ mở các chuyên ngành hẹp như Gym, Golf , Lặn biển…
Tóm lại, công tác tuyển sinh là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của Nhà trường Những nội dung trên chỉ mới
là một trong những giải pháp cơ bản Để công tác tuyển sinh thật sự có hiệu quả và chất lượng, Nhà trường cần phải kết hợp và sử dụng bằng rất nhiều biện pháp như cộng sự, liên kết khi đó hiệu quả của công tác tuyển sinh ngày càng tốt hơn
Trang 34THỰC TRẠNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGÀNH
GIÁO DỤC THỂ CHẤT 2018 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐÀO TẠO NGHỀ
NGHIỆP THEO NHU CẦU XÃ HỘI HIỆN NAY
TS Nguyễn Mạnh Cường - TS Phạm Tuấn Hùng
Khoa Giáo dục thể chất
Đặt vấn đề
Khoa Giáo dục thể chất (GDTC) là một đơn vị chuyên môn thuộc Trường Đại
học TDTT Đà Nẵng, một đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch với nhiệm vụ chính trị là đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực trình độ sau đại học, đại học, cao đẳng, trung cấp cũng như tổ chức các hoạt động khoa học, công nghệ trong lĩnh vực thể dục, thể thao trên địa bàn khu vực miền Trung và Tây
Nguyên Thực hiện theo Sứ mệnh của Nhà trường là “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng
cao, có tư duy sáng tạo và chủ động công tác trong lĩnh vực TDTT, thực hiện nghiên cứu khoa học góp phần đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của đất nước và hội nhập quốc tế” [5] và tuân theo
chính sách chất lượng của Nhà trường là tập trung vào việc “Ổn định quy mô, đa dạng hoá loại hình đào tạo; nâng cao chất lượng đào tạo để cung cấp nguồn nhân lực
TDTT có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội ”, Khoa GDTC có
chức năng xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình đào tạo các bậc học nghành GDTC, các chương trình bồi dưỡng ngắn hạn cấp chứng nhận, chứng chỉ theo nhu cầu xã hội và tổ chức nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của khoa [8] Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, trong năm 2018 Khoa GDTC đã hoàn thành và đưa vào
áp dụng giảng dạy chương trình đào tạo ngành GDTC theo định hướng đào tạo nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện nay Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của xã hội như hiện nay, nhằm đáp ứng sát nhất với yêu cầu về đào tạo nghề nghiệp của xã hội, Khoa đã tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng và mức độ đáp ứng của chương trình đào tạo ngành GDTC 2018 với định hướng đào tạo nghề nghiệp theo nhu cầu xã hội để có hướng điều chỉnh chương trình kịp thời và phù hợp
Quy mô đào tạo của ngành GDTC bao gồm 13 chuyên ngành để sinh viên của Trường có thể lựa chọn theo học: Điền kinh, Thể dục, Cờ vua, Bơi lội, Bóng chuyền, Bóng đá, Bóng rổ, Bóng bàn, Bóng ném Cầu lông, Quần vợt và Võ thuật
Với xu thế đào tạo hướng đến nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu
xã hội, nhằm đạt được hiệu quả đào tạo cao nhất, Nhà trường đã tổ chức các hội nghị tổng kết, các hội thảo chuyên đề kết hợp với việc triển khai các đề tài NCKH nhằm đưa ra định hướng kịp thời cho việc cải tiến, bổ sung, cập nhật chương trình đào tạo ngành GDTC của Nhà trường Chương trình đào tạo hiện nay của Khoa
GDTC được xây dựng và áp dụng từ tháng 6/2018 với 127 tín chỉ, cụ thể như sau:
Trang 35Bảng 1 - Nội dung chương trình đào tạo ngành GDTC 2018
BUỘC
TỰ CHỌN TỔNG
1 Khối kiến thức giáo dục đại cương 30 02 32
Nội dung chương trình đào tạo đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về kiến thức và
kỹ năng trong chương trình đào tạo cử nhân GDTC của Bộ GD&ĐT [4]
Song song với việc thực hiện chương trình đào tạo – 2018, Khoa GDTC đã tiến hành khảo sát, đánh giá hiệu quả chương trình đào tạo mang lại về mặt hiệu quả đào tạo và mức độ đáp ứng nghề nghiệp theo nhu cầu xã hội hiện nay Bài tham luận này sẽ đề cập đến 2 vấn đề là thực trạng chương trình đào tạo ngành GDTC 2018 và định hướng đào tạo nghề nghiệp theo nhu cầu xã hội hiện nay
1 Thực trạng công tác đào tạo ngành GDTC của Trường Đại học TDTT
Tương quan giữa chương trình học với yêu cầu phục vụ và phát triển thể
thao quần chúng ở địa phương
Chất lượng đội ngũ giảng viên khoa GDTC
Thực trang cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy và đào tạo
Kết quả công tác đào tạo ngành GDTC
1.1 Tương quan chương trình đào tạo và chương trình GDTC phổ thông
Thông tư số 12/2018/TT-BLĐTBXH ngày 26 tháng 9 năm 2018 đề cập đến sự tương quan các nội dung trong chương trình đào tạo ngành GDTC của Nhà trường với chương trình GDTC của các cấp phổ thông như sau:
Trang 36Bảng 2 - So sánh chương trình GDTC phổ thông với chương trình đào tạo
( + ) Các môn thể thao trong chương trình GDTC mới của Bộ GD&ĐT
(*) Môn thể thao tự chọn trong chương trình đào tạo của Nhà trường
Từ Bảng so sánh trên (Bảng 2), có thể thấy rằng: chương trình đào tạo ngành GDTC đang được giảng dạy tại trường Đại học TDTT Đà Nẵng phong phú hơn và đáp ứng vượt chương trình giảng dạy ở các cấp phổ thông; cụ thể là có đến 16 môn thể thao được đưa vào giảng dạy tại trường Đại học TDTT Đà Nẵng, trong khi chỉ
có 13 môn (bao gồm cả các môn tự chọn) tại trường phổ thông Như vậy, chương trình đào tạo của ngành GDTC hiện nay của Nhà trường đáp ứng được với nội dung chương trình GDTC của Bộ về cả hai phương diện: học chính và ngoại khóa
1.2 Tương quan giữa chương trình học với yêu cầu phục vụ và phát triển thể thao quần chúng ở địa phương
Bên cạnh các môn thể thao được đưa vào giảng dạy nội khóa ở hai hình thức bắt buộc và tự chọn tại các cấp học, một số môn thể thao được đưa vào chương
Trang 37trình Hội khỏe Phù Đổng (HKPĐ) trường học cũng như các giải thể thao quần chúng nâng cao sức khỏe (các giải thi đấu trong chương trình đại hội TDTT ở các địa phương khu vực miền Trung), cho thấy:
Bảng 3 - So sánh các nội dung thi đấu các giải thể thao và các môn thể thao
trong chương trình GDTC Nhà trường [6]
Điền kinh - Điền kinh;
- Chạy việt dã, chạy vũ trang;
Võ thuật (Vovinam, Karatedo), Bóng bàn, Bơi lội, Bóng đá (5 người và 7 người), Bóng rổ Điều đó chứng tỏ rằng hoạt động GDTC trường học không chỉ gói gọn các môn thể thao trong chương trình giảng dạy mà còn được mở rộng hơn ở các hình thức của hoạt động ngoại khóa và thế mạnh của các địa phương Chương trình đào tạo ngành GDTC của trường đã đáp ứng được việc tổ chức tập luyện và cung cấp nhân lực phục vụ hầu hết các môn thể thao được đưa vào các chương trình thi đấu Điều quan trọng là thực tế hàng năm nhiều sinh viên đã và đang học tập tại Nhà trường cũng đã tham gia tích cực vào phong trào thi đấu thể thao ở các địa phương với tư cách là cán bộ tổ chức hay thậm chí là VĐV, điều này một lần nữa khẳng định sự thích nghi và kịp thời trong đáp ứng nhu cầu của xã hội trong lĩnh
Trang 38vực thể thao quần chúng của chương trình đào tạo
Bên cạnh việc so sánh giữa chương trình đào tạo ngành GDTC và các chương trình tương tự như ở trên, việc phân tích hiệu quả công tác đào tạo ngành GDTC cũng phản ánh được thực trạng của chương trình đào tạo
1.3 Chất lượng đội ngũ giảng viên khoa GDTC
- Trình độ, đội ngũ giảng viên khoa đáp ứng về chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong khoa đảm nhận như sau:
Bảng 3- Thống kê chất lượng đội ngũ giảng viên thuộc khoa quản lý về
chương trình đào tạo
Giảng viên tham gia giảng dạy lý thuyết có 35 GV trong đó; PGS 01 chiếm
tỷ lệ 2,8%, Tiến sĩ 07 chiếm tỷ lệ 20%, Thạc sĩ 25 chiếm tỷ lệ 71,4%, Bác sĩ 02 chiếm tỷ lệ 5,7% Giảng viên tham gia giảng dạy thực hành có 65 GV trong đó; PGS 02 chiếm tỷ lệ 3%, Tiến sĩ 24 chiếm tỷ lệ 37%, Thạc sĩ 39 chiếm tỷ lệ 60%,
Cử nhân không có
- Tổ chức thực hiện tốt kế hoạch đào tạo các môn học cho các khoá, lớp hệ chính quy đúng theo kế hoạch, tiến độ của Nhà trường đề ra Trong quá trình thực hiện 100% CBGV đảm bảo tốt mọi nội quy, quy định chung của Nhà trường và Khoa
- Thường xuyên cải tiến về lề lối làm việc, đồng thời quan tâm tạo điều kiện cho cán bộ, giảng viên đi học các lớp bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
- Hàng tuần tổ chức giao ban khoa để triển khai nhiệm vụ và đánh giá kịp thời những kết quả đã làm được và chưa làm được để tiếp tục giải quyết
- Năm học 2018- 2019 các giảng viên trong khoa tham gia tích cực công tác
nghiên cứu khoa học Trong năm có 09 đề tài khoa học và 01 giáo trình đã nghiệm thu Ngoài ra 02 đề tài khác đang triển khai, dự kiến sẽ bảo vệ vào cuối năm 2019 Bên cạnh đó CBGV còn tích cực viết bài đăng trong nội san hàng quý của Nhà trường và tạp chí bên ngoài
- Ngoài ra vận động, khuyến khích toàn thể cán bộ giảng viên trong khoa tham gia tích cực vào các phong trào hoạt động do Nhà trường, Công đoàn Trường
và Đoàn thanh niên tổ chức
1.4 Thực trang cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy và đào tạo
Để hiểu thêm về thực trang cơ sở cật chất phục vụ công tác giảng dạy và ngoại khóa cho sinh viên khoa GDTC trong hoạt động ngoại khóa các môn thể thao được thể hiện qua bảng 4 dưới đây:
Trang 39Bảng 4 – Tổng hợp thực trạng cơ sở vật chất phục vụ hoạt động TDTT trường
Đại học TDTT Đà Nẵng (n=466) [10]
Loại hình sân bãi
dụng cụ
Số lượng
Bể bơi 02 111 23.8 189 40.6 166 35.6 71 15.2 174 37.3 221 42.4 Bàn bóng bàn 08 184 39.5 187 40.1 95 20.4 123 26.4 208 44.6 135 28.9
Tổng 36 1507 26.9 2854 51.0 1231 22.0 1170 20.9 2397 42.8 2025 36.2
Thông qua số liệu phỏng vấn tổng thể của 466 sinh viên cho chúng ta thấy được chất lượng và mức độ đáp ứng cở sở phục vụ cho công tác giảng dạy và ngoại khóa của sinh viên là được thể hiện như sau: Về chất lượng tốt chiếm 26.9%, khá 51.0%, trung bình 22.0%; về mức độ áp ứng đủ chiếm 20.9%, thiếu 42.8%, rất thiếu 36.2%
1.5 Kết quả công tác đào tạo ngành GDTC
Với việc thực hiện chương trình đào tạo hiện hành, kết quả đào tạo ngành GDTC được thể hiện thông qua kết quả học tập và tốt nghiệp của sinh viên trong thời gian qua:
Bảng 5- Kết quả học tập sinh viên ngành GDTC học kỳ I năm học 2018-2019 [3]
Trang 40Bảng 6 - Kết quả học tập sinh viên ngành GDTC học kỳ II năm học 2018-2019 [3]
có kết quả học tập từ Khá trở lên chiếm tỉ lệ cao, chất lượng sinh viên tốt nghiệp qua từng năm học cũng tăng lên
Như vậy, xét về mức độ phù hợp của chương trình đào tạo ngành GDTC Nhà trường trong mối tương quan với chương trình GDTC phổ thông và đặc điểm phát triển thể thao quần chúng của các địa phương trong khu vực cũng như xét theo kết quả đào tạo của Nhà trường trong những năm qua, chương trình đào tạo GDTC hiện hành đã mang lại kết quả khả quan nhất định
Những kết quả trên là sự nỗ lực của Nhà trường nói chung và khoa GDTC nói riêng, cụ thể được biểu hiện ở các mặt sau:
Việc định hướng xây dựng chương trình đào tạo ngành GDTC của trường Đại học TDTT Đà Nẵng luôn căn cứ và bám sát vào chương trình môn học GDTC của Bộ GD & ĐT ban hành;
Hàng năm Nhà trường thường xuyên thực hiện hoạt động khảo sát, thu thập dữ liệu sinh viên ra trường, điều kiện thực tế giảng dạy môn GDTC ở các
trường học (phương pháp giảng dạy, hình thức tổ chức môn học, lựa chọn môn