Một trong số những nỗ lực của chúng ta trong việc quản lý có hiệu quả những nguồn tài nguyên quý giá là sự tham gia vào việc thực thi kế hoạch toàn cầu về bảo tồn và sử dụng bền vững tài
Trang 1TRUNG TÂM TÀI NGUYÊN THỰC VẬT
THIẾT LẬP CƠ CHẾ CHIA SẺ THÔNG TIN QUỐC GIA VIỆC THỰC HIỆN KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG TOÀN CẦU
VỀ BẢO TỒN VÀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN DI TRUYỀN THỰC VẬT NÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
Những người thực hiện:
PGS.TS Lưu Ngọc Trình,
KS Nguyễn Tiến Hưng,
CN Hoàng Gia Trinh Ths Phạm Hùng Cương,
TS Phạm Thị Sến
Tháng 10 - 2006
Trang 2Danh sách các từ viết tắt
BĐH Ban điều hành
CCCSTT Cơ chế chia sẻ thông tin quốc gia
CCCSTT-KHTC Cơ chế chia sẻ thông tin quốc gia để thực thi kế hoạch hành động
toàn cầu ĐMQG Đầu mối quốc gia
FAO Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hiệp quốc
IPGRI Viện Tài nguyên di truyền thực vật quốc tế
KHKTNN Khoa học kỹ thuật nông nghiệp
KHTC Kế hoạch hành động toàn cầu
PTNT Phát triển nông thôn
NGO Tổ chức phi chính phủ
PGR-IZ Vùng quan trọng về tài nguyên di truyền thực vật (Plant Genetic
Resources Important Zone)
SH Bên liên quan/ tham gia, bao gồm các tổ chức, cơ quan, cá nhân
TNDTTV Tài nguyên di truyền thực vật
TNDTTVNN Tài nguyên di truyền thực vật nông nghiệp
TNMT Tài nguyên và Môi trường
TTGD Thông tin, truyền thông và giáo dục
TTTNTV Trung tâm Tài nguyên Thực vật
Trang 3MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU 4
II KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CCCSTT 6
2.1 GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ 6
2.2 GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN 6
2.3 GIAI ĐOẠN BÁO CÁO 8
III PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ CÁC KẾT QUẢ 8
3.1 BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN NỘI VI TNDTTVNN 8
3.2 BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN NGOẠI VI TNDTTVNN 15
3.3 SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN DI TRUYỀN THỰC VẬT NÔNG NGHIỆP 17
3.4 XÂY DỰNG TỔ CHỨC VÀ NĂNG LỰC 20
IV KẾ HOẠCH DUY TRÌ VÀ CẢI TIẾN CCCSTT 24
V NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ QUÁ TRÌNH THIẾT LẬP CCCSTT 24
VI PHỤ LỤC 26
Trang 4LỜI GIỚI THIỆU
Do những đặc điểm về địa hình, địa lý, sinh thái và lịch sử của đất nước, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có nguồn tài nguyên di truyền thực vật
đa dạng, phong phú và triển vọng nhất thế giới Những điều kiện về khí hậu cũng giúp phát triển cả hai vùng cây ôn đới và nhiệt đới, cộng với thực tế canh tác nông nghiệp hàng ngàn năm của 54 nhóm dân tộc anh em đã làm giàu thêm nguồn tài nguyên di truyền thực vật với vô số những cây trồng địa phương và các chủng loại đất cũng như các đặc tính nông học đặc biệt, quý giá của chúng Thêm vào đó, Việt Nam cũng là một trong những trung tâm đầu nguồn của rất nhiều các loại cây khác nhau, tạo ra những giá trị nông nghiệp và xã hội trong sự đa dạng về các chủng loại cây cùng họ, các cây dại
Cùng với sự nâng cao nhận thức về giá trị và tầm quan trọng của chúng, Trung tâm TNDTTV đã và đang bắt tay vào việc bảo tồn, phát triển và sử dụng nguồn tài nguyên này vì mục tiêu phát triển kinh tế xã hội bền vững Một trong số những nỗ lực của chúng ta trong việc quản lý có hiệu quả những nguồn tài nguyên quý giá là sự tham gia vào việc thực thi kế hoạch toàn cầu về bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên di truyền thực vật đối với lương thực, nông nghiệp thông qua việc tham gia vào các dự án GCP/RAS/186/JPN có tên là: “Triển khai kế hoạch toàn cầu về bảo tồn
và sử dụng bền vững tài nguyên di truyền thực vật nông nghiệp ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương” Trong khung chương trình của dự án, một cơ chế chia sẻ thông tin
đã được thiết lập, những ưu tiên quan trọng nhất cũng đã được đưa ra Việc bảo tồn và
sử dụng bền vững tài nguyên di truyền thực vật Việt Nam là mối quan tâm của cả các thế hệ hiện tại và tương lai của đất nước cũng như nhân loại toàn cầu Bản Báo cáo Tổng hợp cuối cùng này về việc thực thi dự án tại Việt Nam sẽ minh hoạ những nỗ lực
to lớn của các bên tham gia Việt Nam cũng như sự hợp tác quốc tế trong việc bảo tồn
và sử dụng bền vững tài nguyên di truyền thực vật toàn cầu
Cuối cùng chúng tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới chính phủ Nhật Bản về việc tài trợ cho chương trình, lời cảm ơn tới tổ chức Nông Lương Quốc tế với
sự trợ giúp về kỹ thuật Đặc biệt cảm ơn tiến sĩ: N.Quat.Ng, cố vấn kỹ thuật cao cấp,
về mọi sự giúp đỡ của ngài trong suốt quá trình thực thi dự án
TS Phạm Thị Sến1PGS TS Lưu Ngọc Trình2
1
Trưởng Phòng Kế hoạch Khoa học và Hợp tác quốc tế, Trung tâm Tài nguyên thực vật
Trang 5I MỞ ĐẦU
Để điều phối hiệu quả những nỗ lực của các quốc gia trong khu vực vì mục tiêu chung là tăng cường an ninh lương thực và phát triển kinh tế xã hội, giảm đói nghèo và phát triển nông nghiệp bền vững thông qua bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên di truyền thực vật nông nghiệp (TNDTTVNN), một dự án hợp tác đã được ký kết thực hiện giữa Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hiệp quốc (FAO) và bẩy nước khu vực châu Á Các nước thành viên là: Băngladet, Ấn Độ, Malaisia, Philipin, Sri Lanka, Thái lan và Việt Nam Dự án GCP\RAS\186\JPN có tên là “Triển khai kế hoạch hành động toàn cầu (KHTC) để bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên di truyền thực vật nông nghiệp ở khu vực châu Á và Thái Bình Dương” Dự án được triển khai với sự tham gia của các đối tác quốc gia và với sự cộng tác của các tổ chức và mạng lưới trong khu vực và quốc tế Các mục tiêu của dự án bao gồm: (1) Thúc đẩy việc thực hiện 20 lĩnh vực hoạt động ưu tiên của kế hoạch hành động toàn cầu (KHTC)
về bảo tồn và sử dụng bền vững TNDTTVNN; và (2) Góp phần thành lập một cơ chế giám sát liên tục việc triển khai KHTC ở cấp quốc gia và khu vực, thành lập cơ chế thu thập và chia sẻ thông tin, cũng như để thiết lập các ưu tiên cho việc thực hiện KHTC Những mục tiêu trên sẽ đạt được thông qua: (a) Đánh giá toàn diện hiện trạng TNDTTVNN của quốc gia và khu vực, nhằm xác định các nhu cầu và những chiến lược bảo tồn và sử dụng hiệu quả TNDTTVNN; (b) Thành lập cơ chế chia sẻ thông tin quốc gia để triển khai KHTC (CCCSTT-KHTC) nhằm điều phối hiệu quả các kế hoạch và các hoạt động bảo tồn và sử dụng TNDTTVNN của các các cơ quan trong nước, và cũng để đạt được mục tiêu (a); (c) Đào tạo và xây dựng năng lực để phát triển các Chương trình Quốc gia về TNDTTVNN; (d) Chia sẻ kinh nghiệm về bảo tồn nội
vi (in situ) và quản lý trên đồng ruộng (on-farm) TNDTTVNN; và (e) Tăng cường quan hệ hợp tác trong khu vực
Theo thư thoả thuận ký kết ngày 04/5/2004 giữa FAO-RAP và Trung tâm Tài nguyên Di truyền Thực vật, Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam (nay là Trung tâm Tài nguyên Thực vật, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam), với tư cách
là Đầu mối Quốc gia, Việt Nam đã trở thành một trong những nước đầu tiên tham gia triển khai dự án GCP\RAS\186\JPN Việc xây dựng Cơ chế chia sẻ thông tin (CCCSTT) nói riêng và tăng cường chương trình quốc gia nói chung về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng TNDTTVNN là rất cần thiết đối với Việt Nam, một một trong
8 trung tâm đầu nguồn về đa dạng sinh học của thế giới Chính phủ Nhật Bản thông qua các dự án GCP/RAS/186?JPN sẽ là nhà tài trợ chính cho các hoạt động này
Với vai trò là Đầu mối Quốc gia (ĐMQG), Trung tâm Tài nguyên Thực vật có nhiệm vụ điều phối quá trình thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin để triển khai kế hoạch hành động toàn cầu (CCCSTT-HTC) với các mục tiêu cụ thể sau:
• Tăng cường năng lực quốc gia về điều tra và đánh giá hiện trạng tài nguyên di truyền thực vật và giám sát việc triển khai KHTC, bao gồm diễn biến thực trạng của TNDTTVNN qua thời gian và xác định nhu cầu và những hoạt động ưu tiên
• Tăng cường năng lực quốc gia trong việc đưa ra quyết sách cho công tác bảo tồn và sử dụng bền vững TNDTTVNN của đất nước, bao gồm cả việc xác lập
ưu tiên và phân bổ nguồn lực
• Thiết lập một cơ chế cấp quốc gia về thu thập và chia sẻ thông tin nhằm điều phối hiệu quả các kế hoạch và hoạt động về bảo tồn và sử dụng bền vững
Trang 6TNDTTVNN giữa các đối tác trong nước và khu vực, nhằm đạt được những mục tiêu đã kể ở trên
• Nâng cao nhận thức và hiểu biết của các bên liên quan về thực trạng tài nguyên
di truyền thực vật của đất nước, xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa các bên
• Tăng cường năng lực quốc gia để hoàn thành những yêu cầu về báo cáo quốc tế như báo cáo việc thực hiện KHTC, báo cáo lần thứ hai về tình trạng TNDTTVNN trên thế giới v.v, và để công bố kết quả hoạt động của quốc gia trên trường thế giới
Quá trình thành lập CCCSTT, kết quả và những nhận định được trình bày nhắn gọn trong báo cáo phân tích này
II KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CCCSTT
Việc thiết lập CCCSTT được tiến hành qua ba giai đoạn: chuẩn bị, thực hiện và báo cáo Với sự tham gia của các tổ chức, cơ quan và các bên hữu quan trên toàn quốc, CCCSTT được thiết lập trên cơ sở có sự tham gia, thông tin từ nhiều cơ quan, tổ chức,
cá nhân, và những quan điểm của họ được tham khảo, xem xét, phân tích và tổng hợp 2.1 Giai đoạn chuẩn bị
Sau khi ký kết thư thoả thuận với FAO-RAP, Trung tâm Tài nguyên Di truyền Thực vật, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, với vai trò là đầu mối quốc gia (ĐMQG), bắt đầu tiến hành xem xét các dữ liệu và thông tin sẵn có, và tiếp xúc với các bên hữu quan, như Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường .để được quan tâm hỗ trợ và để xin phép cho các hoạt động của dự án được triển khai Trung tâm cũng tiến hành thảo luận với nhiều thành viên trong hệ thống bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật của quốc gia và với một số viên chức chính phủ để thống nhất về đường lối chỉ đạo và chính sách chia sẻ thông tin trong cả nước Các bên hữu quan đã thống nhất một thoả thuận về thành lập cơ chế chia sẻ thông tin quốc gia về TNDTTVNN phục vụ triển khai kế hoạch toàn cầu (CCCSTT-KHTC)
Cơ quan đầu mối, Trung tâm Tài nguyên Di truyền Thực vật, đã phác thảo một
kế hoạch hành động để thành lập CCCSTT để thảo luận tại hội nghị lần thứ nhất giữa các bên, hội nghị này dự kiến được tổ chức vào tháng 6 năm 2004 Để chuẩn bị cho hội nghị, ĐMQG cũng xây dựng 1 kế hoạch và chương trình nghị sự cho hội nghị Nhóm công tác của dự án thuộc Phòng Quản lý Dữ liệu và Thông tin của TTTNDTTV
đã biên dịch sang tiếng Việt các biểu mẫu của dự án và cấp cho các đơn vị để thu thập thông tin và làm báo cáo Các biểu mẫu này dùng để giám sát việc thực hiện kế hoạch toàn cầu và đã được FAO và IPGRI xây dựng từ tháng 2 năm 2002 với sự tham gia của 1 nhóm các chuyên gia
Có tổng số khoảng 60 cơ quan, tổ chức hữu quan trong nước tham gia vào quá trình thiết lập CCCSTT và thực hiện các lĩnh vực hoạt động ưu tiên khác của KHTC (phụ lục 1) Trong khuôn khổ của dự án, những nhu cầu về vật tư của các các cơ quan này được xác định và một số các vật tư và phần mềm đã được cấp phát để đáp ứng yêu cầu tối thiểu cho việc thành lập CCCSTT
2.2 Giai đoạn thực hiện
Giai đoạn này bao gồm việc tổ chức các hội nghị các bên hữu quan (SH); thu thập, tập hợp, chỉnh lý và phân tích dữ liệu; báo cáo; và xây dựng một trang web về CCCSTT-KHTC Trung tâm đầu mối quốc gia, với sự trợ giúp của Cố vấn kỹ thuật
Trang 7của Dự án, Tiến sĩ N Quat Ng., đã xây dựng các kế hoạch hoạt động cho giai đoạn này Các hoạt động của giai đoạn này được triển khai qua các bước như sau:
Bước 1
Thực hiện kế hoạch đã xây dựng ở giai đoạn chuẩn bị, hội nghị các bên hữu quan lần thứ nhất đã được tổ chức trong 2 ngày 7 - 8 tháng 6 năm 2004 tại Trung tâm Tài nguyên Di truyền Thực vật, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, An Khánh, Hoài Đức, Hà Tây với sự tham gia của 67 đại diện của 53 tổ chức và cơ quan trong nước, và 2 đại biểu của FAO
Tại hội nghị, tầm quan trọng của CCCSTT đã được nhấn mạnh, Tiến sĩ Lưu Ngọc Trình, Giám đốc Trung tâm Tài nguyên Di truyền Thực vật và Tiến sĩ N.Quat
Ng, cố vấn cao cấp của dự án đã trình bày tóm tắt mục tiêu của kế hoạch hoạt động toàn cầu; Chiến lược thiết lập CCCST và các kế hoạch làm việc đã được hội nghị thảo luận và thông qua; Cũng tại hội nghị, vai trò và trách nhiệm của các bên trong quá trình xây dựng CCCSTT cũng đã được xác định Hội nghị cũng đã nhất trí cao vai trò
và trách nhiệm của Trung tâm Tài nguyên Di truyền Thực vật, Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam với vai trò Đầu mối quốc gia (NFP) Thêm vào đó, một uỷ ban điều hành dự án đã được lập lên do Tiến sĩ Tạ Minh Sơn, Giám đốc Viện KHKTNN Việt Nam làm Trưởng Ban, Tiến sĩ Lưu Ngọc Trình, Giám đốc Trung tâm Tài nguyên
Di truyền Thực vật, Phó Ban
Trong Hội nghị, các cán bộ của trung tâm đầu mối đã giới thiệu và hướng dẫn
về các biểu mẫu, các yêu cầu và phần mềm ứng dụng máy tính để thu thập và tổng hợp thông tin Để khảo sát năng lực và cơ sở vật chất của các bên trong việc thiết lập CCCSTT, một bảng câu hỏi đã được phát cho các đại biểu để trả lời Dựa trên các kết quả thu được, dự án đã xác định được các nhu cầu và các giải pháp cho từng cơ quan cũng như việc đưa ra các hoạt động trợ giúp trong quá trình thu thập và tổng hợp dữ liệu, thông tin, bao gồm cả việc đào tạo sử dụng phần mềm máy tính, (xem thêm chi tiết về nội dung và kết quả của hội nghị lần 1 trong báo cáo kỹ thuật của hội nghị này, phụ lục 2)
Ngay sau hội nghị lần 1, các bên tham gia bắt tay vào thu thập và tổng hợp số liệu của mình theo các biểu mẫu đã được phát Thời hạn giao nộp thông tin cho cơ quan đầu mối là 2 tuần trước khi hội nghị lần hai diễn ra Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau như thiếu trang thiết bị máy tính và nhân lực, một số cơ quan đã không thể hoàn thành công việc đúng thời gian như đã thống nhất tại hội nghị 1, điều này dẫn đến khó khăn cho Trung tâm đầu mối trong việc tổng hợp, chỉnh lý và phân tích dữ liệu Hơn nữa, trong một số trường hợp, ĐMQG phải làm các phần việc của các cơ quan để thu thập dữ liệu và thông tin
Bước 2
Hội nghị các bên hữu quan lần thứ 2 được tổ chức tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, tại Thanh Trì, Hà Nội từ ngày 23 – 24 tháng 11 năm 2004 Tại hội nghị này, các hoạt động đã thực hiện trong các giai đoạn trước được xem xét và đánh giá, rút kinh nghiệm, các dữ liệu và thông tin do các bên cung cấp được bổ xung
và chỉnh lý Cho đến khi tổ chức hội nghị lần 2, mới chỉ có 16 đơn vị cung cấp dữ liệu, thông tin cho Trung tâm đầu mối Các thành viên tham dự hội nghị đã chia sẻ kinh nghiệm và thảo luận những khó khăn vướng mắc mà họ đã gặp phải trong quá trình thu thập, hệ thống thông tin và trong việc làm báo cáo Do FAO có những cải tiến nâng cấp phần mềm máy tính của CCCSTT, tại hội nghị lần 2, các cán bộ phòng Quản
Trang 8lý dữ liệu và Thông tin của trung tâm đầu mối tiếp tục hướng dẫn các đại biểu sử dụng phần mềm phiên bản 3.4, hướng dẫn cụ thể cách nhập thông tin vào các bảng biểu và cách trả lời các câu hỏi, (ĐMQG đã cấp cho mỗi đơn vị một đĩa CD ghi phần mềm CCCSTT và dữ liệu của họ vừa mới nhập được) Hội nghị cũng đã thống nhất thời gian để các bên hoàn thiện việc cung cấp thông tin, dữ liệu cho trung tâm đầu mối, và
dự kiến nội dung, địa điểm và thời gian tổ chức hội nghị lần cuối, hội nghị lần thứ 3 các bên tham gia, vào cuối tháng 3 năm 2005 (Xem thêm chi tiết báo cáo đầy đủ của hội nghị lần 2 trong phụ lục 3
Ngay sau hội nghị 2, nhiều cơ quan đã chủ động công việc và đã hoàn thành việc tập hợp, chỉnh lý và phân tích thông tin dữ liệu và chuẩn bị các báo cáo gửi trung tâm đầu mối đúng thời hạn Tuy vậy, một số cơ quan khác vẫn chưa chủ động tiến hành công việc; một số khác không hiểu rõ những loại dữ liệu gì cần phải thu thập và cung cấp, một số khác nữa cung cấp thông tin không đầy đủ hoặc không đúng với yêu cầu Đó chính là nguyên nhân nhiều đơn vị không cung cấp thông tin, dữ liệu đúng thời hạn, gây khó khăn cho trung tâm đầu mối trong việc tổng hợp và phân tích dữ liệu
và viết báo cáo tổng hợp Để khắc phục vấn đề này, trung tâm đầu mối đã phải tiến hành nhiều chuyến đi dài ngày để làm việc trực tiếp với một số cơ quan để thu thập và chỉnh lý và tổng hợp thông tin
Bước 3
Tiếp theo 2 bước đầu, dữ liệu và thông tin do các cơ quan hữu quan cung cấp được tổng hợp và phân tích, và dựa trên các kết quả của 2 hội nghị trước, trung tâm đầu mối soạn thảo sơ bộ một bản báo cáo tổng hợp để trình bày tại hội nghị cuối cùng, hội nghị lần thứ 3, để các bên cùng thảo luận và cho ý kiến (Theo kế hoạch của dự án, cùng với sự trợ giúp của Tiến sĩ S Diulgheroff, một website về CCCSTT-KHTC sẽ được xây dựng và hoạt động sau khi tất cả dữ liệu được tổ hợp, chỉnh lý và cập nhật bổ sung)
Hội nghị cuối cùng các bên tham gia được tổ chức tại Trung tâm Tài nguyên thực vật, An khánh, Hoài Đức, Hà Tây trong thời gian 2 ngày, 29 và 30/3/2006, với sự tham dự của 60 đại diện các bên tham gia, (báo cáo kỹ thuật của hội nghị này được trình bày trong phụ lục 4)
2.3 Giai đoạn báo cáo
Bản thảo báo cáo phân tích tổng kết do trung tâm đầu mối chuẩn bị được trình bày tại hội nghị lần thứ 3 các bên tham gia để thảo luận và lấy ý kiến đóng góp của các bên, sau đó Trung tâm đầu mỗi sẽ tổng hợp các ý kiến và hoàn chỉnh bản báo cáo chính thức Như vậy, báo cáo phân tích này được hoàn thiện với sự tham gia của các bên, những đề xuất, bình luận và quan điểm của họ được cân nhắc và lồng ghép một cách thích đáng cũng như với sự xem xét và ủng hộ của Ban điều hành Dự án
III PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ CÁC KẾT QUẢ THU ĐƯỢC
3.1 Bảo tồn và phát triển nội vi TNDTTVNN
Những nỗ lực quốc gia để bảo tồn nội vi TNDTTVNN được thể hiện bởi con số đáng kể các dự án được thực hiện trong những năm qua Theo báo cáo của các cơ quan, những nỗ lực này tập trung vào một trong những vấn đề sau:
3.1.1 Điều tra và kiểm kê TNDTTVNN:
tổng số 50 đề tài/hoạt động tập trung điều tra trên một số vùng bởi 25 cơ quan khác
Trang 9nhau (phụ lục 5)
Do các đặc điểm địa hình phức tạp và do thiếu thốn cả về nguồn tài chính lẫn
kỹ thuật, TNDTTVNN ở Việt Nam vẫn chưa được điều tra và nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống Tuy nhiên, số liệu điều tra ban đầu đã cho thấy Việt Nam có sự phong phú và đa dạng cao về TNDTTVNN, phân bố ở khắp các hệ sinh thái trên khắp các miền đất nước Tài nguyên di truyền thực vật của nước ta không chỉ phong phú về loài mà còn cả về đa dạng di truyền Việt Nam được biết đến như là một trung tâm phát sinh nhiều loài cây trồng như lúa gạo, khoai môn sọ, chuối, mít, xoài, dừa, chè, hành ta và các giống cây ăn quả có múi Con số đáng kể các loài mới được phát hiện gần đây (phụ lục 6) đã một lần nữa khảng định sự phong phú và đa dạng nguồn tài nguyên di truyền thực vật của đất nước
Theo số liệu điều tra ban đầu, có đến hơn 800 loài cây trồng phổ biến tại các hệ sinh thái nông nghiệp khác nhau trên cả nước, trong đó phổ biến nhất bao gồm 41 loài cây tinh bột làm lương thực, 95 loài cây thực phẩm không tinh bột, 105 loài cây ăn quả, 55 loài rau, 44 loài cây lấy dầu, 16 loài lấy sợi, 12 loài làm đồ uống, 181 loài làm thuốc, 39 loài làm gia vị, 29 loài làm cây che phủ chống xói mòn, 50 loài cây cảnh, 49 loài cây lấy gỗ, và 5 loài cây bóng mát, số lượng các loài thực vật có quan hệ họ hàng với cây trồng là khoảng trên 1.300 loài, trong đó có nhiều loài đã và đang bị lãng quên, ngoài ra còn rất nhiều loài thực vật có giá trị nông nghiệp chưa được khai thác sử dụng nhiều Kết quả điều tra cũng cho thấy số loài cây bị đe doạ rất nhiều và ngày càng tăng, (sách đỏ Việt Nam, và phụ lục 8)
Theo các báo cáo của các đơn vị, TNDTTVNN ở nước ta bị đe doạ bởi nhiều yếu tố, dưới đây là một số nguyên nhân chính:
- Tốc độ phát triển nhanh của các giống mới và thay đổi cơ cấu mùa vụ;
- Những tác động khác của con người, bao gồm sự phá huỷ và khai thác không hợp lý tài nguyên đất và rừng, công nghiệp hoá, đô thị hoá;
- Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá và phát triển kinh tế thị trường
- Quá trình phát triển kinh tế thị trường;
- Thiên tai, sâu bệnh và các điều kiện ngoại cảnh bất lợi;
- Quản lý lỏng lẻo, không chặt chẽ
Nhận thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu toàn diện TNDTTVNN, Chính phủ Việt Nam đã đưa vào tầm nhìn đa dạng sinh học quốc gia đến năm 2020 và
kế hoạch hành động 5 năm 2006-2010, ưu tiên điều tra tài nguyên di truyền thực vật nói chung và tài nguyên di truyền thực vật nông nghiệp nói riêng, nhằm xác định những loài cần ưu tiên bảo tồn và để xây dựng chiến lược bảo tồn và phát triển chúng cho sử dụng bền vững
3.1.2 Hỗ trợ việc quản lý và phát triển trên đồng ruộng TNDTTVNN:
23 hoạt động được 16 cơ quan triển khai với sự tham gia của khoảng 15.000 lượt cán bộ địa phương và nông dân Các mục tiêu chính:
Tăng cường cơ sở khoa học về bảo tồn trên đồng ruộng đa dạng sinh học nông nghiệp thông qua 3 mục tiêu cụ thể: (1) hỗ trợ xây dựng cơ sở lý luận phục vụ quá trình ra quyết định của nông dân về bảo tồn nội vi đa dạng sinh học nông nghiệp; (2) tăng cường năng lực của các cơ quan trong việc lập kế hoạch và triển khai các chương trình bảo tồn TNDTTVNN; và (3) mở rộng việc sử dụng TNDTTVNN, và thúc đẩy sự tham gia của các cộng đồng nông dân và các tổ chức, ngành nghề khác
Trang 10trong công tác bảo tồn TNDTTVNN
Để đạt được các mục tiêu trên, công tác điều tra đã được tiến hành, và căn cứ vào kết quả điều tra, một số vùng và tiểu vùng đại diện cho các vùng sinh thái khác nhau đã được lựa chọn để xây dựng mô hình bảo tồn TNDTTVNN trên đồng ruộng Thông thường, vùng là các huyện và tiểu vùng là các xã, thôn bản với những đặc tính
về nông nghiệp, xã hội, kinh tế và điều kiện tự nhiên, vừa đặc trưng vừa đại diện cho vùng sinh thái Trong từng tiểu vùng, các hộ nông nghiệp được lựa chọn để nghiên cứu các khía cạnh về sinh học, kinh tế và xã hội liên quan đến TNDTTVNN nhằm để xây dựng các mô hình bảo tồn trên đồng ruộng Các hoạt động đã đạt được một số những kết quả đáng kể, các mô hình bảo tồn trên đồng ruộng của hộ gia đình đã được thiết lập cho lúa và khoai môn sọ tại các điểm đã lựa chọn, bao gồm:
Châu thổ sông Mê Kông:
- Các thôn Trà Kha và Rồng Lớn thuộc xã Đại An, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
Vùng Tây Nguyên:
- Huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế,
- Huyện Krông Nô, tỉnh Đắc Lắc
Thông qua một số dự án, nông dân đã được hỗ trợ về kỹ thuật và một phần kinh phí để khôi phục, thử nghiệm, nhân giống và phát triển những giống cây trồng cải tiến khác Kết quả là những giống cây trồng cổ truyền có giá trị không những được duy trì
mà còn được phục hồi và phát triển; một số đáng kể các giống địa phương của các loài cây trồng như lúa, ngô, rau và đậu đỗ với những đặc tính quý và được ưa chuộng đã được phục tráng và trồng trong sản xuất với qui mô lớn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng Kiến thức bản địa liên quan đến bảo tồn và phát triển TNDTTV cũng được quan tâm nghiên cứu tại các điểm đã lựa chọn
Tăng cường vai trò của vườn gia đình trong việc bảo tồn nội vi TNDTTVNN thông qua: (1) tư liệu hoá đa dạng về loài và đa dạng di truyền thực vật trong vườn gia đình, nghiên cứu các yếu tố sinh học, văn hoá và xã hội ảnh hưởng đến
sự phân bố và duy trì sự đa dạng đó; (2) xây dựng phương pháp và cách tiếp cận để vườn gia đình trở thành một hợp phần của bảo tồn đa dạng sinh học nông nghiệp; và (3) phát triển chiến lược “bảo tồn thông qua sử dụng” như là một phần của bảo tồn ngoại vi và nội vi
Để thu được kết quả tốt nhất, các điểm đại diện cho các hệ sinh thái khác nhau
đã được lựa chọn làm điểm nghiên cứu của dự án, Các điểm này còn phải có vườn gia đình phong phú và đa dạng về tài nguyên di truyền thực vật, có các hộ gia đình giầu
Trang 11kinh nghiệm làm vườn Các loài thực vật phổ biến, phân bố rộng rãi trong vườn gia đình, các loài cây đặc hữu, đa dạng di truyền cao, có giá trị kinh tế xã hội lớn, có vai trò quan trọng trong sinh kế hộ gia đình, đồng thời lại có thể được bảo tồn và sử dụng bền vững, đã được chọn làm những loài tiêu biểu để dự án nghiên cứu, bao gồm chuối, bưởi, mướp, khoai môn sọ … Các vấn đề về giới tính liên quan đến bảo tồn và phát triển TNDTTVNN trong vườn gia đình cũng được quan tâm nghiên cứu
Các điểm lựa chọn bao gồm:
- Huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương, đại diện cho đồng bằng phía Nam
- Huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định, đại diện cho đồng bằng phía Bắc
- Huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình và huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La đại diện cho vùng núi phía Bắc
- Huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An đại diện cho vùng đồi núi Bắc Trung bộ
Các nhóm cây được chọn nghiên cứu theo mục đích sử dụng gồm:
- Cây rau: mướp, cà, bí ngô, đậu đỗ, rau dền, đậu đũa, bầu, cải bắp, cà rốt, su lơ, cải ăn lá, hành tỏi, bí xanh, dưa chuột, đậu ván, su hào, rau diếp v.v;
- Cây gia vị: húng bạc hà, cây rau mùi, húng dũi, rau ngổ, cây thì là, riềng, tỏi ta, giấp cá, húng quế, mùi tây v.v;
- Cây ăn quả: vải, nhãn, chuối, xoài, đu đủ, các cây họ citrus, mít, kaki, quất, dưa, dâu tằm, đào, mận
- Các cây có củ: khoai môn sọ, từ vạc, dong giềng, khoai tây, khoai lang v.v.;
- Các cây làm thuốc: trầu không, húng chanh, đơn lá đỏ, mướp đắng, sâm, ích
mẫu, ngải cứu, cỏ gấu,…, and
- Cây cảnh: hoa mào gà, đa, hoa giành giành, sen, súng trắng, sung cảnh, hoa
hồng
Bảo tồn trên đồng ruộng tài nguyên di truyền cây lúa ở cộng đồng thông qua việc: (1) Thu thập nguồn gen lúa địa phương, bản địa để bảo tồn nhằm ngăn ngừa việc mất mát do cơ giới hoá và thâm canh nông nghiệp; (2) Khởi xướng các hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên di truyền cây lúa tại cộng đồng; và (3) Hỗ trợ nông dân bảo tồn các giống lúa địa phương trên đồng ruộng của họ
Riêng tại lưu vực sông Mê Kông, khoảng 1.000 nguồn gen lúa địa phương đã được thu thập Sau khi loại bỏ trùng lặp, còn lại 812 nguồn gen đưa vào bảo quản và đánh giá tại Trường Đại học Cần Thơ, trong đó 517 giống đã được phổ biến trở lại cho nông dân trồng và đánh giá trong các điều kiện sinh trưởng khác nhau Nông dân tại các vùng được chọn đã được hỗ trợ để trồng, bảo tồn các giống lúa truyền thống trên cánh đồng của họ Kết quả là nhiều giống địa phương không những được bảo tồn mà còn được phát triển, và nhờ vậy phương pháp “Bảo tồn thông qua sử dụng” đã được khởi xướng
Thúc đẩy công tác quản lý trên đồng ruộng tài nguyên di truyền thực vật với sự tham gia của cộng đồng thông qua điều tra, khảo sát đa dạng sinh học nông nghiệp tại các vùng được chọn; phục hồi đa dạng của một số loài nhằm bảo vệ môi trường tại các vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau; tăng cường đa dạng loài cây trồng trong các cơ cấu mùa vụ; và đa dạng hoá cây trồng và các hệ sinh thái Bằng việc
hỗ trợ cộng đồng tiếp cận các nguồn giống cây địa phương và trao đổi kiến thức bản địa, các dự án đã thúc đẩy việc tham gia của nông dân vào công tác bảo tồn và sử dụng
Trang 12các nguồn gen thực vật không có giá trị cao về kinh tế nhưng mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng Đây chính là cơ sở để phát triển công tác bảo tồn và phát triển nội
vi TNDTTVNN, kể cả đối với các loài hoang dại có quan hệ gần gũi với cây trồng Thành tựu nổi bật nhất của các hoạt động này là đã xây dựng thành công qui trình nhân giống cho một số loài cây ăn quả, và đã phổ biến các kỹ thật canh tác cải tiến cho một số giống cây truyền thống Nhân dân trong vùng dự án do vậy đã có thể duy trì và phát triển các nguồn gen di truyền có giá trị trên đồng đất của họ mà vẫn cải thiện được thu nhập của gia đình Dự án cũng đã xây dựng một số vườn ươm gọi là “vườn ươm cộng đồng”, tại đó gốc ghép cây ăn quả sạch bệnh được sản xuất và cung cấp cho nông dân trong vùng
Tổng số điểm bảo tồn trên đồng ruộng TNDTTVNN là 21, danh sách các điểm này có trong phụ lục 9
Tuy vậy, việc bảo tồn trên đồng ruộng TNDTTVNN ở Việt Nam vẫn còn những hạn chế cơ bản như sau:
- Số lượng các mô hình và các điểm bảo tồn phát triển TNDTTVNN trên đồng ruộng còn ít, không đa dạng và không được nhân rộng; ngoài các điểm được hình thành bởi các dự án không có các điểm nào khác được cộng đồng và các địa phương xây dựng Hơn nữa, một số các điểm bảo tồn trên đồng ruộng đã không được duy trì sau khi các dự án kết thúc
- Đầu tư cho việc xây dựng năng lực và nâng cao nhận thức cho nông dân, cán bộ nòng cốt và các tổ chức cơ sở còn hạn chế dẫn đến kết quả là chi phí đầu tư cao
3.1.3 Hỗ trợ nông dân phục hồi các hệ thống nông nghiệp sau khi gặp thảm hoạ
Sự tham gia của nông dân trong việc phục hồi các hệ thống nông nghiệp cũng
đã được đẩy mạnh thông qua nhiều hoạt động của các dự án khác nhau thực hiện bởi các tổ chức và chính quyền địa phương và quốc gia, với sự tài trợ của các tổ chức trong nước, và quốc tế, kể cả các tổ chức phi chính phủ Đáng kể nhất là các dự án phục hồi rừng đầu nguồn khu vực thủy điện Hòa Bình và dự án hỗ trợ nông dân trong vùng ngập lụt khu vực duyên hải trung bộ để phục hồi hệ thống sản xuất nông nghiệp Trong những vùng có nguy cơ cao về xói mòn đa dạng sinh học, một số hoạt động cũng đã được thực hiện nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của đa dạng TNDTTVNN, đa dạng hóa cây trồng và ngăn chặn nguy cơ xói mòn nguồn gen và các giống địa phương, việc tăng cường đa dạng hóa hệ thống nông nghiệp và cơ cấu cây trồng cũng được một số dự án quan tâm đầu tư Kết quả là tại một số địa phương, tốc độ độc canh các giống mới năng suất cao và việc thay thế giống cây cổ truyền địa phương bằng giống cải tiến đã giảm đáng kể, và nhận thức của cộng đồng về các lĩnh vực liên quan được nâng cao
Trang 13Tuy nhiên, thành tựu mới chỉ đạt được ở một vài địa phương Trong nhiều trường hợp, hệ thống nông nghiệp bị đe dọa mà không ai biết, hoặc không được quan tâm phục hồi, bảo vệ, đặc biệt là ở các vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mê Kông và khu vực Đông Bắc, nơi có tốc độ phát triển kinh tế, cơ giới hóa nông nghiệp, thương mại hóa sản phẩm nông nghiệp và xây dựng công nhiệp tăng nhanh Tại nhiều nơi khác, các giống địa phương và cây trồng bản địa không được quan tâm phát triển và đã dần bị thay thể bởi các giống năng suất cao (phụ lục 8) Sau đây là những nguyên nhân chính:
- Không đủ đầu tư cho đào tạo, nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích
sự tham gia của cộng đồng và các lực lượng nòng cốt địa phương
- Thiếu hỗ trợ cho nông dân; ví dụ không cung cấp đủ giống và nguồn vật liệu để phục hồi các hệ thống nông nghiệp và thiếu hỗ trợ kỹ thuật để phát triển và mở rộng các giống địa phương
- Nghiên cứu không đầy đủ về TNDTTVNN và về các hệ thống nông nghiệp, các giống địa phương không được thu thập và lưu giữ trước khi thảm họa xảy ra, do
đó không có đủ vật liệu để cung cấp trở lại cho sản xuất giúp phục hồi hệ thống nông nghiệp
- Yếu kém trong việc thu thập, quản lý và chia sẻ thông tin
3.1.4 Tăng cường bảo tồn nội vi các loài họ hàng với cây trồng và các loài hoang dại có giá trị nông nghiệp: có 8 chương trình, đề tài, hoạt động
Trong bản kế hoạch hành động của quốc gia về đa dạng sinh học được đưa ra năm 1995 (1996-2005), các họ hàng gần gũi với cây trồng và các loài cây hoang dại có giá trị nông nghiệp được ưu tiên cao để kiểm kê, bảo vệ, bảo tồn và sử dụng bền vững,
từ đó, các hoạt động đã được đầu tư tiến hành và đạt được những kết quả đáng kể Việc bảo vệ các loài cây họ hàng với cây trồng và những cây hoang dại có giá trị nông nghiệp trong các khu vực bảo vệ tự nhiên cũng đã được đẩy mạnh, và tổng số các khu bảo tồn thiên nhiên được nâng lên Theo hệ thống phân loại của IUCN ở Việt Nam có
4 loại khu bảo tồn thiên nhiên:
- Vườn quốc gia: 27
- Khu bảo tồn tự nhiên: 46
- Các khu bảo vệ quản lý môi trường sống/ loài: 11
- Các vùng bảo vệ cảnh quan hoặc sinh cảnh: 37
(Danh sách các vườn quốc gia ở phụ lục 11)
Một số dự án cũng tập trung chú trọng bảo tồn nội vi các loài họ hàng hoang dại với cây trồng và các loài cây hoang dại có giá trị về nông nghiệp Cụ thể, dự án bảo tồn nội vi các giống địa phương (landraces) và họ hàng hoang dại của chúng do UNDP tài trợ và IPGRI giúp đỡ về kỹ thuật nhằm bảo tồn có hiệu quả đa dạng sinh vật của 6 nhóm cây trồng quan trọng (lúa, khoai môn sọ, nhãn vải, đậu đỗ, cây có múi và chè), tập trung vào các giống địa phương và họ hàng hoang dại của chúng, tại 11 điểm thuộc
7 tỉnh: Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang và Lạng Sơn Đa dạng sinh vật nông nghiệp của 6 nhóm cây trồng này được bảo vệ thông qua việc giảm bớt các nguy cơ xói mòn tại các điểm của dự án Chiến lược của dự án này
là đựa vào cộng đồng để phát triển bền vững các vùng quan trọng về tài nguyên di truyền thực vật (PGR-IZs) Các hoạt động của dự án bao gồm: (1) thành lập các vùng quan trọng về TNDTTV; (2) thúc đẩy hoạt động của các vùng này thông qua xây dựng
Trang 14năng lực, đào tạo, gỡ bỏ những rào cản; (3) triển khai các nghiên cứu, thực hiện quản
lý và phân tích thông tin phục vụ cho việc xây dựng và tăng cường hoạt động của các vùng quan trọng về TNDTTV; (4) nâng cao nhận thức xã hội bằng đào tạo, tập huấn
và phổ biến thông tin
Một trong những tồn tại quan trọng nhất ảnh hưởng tới bảo tồn nội vi các họ hàng hoang dại của cây trồng và các cây hoang dại có giá trị nông nghiệp là thiếu nghiên cứu điều tra, đánh giá một cách tổng thể về đa dạng TNDTTV của đất nước, thêm vào đó, các kiến thức bản địa cũng chưa được nghiên cứu đầy đủ Do vậy nhiều
họ hàng với cây trồng hoặc cây hoang dại có giá trị nông nghiệp có thể đã không được dưa vào trong danh sách các loài cần được bảo vệ và phát triển để sử dụng bền vững Một tồn tại khác là số lượng các khu bảo tồn tự nhiên còn ít trong khi nước ta rất đa dạng về địa hình, sinh thái và các điều kiện tự nhiên Hơn nữa, các khu bảo tồn hiện có cũng chưa được quản lý một cách hiệu quả, do nhiều nguyên nhân, đáng kể nhất là thiếu nguồn lực cả về tài chính và kỹ thuật
Yếu kém trong xây dựng cơ sở dữ liệu và trong quản lý, trao đổi thông tin cũng
là một hạn chế quan trọng
Những đề xuất / ưu tiên
Để tăng cường bảo tồn và phát triển nội vi TNDTTVNN, thì những hạn chế trong cả 4 lĩnh vực kể trên phải được khắc phục Để đạt được điều này, các bên đã đề nghị các ưu tiên sau:
1) Bảo tồn trên đồng ruộng và phát triển các giống đặc sản địa phương như lúa, ngô, rau bằng cách đẩy mạnh sản xuất, tiêu thụ và thương mại hoá Có rất nhiều giống lúa, ngô đặc sản ở các vùng dân tộc ít người có chất lượng tốt, cũng như các loại rau địa phương có giá trị dinh dưỡng cao chưa được để ý phát triển và bảo tồn trên đồng ruộng Đây có thể là bước tiếp theo của dự án “Tăng cường cơ sở khoa học bảo tồn đồng ruộng về đa dạng sinh học nông nghiệp”, dự án đã được thực hiện thành công với sự tài trợ của IPGRI/SDC
2) Về xây dựng các điểm bảo tồn nội vi/trên đồng ruộng cho các loại cây ăn quả: Quýt Bắc Cạn; Bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ), Bưởi Diễn (Hà Nội), Bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh) và Bưởi Năm Roi (Vĩnh Long); Cam Canh (Hà Nội), Cam Bố Hạ (Nghệ An); Chuối Ngự Ninh Bình; Xoài Yên Châu (Sơn La) Những loại hoa quả đặc sản này đều có giá trị kinh tế, văn hoá và xã hội nhưng do không được chú ý nên đã bị thoái hoá xói mòn
3) Phục hồi vườn gia đình ở khu vực Đồng Bằng Sông Hồng, đặc biệt là Tỉnh Thái Bình, nơi mà vì thâm canh quá nhiều để tăng sản lượng phục vụ cho nạn đói trong suốt những năm 80, hầu hết vườn gia đình ở đây đã bị phá huỷ, đây chính là nguyên nhân khiến các tỉnh thuộc vùng đồng bằng phải đối mặt với vấn đề nghèo dinh dưỡng cho dù lượng lương thực không thiếu Người dân ở đây không thường mua hoa quả hay các loại thức ăn thay thế khác trong khi nguồn thức ăn giàu vitamin và các loại hoa quả của gia đình lại không còn Vì vậy bữa ăn của gia đình rất đơn điệu và chủ yếu là cơm Sự thoái hoá các nguồn gen trong vườn gia đình cũng dẫn đến những vấn đề môi trường và văn hoá, vì có một số các sản phẩm hoa quả gắn liền với những lễ hội truyền thống
4) Xây dựng bản đồ số về việc phân bổ tài nguyên di truyền nông nghiệp Việt Nam, những bản đồ này sẽ có giá trị trong quá trình xây dựng chiến lược và định hướng phù hợp cho công tác bảo tồn
Trang 153.2 Bảo tồn và phát triển ngoại vi TNDTTVNN
Trong khoảng 20 năm qua, công tác bảo tồn ngoại vi và phát triển TNDTTV đã được chú ý đầu tư đáng kể Năm 1995 kế hoạch hành động đa dạng sinh vật quốc gia
đã được thông qua, và một trong những ưu tiên của kế hoạch này là tăng cường bảo tồn ngoại vi TNDTTV, đặc biệt là TNDTTVNN Theo các báo cáo của các đơn vị, thành tựu có ý nghĩa đã đạt được trong các lĩnh vực sau:
3.2.1 Duy trì bền vững các tập đoàn ngoại vi (ex situ) hiện có: 29 đơn vị tham gia triển khai nội dung này với tổng số 56 chương trình, đề tài, hoạt động
Tổng số khoảng 40.000 nguồn gen cây trồng, thuộc khoảng 200 loài đã được thu thập và bảo tồn ngoại vi tại các vườn tập đoàn, tập đoàn trong ống nghiệm, hoặc tập đoàn hạt (phụ lục 12), bao gồm cả những vật liệu di truyền có giá trị kinh tế cao, nhiều mẫu giống lưu giữ đã được sử dụng hiệu quả trong công tác cải tiến giống cây trồng Đặc biệt là tại Ngân hàng gen cây trồng quốc gia, Trung tâm Tài nguyên Thực vật, Viện Khoa học Nông nghiệp, hơn 11.000 nguồn gen (6423 của lúa và các cây thuộc họ hoà thảo, 1937 của đậu đỗ, 2187 của rau và 725 nguồn gen của các loài khác) bao gồm cả các giống địa phương, giống truyền thống và loài họ hàng hoang dại đang được lưu giữ Các tập đoàn đồng ruộng lưu giữ tại Trung tâm Tài nguyên Thực vật và tại các cơ quan khác trong hệ thống TNDTTV bao gồm khoai môn sọ, chuối, khoai lang, từ vạc, cây có múi, xoài, nhãn, v.v cũng là những vật liệu và là nguồn gen có giá trị lớn đối với công tác chọn tạo giống Hàng năm ước tính có khoảng 1000 nguồn gen từ các tập đoàn ngoại vi được sử dụng vào các mục đích nghiên cứu chọn tạo (xem thêm phần 3.3)
Những tồn tại quan trọng nhất trong việc bảo tồn bền vững các tập đoàn ngoại vị hiện
có bao gồm:
- Quản lý thiếu hiệu quả cả về dữ liệu và vật liệu Không ít mẫu giống, thậm chí
cả tập đoàn, đã bị mất do nhiễm nấm/khuẩn hoặc do cẩu thả Việc giám sát tính
ổn định về di truyền và sạch bệnh thường chưa được quan tâm thực hiện Các mẫu giống chưa được mô tả, đánh giá đầy đủ và hệ thống về các tính trạng quan trọng Điều này, cùng với việc yếu kém trong quản lý tư liệu và thông tin đã dẫn đến một số lớn các mẫu giống lưu giữ bị trùng lặp (cả trong và giữa các tập đoàn) làm giảm hiệu quả đầu tư và hạn chế việc sử dụng và nghiên cứu, khai thác nguồn gen
- Các tập đoàn chưa được phân loại thành các tập đoàn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn hoặc theo chức năng sử dụng thành các tập đoàn công tác, hoạt động hay hạt nhân
- Chưa phân công rõ trách nhiệm giữa các tổ chức/cơ quan hữu quan
3.2.2 Phục hồi các mẫu giống bị đe doạ trong các tập đoàn:
Theo số liệu ban đầu các đơn vi cung cấp, đã có 41 tập đoàn ngoại vi bị đe doạ được phục hồi tại 19 cơ quan, kết quả đạt được trong lĩnh vực này còn rất hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế Do nhiều nguyên nhân, chủ yếu là do thay đổi về cơ cấu tổ chức, cơ sở hạ tầng và yếu kém trong quản lý, nhiều mẫu giống trong các tập đoàn ngoại vi đã bị mất, số lớn khác đang bị đe doạ, và do hạn chế về ngân sách, không được quan tâm chú ý, chỉ phần nhỏ số này được phục hồi Ước tính, chỉ riêng tại ngân hàng gen quốc gia đã có khoảng 3000 mẫu giống đang kêu gọi được phục hồi khẩn cấp
Kết quả điều tra ban đầu cũng cho thấy một số lượng lớn các giống địa phương,
Trang 16giống bản địa và họ hàng của chúng cần được khẩn trương thu thập, bảo quản và phát triển ngoại vi; số lượng các giống bản địa và địa phương đã và đang bị giảm nhiều (xem thêm phụ lục 8, và 1) Điều này là đúng cho tất cả các cây trồng, kể cả các cây quan trọng như lúa và ngô, và đặc biệt là với cây màu như đậu đỗ, khoai môn sọ, sắn,
từ vạc, và nhiều loài cây ăn quả và nhiều loại rau Một số đáng kể các loài rau bản địa giàu vitamin và protein đã không được quan tâm và đang có nguy cơ bị xói mòn Tương tự, nhiều giống cây ăn quả có những đặc điểm quý, giá trị dinh dưỡng cao vẫn chưa được nghiên cứu và được quan tâm để bảo tồn và phát triển Những vật liệu di truyền vô cùng giá trị này rất dễ dàng bị mất đi nếu như không có giải pháp và hành động kịp thời
3.2.3 Hỗ trợ việc thu thập TNDTTVNN theo kế hoạch và có mục tiêu:
28 chương trình, dự án, hoạt động
Một số lượng đáng kể các hoạt động đã được tiến hành nhằm kiểm kê, thu thập,
mô tả, đánh giá và xây dựng các tập đoàn ngoại vi của các các cây như lúa, chuối, sắn, khoai lang, từ vạc, khoai môn sọ các cây ăn quả có múi và nhiều cây khác Tuy nhiên
do thiếu đội ngũ nhân viên kỹ thuật, do hạn chế về tài chính và thiếu phương pháp thích hợp, do thiếu thông tin về điều tra và thống kê TNDTTV, các kế hoạch đôi khi chưa thật sự tốt, có khi bị trùng lặp và một số hoạt động không đúng mục tiêu, chẳng hạn, đầu tư đã tập trung vào các giống nhập ngoại trong khi các giống địa phương, truyền thống và các vật liệu bị đe doạ lại chưa được quan tâm đúng mức
3.2.4 Mở rộng các hoạt động bảo tồn ngoại vi
Đã có những nỗ lực nhằm mở rộng các hoạt động bảo tồn ngoại vị, như việc phân công trách nhiệm cho nhiều cơ quan/tổ chức và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng và các cấp chính quyền địa phương Áp dụng phương pháp “Bảo tồn thông qua sử dụng”, khá nhiều các giống địa phương đã được phổ biến trở lại sản xuất cho nông dân bảo tồn và phát triển Ghi nhận tầm quan trọng của bảo tồn ngoại vi, trong soạn thảo kế hoạch 5 năm 2006- 2010 Chính phủ Việt Nam đã ưu tiên thu thập và thành lập các tập đoàn trong ống nghiệm, tập đoàn đồng ruộng và tập đoàn hạt của những nguồn gen cây trồng quan trọng, bao gồm cả việc xây dựng năng lực và nâng cấp cơ sở vật chất cho các tổ chức và cơ quan hữu quan
Những đề xuất và ưu tiên
Nhằm tăng cường bảo tồn ngoại vị và phát triển TNDTTVNN của đất nước các bên đã thảo luận và đưa ra một số đề xuất sau:
1 Duy trì và mô tất cả các tập đoàn ngoại vi, loại bỏ sự trùng lặp Có một điều cũng rất quan trọng khi hầu hết các tập đoàn được người chủ thiết lập gần như “tự ý” với những mục đích khác nhau, và do thiếu sự chia sẻ thông tin, thiếu kỹ thuật đánh giá, mô tả nên những mẫu giống này đã không được mô
tả và phân loại một cách thích đáng, hợp lý Do đó chắc chắn có sự trùng lặp trong số những tập đoàn Để tăng cường hiệu quả chi phí và thuận tiện cho việc bảo tồn, sử dụng nguồn gen, việc lập lên một bản tổng soát các tập đoàn, các mẫu vật được mô tả và các mẫu trùng lặp cũng như việc phân công nhiệm vụ một cách rõ ràng của các bên tham gia là rất quan trọng Điều này cũng sẽ giúp tạo lập một bước khởi đầu cho việc xây dựng và phát triển tiêu chuẩn phù hợp cho bảo tồn ngoại vi cũng như những kế hoạch lâu dài cho công tác thu thập và bảo tồn
2 Thu thập tài nguyên di truyền thực vật nông nghiệp thuộc khu vực xây dựng
Trang 17thuỷ điện Sơn La, Cửa Đạt và dọc tuyến đường Hồ Chí Minh Cả hai khu vực Sơn La và Cửa Đạt đều được nhận định là có nguồn tài nguyên di truyền thực vật đa dạng, còn dọc tuyến đường Hồ Chí Minh thì tốc độ công nghiệp hoá và hiện đại hoá lại diễn ra nhanh, dẫn đến sự xói mòn về đa dạng sinh học Vì vậy nếu chúng ta không nhanh chóng thu thập tài nguyên di truyền thực vật ở những khu vực này, thì chúng sẽ sớm bị mất đi
3 Thu thập và bảo tồn các giống ngô, lúa lai và các giòng bố mẹ Bảo tồn
ngoại vi là lựa chọn duy nhất cho những vật liệu gen quý giá này
4 Thu thập, đánh giá và bảo tồn nguồn gen dừa ở Côn Đảo, một hòn đảo nổi
tiếng Việt Nam về sự đa dạng của các loại dừa nhưng chưa bao giờ được thu thập và đánh giá
5 Thu thập, đánh giá và bảo tồn các loại đậu tương dại ở Hậu Giang Được
biết có rất nhiều loại đậu tương lông có khả năng chống chịu sâu bệnh cao
mà chưa được thu thập và nghiên cứu
6 Phát triển và ứng dụng phần mềm cho việc phân tích các đặc điểm hình thái
để đưa ra đánh giá về sự đa dạng giữa các mẫu giống có tại ngân hàng gen
quốc gia
3.3 Sử dụng tài nguyên di truyền thực vật nông nghiệp (TNDTTVNN)
TNDTTV chỉ có thể được bảo tồn hiệu quả thông qua sử dụng, thực tế đã chứng minh bảo tồn và sử dụng nguồn tài nguyên này là hai vấn đề không thể tách rời nhau Một số thành tựu trong sử dụng TNDTTV cho phát triển sản xuất nông nghiệp và đảm bảo an ninh lương thực đã được trình bày phần ở mục 3.1 và 3.2, hiện trạng sử dụng TNDTTV, những thành tựu và hạn chế sẽ được cụ thể hóa hơn dưới đây
3.3.1 Mở rộng mô tả, đánh giá và tăng số lượng các tập đoàn hạt nhân phục vụ mục tiêu sử dụng: gồm 41 chương trình, đề tài, hoạt động mô tả và đánh giá nguồn gen của 23 loài cây
Trong tất cả các dự án liên quan đến thiết lập tập đoàn TNDTTVNN, việc mô tả
và đánh giá được coi là một trong những hoạt động chính Tuy nhiên cho đến nay, việc
mô tả mới chỉ tập chung chủ yếu vào các đặc điểm hình thái trong khi các đặc tính quí như khả năng chống chịu các điều kiện ngoại cảnh bất lợi, chất lượng sản phẩm …còn
ít được quan tâm Do nhiều khó khăn khác nhau như hạn chế về tài chính, trang thiết
bị, cán bộ, một lượng lớn (khoảng 30%) các mẫu giống đang bảo tồn ngoại vi vẫn chưa được mô tả đầy đủ và rất ít nguồn gen được đánh giá về các đặc điểm nông học quan trọng như chất lượng hạt, khả năng kháng một số sâu bệnh và chống chịu mặn, khô hạn (Xem phụ lục 12) Hơn thế nữa, trong nhiều trường hợp, số liệu mô tả và đánh giá không được tư liệu hoá và hệ thống hoá Chỉ số ít các tập đoàn của các cây trồng quan trọng như lúa, chuối, sắn và khoai lang là được mô tả tương đối đầy đủ
Mô tả và đánh giá không đầy đủ gây khó khăn cho việc phân loại các tập đoàn đang lưu giữ, và thiết lập thêm các tập đoàn hạt nhân Theo số liệu các SH cung cấp, mới chỉ có 14 tập đoàn hạt nhân được thiết lập, con số này quá nhỏ so với yêu cầu thực
tế của nước ta Lập kế hoạch và phân công trách nhiệm không rõ ràng và thiếu cán bộ chuyên ngành là 1 trong những nguyên nhân chính dẫn đến những hạn chế trên
3.3.2 Tăng cường các hoạt động mở rộng nền (cơ sở) di truyền: 12 dự án, hoạt động
Cùng với việc gia tăng hiểu biết về tầm quan trọng của việc sử dụng bền vững
Trang 18TNDTTVNN, việc mở rộng nền di truyền của các loài cũng được quan tâm Nguồn gen (geenpool) của nhiều cây trồng quan trọng như lúa, khoai tây, khoai lang, chuối, cây ăn quả có múi được làm phong phú thêm bằng các nguồn gen mới tạo và nhập nội, bao gồm các biến dị, đột biến, tổ hợp lai và các mẫu giống nhập nội, những giống cây trồng cũ cũng được nghiên cứu để sử dụng trong các chương trình chọn tạo giống Ứng dụng công nghệ sinh học như chuyển gen, cứu phôi, nuôi cấy bao phấn, gây đột biến và chọn tạo trong ống nghiệm cũng góp phần làm giàu nền di truyền của nhiều cây trồng, nhất là lúa, bông và mía Số các dự án chọn tạo giống và các cơ sở tham gia vào công tác này gia tăng theo thời gian, nhiều dòng, giống mới đã được tạo thành và trồng thử nghiệm trong các điều kiện sinh trưởng khác nhau và rất nhiều trong số trên
đã phát triển thành những giống thương mại mới Ví dụ: giống khoai môn sọ KS-4 và giống hoa Alpinia Đuôi Chồn Đỏ đã được công nhận là giống quốc gia Cũng như vậy, giống đậu xanh NTB-01 lấy từ nguồn gen đậu xanh do Ngân hàng gen quốc gia cấp đã được phát triển tại Trung Tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Duyên Hải Nam Trung Bộ Rất nhiều các dòng, giống khác cũng đã được phục hồi, thu thập và thử nghiệm như: khoai môn sọ KMC-1; KMN-1 và KS- 5, đặc biệt là giống lúa nếp Nếp Quýt, lúa thơm giống LT-3, giống lúa thơm ngắn hạn NT-96, giống hoa Curcuma Uất Kim Tía
Thông qua các dự án, sự tham gia của cộng đồng địa ph ương trong phát triển giống cây trồng đã được gia tăng Thành tựu đáng chú ý nhất thu được từ nghiên cứu lúa Ở nhiều địa phương như huyện Hải Hậu (Nam Định), Kỳ Sơn và Đà Bắc (Hòa Bình), Cần Thơ nông dân được tấp huấn để lai tạo, đánh giá, nhân giống và bảo quản giống lúa cho vụ sau Họ đã được tập huấn và thực tập thành công kỹ thuật chọn dòng, chọ cây và cải tiến tập đoàn để phục tráng các giống lúa địa phương bị thoái hóa Kết quả tương tự cũng thu được đối với các nhóm cây trồng khác như đậu, khoai
sọ và một số cây ăn quả ở Ninh Bình, Nghệ An, Hải Hưng, Hưng Yên (Phụ lục 13) Một số khó khăn trong gia tăng và mở rộng nền di truyền:
- Thiếu đội ngũ cán bộ chuyên môn về công nghệ sinh học và kỹ thuật chọn giống tiên tiến
- Thiếu chiến lược phù hợp và kế hoạch khả thi trong chọn tạo giống
Trang 19huyện Nho Quan (Ninh Bình), Hữu Lũng (Lạng Sơn), Hưng Yên, Hải Dương, Hà Giang, Yên Châu (Sơn La), Hà Tây nhiều loại rau, ngô, đậu tương, cây gia vị, quýt, cam, bưởi và một số loại cây trồng nhập nội như khoai tây, dâu tây và nho đã trở thành một trong những cây trồng chính Tuy vậy, việc độc canh cây lúa hoặc một số cây lương thực khác vẫn còn xuất hiện, nguyên nhân là do:
- Hệ thống thị trường tiêu thụ và nhu cầu tiêu dùng nông sản khác không ổn định
so với lúa gạo;
- Công nghệ chế biến sau thu hoạch lạc hậu, và việc bảo quản các loại nông sản khác phức tạp hơn lúa gạo;
- Thiếu các giống tốt, thích hợp;
- Tập quán canh tác độc canh cây lúa và một vài cây trồng khác làm cây lương thực chính
3.3.4 Thúc đẩy phát triển và thương mại hóa các cây trồng và các loài còn ít được
sử dụng: 13 chương trình, đề tài, hoạt động
Như đã trình bày ở trên, rất nhiều loài cây trồng có tiềm năng cao nhưng ít được phát triển và sử dụng, việc thúc đẩy thương mại hóa và phát triển chúng chưa được quan tâm đầu tư thích đáng (xem thêm phụ lục 8 & 1) Nguyên nhân chính là do thiếu các chiến lược, kế hoạch dài hạn cũng như các chính sách phù hợp Nông dân thì thường tập trung sản xuất các loại cây trồng đem lại lợi nhuận trước mắt, còn các nhà khoa học lại không đủ nguồn lực để triển khai những nghiên cứu cần thiết và quảng bá
về lợi ích của việc trồng các loại cây chưa được sử dụng nhiều Thêm vào đó, nguồn giống của các loại cây này rất hạn chế; các cơ quan/công ty không đầu tư nguồn ngân sách hạn hẹp của mình cho sản xuất và kinh doanh giống các cây trồng ít có nhu cầu Phát triển thị trường sản phẩm nông nghiệp cho những loại cây này cũng gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi không những nhiều thời gian, nỗ lực mà còn cả chi phí tài chính
3.3.5 Hỗ trợ sản xuất và cung cấp giống cây trồng: 30 chương trình, đề tài, hoạt động
Hàng năm có khoảng 1.000 nguồn gen từ các tập đoàn ngoại vi được sử dụng vào các mục đích nghiên cứu chọn tạo Một số dự án đã giúp nông dân được tập huấn và thực hành thành công kỹ thuật chọn dòng, chọn cây và cải tiến tập đoàn để phục tráng các giống cây trồng địa phương bị thoái hóa, và để thử nghiệm, nhân giống và mở rộng sản xuất các giống cây trồng mới, đặc biệt là lúa Việc xây dựng thành công qui trình nhân giống cho một số loài cây ăn quả, và phổ biến các kỹ thật canh tác cải tiến cho một số giống cây truyền thống cũng góp phần thúc đẩy sử dụng, bảo tồn và sản xuất và cung cấp giống cây trồng, kết quả là một số các giống địa phương có giá trị đã được phục hồi, nhân giống và phổ biến trở lại sản xuất, giống Nếp Tú Lệ là một ví dụ Đây là giống lúa nếp địa phương có những đặc điểm quý như gạo thơm, ngon và dẻo, và gần đây đã được khôi phục và mở rộng sản xuất Tương tự, nhiều giống lúa địa phương khác như Tám thơm, Nàng hương, Nếp cẩm, Nàng thơm Chợ Đào, Nanh chồn Các giống cây ăn quả có múi như Bưởi Diễn, Bưởi Phúc Trạch, Bưởi Đoan Hùng, Cam Canh, Cam Bố Hạ, Bưởi năm roi, Bưởi da xanh và còn nhiều các giống loài khác cũng được phục tráng và mở rộng sản xuất Một số vườn ươm gọi là “vườn ươm cộng đồng”, đã được xây dựng để sản xuất gốc ghép cây ăn quả sạch bệnh cung cấp cho nông dân trong vùng Kiến thức bản địa liên quan đến bảo tồn và phát triển TNDTTV cũng được quan tâm nghiên cứu tại một số điểm
Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân, như thiếu các chính sách, thiếu quy trình bảo
Trang 20hộ giống, quản lý yếu kém, chính sách trợ giá và hỗ trợ không thích hợp, và thiếu sự tham gia tích cực của cộng đồng và địa phương, việc cải tiến hệ thống sản xuất và cung cấp hạt giống vẫn đang là một vấn đề ở Việt Nam Mặc dầu nông dân đã được hỗ trợ một phần để sản xuất cây và hạt giống nhưng mới chỉ hạn chế ở một vài cây trồng chính và ở một số địa phương bởi số ít các dự án Các nhà sản xuất giống địa phương
và cộng đồng thường kém lợi thế cạnh tranh so với các công ty sản xuất hạt giống lớn 3.3.6 Phát triển thị trường mới cho các giống địa phương và sản phẩm không đồng nhất
Song song với việc phát triển và chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang kinh tế thị trường thì nhu cầu nội địa và cơ hội xuất khẩu cho những sản phẩm từ các giống địa phương có chất lượng cao tăng lên Đây là lợi thế cho việc phát triển thị trường mới cho các giống cây trồng địa phương Một số sản phẩm địa phương đặc sản đã được đăng ký thương hiệu như gạo Tám Thơm, Nếp Tú Lệ, Nàng Hương ; Bưởi Năm Roi
và Đoan Hùng; Cam Đường Canh Tuy nhiên, sự kém phát triển của công nghệ chế biến sau thu hoạch, giao thông vận tải khó khăn, và yêu cầu về sản phẩm đồng nhất của người tiêu dùng… đã hạn chế việc mở rộng thị trường và thương mại hoá các sản phẩm địa phương không đồng nhất Một số cây trồng khác có giá trị cao như Nhãn, Vải, Thanh Long, Khoai môn sọ, Chè, Quýt vẫn chưa được phát triển tốt
Những đề xuất và ưu tiên
Nhằm giải quyết những khó khăn trên để thúc đẩy sử dụng TNDTTVNN các bên đã thảo luận và đưa ra một số đề xuất như sau:
1 Khuyển khích sự tham gia của cộng đồng, cơ quan địa phương vào sản xuất, cung cấp hạt giống, tìm thị trường và thương mại hoá cho sản phẩm giống địa phương Điều này rất quan trọng đối với Việt Nam vì hệ thống cung cấp giống không chính thức đã chiếm lĩnh thị trường quá lâu
2 Phát triển công nghệ chế biến nông sản sau thu hoạch, đặc biệt là các sản phẩm của các giống đặc sản và các cây trồng cổ truyền như vải, nhãn, chuối, khoai sọ
3 Đánh giá tính chống chịu khô hạn, ngập mặn và sâu bệnh của lúa, ngô, cây có múi và sâu bệnh
4 Phát triển những loại cây bị lãng quên hay chưa được sử dụng như các loại rau địa phương: mướp, cây thuộc họ bắp cải, rau dền; những loại cây lấy rễ, củ như: khoai sọ, cây chuối hoa, củ từ/khoai mỡ; cây lấy tinh bột; cây ăn quả như: quả
có múi, quả vú sữa, dâu tây, thanh long)
5 Xây dựng cơ sở dữ liệu dựa trên mối quan hệ giữa nguồn gốc hình thái kiểu di truyền của các loại cây đựoc duy trì tại ngân hàng gen quốc gia
6 Phát triển kiến thức bản địa có liên quan đến bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật và sử dụng cơ sở dữ liệu
7 Xây dựng bản đồ các tập đoàn gen di truyền quan trọng nhất
3.4 Xây dựng tổ chức và năng lực
3.4.1 Xây dựng các chương trình quốc gia mạnh
Năm 1994, dự án tăng cường chương trình quốc gia về TNDTTV đã hoàn thành
và đạt kết quả tốt, và hội thảo quốc gia lần thứ nhất đã được tổ chức để bàn về vấn đề này Sau hội thảo, mạng lưới TNDTTV quốc gia đã được thiết lập và do Trung tâm Tài nguyên Di Truyền Thực Vật, Viện KHKTNN Việt Nam điều phối Hội thảo đã đưa ra
Trang 21một số kiến nghị trình chính phủ để phát triển các chính sách liên quan đến TNDTTV;
kế hoạch hành động quốc gia cũng được dự thảo; và đặc biệt, tầm quan trọng của bảo tồn và sử dụng bền vững TNDTTV đã được thừa nhận
Tiếp theo hội thảo đó, nhiều hoạt động đã được triển khai để thực hiện kế hoạch hành động quốc gia, và đầu tư từ chính phủ cho TNDTTV được gia tăng Năng lực của các cơ quan mạng lưới cũng được tăng cường, trang thiết bị được cải thiện và sự tham gia của họ vào bảo tồn và phát triển TNDTTV có hiệu quả hơn Mặc dầu vẫn còn nhiều hạn chế, hoạt động của các cơ quan mạng lưới được điều phối tốt hơn và sự trùng lặp đã giảm nhiều Nhiều hội thảo và hội nghị để chia sẻ và trao đổi thông tin, các khoá huấn luyện và tư vấn nhằm nâng cao năng lực cho các cơ quan mạng lưới đã được tổ chức Các tổ chức quần chúng và chính quyền từ cấp xã đến cấp tỉnh cũng tham gia tích cực hơn vào các hoạt động này
đã được thành lập từ Trung tâm Tài nguyên Di truyền Thực vật thuộc Viện Khoa học
kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam trước đây Chức năng và nhiệm vụ của Tung tâm được điều chỉnh nhằm điều phối có hiệu quả hơn mạng lưới TNDTTV quốc gia
Những thiếu sót và hạn chế chính:
- Sự hợp tác không chặt chẽ của một số cơ quan và tổ chức
- Quản lý và chia sẻ thông tin còn kém và chưa hiệu quả
- Thiếu chính sách phù hợp
- Thiếu sự tham gia tích cực và xã hội hóa các hoạt động
- Thiếu đội ngũ cán bộ chuyên môn và các trang thiết bị phù hợp
3.4.3 Thiết lập hệ thống thông tin quốc gia về TNDTTV
Mặc dầu trước đây đã có một số hoạt động nhằm phát triển và thành lập cơ sở
dữ liệu về TNDTTV, việc thực hiện dự án GCP\RAS\186\JPN là bước đầu tiên để xây dựng một hệ thống thống thông tin TNDTTV đầy đủ ở Việt Nam Trước dự án này không có hệ thống thông tin nào được thiết lập ở mức quốc gia; các cơ quan quản lý
Trang 22dữ liệu bằng nhiều cách khác nhau, không mang tính chuyên nghiệp, gây khó khăn cho việc trao đổi và hệ thống hóa; và việc trao đổi thông tin không được chú trọng Như đã nói ở trên, điều này là một trong những cản trởi chính đối với công tác bảo tồn và sử dụng bền vững TNDTTVNN Trong khuôn khổ dự án này một số thiết bị đã được cấp cho cho các cơ quan nhằm trợ giúp việc thu thập, phân tích, chỉnh lý, tổng hợp dữ liệu
và báo cáo Bằng việc sử dụng các biểu mẫu, các bảng hỏi trong phần mềm máy tính của dự án, dữ liệu thu thập có thể được chuẩn hóa, hệ thống hóa và quản lý tốt hơn Đồng thời vai trò và trách nhiệm cúa các bên cũng được xác định rõ ràng, góp phần xây dựng thành công CCCSTT-KHTC
3.4.4 Phát triển hệ thống giám sát và cảnh báo sớm mất mát TNDTTVNN
Đây là một trong những lĩnh vực yếu kém nhất trong bảo tồn và sử dụng TNDTTV ở nước ta, cho đến nay không có một hệ thống giám sát và cảnh báo sớm nào được xây dựng
Lý do:
- Không đủ tài chính và nhân lực
- Điều tra và đánh giá không đầy đủ về TNDTTVNN
- Quản lý thông tin và dữ liệu chưa tốt
- Thiếu sự tham giai tích cực của các bên
- Thiếu sự hợp tác của một số công ty và tổ chức
- Thiếu khung pháp lý phù hợp Đánh giá tác động của môi trường thường không
là một yêu cầu bắt buộc trước khi các hoạt động có liên quan được tiến hành
3.4.5 Giáo dục và tập huấn về TNDTTV
Hầu hết các đơn vị đều cho rằng năng lực của họ về bảo tồn và sử dụng bền vững TNDTTVNN đã được cải thiện một cách rõ rệt trong những năm qua Số lượng các nhà khoa học, kỹ thuật viên được đào tạo về các lĩnh vực liên quan đã tăng nhiều thông qua nhiều hình thức giáo dục đào tạo khác nhau Ngoài tham gia các khoá đào tạo tại các trường đại học và cao đẳng, cán bộ còn được đào tạo tại các viện nghiên cứu thông qua các hội nghị, tập huấn, nghiên cứu thực tế, thăm quan Các nhà khoa học của Trung tâm TNDTTV cũng đã tổ chức các buổi huấn luyện cho các nhóm đối tượng khác nhau Ngoài ra còn có một môn học về bảo tồn và sử dụng TNDTTV đang được thiết kế cho một số trường Đại học và Cao đẳng
Tuy nhiên do không đủ ngân sách và trang thiết bị nên các chương trình giáo dục và đào tạo bị hạn chế cả chất lượng và số lượng, không đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tế
Để giải quyết một phần vấn đề này, các cán bộ được khuyến khích tìm cơ hội học tập nghiên cứu ở nước ngoài Và, như đã đề cập ở trên, hiện chúng ta vẫn thiếu trầm trọng đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm và kiến thức để thực hiện thành công mọi hoạt động
Trang 23cần thiết để bảo tồn và sử dung bền vững TNDTTVNN của đất nước
3.4.6 Nâng cao nhận thức cộng đồng
Cùng với việc thừa nhận vai trò của công tác xã hội hoá bảo tồn và phát triển TNDTTVNN, một số đơn vị đã đầu tư cho việc nâng cao nhận thức cộng đồng về các lĩnh vực của TNDTTVNN, đặc biệt là thông qua các dự án tăng cường bảo tồn trên đồng ruộng và thu thập bảo quản nguồn gen thực vật như đã nói ở trên (xem thêm phụ lục 14) Các hội thảo, khóa học được tổ chức trong khuôn khổ của dự án GCP/RAS/186/JPN cũng góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn và sử dụng bền vững TNDTTVNN Tuy vậy, phải thừa nhận rằng sự hạn chế của nhận thức cộng đồng vẫn là rào cản lớn đối với hầu hết các hoạt động về TNDTTVNN Nguyên nhân chính của vấn đề này là sự thiếu quan tâm và đầu tư thích đáng cho nâng cao nhận thức cộng đồng Rất ít các buổi tạo đàm, hội thảo được tổ chức và hầu như chưa
tổ chức các khoá tập huấn cho nông dân và cộng đồng, cho đến nay hầu hết các hoạt động nâng cao nhận thức là do các dự án được nước ngoài tài trợ, hiện chưa có dự án, chương trình quốc gia nào cho vấn đề này Đồng thời, rất ít các tài liệu về thông tin, giáo dục và truyền thông được sản xuất để phổ biến cho cộng đồng Các vấn đề về TNDTTV hầu như chưa được đề cập trên các phương tiện thông tin đại chúng của chính phủ cũng như của địa phương
Một nguyên nhân quan trọng khác ảnh hưởng đến các hoạt động bảo tồn TNDTTV là việc nghiên cứu không đầy đủ và ít sử dụng các kiến thức bản địa, điều này không chỉ cản trở việc nâng cao nhận thức xã hội mà còn gây khó khăn cho việc thực hiện các hoạt động khác, như đã được đề cập ở trên
Những đề xuất và ưu tiên
Những đề xuất và ưu tiên dưới đây đã được các đơn vị đưa ra để phát triển việc tổ chức và xây dựng năng lực:
- Nghiên cứu một cách có hệ thống mảng kiến thức bản địa và vai trò hiện thời của cộng đồng nông dân trong quản lý, bảo tồn và phát triển tài nguyên di truyền thực vật nông nghiệp Đây là vấn đề sống còn để đưa ra những chiến lược, kế hoạch và chương trình, cũng như những chính sách khả thi, phù hợp để phát triển công tác bảo tồn và sử dụng bền vững TNDTTV Ở Việt Nam, cho tới nay, chúng ta vẫn chưa tiến hành nghiên cứu và hệ thống hoá kiến thức bản địa
- Xã hội hoá việc bảo tồn tài nguyên di truyền thực vật bằng xuất bản và phân phát các tờ rơi, băng video, đĩa CD, đưa lên thông tin đại chúng (ví dụ 1 lần/tuần)
- Mạng lưới bảo tồn quốc gia phải thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, các buổi nói chuyện, thảo luận về các đề tài cụ thể, nhờ đó các bên tham gia có thể dễ dàng chia sẻ thông tin và kinh nghiệm
- Xuất bản các tập san về công tác bảo tồn tài nguyên thực vật, ban đầu có thể xuất bản 3-4 tháng 1 kỳ, rồi nâng dần lên hàng tháng
- Tổ chức các khoá huấn luyện ngắn hạn (2 lần/năm) cho những nguời liên quan đến công tác bảo tồn tài nguyên thực vật
- Đệ trình lên chính phủ về việc ban hành các chính sách hỗ trợ và các văn bản pháp luật để điều hành quản lý chương trình bảo tồn tài nguyên thực vật
- Hoàn thiện và khởi động trang web về cơ chế chia sẻ thông tin quốc gia
- Cụ thể hoá các nhiệm vụ giữa các thành viên trong mạng lưới bảo tồn tài nguyên thực vật và các bên tham gia, đặc biệt là công tác bảo tồn ex-situ đối với các loài
Trang 24cây trồng khác nhau, đây là vấn đề quan trọng cho Việt Nam để sử dụng hiệu quả nguồn vốn có hạn dành cho chương trình bảo tồn tài nguyên thực vật này
- Xây dựng cơ cấu hệ thống thông tin quốc gia về TNDTTVNN và một hệ thống điều khiển, cảnh báo việc mất mát TNDTTVNN, đây là một nhiệm vụ cấp đối với Việt Nam, vì cho đến nay, vẫn chưa có một hệ thống nào như vậy được thiết lập trong khi mối đe doạ về xói mòn TNDTTVNN ngày càng tăng nhanh
- Đề nghị chính phủ tăng ngân sách cho chương trình bảo tồn tài nguyên thực vật, bao gồm cả việc duy trì cơ chế chia sẻ thông tin đã được thiết lập
IV KẾ HOẠCH DUY TRÌ VÀ HOÀN THIỆN CCCSTT
Từ những kết quả thảo luận và phân tích nêu trên kế hoạch duy trì và cải tiến CCCSTT được đề xuất với các hoạt động sau:
1 Giới thiệu rộng rãi CCCSTT và trang web với đầy đủ thông tin và dễ dàng truy cập
2 Tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ trực tiếp tham gia duy trì và cải tiến CCCSTT
3 Cải tiến và đa dạng phương tiện trao đổi thông tin, tốt nhất là thông qua liên kết mạng diện rộng và mạng cục bộ (LAN) cùng với việc nâng cấp trang thiết bị cho các cơ quan đặc biệt là cơ quan đầu mối
4 Tất cả các đơn vị cần phải cập nhật thông tin và tham gia cộng tác một cách tích cực
5 Trung tâm đầu mối cần duy trì và cập nhật thường xuyên thông tin vào trang Web
6 Tổ chức họp mặt thường xuyên để đánh giá các hoạt động đã được tiến hành trong giai đoạn trước và xây dựng kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo
7 Tăng cường hợp tác với các tổ chức và mạng lưới trong khu vực và quốc tế
8 Xã hội hoá công tác bảo tồn và sử dụng bền vững TNDTTV
Một trở ngại quan trọng nhất cho việc duy trì và cải tiến CCCSTT là thiếu nguồn ngân sách Để giải quyết vấn đề này trung tâm đầu mối phải xây dựng và đệ trình một dự án khả thi để xin chính phủ cấp ngân sách hàng năm để duy trì và cải tiến CCCSTT như một phần của chương trình quốc gia về TNDTTVNN Đồng thời, cần nỗ lực tìm kiếm các nguồn tài chính khác nhau như từ các viện nghiên cứu và các tổ chức khu vực và quốc tế
Trở ngại khác là do các đơn vị không ưu tiên cho nhiệm vụ này vì coi việc phát triển cơ chế chia sẻ thông tin ít quan trong hơn so với các nhiệm vụ khác, vì nó không mang lại lợi ích thiết thực trước mắt Do đó, phát triển "Bảo tồn thông qua sử dụng" có thể có hiệu quả trong việc giải quyết vấn đề này; Việc quản lý tốt dữ liệu và cung cấp thông tin chính xác và kịp thời có thể giúp thay đổi thói quen và gia tăng cam kết của các cơ quan
V NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ QUÁ TRÌNH THIẾT LẬP CCCSTT VÀ THỰC HIỆN KHTC
Những thành tựu thu được
- Bước đầu triển khai và xây dựng cơ sở dữ liệu để thực hiện việc thu thập và chia
sẻ thông tin, thực hiện kế hoạch hành động toàn cầu về bảo tồn và sử dụng TNDTTV phục vụ nông nghiệp
Trang 25- Sự hợp tác trao đổi giữa các bên được tăng cường và mở rộng
- Nhận thức về bảo tồn và sử dụng bền vững TNDTTVNN được cải thiện
- Năng lực của ĐMQG và bên được nâng lên
- Thực trạng các hoạt động quốc gia về TNDTTVNN được xem xét và những thành tựu, hạn chế và khó khăn được xác định
- Dữ liệu TNDTTVNN được thu thập, tổng hợp và quảng bá rộng rãi
- Những đề xuất và ưu tiên được thiết lập nhằm hỗ trợ thực hiện 20 lĩnh vực ưu tiên của KHTC
Những khó khăn gặp phải
Mặc dầu các các đơn vị đánh giá cao dự án và lợi ích của CCCSTT nhưng không coi đây là nhiệm vụ ưu tiên trong toàn bộ chức năng nhiệm vụ của họ, họ bận nhiều việc nên chưa dành đủ thời gian cho việc tập hợp và hệ thống hoá dữ liệu Ngoài
ra còn có một số khó khăn khác như:
- Sự phối hợp không nhịp nhàng của một số cơ quan/tổ chức
- Thiếu trang thiết bị và năng lực
- Thông tin không có sẵn (để cập nhật, do từ trước tới nay việc quản lý thông tin
chưa được quan tâm đầy đủ)
- Thiếu mạng lưới nội vùng (LAN)
Ích lợi của các chỉ dấu, biểu mẫu báo cáo và phần mềm máy tính
Nhìn chung các dấu và biểu mẫu báo cáo là phù hợp và tiện dụng trong thu thập và hệ thống hoá dữ liệu, phần mềm máy tính thì rất tiện ích Tuy nhiên vẫn có một số nhược điểm như:
- Phần mềm chỉ có thể vận hành trên các máy tính có cấu hình tương đối cao nên
nhiều đơn vị chưa đáp ứng được
- Tốc độ xử lý của phần mềm chậm
- Phần mềm sử dụng vẫn chỉ là Phiên bản Beta, và vì thế còn một số nhược điểm
Ích lợi của những hướng dẫn về thiết lập và vận hành CCCSTT
Các hướng dẫn rất có ích, do trình độ sử dụng máy tính và các ứng dụng trên
máy tính của các đơn vị rất khác nhau, cũng như trang bị máy tính của họ đã khá lỗi
thời về cấu hình, cho nên việc hướng dẫn thiết lập, cài đặt CCCSTT rất quan trọng và
đã đạt hiệu quả
Ưu nhược điểm của hỗ trợ kỹ thuật
Hỗ trợ kỹ thuật tốt và luôn kịp thời
Trang 26VI PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Danh sách các bên tham gia chính
Phụ lục 2: Báo cáo hội nghị lần thứ nhất các bên tham gia
Phụ lục 3: Báo cáo hội nghị lần thứ hai các bên tham gia
Phụ lục 4: Báo các hội nghị lần thứ ba các bên tham gia
Phụ lục 5: Các vùng được điều tra và kiểm kê về TNDTTVNN
Phụ lục 6: Danh sách các Taxon mới phát hiện
Phụ lục 7: Danh sách các loại cây trồng
Phụ lục 8: Danh sách các cây trồng đang bị đe doạ
Phụ lục 9: Danh sách các điểm bảo tồn TNDTTVNN trên đồng ruộng
Phụ lục 10: Danh sách giống và cây trồng ít được quan tâm khai thác sử dụng
Phụ lục 11: Danh sách các vườn quốc gia và mục đích bảo tồn
Phụ lục 12: Danh sách các tập đoàn ex-situ hiện có tại Việt Nam và số lượng mẫu
Phụ lục 13: Danh sách các điểm có sự tham gia của cộng đồng
Phụ lục 14: Danh sách các dự án, hoạt động góp phần nâng cao năng lực cộng đồng về Tài nguyên di truyền thực vật
Trang 27Phụ lục 1: Danh sách các bên tham gia
STT Bên tham gia Đã
cấp
DL
Địa chỉ
I Các cơ quan quản lý nhà nước
1 Vụ Khoa học Công nghệ và Môi
trường, Văn Phòng Quốc hội
x
35 Ngô Quyền, Hà Nội
2 Vụ Nông nghiệp, Văn phòng Chính phủ x Số 1, Bách Thảo, Ba Đình, Hà Nội
3 Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ NN & PTNT x Nhà A10, Số 2 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội
x 39 Trần Hưng Đạo, Hà Nội
10 Vụ Kế hoạch tài chính, Bộ KHCN 39 Trần Hưng Đạo, Hà Nội
11 Vụ Kinh tế nông nghiệp, Bộ KHĐT x Số 2, Hoàng Văn Thụ, Ba Đình, Hà Nội
12 Vụ Môi trường, Bộ TN-MT x 83 Nguyễn Chí Thanh, Hà Nội
13 Phòng bảo tồn thiên nhiên, Cục Bảo vệ môi trường, Bộ TN – MT Nguyễn Công Trứ, Hà Nội
14 Vụ KHCN, Bộ TN - MT 83 Nguyễn Chí Thanh, Hà Nội
15 Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ
GDĐT
x Số 2 Đại Cồ Việt, Hoàn Kiếm, Hà Nội
16 Vụ Tài chính HCSN, Bộ tài chính Số 8 Phan Huy Chú, Hà Nội
II Các cơ quan, tổ chức địa phương
17 Phòng Nông nghiệp địa chính huyện
Nho Quan, Ninh Bình
x Thị trấn Nho Quan, Ninh Bình
18 Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đà Bắc, Hoà Bình x Thị trấn Tu Lý, Đà Bắc, Hoà Bình
19
Phòng Nông nghiệp và phát triển
nông thôn huyện Nghĩa Hưng, Nam
Định
x Thị trấn Liễu Đề, Nghĩa Hưng, Nam Định
III Các cơ quan thuộc màng lưới của Hệ thống bảo tồn quỹ gen cây nông nghiệp quốc gia
20 Trung tâm Tài nguyên di truyền thực x An Khánh, Hoài Đức, Hà Tây
Trang 28vật, Viện KHKTNN Việt Nam
21 Viện Nghiên cứu Chè x Phú Hộ, TX Phú Thọ, Phú Thọ
22 Trung tâm Nghiên cứu cây ăn quả Phú Hộ x Phú Hộ, TX Phú Thọ, Phú Thọ
23 Trung tâm nghiên cứu Cà phê Ba Vì x Tản Lĩnh, Ba Vì, Hà Tây
24 Viện Nghiên cứu Ngô Thị trấn Phùng, Đan Phượng, Hà
Tây
25 Bộ môn Đồng cỏ và cây thức ăn chăn nuôi, Viện Chăn nuôi x Thuỵ Phương, Từ Liêm, Hà Nội
26 Viện Di truyền nông nghiệp x Đường Phạm Văn Đồng, Từ Liêm,
Hà Nội
27 Viện Thổ nhưỡng Nông hoá x Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội
28 Viện Nghiên cứu Rau - Quả x Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội
29 Viện Nghiên cứu cây lương thực và cây thực phẩm x Gia Lộc, Hải Dương
30 Trạm Nghiên cứu dâu tằm Việt Hùng Vũ Thư, Thái Bình
31 Trung tâm Nghiên cứu cây ăn quả
Phủ Quỳ
x Phủ Quỳ, Nghĩa Đàn, Nghệ An
32 Viện Nghiên cứu và phát triển cây bông x Nha Hố, Ninh Sơn, Ninh Thuận
33 Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm
nghiệp Tây nguyên
x Hoà Thắng, Buôn Mê Thuột, Đắc Lắc
34
Trung tâm NC Khoai tây, Rau và
Hoa, Viện Khoa học nông nghiệp
miền nam
x Thái Phiên, Phường 12, TP Đà Lạt, Lâm Đồng
35 Trung tâm Nghiên cứu và thực
nghiệm nông lâm nghiệp Lâm Đồng
x Bảo Lộc, Lâm Đồng
36
Trung tâm NC cây ăn quả miền Đông
nam bộ, Viện NC cây ăn quả miền
nam
x Hắc Dịch, Tân Thành, Bà Rịa – Vũng Tàu
37
Trung tâm Nghiên cứu và phát triển
mía đường, Viện Khoa học nông
nghiệp miền nam
x Phú An, Bến Cát, Bình Dương
38 Viện Khoa học nông nghiệp miền
nam
x Số 121 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quận
1, TP Hồ Chí Minh
39 Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền nam x Long Định, Châu Thành, Tiền Giang
40 Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long x Thới Thành, Cờ Đỏ, Cần Thơ
IV Các cơ quan chuyên môn nghiệp vụ không thuộc màng lưới
của Hệ thống bảo tồn quỹ gen cây nông nghiệp
41 Trung tâm Tin học NN & PTNT, Bộ
NN & PTNT Số 2 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội
Trang 2942 Trung tâm Khảo nghiệm giống cây
trồng trung ương, Bộ NN & PTNT
x
Số 6 Nguyễn Công Trứ, Hà Nội
43 Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế x 24 Phùng Hưng, TP Huế
44 Bộ môn Thực vật học, Đại học Quốc
gia Hà Nội
x 334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
45 Bộ môn Di truyền - Giống Cây trồng,
Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội
x Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội
46 Trường Đại học Tây Nguyên Hòa Thắng, Buôn Ma Thuột, Đăc Lắc
47 Viện Dược liệu, Bộ Y tế
48 Trung tâm NC trồng và chế biến cây
thuốc Hà Nội
x Ngũ Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội
49 Viện Bảo vệ thực vật x Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội
50 Viện Kinh tế kỹ thuật thuốc lá, Tổng Công ty thuốc lá Việt Nam 235A Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
51 Vườn Quốc gia Tam Đảo Thị trấn Tam Đảo, Vĩnh Phúc
52 Vườn Quốc gia Ba Vì x Tản Lĩnh, Ba Vì, Hà Tây
53 Viện Nghiên cứu Dầu thực vật – Tinh dầu – Hương liệu - Mỹ phẩm x 171-175 Hàm Nghi, Quận 1, TP Hồ Chí Minh
54 Công ty Cổ phần giống cây trồng
56 Bộ môn Hệ thống Nông nghiệp An Khánh, Hoài Đức, Hà Tây
57 Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển
lúa lai, Viện KHKTNN Việt Nam
x
An Khánh, Hoài Đức, Hà Tây
58
Trung tâm nghiên cứu và Thực
nghiệm Đậu đỗ, Viện KHKTNN Việt
Nam
x Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội
59 Trung tâm NC Cây có củ, Viện
KHKTNN Việt Nam
x Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội
60
Trung tâm chuyển giao công nghệ và
khuyến nông, Viện KHKTNN Việt
Nam
x Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội
61 Bộ môn Chọn tạo giống Lúa, Viện
KHKTNN Việt Nam
x Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội
62
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển
nông nghiệp Bắc Trung bộ, Viện
KHKTNN Việt Nam
x Hừng Đông, TP Vinh, Nghệ An
63
Trung tâm NC nông nghiệp duyên hải
nam Trung bộ, Viện KHKTNN Việt
Nam
x
317 Nguyễn Thị Minh Khai, Quy Nhơn, Bình Định
Trang 30V Các tổ chức phi chính phủ
64 Tổ chức Action Aid Căn hộ 206, Số 521 Kim Mã, Hà
Nội
65
IUCN (International Union of
Conservation of Nature and Natural
Resources)
39 Trần Hưng Đạo, Hà Nội
Danh sách Ban điều hành của Dự án
STT Họ và tên Chức vụ, cơ quan
1 PGS TS Tạ Minh Sơn Phó Viện trưởng, Viện KHNN Việt Nam Chủ tịch
2 PGS.TS Lưu Ngọc Trình Giám đốc, Trung tâm Tài nguyên thực vật,
Viện KHNN Việt Nam
Phó chủ tịch
3 TS Trịnh Khắc Quang Phó Vụ trưởng, Vụ Khoa học Công nghệ,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Uỷ viên
4 TS Phan Huy Thông Phó Cục trưởng, Cục Trồng trọt, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Uỷ viên
6 TS Ninh Đức Nhận Phó Vụ trưởng, Vụ Khoa học và Công
nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo Uỷ viên
7 TS Nguyễn Văn Thực Phó Vụ trưởng, Vụ Tài chính hành chính
sự nghiệp, Bộ Tài chính Uỷ viên
8 Bà Huỳnh Thị Mai Chuyên viên Vụ Môi trường, Bộ Tài
nguyên và Môi trường Uỷ viên
9 Ông Nguyễn Tiến Hưng
Trưởng phòng Quản lý dữ liệu và thông tin tài nguyên di truyền thực vật, Trung tâm Tài nguyên thực vật, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Thư ký
Trang 31Phụ lục 2: Báo cáo tổng kết Hội thảo lần thứ nhất về xây dựng Cơ chế chia sẻ thông tin quốc gia của Kế hoạch hành động toàn cầu GPA về PGRFA tại Việt Nam
1 Tổng quan
1.1 Hội thảo lần thứ nhất các bên tham gia được tổ chức tại Trung tâm Tài nguyên di
truyền thực vật, An Khánh, Hoài Đức, Hà Tây từ ngày 7 đến 8 tháng 6 năm 2004, với
sự tham gia của các đại biểu đến từ các tổ chức, cơ quan liên quan đến bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên di truyền thực vật cho mục tiêu lương nông (PGRFA) Mục tiêu của Hội thảo nhằm triển khai việc xây dựng Cơ chế chia sẻ thông tin quốc gia (NISM) để giám sát và thực thi Kế hoạch hành động toàn cầu (GPA) tại Việt Nam
1.2 Tiến sĩ Tạ Minh Sơn, Giám đốc Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam đã đọc
diễn văn khai mạc Hội thảo TS Nguyễn Văn Viết, Trưởng phòng Khoa học kế hoạch
và Hợp tác quốc tế giới thiệu các đại biểu tham gia Hội thảo Sau đó, TS Lưu Ngọc Trình, Giám đốc Trung tâm Tài nguyên di truyền thực vật, Đầu mối quốc gia của dự
án đã trình bày vắn tắt các mục tiêu của Hội thảo
1.3 Trong bài phát biểu của mình, TS Lưu Ngọc Trình đã nêu lý do cơ bản của việc hình
thành NISM về giám sát và thực hiện GPA
Dựa trên những kinh nghiệm chuẩn bị các báo cáo quốc gia tại Hội nghị kỹ thuật quốc
tế năm 1996 và các hội nghị năm 1998, 2000 về giám sát thực hiện GPA, FAO cùng với Ủy hội quốc tế về tài nguyên di truyền thực vật cho mục tiêu lương nông, các đầu mối quốc gia của các nước và Viện Tài nguyên di truyền thực vật quốc tế đã phác thảo
và thông qua việc xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin quốc gia để thực hiện GPA Qua các lần thử nghiệm, cơ chế chia sẻ thông tin đã được cấu trúc lại và bổ sung thêm, cùng thực hiện và tổng kết bởi các nước trong khu vực như Bangladesh, India, Malaysia, Philippines, Sri Lanka, Thailand và Việt Nam
1.4 TS Trình cũng đã đề cập đến các chủ đề chính của Hội thảo, việc tăng cường năng lực
quốc gia cũng như việc cộng tác tốt giữa các SH về công tác quản lý PGRFA, việc nâng cao nhận thức của các bên tham gia về thực trạng PGRFA, việc cải tiến chất lượng thông tin về hiện trạng và áp lực diễn biến có thể làm thay đổi PGRFA, nâng cấp việc truy cập và chia sẻ thông tin về PGRRFA trong nước, khu vực và quốc tế, nâng cao năng lực quốc gia để hoàn thành nhiệm vụ làm báo cáo tổng kết cho quốc tế 1.5 Xây dựng khuôn mẫu về khả năng giám sát việc triển khai GPA, mà NISM là hạt nhân
với các chỉ thị để giám sát việc triển khai tất cả các lĩnh vực ưu tiên của GPA ở cấp quốc gia; một bảng câu hỏi dựa trên những chỉ thị này và một chương trình ứng dụng máy tính sẽ giúp cho việc thu thập, ghi dữ liệu, việc xử lý, phân tích và chia sẻ thông tin được thuận lợi và đơn giản nhiều
2 20 lĩnh vực hoạt động ưu tiên của GPA về bảo tồn và sử dụng bền vững PGRFA, Dự
án GCP/RAP/186/JPN trong việc thực hiện GPA khu vực Châu Á Thái Bình Dương 2.1 TS Lưu Ngọc Trình, Đầu mối quốc gia của dự án đã trình bày tầm quan trọng mang
tính toàn cầu của PGRFA, tổng quan về tài nguyên di truyền thực vật của Việt Nam, công tác bảo tồn và sử dụng bền vững PGRFA, Tuyên bố Leipzig 1996, TS Trình nhấn mạnh 20 hoạt động ưu tiên nằm trong 4 lĩnh vực chính đó là:
- Bảo tồn in-situ và phát triển
+ Điều tra và kiểm kê PGRFA
+ Hỗ trợ quản lý trên đồng ruộng và cải tiến PGRFA
+ Trợ giúp nông dân trong vùng thảm họa để phục hồi các hệ thống sản xuất nông nghiệp
+ Đẩy mạnh bảo tồn in-situ các họ hàng cây trồng và cây hoang dại có giá trị nông nghiệp
Trang 32- Bảo tồn ex-situ
+ Duy trì bền vững các tập đoàn ex-situ
+ Nhân lại các nguồn gen ex-situ có nguy cơ
+Hỗ trợ thu thập có kế hoạch và mục tiêu rõ ràng PGRFA
+ Mở rộng các hoạt động bảo tồn ex-situ
- Sử dụng PGR
+ Mở rộng mô tả, đánh giá và tăng số lượng tập đoàn hạt nhân để thuận tiện khai thác sử dụng
+ Tăng cường gen nổi trội và mở rộng vốn gen
+ Đẩy mạnh phát triển hàng hóa các cây trồng và các loài chưa được quan tâm khai thác sử dụng
+ Hỗ trợ sản xuất và cung ứng giống
+ Phát triển thị trường mới đối với những giống địa phương và sản phẩm “phong phú đa dạng”
- Xây dựng tổ chức và năng lực
+ Xây dựng các chương trình quốc gia mạnh
+ Đẩy mạnh các mạng lưới về PGRFA
+ Xây dựng các hệ thống thông tin toàn diện về PGRFA
+ Xây dựng các hệ thống giám sát và cảnh báo về việc mất mát PGRFA
+ Đẩy mạnh cải tiến giáo dục và đào tạo
+ Nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của công tác bảo tồn PGRFA
3 Cơ chế chia sẻ thông tin quốc gia để giám sát việc triển khai GPA ở Việt Nam
3.1 PGS TS Lưu Ngọc Trình trình bày những phần chính của Cơ chế chia sẻ thông tin
quốc gia bao gồm các chỉ thị, khuôn dạng báo cáo và phần mềm ứng dụng máy tính để thu thập số liệu vào NISM Việc triển khai NISM được chia làm 3 giai đoạn chủ yếu là: Giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn thực hiện và giai đoạn tổng hợp báo cáo Báo cáo yêu cầu phải có các phần sau: những thành tựu và hạn chế trong quá trình giám sát việc thực hiện GPA và xây dựng NISM; Ích lợi của các chỉ thị và khuôn dạng báo cáo về GPA, phần mềm máy tính cũng như những đề xuất để cải tiến; Ích lợi của việc hướng dẫn để thành lập và vận hành NISM, cuốn sách hướng dẫn sử dụng và thao tác với phần mềm máy tính và những chỉ dẫn đối với các bên tham gia; Những điểm mạnh và điểm yếu của việc trợ giúp kỹ thuật; kế hoạch của NFP và các bên tham gia để duy trì
và nâng cấp NISM, dự tính những khó khăn và giải pháp khắc phục
Làm thế nào để vận hành có hiệu quả cơ chế NISM là vấn đề cũng được thảo luận tại Hội thảo Cần có sự cộng tác và phối hợp chặt chẽ giữa NFP và các bên tham gia Có
3 yếu tố liên quan đến NISM đó là hệ thống các bảng chuẩn chung để quản lý dữ liệu; khung thời gian để hoàn thành việc thu thập số liệu, thông tin liên quan; sự nhiệt tình đóng góp cho NISM của các bên tham gia
3.2 TS N Quat Ng., Cố vấn trưởng về kỹ thuật của Dự án đã trình bày về Kế hoạch
hành động toàn cầu để bảo tồn và sử dụng bền vững PGRFA Thực chất của kế hoạch này là để đóng góp cho việc thực hiện Công ước Đa dạng sinh học (CBD), nhằm đẩy mạnh công tác bảo tồn và sử dụng bền vững, chia sẻ công bằng hợp lý những phúc lợi
từ PGR Bốn hoạt động lớn của GPA là: bảo tồn in-situ và phát triển; bảo tồn ex-situ;
sử dụng bền vững; xây dựng tổ chức và năng lực
Các hoạt động hiện tại của dự án là: Thành lập NISM để thực hiện giám sát GPA (GPA-IFS), đánh giá hiện trạng PGR để xác định nhu cầu và xác lập ưu tiên trong việc
Trang 33triển khai GPA; đánh giá và chia sẻ các bài học kinh nghiệm về bảo tồn in-situ và quản lý on–farm của PGRFA; thúc đẩy việc thực hiện GPA
Danh sách các chỉ thị là cốt lõi của NISM gồm 83 chỉ thị hạt nhân và 68 chỉ thị bổ sung, một phần mềm dưới dạng bảng câu hỏi để thuận tiện và đơn giản cho việc trả lời
và thu nhận dữ liệu, cũng như phân tích chia sẻ thông tin giữa các bên tham gia
Đóng góp của dự án chính là việc xây dựng thành công cơ chế chia sẻ thông tin để giám sát việc thực hiện kế hoạch hành động toàn cầu, trên cơ sở đánh giá được hiện trạng PGRFA, xác định nhu cầu và những ưu tiên, năng lực quốc gia để triển khai công tác bảo tồn in-situ và nâng cấp việc quản lý on-farm, đóng góp cho các báo cáo lần thứ 2 của quốc gia và báo cáo về hiện trạng PGRFA trên thế giới, khuyến khích sự quan tâm đến PGRFA và đẩy mạnh và tăng cường năng lực quốc gia thực hiện GPA, quảng bá các hoạt động của GPA, tăng cường mối quan hệ, hợp tác giữa các bên tham gia, quốc gia, khu vực và quốc tế
3.3 Các mục tiêu của dự án GCP/RAS/186/JPN cần đạt được trong 2 giai đoạn:
Các mục tiêu dài hạn của dự án là để góp phần tăng cường an ninh lương thực thế giới và phát triển kinh tế xã hội, giảm đói nghèo, sản xuất nông nghiệp bền vững thông qua bảo tồn và sử dụng hợp lý PGRFA;
Các mục tiêu trước mắt của dự án là 20 lĩnh vực hoạt động ưu tiên mà GPA đã xác định; cải thiện năng lực quốc gia về giám sát triển khai 20 lĩnh vực của GPA; Chia sẻ những bài học kinh nghiệm về bảo tồn in-situ và quản lý on-farm PGRFA giữa các nước trong khu vực; cải thiện năng lực quốc gia trong việc triển khai các hoạt động này
3.4 TS Lưu Ngọc Trình, NFP trình bày tầm quan trọng của NISM, trách nhiệm đóng góp của các bên tham gia, NFP và quyền lợi có được từ việc tham gia cơ chế này Những bên liên quan đóng vai trò quan trọng trong đó là NFP, SHs, FAO và IPGRI
NFP sẽ thay mặt Chính phủ báo cáo việc thực hiện GPA với Ủy hội Tài nguyên di truyền thực vật (gọi tắt là CGPRFA) NFP cần phải hợp tác và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động trao đổi thông tin, trình bày báo cáo trong nước, khu vực và quốc tế NFP phải điều phối, tổ chức và hướng dẫn cho các bên liên quan, cụ thể là chỉnh lý, hoàn thiện “Các bảng chung”, tổ chức các hội thảo trong nước, hướng dẫn các bên liên quan tham gia vào NISM, hướng dẫn và cung cấp các phần mềm của NISM cho các
SH để họ nhập dữ liệu, tổ hợp các thông tin dữ liệu từ SH SH là các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân trực tiếp hay gián tiếp có liên quan đến các chương trình quốc gia về PGRFA Các SH chính là nền tảng của NISM, họ có trách nhiệm nhân rộng kiến thức
cơ bản về bảo tồn và sử dụng PGRFA, cập nhật và phát triển có hiệu quả việc thu thập thông tin, tìm kiếm sự hỗ trợ từ các tổ chức và xã hội, đảm bảo quyền sở hữu đích thực về xây dựng và phát triển NISM
4 Trình diễn phần mềm và giới thiệu các bảng chung
4.1 Ông Nguyễn Tiến Hưng, Trưởng Phòng Quản lý dữ liệu và thông tin TNDTTV giới
thiệu chi tiết các chỉ thị và khuôn dạng báo cáo để giám sát việc thực hiện GPA để bảo tồn và sử dụng PGR (GPAFA)
Một trong những phần chính của GPAFA-IFS là một bộ các chỉ thị gồm 83 chỉ thị hạt nhân và 68 chỉ thị bổ sung Các chỉ thị hạt nhân là những thông tin cơ bản để làm các báo cáo của các nước thành viên
4.2 CN Đinh Văn Đạo, Phòng Quản lý dữ liệu và thông tin TNDTTV giới thiệu 9 bảng
chung và vai trò dữ liệu các bảng chung trong cấu trúc liên động của phần mềm IFS Trong 9 bảng chung dữ liệu được ghi gồm những thông tin chi tiết về các tổ chức
GPA-cơ quan, những người có liên quan, các chương trình dự án hay hoạt động, tham chiếu
và những thoả thuận tham chiếu đến từng bảng trong khuôn dạng báo cáo Việc thu
Trang 34thập và trao đổi dữ liệu có thể thực hiện qua các bản mẫu có sẵn tuy nhiên khá phức tạp
4.3 Tại Hội thảo, ThS Phạm Hùng Cương, Phòng Quản lý dữ liệu và thông tin TNDTTV
đã tiến hành một khảo sát ngắn các đại biểu về nhu cầu và năng lực máy tính của các bên tham gia như có máy tính để làm NISM hay không, cấu hình máy, kỹ năng sử dụng, Xác định các giải pháp khắc phục để đảm bảo cho việc thu thập, nhập và xuất
dữ liệu
5 Thảo luận
5.1 Các thảo luận xung quanh các vấn đề để làm rõ kế hoạch làm việc, khả năng thực hiện
của các bên tham gia, những thuận lợi khó khăn và đưa ra các giải pháp khắc phục, cơ chế tổ chức, quyền lợi và trách nhiệm của NFP và SH, của Ban điều hành dự án
5.2 Để đạt hiệu quả cao trong việc thực hiện GPAFA cần có sự điều phối chung Để duy
trì cơ chế làm việc và tránh sai sót trong tiến trình thực hiện, đa số đại biểu đề nghị nhình thành nhòm làm việc của dự án Mặt khác để đảm bảo hoạt động thường xuyên cần phải thành lập ban điều hành dự án, dự kiến gồm các thành viên sau:
- PGS TS Tạ Minh Sơn, Giám đốc VASI, Chủ tịch
- PGS TS Lưu Ngọc Trình Giám đốc Trung tâm TNDTTV và là NFP, Phó chủ tịch
- TS Trịnh Khắc Quang, Phó vụ trưởng vụ Khoa học công nghệ, bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, uỷ viên
- TS Phan Huy Thông, Phó cục trưởng Cục trông trọt, bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, uỷ viên
- TS Lê Minh Sắt, Phó vụ trưởng vụ Khoa học công nghệ các ngành kinh tế kỹ thuật,
bộ Khoa học và Công nghệ, uỷ viên
- Một đại diện từ Bộ Tài nguyên môi trường, uỷ viên
- Một đại diện từ Bộ Tài chính, uỷ viên
- Một đại diện từ Bộ Y tế, uỷ viên
- Một đại diện từ Bộ Thuỷ sản, uỷ viên
- Một đại diện từ Bộ, uỷ viên
- Kỹ sư Nguyễn Tiến Hưng, Trưởng Phòng Quản lý dữ liệu và Thông tin TNDTTV, Trung tâm TNDTTV, thư ký
5.3 Danh sách các bên tham gia hạt nhân Thông qua thảo luận, lấy ý kiến từ các đại biểu
và dựa trên các tiêu chí của việc xây dựng NISM, Hội thảo đi đến thống nhất một danh sách gồm 24 SH hạt nhân Những SH này đóng vai trò quan trọng cho NISM
5.4 Tổng hợp các ý kiến thảo luận từ hội thảo
- Thàng lập NISM là cốt yếu của quá trình hợp nhất và tập hợp thông tin về bảo tồn và
sử dụng PGRFA; thông qua NISM, các bên tham gia dễ dàng trao đổi thông tin để sử dụng vào việc xây dựng các chương trình bảo tồn và sử dụng PGRFA
- Các đại biểu hiểu được lợi ích của việc tham gia vào NISM, tuy nhiên, phải được sự chấp thuận của cơ quan họ, do vậy sẽ có những thoả thuận chính thức giữa NFP và lãnh đạo các tổ chức cơ quan tham gia
- NISM cần thiết phải duy trì lâu dài, ổn định do vậy cần phải có nguồn tài chính để nó hoạt động có hiệu quả; tìm nguồn tài trợ có thể từ FAO hoặc các tổ chức quôc tế, cũng như từ chính phủ thông qua các dự án
6 Kết luận
- Các bên tham gia đã thống nhất việc tham gia xây dựng NISM;
- Xác định vai trò và trách nhiệm của các bên tham gia và NFP;
Trang 35- Thoả thuận được kế hoạch xây dựng NISM và huấn luyện;
- Các bên tham gia đã tìm hiểu các kỹ năng sử dụng phần mềm và các bảng
chung của khuôn dạng báo cáo giám sát triển khai kế hoạch hành động toàn cầu;
- Tăng cường hợp tác giữa các bên tham gia trong việc thực hiện GPA về bảo tồn và sử dụng bền vững PGRFA
- Xây dựng một bản kế hoạch làm việc và thời gian biểu cho các hội thảo sau này;
- Toàn thể hội thảo đã thống nhất vai trò và trách nhiệm của TS Lưu Ngọc Trình Giám đốc Trung tâm Tài nguyên thực vật và là Đầu mối của Việt Nam
- Đề nghị một ban điều hành dự án để điều phối, tư vấn và giám sát các hoạt động thực hiện việc thành lập NISM
Đầu môi quốc gia Giám đốc VASI
Giám đốc TTTNDTTV, VASI
TS LƯU NGỌC TRÌNH TS TẠ MINH SƠN
Trang 36Phụ lục 3: Báo cáo tổng kết Hội thảo lần thứ hai về xây dựng Cơ chế chia sẻ thông tin quốc gia của Kế hoạch hành động toàn cầu GPA về PGRFA tại Việt Nam
1 Tổng quan
1.1 Hội thảo lần thứ hai các bên tham gia gồm các đại diện của các cơ quan, tổ chức nghiên cứu và quản lý có liên quan đến bảo tồn và sử dụng PGRFA Hội thảo lần này được tổ chức tại Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam, Văn Điển, Thanh Trì, Hà Nội từ 23-24 tháng 11/2004 Sau hội thảo lần thứ nhẩt, các hoạt động triển khai kế hoạch đã được đẩy mạnh
1.2 TS Lưu Ngọc Trình, Giám đốc Trung tâm TNDTTV, Đầu mối quốc gia của
Dự án trình bày trước hội thảo mục tiêu cần đạt được, nội dung của hội thảo TS Nguyễn Ngọc Huệ giới thiệu các đại biểu đại diện cho các cơ quan Chính phủ, quản lý Nhà nước, các tổ chức nghiên cứu đã về dự đông đủ TS Phạm Văn Chương, Phó viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam nhiệt liệt chào mừng các đại biểu
1.3 TS Lưu Ngọc Trình điểm qua các kết quả thu được và các hoạt động đã triển khai ngay sau khi hội thảo lần thứ nhất kết thúc Những nội dung cần thực hiện mà kế hoạch đã định ra, thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện, những tồn tại cần khắc phục
1.4 TS Nyat Quat Ng trình bày các tiêu chí để tăng cường năng lực quốc gia
về giám sát thực hiện kế hoạch hành động toàn cầu và những mục tiêu của nó Mục tiêu tổng thể của Dự án GCP/RAS/186/JPN cần đạt được cho đến hội thảo lần thứ hai mà FAO-RAP mong muốn Việt Nam đạt được
1.5 TS Lưu Ngọc Trình đã chủ trì hội thảo để thảo luận các giải pháp để thu thập dữ liệu nhanh nhiều và chính xác hạn định để NFP nhận được số liệu từ các
2.1 TS Nyat Quat Ng, trình bày trước hội thảo về việc thực hiện triển khai dự
án trong bối cảnh chung của khu vực và thế giới, hiện trạng tiến độ của dự án, do
đó những mục tiêu cần đạt được đó là:
• Nâng cao năng lực của các nước thành viên để có thể đánh giá đúng hiện trạng PGR và giám sát quá trình thực hiện GPA, cũng như đánh giá quá trình thay đổi của PGR theo thời gian
• Xây dựng một cư chế quốc gia để thu thập thông tin về thực hiện GPA
nhằm tăng cường sự điều phối theo kế hoạch và các hoạt động bảo tồn và sử dụng PGRFA trong các bên tham gia
• Tăng cường sự hiểu biết giữa các bêm tham gia về hiện trạng PGR ở các vùng sinh thái, xây dựng mối quan hệ hữu cư giữa các đối tác
• Nâng cao năng lực quốc gia về việc ra quyết định bảo tồn và sử dụng PGR, gồm các xác lập ưu tiên và phân bổ các nguồn lực
• Tăng cường năng lực quốc gia để hoàn thành nhiệm vụ báo cáo quốc tế và quảng bá quốc tế
2.2 TS Nyat Quat Ng, đã chỉ rõ các mục tiêu chung của hội thảo lần này là:
Trang 37xem xét tiến trình các hoạt động từ sau khi hội thảo lần thứ nhất và làm rõ những tồn tại để tìm giải pháp khắc phục
Để cập nhật và xem xét 9 bảng chung, các chỉ thị và khuôn dạng báo cáo
Để tóm lược những vấn đề quan trọng hoàn thành việc nhập thông tin cho bảng chung
Huấn luyện, hướng dẫn các bên tham gia sử dụng thành thạo phần mềm NISM, cách trả lời các câu hỏi và cập nhật thông tin
Xây dựng các tiêu chuẩn, nội dung và khuôn dạng dữ liệu, làm báo cáo, thời hạn đệ trình dữ liệu của bên tham gia tới NFP NFP có trách nhiệm tổ hợp, chỉnh lý
và phân tích để chuận bị một báo cáo tổng kết gửi tới FAO, trực tiếp là Cố vấn
trưởng kỹ thuật của dự án
Các bên tham gia nắm được nhữngnội dung cần tiến hành để chuẩn bị cho báo cáo quốc gia về hiện trang PGRFA và thảo luận cách tiến hành
Ngay sau khi hội thảo kết thúc, các bên tham gia sẽ nhận được phần mềm trong đó đã có sẵn dữ liệu cập nhật tại hội thảo để họ có thể cài đặt và vận hành 2.3 TS Nyat Quat Ng mong muốn hội thảo lần hai sẽ thu được các kết quả như:
Các bên tham gia nhận ra tầm quan trọng và mục tiêu của việc xây dựng NISM cho đất nước Các SH tự họ có thể cập nhật được các bảng chung và trả lời các câu hỏi trên cơ sở hiểu biết toàn diện về lĩnh vực mà họ đã và đang triển khai
có liên quan đến PGRFA.Các đề xuất của SH được nghi nhận vào NISM
Các SH hoàn toàn tận tuỵ với công việc, tham gia các lần huấn luyện để thông thạo hơn
Thông tin và dữ liệu các bảng chung được cập nhật và xem xét
Các đĩa CD để cài đặt NISM cho SH được tạo ra và đăng ký
Thời hạn hoàn thành dữ liệu và các kế hoạch tiếp theo được ấn định
Các tiêu chuẩn, nội dung khuôn dạng và khung thời gian được thảo luận và thống nhất, bao gồm việc tổ hợp dữ liệu và chuẩn bị baó cáo tổng hợp để đệ trình cho FAO
2.4 Cho đến hội thảo này, việc thực hiện GPA tại Việt Nam đã đạt được những kết quả cụ thể như sau:
Đã có 16 cơ quan cung cấp số liệu lần 1 để NFP xem xét, chỉnh lý và hướng dẫn cách trả lời theo sát những yêu cầu trong NISM
NFP nhận được dữ liệu từ 8 cơ quan thông qua dạng xuất ra từ phần mềm, 6
cơ quan qua đường email, 1 cơ quan qua đường bưu điện,
trong đó có 5 cơ quan quản lý và 11 cơ sở nghiên cứu ,
3 Huấn luyện vận hành, nhập chỉnh sửa và xuất dữ liệu cho các Bên tham gia
3.1 Ông Nguyễn Tien Hưng, Trưởng phòng dữ liệu và TTTNDTTV, và Ông Hoang Gia Trinh đã hướng dẫn cách nhập, sửa và chỉnh lý dữ liệu vào 9 bảng chung: Address Table, Project Table, Variety Table, Area Table, Information System Table, Reference Table, Agreement Table and Organization Table
3.2 Sau đó, các bên tham gia được thực hành Version 3.4 GPA-IFS software, trả lời các câu hỏi của 20 lĩnh vực ưu tiên của GPA
3.3 TS Nyat Quat Ng, trình bày chia sẻ các kinh nghiệm và các bài học của các nước trong khu vực về quá trình thực hiện dự án
Trang 383.4 Cuối buổi huấn luyện các bên tham gia đăng ký nhận đĩa CD phần mềm, đồng nghĩa với việc họ đã chính thức đăng ký vào NISM
4 Tổng kết hội thảo
4.1 Theo sau hội thảo lần thứ nhất, hội thảo lần thứ hai đã được tổ chức vào 23
và 24 tháng 11 năm 2004, tại VASI, Văn Điển, Thanh Trì, Hà Nội, với mục tiêu chính là để xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin quốc gia để triển khai GPA tại Việt Nam, với sự tham gia của các tổ chức cơ quan tham gia bảo tồn và sử dụng PGRFA
4.2 Sự tham gia đông đảo các tổ chức, cơ quan liên quan, 60 đại diện Ban điều hành quốc gia của dự án cũng đã được khẳng định lại
4.3 Các bên tham gia đã lĩnh hội toàn diện hơn về NISM để giám sát thực hiện GPAFA, vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của họ khi tham gia NISM
4.4 Các đại biểu tiếp tục thảo luận về:
- Dữ liệu cho các bảng chung:
1 Institution Table (Instable)
2 Project Table (Protab)
3 Cultivars Table (Cultab)
4 Person Table (Pertab)
5 Reference Table (Reftab)
6 System Information Table (Systab)
7 Taxon Table (Taxtab)
8 Agreement Table (Argtab)
9 Area Table (Aretab)
- Cần có giải pháp khắc phục khó khăn trong quá trình thực hiện dự án:
+ Khó tổ hợp dữ liệu vì nó khá xa lạ với nhìn nhận của các SH như Protab,
Pertab,
+ Một số chỉ thị câu hỏi chưa hoàn toàn rõ nghĩa
+ Phần mềm cần hoàn thiện sớm phiên bản chính thức để an toàn dữ liệu
+ Người dùng chưa hoàn toàn hiểu rõ clàm thế nào để trả lời đúng các câu hỏi trong bảng chung, vì dữ liệu có nhiều liên động chéo
+ An toàn thông tin cần phải đặt ra
+ Dữ liệu quá nhiều SH khó thu thập và phân loại dữ liệu
+ SHs bị hạn chế về thời gian để cấp dữ liệu
+ Nhân sự thay đổi, người có thẩm quyền cấp dữ liệu không phải là đại biểu tham gia hội nghị
+ Máy tính của SH thường thiếu và cấu hình không đáp ứng
- Giải pháp tháo gỡ:
+ Nhanh chóng hoàn thiện phần mềm tiếng Việt
+ Khích lệ động viên các SH làm tốt trách nhiệm của mình
+ NFP sẽ trực tiếp cùng với SH thu thập, tập hợp số liệu
+ Định ngày cụ thể để các SH giao nộp dữ liệu
4.5 Trong phần thảo luận, các SH đã trao đổi kinh nghiệm về thu thạp, tập hợp, cập nhật và xuất dữ liệu
4.6 Hội thảo đã giành nhiều thời gian tập trung hướng dẫn các SH sử dụng phần mềm NISM mới nâng cấp và đã thu được kết quả tốt
Trang 394.7 Dữ liệu các bảng chung của các SH một phần đã được cập nhật sửa chữa ngay tại hội thảo, sau đó phần mềm đã cấp phát tới SH
4.8 Hội thảo nhất trí cao Việt Nam có thể hoàn thành dự án theo đúng tiến độ, trong đó sẽ tổ chức 2 hội nghị còn lại trước khi kết thúc dự án theo dự kiến là cuối tháng 3 năm 2005
4.9 Hội thảo lần thứ ba sẽ là hội thảo cuối cùng các bên tham gia để tổng hợp, chỉnh lý, chuẩn hoá dữ liệu, thu thập các đề xuất của các bên tham gia về xây dựng NISM để giám sát thực hiện GPAFA
5 Thành phần các đại biểu tham dự hội thảo
Hội thảo đã có sự đóng góp đông đủ các khách mời, các bên liên quan, cụ thể như sau:
- Đại diện FAO: 2 đại biểu
- Đại diện các cơ quan quản lý nhà nước:10 đại biểu
- Đại diện các cơ quan nghiên cứu và triển khai: 10 đại biểu
- Đại diện các đơn vị thuộc VASI: 9 đại biểu
- Đại diện các hội nông dân và tổ chức địa phương: 3 đại biểu
- Đại diện các cơ quan mạng lưới của hệ thống bảo tồn PGRFA quốc gia: 17 đại biểu
- Các đại biểu là trưởng phó các đơn vị trong Trung tâm TNDTTV: 10 đại biểu
National Focal Point Director General of VASI
Director of PGR Center, VASI
Dr Luu Ngoc Trinh Dr Ta Minh Son
Trang 40Phụ lục 4: Báo các hội nghị lần thứ ba các bên tham gia
1 Hội nghị các bên tham gia lần thứ 2 về việc thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin quốc gia, thực hiện kế hoạch hoạt động toàn cầu về bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên di truyền thực vật tại Việt Nam đã được tổ chức tại Trung tâm Tài nguyên Thực vật, An khánh, Hoài Đức, Hà Tây, Việt Nam trong 2 ngày 29 và 30 tháng 3 năm 2006, với sự tham gia của
58 thành viên liên đới và các tổ chức liên quan (có danh sách kèm theo)
4 PGS TS Lưu Ngọc Trình, Giám đốc Trung Tâm Tài nguyên Thực vật trình bày bản báo cáo dự thảo tổng hợp quốc gia cuối cùng về việc thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin quốc gia, thực hiện kế hoạch hoạt động toàn cầu về bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên di truyền thực vật tại Việt Nam
5 KS Nguyễn Tiến Hưng, Trung tâm tài nguyên Thực vật, báo cáo về cơ sở dữ liệu của việc thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin quốc gia, thực hiện kế hoạch hoạt động toàn cầu về bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên di truyền thực vật tại Việt Nam
6 Các bên tham gia được lập thành các nhóm thảo luận bàn bạc và nhận xét về việc:
- Xem xét lại và hoàn tất bản báo cáo tổng hợp quốc gia cuối cùng, đặc biệt là việc đưa ra các đề nghị chi tiết, các ưu tiên
- Các bài học rút ra từ quá trình thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin quốc gia
- Kế hoạch duy trì và phát huy Cơ chế đã thiết lập
Dưới đây là những đề nghị, những ưu tiên đã được nhất trí thông qua:
- Xúc tiến việc bảo tồn trên đồng ruộng và phát triển các giống đặc sản lúa, ngô, rau địa phương thông qua việc nâng cao năng suất, mức tiêu thụ và thương mại hóa sản phẩm
- Thiết lập các vùng bảo tồn in-situ hoặc trên đồng ruộng đối với một số cây ăn quả đặc sản như: quýt Bắc cạn; bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ), bưởi Diễn (Hà Nội); bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh) và bưởi Năm Roi (Vĩnh Long); cam Canh (Hà Nội), cam Bố Hạ (Nghệ An); chuối Ngự (Ninh Bình); xoài Yên Châu (Sơn La) Những loại hoa quả đặc sản này đều có giá trị kinh tế, văn hoá, xã hội, nhưng do không được chú trọng nên đã bị xói mòn và thoái hóa
- Xem xét lại và mô tả tất cả các tập đoàn ex-situ và xoá bỏ các bản sao
- Thu thập tài nguyên di truyền thực vật thuộc các vùng xây dựng của thuỷ điện Sơn La và Cửa Đạt cũng như dọc tuyến đường Hồ Chí Minh
- Thu thập và bảo tồn các giống lúa, ngô lai và các dòng bố mẹ Bảo tồn ex-situ là lựa chọn duy nhất để duy trì những vật liệu gen quý báu - những vật liệu rất hữu ích cho sự phát triển mùa màng
- Thu thập, đánh giá, bảo tồn nguồn gen Dừa ở Côn Đảo (1 hòn đảo của Việt Nam rất nổi tiếng về sự đa dạng của cây dừa) và các loại chưa bao giờ được thu thập, đánh giá
- Thu thập, bảo tồn, đánh giá các loại Đậu tương dại ở Hậu Giang Được biết có rất nhiều loại Đậu tương lông có sức chống chịu sâu bệnh tốt chưa được thu thập và nghiên cứu