1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁO “Đánh giá tác động của các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến quá trình phân bố nước mặt, nước ngầm, quá trình trữ nước và chất lượng nguồn nước đảo Cô Tô”

53 35 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung 4: Nghiên cứu, đánh giá tác động của các nhân tố tự nhiên, nhân tạo ảnh hưởng đến quá trình phân bố nước mặt, nước ngầm, quá trình trữ nước và chất lượng nguồn nước các đảo nghi

Trang 1

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KH&CN PHỤC VỤ QUẢN LÝ BIỂN,

HẢI ĐẢO VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN

Mã số KC.09/16-20

BÁO CÁO CÔNG VIỆC SỐ 49

“Đánh giá tác động của các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến quá trình phân bố nước mặt, nước ngầm, quá trình trữ nước và

chất lượng nguồn nước đảo Cô Tô”

Đề tài: “Đánh giá tiềm năng, biến động tài nguyên nước mặt, nước ngầm và đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên nước

phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở một số đảo trọng điểm”

Mã số: KC.09.04/16-20

Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Hải văn và Môi trường

Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Bùi Xuân Thông

Nhóm thực hiện công việc: PGS.TS Lã Văn Chú

Ths An Tuấn Anh Ths Văn Thị Hằng

Cơ quan: Viện Tài nguyên môi trường nước

Hà Nội, 2017

Trang 2

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KH&CN PHỤC VỤ QUẢN LÝ BIỂN,

HẢI ĐẢO VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN

Mã số KC.09/16-20

BÁO CÁO CÔNG VIỆC SỐ 49

“Đánh giá tác động của các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến quá trình phân bố nước mặt, nước ngầm, quá trình trữ nước và

chất lượng nguồn nước đảo Cô Tô”

Đề tài: “Đánh giá tiềm năng, biến động tài nguyên nước mặt,

nước ngầm và đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên nước

phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở một số đảo trọng điểm”

Mã số: KC.09.04/16-20

Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Hải văn và Môi trường

Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Bùi Xuân Thông

Nhóm thực hiện công việc: PGS.TS Lã Văn Chú

Ths An Tuấn Anh Ths Văn Thị Hằng

Cơ quan: Viện Tài nguyên môi trường nước

Hà Nội, năm 2017

Trang 3

i

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC BẢNG iv

DANH MỤC HÌNH v

MỞ ĐẦU 1

I Điều kiện địa hình-địa chất đảo Cô Tô 2

1.1 Vị trí địa lý 2

1.2 Đặc điểm địa hình 3

1.3 Đặc điểm địa chất 4

1.4 Đặc điểm đất, thổ nhưỡng 5

1.5 Tình hình sử dụng đất 12

1.6 Tài nguyên rừng 13

II Điều kiện khí tượng thủy văn đảo Cô Tô 14

2.1 Điều kiện khí hậu - khí tượng 14

2.1.1 Đặc điểm chung nền khí hậu biển Đông Việt Nam 14

2.1.2 Chế độ khí hậu khu vực đảo Cô Tô và lân cận 16

2.2 Thủy văn – Tài nguyên nước 28

2.2.1 Chế độ thủy văn 28

2.2.2 Đánh giá tài nguyên nước 29

III HẢI VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG BIỂN 36

3.1 Hải văn 36

3.1.1 Tổng quan chế độ thủy triều ven bờ Việt Nam 36

3.1.2 Chế độ thủy triều khu vực huyện đảo Cô Tô 40

Trang 4

ii

3.2 Độ mặn của nước biển 42

KẾT LUẬN 44TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

Trang 5

iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

FAO Tổ chức lương thực và nông nghiệp

Liên Hiệp Quốc

UNESCO Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo

dục Liên Hiệp Quốc

Trang 6

iv

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Kết quả phân tích mẫu diện CT.11 [1] 10

Bảng 1.2 Kết quả phân tích mẫu diện đất CT.13 [1] 10

Bảng 2.1 Lưới trạm khí tượng cơ bản khu vực nghiên cứu 17

Bảng 2.2 Nhiệt độ không khí trung bình (0C) 19

Bảng 2.3 Các đặc trưng lượng mưa trung bình năm (mm) 20

Bảng 2.4 Tổng lượng mưa tháng, năm tại trạm khí tượng Cô Tô (mm) 21

Bảng 2.5 Một số đặc trưng cường độ mưa và lượng mưa ngày lớn nhất 22

Bảng 2.6 Độ ẩm không khí trung bình (%) 23

Bảng 2.7 Lượng bốc hơi trung bình tháng và năm (mm) 24

Bảng 2.8 Tần suất gió theo các hướng (%) 25

Bảng 2.9 Tốc độ gió trung bình tháng và năm (m/s) 26

Bảng 2.10 Tốc độ gió mạnh nhất và ước lượng theo các chu kỳ (m/s) 26

Bảng 2.11 Đặc trưng dòng chảy các trạm thủy văn ven biển Quảng Ninh 29

Bảng 2.12 Giá trị trung bình các yếu tố khí tượng trạm Cô Tô (1959-2010) 31

Bảng 2.13 Kết quả tính toán dòng chảy tràn trung bình nhiều năm thời kỳ 1959-2010 32

Bảng 3.1 Một số đặc trưng chủ yếu của thủy triều tại các cảng tiêu biểu thuộc bờ biển Việt Nam [13] 37

Bảng 3.2 Chỉ số phân loại tính chất thủy triều 38

Bảng 3.3 Phân vùng đặc điểm chế độ thủy triều ven bờ biển Việt Nam (Nguyễn Ngọc Thụy – 1984) [13] 38

Bảng 3.4 Các đặc trưng nhiều năm mực nước biển (cm) 41

Bảng 3.5 Các đặc trưng nhiều năm mực nước biển (cm) 42

Trang 7

v

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Vị trí huyện đảo Cô Tô 3Hình 2.1 Mạng lưới trạm khí tượng khu vực Bắc vịnh Bắc Bộ 17Hình 2.2 Biến trình trung bình trong năm của lượng mưa tại một số trạm 20

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

Cô Tô là một huyện đảo xung quanh là biển bao bọc, địa bàn bị chia cắt thành các hòn đảo nhỏ, sông suối ít, độ dốc lớn và chỉ có dòng chảy khi mưa xuống Địa bàn không có hồ lớn, chỉ có khoảng 14 hồ nhỏ để chứa nước phân bố rải rác trên toàn khu vực đảo Các hồ này có nhiệm vụ chủ yếu là tích trữ nước phục vụ cho nông nghiệp và một phần cho sinh hoạt Tuy nhiên do trữ lượng và dòng chảy ít nên mùa khô thường thiếu nước Đây là một việc khó khăn để cung cấp nước cho việc sản xuất nông nghiệp và phục vụ cho đời sống dân sinh

Nước có vai trò thiết yếu đối với cuộc sống con người và mọi hoạt động kinh tế, nhưng nguồn nước ngọt trên các đảo nói chung rất hạn chế, dễ bị cạn kiệt và ô nhiễm, trước hết là nguy cơ nhiễm mặn đối với cả nước mặt và nước dưới đất nếu như lưu lượng khai thác lớn hơn khả năng phục hồi Sự phát triển mạnh của nền kinh tế kéo theo các nhu cầu phát triển khác lại trở thành áp lực lớn đối với nguồn nước do nhu cầu nước cung cấp phục vụ sản xuất và sinh hoạt ngày càng tăng Nguồn nước khan hiếm đã khiến cho quá trình quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội của vùng gặp nhiều khó khăn

Chính vì vậy, phải tiến hành điều tra, đánh giá tác động của các nhân tố tự nhiên đến sự phân bố nước mặt, nước ngầm, quá trình trữ nước và chất lượng nguồn nước trên đảo Cô Tô nhằm xác định nguồn nước giới hạn cũng như nguồn nước có thể bổ sung để đáp ứng nhu cầu của các hoạt động kinh tế chủ yếu, từ đó tổng hợp sơ đồ khai thác tài nguyên nước cho đảo

Nội dung 4: Nghiên cứu, đánh giá tác động của các nhân tố tự nhiên, nhân tạo ảnh hưởng đến quá trình phân bố nước mặt, nước ngầm, quá trình trữ nước

và chất lượng nguồn nước các đảo nghiên cứu có Công việc 49: “Đánh giá tác động của các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến quá trình phân bố nước mặt, nước ngầm, quá trình trữ nước và chất lượng nguồn nước đảo Cô Tô” là một trong các công việc của đề tài được triển khai thực hiện với mục tiêu là:

- Đánh giá tác động của các nhân tố tự nhiên bao gồm: điều kiện địa hình, địa chất; điều kiện khí tượng, thủy văn; hải văn và môi trường biển đến sự phân

bố nước mặt, nước ngầm, quá trình trữ nước và chất lượng nguồn nước đảo Cô

Trang 9

108020’ kinh độ Đông Phía Đông tiếp giáp hải phận quốc tế với chiều dài đường hải phận gần 200 km, từ ngoài khơi đảo Trần đến đảo Bạch Long Vĩ Phía Bắc giáp đảo Cái Chiên, Vĩnh thực thuộc thị xã Móng Cái và huyện Hải Hà Phía Nam giáp vùng biển đảo Bạch Long Vĩ - Hải Phòng Phía Tây giáp huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh

Theo Cổng Thông tin Điện tử Chính phủ 2017, diện tích của huyện đảo Cô

Tô là 50,1 km2, dân số (2017) là 5700 người; mật độ dân cư: 113.8 người/km2

Quần đảo Cô Tô có khoảng hơn 50 đảo, đảo lớn nhỏ gồm các đảo sau: Cô

Tô Con, Cô Tô Lớn, Cồn Ba Đỉnh Con, Cồn Chân Kiểng, Cồn Chân Miếu, Cồn Con Ngựa, Cồn Đá Xếp Cao, Cồn Đá Xếp Thấp, Cồn Đuôi Cá Chép, Cồn Gạc Hươu, Cồn Hang Chuột, Cồn Ngoài, Cồn Sao Nhỏ, Cồn Tai Khỉ, Cồn Vó Ngựa,

Đá Bắc Ba Đỉnh, Đá Chân Hương, Đá Chuột Nhắt, Đá Nam Ba Đỉnh, Đá Ngầm Nam, Đá Ngầm Sâu, Đá Quả Thông Già, Đá Sao Đêm, Đá Sư Tử, Đá Thiên Môn, Đá Thoải, Đá Xấu Hổ, Đảo Trần (Lo Chúc San, Chàng Tây, Đảo Chằn, Tây Chàng), Hai Hòn Ngoài, Hòn Ba Bái, Hòn Ba Đỉnh, Hòn Bắc Bồ Cát, Hòn Bắc Đẩu, Hòn Bát Hương, Hòn Bầu Rượu, Hòn Bảy Âm Dương, Hòn Bảy Sao, Hòn Bồ Cát, Hòn Cá Chép, Hòn Cá chép Con, Hòn Chòi Canh, Hòn Cồn, Hòn Con Chuột, Hòn Cồn Răn, Hòn Đá Thủng, Hòn Đặng Vạn Châu, Hòn Đèn, Hòn Đồi Mồi, Hòn Đuôi Núi Nhọn, Hòn Hang Thông, Hòn Khe, Hòn Khe Con, Hòn Khe Trâu, Hòn Khoai Lang, Hòn Khói, Hòn Kim Sa, Hòn Ngang, Hòn Ngập Nước, Hòn Ngựa Bé, Hòn Nhạn Xanh, Hòn Núi Nhọn, Hòn Sao Hỏa, Hòn Sao

Trang 10

Cô Tô có địa hình đồi núi Đỉnh giáp Cáp Cháu trên đảo Thanh Lân cao

210 m, đỉnh đài khí tượng trên đảo Cô Tô lớn cao 160 m

Phần giữa các đảo đều cao, vây quanh là những đồi núi thấp và những cánh đồng hẹp, ven đảo là những bãi cát nhỏ và vịnh nhỏ Đất đai chủ yếu là đất pheralit trên sa thạch Đất rừng rộng 2200 ha, đất có khả năng nông nghiệp (771 ha) chiếm 20% diện tích đất tự nhiên, trong đó một nửa số có khả năng cấy lúa, trồng màu, gần nửa có khả năng chăn thả gia súc và trồng cây ăn quả

Cô Tô là một huyện đảo xung quanh được biển bao bọc nên có địa hình đa dạng, thuộc loại địa hình đồi thấp, bị chia cắt rất mạnh và chia thành 2 vùng

chính:

- Vùng đồi núi thấp: Gồm các xã Thanh Lân, Đồng Tiến và thị trấn Cô Tô

Độ cao trung bình từ 80-100 m, đỉnh cao nhất ở đảo Thanh Lân đạt tối đa là 199m, phần lớn dãy núi cao trên 100m chạy suốt chiều dài đảo từ điểm cực Đông Bắc đến điểm cực Tây Nam không tạo thành các thung lũng lớn nhỏ Sườn

Trang 11

1.3 Đặc điểm địa chất

Hệ tầng Cô Tô (O 3 - S 1 ct)

Là hệ tầng cổ nhất được biết ở ven bờ Đông Bắc Việt Nam, có nguồn gốc lục nguyên xen kẽ phân nhịp với đá vụn núi lửa thành tạo axít, cấu tạo flít điển hình, bề dầy trên 2500m Đá vụn núi lửa thành phần axít (cuội kết tufogen, tufit) chiếm trên 75% thành phần trầm tích, còn lại là trầm tích lục nguyên và hoá học xen kẽ

Hệ tầng Cô Tô được phân định thành 2 tập, có đặc điểm sau:

Tập 1: Chủ yếu là đá cát kết đa khoáng hạt thô phân lớp mỏng chứa cuội- sạn kết hỗn tạp, thấu kính cuội-sạn kết với kích thước hạt cuội - sạn < 0,5 ÷ 2cm,

độ mài tròn, chọn lọc kém Chiều dày của tập 1 khoảng 900 ÷ 950m

Tập 2: Nằm chuyển tiếp lên trên là các lớp cuội - sạn kết hỗn tạp, thành phần cuội chủ yếu là cát kết, bột kết ít cuội thạch anh với kích thước từ 0,5cm cho đến vài cm, đôi khi đến 100cm, kém tròn cạnh Tập 2 có thể phân làm 3 phụ tập Phụ tập dưới và giữa có chứa các thành tạo có cấu tạo turbidt kiến tạo xen lẫn Chiều dày của tập khoảng 800 ÷ 850m

Đặc điểm kiến tạo

- Đặc điểm uốn nếp: Các trầm tích hệ tầng Cô Tô bị uốn nếp mạnh mẽ, tạo nên các nếp uốn dạng tuyến tính kéo dài theo phương ĐB – TN Hầu hết các nếp uốn bị các hệ thống đứt gãy cắt xén không còn giữ được cấu tạo nếp uốn hoàn chỉnh, như ở vùng cực bắc của đảo, đông Tài Vàn, bắc thị trấn Cô Tô, Nam Vàn Tại những vùng này chỉ tồn tại cấu trúc nếp đơn nghiêng Các nếp uốn tương đối hoàn chỉnh phân bố ở vùng bắc và nam của đảo với các nếp lồi và nếp lõm là những nếp uốn hẹp, dạng tuyến tính

Trang 12

5

- Đặc điểm đứt gãy: Toàn đảo có 25 đứt gãy, các đứt gãy tập trung dày đặc

ở phía nam đảo, tạo nên một đới cấu trúc dập vỡ mạnh mẽ, nhiều nếp uốn bị phá

vỡ tạo nên các nêm cấu tạo với các lớp đá xếp đơn nghiêng, có 3 hệ thống đứt gãy chủ yếu: ĐB-TN; á kinh tuyến và hệ thống TB-ĐN, trong đó hệ thống đứt gãy á kinh tuyến phát triển hơn cả

Đặc điểm địa chất có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và tồn tại nước dưới đất Cấu trúc địa chất được xem là môi trường để trong đó nước hình thành, tồn tại và vận động

Các yếu tố địa tầng thạch học, hoạt động phong hóa và kiến tạo chỉ xảy ra

ở các trầm tích cổ bị cố kết

Các trầm tích Đệ tứ trẻ nhất được hình thành khoảng vài triệu năm cách ngày nay Các trầm tích là bở rời do chưa kịp gắn kết, nước trọng lực phân bố và vận động ở những khoảng trống giữa các hạt Đất đá vụn thô (cuội sỏi, cát sạn…) chứa nước tốt hơn đất đá dính kết (sét, sét pha…) Các trầm tích Đệ tứ vùng đảo Cô Tô có thành phần chủ yếu là cát các hạt khác nhau lẫn sạn sỏi chứa nước rất tốt, tuy nhiên do chiều dày nhỏ nên đã làm giảm đáng kể khả năng chứa nước, mặt khác do phân bố ở địa hình thấp nên thường bị nhiễm mặn

Các trầm tích cổ cố kết, duy nhất chỉ có hệ Ordovic thống thượng - Silur thống hạ, hệ tầng Cô Tô (O3-S1¬ ct) được hình thành khoảng trên 1 tỷ năm cách ngày nay Trải qua các niên đại địa chất các thành tạo này cố kết tạo thành các khối đất đá rắn chắc không có khả năng chứa nước Tuy nhiên do quá trình phong hóa và hoạt động kiến tạo, đất đá bị vỡ tạo thành các khe nứt và hệ thống khe nứt mà theo đó nước tồn tại và vận động Quá trình phong hóa xảy ra đều trên diện tích lộ của thành tạo, song không thể tạo thành các khe nứt lớn và phát triển sâu Các khe nứt kiến tạo có thể hình thành các khe nứt lớn và phát triển đến chiều sâu lớn song chỉ giới hạn bởi dải hẹp dọc theo đứt gãy Kết quả làm cho khả năng chứa nước của chúng kém, thường là nghèo nước Tuy nhiên đối với các yêu cầu nhỏ chúng có thể đáp ứng Các thành tạo này phân bố ở các địa hình cao hơn nên hạn chế khả năng nhiễm mặn, trừ trường hợp khai thác quá mức

1.4 Đặc điểm đất, thổ nhưỡng

Các kết quả nghiên cứu được công bố trong tài liệu [1] cho thấy:

Trang 13

6

Các loại đất chính ở huyện Cô Tô: Căn cứ vào địa hình, sự hình thành và cấu tạo của đất đai huyện Cô Tô được phân thành 2 vùng chính: 1) Vùng đồng bằng và 2) vùng đồi núi

1) Vùng đồng bằng: có 2 loại đất chính

- Đất cồn cát và bãi cát: được phân bố nằm ở sát mép nước và các cửa sông ngòi, bãi biển thuộc các xã, thị trấn Đặc điểm chung dễ nóng lên và lạnh đi đột ngột, giữ nước kém, đất rất chua, độ phì kém, có diện tích khoảng 477.0 ha chiếm 10.32% diện tích tự nhiên của huyện

- Đất cát biển: Là loại đất cát do quá trình song biển thủy triều xô đẩy đọng lại khi biển lùi dần tạo thành những bãi cát sát mép biển, do quá trình lao động cần cù và sang tạo của người dân có nơi tạo thành đồng ruộng để sản xuất, hầu hết các mặt ruộng đã thành cát pha, thịt nhẹ, có xác hữu cơ mùn Diện tích khoảng 85.5 ha chiếm 1.85% diện tích tự nhiên của huyện

- Đất mặn: Là loại đất hình thành do sản phẩm của sông biển bồi tụ, bị nước biển xâm nhập nên bị mặn, đồng thời trong long đất có xác rễ sú vẹt thối mục thải ra, các khí độc CH3, PH3, H2S, axit hữu cơ làm cho đất bị nhiễm độc và chua Được phân bố ở hầu hết trên địa bàn huyện, diện tích khoảng 324.8 ha chiếm 7.03% diện tích đất tự nhiên của huyện Đất mặn được chia thành 4 loại, bao gồm:

Trang 14

7

+ Đất dốc tụ trồng lúa: Với diện tích 35.5 ha là loại đất do sản phẩm của đồi núi bị bào mòn, thành phần cơ giới thô, mầu xám tro, lẫn sỏi và mảnh đá vụn

+ Đất thung lũng bậc thang bạc mầu: Diện tích 15.5 ha là loại đất bị bào mòn có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nhẹ

- Đất feralit điển hình nhiệt đới ẩm: Là vùng đồi có độ cao từ 25 – 199m địa hình dốc thoải, là loại đất phát triển trên phiến thách sét, đá sa thạch, có thành phần cơ giới từ nhẹ đến nặng, tầng đất dày, độ phì thấp, không có kết cấu, phân tầng mỏng, khả năng giữ nước kém, lượng mùn thấp, dinh dưỡng từ thấp đến nghèo, thường các đỉnh đồi và sườn hầu hết bị xói mòn Là loại đất thích hợp cho trồng cây ăn quả và khả năng khoanh nuôi trồng rừng với diện tích là 3131.3 ha chiếm 67.77% diện tích tự nhiên của huyện, gồm:

+ Đất feralit phát triển trên đá phiến thạch sét: Diện tích 135.0 ha;

+ Đất feralit đỏ vàng hoặc xám vàng trên sa thạch: Diện tích 2049.5 ha; + Đất feralit đỏ vàng, xám trên phù sa cổ phiến thạch lẫn dăm cuội kết: Diện tích 946.8 ha

Đặc điểm các loại đất của huyện Cô Tô:

Nhóm đất cát được hình thành ven biển, ven các sông chính là do sự bồi đắp chủ yếu từ sản phẩm thô với sự hoạt động của các hệ thống sông và biển

+ Hệ thống phân vị: Nhóm đất cát ở huyện Cô Tô có 3 đơn vị đất là:

i) Bãi cát ven sông, ven biển (Cs) - Arenosols (AR); ii) Đất cồn cát trắng vàng (Cc)- Luvic Arenosols (ARL); iii) Đất cát biển (C) - Arenosols (AR)

- Mô tả đơn vị đất:

Trang 15

8

i) Bãi cát ven sông, ven biển (Cs) - Arenosols (AR): Đơn vị đất này gồm một đơn vị phân loại đất phụ là Bãi cát ngập triều (Cs-t) – Salic Arenosols (ARs) Diện tích 542 ha, chiếm 11.73% diện tích tự nhiên Phân bố ở các xã, thị trấn trong huyện Phẫu diện cũng có dạng thô sơ chưa phân hóa Thường ở địa hình thấp ngoài đê biển và thường xuyên ảnh hưởng của chế độ thủy triều

Hướng sử dụng: Hiện tại loại đất này chưa được khai thác sử dụng Tùy theo điều kiện cụ thể của địa phương có thể trồng rừng ngập mặn để cố định dần phù sa tạo nên vùng đất mới hoặc cải tạo thành các bãi tắm phục vụ mục đích du lịch

ii) Đất cồn cát trắng vàng (Cc)- Luvic Arenosols (ARL): Diện tích 303ha chiếm 6.56% diện tích tự nhiên Phân bố ở các xã, thị trấn trong huyện Hình thái phẫu diện đồng nhất, chủ yếu thành phần cơ giới là cát, ở địa hình cao tạo thành những cồn cát dài Đất cồn cát trắng vàng (Cc)- Luvic Arenosols (ARL) chỉ có một đơn vị phân loại hấp phụ (cấp III) là: Đất cồn cát trắng vàng điển hình (Cs-h) – Hapli-Luvic Arenosols (ARL-h)

Đặc trưng cho loại đất này xin giới thiệu phẫu diện CT.13, bao gồm:

1) Tên đất: Theo FAO- UNESCO: Hapli- Luvic Arenosols (ARh) và theo Việt Nam: Đất cồn cát trắng vàng điển hình (Cc);

2) Vị trí: Khu 3- Thị trấn Cô Tô, huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh;

Mô tả phẫu diện:

1) 0-21cm: Cát mịn, ẩm, màu xám đen (7.5 Y 4/l), hạt rời, ít chặt, ít xốp,

có nhiều rễ cây

Trang 16

9

2) 21-50cm Cát ẩm, màu xám sáng (N 8/0), hạt rời, ít chặt, ít xốp, có ít rễ

cây

3) 50-120 cm: Cát, ẩm hơn tầng 2, màu xám sang (N 8/0), hạt rời, ít chặt

Kết quả phân tích mẫu diện được thể hiện ở bảng 1.1 và 1.2

Trang 18

11

Kết quả phân tích ở Bảng 1.1 cho thấy: Đất có phản ứng chua (pHkcl: 4.50 ở tầng đất mặt) Hàm lượng chất hữu cơ ở các tầng đều rất nghèo Đạm lân, kali tổng số và đễ tiêu đề rất nghèo Dung tích hấp thụ (CEC) thấp: 4.40 mg/100g đất ở tầng mặt và tăng dần theo chiều sâu Thành phần cơ giới chủ yếu là cát thô, cát vật lý > 95%

Hiện trạng loại đất này chủ yếu là cát và phi lao

Hướng sử dụng: Trồng phi lao và bạch đàn, tránh hiện tượng cát bay, cát nhảy

iii) Đất cát biển (C) – Arenosols (AR): Diện tích 108ha chiếm 2.34% diện tích tự nhiên Phân bố ở xã Đồng Tiến và thị xã Cô Tô

Đơn vị đất này chia thành 2 đơn vị đất phụ:

Đất cát biển điển hình (C-h) – Haplic Arenosols (Ar-h): Diện tích 22ha chiếm 0.48% diện tích tự nhiên Phân bố ở xã Đồng Tiến Đất cát biển điển hình thường ở địa hình cao, hình thành chủ yếu do sự hoạt động của sông và biển

Hình thái phẫu diện có màu nâu xám ở tầng mặt và chuyển dần sang màu vàng đỏ ở các tầng dưới Thành phần cơ giới từ cát pha đến cát mịn Đất

có phản ứng chua, hàm lượng chất hữu cơ ở các tầng đều nghèo Dung tích hấp thu thấp

Hướng sử dụng: Đây là loại đất có độ phì thấp, song lại thích hợp với các cây rau màu, thực phẩm Hướng sử dụng sẽ là luân canh lúa – màu

Đất cát biển sâu (C-g2) – Endo – Gleyic Arenosols (AR – g2):

Diện tích 86ha, chiếm 1.86% diện tích tự nhiên Phân bố ở xã Đồng Tiến và thị trấn Cô Tô

Quá trình hình thành cũng giống đất cát biển điển hình, song ở điều kiện địa hình thấp hơn nên thường xuất hiện tầng glay ở độ sâu dưới 50cm Hình thái phẫu diện phân hóa khá rõ, lớp đất mặt thường có màu xám là chủ đạo, các tầng dưới thường có màu xám hoặc xám vàng Đặc trưng cho loại đất này xin nêu phẫu diện CT.11, bao gồm:

1) Tên đất: Theo FAO – UNESCO: Endo gleyic Arenosols (ARg2) và theo Việt Nam: Đất cát biển glay nông (C-g2);

2) Vị trí: Thôn khu 3-Thị trấn Cô Tô, huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh; 3) Điạ hình: Cao;

Trang 19

12

4) Thực vật tự nhiên: Cây màu;

5) Cây trồng: 1 vụ lúa – 1 vụ khoai lang;

6) Mẫu chất: Cát biển;

7) Mức độ thoát nước: Tốt;

8) Mực nước ngầm: Nông;

9) Tình trạng xói mòn: Yếu

Mô tả phẫu diện:

1) 0 – 20cm: Cát pha ẩm, màu xám đen (5 Y 4/l), hạt rời, không chặt, hơi xốp, chuyển lớp rõ

2) 20 – 52cm: Cát ẩm, màu xám sáng (5 Y 6/l), hạt rời, ít chặt, ít xốp 3) 52 – 120cm: Cát mịn, ẩm, màu xám đen (5 Y 3/l), hạt rời ít chặt, ít xốp

1.5 Tình hình sử dụng đất

Diện tích tự nhiên toàn huyện được xác định Chỉ thị 364/CT-TTg của Chính phủ về phần đất nổi là 4620.0 ha chiếm 0.8% diện tích đất đai của tỉnh Trong đó đất rừng khoảng 2200 ha, đất có khả năng nông nghiệp là 771 ha chiếm 20% diện tích tự nhiên của huyện, trong đó một nửa số có khả năng trồng lúa và trồng màu, gần nửa có khả năng chăn thả gia súc và trồng cây ăn quả Cô Tô có 3 đơn vị hành chính gồm 2 xã, 1 thị trấn Trong những năm gần đây, nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, an sinh xã hội được thực hiện, tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm nhanh, từ 7.21% năm 2010 xuống còn 3.1% năm 2011 và sẽ còn dưới 2% vào cuối năm 2012 Lượng khách du lịch đến Cô Tô ngày càng tăng, năm 2010 là 3000 người, năm 2011 gần

11000 người, năm 2012 khoảng 15000 người

Cô Tô là một huyện đảo có nhiều tiềm năng về kinh tế biển, du lịch nằm cách đất liền khoảng 60 hải lý, đảo Trần nằm ở vị trí Đông Bắc của huyện, cách khu kinh tế mở Móng Cái khoảng 35 km, ngoài ra đảo Trần còn

có vị trí đặc biệt là nằm trong khu vực cửa khẩu giao lưu kinh tế với nhân dân Trung Hoa, cách đường hàng hải quốc tế Hải Phòng – Bắc Hải 30 km Quần đảo Cô Tô có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng để làm cơ sở vạch đường cơ bản khi hoạch định đường biên giới trên biển của nước ta

Cô Tô là một huyện đảo có vị trí địa lý rất đặc biệt: xung quanh là biển

và cách các ngư trường lớn không xa, đó là một điều kiện tốt để phát triển

Trang 20

13

nghề khai thác hải sản Diện tích đất đồi núi ở trên các đảo chiếm ưu thế Bờ biển khúc khuỷu tạo thành các vụng kín là tiềm năng phát triển nghề nuôi trồng thủy sản Do địa hình phức tạp, độ dốc lớn nên thường bị xói mòn trong mùa mưa lũ gây ảnh hưởng hệ sinh thái rừng và độ màu mỡ của đất, tuy nhiên

ở quần đảo Cô Tô vẫn thuận lợi về môi trường không bị ảnh hưởng của vùng công nghiệp

Theo số liệu Niên giám thống kê năm 2010 [13], huyện Cô Tô có diện tích tự nhiên 47.5 km² Dân số: 5100 người (trong đó Nam: 2700 người và Nữ: 2400 người) Mật độ dân số huyện Cô Tô phân bố không đều trên địa bàn huyện, bình quân khoảng 107 người/km2 Đơn vị hành chính: 3 (trong đó có

02 xã và 01 thị trấn: Cô Tô)

Trên đảo Thanh Lân còn có cam, quýt, chuối Có nhiều loại dược liệu quí hiếm như hương nhu, sâm đất, thầu dầu tía, trên các đảo Nguồn lợi thủy sản phong phú, Cô tô có nhiều đặc sản như: Trai ngọc, bào ngư, hải sâm, sá sùng, tu hài, tôm he, Là tiền tiêu cùng với tầm cỡ thích hợp của những hòn đảo lớn nhỏ, đây là một thế mạnh để phát triển du lịch, dịch vụ hàng hải quốc

tế và phát triển khai thác về kinh tế biển Đồng thời là một huyện chịu nhiều thách thức lớn trước sóng gió, bão tố của thiên nhiên và trách nhiệm nặng nề phải đối mặt thường xuyên với những kẻ ngoại bang luôn nhòm ngó, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của nước ta

1.6 Tài nguyên rừng

Thảm thực vật trên các đảo khá phong phú chủng loại Rừng tự nhiên

đa dạng với nhiều loại cây gỗ tốt, thuộc các họ trầm, họ bứa, họ thân dầu, họ đậu, long não, lim, giao, bồ hòn Rừng trồng gồm phi lao, bạch đàn, thông đuôi ngựa, keo,…Ngoài cây thân gỗ ra còn nhiều loại cây dược liệu quý Theo kết quả điều tra đã phát hiện hàng trăm loài…

Hiện tại huyện Cô Tô có 2253.32 ha rừng chiếm 48.8% diện tích tự nhiên của huyện, trong đó rừng tự nhiên là 817.85 ha bằng 36.3% diện tích có rừng, rừng trồng 1435.17 ha, bằng 63.7% diện tích rừng Ngoài ra, tài nguyên rừng trên huyện đảo còn được thể hiện qua giá trị tài nguyên của thảm thực vật bởi vì trong tương lai lâm nghiệp sẽ giữ vai trò chính của huyện Tính chung toàn huyện đảo độ che phủ mới chỉ đạt được 48.7%, hiện nay rừng trên đảo đa số là rừng non mới phục hồi sau những giai đoạn bị chặt phá trước năm 1979

Trang 21

14

II Điều kiện khí tượng thủy văn đảo Cô Tô

2.1 Điều kiện khí hậu- khí tượng

2.1.1 Đặc điểm chung nền khí hậu biển Đông Việt Nam

a) Khí hậu khu vực biển Đông

Khí hậu ở huyện đảo Cô Tô chịu ảnh hưởng chung của chế độ khí hậu biển Đông được đặc trưng bởi các đặc điểm sau đây:

- Các đảo ở gần bờ có khí hậu ít khác biệt với vùng duyên hải lân cận trên đất liền Chế độ nhiệt cũng như chế độ mưa - ẩm trên hệ thống đảo ven

bờ mang những đặc điểm cơ bản của khí hậu vùng đất liền lân cận Sông ở đây cũng đồng thời biểu hiện những nét thuộc về khí hậu hải dương, bao gồm: của nhiệt độ nhỏ hơn trong đất liền; dao động ngày đêm của nhiệt độ cũng rất nhỏ, do đó nhiệt độ tối cao thường thấp hơn và nhiệt độ tối thấp thường cao hơn trong đất liền;

- Độ ẩm cao hơn nhưng lượng mưa lại thấp hơn so với trong đất liền và

ít có sự biến thiên mạnh trong biến trình năm;

- Gió mạnh hơn rõ rệt so với đất liền, tần suất lặng gió rất nhỏ;

- Một hiện tượng thời tiết diễn ra theo những quá trình khác hoàn toàn

so với trong đất liền là: Sương mù biển chủ yếu không phải là sương mù bức

xạ mà là sương mù bình lưu hình thành trong hoàn cảnh không khí nóng di chuyển tới vùng biển lạnh hơn, sương mù biển hay xuất hiện nhất trong nữa cuối mùa đông sang đầu mùa hạ (là thời kỳ nhiệt độ mặt biển xuống thấp hơn nhiệt độ không khí) không phải trong nửa mùa đông như trong đất liền Dông trên biển thường phát triển về đêm và sáng (là thời gian tầng kết của khí quyển trên biển bất ổn nhất định), trái ngược với trên đất liền là thường xảy ra vào chiều và tối

Vì các đảo gần bờ về cơ bản mang những đặc điểm chính của khí hậu vùng đất liền lân cận nên khi xác định các vùng khí hậu, có thể xếp các đảo này vào các vùng khí hậu đất liền Chẳng hạn các đảo trong vịnh Bái Tử Long xếp vào vùng khí hậu Đông Bắc (khu vực ven biển Quảng Ninh); đảo trong vịnh Thái Lan xếp vào vùng khí hậu đồng bằng Nam Bộ, và trong khi mô tả các vùng đó, đã có những nhận xét về những đặc điểm riêng của khí hậu các đảo biển Duy khu vực ngoài khơi Biển Đông cách xa đất liền hàng trăm hải

lý, khí hậu có những khác biệt lớn với khí hậu đất liền, cần thiết phải xem khu vực này như một miền khí hậu riêng, miền khí hậu Biển Đông, trong đó có

Trang 22

15

thể phân biệt giữa vùng phía Bắc và vùng phía Nam với những đặc trưng khu vực riêng

b) Vùng khí hậu phía Bắc của miền khí hậu biển Đông

Những kết quả nghiên cứu về chế độ khí hậu biển Đông còn hạn chế, nên ở đây chỉ thống kê những đặc điểm khí hậu chủ yếu:

- Mặc dù ở những vĩ độ tương đối cao, song mùa đông lạnh ở vùng biển bắc Biển Đông ấm hơn miền đất liền cùng vĩ độ Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất chỉ đạt 23 - 240C, cao hơn đất liền cùng vĩ tuyến tới 3 - 40.Độ chênh lệch nhiệt độ giữa mùa đông và mùa hạ ở đây giảm xuống đáng kể so với đất liền Nếu ở vùng Bình Trị Thiên biên độ năm của nhiệt độ còn đạt 9 - 100C thì phần bắc Biển Đông chỉ còn khoảng 5 - 60C

- Biên độ ngày của nhiệt độ không cao, chỉ vào khoảng 3 - 40C Biên độ nhiệt trung bình ngày ở trạm Hoàng Sa là 3.60C, trong khi đó ở Cô Tô là 4.60C, ở Văn Lý là 4.60C Các cực trị của nhiệt độ đạt mức thấp hơn đất liền nhiều ở Hoàng Sa, nhiệt độ tối thấp trung bình trong tháng lạnh nhất cũng chỉ

có 220C, và nhiệt độ tối cao trong mùa hạ trung bình chỉ lên tới 310C, trong khi giá trị này ở đất liền vào khoảng 34 - 350C Tuy không có những số liệu

về các cực trị tuyệt đối của nhiệt độ song có thể tin rằng giới hạn tối thấp của nhiệt độ ở đây không xuống dưới 150C và giới hạn tối cao không vượt quá

350C

- Trong chế độ mưa, có sự phân chia mùa phù hợp với chế độ gió mùa Mùa mưa trùng với mùa gió mùa hạ và mùa mưa ít trùng với gió mùa mùa đông Song trong mùa ít mưa, trung bình mỗi tháng cũng đạt 20 - 40mm với

số ngày mưa là 5 - 10 ngày Lượng mưa như vậy không quá ít Trong mùa mưa, lượng mưa tập trung nhiều vào nữa cuối mùa hạ, từ tháng VIII đến tháng XI, trong đó tháng X có lượng mưa trội nhất Tổng lượng mưa năm trung bình chỉ đạt khoảng 1200mm, là giá trị thuộc loại thấp trên đất liền, do không có những địa hình gây tác dụng chắn gió tăng cường mưa Tình hình này còn gặp thấy ở một số đảo gần bờ biển nước ta Chẳng hạn ở Cô Tô, lượng mưa trung bình năm chỉ đạt 1653mm, ít hơn Móng Cái (2769mm/năm) tới hơn 1000mm

- Với chế độ mưa - độ ẩm quanh năm cao, tuy có giảm ít nhiều trong mùa đông khi các khối không khí có nguồn gốc lục địa thịnh hành

- Trên biển đặc biệt lộng gió Tốc độ trung bình lên tới 6 - 7m/s, lớn hơn các đảo gần bờ tới 1 - 2m/s và lớn hơn các vùng biển ven bờ tới 2 - 3m/s Chế độ gió trên miền phía Bắc biển Đông khá ổn định về hướng, mùa đông

Trang 23

16

thịnh hành gió đông bắc với tần suất gió >50%, hướng bắc chiếm 25% Mùa

hè, hướng gió nam chiếm ưu thế (>50%), sau đó là tây nam gần 30% Trong thời kỳ chuyển tiếp từ mùa đông sang mùa hè (tháng IV) hướng gió rất phân tán, tần suất phân bố đều trong các hướng NE, E, SE và S, còn thời kỳ chuyển tiếp hè sang đông, hướng ưu thế là NE (50%) và hướng N (>15%) Tốc độ gió mạnh và biến động lớn trong năm Tốc độ gió trung bình năm là 6.5m/s, trung bình mùa đông là 6.5 - 7.0m/s , trung bình mùa hè đạt 5.5m/s Trường hợp lặng gió và gió yếu (<1.5m/s) rất ít gặp (<5%) trong các mùa gió và nhỏ hơn 20% trong mùa chuyển tiếp

- Một đặc điểm khí hậu biển nhiệt đới rất đáng chú ý là vùng bắc biển Đông là nơi các cơn bão từ Thái Bình Dương hoặc từ chính biển Đông thường

đi qua trong mùa hạ, và di chuyển về hướng Tây Trong giai đoạn “sung sức của các cơn bão”, tốc độ gió bão của vùng này có thể đạt và vượt quá 30m/s, gây tàn phá ghê gớm Tần suất xuất hiện bão tương đối lớn

Bão gây gió mạnh từ 30m/s đến 40m/s, nhưng lượng mưa trong bão không lớn <200 - 250mm/ngày

2.1.2 Chế độ khí hậu khu vực đảo Cô Tô và lân cận

a) Hệ thống trạm quan trắc khí tượng khu vực Bắc vịnh Bắc Bộ

Tính đến năm 2015, trong các trạm Khí tượng (KT) thuộc Mạng lưới trạm Khí tượng Thuỷ văn của Bộ Tài nguyên và Môi trường đang còn hoạt động thì hầu hết các trạm có chuỗi số liệu các yếu tố khí tượng có thời kỳ quan trắc đều trên 40 năm Để phục vụ nghiên cứu của đề tài đã tổ chức thu thập số liệu khí tượng không những trên các trạm khí tượng như sau (Bảng 2.1, Hình 2.1)

Để phân tích tác động của các đặc trưng khí tượng, khí hậu đã thu thập các số liệu sau: i) Nhiệt độ mặt đất (tối cao, tối thấp và trung bình ngày); ii) Nhiệt độ không khí (tối cao, tối thấp và trung bình ngày); iii) Độ ẩm không khí (tối thấp và trung bình ngày); lượng mưa; iv) hướng gió và tốc độ gió; v)

Số giờ nắng, vi) Bức xạ và vii) Các hiện tượng thời tiết cực đoan

Trang 24

17

Bảng 2.1 Lưới trạm khí tượng cơ bản khu vực nghiên cứu

Độ tin cậy của chuỗi số liệu:

Các trạm KT trên đây thuộc mạng lưới trạm KTTV cơ bản (cấp I) của

bộ TN&MT nên đảm bảo độ tin cậy

Hình 2.1 Mạng lưới trạm khí tượng khu vực Bắc vịnh Bắc Bộ

b) Một số đặc trưng khí hậu khu vực đảo Cô Tô và lân cận

1) Bức xạ

- Bức xạ: Trị số phổ biến về lượng bức xạ tổng cộng trung bình năm là

105 - 130 kcal/cm2, về cán cân bức xạ trung bình năm là 60 - 70 kcal/cm2, về

số giờ nắng trung bình năm là 1400 - 1800 giờ Chỉ có 1 - 2 tháng trên 200 giờ nắng, song có 3 - 4 tháng dưới 100 giờ nắng, nhất là vào các tháng mưa phùn cuối mùa đông

Trang 25

18

2) Nhiệt độ

Biến trình nhiệt độ năm cho thấy, nền nhiệt độ thấp ở các tháng mùa đông và cao ở các tháng mùa hè, nhìn chung biến trình nhiệt độ ở các trạm trên biển và đất liền khá tương đồng Nhiệt độ trong mùa xuân (tháng 3 đến 5)

từ 180C – 260C, trong mùa hè (tháng 6 đến tháng 8) từ 270C - 300C; trong mùa thu (tháng 9 đến tháng 10) từ 170C - 270C, trong mùa đông mùa đông (tháng

12 đến 1) từ 180C - 280C và từ 230C - 250C trong nhiệt độ năm (Bảng 2.2)

Ở vùng biển và lân cận thành phố Hải Phòng, nền nhiệt ấm hơn đáng kể

so với ở vùng biển tỉnh Quảng Ninh Nhiệt độ có sự phân hóa theo vĩ độ được thể hiện trong các tháng như tháng 1, 4,10 nhưng tháng 4 không đáng kể Nếu

so sánh giữa các trạm khí tượng ở trên các Đảo khu vực nghiên cứu thì vùng đảo Cô Tô có nhiệt độ thấp hơn vùng Hòn Dấu, Bạch Long Vĩ, Cát Bà từ 0.5 - 1.00C

Mùa hè là mùa có nhiệt độ cao trên bắc bán cầu Trên lãnh thổ nước ta, các chỉ số nhiệt độ cao nhất có thể xảy ra từ tháng 4 đến tháng 9, nhưng khu vực nghiên cứu thì chủ yếu các kỷ lục rơi vào tháng 6 và 7, nhiệt độ kỷ lục xấp xỉ 290C (Phù Liễn và Móng Cái)

Cũng như nhiệt độ trung bình tháng 7, vai trò của vĩ độ đối với nhiệt độ cao nhất hầu như không đáng kể

Về khả năng xảy ra nhiệt độ cao nhất, dựa theo kết quả ước lượng từ hàm Gumbell, ứng với chu kỳ càng dài thị nhiệt độ càng cao Với chu kỳ 100 năm, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối ở vùng đảo Quảng Ninh, Hải Phòng có thể vượt 400C (bảng 2.2)

Trang 26

Cô Tô 15.2 15.5 18.2 22.2 26.2 28.1 28.6 28.2 27.4 25.2 21.5 17.6 22.8

Phủ Liễn 16.3 17.0 19.4 23.0 26.5 28.1 28.4 27.8 26.8 24.7 21.4 18.2 23.1 Hòn Dấu 18.0 18.2 20.0 23.9 27.6 29.5 29.7 29.1 28.3 26.6 23.4 19.9 24.5

Cát Bà 16,5 18,6 23,3 25,1 25,7 28,6 29,7 27,5 27,0 24,7 20,9 14,2 23,3 Bạch Long

Vĩ 17.9 17.9 19.6 23.4 26.9 29.0 29.4 29.0 27.9 26.0 23.1 19.8 24.1

3) Chế độ mưa

- Lượng mưa: Lượng mưa lớn nhất trong một tháng dao động từ 819.2

mm đến 1660.0 mm và thường xảy ra vào các tháng 8 và 9, lượng mưa trung bình một tháng dao động từ 92.3 đến 189.3 mm

Biến trình năm lượng mưa cho thấy: Lượng mưa tăng dần từ tháng 1, tháng 2 đạt cực trị vào các tháng 8, 9 sau đó lại giảm dần Tổng lượng mưa toàn vùng dao động trong khoảng 1091.5 mm (Bạch Long Vĩ) đến 2585.9 mm (Móng Cái)

Lượng mưa ở vùng ngoài khơi nhỏ hơn ở vùng ven bờ và giảm dần từ Bắc xuống Nam Điều này có thể được giải thích là do các yếu tố gây mưa như ảnh hưởng của địa hình, các điều kiện khí tượng như: mây, gió, nhiệt, khả năng ngưng hơi kém thuận lợi hơn so với vùng ven biển, nơi bị ảnh hưởng sâu sắc của địa hình

- Phân mùa mưa: Nhìn chung mùa mưa ở phía Bắc khu vực nghiên cứu đến sớm hơn so với ở phía Nam; ở phía bắc bắt đầu mùa mưa từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 9, tháng 10 và tháng cao điểm 7, 8; ở phía nam bắt đầu mùa mưa khoảng tháng 5 và kết thúc tháng 9, 10 và cao điểm tháng 7, 8 Lượng mưa chỉ trong 3 tháng mùa hè nhưng chiếm tới 60% tổng lượng mưa năm

Ngày đăng: 06/01/2021, 07:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w