1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CHUỖI CUNG ỨNG XANH ĐƠN VỊ CHỦ TRÌ Dự án “Tăng cường lực lồng ghép phát triển bền vững biến đổi khí hậu cơng tác lập kế hoạch”

157 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 6,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt là cầu từ Chính phủ và khu vực công trong đó có mua sắm công xanh.Báo cáo này tập trung xem xét vai trò của mua sắm công xanh và thực trạng của một số chuỗi cung ứng sản phẩm qu

Trang 2

CHUỖI CUNG ỨNG

Trang 3

Vụ Khoa học, Giáo dục, Tài nguyên và Môi trường

Bộ Kế hoạch và Đầu tư

6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội

CƠ QUAN TÀI TRỢ

Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP)

25-29 Phan Bội Châu, Hà Nội

ĐƠN VỊ THỰC HIỆN

Trung tâm Nghiên cứu Năng lực canh tranh – Viện Kinh tế Việt Nam

BIÊN TẬP VÀ THIẾT KẾ CHẾ BẢN

Lê Đức Chung

Trang 4

GIỚI THIỆU TÓM TẮT DỰ ÁN

Vụ Khoa học, Giáo dục, Tài nguyên và Môi trường/Bộ Kế hoạch và Đầu

tư (Vụ KHGDTN&MT/ Bộ KH&ĐT) đang thực hiện dự án “Tăng cường năng lực lồng ghép phát triển bền vững và biến đổi khí hậu trong công tác lập kế hoạch” do chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tài trợ Mục tiêu của dự án là tăng cường năng lực thể chế và cơ chế, chính sách nhằm lồng ghép PTBV và BĐKH tại Việt Nam

Dự án được thiết kế để đạt được bốn kết quả chính:

Kết quả 1: Lồng ghép phát triển bền vững và biến đổi khí hậu vào Kế

hoạch phát triển kinh tế xã hội quốc gia

Kết quả 2: Các nhà hoạch định chính sách và công chúng được trang bị

kiến thức và các công cụ để thay đổi hành vi đối với phát triển bền vững và biến đổi khí hậu/ năng lượng

Kết quả 3: Tăng cường năng lực lập kế hoạch phát triển bền vững, bao

gồm cả tăng cường năng lực ứng phó biến đổi khí hậu

Kết quả 4: Xây dựng khung thể chế điều phối hoạt động hiệu quả hơn đối

với phát triển bền vững và biến đổi khí hậu/ năng lượng

Nhằm đạt được các kết quả nêu trên, từ năm 2010 dự án đã triển khai nhiều hoạt động gồm:

 Hỗ trợ xây dựng Chiến lược Quốc gia về Tăng trưởng xanh (Chiến lược TTX);

 Hỗ trợ xây dựng Kế hoạch hành động Quốc gia về Tăng trưởng Xanh (Kế hoạch hành động TTX);

 Một số nghiên cứu làm cơ sở cho đề xuất phát triển công cụ lập kế hoạch theo hướng lồng ghép phát triển bền vững và biến đổi khí hậu;

 Đánh giá chi tiết về nhu cầu đầu tư trên cơ sở kết quả nghiên cứu Rà soát đầu tư và chi tiêu công cho biến đổi khí hậu (CPEIR), Những lựa chọn tài chính khí hậu (CFO) và Đánh giá ảnh hưởng, chi phí – lợi ích của biến đổi khí hậu, thực hiện Chiến lược TTX và bảo vệ

Trang 5

 Tổ chức các hoạt động phối hợp với các bộ, ngành, đối tác phát triển, các dự án khác liên quan đến phát triển bền vững (PTBV) và biến đổi khí hậu (BĐKH) để tối đa hiệu quả, tác động Dần hình thành mạng lưới các tổ chức, cá nhân tham gia mạng lưới BĐKH trong công tác kế hoạch;

 Tổ chức nhiều hoạt động tham vấn các bộ, ngành, tỉnh, đối tác phát triển, hiệp hội doanh nghiệp trong quá trình xây dựng và hoàn thiện

dự thảo Chiến lược và Kế hoạch hành động Quốc gia về Tăng trưởng xanh

Đến nay đã có nhiều nghiên cứu đạt được kết quả, đáng chú ý là:

1 Chiến lược Quốc gia về Tăng trưởng xanh được Bộ KH&ĐT tiếp nhận, trình Chính phủ và đã được phê duyệt;

2 Kế hoạch hành động Quốc gia về Tăng trưởng xanh được Bộ KH&ĐT tiếp nhận, trình Chính phủ và đã được phê duyệt;

3 Nghiên cứu “Tìm hiểu về công cụ đánh giá môi trường chiến lược nâng cao phục vụ thẩm định tính bền vững của các dự án quy hoạch phát triển”;

4 Nghiên cứu rà soát chính sách, quy định trong quy trình xây dựng, thẩm định và quản lý triển khai thực hiện các chiến lược, quy hoạch

ở cấp quốc gia, vùng và liên vùng và đề xuất hoàn thiện thể chế (Quy hoạch vùng và BĐKH);

5 Nghiên cứu đề xuất cơ chế, chính sách thúc đẩy huy động và sử dụng nguồn ODA cho ứng phó biến đổi khí hậu (nguồn lực tài chính gồm cả ODA cho biến đổi khí hậu);

6 Báo cáo tổng hợp “sản xuất năng lượng và đầu tư phát triển tiềm

Trang 6

năng các bon thấp và năng lượng tái tạo nhằm mục tiêu cung cấp năng lượng”;

7 Nghiên cứu, xây dựng các mục tiêu định lượng giảm phát thải nhà kính trong lĩnh vực năng lượng Việt Nam, giai đoạn 2011-2020;

8 Xây dựng đường cong chi phí giảm phát thải cho sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và ngành lâm nghiệp ở Việt Nam;

9 Rà soát chi tiêu công và đầu tư cho biến đổi khí hậu

Dự án “Tăng cường năng lực lồng ghép phát triển bền vững và biến

đổi khí hậu trong công tác lập kế hoạch tại Việt Nam”

Vụ Khoa học Giáo dục Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế

hoạch và Đầu tư, 6B Hoàng Diệu, Hà Nội / ĐT: 844 37475195 / Fax: 844 37475194

Trang 8

về những góp ý và đóng góp về thông tin để góp phần hoàn thiện báo cáo nghiên cứu.

Quan điểm được đề cập trong nghiên cứu này phản ánh ý kiến của các chuyên gia tư vấn và không phản ánh quan điểm của Chính phủ Việt Nam, của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và của UNDP

Đại diện Ban quản lý dự án

NGUYỄN TUẤN ANH

Phó Vụ trưởng vụ Khoa học, Giáo dục,

Tài nguyên và Môi trường

Phó Giám đốc Quốc gia dự án

Trang 10

MỤC LỤC

Danh mục từ viết tắt 5

Danh mục bảng 7

Danh mục hình 8

Danh mục hộp 9

Mở đầu 10

Chương 1 Những vấn đề chung về chuỗi cung ứng xanh và mua sắm công xanh 13

1.1 Khuôn khổ khái niệm về chuỗi cung ứng xanh và mua sắm công xanh 13

1.1.1 Khái niệm chuỗi cung ứng xanh, tăng trưởng xanh,

kinh tế xanh 13

1.1.2 Khái niệm mua sắm công và mua sắm công xanh 18

1.1.3 Nội dung của chuỗi cung ứng xanh và mua sắm công xanh 19

1.1.4 Ý nghĩa và vai trò của chuỗi cung ứng xanh

đối với doanh nghiệp 24

1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới chuỗi cung ứng xanh 25

1.1.6 Các kênh ảnh hưởng của mua sắm công xanh đến chuỗi cung ứng xanh 29

1.2 Kinh nghiệm quốc tế 31

1.2.1 Mỹ .32

1.2.2 Liên minh Châu Âu 34

1.2.3 Trung Quốc 38

1.2.4 Nam Phi 41

1.2.5 Nhật Bản 43

1.2.6 Hàn Quốc 44

1.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 45

Chương 2 Thực trạng chuỗi cung ứng xanh và mua sắm công xanh ở Việt Nam 46

2.1 Bối cảnh và xu hướng toàn cầu về chuỗi cung ứng xanh và tác động đối với doanh nghiệp Việt Nam 46

Trang 11

2.2 Tính tất yếu phải áp dụng chuỗi cung ứng xanh ở Việt Nam 50

2.3 Đánh giá thực trạng mua sắm xanh của khu vực công 52

2.4 Tác động của chiến lược xanh và chính sách xanh trong sản xuất và tiêu dùng đối với khu vực công và doanh nghiệp 52

2.5 Những hạn chế và bất cập trong quá trình chuyển sang chuỗi cung ứng xanh 56

2.6 Các nguyên nhân của yếu kém và bất cập 60

Chương 3 Chuỗi cung ứng xanh – Nghiên cứu trường hợp 64

3.1 Thực trạng về ba chuỗi cung ứng 64

3.1.1 Thực trạng chuỗi cung ứng cà phê của Việt Nam 64

3.1.2 Thực trạng chuỗi cung ứng xi măng của Việt Nam 81

3.1.3 Thực trạng về chuỗi cung ứng dệt may của Việt Nam 95

3.2 Đánh giá những yếu tố tác động tích cực giúp cải thiện theo hướng xanh hóa của chuỗi 105

3.2.1 Đánh giá những yếu tố giúp cải thiện theo hướng phát triển xanh của chuỗi cà phê 105

3.2.2 Đánh giá những yếu tố giúp cải thiện theo hướng phát triển xanh của chuỗi xi măng 108

3.2.3 Đánh giá những yếu tố giúp cải thiện theo hướng phát triển xanh của chuỗi dệt may 116

3.3 Những rào cản, hạn chế phát triển theo hướng xanh

của chuỗi 117

3.3.1 Những rào cản, hạn chế phát triển theo hướng xanh của chuỗi cà phê 117

3.3.2 Những rào cản, hạn chế phát triển theo hướng xanh của chuỗi xi măng 119

Trang 12

3.3.3 Những rào cản, hạn chế phát triển theo hướng xanh của chuỗi

dệt may 127

3.4 Các bài học khái quát và hàm ý chính sách 130

3.4.1 Ngành cà phê 130

3.4.2 Ngành xi măng 134

3.4.3 Ngành dệt may 137

Chương 4: Định hướng và một số giải pháp chính sách thực hiện mua sắm công xanh và chuỗi cung ứng xanh 142

4.1 Bối cảnh sắp tới 142

4.2 Định hướng chung đối với mua sắm công xanh

và chuỗi cung ứng xanh 144

4.3 Một số giải pháp chính sách 145

4.4 Các điều kiện để thực hiện 148

Tài liệu tham khảo 150

Phụ lục 1: Mô hình 2E-3R (Mô hình 2 nguyên tắc E

và 3 nội dung R) 155

Phụ lục 2: Các yếu tố ảnh hưởng tới mô hình 2E-3R 156

Phụ lục 3: Các chiến lược can thiệp chính sách để hỗ trợ chuỗi cung ứng xanh - ngành dệt may ở Việt Nam 157

Trang 13

Châu Á – Thái Bình Dương

UNESCAP Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

của Liên Hợp Quốc

Trang 14

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Mức độ tham gia của Việt Nam vào chuỗi cung ứng cà phê toàn cầu 66Bảng 2 So sánh tình hình sử dụng đầu vào sản xuất cà phê năm 2013 với năm 2010 69Bảng 3 So sánh sử dụng đầu vào nhóm hộ không tham gia và tham gia chứng chỉ cà phê bền vững tại Đắk Lắk 73Bảng 4 So sánh chế biến khô và chế biến ướt 75Bảng 5 Cà phê nhân thu được từ 1000 kg chế biến ướt 77Bảng 6 Ma trận tổng hợp các vấn đề về chuỗi cung ứng xanh của các công ty khảo sát 104Bảng 7 Nhận thức và hành động cụ thể liên qua tới xanh hóa chuỗi cà phê 106

Trang 15

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 Bảng xếp hạng theo kế hoạch 36

Hình 2 Thực hiện GPP của các quốc gia Châu Âu 37

Hình 3 Chuỗi cung ứng cà phê toàn cầu 64

Hình 4 Tham gia vào chuỗi cung ứng cà phê toàn cầu của Việt Nam .65

Hình 5 Qui trình sản xuất cà phê 67

Hình 6 Qui trình sơ chế khô thành cà phê nhân 76

Hình 7 Qui trình chế biến ướt thành cà phê nhân 76

Hình 8 Qui trình rang xay cà phê 78

Hình 9 Qui trình chế biến cà phê bột, cà phê hòa tan 80

Hình 10 Qui trình sản xuất phân hữu cơ vi sinh 80

Hình 11 Sản lượng ngành xi măng, nghìn tấn 82

Hình 12 Sản lượng xi măng phân theo loại hình doanh nghiệp, % 82

Hình 13 Sơ đồ qui trình công nghệ sản xuất xi măng 87

Hình 14 Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu 96

Hình 15 Sơ đồ các công đoạn kiểm tra trong quá trình sản xuất 99

Hình 16 Hệ thống quản lý môi trường tại công ty may TNG 100

Hình 17 Qui trình sản xuất sản phẩm của công ty KyungViet 103

Trang 16

DANH MỤC HộP

Hộp 1 Bốn nguyên tắc cơ bản của mua sắm xanh 21Hộp 2 Xử lý ô nhiễm môi trường tại Công ty xi măng Cao Bằng 89Hộp 3 Phân tích SWOT đối với xu hướng xanh hóa chuỗi cung ứng

cà phê 119

Trang 18

Mở ĐầU

Khủng hoảng tài chính kinh tế thế giới 2008-2009 đặt ra cho thế giới phải nhận thức lại về tư duy phát triển Bên cạnh việc phải thu hẹp khoảng cách giữa nền kinh tế thực và kinh tế ảo mà hệ thống tài chính ngân hàng trên thế giới tạo ra, việc phát triển nền kinh tế xanh dựa vào các nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo, vào sử dụng năng lượng hiệu quả, ít phát thải khí nhà kính, thực hiện sản xuất xanh, tạo việc làm xanh, các sản phẩm thân thiện môi trường đang là một xu hướng nổi trội trên thế giới

Trong bối cảnh của giai đoạn hậu khủng hoảng như vậy, kinh tế Việt Nam bộc lộ nhiều vấn đề bất cập của cấu trúc nội tại Chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô không vững chắc Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội giai đoạn 2011-2020 đã chỉ ra các khiếm khuyết này như việc huy động, sử dụng các nguồn lực còn kém hiệu quả, đầu tư còn dàn trải, tăng trưởng kinh

tế dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu, môi trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng, tài nguyên, đất đai chưa được quản lý tốt, khai thác và sử dụng kém hiệu quả, chính sách đất đai có mặt chưa phù hợp Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn lớn, cản trở cho sự phát triển

Tình huống đó đặt ra cho Việt Nam nhiệm vụ cần phải tái cơ cấu nền kinh tế, thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu và thực hiện xanh hoá nền kinh tế để đảm bảo phát triển bền vững, bao gồm xanh hoá sản xuất, xanh hoá tiêu dùng, và xanh hoá lối sống Đây cũng chính là

lý do Việt Nam đưa ra Chiến lược tăng trưởng xanh năm 2012 và trên cơ

sở đó đưa ra Kế hoạch hành động quốc gia về Tăng trưởng xanh Việt Nam Đây là một kế hoạch khá toàn diện, bao gồm những nội dung như đẩy mạnh tuyên truyền; nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng; giảm tiêu hao năng lượng trong sản xuất, vận tải, thương mại; từng bước thay đổi cơ cấu nhiên liệu trong sản xuất công nghiệp và giao thông như sử dụng nguồn năng lượng mới, sạch, tái tạo, ít phát thải khí nhà kính,

Trong thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh ở Việt Nam, bên cạnh các yếu tố liên quan đến sản xuất, các yếu tố liên quan đến tiêu dùng và lối sống cũng là những yếu tố quan trọng có thể tạo ra nhu cầu và làm thay đổi

Trang 19

các tiêu chuẩn của sản xuất và phân phối theo hướng xanh Các sức ép từ phía cầu như vậy trên thực tế lại chưa được xem xét, phân tích mổ xẻ một cách thấu đáo Đặc biệt là cầu từ Chính phủ và khu vực công trong đó có mua sắm công xanh.

Báo cáo này tập trung xem xét vai trò của mua sắm công xanh và thực trạng của một số chuỗi cung ứng sản phẩm quan trọng có liên quan đến mua sắm công và sản phẩm mà Việt Nam đang có thế mạnh trong xuất khẩu Đối tượng nghiên cứu của báo cáo là mua sắm công xanh và chuỗi cung ứng sản phẩm theo hướng xanh hoá

Mục tiêu chung của nghiên cứu là cung cấp luận cứ khoa học để

đề xuất định hướng và giải pháp chính sách đẩy mạnh thực hiện mua sắm công xanh và thực hiện chuỗi cung ứng xanh liên quan đến mua sắm công

và xuất khẩu của Việt Nam

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là: (i) Làm rõ khái niệm và một số

cơ sở lý luận của mua sắm công xanh và chuỗi cung ứng xanh; (ii) Tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thực hiện mua sắm công xanh và rút ra một

số bài học cho Việt Nam; (iii) Xem xét thực trạng chuỗi cung ứng xanh của một số sản phẩm đặc trưng liên quan đến mua sắm công xanh và xuất khẩu; (iii) Đề xuất định hướng và giải pháp chính sách để đẩy mạnh thực hiện mua sắm công xanh và thực hiện chuỗi cung ứng xanh liên quan đến mua sắm công và xuất khẩu của Việt Nam

Trong quá trình phân tích, nghiên cứu cũng tiến hành đánh giá sơ

bộ tình trạng phát thải khí nhà kính (GHG) và tác động môi trường của chuỗi giá trị sản phẩm và tính khả thi của “chuỗi giá trị xanh” trong phạm

vi mức độ số liệu thống kê và thông tin điều tra thực địa cho phép1 Nghiên cứu cũng tiến hành rà soát các chính sách liên quan đến mua sắm công và xác định các rào cản chính đối với việc xanh hóa chuỗi giá trị liên quan đến mua sắm công Trên cơ sở đó, nghiên cứu đánh giá mức độ nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc mua sắm các sản phẩm và dịch vụ thân thiện môi trường làm định hướng cho việc thực hiện các chính sách của tăng trưởng xanh và phát triển bền vững

Về phạm vi nghiên cứu, do số liệu thống kê hạn chế, các phân tích

1 Tuy vậy, các thông tin về phát thải khí nhà kính trong hầu hết các trường hợp nghiên cứu đều khó đo lường và khó đảm bảo tính chính xác Ngoài ra chưa kể có nhiều trường hợp hoàn toàn không có số liệu thống kê để phân tích và đánh giá.

Trang 20

đánh giá mức độ phát thải khí nhà kính (GHG) và yếu tố môi trường của chuỗi giá trị sẽ tập trung vào các phát hiện định tính, các kênh tác động và

ở cấp độ nhận thức của chủ thể Cũng do nguồn lực có hạn, nghiên cứu này chỉ tập trung nghiên cứu vào ba chuỗi cung ứng là xi măng, dệt may (liên quan nhiều đến mua sắm công) và cà phê (liên quan nhiều đến xuất khẩu)

Phương pháp nghiên cứu là phân tích định tính kết hợp với phân tích thống kê và phân tích so sánh Số liệu để sử dụng cho nghiên cứu được dùng từ các nguồn tư liệu thứ cấp (các báo cáo chính thức và không chính thức của Chính phủ, các ấn phẩm đã công bố) và các nguồn tư liệu từ các cuộc điều tra phỏng vấn sâu đối với ba trường hợp của ba chuỗi sản phẩm

đã nêu trên

Cấu trúc của báo cáo bao gồm bốn chương, không kể phần mở đầu Chương I nêu các vấn đề lý luận chung về mua sắm công xanh và chuỗi cung ứng xanh, Chương II xem xét thực trạng về mua sắm công xanh và chuỗi cung ứng xanh ở Việt Nam, Chương III thảo luận về ba chuỗi cung ứng là cà phê, xi măng và dệt may, Chương IV đề xuất một số định hướng

và khuyến nghị chính sách cũng như điều kiện để thực hiện mua sắm công xanh và chuỗi cung ứng xanh ở Việt Nam

Trang 21

CHưƠNG 1 NHữNG VẤN Đề CHUNG Về CHUỖI CUNG ứNG xANH VÀ MUA sẮM CôNG xANH

1.1 Khuôn khổ khái niệm về chuỗi cung ứng xanh và mua sắm công xanh

1.1.1 Khái niệm chuỗi cung ứng xanh, tăng trưởng xanh, kinh tế xanh Chuỗi cung ứng xanh

Trong những năm gần đây, cụm từ “chuỗi cung ứng xanh” được nhắc đến ngày càng nhiều Liên quan đến nó, nhiều thuật ngữ đã được sử dụng như “chuỗi cung ứng bền vững”, “chuỗi cung ứng xanh bền vững”, “chuỗi cung ứng môi trường”, “chuỗi cung ứng sinh thái”…

Chuỗi cung ứng xanh bền vững có thể được định nghĩa là quá trình

sử dụng đầu vào thân thiện với môi trường và biến các sản phẩm phụ của quá trình sử dụng thành thứ có thể cải thiện được hoặc tái chế được trong môi trường hiện tại Quá trình này giúp cho các sản phẩm đầu ra và các sản phẩm phụ có thể được tái sử dụng khi kết thúc vòng đời của chúng,

và như vậy tạo ra một chuỗi cung ứng bền vững Toàn bộ ý tưởng về chuỗi cung ứng bền vững là để giảm chi phí và thân thiện với môi trường (Penfield, 2008)

Narasimhan & Carter (1998) định nghĩa quản trị chuỗi cung ứng xanh liên quan đến sử dụng các phương pháp giảm bớt các nguyên vật liệu bên cạnh việc tái chế và tái sử dụng

Godfrey (1998) định nghĩa quản trị chuỗi cung ứng xanh là việc doanh nghiệp (DN) thực hiện liên tục giám sát các tác động môi trường của một chuỗi cung ứng và cải thiện kết quả của nó

Beamon (1999) nhấn mạnh tầm quan trọng sự hợp tác với một công

ty và định nghĩa quản trị chuỗi cung ứng xanh là sử dụng chuỗi cung ứng giữa một công ty trung tâm và một công ty hợp tác, nhằm hỗ trợ các tổ chức quản lý sinh thái bí quyết sản xuất trong các công ty trung tâm và sự phát triển của kỹ thuật sản xuất sạch

Sarkis (2003) cũng định nghĩa quản trị chuỗi cung ứng xanh như là một sự kết hợp các hoạt động của một công ty môi trường và logistics thu hồi, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của vế sau

Trang 22

Johnny (2009) định nghĩa quản trị chuỗi cung ứng xanh là quá trình thêm các yếu tố “xanh” vào chuỗi cung ứng hiện có, và tạo ra một chuỗi cung ứng thu hồi như là hoạt động xây dựng lại hệ thống một cách sáng tạo Điều này không chỉ bao gồm việc theo đuổi hiệu quả mà còn có cả

sự đổi mới trong chuỗi cung ứng liên quan đến chi phí, lợi nhuận, và môi trường

Tuy có nhiều khái niệm khác nhau được đưa ra tùy thuộc vào góc độ của mỗi nghiên cứu, nhưng tựu chung lại tất cả có đặc điểm chung là khẳng định chuỗi cung ứng xanh phải đảm bảo hai vấn để là giảm thiểu chi phí và thân thiện hơn với môi trường

Tăng trưởng xanh và kinh tế xanh

Cho tới nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về tăng trưởng xanh trong các cuộc thảo luận chính sách và trong các nghiên cứu Khái niệm này có thể có phạm vi hẹp để đáp ứng một yêu cầu cụ thể như cải thiện môi trường, giảm phát thải hoặc có thể có một phạm vi toàn diện nhằm cải thiện tính hiệu quả và tính bền vững về tài nguyên môi trường

Có quan niệm cho rằng tăng trưởng xanh gần đồng nghĩa với GDP xanh, là tăng trưởng kinh tế trừ đi những thiệt hại môi trường, hay lấy chỉ số GDP trừ đi những thiệt hại môi trường do hoạt động kinh tế gây ra Cũng có quan niệm coi tăng trưởng xanh là sự đầu tư vào các ngành, lĩnh vực nhằm mang lại hiệu quả kinh tế, tiết kiệm trong sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, đầu tư phục hồi hệ sinh thái, sử dụng năng lượng tái tạo, xây dựng nền kinh tế carbon thấp, giảm phát thải khí nhà kính nhằm giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu

Khái niệm tăng trưởng xanh lần đầu tiên được đưa ra cho khu vực Châu Á – Thái Bình Dương năm 2005 khi đây là khu vực được coi là dễ

bị tổn thương nhất trước các biến cố về môi trường Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc (UNESCAP) đã gợi mở xu hướng tăng trưởng xanh để giúp các nước Châu Á và Thái Bình Dương hướng tới phát triển bền vững, tìm kiếm sự hoà hợp giữa hai nhu cầu “tăng trưởng kinh tế” và “bền vững về môi trường”, tạo ra sự phối hợp cùng có lợi (win – win) giữa môi trường và kinh tế và để cho môi trường được coi như một cơ hội hơn là chi phí và gánh nặng đối với nền kinh tế và doanh nghiệp UNESCAP đã định nghĩa: “Tăng trưởng xanh là chiến lược tìm kiếm sự tối đa hoá trong sản lượng kinh tế và tối thiểu hoá gánh nặng

Trang 23

sinh thái, là cách tiếp cận mới để tìm kiếm sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh

tế và tính bền vững môi trường bằng việc thúc đẩy những thay đổi cơ bản trong sản xuất và tiêu dùng xã hội” (UNESCAP, 2011)

Chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP) đã gộp những

xu hướng xanh vào “Nền kinh tế xanh” hoặc “Thoả thuận xanh mới” toàn cầu Tương tự như khái niệm tăng trưởng xanh của UNESCAP, kinh tế xanh nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thay đổi cơ cấu trong sản xuất và tiêu dùng “Một nền kinh tế xanh là nền kinh tế trong đó bao gồm những mối liên hệ sống còn giữa kinh tế, xã hội và môi trường, và trong đó sự chuyển dịch quá trình sản xuất, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng vừa góp phần làm giảm rác thải, ô nhiễm, sử dụng tài nguyên, nguyên liệu, năng lượng trên một đơn vị sản phẩm, vừa tạo ra những cơ hội việc làm, thúc đẩy thương mại bền vững, giảm nghèo, cải thiện công bằng và phân phối thu nhập” Theo đó, kinh tế xanh là một nền kinh tế nhằm cải thiện hạnh phúc con người, công bằng xã hội và giảm thiểu đáng kể những nguy cơ kiệt quệ về môi sinh (UNEP, 2010) Chuyển dịch sang nền kinh tế xanh sẽ làm sự gia tăng của hàm lượng carbon chậm lại và ngăn chặn biến đổi khí hậu, sẽ có lợi cho sức khỏe con người, đảm bảo khả năng chịu đựng của hành tinh và sự sống còn của nhân loại Thị trường toàn cầu hóa sẽ đi theo những chuỗi giá trị cung cầu xanh, với các dòng chảy thương mại và đầu

tư được quy định nghiêm ngặt theo những nguyên lý bền vững Hiểu đơn giản, một nền kinh tế xanh là một nền kinh tế carbon thấp, nguồn lực hiệu quả, và xã hội toàn diện Trong một nền kinh tế xanh, tăng trưởng thu nhập

và việc làm được thúc đẩy bởi đầu tư công và tư nhân làm giảm lượng khí thải carbon và ô nhiễm, tăng cường năng lượng và hiệu quả tài nguyên, và ngăn chặn việc mất đa dạng sinh học và hệ sinh thái dịch vụ (UNEP, 2011).Ngoài Liên Hợp Quốc, nhiều tổ chức quốc tế khác cũng chú ý đến tăng trưởng xanh Vào tháng 6 năm 2009, Tổ chức hợp tác phát triển kinh

tế (OECD) được yêu cầu xây dựng chiến lược tăng trưởng xanh để tìm kiếm một sự hồi phục kinh tế nhanh chóng trong khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu thông qua phát triển bền vững về sinh thái và xã hội

Kỳ họp thứ 6 các Bộ trưởng môi trường (MCED) của các nước Châu

Á – Thái Bình Dương vào cuối tháng 9 năm 2010 tại Kazakhstan tái khẳng định: “Tăng trưởng xanh, khi áp dụng thích hợp với tình hình cụ thể của một đất nước và khi được hiểu trong bối cảnh phát triển bền vững là một

Trang 24

trong những xu hướng hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế nhanh, cho việc đạt tới các mục tiêu của Thiên niên kỷ và sự bền vững về môi trường” Hội nghị cũng xác định năm chính sách chủ yếu để dịch chuyển sang tăng trưởng xanh Đó là: (1) Chuyển từ tăng trưởng theo số lượng sang chất lượng; (2) Quốc tế hoá giá sinh thái; (3) Phát triển cơ sở hạ tầng bền vững; (4) Chuyển việc bảo vệ môi trường thành cơ hội kinh doanh; (5) Thúc đẩy các hoạt động kinh tế ít các-bon (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific, 2011).

Tăng trưởng xanh là quá trình xanh hoá hệ thống kinh tế truyền thống

và là chiến lược để tiến tới một nền kinh tế xanh Đây là một phần chứ không phải là sự thay thế cho phát triển bền vững Sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009, tăng trưởng xanh được chú ý nhiều hơn bởi tăng trưởng xanh hứa hẹn giải quyết đồng thời những vấn đề khí hậu và tăng trưởng Tăng trưởng xanh là định hướng mới thúc đẩy kinh tế phát triển theo những mô hình tiêu thụ và sản xuất bền vững, nhằm đảm bảo nguồn vốn tự nhiên tiếp tục cung cấp những nguồn lực và dịch vụ sinh thái mà đời sống của chúng ta phụ thuộc vào, cho thế hệ này cũng như cho những thế hệ mai sau

Còn Ngân hàng Thế giới thì cho rằng: “Tăng trưởng xanh là quá trình tăng trưởng sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, sạch hơn và tăng cường khả năng chống chịu mà không làm chậm quá trình này” (World Bank, 2011) Tăng trưởng xanh giải quyết được bế tắc và không hiệu quả của cả hai mô hình tăng trưởng – theo đuổi tăng trưởng trước và quan tâm tới những hậu quả về môi trường sau, hoặc thúc đẩy tính bền vững của môi trường rồi sau

đó lo ngại về những tác động tới tăng trưởng Các chính sách tăng trưởng xanh đóng góp cho tăng trưởng theo các kênh: tác động đầu vào (tăng các yếu tố sản xuất), tác động hiệu quả (đưa sản xuất đến gần giới hạn năng lực sản xuất hơn), tác động kích thích nền kinh tế (trong các thời kỳ khủng hoảng), và tác động đổi mới thông qua tăng tốc phát triển và áp dụng công nghệ Các chính sách tăng trưởng xanh cũng đóng góp vào phúc lợi thông qua các lợi ích về môi trường, tác động phân phối (giảm nghèo và tạo việc làm) ((World Bank, 2012)

Tại Việt Nam, Quyết định số 1393/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh ngày 25/9/2012 (sau đây gọi là Chiến lược tăng trưởng xanh) đã nêu rõ:

Trang 25

- Tăng trưởng xanh là một nội dung của phát triển bền vững, đảm bảo phát triển kinh tế theo hướng nhanh, hiệu quả và bền vững, đồng thời góp phần quan trọng thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu.

- Tăng trưởng xanh phải do con người và vì con người, góp phần tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân

- Tăng trưởng xanh dựa trên tăng cường đầu tư vào bảo tồn, phát triển

và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn tự nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, cải thiện nâng cao chất lượng môi trường, qua đó kích thích tăng trưởng kinh tế

- Tăng trưởng xanh phải dựa trên cơ sở khoa học và công nghệ hiện đại, phù hợp với điều kiện Việt Nam, nguồn nhân lực chất lượng cao, kết hợp giữa nội lực với mở rộng hợp tác quốc tế

- Tăng trưởng xanh là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền, các bộ, ngành và địa phương; của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân

Từ việc tổng quan các khái niệm về tăng trưởng xanh và kinh tế xanh,

có thể thấy tăng trưởng xanh là hướng tiếp cận mới trong tăng trưởng kinh

tế Cách tiếp cận này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn hướng tới phục hồi và bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên nuôi dưỡng cuộc sống con người, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu Chính vì vậy nhiều quốc gia trên thế giới đang tiếp cận theo xu hướng mới này nhằm hướng tới phát triển bền vững Kinh tế xanh có tính chất bền vững vì là sự sự kết hợp giữa ba thành tố: kinh tế, xã hội, môi trường Kinh tế xanh là những hoạt động tạo

ra lợi nhuận hoặc giá trị có ích, hướng đến phát triển cuộc sống của cộng đồng xã hội con người (đặc biệt là yếu tố văn hóa), đồng thời những hoạt động này thân thiện với môi trường như là thành tố quan trọng Ba yếu tố này đạt trạng thái cân bằng sẽ thỏa mãn tính bền vững Một nền kinh tế xanh là một nền kinh tế hay mô hình phát triển kinh tế dựa trên phát triển bền vững và đảm bảo về kinh tế học sinh thái Kinh tế xanh là mô hình đánh giá trực tiếp vốn tự nhiên và việc sử dụng và bảo vệ tự nhiên như một giá trị của kinh tế học, điều này khác biệt và có tiến bộ hơn so với những

mô hình kinh tế trước đó Trong một nền kinh tế xanh, các chi phí xã hội phải gánh chịu thông qua hệ sinh thái đều có nguồn gốc và phải được hoàn

Trang 26

trả bởi các thực thể có khả năng gây hại hoặc thờ ơ với giá trị tự nhiên Như vậy, có thể nói tăng trưởng xanh và kinh tế xanh có quan hệ rất mật thiết với nhau Để có được kinh tế xanh thì không thể không có tăng trưởng xanh và ngược lại.

1.1.2 Khái niệm mua sắm công và mua sắm công xanh

Mua sắm chính phủ, còn gọi là đấu thầu công hoặc mua sắm công, là việc mua sắm hàng hóa và dịch vụ thay mặt cho một cơ quan công quyền, chẳng hạn như một cơ quan chính phủ

Mua sắm công xanh (hay còn gọi là mua sắm xanh) được định nghĩa

là một quá trình theo đó cơ quan công quyền tìm cách mua sắm hàng hóa, dịch vụ và làm việc mà có sự giảm thiểu tác động môi trường trong suốt vòng đời của các sản phẩm này khi so sánh với hàng hóa, dịch vụ và hoạt động có cùng các chức năng chính thường được mua sắm (European Commission, 2014)

OECD cũng khuyến cáo rằng các nước thành viên cần lưu tâm hơn về vấn đề môi trường trong mua sắm công các sản phẩm và dịch vụ Tổ chức này đề xuất các bước cụ thể để đảm bảo tiêu chuẩn môi trường, trong đó bao gồm cung cấp thông tin, đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật cho các quan chức liên quan đến mua sắm công và tạo điều kiện cho tất cả các cấp thông tin chính phủ và các phương pháp để tạo điều kiện xanh hóa mua sắm công (OECD, 2003)

Tại các nước phát triển trên thế giới (Mỹ, Anh…), tùy thuộc vào luật pháp địa phương, các quan chức chính phủ có liên quan sẽ phải tuân theo một hệ thống khi mua sắm Hệ thống này có thể bao gồm cách họ quảng cáo cho nhà cung cấp, căn cứ vào đó họ chọn một nhà cung cấp, và cách

mà họ đánh giá và thực thi các yêu cầu họ đưa cho nhà cung cấp Mục đích thông thường của một hệ thống như vậy là tận dụng lợi thế cạnh tranh giữa các nhà cung cấp và để giảm nguy cơ tham nhũng

Tại Việt Nam, thuật ngữ “mua sắm công” chỉ được sử dụng thường xuyên hơn kể từ thời điểm gia nhập WTO năm 2007 Theo Bộ Tài nguyên

và Môi trường Việt Nam, mua sắm chính phủ hay còn gọi là mua sắm công,

là những khoản chi tiêu của các cơ quan chính phủ để mua hàng hoá, dịch

vụ cho việc sử dụng của chính mình2 Còn thuật ngữ “mua sắm công xanh”

2 Xem thêm tại [http://tnmt.tbtvn.org/default.asp?action=article&ID=2761&

Trang 27

hay “mua sắm xanh” mới chỉ được xuất hiện trong một số văn bản mới đây liên quan đến Chiến lược Tăng trưởng xanh và kế hoạch hành động thực hiện chiến lược này3.

Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi xem xét mua sắm công xanh như là một trong những nội dung quan trọng nhất của toàn bộ chuỗi cung ứng xanh

1.1.3 Nội dung của chuỗi cung ứng xanh và mua sắm công xanh

Mua sắm xanh đòi hỏi các tổ chức, doanh nghiệp và người dân phải cân nhắc sự cần thiết của việc mua sắm cũng như những tác động môi trường của sản phẩm hay dịch vụ đó ở tất cả các giai đoạn, vòng đời của chúng trước khi đưa ra quyết định mua sắm

Theo Ủy ban châu Âu (2011), trong việc xác định những sản phẩm, dịch vụ và các lĩnh vực hoạt động ưu tiên trong mua sắm công xanh, có ba yếu tố chính nên lưu ý đầu tiên:

• Tác động môi trường - Chọn các sản phẩm (ví dụ như xe công) hoặc dịch vụ (ví dụ như dịch vụ vệ sinh) tác động lớn đối với môi trường trong suốt chu kỳ vòng đời của chúng

• Tầm quan trọng ngân sách - nỗ lực tập trung vào các lĩnh vực chi tiêu quan trọng trong chính quyền

• Khả năng gây ảnh hưởng đến thị trường - tập trung vào các khu vực

có tiềm năng ảnh hưởng đến thị trường nhất Vấn đề này có thể do quy mô hoặc tầm nhìn của hợp đồng, hoặc giá trị được đặt ra bởi các nhà cung cấp đối với các khách hàng khu vực công

Một số yếu tố khác cũng cần được xem xét trong việc đưa ra quyết định lựa chọn các lĩnh vực:

category=266]

3 Ví dụ, Quyết định số 68/2011/QĐ-TTg ngày 12/12/2011 về việc Ban hành Danh mục phương tiện, thiết bị tiết kiệm năng lượng được trang bị, mua sắm đối với cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước Theo đó, từ ngày 01/01/2013, các

cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước khi mua sắm các phương tiện, thiết bị thuộc Danh mục ban hành kèm theo Quyết định này phải mua sắm các phương tiện, thiết bị được dán nhãn năng lượng Quyết định 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 phê duyệt Chiến lược Tăng trưởng xanh của Việt Nam cũng đề cập đến mục tiêu và yêu cầu về lộ trình mua sắm xanh vào năm 2020 (Giải pháp số 13).

Trang 28

• Các ưu tiên chính trị: Là các ưu tiên môi trường địa phương cụ thể, chẳng hạn như chất lượng không khí đô thị, tiêu thụ nước/năng lượng, hoặc quản lý chất thải, thích ứng khí hậu mà bạn có thể kết nối?

• Thị trường lựa chọn thay thế thích hợp hơn với môi trường: Phân tích thị trường có thể hữu ích để xác định xem các lựa chọn thay thế phù hợp làm giảm tác động môi trường có sẵn

• Cân nhắc chi phí: Các lựa chọn thay thế “xanh” hơn có khả năng chi phí tương đương hoặc sẽ ảnh hưởng đến ngân sách? Đánh giá “chi phí” nên xem xét tất cả các chi phí trong suốt vòng đời: giá mua, chi phí sử dụng (tiêu thụ năng lượng/nước, bảo trì), và chi phí xử lý

• Sự sẵn có các tiêu chí: Đối với nhiều nhóm sản phẩm và dịch vụ, tiêu chuẩn mua sắm xanh đã được phát triển có thể được đưa trực tiếp vào

hồ sơ dự thầu mà không cần phải nghiên cứu sâu hơn đặc điểm hiệu quả môi trường và phân tích thị trường Các tiêu chuẩn GPP EU bao gồm 18 nhóm sản phẩm và dịch vụ và có sẵn trong cả hai phiên bản tóm tắt và đầy

đủ Ở nhiều nước EU, tiêu chuẩn quốc gia hoặc khu vực cũng có sẵn

• Tầm nhìn: Làm thế nào để cộng đồng, thị trường, chính quyền ký kết hợp đồng và các công chức có thể nhìn thấy hoạt động mua sắm công xanh? Liệu mọi người có nhận ra rằng chúng ta đang nỗ lực để cải thiện môi trường? Những thay đổi điển hình như các loại xe do một cơ quan

sử dụng, hoặc chuyển sang thực phẩm hữu cơ ở căng-tin, có thể giúp xây dựng nhận thức về chính sách mua sắm công xanh và cải thiện hình ảnh của tổ chức

Hộp 1 Bốn nguyên tắc cơ bản của mua sắm xanh

Để thực hiện mua sắm xanh một cách hiệu quả và thành công, mạng lưới mua sắm xanh quốc tế (IGPN) đã xác định bốn nguyên tắc cơ bản của mua sắm xanh như sau:

Nguyên tắc 1: Tính cần thiết

Bước đầu tiên trước khi mua sắm, cân nhắc kỹ xem sản phẩm hay dịch vụ có cần thiết hay không Việc sửa chữa hay thay đổi cũng nên được cân nhắc đối với các sản phẩm đang được sử dụng Bên cạnh đó, giải pháp thuê hoặc cho thuê cũng nên được xem xét hoặc mua các sản phẩm mới với số lượng vừa đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng.

Nguyên tắc 2: Vòng đời của sản phẩm

Khi quyết định mua, các tác động khác nhau tới môi trường trong suốt vòng đời của sản phẩm, từ giai đoạn thu mua nguyên liệu thô cho tới khi sản phẩm

Trang 29

bị thải bỏ, cần phải xem xét và cân nhắc đến một số các đặc tính sau:

- Giảm thiểu các chất độc hại Người tiêu dùng có thể góp phần giảm thiểu phát sinh các chất có hại bằng cách lựa chọn các sản phẩm thân thiện môi trường hay những sản phẩm chứa ít các chất độc hại Điều này sẽ khuyến khích các nhà sản xuất loại bỏ việc sử dụng các chất gây hại đến môi trường và sức khỏe con người trong quá trình sản xuất sản phẩm hay dịch vụ.

- Sử dụng hiệu quả tài nguyên, năng lượng Khuyến khích người tiêu dùng mua các sản phẩm tiết kiệm tài nguyên và năng lượng.

- Sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên Người tiêu dùng nên chọn những sản phẩm sử dụng tài nguyên thiên nhiên tái tạo một cách bền vững, theo đó các tài nguyên tái tạo phải được sử dụng hiệu quả để giảm thiểu tối đa các tác động xấu đến môi trường.

- Tăng độ bền Người tiêu dùng nên lựa chọn các sản phẩm có tuổi thọ sử dụng lâu dài Ngoài ra, trước khi mua sản phẩm, người tiêu dùng cũng nên cân nhắc đến việc sử dụng các bộ phận thay thế, khả năng sửa chữa và thời gian bảo trì Nên tránh mua sản phẩm có yêu cầu thay thế các bộ phận quá thường xuyên.

- Thiết kế để tái sử dụng Người tiêu dùng nên lựa chọn những sản phẩm có thể tái sử dụng mà không cần phải sản xuất lại cho cùng mục đích sử dụng Điều này sẽ làm giảm đáng kể gánh nặng cho môi trường.

- Thiết kế để tái chế Giải pháp tốt nhất cho những sản phẩm khi không thể sử dụng tiếp là tái chế Trước khi quyết định mua một sản phẩm, người tiêu dùng cũng nên cân nhắc hệ thống thu hồi và tái chế sẵn có cho những vật liệu đó.

- Sản phẩm có chứa vật liệu tái chế Sản phẩm có chứa các vật liệu tái chế hoặc những bộ phận có thể tái sử dụng sẽ góp phần tiết kiệm tài nguyên và giảm thiểu phát sinh chất thải.

- Tính thải bỏ Với những sản phẩm không thể sử dụng nhiều lần hoặc tái chế, người tiêu dùng nên chọn sản phẩm cho phép dễ dàng xử lý và thải bỏ nhằm giảm tối đa các tác động xấu đến môi trường.

Nguyên tắc 3: Nỗ lực của nhà cung ứng

Ngoài việc đánh giá sản phẩm, người tiêu dùng cũng cần đánh giá những hoạt động bảo vệ môi trường của nhà cung ứng như: Liệu doanh nghiệp có áp dụng chính sách môi trường không? Có triển khai các biện pháp quản lý môi trường phù hợp hay không? Hoặc họ có tích cực tham gia công tác bảo vệ môi trường không?

Nguyên tắc 4: Thu thập thông tin về môi trường

Trước khi quyết định mua một sản phẩm, người tiêu dùng nên quan tâm đến những thông tin môi trường như nhãn môi trường, thông tin của doanh nghiệp trên sản phẩm hoặc website Ngoài ra, người tiêu dùng cũng có thể yêu cầu nhà phân phối cung cấp các thông tin chi tiết hơn về môi trường của sản phẩm đó.

Nguồn: Vietnam Green Purchasing Network

Trang 30

Các chiến lược quản lý chuỗi cung ứng xanh cổ điển (Simpson & Samson, 2008):

(1) Chiến lược dựa trên rủi ro (Risk-based strategy - RBS): Chiến lược này bao gồm việc bổ sung các điều khoản cơ bản trong hợp đồng mua sắm với nhà cung cấp để đáp ứng tất cả các yêu cầu pháp lý về môi trường

có liên quan như ISO Các ngành thường chọn loại chiến lược này chủ yếu

là đầu tư nguồn lực tối thiểu của mình cho quản trị xanh, và yêu cầu các nhà cung cấp của họ tuân thủ các yêu cầu về môi trường để giảm thiểu rủi

ro Mặc dù một số quy tắc môi trường của quốc tế rất khó để tham khảo, RBS là chiến lược quản trị chuỗi cung ứng xanh đơn giản nhất so với các chiến lược khác (Chiau-Ching và cộng sự, 2011) Tuy nhiên, xét về lợi thế cạnh tranh, lợi ích của chiến lược này rất hạn chế vì dễ dàng thực hiện, thiếu tính độc tôn, và việc sử dụng ngày càng tăng các chuỗi cung ứng khác Vì vậy, ngành lựa chọn chiến lược này không thể tạo ra lợi thế cạnh tranh độc quyền, và do đó không đạt được nhiều lợi ích kinh tế từ chiến lược này Hơn nữa, các ngành này không chủ động đưa vào các chương trình môi trường, không thể mong đợi có bất kỳ sự đổi mới nào xảy ra Mục đích cuối cùng của loại hình chiến lược này là giảm thiểu rủi ro với việc thực hiện các chương trình về môi trường một cách thụ động

(2) Chiến lược dựa trên hiệu quả (Efficiency-based strategy - EBS): Đây là loại chiến lược phức tạp hơn do hiệu quả cải thiện thông qua cách tiếp cận cụ thể, nó liên quan đến việc đáp ứng hoạt động dựa trên các mục tiêu hiệu quả như tiêu chuẩn chất lượng “hiệu quả sinh thái” (eco-efficiency) hay “tinh gọn và xanh” (lean-and-green) Loại chiến lược này cho phép tạo điều kiện cho các ngành tăng lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường từ việc giảm chất thải và sử dụng hiệu quả các nguồn lực Mặc dù

có những lợi thế đó, chiến lược này vẫn thiên nhiều về tăng năng suất, do

đó không thể loại bỏ hoàn toàn các chất độc hại hoặc có hại trong quá trình sản xuất Chiến lược dựa trên hiệu quả có lợi thế cắt giảm chi phí trong các chuỗi cung ứng và rất phù hợp với mục tiêu tối ưu hóa hiện có của doanh nghiệp Tuy nhiên, nó không cho phép có thêm các hoạt động quản lý môi trường tri thức cao như thiết kế sản phẩm, thay thế vật liệu, hoặc đổi mới (Simpson & Samson, 2008) Do đó, chiến lược hiệu quả dựa trên được coi

là kỹ thuật yếu nhưng có tính xã hội cao hơn chiến lược dựa trên rủi ro.(3) Chiến lược dựa trên đổi mới (Innovation-based strategy - IBS):

Trang 31

Đây là loại chiến lược đảm bảo xem xét quản lý vòng đời sản phẩm toàn diện hơn cho người tiêu dùng trong giai đoạn thiết kế Chiến lược dựa theo hướng này đưa ra các yêu cầu về môi trường nghiêm ngặt hơn đối với các nhà cung cấp, và thậm chí đào tạo họ để điều chỉnh quá trình hoạt động

và thực hiện theo các quy định môi trường mới nhất Các ngành lựa chọn loại chiến lược này nên có chuyên môn về môi trường, và tích hợp các hoạt động cụ thể liên quan đến xanh hóa, chẳng hạn như thiết kế xanh, mua sắm bền vững để cải thiện qui trình hiện tại, phát triển sản phẩm Về bản chất, chiến lược này yêu cầu các ngành đầu tư nhiều nguồn lực hơn và trau dồi khả năng sáng tạo (Odeyale và cộng sự, 2014)

(4) Chiến lược vòng kín (Closed-loop strategy - CLS): Đây là loại chiến lược hợp tác phức tạp nhất, liên kết các hoạt động môi trường với các hoạt động của toàn bộ chuỗi cung ứng Chiến lược này liên quan đến sản phẩm tái sinh và logistics thu hồi thực hiện trong chuỗi cung ứng để giảm chất thải, thu hồi vật liệu được sản xuất từ bất kỳ qui trình sản xuất nào và các sản phẩm cuối vòng đời, và xử lý chúng theo các phương pháp khác nhau, tích hợp hoàn hảo các vấn đề về hiệu suất kinh tế, hoạt động, và môi trường Các ngành lựa chọn loại chiến lược này đòi hỏi mức độ kiểm soát cao trong việc nắm bắt và quay vòng vật liệu sử dụng Tuy nhiên, rất khó để theo dõi tất cả các sản phẩm phân phối từ các nhà máy do có quá nhiều kênh Ngoài ra, số lượng hàng hóa quay vòng cũng tích lũy để tạo ra quy mô kinh tế Dựa trên những lý do này, ngành thực hiện chiến lược này có thể kết hợp thành công hiệu quả kinh tế, hoạt động và môi trường (Odeyale và cộng sự, 2014)

1.1.4 Ý nghĩa và vai trò của chuỗi cung ứng xanh đối với doanh nghiệp

Lợi ích đầu tiên của chuỗi cung ứng xanh là về hiệu quả sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường Hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ hậu cần và vận tải thực hiện các mô hình chuỗi cung ứng xanh đều có những cải thiện trong việc giảm thiểu năng lượng và chất thải cũng như giảm bao bì đóng gói trong phân phối (Industries Canada, 2008) Các doanh nghiệp phải tuân thủ tất cả các quy định về môi trường và pháp luật Đối với bất kỳ tổ chức quốc tế nào, việc mở rộng và tăng thêm quy định mới có thể gây ra khó khăn cho chính bản thân doanh nghiệp Nhưng các quy định đã được đưa ra

và họ phải thực hiện nếu muốn tiếp tục kinh doanh Vấn đề là làm thế nào

để tạo ra một chuỗi cung ứng linh hoạt và thích ứng có thể phản ứng một cách nhanh chóng và tốn ít nguồn lực nhất

Trang 32

Bên cạnh đó, thực hiện chuỗi cung ứng xanh cũng giúp đem lại các lợi ích kinh doanh cho doanh nghiệp Người tiêu dùng hiện tại đã trở nên rất chủ động trong việc đưa các tiêu chí xanh vào quá trình lựa chọn sản phẩm của họ, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp bán lẻ và ô tô Xanh hóa tất cả các bộ phận sẽ giúp doanh nghiệp định hướng được giá trị trong thương hiệu - và chuỗi cung ứng đóng vai trò quan trọng trong đó.

Lợi ích của việc xanh hóa chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp là:

 Tiết kiệm chi phí hoạt động do giảm chất thải

 Giảm chi phí y tế và chi phí an toàn

 Chi phí lao động thấp hơn - điều kiện làm việc tốt hơn có thể làm tăng động lực và năng suất, và giảm sự cần thiết của nhân viên hậu cần

 Giảm chi phí vận chuyển, năng lượng, nhiên liệu

 Giảm sự phụ thuộc vào biến động giá của các nguồn tài nguyên

 Tăng tính tuân thủ các quy định

 Khi có các hoạt động xanh hơn sẽ giúp nâng cao danh tiếng trong mắt các nhà cung cấp và khách hàng, chưa kể đến các nhà đầu tư

 Tăng doanh thu do mối quan hệ tốt hơn với khách hàng - cải thiện chuỗi cung ứng tự động hóa làm tăng giá trị hợp đồng

1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới chuỗi cung ứng xanh

Chuỗi cung ứng xanh về cơ bản là chuỗi sản phẩm đảm bảo được hai phương châm và ba tiêu chí hay được gọi tắt là Mô hình 2E-3R Trong đó,

hai phương châm là: (1) Hiệu quả (Efficiency): Giảm đầu vào (tiết kiệm tài

nguyên đầu vào và tiết kiệm năng lượng); (2) Thân thiện môi trường trong cả

chuỗi sản phẩm (Environment-friendly chain) Ba tiêu chí là: (1) Thực hiện

sử dụng lại phế phẩm (Reuse) trong sản xuất và lưu thông phân phối; (2) Tái chế rác thải trong sản xuất và lưu thông phân phối (Recycling); (3) Giảm phát thải khí nhà kính và giảm ô nhiễm môi trường (Reduction) trong sản xuất và

lưu thông phân phối Mô hình 2E-3R được sơ đồ hoá ở Phụ lục 1

Một số các yếu tố có thể ảnh hưởng tới chuỗi cung ứng xanh Tùy

Trang 33

thuộc vào từng trường hợp, các yếu tố này có những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực ở các mức độ khác nhau đến sự hình thành và phát triển của chuỗi cung ứng xanh Các yếu tố đó bao gồm (Xem thêm sơ đồ ở Phụ lục 2):

i) Yếu tố tài chính

Công nghệ thân thiện với môi trường và tiết kiệm năng lượng đòi hỏi lượng đầu tư khá lớn, vì thế nếu các doanh nghiệp sản xuất không có đủ vốn hoặc không thể tiếp cận đến vốn từ các nguồn bên ngoài (ví dụ ngân hàng, nhà tài trợ,…), doanh nghiệp rất khó chuyển đổi sang công nghệ thân thiện với môi trường và tiết kiệm năng lượng mặc dù doanh nghiệp nhận thức được rằng các công nghệ mới sẽ đem lại lợi ích về lâu dài cho họ

ii) Các yếu tố thể chế, các quy định của cơ quan chức năng

Trong quá trình thực hiện chuyển đổi sản xuất sang chuỗi cung ứng xanh, các quy định và giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước đóng vai trò rất quan trọng Chẳng hạn các quy định được nhà nước ban hành liên quan đến tiêu chuẩn môi trường trong hoạt động sản xuất, dán nhãn sinh thái đối với sản phẩm,… sẽ là điều kiện cần để thúc đẩy quá trình xanh hóa chuỗi cung ứng

Tuy nhiên, để có thể có tác động thực sự đến chuỗi cung ứng xanh, ngoài các quy định ban hành, cơ quan quản lý nhà nước phải giám sát hiệu quả việc thực hiện các quy định của các công ty sản xuất Có nhiều trường hợp, quy định về đảm bảo môi trường và tiết kiệm năng lượng được đưa ra nhưng lại không có phương tiện giám sát và các biện pháp chế tài hợp lý,

vì thế các công ty sản xuất không có động lực để giảm thiểu ô nhiễm môi trường hay tiết kiệm năng lượng bằng các cải tiến công nghệ, trang thiết bị sản xuất phù hợp

iii) Quy mô thị trường

Quy mô thị trường sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất cũng là một nhân tố ảnh hưởng tới chuỗi cung ứng xanh Khi một doanh nghiệp sản xuất có thị phần lớn, chi phí đầu tư vào cải tiến trang thiết bị máy móc thân thiện với môi trường và tiết kiệm năng lượng sẽ được dàn trải đều cho

số lượng sản phẩm cung ứng, vì thế chi phí trung bình sẽ giảm và doanh nghiệp có động lực để đầu tư vào trang thiết bị hay qui trình sản xuất mới

Trang 34

Ngược lại, khi thị phần của một công ty hạn chế, chi phí đầu tư nhằm nâng cấp hay đổi mới trang thiết bị, máy móc, qui trình sản xuất sẽ trở nên tốn kém (so với sản lượng sản xuất trung bình của doanh nghiệp), do đó doanh nghiệp sẽ giảm động lực để thay đổi công nghệ thân thiện với môi trường và tiết kiệm năng lượng.

iv) Con người và nguồn nhân lực

Trong quá trình đổi mới hay cải tiến công nghệ nhằm đảm bảo chuỗi cung ứng xanh, công nghệ mới/cải tiến đòi hỏi phải phù hợp với trình độ

kỹ sư và công nhân của công ty Khi trình độ của kỹ sư và công nhân hạn chế thì việc cải tiến công nghệ nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường hay tiết kiệm năng lượng sẽ vượt quá năng lực của doanh nghiệp

Như vậy, khả năng chuyển đổi lên chuỗi cung ứng xanh phụ thuộc rất lớn vào trình độ và tay nghề của các kỹ sư và công nhân của doanh nghiệp Các quy định của nhà nước về các tiêu chuẩn môi trường và năng lượng cũng cần tính đến chất lượng nguồn nhân lực trong các công ty sản xuất Khi mà trình độ của kỹ sư/công nhân thấp thì việc thực hiện chuyển đổi sang chuỗi cung ứng xanh đòi hỏi tốn nhiều thời gian Ngược lại, khi trình

độ của kỹ sư/công nhân cao, việc chuyển đổi sang chuỗi cung ứng xanh hay đáp ứng các tiêu chuẩn, quy định về môi trường và năng lượng của các

cơ quan quản lý nhà nước sẽ dễ dàng hơn và mất ít thời gian hơn

v) Công nghệ

Để thực hiện được chuỗi cung ứng xanh theo hai phương châm và ba tiêu chí của mô hình 2E-3R, yếu tố công nghệ đóng vai trò tối quan trọng Chỉ có công nghệ theo hướng xanh, tiết kiệm tài nguyên và thân thiện môi trường mới đáp ứng được yêu cầu của mô hình này Trong đó công nghệ tái chế làm giảm phát thải khí nhà kính và công nghệ xử lý chất thải rắn là công nghệ ở đẳng cấp cao, đòi hỏi phải có nguồn lực tài chính đủ và phải

có đội ngũ kỹ sư có thể vận hành các máy móc thiết bị Tuy có những chuỗi sản phẩm không bao gồm đủ tất cả các tiêu chí trên vẫn có thể tạo nên các chuỗi được gọi là xanh, nhưng dù thế nào đi nữa, đảm bảo yếu tố về công nghệ gần như là điều kiện tiên quyết để thực hiện được chuỗi cung ứng xanh Kèm với đó là năng lực trình độ của nguồn nhân lực để điều khiển

và sử dụng công nghệ đó cũng như năng lực quản trị hệ thống có sự hiện diện của các công nghệ đó

Trang 35

vi) Quản trị

Thực hiện chuỗi cung ứng sản phẩm xanh là thực hiện một cách tiếp cận mới trong sản xuất và phân phối sản phẩm Thay vì các yêu cầu của bài toán chi phí – lợi nhuận trong đảm bảo hiệu quả của quản trị, giờ đây không gian của yêu cầu quản trị mở rộng hơn với các yêu cầu cao hơn Bài toán lợi nhuận chưa hẳn là mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp mà lợi nhuận phải đi kèm với đảm bảo các yêu cầu về giảm khí thải, giảm tiêu hao năng lượng cũng như đảm bảo các yêu cầu về môi trường mới có vị trí

ưu tiên Bài toán tối ưu trong quản trị giờ đây phức tạp hơn, đòi hỏi trình

độ quản trị của các nhà lãnh đạo các doanh nghiệp phải cao hơn và cũng như tầm nhìn phải xa hơn, hướng tới sự phát triển bền vững Đấy là đối với quản trị doanh nghiệp Chuỗi cung ứng xanh cũng đặt ra các vấn đề mới trong quản trị nhà nước Giờ đây, các biện pháp quản lý, giám sát, đánh giá các dự án và doanh nghiệp sản xuất và phân phối sẽ phải được bổ sung nhiều khía cạnh hơn là thuần tuý các vấn đề kinh doanh và xã hội Các khía cạnh về môi trường và văn hoá phải được chú ý nhiều hơn

vii) Thông tin – tuyên truyền

Nhân tố cuối cùng ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng xanh là công tác thông tin – tuyên truyền của các cơ quan quản lý nhà nước Chuỗi cung ứng xanh bao gồm rất nhiều công đoạn từ khâu thiết kế, lựa chọn nguyên vật liệu, sản xuất, vận chuyển và tiêu thụ Cùng với đó, chuỗi cung ứng xanh tác động đến rất nhiều tác nhân trong nền kinh tế như người dân, nhà sản xuất khác (hộ nuôi trồng thủy sản, cây ăn quả,…) thông qua hiệu ứng ngoại tác Vì thế, việc thực hiện công tác thông tin – tuyên truyền để các nhà sản xuất, người dân và các cơ quan quản lý nhà nước ở các cấp hiểu rõ hơn về lợi ích cũng như tác hại của việc gây ô nhiễm môi trường và lãng phí năng lượng

sẽ thay đổi động lực của các nhà sản xuất trong việc thay đổi, đổi mới hay cải tiến công nghệ

viii) Hội nhập

Hội nhập là một yếu tố quan trọng tạo ra sức ép của việc xanh hoá quá trình sản xuất và tiêu thụ cũng như thay đổi lối sống tiêu dùng của người dân Các chuẩn mực về xanh trong qui trình sản xuất và các sản phẩm của thị trường bên ngoài đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước phải nâng cao năng lực công nghệ và năng lực quản trị của mình để có thể đáp ứng được yêu cầu của bên ngoài Hội nhập tạo nên một giá trị văn hoá quốc

Trang 36

tế trong doanh nghiệp, đặt ra yêu cầu cho doanh nghiệp muốn vươn ra thị trường thế giới phải tự nâng tầm doanh nghiệp lên đẳng cấp khu vực và quốc tế trong nội dung xanh hoá hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

1.1.6 Các kênh ảnh hưởng của mua sắm công xanh đến chuỗi cung ứng xanh

Mua sắm xanh khu vực công có vai trò quan trọng đến chuỗi giá trị Khu vực công ở Việt Nam là khách hàng lớn vì có mức chi tiêu dành cho mua sắm tới 45–65% trong tổng chi tiêu Tại các quốc gia khác, như

ở các nước OECD, mức này chiếm 13–20% GDP, Nam Phi - 35%, Ấn

Độ - 43% và Brazil - 47% (IISD, 2010) Các hoạt động mua sắm của một khách hàng lớn như vậy có ảnh hưởng quan trọng đến giá cả và tính sẵn

có của hàng hóa và dịch vụ trên thị trường Bởi vậy, nếu một chính phủ có chính sách tăng trưởng xanh, mua sắm của chính phủ có thể là công cụ tác động đến cầu về hàng hóa và dịch vụ theo hướng bảo vệ môi trường và tác động đến cung của mỗi ngành để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng lên của các tiêu chuẩn môi trường trên thị trường toàn cầu Mua sắm công có thể

là phương tiện gây ảnh hưởng của các chính phủ trong quá trình điều hành theo hướng phát triển bền vững và chuẩn bị cho các công ty gia nhập thị trường xanh Nếu các chính phủ nỗ lực thực hiện mua sắm các sản phẩm

và dịch vụ thân thiện môi trường và xã hội thì khi đó sức mua của chính phủ sẽ định hướng đáng kể cho việc thực hiện các chuỗi cung ứng xanh, các chính sách phát triển bền vững và thúc đẩy thị trường phát triển các sản phẩm và dịch vụ bền vững

Theo Odeyale và cộng sự (2014), có năm yếu tố quan trọng đối với quản trị chuỗi cung ứng xanh dựa trên các bộ phận khác nhau của hoạt động công nghiệp, bao gồm:

Thiết kế xanh (Green Design - GD): Đây còn được gọi là thiết kế

bền vững, thiết kế tính tới môi trường Thiết kế xanh liên quan đến các đối tượng, dịch vụ thiết kế vật lý và môi trường xây dựng phù hợp với các nguyên tắc phát triển bền vững xã hội, kinh tế và sinh thái GD nhằm mục đích loại bỏ hoàn toàn tác động tiêu cực về môi trường, thông qua thiết kế khéo léo và cảm xúc của màu xanh lá cây Thiết kế xanh yêu cầu nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo, tác động môi trường tối thiểu, và kết nối người tiêu dùng với môi trường tự nhiên Các khái niệm về thiết kế xanh bao gồm: hạn chế việc sử dụng các chất độc hại, tiết kiệm năng lượng, tuân thủ

Trang 37

thiết kế có khă năng tháo gỡ, tái sử dụng và tái chế (design for disassembly, reuse and recycling - DDRR) và gia tăng khả năng sáng tạo.

Mua sắm xanh (Green Procurement - GP): mua sắm xanh hay mua

sắm bền vững bao gồm việc xem xét các khía cạnh môi trường, tác động và chi phí tiềm năng, kết hợp với việc đánh giá vòng đời của hàng hóa và dịch

vụ được tiêu dùng GP liên quan đến việc mua sắm các sản phẩm và dịch

vụ ít gây hại cho môi trường GP khuyến khích mua các sản phẩm được làm bằng vật liệu ít độc hại khi sản xuất, và việc sử dụng hoặc tiêu thụ các sản phẩm đó sẽ có tác động tối thiểu đến môi trường

Sản xuất xanh (Green Manufacturing - GM): sản xuất xanh liên quan

đến việc tạo ra các sản phẩm mà trong qui trình sản xuất không gây ô nhiễm, tiết kiệm năng lượng và tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo an toàn cho môi trường và người tiêu dùng Khái niệm về sản xuất xanh liên quan đến tái sản xuất, sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường, tái chế, khả năng giảm thiểu ô nhiễm

Quản lý môi trường (Environmental Management - EM): Bao gồm

việc quản lý tất cả các thành phần môi trường vật lý, sinh học và phi sinh học Vai trò chính của quản lý môi trường là quản lý việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên mà không làm giảm hiệu quả và chất lượng, theo

đó tài nguyên môi trường và tác động của nó được kiểm soát Quản lý môi trường liên quan đến việc sử dụng các vật liệu tự nhiên, kiểm soát khí thải,

và phục hồi tài nguyên, tái chế chất thải

Tiếp thị xanh (Green Marketing - GMt): Là việc tiếp thị sản phẩm

được coi là an toàn với môi trường Tiếp thị xanh liên quan đến việc kết hợp một loạt các hoạt động bao gồm sửa đổi sản phẩm, sửa đổi các qui trình sản xuất, thay đổi bao bì, cũng như thay đổi quảng cáo theo hướng xanh hoá và thân thiện môi trường Tiếp thị xanh bao gồm việc sử dụng tốt các công cụ công nghệ thông tin, công bố thông tin về môi trường của sản phẩm và dịch vụ, thị phần xanh, mối quan hệ các bên liên quan, đóng gói xanh, quảng cáo xanh, vv…

1.2 Kinh nghiệm quốc tế

Trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, chuỗi cung ứng xanh (green supply chain) và quản lý chuỗi cung ứng xanh (green supple chain

Trang 38

management) được coi là một cơ chế trực tiếp và hiệu quả để giải quyết các vấn đề về môi trường trong chuỗi giá trị toàn cầu Bằng cách sử dụng sức mua và hành vi tiêu dùng của chính phủ, các doanh nghiệp lớn và của cộng đồng, quản lý chuỗi cung ứng xanh là cơ chế thị trường nhằm giảm thải

ô nhiễm và tăng hiệu quả sử dụng năng lượng cũng như tài nguyên thiên nhiên Khi kết hợp với những chế tài pháp luật của quốc gia, khu vực cũng như toàn cầu, nó có thể dẫn tới sự chuyển dịch các ngành sang hướng xanh

Mua sắm công xanh là một yếu tố quan trọng để thúc đẩy chuỗi cung ứng xanh Trong hệ thống thị trường tự do hiện nay, cầu có sức ảnh hưởng đáng kể đến các sự lựa chọn của cung Nếu bên mua quan tâm nhiều đến những sản phẩm xanh thì bên cung ứng sẽ phải dần tự thay đổi theo hướng xanh hóa sản phẩm nếu không muốn mất thị phần Do đó mua sắm xanh là một công cụ định hướng thị trường hữu hiệu để phát triển những sản phẩm

và dịch vụ thân thiện với môi trường, từ đó từng bước xanh hóa chuỗi cung ứng Chính vì thế trong hầu hết các chiến lược xanh hóa chuỗi cung ứng của các quốc gia hoặc khu vực đều đề cao vai trò của mua sắm công xanh Mục đích quan trọng nhất của mua sắm công xanh (Green Public Procurement - GPP) là khuyến khích các tầng lớp lãnh đạo mua sắm những hàng hóa, dịch vụ và thực hiện những hoạt động ít gây ảnh hưởng xấu tới môi trường

Trên thế giới hiện nay, hoạt động mua sắm công xanh đang ngày càng trở nên phổ biến hơn với sự đồng thuận không chỉ của những nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản hay liên minh Châu Âu mà còn cả những nước đang phát triển khác như Trung Quốc, Nam Phi, Thái Lan,… Mặc

dù mục tiêu cuối cùng của GPP là hướng tới phát triển bền vững nhưng áp dụng GPP cho các quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau là tương đối khác nhau Nghiên cứu này sẽ xem xét kinh nghiệm của Mỹ và Liên minh Châu

Âu là những điển hình thành công của chuỗi cung ứng xanh Sau đó đi vào trường hợp mua sắm công xanh của Trung Quốc – một nước phát triển dường như quá nóng và có những tác động xấu đến môi trường; trường hợp mua sắm công xanh của Nam Phi – một quốc gia tại Châu Phi nơi môi trường luôn là một vấn đề được lưu tâm và một vài quốc gia khác Từ đó

sẽ rút ra một vài bải học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.2.1 Mỹ

Chính phủ Mỹ đã ban hành những điều luật và quy định hướng dẫn

Trang 39

phát triển các chuỗi cung ứng xanh Các điều luật và quy định này tập trung đến kiểm soát ô nhiễm, kiểm soát giao thông, bảo quản thực phẩm và bảo

vệ sức khỏe người tiêu dùng Từ đó những hệ thống giám sát tương ứng cũng được thiết lập:

Đẩy mạnh những ưu đãi về thị trường để định hướng hành vi đến bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp: Cụ thể, đó là những ưu đãi về thuế nhằm tác động đến những quyết định liên quan đến tài chính của các công ty nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng những nguồn năng lượng có sẵn và áp dụng những nguồn năng lượng có thể tái tạo được Những công

ty đi đầu trong việc sử dụng năng lượng tái tạo nằm trong chuỗi cung ứng

Ngoài ra, chính phủ Mỹ cũng thực hiện hệ thống báo cáo về thông tin môi trường Tất các công ty Mỹ hay đang kinh doanh tại Mỹ đều phải báo cáo chi tiết các vấn đề về tài chính và quản trị công ty theo những biểu mẫu chuẩn và được công bố thông qua Ủy ban Chứng khoán

Đẩy mạnh thực hiện những chương trình tự nguyện nhằm giảm tác động môi trường của chuỗi cung ứng: Chính phủ Mỹ khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện những chương trình tự nguyện nhằm giảm tác động môi trường của chuỗi cung ứng Chính phủ tài trợ cho các chương trình tình nguyện để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị xanh

và hướng các doanh nghiệp này tới các hoạt động mang tính chất bền vững Các chương trình này không chỉ có tính hướng dẫn mà còn là nơi các công

ty chia sẻ những kinh nghiệm hoạt động nhằm mang lại lợi nhuận Ví dụ như chương trình SmartWay5 được khởi điểm vào năm 2004 Đây là một chương trình hợp tác giữa chính phủ và các ngành cung cấp hậu cần cho các công ty với chiến lược giảm nhiên liệu sử dụng bằng các biện pháp hiệu quả

4 http://www2.epa.gov/toxics-release-inventory-tri-program (truy cập: 3/2014)

5 http://www.epa.gov/smartwaylogistics/ (truy cập: 3/2014)

Trang 40

Thúc đẩy mua sắm công xanh: Chính phủ Mỹ đã hoàn thiện hệ thống

mua sắm xanh có vai trò khuyến khích sự phát triển lành mạnh của chuỗi cung ứng xanh Hệ thống này tuân theo những đạo luật bang và biện pháp hành chính của tổng thống để thúc đẩy mua sắm xanh Những đạo luật và biện pháp hành chính bao gồm: Quyết định hành pháp số 12873 Mua sắm của bang, tái chế và phòng chống chất thải, Quyết định số 13101 Xanh hóa Chính phủ thông qua phòng chống chất thải, tái chế và mua sắm của bang, Quyết định số 13148 về xanh hóa Chính phủ thông qua lãnh đạo trong quản lý môi trường

Thận trọng thiết lập mối quan hệ đối tác đôi bên cùng có lợi Các

doanh nghiệp hàng đầu của Mỹ rất quan tâm đến vấn đề thiết lập quan hệ đối tác với các nhà cung cấp có chú ý đến vấn đề môi trường trong quá trình cung ứng Các nhà cung ứng cuối cùng được chọn lựa dựa trên sự tuân thủ luật pháp và quy định cũng như thông qua những phân tích rất

kỹ lưỡng khác Và khi đã trở thành đối tác, các doanh nghiệp hàng đầu sẽ tiến hành hướng dẫn, hỗ trợ và giúp đỡ các nhà cung ứng này Ví dụ như những hội thảo về môi trường và việc cung cấp những khóa tập huấn về môi trường thường được tổ chức với các nhà cung ứng

1.2.2 Liên minh Châu Âu

Cộng đồng các quốc gia Châu Âu đã có những chính sách liên quan đến GPP từ khá sớm Trên thực tế, mua sắm công chiếm khoảng 19,9% tổng thu nhập quốc dân của Liên minh Châu Âu6 Do đó, khuyến khích những tiêu chí “xanh” trong mua sắm công là vô cùng quan trọng trong việc khuyến khích thị trường sản xuất và trao đổi những sản phẩm xanh hơn Ngoài ra, phát triển mua sắm công xanh một cách rộng rãi cũng chính

là một mục tiêu trong chiến lược Châu Âu 2020 để hướng tới một Châu Âu

sử dụng tài nguyên hiệu quả Các quốc gia thành viên của EU cho rằng khi

áp dụng GPP họ sẽ có thể có những lợi ích không chỉ về mặt môi trường,

xã hội và sức khỏe mà còn có những lợi ích về kinh tế cũng như chính trị Ngoài ra, khuyến khích GPP cũng có nghĩa là khuyến khích sự phát triển của những công nghệ thân thiện với môi trường

Nhận thức được những lợi ích như vậy, Liên minh Châu Âu bắt đầu nhấn mạnh tầm quan trọng của GPP từ năm 2001 với việc ban hành

một thông cáo diễn giải về “Pháp luật cộng đồng áp dụng đối với mua

6 Dữ liệu năm 2009 trong điều tra về tăng trưởng hàng năm của Liên minh Châu âu 2012 (Renda và cộng sự, 2012)

Ngày đăng: 06/01/2021, 07:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w