Học thuyết Mác - Lênin về giáo dục vừa kế thừa, phát triển những giá trị tinh hoa trong di sản giáo dục của nhân loại vừa chứng minh một cách khoa học các vấn đề có tính quy luật trong g
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
VIỆN NGHIÊN CỨU SƯ PHẠM
-& -
TÀI LIỆU CHUYÊN ĐỀ NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG
TS Trương Thị Hoa
Hà Nội, 2019
Trang 2MỤC LỤC
Chương 1 GIÁO DỤC HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC 4
1.1 SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIÁO DỤC HỌC 4
1.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA GIÁO DỤC HỌC 8
1.2.1 Đối tượng nghiên cứu của Giáo dục học 9
1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của Giáo dục học 12
1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC HỌC 13
1.3.1 Phương pháp luận nghiên cứu Giáo dục học 13
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu Giáo dục học 13
1.4 HỆ THỐNG KHOA HỌC GIÁO DỤC 15
1.4.1 Giới thiệu về hệ thống khoa học giáo dục 15
1.4.2 Mối liên quan giữa Giáo dục học và các khoa học khác 17
1.5 HỆ THỐNG CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA GIÁO DỤC HỌC 18
1.5.1 Khái niệm Giáo dục 18
1.5.2 Các khái niệm khác 20
Chương 2 GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH 24
2.1 CON NGƯỜI, NHÂN CÁCH, SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH 24
2.1.1 Quan điểm Mácxít về bản chất con người 24
2.1.2 Khái niệm nhân cách 27
2.1.3 Khái niệm về sự phát triển nhân cách 29
2.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH 30
2.2.1 Yếu tố bẩm sinh, di truyền 30
2.2.2 Yếu tố môi trường 34
2.2.3 Yếu tố giáo dục 38
2.2.4 Yếu tố hoạt động cá nhân 42
Chương 3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ GIÁO DỤC 46
3.1 MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU GIÁO DỤC 46
3.1.1 Mục đích giáo dục 46
3.1.2 Mục tiêu giáo dục 49
Trang 33.2 MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VỀ MÔ HÌNH NHÂN CÁCH NGƯỜI HỌC ĐẦU THẾ
KÝ THỨ XXI 50
3.3 MỤC ĐÍCH GIÁO DỤC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 53
3.3.1 Mục đích giáo dục xã hội chủ nghĩa Việt Nam 53
3.3.2 Nhiệm vụ giáo dục 54
3.4 MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU GIÁO DỤC CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 58
3.4.1 Mục đích giáo dục ở cấp độ xã hội 58
3.4.2 Mục tiêu giáo dục ở cấp độ xã hội trong giai đoạn hiện nay 63
3.4.3 Mục tiêu giáo dục ở cấp độ nhà trường 66
Chương 4 NHÂN CÁCH NGƯỜI GIÁO VIÊN 68
4.1 YÊU CẦU ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI 68
4.1.1 Yêu cầu về phẩm chất của người giáo viên trong xã hội hiện nay 68
4.1.2 Yêu cầu về năng lực của người giáo viên trong xã hội hiện nay 69
4.2 RÈN LUYỆN CỦA GIÁO VIÊN THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 74
4.2.1 Khái niệm 74
4.2.2 Chuẩn nghề nghiệp của giáo viên trung học 74
Chương 5 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÍ LUẬN DẠY HỌC 77
5.1 QUÁ TRÌNH DẠY HỌC 77
5.1.1 Dạy học 77
5.1.2 Ý nghĩa của dạy học 77
5.1.3 Cấu trúc của quá trình dạy học 78
5.2 NHIỆM VỤ DẠY HỌC CỦA NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG 79
5.2.1 Trang bị cho học sinh hệ thống những tri thức khoa học 79
5.2.2 Phát triển ở học sinh năng lực hoạt động trí tuệ, năng lực tư duy sáng tạo 80
5.2.3 Hình thành ở học sinh cơ sở thế giới quan khoa học, lý tưởng cách mạng và những phẩm chất đạo đức của con người mới 81
5.3 BẢN CHẤT QUÁ TRÌNH DẠY HỌC 82
5.3.1 Cơ sở xác định bản chất quá trình dạy học 82
5.3.2 Quá trình nhận thức của học sinh 83
5.3.3 Quá trình dạy học là quá trình điều khiển và tự điều chỉnh 84
5.4 LÔGIC CỦA QUÁ TRÌNH DẠY HỌC 85
5.4.1 Khái niệm 85
Trang 45.4.2 Các khâu của quá trình dạy học 85
5.5 NGUYÊN TẮC DẠY HỌC 88
5.5.1 Khái niệm 88
5.5.2 Phân loại các nguyên tắc dạy học 89
5.6 NỘI DUNG DẠY HỌC 96
5.6.1 Khái niệm 96
5.6.2 Các thành phần của nội dung dạy học 97
5.6.3 Các nguyên tắc xây dựng nội dung bài học 97
5.7 PHƯƠNG PHÁP, PHƯƠNG TIỆN VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC 99 5.7.1 Phương pháp dạy học 99
5.7.2 Phân loại các nhóm phương pháp dạy học 101
5.7.3 Phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh 105
5.7.4 Phương tiện dạy học 114
5.7.5 Hình thức tổ chức dạy học 115
Chương 6 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÍ LUẬN GIÁO DỤC 117
6.1 QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC 117
6.1.1 Khái niệm 117
6.1.2 Bản chất của quá trình giáo dục 118
6.1.3 Đặc điểm của quá trình giáo dục 119
6.2 NGUYÊN TẮC GIÁO DỤC 122
6.2.1 Khái niệm 123
6.2.2 Hệ thống các nguyên tắc giáo dục 124
6.3 PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC 130
6.3.1 Khái niệm 130
6.3.2 Hệ thống các phương pháp giáo dục trong nhà trường 131
Trang 5Chương 1 GIÁO DỤC HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC
1.1 SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIÁO DỤC HỌC
Trong quá trình phát triển của xã hội, những kinh nghiệm, tri thức dần dần được khái quát, hệ thống lại trong các khoa học cụ thể Giáo dục học là một ngành của khoa học xã hội, được củng cố bằng hệ thống lý thuyết vững chắc và ngày càng phát triển mạnh mẽ, góp phần to lớn vào sự phát triển của xã hội
Ở thời kỳ nguyên thuỷ, con người phải làm chủ những kinh nghiệm, tri thức
về giáo dục trẻ em và truyền những kinh nghiệm, tri thức đó từ thế hệ này đến thế
hệ khác dưới các hình thức phong tục, tập quán, quy tắc… phản ánh qua các loại hình văn hoá dân gian như ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích, truyện thần thoại, dân ca, trò chơi… Vào thời kỳ xã hội chiếm hữu nô lệ, khi giáo dục đã khẳng định vai trò của mình trong đời sống xã hội đã nảy sinh nhu cầu khái quát những kinh nghiệm giáo dục và bắt đầu hình thành những tư tưởng về giáo dục Các tư tưởng, các quan điểm giáo dục xuất hiện và tồn tại trong khuôn khổ của Triết học với tư cách là một
bộ phận của tri thức nhân loại, là một khoa học tìm câu giải đáp các vấn đề về mục đích tồn tại của con người, về vai trò và vị trí của con người trong xã hội, về lý tưởng xã hội, về việc chuẩn bị cho con người hoàn thành sứ mệnh của nó Những nhà triết học thời cổ đại như Socrate (469-399 trước Công nguyên), Platon (427-348 trước Công nguyên), Aristote (348-322 trước Công nguyên) đã lý giải các vấn đề giáo dục ở phương Tây Ở phương Đông, tư tưởng giáo dục của Khổng Tử (551-
479 trước Công nguyên) đã có những đóng góp quý báu vào kho tàng lý luận giáo dục của Trung Hoa và có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng giáo dục của nhân loại, đến nay vẫn được khai thác và kế thừa
Heraclitus (540-480 trước Công nguyên) nhà hiền triết Hy Lạp cổ đại đã
nhận định: “Giáo dục, dạy học không phải là rót kiến thức vào đầu người học như
MỤC TIÊU
Học phần này trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về giáo dục học, vai trò của giáo dục đối với xã hội và cá nhân, những kiến thức cơ bản về dạy học và đặc điểm lao động sư phạm của người giảng viên, trên cơ sở đó hình thành và phát triển năng lực nghề nghiệp cho người học
Trang 6
người ta rót chất lỏng vào chai, thông qua cái phễu Thức chất giáo dục là thắp lên một ngọn đuốc để soi sáng, để người học nhận ra những con đường, tự mình chọn lấy cho mình một con đường, rồi tự mình bước đi trên con đường đã chọn, dưới ánh sáng của ngọn đuốc ấy” Như vậy giáo dục chỉ soi sáng, người dạy không áp đặt
con đường cũng như không bước đi thay người học
Socrate (469 - 339 trước Công nguyên) là nhà triết học duy tâm, đồng thời là nhà tư tưởng giáo dục kiệt xuất ở thành bang Aten của Hy Lạp cổ đại Ông quan niệm giáo dục phải giúp con người tìm thấy và tự khẳng định chính bản thân mình
“Hỡi con người, hãy khám phá bản thân mình” Tư tưởng của ông mang giá trị nhân văn rất cao “Mục đích của giáo dục không phải là tách con người ra khỏi đám đông, càng không phải là làm cho con người ấy mất hút vào đám đông; mục đích của giáo dục là làm cho con người nhận ra chính mình giữa đám đông” Phương
pháp dạy học của ông là đàm thoại nêu vấn đề, gợi mở bằng hệ thống câu hỏi và
dẫn dắt người học tự khám phá Theo ông: “Mục đích giáo dục phải nhằm cho học sinh phát hiện ra chân lí bằng sự tranh luận.” Ông gọi phương pháp giáo dục của mình là “phương pháp đỡ đẻ”, sau đó người ta thường gọi đó là “phương pháp
Socrate”, trong đó chủ yếu ông dùng đàm thoại để phát huy tính tích cực của người học trong quá trình lĩnh hội tri thức, bộc lộ và tự khám phá nhằm phát huy năng lực bản thân
Platon (427 - 348 trước Công nguyên) là học trò của Socrate, ông là nhà tư
tưởng của tầng lớp chủ nô ở Hy Lạp với những quan điểm giáo dục tiến bộ Palton cho rằng mục tiêu số một của con người là sống phù hợp với đạo đức, đó là hành động theo điều thiện Theo ông, xã hội công bằng khi nó được sắp xếp theo trật tự hoàn hảo, trong đó mỗi người và vật được đặt đúng vị trí và làm đúng phận sự của mình Ông cho rằng mọi công dân phải được giáo dục như nhau ngay từ lúc đầu, qua quá trình phát triển sẽ sàng lọc dần Trẻ ít năng khiếu sẽ làm thợ, những trẻ học tốt sẽ tiếp tục học để thành nhà thông thái, làm quan; nếu không phát triển được
phải ra làm chiến binh Phalton khẳng định: “Mọi công dân phải được giáo dục như nhau, ngay từ đầu Ngay tầng lớp nông dân và binh sĩ cũng phải học ít nhất là 30 năm trước khi hành nghề Còn quan lại, để cai trị dân cần học thêm 15 năm nữa ”
Platon đã khẳng định được vai trò tất yếu của giáo dục trong xã hội Tuy nhiên hệ thống giáo dục theo quan điểm của ông lại mang nặng sự bất bình đẳng của xã hội
nô lệ, phải chia xã hội thành bốn đẳng cấp: nhà thông thái để cai trị đất nước; chiến binh để bảo vệ đât nước; người thợ gồm người làm ruộng, thợ thủ công và người buôn bán; người nô lệ
Khổng Tử (551 - 479 trước Công nguyên) là nhà giáo dục vĩ đại của Trung
Hoa cổ đại, sống vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, người nước Lỗ (nay là tỉnh Sơn Đông - Trung Quốc) có tư tưởng giáo dục rất sâu sắc, hết sức coi trọng sự học và đặc biệt coi trọng người học Ông là người đầu tiên mở trường dạy học tư thu hút
Trang 7nhiều học trò và đã đào tạo ra nhiều người nổi tiếng Khổng Tử quan niệm giáo dục nhằm mục đích bồi dưỡng nhân cách cho con người - mô hình nhân cách theo quan niệm của ông đó là “người quân tử” - trong đó chữ nhân là phẩm chất cao nhất
trong đạo làm người Theo Khổng Tử, học tập cần thiết cho tất cả mọi người “Hữu giáo vô loại” (Không phân biệt loại người), quyền được đi học là quyền tự nhiên của tất cả mọi người, không phân biệt địa vị xã hội Ông nói: “Ngọc bất trác bất thành khí, Nhân bất học bất tri đạo”(tức: viên ngọc mà không mài dũa thì không
thể thành vật quý, con người mà không học thì không thành người tốt) Khổng Tử
đặc biệt nhấn mạnh tính chủ động, tích cực và độc lập của người học: “Ai không biết tức giận vì tri thức hạn hẹp của mình, ta không gợi mở cho được Ai không biết
tự mình nỗ lực bộc bạch tâm tư, ta không giúp cho phát biểu tư tưởng được Vật có bốn góc, ta vén cho một góc, ai không tự mình vén ba góccòn lại thì là người không thể giáo dục lại được.” Không những thế, ông còn yêu cầu người học phải học bằng
cả tâm hồn, học một cách vui thú: “Biết mà học, không bằng thích mà học; thích
mà học không bằng vui mà học” Trong quá trình giáo dục ông vận dụng nhiều
phương pháp tiến bộ như dùng cách gợi mở đòi hỏi người học phải tích cực và độc lập suy nghĩ để tự phát hiện ra vấn đề Ông cũng dùng phương pháp đàm thoại nhưng đòi hỏi người học phải chủ động đặt câu hỏi trước - học bằng cách hỏi Theo ông, để củng cố kiến thức, hình thành kỹ năng kỹ xảo phải thông qua luyện tập, phải gắn giáo dục với cuộc sống bằng cách yêu cầu người học liên hệ những điều đã
học vào thực tế
Vào thời kỳ Văn hoá Phục hưng, tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa có nhiều ảnh hưởng đến giáo dục Rabelais (1494-1553) người Pháp là một trong những đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân đạo Pháp và các tư tưởng giáo dục trong thời kỳ Phục hưng Ông đã phê phán lối học kinh viện và chủ trương giáo dục nhân đạo chủ nghĩa Ông đả phá lỗi giảng dạy cũ kỹ của nhà thờ thiên chúa giáo và nền giáo dục phong kiến, bắt người học thuộc lòng những tín điều khô khan, khó hiểu Rabelais coi trọng sự phát triển nhiều mặt trong nhân cách của trẻ vì vậy nội dung giáo dục bao gồm trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục thể chất Ông đề cao những hiểu biết thực tế, có ích và các phương pháp dạy học tích cực, trực quan Ông rất coi trọng lao động chân tay và có sáng kiến trong việc tổ chức các hình thức giáo dục phong phú ngoài trường học
Montaigne (1533-1592) người Pháp là một nhà tư tưởng lỗi lạc của chủ nghĩa hoài nghi triết học Ông theo khuynh hướng khoa học kinh nghiệm, nghiên cứu chính xác sự vật và đi sâu vào bản chất của chúng nên các quan điểm giáo dục của ông cũng hình thành trên cơ sở đó Montaigne phản đối lối học nhồi nhét và quan niệm rằng thầy giáo có nhiệm vụ rèn luyện cho học sinh khả năng phán đoán, xâydựng tư tưởng riêng của mình từ những điều đã học Về nội dung giáo dục, ông quan tâm đến giáo dục trí tuệ và giáo dục thể chất tuy nhiên còn thiếu hệ thống, ông phản đối cách trừng phạt thể xác đối với học sinh
Trang 8Sự ra đời của tư tưởng giáo dục xã hội chủ nghĩa gắn liền với tên tuổi của hai nhà khoa học thuộc trường phái không tưởng là Thomax Mor (1478-1535) người Anh và Kampanella (1562-1659) người Ý Tomatmor là người đề xướng ra tư tưởng xã hội nguyên lí trong tác phẩm “Cuốn sách vàng vừa có ích vừa có lợi.” Ông viết về một chế độ của nhà nước Utopi tưởng tượng bao gồm 54 thành phố trong đó
có các nhà bác học, trí thức, công nhân và nông dân Tất cả mọi người đều được đi học đầy đủ và cùng nhau lao động sản xuất, trừ các nhà bác học chi chuyên nghiên cứu Kampasenlla với cuốn sách “Thành phố mặt trời” nêu ra ý tưởng về một nền giáo dục dựa trên cơ sở bình đẳng, bác ái, mọi người đều có quyền học hành Tuy nhiên, đây chỉ là những ý tưởng mà chưa có cách thực hiện Những ý tưởng này về sau được phát triển trong các công trình của các nhà khoa học thuộc trường phái không tưởng khác như Xanh Ximông, Owen…
Từ thế kỷ XVII, Giáo dục học bắt đầu tách ra khỏi Triết học và trở thành một môn khoa học độc lập Người đầu tiên có ý định phân loại khoa học và tách Giáo dục học ra thành một khoa học độc lập là Bacon (1561- 1662), nhà triết học và khoa học tự nhiên người Anh Người tiếp tục phát triển quan điểm này là Comenxki (1592 - 1670) người Tiệp khắc, người đã có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển lý luận và hoạt động giáo dục của nhân loại, ông đã công bố khoảng 140 công trình nghiên cứu chứa đựng những tư tưởng lớn về giáo dục, xã hội và triết học Ông được mênh danh là ông tổ của nền giáo dục cận đại Comenxki đã nêu lên vai trò, ý nghĩa của học vấn đối với trẻ em và cách xác định nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và hệ thống nguyên tắc dạy học trong tác phẩm “Lý luận giảng dạy vĩ đại” (1632) Sáng kiến lớn mà lịch sử giáo dục trân trọng ghi nhận ở
Komenxki là hình thành “lớp học” và gắn liền với nó là bài học, tiết học Ông còn kêu gọi mọi nền giáo dục phải được tổ chức và hoạt động sao cho “đúng quy luật,
mà quy luật lớn nhất là quy luật của tự nhiên” Ông viết: “ giáo dục con người ta phải bắt đầu từ tuổi thanh xuân của cuộc đời, cũng như giờ học tốt nhất là phải học vào buổi sáng của một ngày Thật là khờ khạo khi một thầy giáo không dạy theo khả năng tiếp thu của học sinh mà lại dạy theo ý muốn chủ quan của thầy.” Song
song với việc dạy học và viết những tác phẩm về lí luận giáo dục, Comenxki còn
làm cố vấn cho nhiều nước về cải cách giáo dục Người ta đánh giá “Comenxki là một thiên tài rực rỡ, một nhà phát minh mãnh liệt, một Galilê của giáo dục thời đại.”
Sau Comenxki phải kể đến Loccơ (1632 - 1701), người được xem là trực tiếp xây dựng và phát triển Giáo dục học với tư cách là một khoa học độc lập Tiếp đó, Rutxo và Pestalozzi (1746-1827) người Thuỵ sỹ, Diesterweg (1790-1866) người Đức và Usinxky (1824-1870) người Nga là những người đề cao vai trò của giáo dục
và khẳng định nhiệm vụ của giáo dục là phát triển các năng lực người phù hợp với quy luật vận động và phát triển của tự nhiên
Trang 9Tuy nhiên phải đến thế kỷ XIX, dựa vào những tư tưởng trên, cùng với sự
xuất hiện của chủ nghĩa Mác thì Giáo dục học mới phát triển theo một hướng mới Cùng với việc tích luỹ ngày càng phong phú các sự kiện và các khái quát hoá của khoa học, việc vận dụng các thành tựu và các phương pháp hiện đại của các khoa học tự nhiên và khoa học xã hội vào việc nghiên cứu giáo dục, Giáo dục học đã dựa trên nền tảng lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin để phát triển thành khoa học mang tính lý luận, có khả năng giải thích dự đoán, cải tạo thực tiễn giáo dục
Học thuyết Mác - Lênin về giáo dục vừa kế thừa, phát triển những giá trị tinh hoa trong di sản giáo dục của nhân loại vừa chứng minh một cách khoa học các vấn
đề có tính quy luật trong giáo dục như: sự hình thành và phát triển nhân cách con người, tính quy định của nền kinh tế xã hội đối với giáo dục, tính lịch sử của giáo dục trong tiến trình phát triển xã hội và vai trò của giáo dục trong điều kiện xã hội
có giai cấp với cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn vững vàng Những luận điểm đó được xem là các quan điểm cơ bản có vai trò định hướng cho sự phát triển của Giáo dục học nói chung và giúp cho nền giáo dục ngày càng phong phú và phát triển sâu rộng như hiện nay Nổi lên trong các nhà tư tưởng giáo dục xã hội chủ nghĩa có nhà
tư tưởng giáo dục nổi tiếng của Liên xô cũ là Makarenko (1888 - 1939), ông được coi là nhà giáo dục kiệt xuất vì đã để lại nhiều kinh nghiệm thực tiễn và lí luận về vấn đề giáo dục trong nhà trường, ngoài xã hội và trong gia đình
Trải qua chiều dài phát triển của lịch sử, Giáo dục học đã trở thành một bộ môn khoa học độc lập Giáo dục học nghiên cứu, chỉ đạo thực tiễn giáo dục, đảm bảo cho giáo dục thực hiện tốt các chức năng của mình Thực tiễn giáo dục là cơ sở cho sự ra đời và phát triển của Giáo dục học, những kinh nghiệm của thức tiễn giáo dục được hệ thống hoá, khái quát háo trong giáo dục học Trong quá trình phát triển, giống như các ngành khoa học khác, Giáo dục học luôn loại bỏ những quan điểm lỗi thời và luôn bổ sung các luận điểm, lý thuyết mới phù hợp với trình độ và yêu cầu
xã hội
1.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA GIÁO DỤC HỌC
Bất kỳ một hệ thống tri thức nào muốn trở thành một khoa học độc lập phát triển thì phải xác định được đối tượng nghiên cứu, có hệ thống phạm trù riêng, xây dựng được phương pháp nghiên cứu riêng Một ngành khoa học luôn phải có đối tượng nghiên cứu, việc xác định đúng đối tượng nghiên cứu giúp các nhà nghiên cứu
đi đúng hướng, đúng trọng tâm và các ngành khoa học không bị chồng chéo lên nhau
Có rất nhiều ngành khoa học nghiên cứu về con người, song không phải ngành nào cũng nghiên cứu toàn bộ các khía cạnh ở con người Giáo dục học quan tâm đến con người mà cụ thể đó là sự hình thành và phát triển nhân cách Quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người chịu ảnh hưởng của các quá trình xã hội khác nhau nhưng chủ yếu diễn ra dưới tác động có ý thức của con người, của xã hội – đó là quá trình giáo dục
Trang 101.2.1 Đối tượng nghiên cứu của Giáo dục học
Giáo dục học là một khoa học nghiên cứu bản chất, các khuynh hướng phát triển của quá trình giáo dục, với các nhân tố và phương tiện phát triển con người như một nhân cách trong suốt toàn bộ cuộc sống Giáo dục học nghiên cứu lý luận
và cách tổ chức quá trình giáo dục, các phương pháp và hình thức hoạt động của các nhà giáo dục, các hình thức hoạt động của người được giáo dục, sự phối hợp hành động của người giáo dục và người được giáo dục Giáo dục học nghiên cứu về bản chất và tính quy luật của quá trình hình thành và phát triển nhân cách từ đó xác định mục đích, xây dựng nội dung nguyên tắc, lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục để điều khiển quá trình này vận hành một cách tối ưu trong những điều kiện xã hội lịch sử nhất định
Đối tượng nghiên cứu của Giáo dục học chính là quá trình giáo dục Quá trình giáo dục là một quá trình có tính chất xã hội hình thành con người, được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch căn cứ vào những mục đích và điều kiện do xã hội quy định, được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục và học tập và được tiến hành trong các mối quan hệ xã hội giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội loài người
Quá trình giáo dục là một quá trình xã hội, bao gồm các trạng thái, các quy luật của quá trình xã hội đặc biệt Quá trình giáo dục là một trình tự kế tiếp các trạng thái giáo dục, học tập, phát triển… hướng vào mục đích mà xã hội đề ra - đó chính là mục đích giáo dục Quá trình giáo dục vận động theo quy luật khách quan
của nó, quy luật giáo dục, và chịu ảnh hưởng của các quá trình xã hội khác Quá
trình giáo dục được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch, hướng vào việc truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội lịch sử, vào việc xây dựng và phát triển những nhân cách mới căn cứ vào những mục đích và điều kiện do xã hội quy
định trong mỗi giai đoạn lịch sử Quá trình giáo dục là sự tác động lẫn nhau, trên bình diện cá nhân cũng như trên bình diện tập thể, giữa những người giáo dục và
người được giáo dục tạo thành một mối quan hệ đặc biệt - quan hệ giáo dục Sự tác động này là hai chiều, trong đó cả người giáo dục và người được giáo dục tham gia một cách tự giác, tích cực và sáng tạo - được minh hoạ theo sơ đồ sau:
(qua bài giảng, hướng dẫn thực hành, thí nghiệm, giáo dục đạo đức, nhân cách…)
(qua trình độ nhận thức, thắc mắc, nhu cầu học tập…)
Qua tranh luận, Qua tranh luận, thảo luận thảo luận
Giáo viên Người học
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ tác động giữa các chủ thể giáo dục
Trang 11Quá trình giáo dục không bó hẹp trong nhà trường mà ở đâu có sự tác động giữa hai chủ thể trên tạo thành quan hệ giáo dục thì ở đó có giáo dục Quá trình giáo dục là quá trình mà người giáo dục tổ chức, hướng dẫn, điều khiển, điều chỉnh các loại hình hoạt động và giao lưu của người được giáo dục Người được giáo dục tham gia các loại hình hoạt động và giao lưu đó một cách tự giác, tích cực, sáng tạo nhằm chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội lịch sử, những giá trị văn hoá của loài người Quá trình giáo dục là một bộ phận chủ yếu trong hoạt động sống của người được giáo dục
Các nhân tố cấu thành của quá trình giáo dục bao gồm: chủ thể giáo dục, mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, hình thức tổ chức giáo dục, phương tiện giáo dục, điều kiện giáo dục và kết quả giáo dục
Chủ thể giáo dục là một cá nhân hay một tập thể các giáo viên, các nhà giáo
dục và người học Giáo viên và các nhà giáo dục là chủ thể giáo dục vì họ nhận thức sâu sắc mục đích và tác động của giáo dục đối với việc hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ Nhà giáo dục căn cứ vào mục đích giáo dục của xã hội xây dựng nội dung, kế hoạch giáo dục phù hợp mục đích giáo dục, phù hợp trình độ phát triển của người học Giáo viên là người tổ chức, điều khiển, điều chỉnh, đánh giá quá trình giáo dục Người học là khách thể giáo dục đồng thời cũng là một chủ thể giáo dục Xét ở khía cạnh tác động giáo dục, người học là khách thể giáo dục; xét ở mặt quá trình nhận thức tác động giáo dục và hoạt động thì người học là chủ thể giáo dục Người học chủ động đưa ra mục đích và động cơ học tập, rèn luyện cho mình, tự giác, tích cực và độc lập trong việc lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội
và biến thành kinh nghiệm của riêng mình, từ đó hình thành và phát triển nhân cách Như vậy, chủ thể giáo dục vừa là người giáo dục với tư cách là nhà sư phạm hoặc những người làm công tác giáo dục, vừa là người học hoặc tập thể người học
Mục đích giáo dục là kiểu nhân cách mà xã hội đòi hỏi được thể hiện thành hệ
thống các mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục Mỗi xã hội, mỗi giai đoạn phát triển xã hội do điều kiện khác nhau nên quy định mục đích giáo dục khác nhau Kiểu nhân cách mà xã hội đòi hỏi chính là mẫu người phù hợp với lý tưởng chính trị xã hội, phù hợp với các giá trị văn hoá, đạo đức xã hội, phù hợp với tốc độ phát triển xã hội Trong hệ thống giáo dục quốc dân, mục đích giáo dục được cụ thể hóa theo từng bậc học, năm học, ngành học
Việc xác định mục đích giáo dục rất quan trọng, nó định hướng cho giáo dục tiến tới một cái đích nhất định và đúng đắn Chủ thể giáo dục phải ý thức được mục đích giáo dục và biến nó thành động cơ trong hoạt động của mình Mô hình nhân cách cho những năm đầu thế kỷ XXI được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định trong Nghị quyết đại hội Đảng - bao gồm những phẩm chất của con người mới xã hội chủ nghĩa phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi
Trang 12dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc Trong đó chú trọng những phẩm chất về tư tưởng, chính trị, đạo đức
và năng lực thực sự, năng động, linh hoạt, có khả năng đáp ứng yêu cầu của xã hội,
có trình độ ngoại ngữ, tin học…
Nội dung giáo dục là những kinh nghiệm xã hội lịch sử, những tri thức và nền
văn hoá nhân loại được chọn lọc đưa vào hoạt động giáo dục Hệ thống kiến thức của nhân loại rất đa dạng, phong phú vì vậy giáo dục không thể truyền tải hết các kinh nghiệm đó cho các cá nhân Muốn có một hệ thống kiến thức đáp ứng được mục đích giáo dục thì cần phải lựa chọn cho phù hợp và biên soạn thành sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu học tập…
Phương pháp giáo dục là cách thức, là con đường, các biện pháp hoạt động
gắn kết giữa chủ thể và khách thể nhằm chiếm lĩnh nội dung giáo dục và đạt được mục đích giáo dục Để truyền tải cũng như để lĩnh hội được hệ thống tri thức, kinh nghiệm có hiệu quả thì người giáo dục và người được giáo dục phải có những phương pháp riêng, đó chính là phương pháp giáo dục Phương pháp giáo dục bao gồm phương pháp dạy học, phương pháp tự học, phương pháp rèn luyện, phương pháp khen thưởng, kỷ luật… là những cách thức hoạt động tương tác giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm giúp người được giáo dục chiếm lĩnh nội dung giáo dục một cách đầy đủ, sâu sắc từ đó hình thành và phát triển nhân cách
Hình thức tổ chức giáo dục là hình thức tổ chức hoạt động phối hợp giữa
người giáo dục và người được giáo dục theo một trình tự nhất định Hình thức giáo dục là biểu hiện bên ngoài của phương pháp giáo dục Trong nhà trường có các hình thức giáo dục như: hình thức lên lớp, thảo luận, thực hành, tham quan, ngoại khoá, nghiên cứu khoa học…
Phương tiện giáo dục là những đồ dùng, vật thể mang nội dung giáo dục và
phương pháp giáo dục; là những phương tiện tiến hành hoạt động giáo dục của người giáo dục và của người được giáo dục Phương tiện giáo dục bao gồm ngôn ngữ, nhân cách của giáo viên; sách, tài liệu, trang thiết bị và một số cơ sở vật chất
có nhiệm vụ truyền tải nội dung và phương pháp giáo dục đến người học
Điều kiện giáo dục là những điều kiện bên trong bao gồm cơ sở vật chất,
không khí tâm lý, thẩm mỹ, vệ sinh, kinh phí được đầu tư… và điều kiện bên ngoài bao gồm điều kiện tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế, văn hoá, tư tưởng, môi trường xung quanh địa điểm giáo dục Những điều kiện này nếu được các nhà giáo dục và người được giáo dục sử dụng một cách có ý thức thì sẽ trở thành nhân tố tích cực của giáo dục và ngược lại
Kết quả giáo dục là trình độ phát triển nhân cách theo phương hướng của mục
đích giáo dục mà người được giáo dục đạt được sau một thời gian giáo dục nhất định Trình độ này có thể đo lường được ở ba phương diện tri thức, kỹ năng, thái độ
Trang 13của người được giáo dục Kết quả giáo dục tham gia vào quá trình giáo dục với tư cách là tác nhân kích thích và điều chỉnh quá trình giáo dục hiện hành và là xuất phát điểm của quá trình giáo dục mới
Quá trình giáo dục bao gồm nhiều thành tố, chúng tác động qua lại biện chứng với nhau đảm bảo cho sự vận hành và phát triển cuả quá trình giáo dục Các thành
tố này là đối tượng nghiên cứu của Giáo dục học và những khái niệm về những thành tố đó cũng là những khái niệm cơ bản của Giáo dục học Giáo dục học nghiên cứu quá trình giáo dục trong tính tổng thể, tính toàn vẹn của nó, cũng như các bộ phận, các yếu tố của quá trình giáo dục để nhận thức bản chất, cấu trúc và những quy luật của quá trình giáo dục, nhận thức những đặc điểm của quá trình giáo dục diễn ra với các khách thể giáo dục khác nhau, hoặc trong các thể chế giáo dục khác nhau Trên cơ sở đó, xác định những nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức để thiết kế quá trình giáo dục, xác định các lực lượng và các điều kiện để quá trình giáo dục được vận hành tối ưu
1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của Giáo dục học
Giáo dục học giải thích nguồn gốc phát sinh, phát triển và bản chất của hiện tượng giáo dục, phân biệt các mối quan hệ có tính quy luật và tính ngẫu nhiên Tìm
ra những quy luật chi phối quá trình giáo dục để tổ chức quá trình này đạt hiệu quả tối ưu
Giáo dục học nghiên cứu tương lai gần và tương lai xa của giáo dục, nghiên cứu mục tiêu chiến lược và xu thế phát triển giáo dục trong mỗi giai đoạn lịch sử xã hội để xây dựng các chương trình giáo dục phù hợp Mục tiêu chiến lược là cái đích
mà nền giáo dục quốc gia cần hướng tới Xu thế phát triển giáo dục là những định hướng to lớn mà nền giáo dục quốc gia, quốc tế đang hướng tới Theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương II Khoá 8 (tháng 12/1996) của Đảng Cộng sản Việt Nam, mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá là: “Phải thực sự coi giáo dục là quốc sách, hàng đầu, giáo dục là nhân tố quyết định
sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội với nhiệm vụ trung tâm là phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giáo dục cùng với khoa học và công nghệ là những bộ phận hàng đầu của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội.” Mục tiêu chiến lược của nền giáo dục Việt Nam hiện nay là: “Coi giáo dục là quốc sách hàng đầu với nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” (Luật Giáo dục, 2005)
Giáo dục học nghiên cứu xây dựng các lý thuyết giáo dục mới, hoàn thiện các
mô hình giáo dục, dạy học; phân tích những kinh nghiệm giáo dục thực tiễn, tìm ra con đường ngắn nhất và các phương tiện để áp dụng chúng vào thực tiễn Giáo dục học nghiên cứu các thành tựu của khoa học công nghệ, tìm cách áp dụng các tiến bộ
Trang 14khoa học công nghệ vào quá trình giáo dục và tìm kiếm các phương pháp và phương tiện giáo dục mới nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục
Như vậy, Giáo dục học có các nhiệm vụ nghiên cứu rất rõ ràng Những nhiệm
vụ này có tính chất khác nhau nhưng chúng tồn tại thống nhất, tác động qua lại lẫn nhau và bổ sung cho nhau trong quá trình phát triển lý luận giáo dục
1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC HỌC
Giáo dục học khi tìm được đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu thì
nó cũng phải tìm hiểu và xây dựng cách thực hiện, tiến hành các nhiệm vụ đó, đây chính là việc xây dựng hệ thống các phương pháp nghiên cứu Giáo dục học Có rất nhiều phương pháp nghiên cứu Giáo dục học Tuy nhiên trong phạm vi Giáo dục học Đại cương, khi nói đến phương pháp nghiên cứu, người ta chỉ xem xét ở mức
độ tổng quan có tính chất định hướng, chưa trình bày các vấn đề cụ thể, chi tiết về phương pháp nghiên cứu Giáo dục học
1.3.1 Phương pháp luận nghiên cứu Giáo dục học
Phương pháp luận là lý thuyết về các nguyên tắc để tiến hành các phương pháp, các hình thức hoạt động nghiên cứu khoa học Phương pháp luận là hệ thống các quan điểm tiếp cận, các nguyên tắc chỉ đạo mọi phương pháp hệ, mọi phương pháp nghiên cứu cụ thể trong hoạt động nghiên cứu Phương pháp luận trong Giáo dục học là sự tổng hợp các luận điểm về nhận thức giáo dục và cải tạo, biến đổi thực tiễn giáo dục
Có bốn quan điểm phương pháp luận nghiên cứu Giáo dục học:
- Quan điểm duy vật biện chứng: Khi nghiên cứu phải xem xét sự vật, hiện tượng, quá trình giáo dục trong các mối quan hệ phức tạp của chúng, trong sự vận động và phát triển không ngừng
- Quan điểm lịch sử-logic: Khi nghiên cứu phải phát hiện nguồn gốc nảy sinh, quá trình diễn biến của đối tượng nghiên cứu trong không gian, theo thời gian và với những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể
- Quan điểm hệ thống: Khi nghiên cứu phải phân tích đối tượng thành những
bộ phận để xem xét một cách sâu sắc, toàn diện, phải phân tích mối quan hệ giữa các bộ phận, giữa các sự vật, hiện tượng, các quá trình giáo dục với nhau và với môi trường
- Quan điểm thực tiễn: Khi nghiên cứu phải xuất phát từ thực tiễn, khái quát
để tìm ra quy luật phát triển, kết quả nghiên cứu phải được kiểm nghiệm trong thực tiễn và phải được ứng dụng trong thực tiễn
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu Giáo dục học
Phương pháp nghiên cứu Giáo dục học là con đường, cách thức mà các nhà khoa
Trang 15học sử dụng để khám phá bản chất, quy luật của quá trình giáo dục nhằm vận dụng chúng vào thực tiễn giáo dục Các phương pháp nghiên cứu Giáo dục học bao gồm:
a Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết (còn gọi là phương pháp nghiên cứu tài liệu)
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết Phân tích lý thuyết là thao tác phân chia tài liệu lý thuyết thành các đơn vị kiến thức, cho phép ta tìm hiểu dấu hiệu đặc thù, cấu trúc bên trong của lý thuyết Tổng hợp lý thuyết cho phép ta liên kết các yếu tố, các thành phần để tạo thành một tổng thể thống nhất
- Phương pháp mô hình hoá Là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng và quá trình giáo dục dựa vào mô hình của chúng Mô hình phải tương tự như đối tượng nghiên cứu và tái hiện được những mối liên hệ cơ cấu, chức năng, nhân quả của đối tượng Việc nghiên cứu trên mô hình giúp ta khám phá ra bản chất, quy luật của đối tượng
b Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát Quan sát là phương pháp thu thập thông tin về sự vật, hiện tượng, quá trình giáo dục trên cơ sở tri giác trực tiếp các hoạt động giáo dục và các điều kiện khách quan của hoạt động đó Quan sát nhằm phát hiện ra những biến đối của đối tượng trong những điều kiện cụ thể, từ đó phân tích nguyên nhân và rút ra những quy luật vận động của đối tượng
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Thực chất của phương pháp này là sử dụng bảng câu hỏi đã được soạn sẵn với một hệ thống câu hỏi đặt ra cho đối tượng nghiên cứu nhằm thu thập thông tin phục vụ cho mục đích nghiên cứu, thường được
sử dụng để nghiên cứu trên diện rộng
- Phương pháp phỏng vấn Phương pháp phỏng vấn được tiến hành thông qua tác động trực tiếp giữa người hỏi và người được hỏi nhằm thu thập thông tin phục vụ cho mục đích nghiên cứu
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục Tổng kết kinh nghiệm giáo dục là vận dụng lý luận về khoa học giáo dục để thu thập, phân tích, đánh giá các kinh nghiệm trong thực tiễn giáo dục, từ đó rút ra những kết luận khái quát có tính
lý luận về nguyên nhân, điều kiện, biện pháp dẫn tới sự thành công hay thất bại trong giáo dục, từ đó tìm ra những quy luật phát triển của các sự kiện giáo dục
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm Thực nghiệm sư phạm là phương pháp thu nhận thông tin về sự thay đổi về số lượng và chất lượng trong nhận thức, hành
vi của đối tượng giáo dục khi chịu các tác động của nhà khoa học bằng các tác nhân điều khiển và đã được kiểm tra
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động sự phạm Nhà nghiên cứu thông qua các sản phẩm hoạt động sư phạm để tìm hiểu tính chất, đặc điểm, tâm lý
Trang 16của người học và của chính hoạt động giáo dục liên quan nhằm tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng của quá trình giáo dục
- Phương pháp chuyên gia Là phương pháp thu thập thông tin, đánh giá sản phẩm khoa học bằng cách sử dụng trí tuệ của một đội ngũ chuyên gia có trình độ cao về một lĩnh vực nhất định nhằm phân tích giải pháp và tìm ra giải pháp tối ưu cho một quá trình giáo dục
- Phương pháp sử dụng toán thống kê Dùng để thiết lập sự phụ thuộc về số lượng giữa các hiện tượng nghiên cứu, giúp nâng cao độ tin cậy của các kết luận, làm cơ sở cho việc tổng hợp và khái quát hoá
Hệ thống phương pháp nghiên cứu Giáo dục học gồm nhiều phương pháp khác nhau với những ưu, nhược điểm riêng nên cần sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu phù hợp với loại hình và đề tài nghiên cứu
1.4 HỆ THỐNG KHOA HỌC GIÁO DỤC
1.4.1 Giới thiệu về hệ thống khoa học giáo dục
Trải qua quá trình phát triển lâu dài, Giáo dục học đã tự phân thành các
chuyên ngành khoa học giáo dục chuyên biệt Cấu trúc của hệ thống các chuyên ngành khoa học giáo dục được quy định bởi các đối tượng nghiên cứu khác nhau Cùng với quá trình phân hoá, còn có cả quá trình tích hợp, quá trình tích hợp được diễn ra trong khuôn khổ Giáo dục học, cũng như giữa Giáo dục học và các khoa học khác, nhằm khắc phục những nhược điểm của cách tiếp cận phiến diện chỉ theo từng chức năng, từng mặt của giáo dục
Giáo dục học bao gồm các ngành khoa học:
- Giáo dục học đại cương nghiên cứu các vấn đề về lý luận chung, về phương
pháp luận, và phương pháp của Giáo dục học, những vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với việc nghiên cứu các ngành khoa học giáo dục khác cũng như đối với thực tiễn giáo dục
- Lịch sử giáo dục nghiên cứu lịch sử của những học thuyết giáo dục và lịch
sử phát triển thực tiễn giáo dục, lịch sử đấu tranh và phát triển của những tư tưởng giáo dục, lịch sử ứng dụng những lý luận giáo dục học trong thực tiễn tổ chức nền giáo dục quốc dân
- Giáo dục học so sánh nghiên cứu so sánh các quá trình phát triển Giáo dục học
và thực tiễn giáo dục trong nhà trường ở các nước khác nhau để từ đó rút ra những xu thế, những tính quy luật phát triển của giáo dục, khuyến khích trao đổi kinh nghiệm và thúc đẩy hợp tác giữa các nhà giáo dục các quốc gia
- Giáo dục học chuyên ngành (bao gồm: Giáo dục học quân sự, Giáo dục học
thể dục thể thao, Giáo dục học nghề nghiệp, Giáo dục học đại học ) nghiên cứu việc
áp dụng những quy luật chung của Giáo dục học vào các chuyên ngành, bậc học cụ thể
Trang 17- Lý luận dạy học nghiên cứu bản chất và các quy luật của quá trình dạy học,
thiết kế nội dung dạy học, các nguyên tắc, các phương pháp, các hình thức tổ chức, các loại phương tiện dạy học và việc đánh giá kết quả học tập
- Lý luận giáo dục nghiên cứu bản chất và tính quy luật của quá trình giáo
dục, thiết kế nội dung giáo dục, các nguyên tắc, các phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục và việc đánh giá kết quả giáo dục
- Lý luận quản lý nhà trường nghiên cứu quá trình tổ chức và điều khiển sự
nghiệp giáo dục trong nhà trường, nghiên cứu bản chất, cấu trúc, các quy luật vận hành, xác định nội dung, nguyên tắc và triển vọng phát triển, các hình thức tổ chức, phương pháp và biện pháp hoạt động quản lý Cốt lõi của lý luận quản lý nhà trường
là những vấn đề quản lý nội bộ nhà trường, đặc biệt là những vấn đề trong tổ chức và lãnh đạo quá trình sư phạm trong nhà trường
- Lý luận về phương pháp dạy học bộ môn nghiên cứu các quy luật của việc
dạy và học riêng từng môn học, từ đó thiết kế nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học từng môn học nhằm thực hiện mục đích giáo dục
- Lý luận giáo dục đặc biệt nghiên cứu những đặc điểm của quá trình dạy học,
giáo dục và đào tạo lao động cho trẻ em khuyết tật, trẻ em chậm phát triển về trí tuệ, ngôn ngữ…
- Triết học giáo dục nghiên cứu các quy luật khách quan về phát triển nhân
cách, quá trình nhận thức của con người, nghiên cứu các luận điểm triết học cơ bản nền tảng cho quá trình giáo dục và mục đích chiến lược của giáo dục
- Xã hội học giáo dục nghiên cứu các tính quy luật của sự quy định của xã hội
đối với giáo dục, các chức năng xã hội của giáo dục trong những điều kiện lịch sử
cụ thể nhằm làm căn cứ xây dựng mục đích giáo dục, nhiệm vụ giáo dục, các chính sách giáo dục… Xã hội học giáo dục cũng nghiên cứu những chức năng chung của
hệ thống học đường như là một thực thể xã hội, dân chủ hoá học đường, cách cập nhập kiến thức nhân loại, những bất công của học sinh vì các hoàn cảnh khác nhau
Xã hội học giáo dục cũng nghiên cứu về cơ sở giáo dục, mối quan hệ của nó với những nhân tố khác trong cộng đồng và sự vận hành của nó như một tiểu xã hội
- Kinh tế học giáo dục nghiên cứu sự tác động qua lại của các quan hệ sản xuất
và lực lượng sản xuất trong lĩnh vực giáo dục quốc dân, vạch ra những tác động của các quy luật kinh tế đối với giáo dục, sự vận động của các phương tiện vật chất và tài chính mà xã hội sử dụng để tái sản xuất mở rộng sức lao động lành nghề thông qua hệ thống giáo dục
- Dân tộc học giáo dục nghiên cứu cách thức nuôi dạy trẻ em trong nhưng môi
trường thuộc nhiều tộc người hoặc môi trường xã hội, văn hóa khác nhau, nhằm phát hiện ra sư khác lạ và đa dạng, qua đó giúp tìm ra những điểm chung giữa các xã hội
và tộc, nhóm người
Trang 181.4.2 Mối liên quan giữa Giáo dục học và các khoa học khác
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, đối tượng nghiên cứu của giáo dục là quá
trình giáo dục với tư cách là một quá trình xã hội đặc biệt tác động lên con người nhằm phát triển nhân cách Chính vì vậy, Giáo dục học liên quan mật thiết với các môn khoa học xã hội, sinh lý học người và tâm lý học
- Giáo dục học với Triết học Mác - Lênin: Triết học Mác - Lênin là khoa học
về các quy luật chung nhất của sự phát triển tự nhiên, xã hội, và tư duy con người,
là nền tảng cho sự phát triển giáo dục học xã hội chủ nghĩa Có một số vấn đề mà cả Triết học Mác-Lênin và Giáo dục học cùng quan tâm như sự hành thành con người mới xã hội chủ nghĩa, mục đích giáo dục xã hội chủ nghĩa, mối liên hệ qua lại giữa quá trình giáo dục với các quá trình khác, lý luận về hoạt động của con người và phương pháp giáo dục đào tạo con người, hình thành thế giới quan Mac - Lênin cho thế hệ trẻ, các mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân
- Giáo dục học với Xã hội học: Xã hội học thông qua việc nghiên cứu ảnh
hưởng của môi trường xã hội đối với con người, đã vạch ra những đặc điểm phát triển kinh tế, văn hoá của xã hội và ảnh hưởng của chúng đến sự hình thành nhân cách con người, giúp cho Giáo dục học giải quyết những vấn đề về mục đích và nội dung giáo dục, sự tác động qua lại giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục trẻ
- Giáo dục học với Đạo đức học: Đạo đức học nghiên cứu các học thuyết đạo
đức, bản chất đạo đức, các nguyên tắc và các phạm trù đạo đức cộng sản chủ nghĩa đã trực tiếp giúp Giáo dục học giải quyết các vấn đề về giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ
- Giáo dục học với Mỹ học: Mỹ học nghiên cứu các tính quy luật về sự phát triển các quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực và với nghệ thuật, nghiên cứu các cơ sở của việc hình thành các lý tưởng thẩm mỹ đã tạo cơ sở cho Giáo dục học giải quyết các con đường và các phương tiện giáo dục thẩm mỹ cho thế hệ trẻ
- Giáo dục học với Sinh lý học: Sinh lý học là cơ sở khoa học tự nhiên của
Giáo dục học Việc nghiên cứu Giáo dục học phải dựa vào các dữ kiện của Sinh lý học về sự phát triển hệ thần kinh, về hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai, về sự phát triển và vận hành các cơ quan
- Giáo dục học với Tâm lý học: Tâm lý học nghiên cứu các quá trình, các trạng thái và các phẩm chất tâm lý muôn màu muôn vẻ là những cái được hình thành trong quá trình phát triển của con người dưới tác dụng của giáo dục Tâm lý học cung cấp cho Giáo dục học những tri thức khoa học về các cơ chế diễn biến và các điều kiện tổ chức các quá trình bên trong của sự hình thành nhân cách của con người làm cơ sở tin cậy cho việc tổ chức các quá trình sư phạm
- Giáo dục học với Điều khiển học: Điều khiển học là khoa học nghiên cứu về
sự điều khiển tối ưu các hệ thống phức tạp, nghiên cứu lôgic của những quá trình
Trang 19trong tự nhiên và xã hội, xác định những cái chung, quy định sự vận hành các quá trình đó Quá trình giáo dục là một quá trình điều khiển được, có thể vận dụng các
lý thuyết điều khiển học để xây dựng các lý thuyết giáo dục
1.5 HỆ THỐNG CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA GIÁO DỤC HỌC
Trong Giáo dục học cũng như các khoa học khác, để có thể bắt đầu tư duy và hoạt động khoa học, nhà khoa học cần nắm vững kiến thức khoa học mà trước hết là nắm vững hệ thống các khái niệm phạm trù khoa học, xem như là bộ công cụ để giúp hoạt động khoa học có hiệu quả, đạt tới sự sáng tạo Như vậy các khái niệm cơ bản của Giáo dục học tồn tại đồng thời với hai tư cách: vừa là sản phẩm, vừa là công cụ của Giáo dục học
1.5.1 Khái niệm Giáo dục
a Giáo dục theo nghĩa rộng
Sự hình thành và phát triển nhân cách của con người không chỉ chịu ảnh hưởng của gia đình, nhà trường mà còn chịu nhiều tác động xã hội khác - những tác động có mục đích, có kế hoạch Tất cả tác động đó nằm trong phạm vi giáo dục theo nghĩa rộng Giáo dục theo nghĩa rộng là quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách con người được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch, thông qua các hoạt động và quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm của xã hội loài người Hiểu theo khía cạnh Xã hội học thì giáo dục còn là sự hình thành con người dưới ảnh hưởng của các nhân tố môi trường xã hội và ảnh hưởng của các hoạt động chuyên môn có mục đích của những người làm nhiệm vụ giáo dục
Cần phân biệt khác niệm giáo dục với các khái niệm hình thành con người, khái niệm xã hội hoá con người Quá trình hình thành con người là quá trình phát triển con người về mặt sinh học, tâm lí, xã hội mang tính chất tăng trưởng về lượng, biến đổi về chất Quá trình này diễn ra do ảnh hưởng của các nhân tố bên trong (như bẩm sinh, di truyền, vốn phát triển trước đây, tính tích cực của chủ thể) và các tác động tích cực từ bên ngoài (như hoàn cảnh tự nhiên, hoàn cảnh xã hội, tác động sư phạm) bao gồm cả các ảnh hưởng tự phát, ngẫu nhiên lẫn các ảnh hưởng tác động
có mục đích, tính chất, kế hoạch, kiểm soát và điều khiển được Quá trình này làm biến đổi một đứa trẻ từ những tư chất vốn có của con người thành một nhân cách, một thành viên của xã hội
Quá trình xã hội hoá con người là một bộ phận của quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người Quá trình này chỉ bao hàm tác động do nhân tố xã hội vừa mang tính chất tự giác, có mục đích, có tổ chức, vừa mang tính ngẫu nhiên tự phát
Xã hội hoá con người là một quá trình hai mặt, bao gồm: một mặt, cá nhân lĩnh hội kinh nghiệm xã hội bằng cách gia nhập môi trường xã hội, hệ thống quan hệ xã hội; mặt khác, cá nhân tích cực tái sản xuất các mối liên hệ xã hội, bằng hoạt động sống của mình, bằng sự tham gia tích cực vào môi trường xã hội
Trang 20Quá trình giáo dục là một bộ phận của quá trình xã hội hoá con người, hình thành nhân cách con người, chỉ bao gồm những nhân tố tác động có mục đích, có tổ chức của
xã hội Việc tổ chức quá trình đó chủ yếu do những người có kinh nghiệm, có chuyên môn đảm nhiệm - gọi là nhà giáo dục, nhà sư phạm Nơi tổ chức quá trình giáo dục có
hệ thống, có kế hoạch chặt chẽ nhất là nhà trường
b Giáo dục theo nghĩa hẹp
Giáo dục theo nghĩa hẹp là một bộ phận của quá tình sư phạm, là quá trình hình thành cho người được giáo dục niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những nét tính cách, những hành vi thói quen ứng xử đúng đắn trong xã hội, thuộc các lĩnh vực tư tưởng, chính trị, đạo đức, lao động, học tập, thẩm mỹ, vệ sinh Chức năng trội của quá trình giáo dục hẹp này chỉ được thực hiện trên cơ sở người giáo dục vừa tác động đến ý thức, vừa tác động đến hành vi; người được giáo dục vừa lĩnh hội hệ thống tri thức và các giá trị, vừa thể nghiệm nhưng kinh nghiệm thực tiễn của bản thân, vừa trau dồi học vấn, vừa tham gia hoạt động xã hội và hoạt động tập thể
Tuy nhiên không nên hiểu rằng khái niệm giáo dục theo nghĩa hẹp này chỉ được thực hiện bó hẹp trong phạm vi môn Đạo đức hay môn Giáo dục công dân Những phẩm chất đạo đức được hình thành một phần nhờ hệ thống tri thức của các môn học này trong nhà trường, mặc khác gia đình cũng tác động đến khía cạnh này rất lớn Ngoài xã hội, dưới ảnh hưởng của các tổ chức xã hội, qua các phương tiện truyền thông, qua tấm gương sáng, thông qua các tình huống đời thường cũng góp phần giáo dục phẩm chất đạo đức cho con người
c Dạy học
Dạy học là quá trình bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể nhằm giáo dục nhân cách toàn vẹn Dạy học là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm truyền thụ và lĩnh hội những tri thức khoa học, những kỹ năng và kỹ xảo của hoạt động nhận thức và thực tiễn, trên cơ sở đó hình thành nên thế giới quan, phát triển năng lực chuyên môn, năng lực sáng tạo và xây dựng nhân cách người học theo mục đích giáo dục
Chức năng trội của dạy học là hình thành những tri thức về khái niệm, quy luật,
lý thuyết khoa học, các kỹ năng kỹ xảo chung và chuyên biệt của hoạt động nhận thức và thực hành Kết quả trực tiếp của quá trình dạy học là học vấn bao gồm cả phương pháp (nhận thức, hành động) và năng lực chung, năng lực chuyên biệt của người học
Dạy học là hoạt động chung hay còn gọi là một quá trình bao gồm hai hoạt động song phương thống nhất biện chứng không thể tách rời nhau là dạy và học Mỗi hoạt động có một chủ thể riêng với vai trò, nhiệm vụ khác nhau nhưng mục đích cuối cùng là phát triển nhân cách người học Dạy là hoạt động chủ đạo, với chủ thể là người dạy, có vai trò tổ chức, hướng dẫn, điều khiển sự lĩnh hội của người
Trang 21học Người học là chủ thể hoạt động học có ý thức, năng động, sáng tạo, độc lập trong việc tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Hoạt động dạy và hoạt động học tác động qua lại lẫn nhau, người dạy tác động trực tiếp đến người học, giúp người học nâng cao nhận thức, thái độ, hành vi đồng thời giúp người học phát triển nhân cách thông qua các tác động dạy của mình Ngược lại, những phản hồi từ phía người học như kết quả học tập, thái độ học tập và các ý kiến phản hồi giúp người dạy điều chỉnh lại các tác động dạy của mình cho phù hợp hơn, hiệu quả hơn
Như vậy hai quá trình dạy học và giáo dục (theo nghĩa hẹp) đều cùng thực hiện chức năng của quá trình sư phạm tổng thể là trau dồi học vấn, rèn luyện tính cách, phát triển nhân cách người học Song mỗi quá trình có chức năng trội riêng,
do đó nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và kết quả đạt được của mỗi quá trình có những đặc điểm riêng và những quy luật riêng Hai quá trình này đan xen, tác dộng lẫn nhau, thống nhất với nhau
1.5.2 Các khái niệm khác
a Giáo dục suốt đời
Giáo dục suốt đời là một nguyên tắc chỉ đạo việc tổ chức tổng thể một hệ thống
giáo dục cũng như việc tổ chức từng bộ phận của hệ thống giáo dục nhằm thực hiện giáo dục toàn diện cho các giai đoạn của cuộc đời con người Giáo dục suốt đời giúp người học có khả năng theo sát được những thay đổi đang và sẽ diễn ra của xã hội, phát hiện và giải quyết được những vấn đề đặt ra trong thực tiễn cuộc sống
Trên cơ sở nguyên tắc này giáo dục suốt đời cần thay đổi cách đào tạo ban đầu, chính quy nặng về trang bị kiến thức sang giúp cho người học xây dựng năng lực tự học, năng lực học cách học – nói cách khác nhà trường cần “dạy cách học”, giúp cho người học có thể tự học một cách sáng tạo nhờ đó có thể học suốt đời
b Xã hội hoá giáo dục
Xã hội hoá giáo dục là một chiến lược nhằm lôi kéo toàn xã hội vào quá trình giáo dục thông qua việc đa dạng hoá các nguồn lực dành cho giáo dục đào tạo Bên cạnh nguồn ngân sách Nhà nước dành cho giáo dục cần khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, cộng đồng, các cá nhân đầu tư vào lĩnh vực giáo dục, cũng như tăng cường phần đóng góp của gia đình và chính người học khi tham gia vào hưởng thụ giáo dục, khi đó giáo dục được coi là một dạng dịch
vụ công cộng
Theo GATS (General Agreement on Trade Services) giáo dục là một loại hàng hóa khả mại, có thể mua và bán GATS đưa ra bộ qui tắc điều chỉnh thương mại dịch vụ quốc tế, bao gồm bốn phương thức theo đó một dịch vụ có thể trao đổi: (i) Cung cấp qua biên giới; (ii)Tiêu dùng ngoài lãnh thổ; (iii) Hiện diện thương mại và (iv) Hiện diện của nhà cung ứng – tức là hình thức nhà cung ứng hiện diện ở các
Trang 22nước khác để cung cấp dịch vụ Khu vực tư nhân trở thành một phương thức hấp dẫn các đối tác nước ngoài trong việc phát triển giáo dục qua biên giới và thương mại giáo dục
Coi giáo dục là một loại hàng hóa (loại hàng hóa đặc biệt) ở đây thuần nghĩa
là giáo dục có thể được trao đổi, luân chuyển với những giá trị nhất định Việc làm nên giá trị của các cá nhân phụ thuộc cả vào nền giáo dục cũng như ý chí cá nhân của họ Coi giáo dục là hàng hóa, là nói tính chất có thể mua bán được của giáo dục như là một dịch vụ cung ứng giữa người cần có kiến thức, thái độ, hành vi đối với một ngành nghề mà anh ta sẽ lựa chọn trong cuộc sống của mình Nói giáo dục là dịch vụ hàng hóa có thể mua bán được không bao gồm việc mua bán điểm, bằng cấp, coi bằng cấp là công cụ duy nhất để thăng tiến, càng không thể bao hàm ý nghĩa thiếu tôn kính người thầy
Nếu giáo dục là một loại hình dịch vụ hàng hóa thì hàng hóa mà giáo dục
“đem bán” ở đây là gì và khách hàng của họ là ai? Hàng hóa mà giáo dục cung cấp cho người học là một chương trình học đáp ứng đòi hỏi về kiến thức, kinh nghiệm thực hành, giao tiếp, kinh nghiệm nghề nghiệp …của người người học (muốn bán được phải có: đội ngũ giảng viên, công chức phục vụ, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học, thực hành thí nghiệm… và cả uy tín của cơ sở giáo dục trước xã hội) Người học sẽ mua dịch vụ này (sinh viên, học sinh phổ thông, những người cần trang bị những kiến thức, kĩ năng sống mà họ thiếu…)
c Giáo dục thường xuyên
Giáo dục thường xuyên nhằm giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục,
học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm và thay đổi việc làm, tự tạo việc làm và thích ứng với đời sống xã hội Giáo dục thường xuyên được coi như khung then chốt của chính sách giáo dục, nhằm hiện thực hoá tư tưởng xây dựng một xã hội học tập
Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập Hiện nay ở Việt Nam có các chương trình giáo dục thường xuyên theo quy định tại điều 45, mục 5, Luật Giáo dục (2005):
- Chương trình xoá mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ
- Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật kiến thức,
kỹ năng, chuyển giao công nghệ
- Chương trình đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ về chuyên môn và nghiệp vụ
- Chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân với các hình thức: vừa làm vừa học, học từ xa, tự học có hướng dẫn
Trang 23d Giáo dục không chính quy
Giáo dục không chính quy là một phương thức của giáo dục thường xuyên,
giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách,
mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và chuyển đổi việc làm, thích nghi với những biến đổi trong đời sống xã hội
e Giáo dục cộng đồng
Giáo dục cộng đồng là giáo dục trong cộng đồng và có sự tham gia của cộng đồng nhằm duy trì, củng cố và phát triển cộng đồng Giáo dục cộng đồng là một hình thức giáo dục không chính quy do người dân trong cộng đồng tự tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của những người (ở mọi lứa tuổi) không có điều kiện theo học ở các trường lớp giáo dục chính quy Giáo dục cộng đồng là các hoạt động giáo dục luôn mang tính chất cộng đồng, tính xã hội và chịu sự quy định của nền kinh tế
xã hội Giáo dục cộng đồng gần nghĩa với xã hội hoá giáo dục, đa dạng hoá giáo dục nhằm thoả mãn mọi nhu cầu giáo dục đào tạo của từng cá nhân và cộng đồng dân cư từng vùng
Giáo dục cộng đồng còn là việc giáo dục cho thế hệ trẻ hiểu và biết phát huy những tinh hoa văn hoá truyền thống của cộng đồng, giúp thế hệ trẻ có ý thức giữ gìn bản sức văn hoá của cộng đồng Đồng thời giúp các em nhìn nhận nhiệm vụ góp phần phát triển cộng đồng, đưa cộng đồng hoà nhập với xã hội rộng lớn
Giáo dục cộng đồng thường được tiến hành tại các Trung tâm giáo dục cộng đồng, các câu lạc bộ cho mọi lứa tuổi Trung tâm học tập cộng đồng được coi là cơ
sở giáo dục thường xuyên (điều 46, mục 5, Luật Giáo dục 2005) Đây là một hệ thống mở tạo cơ hội cho mọi tâng lớp, mọi thành viên trong cộng dồng ngày càng gắn bó với cộng đồng, với xã hội Cách thức tổ chức hoạt động giáo dục cộng đồng
đa dạng, phong phú, nội dung và phương pháp giáo dục mềm dẻo, linh hoạt để phù hợp với nhiều loại đối tượng
f Giáo dục hướng nghiệp
Giáo dục hướng nghiệp cũng là một bộ phận của quá trình giáo dục, là một hệ thống các chương trình, biện pháp giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tư tưởng, tâm lý, tri thức, kỹ năng để họ sẵn sàng đi vào ngành nghề Vai trò của giáo dục hướng nghiệp là làm cho người học hiểu rõ các nghề nghiệp trong xã hội, từ đó có sự lựa chọn hoặc định hướng nghề tương lai phù hợp với yêu cầu xã hội, với nguyện vọng và năng lực bản thân Giáo dục hướng nghiệp còn có nhiệm vụ định hướng nghề, tư vấn nghề, thích ứng và tuyển chọn nghề Đây là là việc làm cần thiết, hữu ích đối với bậc giáo dục trung học phổ thông
vì các em học sinh đã đến tuổi phải lựa chọn nghề nghiệp tương lai cho mình
Trang 24f Công nghệ giáo dục
Công nghệ giáo dục là cách thức tiếp cận hệ thống áp dụng thành tựu khoa học
kỹ thuật công nghệ vào việc thiết kế quá trình giáo dục, dạy học nhằm tối ưu hoá các quá trình này Căn cứ trên "đầu vào" là trình độ phát triển hiện có của người học và
"đầu ra" là trình độ phát triển mong muốn đạt được, người ta thiết kế các công đoạn, các biện pháp, các phương tiện phù hợp một cách tối ưu nhất - tương tự như một dây chuyền công nghệ - để quá trình giáo dục, dạy học đạt được hiệu quả cao nhất
Theo UNESCO (hội thảo Giơnevơ - tháng 5/1970), công nghệ dạy học là một khoa học về giáo dục, nó xác lập các nguyên tắc hợp lý nhất của công tác dạy học và những điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành quá trình dạy học cũng như xác lập các phương pháp và phương tiện có kết quả nhất để đạt mục đích dạy học đề ra, đồng thời tiết kiệm được thời gian và sức lực của người dạy và người học
Công nghệ giáo dục thường gắn liền với việc sử dụng các phương tiện giáo dục và dạy học hiện đại Công nghệ giáo dục gắn liền với việc thiết kế chương trình thành các Môđun, trong đó xác định rõ và chặt chẽ mục tiêu, trình độ người học ở đầu vào và đầu ra, các con đường và biện pháp thực hiện quá trình giáo dục, kiểm tra đánh giá kết quả
Tuy nhiên, công nghệ giáo dục là phương thức tư duy có tính khoa học và hệ thống đối với giáo dục chứ không phải chỉ đơn thuần là sử dụng công nghệ thông tin như các phương tiện giáo dục, phương tiện dạy học, cũng không phải chỉ đơn thuần là công nghệ phần cứng Ví dụ: Người ta thiết kế "chương trình hoá dạy học" bằng việc áp dụng điều khiển học Hiện nay việc áp dụng thành tựu công nghệ thông tin vào hoạt động dạy học đã tạo ra các mô hình dạy học từ xa
Trang 25Chương 2 GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
Trong xã hội, giáo dục là một nhân tố đóng vai trò chủ đạo đối với sự hình thành phát triển nhân cách con người Giáo dục có sứ mạng giúp cho mọi người, không trừ một ai, được phát huy tất cả mọi tài năng và tất cả mọi tiềm lực sáng tạo Giáo dục là một hiện tượng đặc biệt của xã hội loài người và chỉ có ở xã hội loài người Nơi tổ chức quá trình giáo dục có quy mô nhất, chặt chẽ nhất chính là nhà trường Để nhận thức đúng đắn làm cơ sở hoạch định những kế hoạch, biện pháp nhằm thực hiện nhiệm vụ vẻ vang của ngành giáo dục, những người làm công tác giáo dục cần phải hiểu biết về sự hình thành và phát triển nhân cách, đặc biệt là vai trò của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cũng như những ảnh hưởng của các nhân tố khác đến sự phát triển đó
Chương này sẽ phân tích các yếu tố tác động đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân trong cộng đồng, xã hội và xác định vai trò của yếu
tố giáo dục và tự giáo dục đối với sự phát triển nhân cách của người học, đặc biệt là đối với học sinh phổ thông; xác định mối quan hệ giữa yếu tố giáo dục và các yếu tố khác có ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách học sinh
2.1 CON NGƯỜI, NHÂN CÁCH, SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
2.1.1 Quan điểm Mácxít về bản chất con người
Các Mác nhìn nhận con người hết sức đúng đắn, ông nhấn mạnh phần xã hội trong việc hình thành bản chất người song ông cũng không quên vai trò của phần tự nhiên Theo Mác, con người bao gồm hai phần: phần "con" và phần "người" tương ứng với hai mặt tự nhiên và xã hội Từ đó Mác khẳng định con người vừa là thực thể tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội
a Phần tự nhiên
Mác thừa nhận con người là một bộ phận, là khâu tiến hoá cao nhất của tự nhiên nói chung và của quá trình sinh học nói riêng Con người mang bản tính tự nhiên sinh học, phần tự nhiên là tiền đề cho sự phát triển của phần xã hội Mác viết:
"Con người là một thực thể tự nhiên trực tiếp Với tư cách là thực thể tự nhiên, hơn nữa là thực thể tự nhiên sống, con người được phú cho những sức mạnh tự nhiên, những sức sống và đã trở thành thực thể tự nhiên hoạt động."
Quan điểm của Mác hoàn toàn có cơ sở khoa học, con người sinh ra trước hết phải là những thực thể tự nhiên - trẻ em mới sinh chỉ có những cấu tạo sinh lý giải phẫu người chứ chưa có ý thức Việc thừa nhận bản chất tự nhiên sinh học của con người một cách đúng mức là cần thiết, song thừa nhận mặt tự nhiên không phải là tuyệt đối hoá nó Con người, nếu chỉ có phần "thể xác" mà không có phần "hồn" thì không phải là "người" Ngay ở những con người bình thường thì mặt tự nhiên cũng được ý thức hoá
Trang 26b Phần xã hội
Con người sinh ra đã tồn tại trong xã hội loài người, chịu sự tác động của các
mối quan hệ xã hội nên bản chất con người mang tính xã hội Theo Mác: "Bản chất con người không phải là cái gì chung chung trừu tượng vốn có của mỗi cá nhân riêng biệt, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội."
Con người lúc mới sinh ra chỉ thuần tuý là một thực thể sinh học Trong quá trình sống và hoạt động thông qua các quan hệ xã hội con người mới dần dần hình thành ý thức, tâm lí, nhân cách Trong mối quan hệ với thế giới xung quanh, bằng hoạt động và giao lưu của mình con người đã tạo ra các mối quan hệ xã hội như quan hệ sản xuất, quan hệ pháp quyền, quan hệ chính trị, quan hệ đạo đức, quan hệ người - người Trong mối liên hệ của mình với ông bà, cha mẹ, anh em, đồng nghiệp, thầy cô giáo và những người khác con người tạo ra quan hệ đạo đức Con người đối xử với nhau theo chuẩn mực đạo đức xã hội Khi tham gia vào lao động tạo ra của cải vật chất hay tinh thần con người tạo ra quan hệ sản xuất Bằng hoạt động và giao lưu của mình con người tham gia vào hệ thống các quan hệ xã hội mà con người đã tạo dựng được với tư cách là một chủ thể có ý thức nhằm tác động đến thế giới xung quanh và làm biến đổi chính các quan hệ đó
Con người không chỉ đơn thuần tạo ra các quan hệ xã hội Khi tạo ra các quan
hệ xã hội con người tham gia vào các mối quan hệ đó để tác động đến thế giới xung quanh, làm biến đổi thế giới xung quanh và dẫn đến biến đổi chính các mối quan hệ
đó Con người tham gia vào quan hệ sản xuất nhằm tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi thế giới tự nhiên tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu của bản thân Quá trình này lại thúc đẩy sự phát triển của quan hệ sản xuất, làm cho quan hệ sản xuất trở nên tiến bộ hơn Con người cảm thụ thế giới tự nhiên, sáng tạo ra giá trị tinh thần: văn, thơ, các tác phẩm hội hoạ Trong quá trình tham gia vào các quan hệ xã hội con người cũng chịu sự chế ước quy định của quan hệ xã hội và trở thành sản phẩm của mối quan hệ tác động trở lại đó Quan hệ sản xuất quy định con người phải đạt được những tiêu chuẩn nhất định phù hợp với quan hệ sản xuất và trình độ sản xuất Quan hệ sản xuất phát triển đòi hỏi con người cũng phải phát triển
Mác đã nhận định: "Hoàn cảnh tạo nên con người, trong chừng mực nào đó, con người tạo ra hoàn cảnh." Nói đến con người là sản phẩm của lịch sử xã hội
chúng ta thấy rằng theo sự phát triển lịch sử xã hội, các mối quan hệ của con người
ngày càng trở nên đa phương, phức tạp Mác đã phân ra: "Con người nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản, xã hội chủ nghĩa” Như vậy, ở mỗi trình độ
khác nhau của xã hội, quan hệ xã hội, tư liệu và quan hệ sản xuất nên ở các giai đoạn phát triển lịch sử khác nhau thì bản chất con người cũng khác nhau Con người không phải là sản phẩm có tính chất chung chung trừu tượng mà nó có tính lịch sử nhất định Con người trong các giai đoạn phát triển lịch sử có bản chất xã hội khác
Trang 27nhau Kế thừa tư tưởng đó, Lê Duẩn cũng đã nhận định: "Con người luôn luôn là con người lịch sử, con người xã hội Nó là sản phẩm của một xã hội nhất định, vì vậy phải nghiên cứu con người trong điều kiện lịch sử đã thay đổi."
Trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau con người tạo ra mối quan hệ ở các mức độ khác nhau Tuy nhiên dù ở giai đoạn lịch sử xã hội nào thì khi con người thông qua các mối quan hệ xã hội, bằng hoạt động của mình tác động đến thế giới xung quanh thì đều hình thành, phát triển bản chất con người Đồng thời cũng thông qua hoạt động, qua các mối quan hệ xã hội con người bộc lộ bản chất của mình rõ nhất Bản chất của con người được hình thành, phát triển và bộc lộ trong quá trình con người bằng hoạt động của mình tham gia vào các quan hệ xã hội và chịu sự chế ước của xã hội Con người tham gia vào quan hệ sản xuất, tác động vào thế giới tự nhiên tạo ra sản phẩm vật chất hoặc tinh thần , đồng thời con người cũng chịu sự chế ước của quan hệ sản xuất, con người tiếp thu được các kiến thức, kinh nghiệm,
kỹ năng kỹ xảo và phát triển nhân cách Trong quá trình lao động sản xuất con người cũng thể hiện rõ mình là người tích cực hay thụ động, có tài năng hay không
có tài năng Trong quan hệ đạo đức giữa người với người, con người vừa tiếp thu được những quy định, chuẩn mực về quan hệ vừa bộc lộ mình là người tốt hay xấu,
có ý thức hay vô thức
Con người bao gồm cả phần tự nhiên và phần xã hội, hai phần này khác nhau nhưng không tách rời nhau mà thống nhất biện chứng trong mỗi con người Phần tự nhiên là cơ sở, là tiền đề cho việc phát triển phần xã hội Ngược lại, việc phát triển phần xã hội hoàn thiện các yếu tố tự nhiên và làm cho chất lượng hoạt động của các yếu tố này được nâng cao Những đặc điểm sinh học của mỗi người có ảnh hưởng nhất định đến quá trình hình thành các phẩm chất như tài năng, tính xúc cảm, sức khoẻ thể chất… Song những ảnh hưởng đó của nhân tố sinh học chỉ tạo nên cái nền, chỉ tác động đến mức độ mạnh yếu của các nét nhân cách, chứ không liên quan đến các mặt về chất của nội dung ý thức Những mặt này là do sự tham gia của con người vào quá trình lịch sử xã hội quy định
Lịch sử đã chứng minh rằng: chính con người là chủ thể lịch sử của mọi giá trị, mọi nền văn minh Con người sáng tạo ra chính bản thân mình thông qua việc sáng tạo ra các sản phẩm xã hội Từ những thành phố đồ sộ, các nhà máy lớn, những phương tiện hiện đại, những con tàu đang đi trên biển hay bay vào vũ trụ, những phát minh vĩ đại hay những áng thơ ca, những bản nhạc, bức hoạ quý giá đến cả những thứ phục vụ cho đời sống hàng ngày đều do con người tạo nên Thông qua việc sáng tạo những sản phẩm ấy con người đã khẳng định bản thân mình Đặc biệt trong thời đại ngày nay khi xã hội có nhiều tiến bộ nhanh chóng thì con người là nhân tố quyết định của sự tiến bộ đó, đồng thời con người cũng phát triển nhân cách của mình mạnh mẽ
Trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ và kinh tế tri thức, việc quan
Trang 28tâm phát triển nguồn lực con người được coi là yếu tố quyết định, tăng tốc, bền vững của mọi quốc gia trên thế giới Đảng và Nhà nước Việt Nam từ lâu đã chú trọng coi mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là con người: do con người
và vì con người Vì vậy đã luôn đặt con người vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển, chú trọng khơi dậy mọi tiềm năng của cá nhân, tập thể lao động và cả cộng đồng dân tộc trong việc thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước Những quan điểm về mục tiêu này rất quan trọng, đó chính là đường hướng cho mọi hoạt động,
vì vậy, cần được quán triệt những mục tiêu này trong mọi hoạt động của đời sống
xã hội và ngay trong quá trình học tập, tu dưỡng của học sinh, sinh viên ngày nay Khi nhìn nhận về con người cần phải quán triệt được tư tưởng của chủ nghĩa Mác, coi con người là thực thể tự nhiên, là khâu tiến hoá cao nhất của sinh vật Song điều quan trọng hơn, con người là sản phẩm của lịch sử xã hội, là thực thể mang bản chất
xã hội
2.1.2 Khái niệm nhân cách
a Phân biệt một số thuật ngữ về con người
Khi nói đến đặc trưng của một con người theo khía cạnh của sự gia nhập của
người đó vào chỉnh thể xã hội, ta dùng khái niệm nhân cách Để hiểu được khái
niệm nhân cách, chúng ta cần phân biệt một số thuật ngữ, khi nhìn nhận con người trong các mối quan hệ khác nhau hay trên những bình diện khác nhau Đó là các
Khi cá nhân tiến hành hoạt động một cách có mục đích, kế hoạch, có ý thức thì cá nhân đó được xem như là chủ thể Ví dụ như chủ thể của hoạt động học là người học (học sinh, sinh viên, học viên), chủ thể của hoạt động dạy là giáo viên
b Khái niệm nhân cách
Nhân cách là toàn bộ các thuộc tính tâm lý, tạo nên giá trị và nét riêng duy nhất của một con người Nói đến nhân cách là nói đến bộ mặt tinh thần, đời sống tâm lí của mỗi cá nhân Ở những đứa trẻ mới sinh chưa có nhân cách Nhân cách chỉ hình thành khi con người tham gia vào đời sống xã hội, khi sự phát triển về mặt tâm
Trang 29lí và mặt xã hội đến mức độ nhất định Nhân cách là sản phẩm của xã hội Khi xem xét con người là thành viên của xã hội, là chủ thể của các mối quan hệ xã hội, các hoạt động thì ta bàn đến nhân cách của họ
Xét về khía cạnh tâm lý, “nhân cách là tổ hợp các thái độ, những đặc điểm, thuộc tính tâm lí riêng trong quan hệ hành động của từng người với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật do loài người sáng tạo, với xã hội và với bản thân” (Phạm
Minh Hạc, 1994) Cụ thể hơn, nhân cách là bộ mặt tâm lí cá nhân với tổ hợp những phẩm chất phù hợp với những chuẩn mực xã hội, được xã hội thừa nhận
Xét về khía cạnh giáo dục, nhân cách bao gồm toàn thể các năng lực, các phẩm chất có ý nghĩa xã hội trong một con người Những thuộc tính này được hình thành và phát triển khi cá nhân tham gia vào các mối quan hệ xã hội Nhân cách chính là mức độ chiếm lĩnh của mỗi cá nhân về những sức mạnh bản chất của loài người Những sức mạnh bản chất của nhân cách được biểu hiện ở toàn bộ các quan
hệ xã hội của con người và đặc trưng là quan hệ giao lưu liên nhân cách, ở toàn bộ
hệ thống các loại hình hoạt động của con người, ở môi trường văn hoá, vật chất, kỹ thuật của con người, ở thế giới tinh thần - ý thức của con người Nhân cách không bất biến mà thường xuyên vận động, biến đổi theo chuẩn mực, giá trị xã hội
Nhân cách chính là toàn thể những thuộc tính đặc biệt mà một cá thể có được trong hệ thống các quan hệ xã hội, trên cơ sở hoạt động và giao lưu, nhằm chiếm lĩnh các giá trị vật chất và tinh thần Những thuộc tính ấy bao gồm những thuộc tích
về trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, thể chất… là những giá trị cần có trong nhân cách mỗi người Sự phát triển phong phú các quan hệ xã hội, các loại hình hoạt động, các thành tựu văn hoá vật chất và tinh thần đã tạo tiền đề cho sự phát triển đầy đủ nhân cách Định hướng giá trị là yếu tố quan trọng nhất, là cốt lõi của nhân cách Nhân cách bao gồm những định hướng về các giá trị về tư tưởng như niềm tin, lý tưởng, hoà bình, độc lập tự do các giá trị về đạo đức như lương tâm, trách nhiệm, lòng nhân ái, nghĩa vụ, lòng trung thực, tính kỷ luật và các giá trị nhân văn như học vấn, nghề nghiệp, tình cảm, tài năng, sự lựa chọn giá trị Theo quan điểm truyền thống của người Việt Nam, nhân cách bao gồm hai mặt phẩm chất và năng lực (tức
là Đức và Tài)
Tập hợp các giá trị như niềm tin, lí tưởng, thế giới quan, nhân sinh quan, lòng trung thực, nhân ái, trách nhiệm, tài năng, học vấn, nghề nghiệp là thuộc nhân cách Định hướng giá trị được hình thành và củng cố bởi năng lực nhận thức của mỗi người và kinh nghiệm sống của cá nhân qua quá trình thể nghiệm lâu dài Năng lực nhận thức cao, kinh nghiệm phong phú thì định hướng giá trị của cá nhân sâu sắc, đúng đắn Định hướng giá trị luôn gắn liền với việc giải quyết những mâu thuẫn trong hệ động cơ, trong cuộc đấu tranh giữa nghĩa vụ và sự ham muốn cá nhân, giữa hành vi đạo đức và kích thích thực dụng Ví dụ như nhiệm vụ của học sinh là học tập, tuy nhiên, cuộc sống có nhiều thú vui cuốn hút, cám dỗ khiến các
Trang 30em phải đấu tranh giữa học hay chơi Khi giải quyết được mâu thuẫn này, học sinh nào chọn học tập là nhiệm vụ cần thiết thì định hướng của em đó là về giá trị học vấn Trong công tác giáo dục, muốn giáo dục nhân cách thì cần phải giáo dục về định hướng giá trị
2.1.3 Khái niệm về sự phát triển nhân cách
Sự phát triển nhân cách bao gồm các mặt phát triển về thể chất, về tâm lý, về
xã hội của cá nhân Sự phát triển về mặt thể chất biểu hiện ở sự tăng trưởng về chiều cao, trọng lượng, cơ bắp, sự hoàn thiện các giác quan, sự phối hợp các chức năng vận động của cơ thể… Sự phát triển về mặt tâm lý biểu hiện ở những biến đổi
cơ bản trong các quá trình nhận thức, xúc cảm, ý chí, ở sự hình thành các thuộc tính tâm lý mới của nhân cách Sự phát triển về mặt xã hội biểu hiện ở những biến đổi trong thái độ và hành vi ứng xử trong các mối quan hệ với những người xung quanh, ở tính tích cực tham gia vào đời sống xã hội, tính tích cực nhận thức tham gia vào các hoạt động cải biến, phát triển xã hội… Nhân cách con người không phát triển đồng đều trên cả ba mặt trên mà có thể có sự phát triển vượt trội của một mặt nào đó so với các mặt khác
Phát triển nhân cách được hiểu là một quá trình biến đổi tổng thể, cải biến toàn vẹn các sức mạnh thể chất, tinh thần cũng như các năng lực của mỗi người, có tính đến đặc điểm của mỗi lứa tuổi Sự phát triển nhân cách không chỉ là sự tăng trưởng
về lượng mà trước hết đó là sự biến đổi về chất
Phát triển toàn diện nhân cách là một vấn đề xã hội, là mục đích của sự phát triển và xây dựng toàn bộ hệ thống xã hội Vấn đề này được giải quyết từng bước trong quá trình đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, phát triển các mối quan hệ xã hội, hình thành cấu trúc xã hội, tạo nên sự bình đẳng xã hội và sự hài hoà giữa xã hội và cá nhân, hình thành xu hướng xã hội mạnh mẽ trong ý thức và hành vi của mỗi cá nhân…
Trong quan niệm về vấn đề phát triển toàn diện nhân cách, nên tránh lối suy nghĩ lạc quan nôn nóng, tưởng tượng ra những mẫu người được ghép bằng tất cả những mơ ước, mong muốn tốt đẹp về đức hạnh và tài năng, và muốn xây dựng ngay những con người theo mẫu đó mà không tính đến hiện thực của xã hội và con người hiện nay Mặc khác cũng cần tránh lối suy nghĩ bi quan, tiêu cực cho rằng chỉ khi nào xây dựng xong các cơ sở của xã hội xã hội chủ nghĩa mới đặt vấn đề phát triển toàn diện con người, còn hiện nay chỉ nên bằng lòng với việc đào tạo những con người phát triển phiến diện, phát triển "một vài mặt" mà thôi
Theo những công trình nghiên cứu giáo dục học, khái niệm phát triển toàn diện nhân cách gồm các đặc trưng bản chất sau:
- Tính toàn diện của phát triển nhân cách đòi hỏi nhân cách phải được phát
huy đầy đủ về mặt cấu trúc xã hội của nó, với sự phong phú của các loại hình hoạt động, của các quan hệ xã hội, của lối sống, của thế giới tinh thần của nhân cách,
Trang 31theo phương hướng của thế giới quan và tư tưởng cộng sản chủ nghĩa Đó cũng là
sự phát triển những nhu cầu phong phú và những năng lực nhiều mặt của con người Tính toàn diện phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội, biểu hiện sự đòi hỏi của
xã hội đối với mỗi cá nhân về các mặt hoạt động, về quan hệ xã hội, về lối sống và thế giới tinh thần
- Tính toàn vẹn của phát triển nhân cách đòi hỏi sự thống nhất trong tính đa
dạng các phẩm chất và các năng lực được phát triển toàn diện của nhân cách; đòi hỏi sự nhất quán trong biểu hiện toàn diện của nhân cách trong các loại hình hoạt động xã hội và quan hệ xã hội; đòi hỏi loại trừ những sự chia cắt, tách rời, đối lập trong hoạt động, trong quan hệ xã hội, trong thế giới tinh thần của nhân cách
- Tính hài hoà của phát triển nhân cách đòi hỏi một kiểu cân đối trong các mối
liên hệ và các mối quan hệ, trước hết giữa cá nhân và xã hội, giữa các mặt của cấu trúc xã hội của nhân cách, cũng như giữa các biểu hiện khác nhau của sự tồn tại và phát triển nhân cách; đòi hỏi một sự tương ứng hợp lý, một tỷ lệ tối ưu giữa các bộ phận của nhân cách, giữa bên trong và bên ngoài, giữa nội dung và hình thức của nó Hài hoà không phải là một trạng thái tĩnh mà là một quá trình động, thông qua việc giải quyết các mâu thuẫn trong sự phát triển của xã hội và của cá nhân
2.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
Nhân cách không được sinh ra, không có sẵn mà nó được hình thành và phát triển trong quá trình phát triển con người Nói cách khác, nhân cách chính là sản phẩm của quá trình phát triển con người Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, nhân cách được hình thành dưới sự tác động của các nhân tố bao gồm bẩm sinh
di truyền, môi trường, giáo dục, hoạt động cá nhân
Các yếu tố này hoàn toàn khác nhau song chúng có mối quan hệ qua lại biện chứng với nhau Sự tác động đồng bộ của chúng sẽ tạo ra những điều kiện cần và đủ cho sự phát triển nhân cách Tuy nhiên bản chất và vai trò của từng yếu tố vẫn mang những đặc trưng riêng của chúng
2.2.1 Yếu tố bẩm sinh, di truyền
a Khái niệm bẩm sinh, di truyền
Đôi khi trong cuộc sống chúng ta thường bắt gặp những lời trầm trồ như:
"Thằng bé ấy giống cha thế!" "Cô bé này giống mẹ như tạc, từ khuôn mặt, ánh mắt
đến dáng người " Tục ngữ cũng có câu "Giỏ nhà ai, quai nhà ấy" hoặc "Con nhà tông, không giống lông thì cũng giống cánh" Những đặc điểm của thế hệ sau
giống với những đặc điểm của thế hệ trước, chính là do kết quả của yếu tố di truyền mang lại
Di truyền là sự truyền lại từ cha mẹ đến con cái những đặc trưng sinh học nhất
Trang 32định của nòi giống đã được ghi lại trong một chương trình độc đáo bởi hệ thống gen Gen mang mã di truyền những đặc điểm của giống loài trong quá trình tồn tại, phát triển theo con đường tiến hoá tự nhiên Chương trình mang tính di truyền về sự phát triển của con người bao gồm cấu trúc, giải phẫu của cơ thể, về những đặc điểm sinh học riêng như màu da, màu tóc, vóc dáng, thể trạng, các tư chất của hệ thần kinh trước hết nó đảm bảo cho loài người phát triển, đồng thời cũng giúp cho cơ thể con người thích ứng với những biến đổi của điều kiện sinh tồn
Di truyền là sự tái tạo ở trẻ những thuộc tính sinh học nhất định giống với cha
mẹ Một số thuộc tính sinh học trẻ có ngay từ lúc mới sinh ra, được gọi là các thuộc
tính bẩm sinh Yếu tố bẩm sinh bao gồm cả thuộc tính do di truyền mang lại và các thuộc tính do tự phát Thuộc tính tự phát là những đặc điểm có ở trẻ do đột biến gen,
do một tác động nào đó khi người mẹ mang thai đã ảnh hưởng tới thai nhi, để lại những đặc điểm mà thế hệ cha mẹ không có Ví dụ: Do đột biến gen dẫn đến trẻ bị quái thai dị dạng thừa ngón chân, ngón tay, bệnh đao Người mẹ khi mang thai mà
bị cúm nặng thì virút cảm có thể dẫn đến trẻ có thể bị khuyết một phần cơ thể (thường là ở những phần mềm như tai, mũi, miệng, tim )
Trong những đặc trưng sinh học cha mẹ truyền cho con cái có những mầm mống, tư chất mà sau một thời gian mới bộc lộ thành dấu hiệu của một số năng khiếu như: hội hoạ, thơ ca, toán học hoặc sự thiểu năng trong một số lĩnh vực cần thiết đối với cuộc sống cá nhân
b Vai trò của di truyền, bẩm sinh đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
Tất cả các trường phái nghiên cứu về con người đều thừa nhận ở con người tồn tại những yếu tố bẩm sinh di truyền nhưng lại nhìn nhận về vai trò của nó đối với sự hình thành và phát triển nhân cách rất khác nhau
Có quan niệm cho rằng di truyền là yếu tố quyết định trong sự hình thành và phát triển nhân cách Quan niệm này cho rằng, con người khi sinh ra bản chất đã là thiện hoặc ác Cha mẹ độc ác thì con cái độc ác, cha mẹ hiền lành thì con cái cũng hiền lành Theo quan niệm này, những trẻ có mầm mống độc ác ngu dốt, thì giáo dục thế nào cũng vẫn ác độc, ngu dốt Còn bẩm sinh đã là thực giỏi giang thì không cần giáo dục trẻ cũng sẽ trở thành người tốt, có năng lực Chẳng hạn như Vônphơ, sau khi nghiên cứu một vạn người, ông đi đến khẳng định 94,6% trẻ em thuộc tầng lớp thượng lưu có năng lực tốt Cốcxơ lại khẳng định rằng 52% số người có tài năng ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thuộc tầng lớp tư sản; 28,7% số người có năng lực đặc biệt xuất hiện từ các gia đình phong lưu Thực tế cho thấy những ý niệm này hoàn toàn sai, không có cơ sở vững chắc, đây chỉ là ý đồ nhằm che giấu nguồn gốc
xã hội khách quan và sự xấu xa tội ác trong xã hội, gieo rắc hoài nghi và phủ nhận khả năng xây dựng cải tạo con người
Một số quan niệm khác lại phủ nhận hoàn toàn vai trò của di truyền Theo họ,
Trang 33di truyền không ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách Nhân cách của con người
do thượng đế "thổi vào", do khách quan đem lại
Quan điểm của chủ nghĩa Mác khẳng định yếu tố di truyền là tiền đề vật chất cho sự phát triển nhân cách nhưng không có tính chất quyết định sự phát triển đó
Di truyền tạo ra một sức sống trong bản chất tự nhiên của con người và tạo ra cho con người khả năng hoạt động Di truyền giúp con người tái tạo giống loài từ thế hệ này sang thế hệ khác Mỗi con người được tạo ra với một chương trình di truyền sinh học, làm cơ sở cho sự phát triển nhân cách Đặc biệt di truyền đem lại cho con người cơ quan "não bộ" - "hệ thần kinh", là cơ quan chủ yếu góp phần hình thành sự phát triển nhân cách Trong môn học Tâm lí học đại cương đã nêu rõ điều kiện cần và đủ để có tâm lí là não người và hiện thực khách quan Nếu hai nhân tố
đó tốt thì nhân cách phát triển thuận lợi Một người có não bộ bình thường, nhân cách của anh ta sẽ phát triển bình thường Nhưng ở những trẻ chậm phát triển trí tuệ, những người bị tâm thần, điên loạn (não không bình thường) thì nhân cách phát triển chậm, dừng lại ở mức độ nào đó hoặc nhân cách bị rối loạn
Di truyền mang lại những tư chất, những năng lực, những phẩm chất, để con người tham gia tốt vào một hoạt động nào đó Đây cũng là nhân tố quan trọng đối với giáo dục Di truyền có thể tái tạo chỉ số thông minh (IQ) ở trẻ, giúp trẻ có sẵn mầm mống năng lực để từ đó phát triển thành nhân cách tốt, hoàn thiện Đặc biệt, một số phẩm chất năng lực chuyên biệt cũng được di truyền tái tạo lại ở thế hệ sau
Lý luận và thực tiễn đều khẳng định rằng những mầm mống, tư chất để phát triển thành những năng lực, phẩm chất về một lĩnh vực hoạt động nào đó (toán học, văn học, nghệ thuật, hội hoạ ) mang tính bẩm sinh di truyển, phản ánh sự kế thừa tài năng Chẳng hạn, Moza soạn nhạc từ năm lên tám tuổi, Picasso thiên tài danh hoạ nổi tiếng đều được thừa hưởng năng khiếu từ bố mẹ Ở Nhật người ta đã chọn ngẫu nhiên 1000 học sinh cho học vĩ cầm, sau một thời gian học như nhau thì tất cả đều biết chơi đàn nhưng chỉ có hai em xuất sắc và được đưa vào dàn nhạc giao hưởng quốc gia Kết quả điều tra cho thấy cha mẹ hai em này đều là những nhạc công xuất sắc, điều này chứng tỏ hai em được thừa hưởng tư chất tốt về âm nhạc từ bố mẹ Tuy nhiên, di truyền chỉ là tiền đề vật chất cho sự phát triển nhân cách, những đứa trẻ có gen di truyền về một lĩnh vực hoạt động nào đó sẽ sớm bộc lộ những thiên hướng về lĩnh vực hoạt động đó, nhưng để trở thành một tài năng cần phải có môi trường thuận lợi và sự hoạt động tích cực của cá nhân Di truyền không quyết định sự phát triển nhân cách vì những tư chất do di truyền mang lại chỉ là cơ sở cho
sự phát triển nhân cách Đứa trẻ sinh ra chưa có nhân cách, nó chỉ có mầm mống tư chất, để từ đó được giáo dục, được tham gia vào hoạt động xã hội, nhân cách của nó phát triển Bên cạnh đó, các thuộc tính tâm lí phức tạp như ý thức, tình cảm không được quy định sẵn trong chương trình gen Y học và tâm lý học thừa nhận rằng có những hiện tượng di truyền có thể ảnh hưởng bất lợi đến sự phát triển các năng lực
Trang 34trí tuệ Thí dụ như con cái của người nghiên rượu thì có tính uể oải của võ não hoặc
có một số bệnh tâm lý di truyền; còn các sự khác nhau bẩm sinh về loại hình hoạt động thần kinh cấp cao chỉ tạo nên nhưữn nét riêng biệt về cá tính, những nét độc đáo của quá trình tư duy nhưng không quy định phẩm chất và trình độ của hoạt động trí tuệ
Những tư chất di truyền chỉ đặc trưng cho hoạt động hết sức rộng rãi mà không định hướng vào lĩnh vực hoạt động sáng tạo cụ thể nào Việc định hướng tư chất phát triển theo lĩnh vực hoạt động nhất định là do điều kiện xã hội lịch sử cụ thể quyết định, đặc biệt do hoạt động cá nhân quyết định Những tư chất đó có sẵn trong cấu tạo của não, trong các cơ quan cảm giác, trong các cơ quan vận động, ngôn ngữ và trở thành điều kiện để sau này thực hiện có kết quả một hoạt động nào
đó Chăng hạn như cùng là những người có năng khiếu vẽ nhưng do điều kiện và sở thích khác nhau, một người học hội hoạ, trở thành hoạ sĩ nổi tiếng; người kia học kiến trúc, trở thành kiến trúc sư có tài Cùng có năng khiếu về văn, thơ; có người trở thành nhà văn, nhà thơ; có người trở thành giáo viên giảng dạy văn học Tuy nhiên
ở lĩnh vực nào thì tư chất di truyền cũng là điều kiện giúp họ hoạt động tốt trong lĩnh vực ngành nghề của mình
Để cho những tư chất di truyền trở thành năng lực thực sự, có kết quả trong những lĩnh vực tương ứng thì còn phụ thuộc vào những yếu tố như điều kiện sống, điều kiện giáo dục và hoạt động cá nhân Chẳng hạn như hai em bé trong dàn nhạc giao hưởng quốc gia Nhật Bản ở thí dụ nêu trên, nếu hai em có tư chất về âm nhạc nhưng không được làm quen với đàn, không được học về âm nhạc thì chắc chắn
hai em đó khó có thể trở thành những nhạc công xuất sắc Các Mác đã viết: "Một con người như Raphaen có phát triển được tài năng của mình hay không thì điều này hoàn toàn phụ thuộc vào sự đòi hỏi, mà sự đòi hỏi lại phụ thuộc vào sự phân công công tác và điều kiện giáo dục con người, mà điều kiện này cũng do sự phân công tạo nên."
Một số gia đình liên tục xuất hiện nhiều người tài qua nhiều thế hệ Điều đó không chỉ do di truyền những tư chất nhất định mà còn do ở các gia đình này, trẻ
em được giáo dục, được sống trong môi trường thuận lợi và nhất là được rèn luyện, được tham gia từ rất sớm vào các hoạt động để tạo nên tài năng đó Ví dụ như các nghệ sỹ Lê Khanh, Lê Vân, Lê Vi sống trong gia đình nghệ sĩ, tham gia diễn xuất từ nhỏ; nghệ sỹ Pianô Đặng Thái Sơn sống trong gia đình âm nhạc, bố mẹ đều là nhạc
sĩ, được học nhạc từ nhỏ
Như vậy tất cả tiềm năng do di truyền mang lại chỉ là điều kiện cho các cá nhân phát triển nhân cách chứ nó không quyết định toàn bộ sự phát triển nhân cách Trong quá trình làm công tác giáo dục, cần phải chú ý đánh giá đúng mức vai trò của yếu tố bẩm sinh di truyền Không nên tuyệt đối hoá vai trò của di truyền để tránh sai lầm trong nhận thức và trong khi tổ chức các hoạt động giáo dục Tuyệt
Trang 35đối hoá hoặc đánh giá quá cao ảnh hưởng của di truyền sẽ dẫn đến việc phủ nhận khả năng biến đổi bản chất nhân cách con người, hạ thấp vai trò của giáo dục và tự giáo dục; đồng thời là nguyên nhân dẫn đến thuyết định mệnh do di truyền, thuyết phân biệt chủng tộc trong giáo dục, thuyết sinh vật hoá giáo dục, quan điểm hai nhà trường cho trẻ ưu tú và trẻ bình dân, sự phân biệt giàu nghèo, phân biệt giai cấp trong giáo dục Nếu cho rằng di truyền quyết định hoàn toàn sự phát triển nhân cách người thì sẽ dẫn đến nhận thức sai lầm, sẽ nhìn nhận giáo dục không thể thay đổi, không thể đào tạo được nhân cách theo mục đích cuả xã hội Tuy nhiên, không nên xem nhẹ ảnh hưởng của di truyền vì như vậy sẽ bỏ qua yếu tố tư chất là tiền đề cho
sự phát triển nhân cách Nếu cho rằng di truyền không đem lại ích lợi gì, không ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách thì sẽ vô tình bỏ qua tư chất sẵn có của trẻ, dẫn đến không phát huy được tiềm năng, làm thui chột tài năng của trẻ
Trên cơ sở nhận thức đúng về vai trò của yếu tố di truyền, trong công tác giáo dục phải làm tốt việc phát hiện và bồi dưỡng tư chất cho học sinh, tạo điều kiện cho tất cả mọi người để mỗi người đều có thể phát triển những tư chất hoặc những năng lực hiện có của mình, đặc biệt tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh có năng khiếu,
có tài năng được phát triển
2.2.2 Yếu tố môi trường
a Khái niệm môi trường
Môi trường là toàn bộ các yếu tố tự nhiên và xã hội hiện hữu ảnh hưởng đến đời sống và nhân cách con người Môi trường được coi là hệ thống phức tạp những hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và xã hội xung quanh có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động, cuộc sống và sự phát triển của con người
Môi trường bao quanh con người gồm môi trường tự nhiên, môi trường xã hội Môi trường tự nhiên chính là các điều kiện tự nhiên, khí hậu, địa lí, hệ sinh thái phục vụ cho hoạt động sống của con người; cụ thể là phục vụ cho các hoạt động lao động sản xuất, xây dựng, giáo dục, vui chơi giải trí, nghiên cứu khoa học Môi trường xã hội bao gồm môi trường chính trị, kinh tế - sản xuất, môi trường sinh hoạt
xã hội, môi trường văn hoá Môi trường chính trị bao gồm các chế độ chính trị, quan hệ giai cấp, các cơ quan, chính quyền, các tổ chức đoàn thể Môi trường kinh
tế sản xuất bao gồm chế độ kinh tế, các quan hệ sản xuất, cơ sở sản xuất, kinh doanh Môi trường sinh hoạt xã hội: gia đình, tổ chức phục vụ sinh hoạt cộng đồng Môi trường văn hoá bao gồm hệ tư tưởng, nhà trường, cơ quan giáo dục, cơ quan văn hoá, giáo dục, các phương tiện thông tin đại chúng
Môi trường xã hội còn được chia thành môi trường lớn và môi trường nhỏ Môi trường lớn được đặc trưng chủ yếu bởi tính chất của nhà nước, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, hệ thống các quan hệ sản xuất và các quan hệ xã hội, tính chất diễn biến của tình hình xã hội, tính chất hoạt động của các thể chế xã hội Chính hệ
Trang 36thống các quan hệ chính trị, kinh tế, tư tưởng được thiết lập trong xã hội đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển nhân cách, thông qua việc quy định địa vị giai cấp, địa vị xã hội của người đó Môi trường nhỏ là một bộ phận của môi trường lớn, trực tiếp bao quanh mỗi cá nhân bao gồm gia đình, nhà trường, bạn bè, đoàn đội, người lớn thân thuộc, cơ sở sản xuất và cơ sở văn hoá địa phương… Môi trường nhỏ mang tính cá biệt, độc đáo, không lặp lại, nhưng chỉ có tính độc lập tương đối, dễ biến động và có tác động trực tiếp đến trẻ Môi trường lớn ảnh hưởng đến trẻ thông qua môi trường nhỏ
Hoàn cảnh được hiểu là một yếu tố hoặc là một môi trường nhỏ tác động trực tiếp, mạnh mẽ, quyết liệt trong một thời gian, không gian nhất định tạo nên hướng hình thành và phát triển nhân cách Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách người học sinh, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, hoàn cảnh bệnh tật, môi trường gia đình, bạn bè, tập thể lớp có ý nghĩa quan trọng đặc biệt
b Vai trò của môi trường trong sự hình thành và phát triển nhân cách
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác, môi trường là yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến nhân cách con người Sự hình thành và phát triển nhân cách chỉ được thực hiện trong một môi trường nhất định, đặc biệt là môi trường xã hội Mác đã nhận
định: "Bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội." Nếu không có xã
hội loài người thì ngay cả những tư chất có tính người cũng không thể phát triển được Tách khỏi xã hội loài người, không sống và giao tiếp với cộng đồng loài người thì không thể hình thành và phát triển nhân cách Ví dụ như ở Đức người ta tìm thấy anh thanh niên Caxpa Haode ngay từ nhỏ đã bị nhốt ở trong hầm kín, sống
ở đó nhiều năm và ăn bằng thức ăn được chuyển vào qua một cái máng Khi được tìm thấy (khoảng 16-17 tuổi), thể lực Caxpa yếu hơn trẻ được thú vật nuôi vì chỉ ở trong hầm kín, ít vận động, trí tuệ thì tương đưong như trẻ được thú vật nuôi, không biết nói, cười, không hoà nhập được với xã hội không có một nét nhân cách nào Môi trường góp phần tạo nên mục đích, động cơ, phương tiện và điều kiện cho hoạt động và giao lưu của cá nhân nhờ đó cá nhân chiếm lĩnh được sức mạnh bản chất của loài người để hình thành và hoàn thiện nhân cách của mình Nhân cách của con người phản ánh những đặc điểm lịch sử của những điều kiện sống, nguồn gốc giai cấp, vị trí giai cấp của mỗi người trong xã hội Khi những điều kiện đó biến đổi thì bộ mặt tinh thần của con người cũng biến đổi theo Chẳng hạn như tháng 12 năm
1986, Đại hội Đảng lần thứ VI đã mở ra công cuộc đổi mới toàn diện sâu sắc về mọi mặt của đời sống xã hội Sự đổi mới đó tác động làm biến chuyển các lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó có giáo dục Mục tiêu giáo dục lúc đó là đào tạo những người
có năng lực, năng động tự chủ biết làm giàu cho bản thân và làm giàu cho xã hội Người học nắm bắt được mục đích đó biến nó thành động cơ thúc đẩy công việc học tập, chiếm lĩnh tri thức Mục tiêu đổi mới dẫn đến hệ thống giáo dục phải mở thêm các loại hình đào tạo, tăng các ngành nghề, tạo điều kiện cho mọi người có
Trang 37điều kiện học tập; đồng thời tăng cường cải tiến, trang bị thêm cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật hiện đại, cấu trúc lại các sách giáo khoa, xuất bản những sách mới, du nhập các luồng văn hoá mới, tạo ra các phương tiện phục vụ người học Với điều kiện xã hội ngày một đổi mới, theo Nghị quyết Trung ương Đảng khoá VIII, giáo dục phải đào tạo ra những người có năng lực, năng động, linh hoạt đáp ứng yêu cầu xã hội, biết ngoại ngữ, tin học, biết nghiên cứu khoa học, đặc biệt chú trọng đào tạo nhân tài để góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hoà nhập với các nước khác, đào tạo thế hệ thiết tha gắn bó với lí tưởng cộng sản, có phẩm chất đạo đức tốt Như vậy sự thay đổi của các mặt đời sống xã hội đã tạo ra động cơ, mục đích, điều kiện và phương tiện thúc đẩy nhân cách người học phát triển theo hướng mới, ngày càng hoàn thiện hơn Tính chất và mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với sự phát triển nhân cách còn tuỳ thuộc vào lập trường, quan điểm, thái độ của cá nhân đối với ảnh hưởng đó cũng như phụ thuộc vào xu hướng năng lực và mức độ của cá nhân tham gia vào việc cải tạo môi trường Thực tiễn cho thấy, khi đất nước đổi mới mọi mặt
xã hội đều phát triển, đòi hỏi con người phải có tri thức, am hiểu, năng động linh hoạt, có năng lực ngoại ngữ, tin học Nhưng có những người lại cho rằng chẳng cần phải học hành nhiều, chẳng cần phải biết ngoại ngữ, tin học làm gì, cứ ở nhà cấy cày, mở hàng quán vẫn kiếm ra tiền, đôi khi còn kiếm ra nhiều hơn người đi học Như vậy do quan điểm, thái độ của người đó không chấp nhận sự thay đổi của xã hội nên sự phát triển của xã hội ít ảnh hưởng tới nhân cách họ Trong khi mở cửa hội nhập với các nước thì một loạt nền văn hoá, tư tưởng mới du nhập vào nước ta, trong đó có những cái có lợi, tích cực và có cả những yếu tố tiêu cực (tư tưởng phản động, sách báo băng hình đồi truỵ, lối sống buông thả, xa hoa, truỵ lạc ) nhưng không phải ai cũng bị các yếu tố tiêu cực ấy làm ảnh hưởng Hầu hết mọi người đều nhận thức đúng và có thái độ bất bình, tránh xa những yếu tố tiêu cực Chỉ có một
số người do lập trường không vững vàng, do nhận thức kém đã bị lôi kéo vào những hoạt động xấu Trong thời đại ngày nay cần xác định việc học là "học liên tục, học suốt đời" Học tập ở nhà trường đem lại cho mỗi cá nhân học sinh một vốn kiến thức cơ bản nhưng khi ra trường cá nhân nào ít tham gia hoạt động chuyên môn, ít trau dồi, bồi đắp thêm tri thức, cập nhật sự đổi mới thì ít chịu ảnh hưởng của sự phát triển xã hội
Như vậy trong sự tác động qua lại giữa môi trường và nhân cách con người, cần chú ý cả hai mặt là tính chất, đặc điểm của hoàn cảnh đã phản ánh vào nhân cách và tính tích cực của nhân cách tác động đến hoàn cảnh nhằm mục đích làm cho hoàn cảnh phục vụ lợi ích của mình Hai mặt này có mối liên quan ảnh hưởng qua
lại với nhau Các Mác trong cuốn Hệ tư tưởng Đức đã phát biểu: "Con người tạo ra hoàn cảnh, trong chừng mực nhất định hoàn cảnh tạo ra con người."
Trong môi trường xã hội, cần chú trọng tới ảnh hưởng của môi trường gia đình
Trang 38và môi trường nhà trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Môi trường (tự nhiên - xã hội) bên cạnh những tác động tích cực còn có những ảnh hưởng tiêu cực Chính môi trường gia đình và nhà trường giúp trẻ lựa chọn những tác động có tính tích cực, cho sự phát triển nhân cách của trẻ Khi trong xã hội, xuất hiện những luồng văn hoá thiếu lành mạnh, lối sống buông thả, tệ nạn xã hội chính gia đình
và nhà trường luôn giúp trẻ biết cách nhận thức cái tốt, cái xấu, lựa chọn tác động tích cực và loại bỏ tác động tiêu cực
Gia đình là môi trường sống đầu tiên của trẻ, là nơi sinh ra và giáo dục trẻ ngay từ nhỏ Vì thế mà mức sống, trình độ học vấn, đời sống văn hoá, thói quen ứng
xử, nề nếp, mối quan hệ tình cảm giữa các thành viên trong gia đình, tính mẫu mực của người lớn, phương pháp giáo dục trong gia đình có ảnh hưởng hàng ngày đến
sự phát triển nhân cách của trẻ "Dạy con từ thuở còn thơ" là điều rất quen thuộc,
trong gia đình bố mẹ, anh chị em luôn nghiêm túc, sống hoà thuận, yêu thương nhau thì trẻ ngoan ngoãn, nhân cách lành mạnh Ngược lại, bố mẹ không hoà thuận, không gương mẫu, buông thả thì trẻ hư, đời sống tinh thần bị xáo trộn
Nhà trường là một tổ chức đặc biệt, là nơi giúp trẻ lĩnh hội tri thức nhân loại tốt nhất, nhiều nhất là nơi trẻ có thể tham gia các tập thể trẻ, tăng cường hoạt động
và giao lưu Nhà trường giúp trẻ có hệ thống tri thức đầy đủ, chính xác, hệ thống bằng con đường nhanh nhất, đồng thời giúp trẻ tham gia vào hoạt động Đoàn, Đội,
mở rộng quan hệ giao lưu
Trong quá trình giáo dục trẻ cần gắn chặt từng bước việc giáo dục và học tập
với thực tiễn cải tạo xã hội Việc gắn giáo dục và học tập với thực tiễn cải tạo xã hội
không chỉ đạt đến mục tiêu phát triển nhân cách nhằm đáp ứng đòi hỏi yêu cầu của
xã hội mà còn tạo điều kiện cho các cá nhân có cơ hội tham gia vào hoạt động thực tiễn cải tạo xã hội, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội, hướng vào việc hình thành ở học sinh những định hướng giá trị đúng đắn Xây dựng bản lĩnh vững vàng cho trẻ để chiếm lĩnh những ảnh hưởng tích cực của môi trường xung quanh, tạo điều kiện để các em tích cực tham gia vào cải tạo môi trường và xây dựng môi trường chính là
con đường để phát triển nhân cách cho trẻ Gia đình, nhà trường, các tổ chức xã
hội không thể lúc nào cũng theo sát trẻ từng bước để chỉ cho trẻ cái tốt, cái xấu
Vì vậy việc quan trọng là phải xây dựng cho trẻ một bản lĩnh vững vàng, có hệ thống tri thức đúng đắn để hình thành định hướng giá trị, từ đó biết chọn lọc những tác động tích cực của môi trường đối với mình Nhưng quan trọng hơn là học phải
đi đôi với hành, học phải gắn liền với cải tạo và xây dựng thực tiễn xã hội Thực tiễn xã hội cũng chính là thước đo của sự phát triển nhân cách
Môi trường có vai trò quan trọng đối với việc hình thành và phát triển nhân cách Tuy nhiên cũng cần đánh giá đúng mức vai trò của môi trường đối với sự phát triển nhân cách Bởi vì xoay quanh vấn đề bàn về vai trò của môi trường với sự phát triển nhân cách có một số quan điểm sai lầm
Trang 39Có quan điểm tuyệt đối hoá vai trò của môi trường, đó là thuyết định mệnh do hoàn cảnh Thuyết này khẳng định môi trường quyết định hoàn toàn sự phát triển nhân cách, phủ nhận tác động cua các yếu tố khác có thể cải tạo nhân cách Chúng
ta từng nghe những câu tục ngữ: "Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài" hoặc "Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng" hay câu ca dao "Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa" Những câu tục ngữ, ca dao ấy chỉ đúng ở một chừng mực nhất định
Bởi lẽ coi môi trường hoàn toàn giới hạn sự phát triển nhân cách là một sai lầm Sự phát triển nhân cách có tư chất, đặc điểm di truyền bẩm sinh là tiền đề, điều kiện về mặt vật chất, ngoài ra nó còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố khác như giáo dục, hoạt động cá nhân Quan điểm trên thủ tiêu vai trò của di truyền, giáo dục, biện hộ cho việc duy trì đặc quyền giáo dục đối với các tầng lớp xã hội có hoàn cảnh thuận lợi Chúng ta đang sống trong một xã hội hiện đại, văn minh, xã hội lựa chọn con người dựa vào năng lực, khả năng, đức độ chứ không dựa vào hoàn cảnh, dù ở hoàn cảnh nào nếu người có tài sẽ được xã hội trọng dụng
Ngược lại có một số quan điểm hạ thấp, phủ nhận vai trò của môi trường trong
sự phát triển nhân cách Đây là sai lầm về nhận thức luận, mầm mống của thuyết giáo dục vặn năng - thuyết phủ định vai trò của môi trường đối với sự phát triển nhân cách, có ảo tưởng dùng những biện pháp có tính chất cải lương về nội dung, chi dùng hoạt động giáo dục để thay cho cải biến cách mạng về chính trị, kinh tế, xã hội, dẫn đến bỏ qua vai trò của môi trường Theo quan điểm này, môi trường hoàn toàn không có ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách mà chỉ có giáo dục mới đem
lại sự phát triển nhân "Trẻ em như tấm bảng bằng sáp trắng mà nhà giáo dục muốn
vẽ lên đó cái gì thì nó thành cái đó"
Môi trường có vai trò quan trọng đối với sự phát triển nhân cách song không quyết định hoàn toàn vì sự phát triển nhân cách còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân
tố khác Môi trường chỉ ảnh hưởng tốt đến sự hình thành và phát triển nhân cách khi
nó phù hợp với mục đích giáo dục của nhà trường và được người được giáo dục
thừa nhận
2.2.3 Yếu tố giáo dục
Nhận thức được vai trò của di truyền và môi trường đối với sự phát triển nhân cách không có nghĩa là xem nhẹ vai trò của yếu tố giáo dục Chúng ta cần tìm hiểu
và đánh giá đúng vai trò của giáo dục trong quá trình phát triển nhân cách
a Khái niệm giáo dục
Giáo dục là một hoạt động chuyên môn của xã hội, do những người được xã hội phân công chuyên trách thực hiện với sự cộng tác của các lực lượng xã hội khác, nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người theo yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn nhất định Giáo dục là quá trình toàn vẹn nhằm hình thành nhân cách con người và được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch, có nội dung, có
Trang 40phương pháp, phương tiện nhằm tác động phù hợp vào từng nhóm người, từng cá nhân được phân chia theo các giai đoạn lứa tuổi Giáo dục, thông qua các hoạt động
và quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục có mục đích truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội loài người Giáo dục bao gồm cả việc dạy tri thức
và giáo dục phẩm chất nhân cách bao gồm cả những tác động trong và ngoài lớp trong và ngoài nhà trường cũng như trong gia đình và ngoài xã hội
Như vậy, giáo dục trước hết là sự tác động của những nhân cách này đến nhân cách khác, tác động của người giáo dục đến người được giáo dục cũng như của những người được giáo dục với nhau Những tác động này luôn có tính mục đích, người tác động luôn biết ý thức được mức độ, biện pháp và kết quả của tác động, từ
đó có thể chủ động điều chỉnh và hoàn thiện những tác động đó
Chính thông qua các loại hình hoạt động của người học, được thực hiện trong những mối quan hệ xã hội nhất định (dưới sự tổ chức, chỉ đạo của người giáo dục)
mà nhân cách của người học được hình thành và phát triển
b Vai trò giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
Bàn về vai trò của giáo dục, tục ngữ có câu "Không thầy đố mày làm nên" Hồ Chủ tịch đã viết: "Hiền dữ đâu phải là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên."
Tuy nhiên, hiện nay còn tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của giáo dục đối với sự phát triển nhân cách Trong đó có cả quan điểm sai lầm và quan điểm đúng đắn
Có một số quan điểm phủ nhận vai trò của giáo dục, cho rằng ảnh hưởng của giáo dục đến sự phát triển nhân cách là rất hạn chế, Theo họ, sự phát triển của con người không phụ thuộc vào giáo dục, mà chỉ là sự tự thân vận động, là do tiền định;
họ đề cao vai trò của di truyền, môi trường và hoạt động cá nhân Những quan điểm này cho rằng nhân cách của con người bẩm sinh đã có - do di truyền mang lại Có người lại khẳng định nhân cách do thượng đế sinh ra (thuyết định mệnh), hoặc môi trường sống quyết định nhân cách cá nhân Họ đã bỏ qua những ảnh hưởng của giáo dục đến các cá nhân trong quá trình phát triển nhân cách
Ngược lại, có một số ý kiến quá đề cao, tuyệt đích hoá vai trò của giáo dục, cho giáo dục là nhân tố quyết định toàn bộ sự phát triển nhân cách Ý kiến này không có sức thuyết phục bởi nếu không có các tiền đề vật chất do di truyền mang lại, những điều kiện do hoàn cảnh, môi trường tạo ra, và sự tích cực hoạt động cá nhân thì cũng không thể có sự phát triển nhân cách
Giáo dục được đánh giá là giữ vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Giáo dục không chỉ vạch đường vạch phương hướng cho sự phát triển nhân cách mà còn làm rõ chiều hướng phát triển nhân cách, đồng thời tổ chức, dẫn dắt sự hình thành và phát triển nhân cách theo chiều hướng đó Điều này thể hiện thông qua mục tiêu đào tạo của nhà trường, của các cấp và các cơ quan giáo