1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách người có công với cách mạng trên địa bàn quận cầu giấy, thành phố hà nội

113 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 767,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số người hưởng chính sách ưu đãi được mở rộng, đúng đối tượng, đúng chính sách, các nội dung ưu đãi người có công với cách mạng được luật pháp của Nhà nước bảo vệ, là nhân tố động viên,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn bảo đảm tính chính xác, tin cậy và trung thực tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Học viện Hành chính Quốc gia

Vậy, tôi viết bản cam đoan này đề nghị Học viện Hành chính Quốc gia xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Quỳnh Anh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô hiện đang công tác tại Học viện Hành chính Quốc gia và các thầy cô giảng dạy lớp CS2B1 đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường

Xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Minh Sản, người thầy kính mến đã hế lòng quan tâm, giúp đỡ tận tình, hướng dẫn nghiên cứu tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn

Xin được cảm ơn các đòng chí, đồng nghiệp tại Sở Lao động thương binh và xã hội thành phố Hà Nội, Phòng Lao động thương binh và Xã hội quận Cầu Giấy và bè bạn đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu

đề tài

Xin phép gửi lời cảm ơn Ban Giám đôc Học viện, Ban lãnh đạo Khoa Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình vừa học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

TÁC GIẢ

Vũ Quỳnh Anh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 8

1 Tính cấp thiết của đề tài 8

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 10

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 13

6 Ý nghĩa của đề tài 13

7 Kết cấu của luận văn 14

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 15

1.1 Chính sách người có công với cách mạng 15

1.1.1 Khái niệm chính sách người có công với cách mạng 15

1.1.2 Đặc điểm, vai trò và các loại chính sách người có công với cách mạng 21

1.2 Thực hiện chính sách người có công với cách mạng 24

1.2.1 Khái niệm thực hiện chính sách người có công với cách mạng 24

1.2.2 Chu trình thực hiện chính sách người có công với cách mạng 29

1.2.3 Nội dung thực hiện chính sách người có công với cách mạng 30

1.3 Những yếu tố ảnh hướng đến thực hiện chính sách người có công với cách mạng 45

1.3.1 Yếu tố chủ quan 46

1.3.2 Yếu tố khách quan 48

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG Ở QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 50

2.1 Khái quát về quận Cầu Giầy và tình hình người có công với cách mạng ở quận Cầu Giấy 50

2.1.1 Khái quát về quận Cầu Giấy 50

Trang 5

2.1.2 Tình hình người có công với cách mạng ở quận Cầu Giấy 54

2.2 Tình hình tổ chức bộ máy và quản lý thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng ở quận Cầu Giấy 57

2.2.1 Khái quát chung 57

2.2.2 Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội quận Cầu Giấy – Chủ thể chính quản lý thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng 59 2.2.3 Hệ thống văn bản chính sách đối với người có công với cách mạng 62 2.2.4 Công tác thanh tra, kiểm tra thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng 65 2.2.5 Thực hiện công tác thống kê, thông tin trong thực thi chính sách ưu đãi người có công với cách mạng 67

2.2.6 Tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về thực thi chính sách

ưu đãi người có công……… 68

2.3 Tình hình và kết quả thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng ở quận Cầu Giấy 70

2.3.2 Về chế độ trợ cấp ưu đãi 70 2.3.3 Về chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm cho người có công với cách mạng 70 2.3.4 Về chính sách ưu đãi người có công trong giáo dục – đào tạo 71 2.3.5 Về chăm sóc sức khỏe người có công 71 2.3.6 Kết quả thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng

ở quận Cầu Giấy 72

2.4 Đánh giá chung về thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng ở quận Cầu Giấy hiện nay 77

2.4.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 77 2.4.2 Những tồn tại và nguyên nhân 82

Trang 6

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH

MẠNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 88

3.1 Quan điểm nâng cao chất lượng thực hiện chính sách người có công với cách mạng trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 88

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện thực hiện chính sách người có công với cách mạng trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 92

3.2.1 Giải pháp về hoàn thiện tổ chức bộ máy nhân sự, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức thực thi chính sách 92

3.2.2 Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách hiện hành đối với Người có công với cách mạng 97

3.2.3 Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, chính sách ưu đãi người có công 99

3.2.4 Đẩy mạnh phối hợp trong thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng trên địa bàn quận Cầu Giấy 102

3.2.5 Xã hội hóa công tác thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng 104

3.2.6 Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm trong việc thực hiện các chính sách đối với người có công với cách mạng 105

3.3 Một số khuyến nghị, đề xuất 106

3.2.1 Kiến nghị với Sở Lao động thương binh và xã hội thành phố Hà Nội 106

3 2.2 Kiến nghị với UBND quận Cầu Giấy 106

3.2.3 Kiến nghị với Phòng Lao động thương binh và xã hội quận 107

3.2.4 Kiến nghị với bản thân người có công với cách mạng 108

KẾT LUẬN 109

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Hệ thống cơ quan thẩm quyền ban hành văn bản thực thi chính

sách người có công 32

Sơ đồ 1.2 Hệ thống văn bản thực thi chính sách người có công 32

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức Phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận

Cầu Giấy 61

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) đối tượng hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước thảo Pháp lệnh gồm: 1) Người có công với cách mạng (NCCVCM) và 2) Thân nhân của người có công với cách mạng Người có công với cách mạng gồm: a) Người hoạt động cách mạng trước ngày 01-01-1945; b) Người hoạt động cách mạng từ ngày 01-01-1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19-8-1945; c) Liệt sĩ; d) Bà mẹ Việt Nam anh hùng; đ) Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; e) Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; g) Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; h) Bệnh binh; i) Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; k) Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; l) Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; m) Người có công giúp đỡ cách mạng

Chính sách người có công với cách mạng là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, đó là sự đãi ngộ đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với người có công, là trách nhiệm và là sự ghi nhận, tôn vinh những cống hiến của họ đối với đất nước Viêc quan tâm thực hiện chính sách, pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng không chỉ mang tính chính trị, kinh tế, xã hội

mà còn mang tính nhân văn sâu sắc Nó là sự thể hiện những truyền thống đạo

lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, giáo dục cho thế hệ trẻ ý thức trách nhiệm, ý thức rèn luyện, phấn đấu vươn lên để cống hiến, hy sinh cho sự nghiệp gìn giữ, xây dựng và phát triển đất nước, bảo vệ những giá trị tốt đẹp, những thành quả to lớn mà cha ông ta đã ra sức gìn giữ Đồng thời, thể hiện được trách nhiệm của toàn xã hội trong việc thực hiện “đền ơn đáp nghĩa” đối với người có công với cách mạng Vì vậy, chính sách đối với người có công là

Trang 9

chính sách vô cùng quan trọng Làm tốt chính sách đối với người có công sẽ góp phần vào sự ổn định xã hội, giữ vững thể chế và ngược lại

Thực hiện tốt công tác chăm sóc người có công, người tham gia kháng chiến và phong trào “Đền ơn, đáp nghĩa” là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn Đảng, toàn dân Gần 70 năm qua, hàng nghìn văn bản, hàng trăm sắc lệnh, pháp lệnh, chỉ thị, nghị quyết, thông tư của Đảng, Nhà nước ta

về thương binh, liệt sĩ, người có công với nước được ban hành là một thành quả to lớn, đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của các đối tượng chính sách qua từng thời kỳ phát triển của đất nước Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng đã ngày càng được hoàn thiện; Pháp lệnh ưu đãi đối với những người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng được sửa đổi Số người hưởng chính sách ưu đãi được mở rộng, đúng đối tượng, đúng chính sách, các nội dung ưu đãi người có công với cách mạng được luật pháp của Nhà nước bảo vệ, là nhân tố động viên, khích lệ tinh thần và góp phần quan trọng bảo đảm cuộc sống của những người có công và gia đình có công với nước

Nhắc đến quận Cầu Giấy là nhắc đến một vùng đất có bề dày truyền thống cách mạng, đi qua chiến tranh với nhiều nỗi đau, mất mát Những người con của mảnh đất này luôn một lòng tri ân những người ngã xuống, một lòng hướng đến đền ơn đáp nghĩa những thương bệnh binh, những người

có công với cách mạng Trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng, các thế hệ cha anh của quận Cầu Giấy nối tiếp nhau lên đường chiến đấu chống giặc ngoại xâm vì sự nghiệp giải phóng dân tộc thống nhất đất nước Hòa bình lập lại, có tới 840 người con của Cầu Giấy vĩnh viễn nằm lại trên các chiến trường, 1075 chiến sỹ đã mất đi một phần xương máu trong chiến tranh, 88 người bị nhiễm chất độc hóa học Trên địa bàn quận có 20 Mẹ Việt Nam anh hùng

Trang 10

Trong nhiều năm qua, cũng như các địa phương trên cả nước, Thủ đô

Hà Nội nói chung, Đảng bộ và chính quyền quận Cầu Giấy nói riêng đã tích cực thực hiện có hiệu quả nhiều chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người có công với cách mạng trên địa bàn quận được Thành ủy, UBND Thành phố đánh giá, ghi nhận, được người dân ủng hộ và đánh giá cao, thúc đẩy phong trào đền ơn đáp nghĩa trong nhân dân Tuy nhiên, trong quá trình

tổ chức và thực hiện chính sách đối với NCCVCM ở quận vẫn còn những hạn chế, khó khăn, vướng mắc ở nhiều khía cạnh, từ năng lực cán bộ, công chức thực hiện chính sách tới những khiếm khuyết trong hệ thống chính sách, tính đồng bộ của cơ chế thực hiện chính sách, khó khăn trong xác minh hồ sơ NCC… đã làm hạn chế hiệu quả của chính sách Từ thực tiễn đó, đòi hỏi cần nghiên cứu một cách có hệ thống cả lý luận và thực tiễn về vấn đề thực hiện chính sách đối với NCCVCM trên địa bàn quận Cầu Giấy để đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách, nâng cao chất lượng chất lượng thực hiện chính sách này trong thực tế ở quận Mặt khác, bản thân tác giả cũng là công chức đang công tác trong hệ thống chính trị ở quận Cầu Giấy, đã tiếp cận vấn

đề này nhiều năm qua

những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Thực hiện chính sách người có công với cách mạng trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố

Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Tới nay có nhiều công trình nghiên cứu liên quan về vấn đề thực hiện chính sách NCCVCM ở những mức độ, phạm vi khác nhau được công bố, có thể kể tới như:

- Chính sách đối với người có công thực trạng và một số kiến nghị, tác

giả Bùi Thu Huyền (2013) đăng trên Trang Thông tin điện tử, Ban Nội chính Trung ương đã nghiên cứu hệ thống chính sách, pháp luật về người có công

Trang 11

với cách mạng ở Việt Nam; đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách người có công với cách mạng ở Việt Nam trong thời gian qua; đồng thời tác giả đã nêu lên một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về người có công với cách mạng

- Pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng ở Việt Nam hiện nay, tác giả Nguyễn Thị Phương Thanh (2015) đăng trên Tạp chí Dân chủ và

Pháp luật, số tháng 7/2015 đã nghiên cứu có hệ thống pháp luật của Việt Nam

về chính sách người có công với cách mạng kể từ khi Nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời cho đến nay Qua đó, tác giả phân tích, chỉ ra những điều còn bất cập, hạn chế của hệ thống pháp luật về người có công với cách mạng ở nước ta; tác giả đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật trên

- Thực hiện tốt hơn nữa chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ

và người có công với cách mạng, tác giả TS Trần Văn Minh (2016) đăng trên Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số tháng 7/2016 đã khẳng định, chính sách đối

với thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công là nội dung cơ bản, bộ phận hữu cơ của chính sách đối với người có công với cách mạng, thể hiện truyền thống, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta Qua phân tích thực trạng, tác giả đã nêu lên một số giải pháp cần thực hiện tốt hơn nữa chính sách đối với

đối tượng này, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong sự

nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

- Tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công với nước hiện nay và định hướng đến năm 2020, tác giả Phạm Thị Hải Chuyền (2016) đăng

trên Tạp chí Cộng sản điện tử, năm 2016 đã phân tích và chứng minh chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng ở nước ta; đồng thời tác gia đưa ra những giải pháp có tính định hướng đến năm 2020

Trang 12

- Thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước đối với thương binh, liệt

sĩ và người có công với cách mạng, tác giả PGS.TS Nguyễn Danh Tiên

(2015) đăng trên Tạp chí Cộng sản điện tử đã nêu lên các chủ trương của Đảng về thực hiện chính sách người có công với cách mạng qua các kỳ Đại hội; tác giả đề xuất giải pháp để tiếp tục thực hiện tốt hơn chính sách người có công với cách mạng ở nước ta Qua đó tác giả khẳng định: việc thực hiện chính sách đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng được thực hiện thường xuyên, trở thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Ngoài ra, còn có các công trình được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, các trang thông tin đại chúng có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài luận văn

Khảo sát cho thấy, các công trình được công bố đã giải quyết được nhiều vấn đề khoa học về chính sách, thực hiện chính sách xã hội, chính sách đối với NCCVCM ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về trường hợp quận Cầu Giấy Do vậy, đề tài nghiên cứu là riêng, không bị trùng, hàm chứa ý nghĩa lý luận và thực tiễn

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của đề tài

Thông qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận của chính sách, thực hiện chính sách NCCVCM, thực trạng thực hiện chính sách NCCVCM trên địa bàn quận Cầu Giấy những năm qua; Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hiện chính sách NCCVCM trên địa bàn quận Cầu Giấy trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

- Làm rõ cơ sở lý luận về chính sách, thực hiện chính sách NCCVCM;

Trang 13

- Phân tích để làm rõ thực trạng thực hiện chính sách NCCVCM trên địa bàn quận Cầu Giấy những năm qua;

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hiện chính sách NCCVCM trên địa bàn quận Cầu Giấy trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc thực hiện chính sách người có công với cách mạng trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi thời gian: 2012 - 2017;

- Phạm vi không gian: trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tư liệu thứ cấp: Phương pháp này được sử

dụng để thu thập, khai thác, tổng hợp thông tin từ các nguồn có sẵn có liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu của Đảng và Nhà nước ở trung ương và thành phố Hà Nội, quận Cầu Giấy, các công trình nghiên cứu từ các nhà khoa học, các báo cáo, thống kê, kết quả điều tra… của chính quyền, ban ngành, đoàn thể, tổ chức, cá nhân có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp điều tra xã hội học: Xây dựng thang đo (thiết kế câu hỏi);

chọn mẫu khảo sát; xử lý kết quả điều tra bằng công cụ SPSS Thông qua phiếu khảo sát, đề tài xây dựng thang đo nhằm thu thập thông tin từ chính quyền quận Cầu Giấy, người dân về các chính sách cụ thể đối với việc thực hiện chính sách người có công trên địa bàn quận

- Phương pháp nghiên cứu định tính: dùng để phân tích, tổng hợp, so sánh,

đánh giá các cứ liệu, thông tin, đối tượng nghiên cứu, giúp đề tài nghiên cứu có quan điểm toàn diện, lịch sử - cụ thể

Trang 14

- Phương pháp chuyên gia: được sử dụng đối với các chuyên gia đã có

nhiều kinh nghiệm trong việc nghiên cứu, quản lý, thực hiện các dự án, chương trình trong hoạt động thực hiện chính sách người có công với cách mạng

- Phương pháp đánh giá SWOT: dùng để phân tích Điểm mạnh (Strengths),

Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities), Rủi ro – Thách thức (Threats) giúp đánh giá được điểm mạnh, điểm yếu, thách thức của các chính sách người

có công với cách mạng

6 Ý nghĩa của đề tài

- Đề tài góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về chính sách và thực hiện chính sách NCCVCM trong hệ thống lý luận về chính sách công;

- Kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo trong công tác quản lý nhà nước về NCCVCM; là tài liệu tham khảo trong các cơ sở giáo dục, đào tạo về chính sách công, quản lý công, bồi dưỡng chính trị

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về việc thực hiện chính sách người có công

với cách mạng;

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách người có công với cách

mạng trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội;

Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực hiện

chính sách người có công với cách mạng trên địa bàn quận Cầu Giấy trong thời gian tới

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1.1 Chính sách người có công với cách mạng

1.1.1 Khái ni ệm chính sách người có công với cách mạng

Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc “Uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa”, ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (năm 1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định chọn ngày 27-7 là ngày Thương binh - Liệt sĩ, nhằm tôn vinh và tỏ lòng biết ơn đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công Hồ Chủ tịch đã nói:

“Thương binh, bệnh binh, gia đình bộ đội, gia đình liệt sỹ là những người có công với Tổ quốc Bởi vậy bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, thương yêu

và giúp đỡ họ” Vì vậy, chăm sóc, ưu đãi người có công với cách mạng có ý nghĩa chính trị, xã hội to lớn và trở thành một nguyên tắc được ghi nhận trong

Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Điều 67 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi với người có công

với nước, vận động toàn xã hội tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, nâng cao mức sống về mặt vật chất tinh thần của người có công” Đây là yếu

tố nhằm thực hiện sự tiến bộ và công bằng xã hội, góp phần ổn định chính trị, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách đối với thương binh, bệnh binh, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, người và gia đình có công giúp đỡ cách mạng Chính sách này gắn liền với việc thực hiện chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, liên quan đến đời sống hàng ngày của hàng triệu người có công Ngoài ra, liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Bộ Tài chính đã ban hành nhiều thông tư hướng dẫn thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc người có công với nước Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục dành

Trang 16

sự quan tâm đặc biệt trong việc chăm sóc người có công với Nước Tính tới

thời điểm năm 2012, cả nước có trên 8,8 triệu đối tượng người có công được hưởng trợ cấp một lần và hàng tháng; Nhà nước đã dành gần 26.000 tỷ đồng

để thực hiện các chế độ ưu đãi cho người có công với cách mạng

Như vậy, có thể thấy rằng, ở nước ta đã và đang tồn tại một hệ thống các chính sách xã hội đối với người có công với cách mạng Để hiểu rõ khái

niệm chính sách người có công với cách mạng, cần khảo sát một số thuật ngữ, khái niệm và vấn đề liên quan

Khái niệm Chính sách, Chính sách xã hội

“Chính sách” là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu và trên các phương tiện truyền thông Tuy nhiên, cho đến nay vẫn khó có thể đưa

ra một định nghĩa duy nhất Theo Từ điển tiếng Anh (Oxford English Dictionary), chính sách là một đường lối hành động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị, chính khách,…Theo sự giải thích này, chính sách không đơn thuần chỉ là một quyết định, mà là một đường lối hay phương hướng hành động Hugh Heclo (năm 1972) định nghĩa một chính sách

có thể được xem như là một đường lối hành động hoặc không hành động thay

vì các quyết định hoặc các hành động cụ thể David Easton (năm 1953) cho rằng một chính sách bao gồm một chuỗi các quyết định và các hành động phân phối các giá trị Theo Smith (năm 1976), khái niệm chính sách bao hàm sự lựa chọn có chủ định hành động hoặc không hành động, thay vì những tác động của những lực lượng có quan hệ với nhau Smith nhấn mạnh

“không hành động” cũng như “hành động” và nhắc nhở chúng ta rằng “sự quan tâm sẽ không chỉ tập trung vào các quyết định mà tạo ra sự thay đổi, mà còn phải thận trọng với những quyết định chống lại sự thay đổi và khó quan sát bởi

vì chúng không được tuyên bố trong quá trình hoạch định chính sách” [, tr.7]

Trang 17

Như vậy, khó đưa ra một định nghĩa rõ ràng và cụ thể về chính sách Các chính sách đôi khi được nhận diện dưới hình thức các quyết định đơn lẻ, những thực tế nó bao gồm một tập hợp các quyết định hoặc được nhìn nhận như là một sự định hướng cho những quyết định hành động cụ thể Những nỗ lực đưa ra các định nghĩa cũng hàm ý rằng khó có thể xác định những thời điểm cụ thể mà chính sách được ban hành Chính sách thường sẽ liên tục tiến hóa trong cả chu trình thực hiện, chứ không chỉ trong giai đoạn hoạch định của chu trình chính sách

Sự đa dạng trong cách hiểu về thuật ngữ chính sách của các tác giả trên

thế giới cũng được phản ánh trong định nghĩa về thuật ngữ này trong Từ điển Bách khoa Việt Nam Theo đó, “chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực

hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh

tế, văn hóa…”.[, tr.475]

Tức các cách hiểu về thuật ngữ chính sách, có thể thấy một chính sách

có các bộ phận cấu thành như: Thứ nhất, có chủ thể ban hành/thực hiện và đối tượng chịu tác động chính sách; Thứ hai, chính sách bao gồm các biện pháp thực hiện mục tiêu, và các mục tiêu; Thứ ba, chính sách dùng để giải quyết

một vấn đề nào đó mà chủ thể có hữu quan nhận thấy tính vấn đề, tức là tính mục đích của chính sách

Thuật ngữ chính sách ngày nay được sử dụng phổ biến, ngoài bối cảnh

sử dụng chính thống khi nói về các chính sách (công) của Nhà nước, các tổ chức ngoài nhà nước, các doanh nghiệp cũng thường sử dụng thuật ngữ này

để nói về những định hướng về một nội dung nào đó, ví dụ: chính sách thu hút lao động giỏi, chính sách lấy chất lượng làm đầu,

Trang 18

Trong thời hiện đại và dân chủ, nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, chính sách, chiến lược, kế hoạch Đây là những công cụ cơ bản Mỗi công cụ này có vai trò riêng, tuy nhiên v ề tổng thể, chúng cần phải thống nhất và có mối liên hệ với nhau trong việc thực hiện các mục tiêu của nhà nước Trong khoa học hành chính công, những chính sách do nhà nước ban hành trong quản lý xã hội (quản lý công) được gọi là chính sách công, ví dụ: chính sách ngoại giao, chính sách xuất – nhập khẩu hàng hóa, chính sách hỗ trợ người nghèo ở miền núi (Chương trình 135), chính sách hỗ trợ ngư dân, chính sách đào tạo nghề, chính sách giải quyết việc làm,

Theo TS Nguyễn Hữu Hải, “Chính sách công là những hành động ứng

xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển[, tr.14] Theo quan niệm này, mục đích của chính sách công là thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng, chứ không đơn giản chỉ dừng lại ở việc giải quyết vấn

đề công Nói cách khác, chính sách công là công cụ để thực hiện mục tiêu chính trị của nhà nước Ở nước ta, chính sách công là công cụ để thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng nhằm xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, xuất hiện nhiều vấn đề mà Nhà nước cần phải giải quyết bằng chính sách Tuy nhiên, các chính sách công được ban hành phải đảm bảo phù hợp với định hướng chính trị đã được Đảng xác định

Khái niệm chính sách xã hội

Chính sách là sách lược, kế hoạch của Nhà nước dựa vào đường lối chính trị chung của Đảng và tình hình phát triển kinh tế - xã hội để đề ra, nhằm đạt được một mục tiêu nhất định Nói cách khác chính sách là việc mà Nhà nước xác định các công việc cần làm và không cần làm trong thời gian tới Đó là một chuỗi các hoạt động được thực hiện bởi các nhà quản lý về

Trang 19

những vấn đề trong đời sống xã hội để từ đó điều hành và quản lý, phục vụ nhân dân, duy trì và phát triển xã hội Nhà nước quy định các chế tài, pháp lý

và các văn bản quy phạm pháp luật dựa trên cơ sở các chính sách được đưa ra

và tổ chức thực hiện trong đời sống xã hội

Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đã xác định “chính sách xã hội bao trùm mọi mặt cuộc sống của con người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc Coi nhẹ chính sách xã hội tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” Chính sách xã hội lần đầu tiên được đặt đúng vị trí và tầm quan trọng của nó trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chính sách xã hội, trong

đó định nghĩa của PGS-TS Lê Trung Nguyệt được xem là đầy đủ và chính xác

nhất, nó chỉ rõ chủ thể xây dựng và đề ra những nhiệm vụ cụ thể của chính sách xã hội: “Chính sách xã hội là loại chính sách được thể hiện bằng pháp luật của nhà nước thành một hệ thống quan điểm, chủ trương, phương hướng

và bi ện pháp để giải quyết những vấn đề xã hội nhất định, trước hết là những

v ấn đề liên quan đến công bằng xã hội và phát triển an sinh xã hội, nhằm góp

ph ần ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội” [, tr 7]

Khái niệm người có công với cách mạng

NCCVCM là người đã có thành tích tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm và đã được Nhà nước công nhận Cho đến nay hầu như chưa có một định nghĩa cụ thể về NCCVCM Theo Khoản 1, Điều 2 Văn bản hợp nhất Pháp lệnh ưu đãi NCCVCM năm 2012 “Người có công với

cách mạng” là những người: “Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm

1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; Liệt sĩ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng Lao động trong thời

kỳ kháng chiến; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;

Trang 20

Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng”

Mặc dù Pháp lệnh ưu đãi NCCVCM được thực hiện từ lâu nhưng cho đến nay chưa có một văn bản pháp luật nào nêu rõ khái niệm NCCVCM Tuy nhiên căn cứ các tiêu chuẩn đối với từng đối tượng là NCCVCM mà Nhà nước

ta đã quy định như trên, có thể hiểu khái niệm NCCVCM theo 2 nghĩa sau:

Theo nghĩa rộng, NCCVCM là những người không phân biệt tôn giáo,

tín ngưỡng, dân tộc, giới tính, tuổi tác đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng trí tuệ, có người hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp của dân tộc Họ

là những người có thành tích đóng góp hoặc có những cống hiến xuất sắc phục vụ cho lợi ích của dân tộc và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật

Theo nghĩa hẹp, NCCVCM là những người không phân biệt tôn giáo,

tín ngưỡng, dân tộc, giới tính… có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các

cơ quan tổ chức có thẩm quyền công nhận

Từ khái niệm trên, có thể rút ra một số đặc điểm của NCCVCM sau đây:

Một là, NCCVCM bao gồm người tham gia hoặc giúp đỡ cho cách

mạng, họ đã hy sinh một phần thân thể hay cả cuộc đời của mình hoặc có thành tích đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc

Hai là,NCCVCM là người có thành tích đóng góp hoặc cống hiến xuất sắc vì lợi ích của dân tộc, những đóng góp, cống hiến của họ có thể là trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc và cũng có thể là trong cuộc xây dựng và phát triển đất nước

Ba là,phạm trù NCCVCM là rất rộng, hiểu trong phạm vi hẹp thì đối tượng NCCVCM là những người đã tham gia trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân

Trang 21

tộc và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Hơn nữa Pháp luật điều chỉnh vấn đề ưu đãi đối với NCCVCM (Pháp lệnh ưu đãi NCCVCM và các văn bản điều chỉnh) chủ yếu điều chỉnh những đối tượng này

Khái niệm Chính sách người có công với cách mạng:

Chính sách NCCVCM góp phần thể hiện tinh thần nhân văn của quốc gia Nó không chỉ là sự giúp đỡ, chia sẻ mà còn là nghĩa vụ của nhà nước, nhân dân và toàn xã hội đối với những NCCVCM Chính sách ưu đãi NCCVCM nhằm ghi nhận và tri ân những con người đã có công, đã có những cống hiến đặc biệt cho sự nghiệp đấu tranh và bảo vệ đất nước; nhằm đảm bảo công bằng xã hội đồng thời duy trì và phát triển những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc, giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ tương lai

Ch ính sách NCCVCM là những quy định bằng văn bản của Nhà nước,

đó là sự đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất và tinh thần của Nhà nước và xã hội nhằm ghi nhận và đền đáp công lao đối với những NCCVCM và thân nhân của họ Nó thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đối với NCCVCM, góp phần tạo ra sự công bằng, bình đẳng, ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội

1.1.2 Đặc điểm, vai trò và các loại chính sách người có công với cách m ạng

1.1.2.1 Đặc điểm chính sách người có công với cách mạng

Chính sách người có công với cách mạng có đầy đủ các đặc điểm của một chính sách xã hội như:

Một là, chính sách xã hội bao giờ cũng liên quan đến con người Nó

bao trùm trên mọi mặt của đời sống xã hội nói chung và đời sống của con người nói riêng, lấy con người làm đối tượng trung tâm tác động để hoàn thiện và phát triển con người, hình thành các chuẩn mực và giá trị xã hội

Hai là, chính sách xã hội mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc, bởi vì mục tiêu cơ bản của nó là hiệu quả xã hội Công bằng xã hội là nội dung cơ

Trang 22

bản của chính sách xã hội Nhà nước sử dụng các chính sách xã hội như một công cụ để điều chỉnh các quan hệ xã hội, định hướng các giá trị mới, hướng vào cái thiện, cái tốt, hạn chế và đẩy lùi cái xấu, cái ác

Ba là, chính sách xã hội của Nhà nước thể hiện trách nhiệm xã hội cao, tạo những điều kiện, cơ hội như nhau để mọi người phát triển và hòa nhập cộng đồng Hiệu quả của chính sách xã hội là ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo công bằng xã hội

Bốn là, chính sách xã hội còn mang tính kế thừa lịch sử, nó có sự thay

đổi theo thời gian và tùy thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia, dân tộc Bất

kỳ một khoa học nào cũng có đối tượng nghiên cứu của mình, đối tượng nghiên cứu của khoa học chính sách nói chung và chính sách xã hội nói riêng

là hệ thống chính sách cũng như quy trình chính sách trên thực tiễn (hoạch định, thực thi, đánh giá chính sách)

Ngoài ra, chính sách NCCVCM có điểm đặc thù: Là chính sách mang tính ổn định chính trị- xã hội, góp phần hỗ trợ người có công với cách mạng

về vật chất và tinh thần bằng các chế độ ưu đãi để họ vơi đi phần nào nỗi đau thể xác cũng như nỗi đau về mặt tinh thần tổn thương do chiến tranh để lại Văn bản pháp quy cao nhất là Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng

do Quốc hội ban hành, dưới đó là Nghị định và các văn bản hướng dẫn của các Bộ, ban ngành liên quan

1.1.2.2 Vai trò chính sách đối với người có công với cách mạng

Chính sách đối với NCCVCM là những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc, là mục tiêu chính trị xã hội quan trọng của mỗi đất nước Chính sách đối với NCCVCM có những vai trò như sau:

Thứ nhất, chính sách đối với NCCVCM cụ thể hóa ý chí của Nhà nước,

là cơ sở pháp lý để quản lý công tác thực hiện chế độ, chính sách đối với NCCVCM theo đúng quy trình và tạo sự thống nhất trong quá trình thực hiện;

Trang 23

Thứ hai, chính sách đối với NCCVCM nhằm ghi nhận và tri ân những

cống hiến đặc biệt của NCCVCM cho đất nước, góp phần ổn định đời sống của những NCCVCM Đây là tiền đề quan trọng để thực hiện chính sách ưu đãi NCCVCM;

Thứ ba, chính sách đối với NCCVCM nhằm đảm bảo công bằng cho xã

hội, vì ai cống hiến nhiều cho đất nước người đó phải được hưởng nhiều Đây không phải là sự đền bù những hi sinh của NCCVCM mà là sự đền ơn đáp nghĩa không chỉ là vật chất thuần túy mà còn hàm chứa trong đó cả đạo lý, truyền thống nhân văn của dân tộc, lòng biết ơn sâu sắc của thế hệ hôm nay đối với những người đã hy sinh vì nghĩa vụ dân tộc;

Thứ tư, chính sách đối với NCCVCM góp phần thể hiện truyền thồng

đạo lý tốt đẹp của dân tộc, sự đoàn kết, quan tâm và giúp đỡ lẫn nhau của nhân dân ta Thực hiện chính sách đối với NCCVCM không chỉ bảo vệ, giúp đỡ mà còn thể hiện nghĩa vụ của nhà nước, của xã hội đối với những NCCVCM;

Thứ năm, chính sách đối với NCCVCM là những giá trị tinh thần cao

đẹp của dân tộc, giáo dục cho thế hệ trẻ, thế hệ tương lai ý thức trách nhiệm của mình đối với những NCCVCM đã sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp dân tộc

1.1.2.3 Các loại chính sách đối với người có công với cách mạng

Một số chính sách đối với người có công với cách mạng:

Về vật chất, chính sách ưu đãi về vật chất đối với NCCVCM được thể hiện bằng các chính sách ưu đãi sau:

Thứ nhất, chính sách trợ cấp bằng tiền cho các đối tượng hưởng ưu đãi

xã hội như: trợ cấp, phụ cấp hàng tháng; trợ cấp mai táng phí; trợ cấp tiền tuất hàng tháng; ưu đãi giáo dục và đào tạo…

Thứ hai, chính sách trợ cấp bằng hiện vật cho các đối tượng hưởng ưu

đãi xã hội như: xây dựng nhà tình nghĩa; cấp thẻ bảo hiểm y tế; cấp các dụng

cụ chỉnh hình; quà tặng…

Trang 24

Thứ ba, chính sách trợ cấp điều dưỡng phục hồi sức khỏe, phục hồi

chức năng, vay vốn ưu đãi để sản xuất, được miễn hay giảm thuế theo quy định của pháp luật…

Về tinh thần, chính sách đối với NCCVCM nhằm đảm bảo đời sống tâm

tư, tình cảm của NCCVCM, bên cạnh những chính sách ưu đãi về vật chất thì những chính sách ưu đãi về tinh thần cho những đối tượng này cũng là một hình thức cần quan tâm và phát triển song hành Những NCCVCM rất cần được quan tâm, chăm sóc về mặt tinh thần để vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập cùng cộng đồng Cũng như các chính sách về vật chất nêu trên, chính sách về tinh thần sẽ thể hiện được sự ghi nhớ công ơn, tri ân của thế hệ hôm nay đối với lớp NCCVCM Chính sách này được thể hiện dưới những hình thức sau: tặng Bằng khen, Huân chương, Kỷ niệm chương: phong tặng các danh hiệu như “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, “Anh hùng lực lượng vũ trang”, “Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến”, Huân chương kháng chiến, Huy chương kháng chiến; tặng Bằng “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước”; dùng tên NCCVCM

để đặt tên các trường học, học viện, đường phố, các công trình công cộng; dựng tượng đài, bia tưởng niệm, nghĩa trang dành cho NCCVCM; ưu tiên con em các đối tượng NCCVCM trong tuyển sinh giáo dục đào tạo; tổ chức các câu lạc bộ, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ cho NCCVCM

1.2 Th ực hiện chính sách người có công với cách mạng

1.2.1 Khái ni ệm thực hiện chính sách người có công với cách mạng

Chính sách NCCVCM là một loại chính sách công (loại chính sách công về an sinh xã hội), nên về mặt nguyên tắc, nó tuân theo chu trình chung của chính sách công

Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của nhà nước tác động có ý thức đến đời sống của nhân dân theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của

Trang 25

nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội [, tr.51] Chu trình chính sách (chính sách công) là một chuỗi các giai đoạn kế tiếp có liên quan với nhau từ khi lựa chọn được vấn đề chính sách công đến khi kết quả của chính sách được đánh giá - là quá trình luân chuyển các bước từ khởi sự chính sách đến khi xác định được hiệu quả của chính sách trong đời sống xã hội

Chu trình chính sách theo mô hình của các nước trên thế giới gồm 5 giai đoạn: (1) Thiết lập chương trình nghị sự chính sách là quá trình mà các vấn đề công được trở thành sự quan tâm của Nhà nước và đưa vào chương trình nghị sự; (2) Hình thành chính sách là quá trình thiết lập các phương án chính sách khác nhau để giải quyết vấn đề công; (3) ra quyết định chính sách

là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua đường lối hành động

cụ thể bằng một chính sách; (4) Thực hiện chính sách là quá trình đưa chính sách vào thực tế để các đối tượng cùng tham gia thực hiện; (5) Đánh giá chính sách là việc xem xét kết quả tác động của chính sách đến các đối tượng và quá trình kinh tế -xã hội theo hệ thống tiêu chí định tính và định lượng [, tr.166-190] Trong đó, bước triển khai (thực thi) chính sách đóng vai trò rất quan trọng: Các chính sách sau khi được thông qua đều phải tổ chức triển khai Giai đoạn triển khai bao gồm ban hành các văn bản có tính pháp lý, qui định trách nhiệm, quyền hạn cũng như việc thực thi các hành động và biện pháp cụ thể

Ở Việt Nam hiện nay, chu trình chính sách thường được chia làm 3 công đoạn: Hoạch định chính sách, tổ chức thực thi chính sách, đánh giá chính sách: Giai đoạn đầu tiên trong chu trình là hoạch định chính sách: Hoạch định chính sách là toàn bộ quá trình nghiên cứu, xây dựng và ban hành đầy đủ một chính sách Đây là giai đoạn hình thành phương án chính sách và

Trang 26

ra quyết nghị chính sách Để hoàn thành giai đoạn này, các cơ quan nhà nước được giao trách nhiệm tiến hành các hoạt động phân tích thực trạng để xác định vấn đề chính sách và đưa ra việc giải quyết vấn đề vào chương trình nghị

sự để ban hành chính sách Hoạt động xác định vấn đề chính sách không chỉ

do các cơ quan nhà nước thực hiện mà còn có sự tham gia rộng rãi của xã hội, đặc biệt là các tổ chức đoàn thể nhân dân như Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của nó Nguyên tắc hoạch định chính sách công là: Vì lợi ích công cộng, nguyên tắc đa số, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc hiện thực Nội dung quan trọng trong giai đoạn hoạch định chính sách công là việc xác định mục tiêu chính sách và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó Để thực hiện việc này, các chủ thể cần phân tích tác động của từng giải pháp và so sánh các giải pháp với nhau để cuối cùng cơ quan có thẩm quyền ra quyết định chính sách

Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn tổ chức thực thi chính sách: Đây là giai

đoạn hiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội - giai đoạn tổ chức thực hiện các giải pháp chính sách đã lựa chọn và kiểm tra việc thực hiện Có thể nói đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của một chính sách Giai đoạn này bao gồm các bước như: Xây dựng kế hoạch triển khai thực thi; Phổ biến, tuyên truyền vận động; Phân công, phối hợp thực thi; Duy trì việc thực hiện chính sách; Điều chỉnh chính sách; Theo dõi, kiểm tra, động viên Cuối cùng là giai đoạn đánh giá chính sách, tổng kết rút kinh nghiệm: Đây là giai đoạn đo lường các chi phí, kết quả của việc thực hiện chính sách

và các tác động thực tế của chính sách trong quá trình thực hiện mục tiêu chính sách, từ đó xác định hiệu quả của một chính sách trong thực tế Trên cơ

sở kết quả của đánh giá chính sách, các cơ quan nhà nước có thể đưa ra những điều chỉnh chính sách nếu thấy cần thiết Các cơ quan này có thể bổ sung mục tiêu, thay đổi, hoặc điều chỉnh các giải pháp cho phù hợp, thậm chí có thể

Trang 27

quyết định tiếp tục theo đuổi mục tiêu hay chấm dứt sự tồn tại của chính sách [, tr.166-190], [, tr.88-94] Phân tích chính sách không phải là một giai đoạn độc lập của chu trình chính sách, mà là một hoạt động gắn kết với các giai

đoạn của chu trình chính sách Đây là hoạt động cơ bản làm nền tảng ra quyết

định cho các chủ thể hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách công

Thực thi chính sách (Policy Implementation) là quá trình biến các chính sách thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong

bộ máy nhà nước, nhằm hiện thực hoá những mục tiêu mà chính sách đã đề ra;

là toàn bộ quá trình hoạt động của chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằm hiện thực hóa nội dung chính sách công một cách có hiệu quả [, tr.127]

Tầm quan trọng của việc thực thi chính sách là để giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội đặt ra Nếu thiếu vắng công đoạn này thì chu trình chính sách không thể tồn tại; nếu không có việc thực thi chính sách để đạt được những kết quả nhất định thì những chủ trương, chế độ chỉ là những khẩu hiệu Nếu công tác tổ chức thực thi chính sách không tốt sẽ dẫn đến thiếu lòng tin Quá trình tổ chức thực thi chính sách góp phần hoàn chỉnh bổ sung chính sách: Có những vấn đề trong giai đoạn hoạch định chính sách chưa phát sinh, bộc lộ hoặc đã phát sinh nhưng các nhà hoạch định chưa nhận thấy, đến giai đoạn tổ chức thực thi mới phát hiện Quá trình thực thi chính sách với những hành động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống Việc phân tích, đánh giá một chính sách (mức độ tốt, xấu) chỉ có thể đầy đủ, có sức thuyết phục là sau khi thực hiện chính sách Qua tổ chức thực hiện, cơ quan chức năng mới có thể biết chính sách đó được xã hội và đại đa số nhân dân chấp nhận hay không, đi vào cuộc sống hay không

Khái niệm thực hiện chính sách NCCVCM:

Trang 28

Thực hiện chính sách NCCVCM: là một khâu của chu trình chính sách

công, là quá trình biến các chủ trương, phương hướng và biện pháp liên quan đến NCCVCM thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có

tổ chức trong bộ máy nhà nước và sự tham gia rộng rãi của các tổ chức, đơn

vị, gia đình, cá nhân và toàn xã hội, nhằm hiện thực hoá những mục tiêu mà chính sách đã đề ra Đó là quá trình triển khai hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với NCCVCM (trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, giải quyết việc làm…) vào thực tiễn bằng các công cụ, bộ máy của nhà nước nhằm hiện thực hóa mục tiêu đã đề ra

Việc thực thi chính sách NCCVCM như thế nào phụ thuộc vào các bộ phận (cơ quan nhà nước hoạch định chính sách NCCVCM, cơ quan chấp hành thực hiện chính sách NCCVCM, cộng đồng xã hội tham gia hoạt động NCCVCM, đối tượng thụ hưởng chính sách NCCVCM) và các bước cơ bản trong việc thực thi chính sách NCCVCM Trên thực tế các bộ phận nói trên nhiều khi không tách biệt độc lập một cách tuyệt đối mà có sự đan xen, lồng ghép với nhau (như người hoạch định chính sách NCCVCM cũng là đối tượng thụ hưởng chính sách…) Việc thực hiện các bước trong thực thi chính sách NCCVCM phải được xem xét ở cấp độ chủ thể thực thi: Chính sách NCCVCM được cấp trung ương hoạch định (chính sách quốc gia) thì cấp thực thi chính sách NCCVCM đó là chính quyền địa phương các cấp Trên cơ sở chính sách quốc gia, chính quyền địa phương các cấp trên cơ sở điều kiện đặc thù của địa phương mình lại tiếp tục thể chế hóa chính sách quốc gia thông qua việc ban hành các quyết định, kế hoạch, chương trình (chính sách địa phương) và tổ thức thực hiện để hiện thực hóa các chính sách nói trên Vì vậy, trong tính tương đối, vừa có thể coi việc thực thi chính sách NCCVCM của một tỉnh, thành phố chỉ là một khâu trong chu trình chính sách (hoạch định, thực thi, đánh giá kết quả) và vừa có thể coi việc thực thi đó hàm nghĩa cả chu

Trang 29

trình chính sách (chính sách địa phương) với cả 3 bước (hoạch định, thực thi, đánh giá kết quả)

1.2.2 Chu trình th ực hiện chính sách người có công với cách mạng

Theo lý luận chung về chính sách công, việc thực thi chính sách

NCCVCM bao gồm các bước cơ bản sau đây:

- Bước1: xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách, đây là

bước cần thiết quan trọng vì tổ chức thực thi chính sách là quá trình phức tạp, lại diễn ra trong thời gian dài do đó phải có kế hoạch Kế hoạch này phải được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống và gồm các bước sau đây:

Kế hoạch về tổ chức, điều hành như hệ thống các cơ quan tham gia, đội ngũ nhân sự, cơ chế thực thi; kế hoạch cung cấp nguồn vật lực như tài chính, trang thiết bị; kế hoạch thời gian triển khai thực hiện; kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách; dự kiến về quy chế, nội quy về tổ chức và điều hành thực

thi chính sách

- Bước2: Phổ biến tuyên truyền chính sách: Đây là công đoạn tiếp

theo sau khi chính sách đã được thông qua Nó giúp cho nhân dân, các cấp chính quyền hiểu được về chính sách và giúp cho chính sách được triển khai thuận lợi và có hiệu quả Việc tuyên truyền này cần phải được thực hiện thường xuyên liên tục, ngay cả khi chính sách đang được thực thi và với mọi đối tượng

- Bước 3: Phân công phối hợp thực hiện chính sách: Một chính sách

thường được thực hiện trên một địa bàn rộng lớn và nhiều tổ chức tham gia do

đó phải có sự phối hợp, phân công hợp lý để hoàn thành tốt nhiệm vụ

- Bước 4: Duy trì chính sách: đây là bước làm cho chính sách tồn tại

được và phát huy tác dụng trong môi trường thực tế Để duy trì được chính sách đòi hỏi phải có sự đồng tâm, hiệp lực của nhiều yếu tố, như Nhà nước là người tổ chức thực thi chính sách phải tạo điều kiện và môi trường để chính

Trang 30

sách được thực thi tốt Đối với người chấp hành chính sách phải có trách nhiệm tham gia tích cực vào thực thi chính sách

- Bước 5: Điều chỉnh chính sách, việc làm này là cần thiết, diễn ra

thường xuyên trong quá trình tổ chức thực thi chính sách Nó được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thông thường cơ quan nào lập chính sách thì có quyền điều chỉnh) Việc điều chỉnh này phải đáp ứng được việc giữ vững mục tiêu ban đầu của chính sách, chỉ điều chỉnh các biện pháp,

cơ chế thực hiện mục tiêu Hoạt động này phải hết sức cẩn thận và chính xác, không làm biến dạng chính sách ban đầu

- Bước 6: Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách: Bất cứ

triển khai chính sách nào thì cũng phải kiểm tra, đôn đốc để đảm bảo các chính sách được thực hiện đúng, và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực Các

cơ quan Nhà nước thực hiện việc kiểm tra này, và nếu tiến hành thường xuyên thì giúp nhà quản lý nắm vững được tình hình thực thi chính sách từ đó có những kết luận chính xác về chính sách Công tác kiểm tra này cũng giúp cho các đối tượng thực thi nhận ra những hạn chế của mình để điều chỉnh bổ sung, hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách

- Bước 7: Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm: khâu này được tiến hành

liên tục trong thời gian duy trì chính sách Trong quá trình này ta có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ chính sách Ở việc đánh giá này phải tiến hành đối với cả các cơ quan nhà nước và đối tượng thực hiện chính sách [, tr.131, 136]

1.2.3 N ội dung thực hiện chính sách người có công với cách mạng

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người có công với cách mạng Tại một số địa phương việc thực thi chính sách người có công đã có nhiều tiến bộ và đạt được kết nhất định đáp ứng được

Trang 31

nhu cầu, nguyện vọng người có công được thể hiện trên các mặt: hoạch định chính sách, xây dựng các kế hoạch đã có bước chuyển biến rõ rệt cả về chất lượng và số lượng; thủ tục hành chính được giảm bớt phiền hà, tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật trong thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng Tuy nhiên bên cạnh những trường hợp xứng đáng được Nhà nước

và Nhân dân tôn vinh, chăm sóc, đã có không ít đối tượng lợi dụng những sơ

hở trong quy định của Nhà nước để làm giả, khai man hồ sơ nhằm trục lợi trợ cấp trong đó cũng không ít những trường hợp xảy ra có liên quan đến sự yếu kém của một số bộ phận cán bộ thực thi chính sách người có công các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở địa phương, vẫn còn có hiện tượng gây sách nhiễu, phiền

hà cho người dân, việc thanh tra, kiểm tra xử lý chưa được kịp thời làm ảnh hưởng đến công bằng xã hội, gây bức xúc dư luận Thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng bao gồm nhiều loại hoạt động cơ bản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

1.2.3.1 Hệ thống văn bản tổ chức thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng

Để thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng được chặt chẽ, thống nhất, Đảng và Nhà nước đã ban hành hệ thống văn bản hướng dẫn thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng, bao gồm:

Ủy ban TVQH Chính phủ

Bộ Y tế

Trang 32

Sơ đồ 1.1 Hệ thống cơ quan thẩm quyền ban hành văn bản

thực thi chính sách người có công

Nhìn vào sơ đồ 2.1, ta thấy cơ quan cao nhất có thẩm quyền hoạch định ban hành chính sách người có công là Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tương tự như vậy ta có hệ thống văn bản tương ứng với các cấp có thẩm quyền ban hành như sau:

Sơ đồ 1.2 Hệ thống văn bản thực thi chính sách người có công

- Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Cơ quan có thẩm quyền cao nhất xây dựng hoạch định chính sách, ban hành Pháp lệnh về ưu đãi người có công với cách mạng

- Chính phủ: Là cơ quan ban hành các Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Pháp lệnh về ưu đãi người có công với cách mạng

- Bộ Lao động -TB và XH: Là cơ quan chủ trì, phối hợp với các Bộ liên quan như Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư, Thông tư liên tịch hướng dẫn thủ tục lập hồ sơ, quản lý hồ sơ, thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng

- Ngoài ra, Cục Người có công là cơ quan chuyên trách có trách nhiệm tham mưu, hướng dẫn bổ sung những quy định chưa được rõ ràng để các địa phương có cơ sở triển khai thực hiện

Pháp lệnh Nghị định Thông tư/Thông tư liên tịch Văn bản hướng dẫn bổ sung

Trang 33

Hiện nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đang được áp dụng trong thực thi chính sách người có công bao gồm:

Pháp lệnh 26/2005/ PL-UBTVQH11 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội

11 về ưu đãi người có công với cách mạng;

Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng;

Pháp lệnh số 05/2012/UBTVQH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”

Nghị định 31/2013/NĐ-CP về quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng;

Nghị định 56/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”;

Nghị định số 101/2013/NĐ-CP ngày 04/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ trợ cấp, phụ cấp đối với người có công với cách mạng;

Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định về

hỗ trợ nhà ở đối với người có công

Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH hướng dẫn về thủ tục lập hồ sơ, quản

lý hồ sơ, thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân;

Thông tư liên tịch số 28/2013/TTLT-BLĐTBXH-BQP ngày 22/10/2013 của Liên Bộ: Lao động-TB và XH, Bộ Quốc phòng hướng dẫn các nhận liệt sỹ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh trong chiến tranh không còn giấy tờ

Thông tư liên tịch số 20/2014/TTLT-BGD ĐT-BTC-BLĐTBXH ngày 30/5/2014 của Liên Bộ: Giáo dục đào tạo, Tài chính, Lao động-TB và XH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu, sử dụng học phí đối với cơ sở giám dục thuộc hệ thống giáo

Trang 34

dục quốc dân từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2014 và Nghị định số 74/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 49/2010/NĐ-CP;

Thông tư liên tịch số 41/2013/TTLT-BLĐTHƯƠNG BINHXH-BYT của Liên Bộ: Lao động-TB và XH, Y tế hướng dẫn việc khám giám định đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học;

Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 03/6/2014 của Bộ Lao động-TB và XH, Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe, cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình đối với người có công với cách mạng và thân nhân; quản lý các công trình ghi công liệt sỹ

1.2.3 2 Bộ máy tổ chức thực thi chính sách

Có thể nói, hiệu quả của thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng với cách mạng trong giải quyết chính sách đối với người có công với cách mạng một phần lớn phụ thuộc vào vấn đề tổ chức bộ máy quản lý và thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng Do vậy, tổ chức bộ máy thực thi chính sách cũng là một nội dung quan trọng của quản lý nhà nước trong thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng Do đặc điểm chính trị, kinh tế - xã hội và lịch sử khác nhau nên mỗi đơn vị có hình thức tổ chức bộ máy quản lý khác nhau Tuy vậy, khi xây dựng tổ chức bộ máy thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng đều phải giải quyết một số vấn đề chung có tính chất cơ bản như sau:

- Vị trí và chức năng giữa ngành Lao động Thương binh và Xã hội với

các ngành Tài chính, Giáo dục, Quốc phòng, Công an …

- Mối quan hệ giữa ngành Lao động Thương binh và Xã hội với chính quyền địa phương: Là một vấn đề rất quan trọng trong việc tổ chức bộ máy quản lý Người có công với cách mạng bởi vì trong việc thực hiện và quản lý nhà nước trong thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng rất

Trang 35

cần sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương các cấp Điều này càng quan trọng hơn đối với các nước ở trình độ phát triển kinh tế - xã hội chưa cao, trình độ dân trí, trình độ hiểu biết và chấp hành Pháp lệnh của một

bộ phận đối tượng thấp

1.2.3.3 Thực thi chính sách đối với người có công

Thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng bao gồm các hoạt động: Ghi nhận và xác nhận đối tượng người có công; chính sách hỗ trợ

về tài chính với người có công; chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm, phát triển kinh tế gia đình người có công; chính sách chăm lo học tập, sức khỏe đối với con của người có công; chính sách hỗ trợ về nhà ở cho người có công; chính sách chăm sóc sức khỏe cho thương binh, người hoạt động kháng chiến

bị nhiễm chất độc hóa học, người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; chính sách tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin

- Xác lập kế hoạch quản lý người có công với cách mạng là công cụ đầu tiên trong hệ thống các biện pháp quản lý nhà nước trong thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng, nhằm xác định khả năng, số lượng làm cơ sở pháp lý cho quá trình tổ chức thực hiện Đối với nước ta, kế hoạch quản lý người có công với cách mạng đã được cơ quan quyền lực cao nhất thông qua đó trở thành Pháp lệnh Vì vậy việc xây dựng kế hoạch phải thận trọng có căn cứ khoa học và thực tiễn, đảm bảo tính dân chủ, công bằng phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước

Kế hoạch triển khai Pháp lệnh từ trung ương đến địa phương bằng nhiều hình thức như tập huấn cho cán bộ chủ chốt và cán bộ nghiệp vụ, đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng đến tận thôn xóm cho nhân dân được biết, hiểu Pháp lệnh một cách thấu đáo Trong giai đoạn này cần dựa từ điều kiện thực tiễn để xây dựng kế hoạch cho từng quí, từng tháng

Trang 36

* Đối tượng thụ hưởng chế độ chính sách đối với người có công với cách mạng

Ngày 09/4/2012, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 04/2012/PL-UBTVQH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 đã được sửa đổi,

bổ sung theo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 35/2007/PL-UBTVQH11 quy định đối tượng thụ hưởng phân thành 02 nhóm đối tượng:

Trực tiếp và gián tiếp Trực tiếp: Bản thân người thụ hưởng là người có công Gián tiếp: Người thụ hưởng là thân nhân của người có công

a Người có công với cách mạng: 12 loại đối tượng

+ Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945; +Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945;

+ Liệt sĩ;

+ Bà mẹ Việt Nam anh hùng;

+ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân;

+ Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến;

+ Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;

+ Bệnh binh;

+ Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học;

+ Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; + Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế;

+ Người có công giúp đỡ cách mạng

Trang 37

b Thân nhân của người có công với cách mạng quy: Bố, mẹ, vợ, con của lão thành cách mạng, cán bộ tiền khởi nghĩa, liệt sỹ, thương binh, bệnh binh và người tham gia hoạt động kháng chiến bị nhiễm CĐHH

Căn cứ vào hệ thống văn bản của các cấp, UBND tỉnh xây dựng kế hoạch, tổ chức thực thi chế độ chính sách đối với người có công với cách mạng tại tỉnh, bổ sung hướng dẫn cần thiết cho phù hợp với tình hình từng địa phương

Sở Lao động-TB và XH căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao, chủ trì và có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tham mưu giúp UBND tỉnh xây dựng kế hoạch, chỉ đạo UBND các huyện, thị xã, thành phố đặc biệt là Phòng Lao động-TB và XH, UBND các xã, phường, thị trấn triển khai đồng bộ thực thi chính sách đối với người có công, kiểm tra giám sát việc thực thi báo cáo đánh giá kết quả đề ra các giải pháp khắc phục kịp thời những vướng mắc tồn tại, hạn chế trong thực thi chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng

Chủ tịch UBND tỉnh xây dựng, ban hành kế hoạch tổ chức các hoạt động, ký các quyết định liên quan đến lĩnh vực người có công Tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ thông qua Bộ Lao động-TB và XH phê duyệt công nhận liệt sỹ, cấp Bằng Tổ quốc ghi công, phong tặng và truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng đối với những hồ sơ đủ điều kiện

Sở Lao động-TB và XH là cơ quan quản lý nhà nước, tham mưu giúp UBND tỉnh chỉ đạo, hướng dẫn và triển khai thực thi chính sách ưu đãi người

có công với cách mạng từ tỉnh đến địa phương cơ sở, có trách nhiệm tổ chức Hội nghị tập huấn chính sách đến cán bộ làm công tác thương binh xã hội các cấp, tổ chức tuyên truyền, tiếp nhận thẩm định hồ sơ, ký các quyết định liên quan đến lĩnh vực người có công đã được Chủ tịch UBND tỉnh ủy quyền

Trang 38

Hàng năm căn cứ kế hoạch công tác phối hợp với Sở Tài chính lập dự trù kinh phí đảm bảo các hoạt động thực thi chính sách người có công

Phòng Lao động-TB và XH các huyện, thị xã, thành phố có trách nhiệm tiếp nhận, thẩm định hồ sơ tổng hợp báo cáo Chủ tịch UBND các huyện, thị

xã, thành phố và lập danh sách gửi Sở Lao động-TB và XH, tổ chức chi trả chế độ trợ cấp, thực hiện các chế độ ưu đãi như: giáo dục đào tạo, bảo hiểm y

tế, mai táng phí, hỗ trợ cải thiện nhà ở cho người có công

Cán bộ Lao động-TB và XH cấp xã là đầu mối rất quan trọng, người trực tiếp làm việc với người có công, hướng dẫn thủ tục hồ sơ, tiếp nhận thẩm định hồ sơ, tổng hợp và lập danh sách đề nghị giải quyết chế độ gửi Phòng Lao động-TB và XH

Việc thực thi chính sách người có công phải được thực hiện đồng bộ, thống nhất từ tỉnh đến địa phương cơ sở trong việc xây dựng kế hoạch hoạt động, tổ chức tuyên truyền các cấp từ tỉnh đến địa phương thôn xóm thông qua báo, đài và cổng thông tin điện tử của Sở Lao động-TB và XH Sở Lao động-TB và XH cũng đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn cụ thể đối với các huyện, thị xã, thành phố trong việc thực thi chính sách đối với người có công theo quy định

1.2.3 4 Công tác quản lý hồ sơ người có công với cách mạng

Theo quy định thì khi cán bộ thẩm định ra quyết định công nhận người

có công, hồ sơ phải có ký hiệu hồ sơ ghi ở góc trên bên phải, viết bằng chữ in hoa Ký hiệu địa phương ghi trước, gạch chéo rồi ghi tiếp ký hiệu từng loại hồ

sơ đối tượng, tiếp đến số quản lý của địa phương và ký hiệu thời kỳ

Trang 39

+ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc tặng Bằng “Tổ quốc ghi công”;

+ Trích lục hồ sơ liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học - Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm:

+ Tiếp nhận, đăng ký quản lý, lưu trữ hồ sơ người có công tại địa phương nơi có hộ khẩu thường trú và hồ sơ do quân đội, công an giới thiệu đến;

+ Lập và gửi trích lục hồ sơ theo mẫu của hồ sơ liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Cục Người có công);

Việc lưu trữ và quản lý hồ sơ phải được đăng ký theo quy định, thống nhất và khoa học đưa lên giá quản lý theo từng huyện, từng loại đối tượng để khi cần khai thác có thể dễ tìm, dễ thấy

- Cơ quan có thẩm quyền của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội báo cáo định kỳ tình hình, số lượng người có công tại thời điểm ngày 31 tháng 12 hàng năm (Mẫu HS8) gửi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Cục Người có công) trước ngày 31 tháng 01 năm sau

1.2.3 5 Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng

Trên cơ sở xác định mục tiêu hàng tháng, quý, năm tổ chức thanh kiểm tra theo dõi kế hoạch thực hiện đúng thời hạn, thực hiện các phương pháp quản lý chặt chẽ chống khai man để hưởng sai quy định

Thường xuyên tổ chức thanh, kiểm tra trong việc thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng và chế độ quản lý Phối hợp với các ngành, các cấp hạn chế các tiêu cực trong việc thực hiện và quản lý trên địa bàn

a) Thanh tra, kiểm tra trong thực thi chính sách ưu đãi người có công

- Các cơ quan quản lý nhà nước liên quan lĩnh vực người có công, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan thanh tra chuyên

Trang 40

ngành xây dựng lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thực thi chính sách theo quy định của Pháp lệnh người có công và xử lý vi phạm hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định hiện hành

- Thanh tra các cấp theo phân cấp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thanh tra, kiểm tra việc thực thi chính sách người có công trên cơ sở đối chiếu với các quy định hiện hành, tùy từng mức độ vi phạm xử lý vi phạm hoặc đề xuất kiến nghị cấp có thẩm quyền

b) Xử lý vi phạm trong thực thi chính sách đối với người có công với cách mạng

* Xử lý vi phạm đối với người có hành vi vi phạm

Người nào có một trong các hành vi vi phạm sau đây tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự:

- Giả mạo hoặc khai man giấy tờ để hưởng chế độ ưu đãi người có công;

- Giả mạo hoặc khai man giấy tờ để hưởng thêm chế độ ưu đãi người có công;

- Giả mạo hoặc chứng nhận sai sự thật để người khác hưởng chế độ ưu đãi người có công;

Người vi phạm các mục trên bị đình chỉ các chế độ ưu đãi đã hưởng do giả mạo hoặc khai man giấy tờ, buộc hoàn trả các chế độ ưu đãi đã hưởng sai

- Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước và quyền lợi của người có công thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật

* Xử lý đối với người đang hưởng chế độ ưu đãi theo Pháp lệnh mà phạm tội

Ngày đăng: 06/01/2021, 05:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w