TTHC là một loại quy phạm pháp luật quy định trình tự về thời gian, không gian khi thực hiện một thẩm quyền nhất định của bộ máy Nhà nước; là cách thức giải quyết công việc của các cơ qu
Trang 1…………/………… ……/……
H ỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN ĐỨC DŨNG
LU ẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
HÀ N ỘI – 2018
Trang 2…………/………… ……/……
H ỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUY ỄN ĐỨC DŨNG
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng bản thân, được
thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và khảo sát thực tiễn, với sự hướng
dẫn khoa học của PGS.TS Trương Hồ Hải Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào
Hà N ội, ngày tháng năm 2018
Tác gi ả
Nguy ễn Đức Dũng
Trang 4Luận văn “Cơ chế thủ tục hành chính một cửa tại Ủy ban nhân dân
qu ận – từ thực tiễn Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội”đã được hoàn
thành là kết quả sau một quá trình học tập, nghiên cứu chuyên ngành Luật
HIến pháp – Luật Hành chính tại Học viện Hành chính Quốc gia
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban lãnh đạo, Quý thầy cô khoa Sau Đại học cùng lãnh đạo các Khoa, phòng ban của Học viện Hành chính Quốc gia Đặc biệt, tôi xin trân trọng và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trương Hồ Hải, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Quận ủy Hoàng Mai, UBND quận Hoàng Mai, Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả quận Hoàng Mai đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng, những do khả năng của bản thân còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự góp ý của Quý thầy, cô và các bạn đồng nghiệp./
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác gi ả
Trang 5Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
Danh mục các hình vẽ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CƠ CHẾ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH MỘT CỬA TẠI ỦY BAN NHÂN DÂNCẤP HUYỆN 9
1.1 Khái quát về thủ tục hành chính 9
1.1.1 Khái niệm, đặcđiểmthủ tục hành chính 9
1.1.2 Vai trò của thủ tục hành chính 14
1.1.3 Phân loại thủ tục hành chính 16
1.2 Tổng quan về cơ chế thủ tục hành chính một cửa tại ủy ban nhân dân cấp huyện 19
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc của cơ chế thủ tục hành chính một cửa cấp huyện 19
1.2.2 Mục đích và lợi ích thực hiện cơ chế một cửa cấp huyện 22
1.2.3 Pháp luật về cơ chế thủ tục hành chính một cửa 24
1.2.4 Tổ chức, hoạt động của cơ chế thủ tục hành chính một cửa cấp huyện 26
1.2.5 Các yếu tố tác động đến hiệu quả cơ chế thủ tục hành chính một cửa cấp huyện 29 1.3 Kinh nghiệm thực hiện cơ chế thủ tục hành chính một cửa và bài học kinh nghiệm cho ủy ban nhân dân cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà
Trang 61.3.1 Kinh nghiệm thực hiện cơ chế thủ tục hành chính một cửa tại
một số địa phương trong nước 33
1.3.2 Bài học kinh nghiệm về thực hiện cơ chế một cửa choỦy ban nhân dâncấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội 42
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH MỘT CỬA TẠI QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 45
2.1 Đặc điểm tự nhiên – kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến thực hiện cơ chế thủ tục hành chính một cửa tại Ủy ban nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội 45
2.1.1 Điều kiện tự nhiên- kinh tế - xã hội 45
2.1.2 Tổ chức bộ máy vàchức năng, nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân Quận Hoàng Mai 49
2.2.1 Thực trạng ban hành văn bản thực hiện cơ chế thủ tục hành chính một cửa tại Quận Hoàng Mai 51
2.2.2 Quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa tại Ủy ban nhân dân quận Hoàng Mai 54
2.2.3 Thực tiễn hoạt động của “Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả” tại Ủy ban nhân dânquận Hoàng Mai 59
2.3 Đánh giá thực trạng thực hiện cơ chế thủ tục hành chính một cửa tại ủy ban nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội 72
2.3.1 Những kết quả đã đạt được 72
2.3.2 Những hạn chế 75
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 77 CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH MỘT CỬA TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN – TỪ THỰC TIỄN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 80
Trang 7cửa tại ủy ban nhân dân Quận từ thực tiễn ủy ban nhân dân quận Hoàng
Mai, thành phố Hà Nội 80
3.2 Giải pháp hoàn thiện cơ chế thủ tục hành chính một cửa tại ủy ban nhân dân quận từ thực tiễn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội 82
3.2.1 Tiếp tục rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính 82
3.2.2 Cải tiến phương thức quản lý, chấn chỉnh lề lối tác phong làm việc trong cơ quan hành chính quận 84
3.2.3 Hoàn thiện tổ chức bộ máy và chế độ chính sách cho cán bộ công chức tại Ủy ban nhân dân quận 85
3.2.4 Xây dựng hệ thống các tiêu chí cơ bản để đánh giá phân loại kết quả của Bộ phận nhận và trả kết quả 88
3.2.5 Thường xuyên khảo sát mức độ hài lòng của người dân, tổ chức đối với dịch vụ hành chính công tại Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả 90 3.2.6 Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa 92
3.2.7 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về cải cách thủ tục hành chính và cơ chế một cửa, một cửa liên thông 94
3.2 8 Thanh kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện thủ tục hành chínhtheo cơ chế một cửa 95
3.3 Một số kiến nghị, đề xuất 95
3.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ 95
3.3.2 Kiến nghị đối với các bộ ngành 96
3.3.3 Kiến nghị đối với Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội 97
KẾT LUẬN 99
PHỤ LỤC 105
Trang 8Ch ữ viết tắt Ch ữ viết đầy đủ
Trang 9TT Tên b ảng Trang
Bảng 2.1: Cơ cấu tổ chức và nhân sự quản lý của Ủy ban nhán dân Quận
Hoàng Mai 50
Bảng 2.2: Thực trạng đội ngũ CBCC ở các phòng, ban, đơn vị tại Ủy ban
nhân dânQuận Hoàng Mai (đến 12/2016) 51
Bảng 2.3: Hệ thống TTHC được giải quyết theo cơ chế một cửa, một cửa
liên thông tại UBND Quận Hoàng Mai 58
Bảng 2.4: Kết quả giải quyết hồ sơ hành chính theo cơ chế “Một cửa - Một
cửa liên thông” tại Ủy ban nhân dân quận Hoàng Mai 2016) 68
(2011-DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Bản đồ địa chính Quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội 45Hình 2.2: Cơ cấu ngành kinh tế của Quận Hoàng Mai (2016) 47Hình 2.3: Quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa tại
UBND Quận Hoàng Mai 54Hình 2.4: Quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên
thông tại UBND Quận Hoàng Mai 55
Hình 2.5: Kết quả đánh giá về thái độ phục vụ, giao tiếp và trình độ chuyên
môn của cán bộ công chức quận Hoàng Mai 62Hình 2.6: Kết quả khảo sát về cách thức, phương pháp làm việc của công
chức bộ phận một cửa 63
Trang 10PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong thời đại hiện nay, CCHC luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu – được coi như là động lực quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của các quốc gia, đặc biệt ở các nước đang phát triển Tại Việt Nam, trong những năm vừa qua, CCHC nói chung và cải cách TTHC nói riêng luôn là một trong những nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng CCHC ở Việt Nam được triển khai trên nhiều nội dung như: cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC; cải cách tài chính công và hiện đại hóa nền hành chính, trong đó cải cách TTHC là khâu quan trọng và được đặt ra ngày từ đầu của tiến trình cải cách
TTHC là một loại quy phạm pháp luật quy định trình tự về thời gian, không gian khi thực hiện một thẩm quyền nhất định của bộ máy Nhà nước; là cách thức giải quyết công việc của các cơ quan Nhà nước trong mối quan hệ
với các cơ quan, tổ chức và cá nhân công dân.Với mục đích đơn giản, công khai và minh bạch TTHC nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã
hội, nhiều năm qua, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản, nghị quyết về cải cách TTHC trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức, thực
hiện đơn giản hóa TTHC, tạo sự chuyển biến rõ rệt trong việc xây dựng và hoàn thiện thể chế
Hiện nay, trong cả nước nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng, tại
các cơ quan QLNNđ ặc biệt là UBND các cấp, hoạt động của mô hình “một
c ửa” hay “một cửa liên thông” trong cải cách TTHC đã và đang được đẩy
mạnh Hòa chung vào công cuộc cải cách TTHC trong cả nước và các địa phương trong toàn thành phố Hà Nội, UBND Quận Hoàng Mai cũng đã tiến hành triển khai cơ chế “một cửa - một cửa liên thông” tại cấp Quận vào tháng
11/2004 Bộ phận “Tiếp nhận và trả kết quả” của UBND Quận đãhoạt động
Trang 11độc lập và mang lại những hiệu quả nhấtđịnh, được nhân dân trên địa bàn đồng thuận và ủng hộnhư:TTHC đã được công khai, giảm đáng kể tình trạng gây phiền hà, sách nhiễu tổ chức, công dân, doanh nghiệp; tinh thần, trách nhiệm, năng lực chuyên môn của cán bộ, công chức được nâng lên đáng kể
Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập, TTHC
mặc dù đã được công khai song vẫn còn rườm rà, chồng chéo, trùng lặp; chưa ban hành kịp thời các văn bản gây khó khăn cho công dân trong quá trình giải quyết công việc Những hạn chế này, cần phải được khắc phục kịp thời để phù
hợp với những thay đổi của thực tiễn địa phương cũng như tình hình phát triển kinh tế - xã hội của cả thành phố Hà Nội Xuất phát từ những lý do nêu trên, học viên chọn vấn đề: “Cơ chế thủ tục hành chính một cửa tại Ủy ban
nhân dân qu ận – từ thực tiễn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội” làm luận
văn tốt nghiệp của chương trình Thạc sĩ Luật Hiến pháp - Luật Hành chính tại
Học viện Hành chính Quốc gia
2 Tình hình nghiên c ứu có liên quan đến đề tài luận văn
Trong quá trình triển khai luận văn, học viên đã tìm hiểu và nghiên cứu
rất nhiều các tài liệu có liên quan, ở nhiều cấp độ khác nhau như: bài viết đăng trên tạp chí, sách chuyên khảo, đề tài khoa học, luận văn, luận án… Về
cơ bản, các tài liệu này chia thành 2 nhóm chủ đề: (1) Nhóm công trình nghiên cứu về thủ tục hành chính; (2) Nhóm công trình nghiên cứu về cơ chế
một cửa, một cửa liên thông Dưới đây là một số các tài liệu tiêu biểu:
- Giáo trình “Hành chính học đại cương” (2007) – Học viện Hành chính
Quốc gia Có thể khẳng định đây là công trình khoa học nghiên cứu những
vấn đề lý luận cơ bản về nền hành chính, về cấu trúc của nền hành chính và
những vấn đề liên quan, như kiểm tra, giám sát hành chính, thông tin trong
hoạt động quản lý hành chính, vấn đề CCHC Sách đã dành một chương nghiên cứu những vấn đề lý luận về TTHC, như khái niệm, ý nghĩa của
Trang 12TTHC, phân loại TTHC, các nguyên tắc xây dựng và thực hiện TTHC và vấn
đề cải cách một bước TTHC ở Việt Nam hiện nay Từ quan niệm chung “thủ
tục là phương cách giải quyết công việc theo một trình tự nhất định” các tác
giả cuốn sách đã đi tới quan niệm tổng quát về TTHC, khẳng định “TTHC là trình tự về thời gian, không gian và là cách thức giải quyết công việc của cơ quan HCNNtrong mối quan hệ vớicơ quan, tổ chức, cá nhân công dân”, “là
một loại hình quy phạm hành chính” Giáo trình cũng xây dựng, phân tích các tiêu chí phân loại TTHC, các nguyên tắc xây dựng và thực hiện TTHC, vai trò
của TTHC và vấn đề cải cáchTTHC
- Giáo trình Lu ật Hành chính Việt Nam- Đại học Luật Hà Nội 2012
Giáo trình đã xác định TTHC là một chế định thuộc phần chung của ngành
luật hành chính, với những nội dung lý luận khá nhất quán trên những vấn đề
về khái niệm, đặc điểm của TTHC, phân loại TTHC, các nguyên tắc xây dựng
và thực hiện TTHC Trên cơ sở kế thừa những tri thức lý luận của những giáo trình của các cơ sở đào tạo luật khác, đồng thời tổng kết thực tiễn thực hiện Nghị định 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát TTHC, các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế giải quyết TTHC cho cá nhân, tổ chức, các tác giả đã quan niệm “TTHC là cách thức tiến hành
hoạt động quản lý hành chính nhà nước, được QPPL hành chính quy định, trong đó xác định rõ các việc cụ thể, yêu cầu, điều kiện đối với những việc ấy cũng như trình tự thực hiện mà các cơ quan nhà nước, CBCC nhà nước, các
cá nhân, tổ chức có liên quan phải tuân thủ” Với quan niệm ấy, TTHC là cách
thức thực hiện hoạt động quản lý HCNN, cũng là cách thức thực hiện quyền hành pháp do nhân dân ủy nhiệm cho cơ quan hành chính, đồng thời là cách
thức phục vụ nhân dân của nền hành chính nhằm đáp ứng tốt nhất các yêu cầu
về vật chất, tinh thần của nhân dân Các tác giả giáo trình cũng nhấn mạnh: Trong nhà nước pháp quyền XHCN, TTHC - về bản chất, là “tổng hòa của
Trang 13nhiều thuộc tính, trong đó tính hợp lý, đơn giản, chặt chẽ và tính phục vụ là
những thuộc tính quan trọng nhất, thể hiện tập trung trong việc xây dựng và
thực hiện TTHC giải quyết các công việc của cá nhân, tổ chức” Giáo trình đã xác định các nguyên tắc quan trọng trong thực hiện TTHC, trong đó có nguyên tắc công khai, minh bạch, nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quy định TTHC vàcủa cơ quan, CBCC tham gia thực hiệnTTHC
Bên cạnh các giáo trình, đã có một loạt các công trình khoa học được
công bố dưới hình thức các sách chuyên khảo, các đề tài khoa học các cấp, các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến cải cáchTTHC, cơ chế một cửa, một cửa liên thông… đồng thời đề cập đến cả vấn đề cải cách bộ máy hành chính, xây dựng đội ngũ CBCC hành chính, nhận thức của Đảng về CCHC
- Đặc san của Tạp chí Đầu tư nước ngoài, với tiêu đề “Chung tay cải cách
TTHC”(2013).Đặcsanđăngtảinhiềubàiviếtvềkếtquảnghiêncứuthựctiễncảicách
và thực hiện TTHC, trong đó có bài viết của Nguyễn Minh Mẫn về “Cách làm
mới thể hiện quyết tâm chính trị”; bài “Mấu chốt thành công là từ người đứng đầu”, tác giả Đinh Văn Ân; bài “Chính phủ cần tiếp tục điều hành trực tiếp”, tác giả Lê Quốc Ân; bài “Máy xén phải đủ mạnh”, tác giả Dương Thu Hương; bài “Ba được hai chưa”, tác giả Nguyễn Đình Cung; bài “Phải gỡ từ gốc
những xung đột giữa các luật”, tác giả Trần Du Lịch… Đặc biệt, Đặc san cũng đăng tải nhiều bài viết về những thành công, những khó khăn, vướng mắc trong cải cách và thực hiện TTHC ở một số địa phương, ngành KT-XH, như
“Hà Nội- hiệu quả và quyết tâm cải cách”, của tác giả Hiếu Chi; “Thành phố
Hồ Chí Minh - Hiệu quả kinh tế - chính trị thiết thực” của tác giả Hoài Nam;
“Bắc Ninh và cuộc tổng động viên cho cải cách” của tác giả Hoài Ngân; “Đề
Trang 14án 30 và Tập đoàn Dầu khí quốc gia” của tác giả Đinh La Thăng; bài “Gỡ rối
thủ tục xây dựng” của Nguyễn Long; bài “Các hiệp hội muốn tăng cường đối thoại”, khảo sát của Hội đồng Tư vấn thuộc Ban Chỉ đạo Đề án 30; “Tân Cảng Sài Gòn - Hiệu quả lớn từ đơn giản TTHC” của ĐinhMạnh,…
- “Sổ tay nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính” (2012)– Bộ Tư pháp
Mặc dù tên gọi là sổ tay nghiệp vụsong cuốn sách có giá trị lý luận và thực
tiễn quan trọng, trong đó đã trình bày những vấn đề lý luận về kiểm soát TTHC, về sự tham gia ý kiến đối với quy định về TTHC, tính toán chi phí xây
dựng và thực hiện TTHC, công bố công khai TTHC, rà soát quy định TTHC,
vấn đề tiếp cận, xử lý phản ánh, kiến nghị, kiểm tra việc thực hiện TTHC, và đặc biệt là vấn đề quản lý và sử dụng cán bộ đầu mối kiểm soát TTHC Có thể
khẳng định cuốn sách là cơ sở quan trọng cho luận văntham khảo trong các nghiên cứu việc thực hiện và kiểm soát TTHC của chính quyền địa phươngở
Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng
Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu rất có giá trị khác liên quan đến CCHC và TTHC như:
- Cuốn sách “Cải cách hành chính Việt Nam: hiểu và nghĩ, nói và làm”
– Quỹ ActionAid (Tháng 8/2010)
- Luận văn thạc sĩ “Thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa,
m ột cửa liên thông qua thực tiễn quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội” –
Lưu Xuân Trịch, Đại học Quốc gia Hà Nội (2016)
- Luận văn thạc sĩ ”Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa
t ại cơ quan hành chính Nhà nước địa phương (qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang)”
– Lương Thị Phương Thúy (2010)
- Luận án tiến sĩ luật “Thực hiện pháp luật về giải quyết thủ tục hành
chính của cơ quan nhà nước cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay” – Nguyễn Văn
Linh (2015)
Trang 15Như vậy, nghiên cứu về cơ chế, thủ tục hành chính một cửađã được khai thác tương đối nhiều,và trong thời gian dài Các kết quả nghiên cứu trên
có giá trị tham khảo bổ ích cho việc thực hiện luận văn của học viên, đặc biệt
là những đánh giá về các cơ chế giải quyết thủ tục hành chính một cửa, những
ưu điểm, hạn chế và khó khăn, vướng mắc của việc thực hiện các cơ chế ấy trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính Song, cho đến nay theo tầm
hiểu biết của học viên, chưa có đề tài khoa học, bài viết, luận văn luậnán nào nghiên cứu vềthực tiễn triển khai cải cáchthủ tục hành chính theo cơ chế
một cửa tạiUBND Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
3 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 M ục đích nghiên cứu:
Hoàn thiện cơ chế, thủ tục hành chính một cửa tạiUBND cấp huyện
nhằm thực hiện mục tiêu cải cách hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công tại cơ quan hành chính công cấp quận, huyện
3.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu:
+ Hệ thống hóa khung lý thuyết về cơ chế, thủ tục hành chính một cửa
và hệ thống văn bản pháp lý có liên quan
+ Phân tích vàđánh giá thực trạng về cơ chế, thủ tục hành chính một
cửa thông qua thực tiễn UBND Quận Hoàng Mai, chỉ ra những kết quảđạt được, những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những hạn chếđó
+ Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại UBND Quận Hoàng Mai, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính một cửa tại UBND cấp quận, huyện nói chung trên địa bàn thành
phố Hà Nội và UBND Quận Hoàng Mai nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Trang 16Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là cơ chế, thủ tục hành chính
một cửaở UBND cấp huyện: lý thuyết và thực tiễn
4.2 Ph ạm vi nghiên cứu:
+ Ph ạm vi về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động của
Bộ phận “Tiếp nhận và trả kết quả” thực hiện giải quyết thủ tục hành chính
theo cơ chế “Một cửa - Một cửa liên thông”
+ Ph ạm vi về không gian: tại UBND cấp huyện, nghiên cứu cụ thể tại
quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
+ Ph ạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn thực thi thủ tục
hành chính một cửa trong giai đoạn 5 năm từ 2012 đến 2016, và định hướng
giải pháp có tầm nhìn đến 2020
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận, luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp
luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, về quản lý nhà nước; các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam, của Nhà nước ta về CCHC; quan điểm khoa học của các nhà khoa học ở trong và ngoài nước về CCHC, cải cách TTHC
Về phương pháp nghiên cứu, để thực hiện nhiệm vụ đặt ra của luận
văn, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: Phương pháp phân tích, so sánh, diễn giải, quy nạp; phương pháp thống kê số liệu và đặc biệt phương pháp khảo sát.Luận văn đã thực hiện khảo sát, lấyý kiến của
cá nhân, tổ chứcmột cách ngẫu nhiên trên địa bàn Quận Hoàng Mai nhằmthu thập nhữngđánh giá khách quan về kết quả thực hiện thủ tục hành chính theo
cơ chế một cửa tại UBND quận Tổng số phiếu phát ra là 100 phiếu, tổng số phiếu thu về là 96 phiếu, thời gian lấy ý kiến từ tháng 6-8/2017 Kết quả khảo sát được sử dụng để đánh giá kết quả và những hạn chế trong cơ chế thủ tục
Trang 17hành chính một cửa tại UBND Quận Hoàng Mai đề cập đến trong chương 2 của luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 V ề mặt lý luận:
Luận văn góp phần làm sáng tỏ, bổ sung khung lý thuyết về thủ tục hành chính, về cơ chế một cửa, một cửa liên thông cũng như hệ thống hóa các văn bản pháp lý có liên quan
6.2 V ề mặt thực tiễn:
Luận văn nghiên cứu, đánh giá một cách tương đối toàn diện và chi tiết
thực trạng thủ tục hành chínhtheo cơ chế một cửa tại quận Hoàng Mai, những nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thực thi thủ
tục hành chính một cửa tại UBND quận Trên cơ sởđó, luận văn đề xuất một
hệ thống giải pháp mang tính tổng thể từ cơ chế bộ máy, đội ngũ CBCC đếnkinh phí, cơ sở vật chất nhằm nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành chính thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại quận Hoàng Mai nói riêng và là giải pháp cho cải cách thủ tục hành chính đối với cấp quận, huyện
của Thủđô Hà Nội
7 K ết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về cơ chế thủ tục hành chính một cửa tại Ủy ban nhân dân cấp huyện
Chương 2: Thực trạng cơ chế thủ tục hành chính một cửa tại Ủy ban nhân dân Quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện cơ chế thủ tục hành chính một cửa tại Ủy ban nhân dân Quận – từ thực tiễn Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CƠ CHẾ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH MỘT
CỬA TẠI ỦY BAN NHÂN DÂNCẤP HUYỆN 1.1 Khái quát v ề thủ tục hành chính
1.1.1 Khái ni ệm, đặcđiểmthủ tục hành chính
1.1.1.1 Khái niệm thủ tục hành chính
Để hiểu rõ khái niệm TTHC, cần phải làm rõ một khái niệm tổng quát hơn
đó là khái niệm thủ tục Về mặt thuật ngữ, nghĩa của từ thủ tục được các từ điển
giải thích nhưng có sự khác biệt nhất định Từ điển Hán - Việt của Giáo sư Đào Duy Anh quan niệm “thủ tục là cáctrình tự và phương pháp làm việc” Từ điển Bách khoa Việt Nam thủ tục được hiểu là “cách thức đã định để thực hiện một
hoạt động” Từ các quan niệm trên có thể thấy ở góc độ chung nhất, thủ tục bao
gồm hai yếu tố cơ bản là trình tự và cách thức, trong đó trình tự xác định quy trình, tức là trật tự các bước, các giai đoạn tiến hành công việc; cách thức xác định phương pháptiến hành các công việc, gắn với những hoạt động cụ thể
Các hoạt động của cơ quan nhà nước, trong đó có các hoạt động quản lý HCNN đều được diễn ra phổ biến với nhiều hành vi (hoạt động) kế tiếp nhau,
với trình tự thời gian và những công việc cụ thể, xác định, theo những thủ tục
nhất định Như vậy, trình tự là yếu tố quan trọng và không thể thiếu của thủ tục nói chung và của TTHC nói riêng.Tuy nhiên, trình tự mới chỉ là yếu tố có tính hình thức, để trình tự được tôn trọng và thực hiện thì đòi hỏi phải có cách thức phù hợp Cách thức để tiến hành các hoạt động có ý nghĩa rất quan trọng, nhưng
nó chỉ có thể đạt được hiệu quả khi được áp dụng một cách đúng đắn, theo
những trình tự và thời gian nhất định Nói cách khác, trình tự và cách thức thực
hiện cáchoạt động cụ thể nhằm đạt được mục đích đặt ra là hai mặt có mối quan
hệ mật thiết với nhau của thủtục
Trang 19Khái niệm thủ tục là khái niệm cơ bản cho phép đi sâu nghiên cứu khái
niệm thủ tục trên các lĩnh vực cụ thể, trong đó có khái niệm TTHC Khái
niệm TTHC đã được đề cập trong các giáo trình giảng dạy của các cơ sở đào
tạo về luật, về hành chính và QLNN Nhìn chung, trong các giáo trình này đều
có một điểm chung là coi TTHC là một chế định độc lập của ngành luật hành chính, baogồm các quy phạm hình thức, đồng thời đều giải thích TTHC là trình tự và cách thức tiến hành các hoạt động quản lý HCNN Tuy nhiên, về
nội hàmvà cách thể hiện khái niệm TTHC trong mỗi giáo trình cụ thể vẫn có
những khác biệt nhất định Ví dụ, Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam
(2011) , NXB Đại học Quốc gia,của Khoa Luật Đại học Quốc gia quan niệm:
“Bộ phận những thủ tục của hoạt động quản lý được luật hành chính quy định
gọi là TTHC… Là trình tự và cách thức thực hiện những hành động nhất định
nhằm đạt tới những hệ quả pháp lý mà phần quy định của quy phạm vật chất
dự kiến trước” [13, tr.67] Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam (2008), NXB
Công an nhân dântrang của Đại học Luật Hà Nội quan niệm: “TTHC là cách
thức tổ chức thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước được quy định trong các quy phạm pháp luật hành chính, bao gồm trình tự, nội dung, mục đích, cách thức tiến hành các hoạt động cụ thể trong quá trình giải quyết các công việc của quản lý hành chính nhà nước” [12, tr.141-142] Trong giáo
trình “Hành chính học đại cương” (2007), NXBChính trị Quốc gia Hồ Chí Minhc ủa Học viện Hành chính Quốc gia, khái niệm TTHC được trình bày
một cách cụ thể hơn: “TTHC là trình tự về thời gian, không gian và là cách
thứcgiải quyết công việc của cơ quan hành chính nhà nước nhà nước trongmối quan hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân công dân Nó được đặt ra để các cơ quan nhà nước có thể thực hiện một hình thức hoạt động cần thiếtcủa mình, trong đó bao gồm cả trình tự thành lập các công sở, trình tự bổ nhiệm, bãi nhiệm, trình
tự điều hành, tổ chức các hoạt động tác nghiệp hành chính” [14]
Trang 20Từ các phân tích trên cho thấy, quan niệm về TTHC về cơ bản đã có sự thống nhất, mà cụ thể là đã có sự thống nhất về những yếu tố tạo thành TTHC,
về những đặc điểm chung của TTHC Tuy nhiên các quan niệm trên còn có hạn chế là chưa đề cập hoặc đề cập chưa rõ những yêu cầu mới đối với TTHC trong cải cách TTHC hiệnnay, và trong mối quan hệ giữa cải cách TTHC với cải cách nền hành chính trong quá trình chuyển từ nền hành chính cai trị sang nền hành chính phục vụ, với việc xác định cải cách TTHC là khâu đột phá của quá trình đó Vì vậy, bên cạnh những yếu tố, đặcđiểm chung mang tính truyền thống, quan niệm TTHC cần được hoàn thiện nhằm đáp ứng những yêu cầu của cải cách hành chính, tăng cường tính hợp lý, công khai, minh bạch của TTHC, làm cho nó thực sự là công cụ để các cơ quan, tổ chức và cá nhân sử dụng, tham gia tích cực vào các giao dịch hành chính, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Trên cơ sở kế thừa các yếu tố hợp lý trong các quan niệm về TTHC như
đã phân tích ở trên, tác giả Luận văn quan niệm về TTHC như sau: TTHC là
trình tự và cách thức do quy phạm pháp luật hành chính quy định để các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền hành chính tiến hành các hoạt động nhằm ổn định tổ chức và trật tự quản lý nội bộ hoặc để các chủ thể này tổ chức cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện những hoạt động cụ thể trong quá trình quản lý HCNN, cung cấp các dịch vụ công và thực hiện các giao dịch hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý HCNN, phục vụ xã hội
và nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích của nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân
TTHC giải quyết các công việc liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức được quan niệm chính thức tại Nghị định số 63/2010/NĐ-CPcủa Chính phủ, là “trình tự, cách thức thực hiện hồ sơ và yêu
cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải
Trang 21quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức”(khoản 1 Điều 3)
Cũng tại văn bản này, tại khoản 2 Điều 8 đã xác định những bộ phận cơ bản tạo thành một TTHC hoàn chỉnh, gồm: 1) tên TTHC; 2) trình tự thực hiện; 3) cách thức thực hiện; 4) hồ sơ; 5) thời gian giải quyết; 6) đối tƣợng thực hiện TTHC; 7) cơ quan thực hiện TTHC; 8) kết quả thực hiện TTHC; 9) các bộ phận khác nếu có, nhƣ mẫu đơn, mẫu tờ khai, mẫu kết quả thực hiện, phí, lệ phí…
Trang 22Ba là, đối tượng của TTHC rất rộng, phức tạp, phong phú và đa dạng, baogồm nhiều mối quan hệ, nhiều loại vấn đề, vụ việc khác nhau, diễn ra trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Vì vậy, TTHC cũng rất phong phú, đa dạng; có những thủ tục phức tạp, nhưng cũng có những thủ tục đơn giản; có những thủ tục chung nhưng cũng có nhiều các thủ tục có tính chất chuyên biệt, chuyên ngành Với đặc điểm này các TTHC không những phải đáp ứng những yêu cầu về tính thống nhất, đồng bộ, ổn định, công khai, minh bạch đồng thời phải có tính linh hoạt, kịp thời, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, phải thuận tiện và có tính khả thi cao
Bốn là, chỉ có cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền được pháp luật
hành chính quy định mới là chủ thể có chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm giải quyết TTHC Đặc điểm này của TTHC được biểu hiện rõ trong các quá trình giải quyết các TTHC phát sinh trong nội bộ cơ quan nhà nước, giữa các cơ quan, người cóthẩm quyền với công chức trong bộ máy nhà nước cũng như trong mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước, công chức với tổ chức, cánhân
Năm là, các quy phạm pháp luật quy định TTHC là các quy phạm pháp
luật hình thức, vì vậy chúng có những đặc điểm riêng so với các quy phạm pháp luật nội dung, nhưng giữa chúng có mối quan hệ mật thiết và tương tác mạnh mẽ với nhau Trong mối quan hệ đó, các quy phạm pháp luật nội dung
là chuẩn mực chung đểcác chủ thể sử dụng khi tham gia vào các quan hệ pháp
luật, các giao dịch hành chính; các cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng để đưa ra các kết luận hoặc quyết định trong quá trình giải quyết TTHC Quy phạm pháp luật hình thức xác định trìnhtự, cách thức để các chủ thể pháp luật tiến hành các hoạt động trên cơ sở áp dụng một cách đúng đắn các quy định của quy phạm pháp luật nộidung
Trang 231.1.2 Vai trò c ủa thủ tục hành chính
Trong quản lý hành chính nhà nước và đời sống xã hội, TTHC có vai trò rất quan trọng:
Thứ nhất, Quy định TTHC là một bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện
các quy định nội dung Quy định TTHC là một bộ phận quan trọng của quy phạm pháp luật hành chính, là phương tiện để đưa các quy phạm nội dung của Luật Hành chính và một số ngành luật khác vào cuộc sống Quy phạm nội dung quy định các nguyên tắc quản lý, thẩm quyền của cơ quan quản lý HCNN, quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức… và quy phạm TTHC chỉ
ra cách thức cụ thể để thực hiện các nội dung đó Ví dụ: từ quy phạm nội dung về khai sinh: trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch; cha mẹ, ông bà, hoặc những người thân thích khác có trách nhiệm đi khai sinh cho trẻ
em, pháp luật hộ tịch quy định thủ tục “Đăng ký khai sinh” để bảo đảm thực hiện quyền khai sinh của trẻ em
Thực tế, người dân quan tâm nhiều đến quy định TTHC vì quy định TTHC buộc họ phải biết và chấp hành khi có yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan hành chính giải quyết một công việc hành chính cụ thể liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ Đây cũng chính lý do để các cơ quan có thẩm quyền đặt ra vấn đề hoàn thiện hệ thống quy phạm TTHC
Thứ hai,Quy định TTHC trực tiếp liên quan đến việc thực hiện thẩm
quyền của các chủ thể quản lí HCNN và việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của
cá nhân, tổ chức Mỗi một quy định TTHC đều có sự hiện hữu của hai nhóm chủ thể: cơ quan có thẩm quyền giải quyết và cá nhân, tổ chức tham gia Cơ quan có thẩm quyền giải quyết được quyền nhân danh nhà nước buộc đối tượng tham gia phải tuân thủ quy định pháp luật, quy định TTHC … (tính chất mệnh lệnh phục tùng, bất bình đẳng trong quan hệ) Vì tính chất này mà
khi triển khai thực hiện TTHC rất dễ dẫn đến tình trạng nhũng nhiễu, ban
Trang 24phát, “xin – cho”… nhất là khi các quy định TTHC không đảm bảo rõ ràng, còn mập mờ, khó hiểu hoặc thiếu hợp lý, không phù hợp với thực tiễn cuộc sống… Có thể khẳng định quy định TTHC là một hiện hữu thực tế để minh chứng về giá trị hiệu lực của quy định pháp luật với đời sống dân sinh, phản ánh sống động về ý thức tuân thủ pháp luật và niềm tin của người dân đối với các cấp chính quyền
Thứ ba, Quy định TTHC chuẩn mực là cơ sở để đảm bảo chấp hành
nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản
lý HCNN Thông qua quy định TTHC chuẩn mực, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức có thẩm quyền và các tổ chức, cá nhân ở khu vực ngoài nhà nước
có thể kiểm tra, giám sát việc giải quyết TTHC của cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước; đồng thời thúc đẩy quá trình giải quyết công việc nhanh chóng, chính xác theo đúng pháp luật, góp phần chống tham nhũng, sách nhiễu nhân dân
Thứ tư, Quy định TTHC là biểu hiện trình độ văn minh trong tổ chức,
điều hành hoạt động quản lý của các cơ quan HCNN Do đó, TTHC chính là chất keo kết dính mọi yếu tố và sự vận hành của nền hành chính Chất lượng
và hiệu quả của TTHC liên quan đến chất lượng và hiệu quả giải quyết công việc của cơ quan HCNN và CBCC nhà nước, biểu hiện cụ thể qua các tiêu chí: giải quyết đúng quy định, giải quyết trong thời gian ngắn nhất (nhanh chóng, kịp thời) và mang lại sự hài lòng cho cá nhân, tổ chức có yêu cầu giải quyết TTHC
Thứ năm, Quy định TTHC có ảnh hưởng, tác động lớn đến các hoạt
động hợp tác kinh tế quốc tế và thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Bởi
vì hệ thống luật pháp và quy định TTHC thân thiện, phù hợp chính là yếu tố quan trọng để thu hút, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài, dòng vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
Trang 25Tóm lại, TTHC có ý nghĩa quan trọng trong quản lý HCNNvà đời sống
xã hội; nếu không thực hiện TTHC thì quyền lợi, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức cũng như nội dung chính sách có liên quan sẽ cơ bản chỉ trên “giấy tờ”, khó đi vào cuộc sống Vì vậy, việc kiểm soát chất lượng quy định TTHC ngay
từ khâu soạn thảo cũng như việc kiểm soát quá trình thực hiện sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao chất lượng văn bản QPPL và việc triển khai thực hiện TTHC nói riêng, thi hành pháp luật nói chung
1.1.3 Phân lo ại thủ tục hành chính
Phục vụ cho việc xây dựng và áp dụng TTHC một cách có hiệu quả thì
cần phân loại các TTHC một cách khoa học theo một số tiêu chí nhất định
Lợi ích của việc phân loại này là giúp cho người quản lý xác định được tính đặc thù của lĩnh vực mình phụ trách, từ đó đề ra những yêu cầu xây dựng cho lĩnh vực này những thủ tục cần thiết thích hợp, nhằm quản lý tốt những nhiệm
vụ, mục tiêu của QLNN Dưới đây là một số cách phân loại các TTHC theo các tiêu chí khác nhau
Th ứ nhất, căn cứ vào đối tượng quản lý của Nhà nước:
Các TTHC được xây dựng cho từng lĩnh vực QLNN và được phân loại theo cơ cấu, chức năng của bộ máy QLNN hiện hành Ví dụ:
- Thủ tục cấp giấy phép xây dựng
- Thủ tục đăng ký kinh doanh
- Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Thủ tục hộ tịch, hộ khẩu…
Thứ hai, căn cứ theo công việc của cơ quan Nhà nước:
Cách phân loại này, đơn giản có khả năng áp dụng rộng rãi Theo cách phân loại này, thủ tục hành chính bao gồm:
Trang 26- Thủ tục thông qua và ban hành văn bản: Thủ tục thông qua và ban hành quyết định hành chính, thủ tục thông qua và ban hành văn bản hành chính
- Thủ tục tuyển dụng cán bộ, công chức: thủ tục tuyển dụng cán bộ
quản lý, tuyển dụng cán bộ kỹ thuật, tuyển dụng nhân viên
- Thủ tục khen thưởng cán bộ, công chức
Đặc điểm của các thủ tục trên là chúng gắn liền với hoạt động cụ thể
của các cơ quan, phản ánh tính đặc thù trong quá trình vận dụng các thủ tục
đó vào thực tiễn Cách phân loại này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, giúp cho các chủ thể TTHC định hướng dễ dàng và chính xác hơn trong giải quyết các công việc có liên quan
Thứ ba, căn cứ theo chức năng chuyên môn:
Cách phân loại này thường được áp dụng trong các cơ quan có chức năng quản lý chuyên môn Các cơ quan chuyên môn thực hiện các hoạt động
của mình phải đảm bảo những thủ tục cần thiết theo yêu cầu chung của Nhà nước Theo cách phân loại này, có các loại thủ tục hành chính như sau:
- Thủ tục cung cấp các dịch vụ thông tin
- Thủ tục kiểm tra mức độ an toàn trong lao động
- Thủ tục hải quan…
Th ứ tư, căn cứ theo quan hệ công tác:
Cách phân loại này còn được gọi là phân loại theo tính chất quan hệ TTHC Theo cách phân loại này, có ba nhóm thủ tục sau đây:
- Thủ tục hành chính nội bộ: Thủ tục hành chính nội bộ là thủ tục thực
hiện các công việc nội bộ trong cơ quan nhà nước, trong hệ thống cơ quan nhà nước và trong bộ máy nhà nước nói chung TTHC nội bộ thường là thủ tục ban hành những quyết định chủ đạo, thủ tục ban hành quyết định quy phạm,
Trang 27thủ tục ban hành các quyết đinh cá biệt nội bộ, thủ tục khen thưởng kỷ luật,
thủ tục lập các tổ chức và thi tuyển, bổ nhiệm cán bộ nhà nước
- TTHC thực hiện thẩm quyền, hay TTHC liên hệ: Là thủ tục tiến hành
giải quyết các công việc liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; phòng ngừa, ngăn chặn, xử phạt các hành vi vi phạm hành chính; trưng thu, trưng mua các động sản và bất động sản của tổ chức và công dân khi nhà nước có yêu cầu giải quyết nhiệm vụ nhất định vì lợi ích cộng đồng Thủ tục này nói lên mối quan hệ pháp lý giữa quyền hạn và nhiệm vụ của cơ quan nhà nước và của công dân
- Thủ tục hành chính văn thư: Đây là những thủ tục liên quan đến toàn
bộ các hoạt động lưu trữ, xử lý, cung cấp công văn giấy tờ và đưa ra các quyết định dưới hình thức văn bản để phục vụ cho việc giải quyết một công việc
nhất định Loại thủ tục này có liên quan chặt chẽ với hoạt động văn thư và thường xuyên xảy ra trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước
Ngoài các cách phân loại trên, qua thực tiễn thực hiện TTHC ở các UBND cấp quận, việc phân loại TTHC còn có thể căn cứ vào các tiêu chí sau:
- Căn cứ vào thời gian giải quyết TTHCcó thể phân loại TTHC thực
hiện ngay trong ngày (cấp sao từ sổ gốc các giấy tờ hộ tịch, ), TTHC trả ngay khi tiếp nhận (như chứng thực bản sao từ bản chính) hay TTHC có thời gian
giải quyết qua ngày (như TTHC về cấp giấy phép xây dựng, cấp giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất) Cách phân loại này giúp cơ quan hành chính thực hiện xây dựng quy trình giải quyết và phân công cán bộ
tiếp nhận và thụ lý hồ sơ cho phù hợp
- Phân theo quy trình gi ải quyết, TTHC chia làm 2 loại: TTHC liên
thông theo chiều dọc, TTHC liên thông theo chiều ngang và TTHC liên thông
hỗn hợp Cách phân loại này giúp cho các cơ quan nhà nước phân công, phối
hợp trong việc thực hiện tốt các công việc của người dân
Trang 28- Phân theo m ức độ dịch vụ công trực tuyếnTTHC được quy định tại
Thông tư số 26/2009/TT-BTTTT ngày 31/7/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông Theo đó, TTHC được phân chia thành 4 mức độ: TTHC mức độ 1, TTHC mức độ 2, TTHC mức độ 3 và 4 Cách phân loại này nhằm giúp cơ quan nhà nước thực hiện việc ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách TTHC
Tóm lại, việc phân loại các TTHC như trình bày ở trên chỉ có ý nghĩa tương đối, rất nhiều trường hợp một loại TTHC này có thể xếp vào một loại khác do giữa chúng có những mặt tương đồng và xen kẽ nhau Ví dụ: Thủ tục đăng ký kinh doanh thuộc nhóm các TTHC được phân theo từng lĩnh vực
quản lý HCNN nhưng cũng có thể được xem là một loại thủ tục văn thư, vì nhà nước quy định để đăng ký cho một doanh nghiệp hoạt động, chủ doanh nghiệp phải có đủ một số giấy tờ cần thiết như: giấy tờ chứng thực cá nhân, danh sách thành viên, chứng chỉ hành nghề, văn bản xác nhận vốn pháp định
1.2 T ổng quan về cơ chế thủ tục hành chính một cửa tại ủy ban nhân dân
mécanisme của phương Tây Từ điển Le Petit Larousse (1999) giảng nghĩa
"mécanisme" là "cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau" Còn Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, 1996) giảng nghĩa
cơ chế là "cách thức theo đó một quá trình thực hiện".Nhiều tác giả cho rằng,
từ cơ chế được sử dụng trước hết trong ngành y khi đề cập đến cơ chế gây
Trang 29bệnh, sau đó dần được vận dụng sang lính vực quản lý kinh tế những năm 1970s Tuy nhiên, cho dù vận dụng vào lĩnh vực nào, các định nghĩa đều cho
thấy “cơ chế” được dùng với hàm ý chỉ hiện tượng ở trạng thái động chứ không phải ở trạng thái tĩnh.Bên cạnh đó, trong mục 1.1.1, luận văn đã phân tích và viện dẫn các tài liệu về quan niệm thủ tục hành chính, theo đó TTHC
là trình tự về thời gian, không gian và là cách thứcgiải quyết công việc của cơ quan hành chính nhà nước nhà nước trongmối quan hệ với cơ quan, tổ chức,
cá nhân công dân
Xét về mặt ngữ nghĩa, cơ chế là một khái niệm rộng hơn và bao hàm cả khái niệm thủ tục Tuy vậy, trong khuôn khổ luận văn, khi kết hợp cơ chế với
thủ tục trong cơ chế thủ tục hành chính, tác giả luận văn cho rằng trong trường hợp này, thuật ngữ cơ chế và thủ tục có ý nghĩa tương tự nhau và có
thể thay thể được cho nhau Vậy cơ chế thủ tục hành chính là cách thức hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước đã được qui trình hóa, trình tự hóavà
sắp xếp thành một hệ thống các bước theo một trật tự nhất định
1.2.1.2 Khái niệm cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”
TTHC là bộ phận cơ bản của thể chế HCNN, là công cụ của cơ quan HCNN sử dụng để giải quyết công việc cho công dân, tổ chức, là cơ sở để xác định tính hợp pháp của nền công vụ Do vậy, cải cách TTHC là điều kiện cần thiết để tăng cường củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, tăng cường sự tham gia QLNN của nhân dân Cải cách thủ tục được coi là khâu đột phá trong cải cách nền HCNN, nghĩa là để tạo sự chuyển động của toàn bộ hệ
thống nền hành chính quốc gia; TTHC là khâu được chọn đầu tiên, cải cách TTHC sẽ gây ra sự chuyển động của toàn bộ hệ thống khi bị tác động Để cải cách TTHC, một trong những cách thức hiệu quả nhất mà các quốc gia đều áp
dụng đó là xây dựng và thực hiện cơ chế “một cửa”
Trang 30Khái niệm cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” đã được đề cập đến
nhiều trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước kể từ khi bắt đầu quá trình cải cách thủ tục hành chính Và mặc dù các quy chế đã thay đổi nhiều lần, song về cơ bản, khái niệm của cơ chế này vẫn không thay đổi
Theo Điều 1 trong Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông
tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương định nghĩa như sau:
- Cơ chế một cửa: Cơ chế một cửa là cách thức giải quyết công việc của
cá nhân, tổ chức thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của một cơ quan HCNNtrong
việc công khai, hướng dẫn TTHC, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan HCNN
- Cơ chế một cửa liên thông: Cơ chế một cửa liên thông là cách thức
giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan HCNNcùng cấp hoặc giữa các cơ quan HCNNcác cấp trong
việc công khai, hướng dẫn TTHC, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một
cơ quan hành chính nhà nước
Trên thực tế, có các loại hình liên thông sau đây:
+ Liên thông giữa các cơ quan HCNNcùng cấp (liên thông ngang):
Giữa các cơ quan chuyên môn thuộc UBNDcấp huyện; giữa các cơ quan chuyên môn thuộc UBNDcấp huyện và cơ quan được tổ chức theo ngành dọc đặt tại huyện; giữa các cơ quan chuyên môn thuộc UBNDcấp tỉnh; giữa các
cơ quan chuyên môn thuộc UBNDcấp tỉnh và cơ quan được tổ chức theo ngành dọc đặt tại tỉnh
+ Liên thông giữa các cơ quan HCNNcác cấp (liên thông dọc): Giữa UBNDcấp xã và các cơ quan chuyên môn thuộc UBNDcấp huyện hoặc các cơ
Trang 31quan được tổ chức theo ngành dọc đặt tại huyện; giữa UBNDcấp xã và các cơ quan chuyên môn thuộc UBNDcấp tỉnh hoặc các cơ quan được tổ chức theo ngành dọc đặt tại tỉnh; giữa UBNDcấp huyện và các cơ quan chuyên môn thuộc UBNDcấp tỉnh hoặc cơ quan được tổ chức theo ngành dọc đặt tại tỉnh;
giữa cơ quan HCNNthuộc tỉnh và các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
1.2.1.3 Nguyên tắc thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông”
Việc thực thi cơ chế TTHC “một cửa”, “một cửa liên thông” chỉ có thể
phát huy hiệu quả và lợi ích nếu thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc dưới đây:
Th ứ nhất, Niêm yết công khai, đầy đủ, kịp thời các TTHC đã được
công bố tại Quyết định công bố của cấp có thẩm quyền theo quy định
Th ứ hai, Bảo đảm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện cho cá
nhân, tổ chức; việc yêu cầu bổ sung hồ sơ chỉ được thực hiện không quá một
lần trong suốt quá trình giải quyết hồ sơ tại một cơ quan chuyên môn
Th ứ ba, Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan HCNN trong
giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức
Th ứ tư, Việc thu phí, lệ phí của cá nhân, tổ chức được thực hiện theo
đúng quy định của pháp luật
1.2.2 M ục đích và lợi ích thực hiện cơ chế một cửa cấp huyện
1.2.2.1 Mục đích của việc thực hiện cơ chế một cửa cấp huyện
Việc thực hiện cơ chế một cửa nhằm những mục đích sau đây:
+ Đảm bảo thuận lợi nhất cho tổ chức và cá nhân, tạo sự thống nhất, đồng bộ và thông suốt trong quá trình giải quyết công việc cho cá nhân, tổ
chức
Trang 32+ Giúp cho việc giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức được nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo đúng pháp luật, chống phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực
của CBCC
+ Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, đáp ứng yêu cầu của nhân dân Đây là biện pháp nhằm đơn giản, công khai TTHC; quy trình giải quyết từng TTHC được thống nhất, mẫu hóa thống nhất trong cả nước các loại giấy tờ mà công dân hoặc doanh nghiệp cần phải làm khi có yêu cầu giải quyết các công việc
1.2.2.2 Lợi ích của việc thực hiện cơ chế một cửa cấp huyện
Hiện nay, cơ chế một cửa đã trở thành một trong những giải pháp hữu
hiệu đẩy nhanh tiến trình cải cách TTHC, tạo bước chuyển căn bản về việc đơn giản và minh bạch trong mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước với tổ chức
và công dân Người dân và doanh nghiệp chỉ phải liên lạc với một đầu mối duy nhất để hoàn thành mọi TTHC, được cấp mọi giấy tờ, quy định, chứng
chỉ,
Việc thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” đã góp phần sắp
xếp lại tổ chức bộ máy các cơ quan HCNN theo hướng gọn nhẹ, hoạt động có
hiệu lực, hiệu quả Góp phần lãm rõ trách nhiệm của bộ máy cơ quan HCNN các cấp trong giải quyết công việc liên quan đến tổ chức, công dân; đồng thời rút ngắn quy trình xử lý hồ sơ
Các qui định về TTHC được công khai, minh bạch hóa, giảm đáng kể
thời gian chờ đợi cho người dân, doanh nghiệp Giảm bớt gánh nặng cho CBCCcác cơ quan hành chính để họ tập trung vào các vấn đề mang tính chiến lược Giảm tối đa sự phiền hà cho tổ chức, công dân, góp phần chống tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng của một bộ phận cán bộ, công chức; tạo lòng tin
của người dân đối với cơ quan nhà nước, chuyển dần từ cơ chế xin - cho sang
cơ chế phục vụ
Trang 33Hơn nữa, cơ chế “một cửa” góp phần nâng cao chất lượng phục vụ của
cơ quan nhà nước, đảm bảo thuận tiện cho nhân dân, thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển Tạo thuận lợi để người dân tham gia giám sát và xây dựng chính quyền
1.2.3 Pháp lu ật về cơ chế thủ tục hành chính một cửa
Cơ chế “một cửa” về thực hiện TTHC trong việc giải quyết công việc
của công dân, tổ chức được đề ra đầu tiên ở Việt Nam trong lĩnh vực đầu tư
trực tiếp của nước ngoài tại Quyết định số 366/HĐBT ngày 7/11/1991 của
Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành chế độ thẩm định các dự án
có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài Cơ chế “một cửa” và “một cửa tại
ch ỗ” đã trở thành nguyên tắc trong hoạt động của các Ban quản lý các khu
công nghiệp, khu chế xuất từ thời điểm đó đến nay
Thực hiện Nghị quyết số 38/CP ngày 04/5/1994 của Chính phủ về cải cách một bước TTHCtrong giải quyết công việc của công dân và tổ chức, từ năm 1995 nhiều địa phương đã chủ động thí điểm thực hiện áp dụng cơ chế
giải quyết công việc theo mô hình “một cửa” hoặc “một cửa, một dấu”
Sau một thời gian thực hiện, Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ đã chỉ đạo Ban Thư ký tổ chức khảo sát và kiểm tra việc thực hiện thí điểm cơ chế “một cửa” tại một số tỉnh, thành phố để đề xuất phương án nhân rộng Tháng 6/2003, Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ đã
chỉ đạo Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính tổ chức hội nghị tổng kết thí điểm mô hình
“một cửa” Với kết quả đạt được sau thời gian thí điểm, Bộ Nội vụ đã được giao nhiệm vụ xây dựng quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan HCNNở địa phương Ngày 4/9/2003, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt tại Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg (gọi tắt là quyết định 181) Theo đó, cơ chế
“một cửa” được thực hiện đối với tất cả cấp tỉnh và cấp huyện từ 01/01/2004, đối với cấp xã từ ngày 01/01/2005
Trang 34Ba năm sau, căn cứ vào Quyết định số 94/2006/QĐ-TTg ngày 27 tháng
4 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2006 – 2010 và đề nghị của bộ trưởng Bộ Nội vụ, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22 tháng
6 năm 2007 về "Thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương" (gọi là quyết định 93)
Để nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người dân, doanh nghiệp, ngày 25 tháng 3 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg (gọi là quyết định 09) thay thế Quyết định số 93/2007/TTg ngày 22 tháng 6 năm 2007 về Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một
cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Quyết định 09
có những điểm mới so tiến bộ hơn với Quyết định số 93 như sau Thứ nhất,
Quyết định số 09/QĐ-TTg làm rõ khái niệm cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông; bổ sung khái niệm về Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, Bộ phận
tiếp nhận và trả kết quả hiện đại Thứ hai, Các nguyên tắc thực hiện cơ chế
một cửa, cơ chế một cửa liên thông bổ sung thêm 2 điểm mới là: Việc yêu cầu
bổ sung hồ sơ chỉ thực hiện không quá một lần trong suốt quá trình giải quyết
hồ sơ tại một cơ quan chuyên môn; Việc thu phí phí, lệ phí của cá nhân, tổ
chức được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.Thứ ba,Quy định về cơ
chế một cửa liên thông được thực hiện trong giải quyết thủ tục hành chính thuộc 5 lĩnh vực: Đầu tư, đất đai, đăng ký kinh doanh, cấp giấy phép xây dựng, tư pháp và các lĩnh vực khác tùy vào điều kiện của từng địa
phương.Thứ tư,Bổ sung quy trình thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa
liên thông; đồng thời bổ sung thêm trang thiết bị của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại (có phần cứng và phần mềm Một cửa điện tử theo quy định)…
Trang 35Ngoài ra, một số văn bản pháp lý cũng được ban hành về CCHC, trong
đó có đề cập đến cải cách TTHC và cơ chế một cửa, một cửa liên thông Cụ thể:
- Nghị quyết số30c/NQ-CP ban hành ngày 8/11/2011 của Chính phủ về Chương trình tổng thể CCHC Nhà nước giai đoạn 2011- 2020.Theo đó, chương trình CCHC trong giai đoạn này có những điểm thay đổi so với chương trình tổng thể cũ, đặc biệt là đã bóc tách lĩnh vực cải cách TTHC ra khỏi cải cách thể chế và đưa ra làm nhiệm vụ riêng Chương trình vẫn nhấn mạnh, cải cách TTHC tiếp tục được chú trọng vào việc đơn giản thủ tục và thực hiện cơ chế "một cửa", "một cửa liên thông" Tất cả các TTHC phải được thực hiện qua bộ phận "một cửa" để tạo điều kiện cho tổ chức, công dân khi giao dịch hành chính, cũng như hạn chế những tiêu cực khi làm thủ tục Đồng thời, xây dựng bộ chỉ số theo dõi, đánh giá CCHC ở các bộ, cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và UBND tỉnh, TP trực thuộc trung ương
- Quyết định số 225/QĐ-TTg ngày 04/02/2016 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt kế hoạch CCHC nhà nước giai đoạn 2016-2020
1.2.4 T ổ chức, hoạt động của cơ chế thủ tục hành chính một cửa cấp huy ện
Cơ chế thủ tục hành chính một cửa cấp Quận được thực hiện bởi bộ phận trung tâm đó là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả là đầu mối tập trung hướng dẫn thủ tục hành chính, tiếp nhận hồ sơ của cá nhân, tổ chức để chuyển đến các cơ quan chuyên môn hoặc cấp có thẩm quyền giải quyết và nhận, trả kết quả cho cá nhân, tổ chức Theo quy định hiện nay, Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại phải được trang thiết
bị điện tử và áp dụng phần mềm điện tử trong các giao dịch hành chính giữa
cá nhân, tổ chức với cơ quan hành chính nhà nước và giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau trong việc công khai, hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ để
Trang 36chuyển đến các cơ quan chuyên môn giải quyết và nhận, trả kết quả cho cá nhân, tổ chức theo cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông trên tất cả các lĩnh vực thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính nhà nước
Quy trình thực hiện cơ chế thủ tục hành chính một cửa được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1 Tiếp nhận hồ sơ
Cá nhân, tổ chức nộp hồ sơ trực tiếp tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hoặc nộp qua dịch vụ bưu chính, nộp trực tuyến ở những nơi có quy định nhận hồ sơ qua dịch vụ bưu chính, nhận hồ sơ trực tuyến;
Công chức tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả kiểm tra tính hợp lệ, đầy đủ của hồ sơ Trường hợp hồ sơ không thuộc phạm vi giải quyết thì hướng dẫn để cá nhân, tổ chức đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ thì hướng dẫn cụ thể theo quy định
Công chức tiếp nhận hồ sơ nhập vào Sổ theo dõi hồ sơ và phần mềm điện tử (nếu có); lập Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả theo mẫu
Đối với hồ sơ quy định giải quyết và trả kết quả ngay, không phải lập Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả: Công chức thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định và trả kết quả giải quyết hồ sơ cho cá nhân, tổ chức;
Đối với hồ sơ quy định có thời hạn giải quyết: Công chức lập Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả; thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định
và trả kết quả giải quyết hồ sơ cho cá nhân, tổ chức
Bước 2 Chuyển hồ sơ
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, công chức lập Phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ theo quy định Chuyển hồ sơ và Phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ cho cơ quan, tổ chức liên quan giải quyết Phiếu kiểm soát quá trình giải quyết hồ sơ được chuyển theo hồ sơ và lưu tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
Trang 37Bước 3 Giải quyết hồ sơ
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan, tổ chức phân công cán bộ, công chức giải quyết như sau:
Trường hợp không quy định phải thẩm tra, xác minh hồ sơ: Công chức thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định và chuyển kết quả giải quyết
hồ sơ cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả;
Trường hợp có quy định phải thẩm tra, xác minh hồ sơ: Công chức báo cáo người có thẩm quyền phương án thẩm tra, xác minh và tổ chức thực hiện Quá trình thẩm tra, xác minh phải được lập thành hồ sơ và lưu tại cơ quan giải quyết;
Đối với hồ sơ qua thẩm tra, xác minh đủ điều kiện giải quyết: Công chức thẩm định, trình cấp có thẩm quyền quyết định và chuyển kết quả giải quyết hồ sơ cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả;
Đối với hồ sơ qua thẩm tra, xác minh chưa đủ điều kiện giải quyết: Công chức báo cáo cấp có thẩm quyền trả lại hồ sơ kèm theo thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do, nội dung cần bổ sung Thời gian mà cơ quan, tổ chức
đã giải quyết lần đầu được tính trong thời gian giải quyết hồ sơ;
Các hồ sơ sau khi thẩm định không đủ điều kiện giải quyết, công chức báo cáo cấp có thẩm quyền trả lại hồ sơ và thông báo bằng văn bản nêu rõ lý
do không giải quyết hồ sơ Thông báo được nhập vào mục trả kết quả trong
Sổ theo dõi hồ sơ Thời hạn thông báo phải trong thời hạn giải quyết hồ sơ theo quy định;
Các hồ sơ quá hạn giải quyết: Cơ quan, tổ chức giải quyết hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả và văn bản xin lỗi cá nhân, tổ chức, trong đó ghi rõ lý do quá hạn, thời hạn trả kết quả
Trang 38Bước 4 Trả kết quả giải quyết hồ sơ
Công chức tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả nhập vào Sổ theo dõi hồ
sơ và phần mềm điện tử (nếu có) và thực hiện như sau:
Các hồ sơ đã giải quyết xong: Trả kết quả giải quyết hồ sơ cho cá nhân,
tổ chức và thu phí, lệ phí (nếu có); trường hợp cá nhân, tổ chức đã đăng ký nhận kết quả qua dịch vụ bưu chính thì việc trả kết quả, thu phí, lệ phí (nếu có) và cước phí được thực hiện qua dịch vụ bưu chính; nếu thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 thì việc trả kết quả và thu phí, lệ phí (nếu có) theo quy định;
Đối với hồ sơ chưa đủ điều kiện giải quyết: Liên hệ với cá nhân, tổ chức để yêu cầu bổ sung hồ sơ theo thông báo của cơ quan, tổ chức giải quyết
hồ sơ và văn bản xin lỗi của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả (nếu là lỗi của công chức khi tiếp nhận hồ sơ);
Đối với hồ sơ không giải quyết: Liên hệ với cá nhân, tổ chức để trả lại
hồ sơ kèm theo thông báo không giải quyết hồ sơ;
Đối với hồ sơ quá hạn giải quyết: Thông báo thời hạn trả kết quả lần sau và chuyển văn bản xin lỗi của cơ quan, tổ chức làm quá hạn giải quyết cho cá nhân, tổ chức;
Đối với hồ sơ giải quyết xong trước thời hạn trả kết quả: Liên hệ để cá nhân, tổ chức nhận kết quả;
Trường hợp cá nhân, tổ chức chưa đến nhận hồ sơ theo giấy tiếp nhận
hồ sơ và hẹn trả kết quả thì kết quả giải quyết hồ sơ được lưu giữ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
1.2.5 Các y ếu tố tác động đến hiệu quả cơ chế thủ tục hành chính một cửa
c ấp huyện
Thứ nhất, Năng lực nhận thức của chủ thể TTHC
Trang 39Bất kỳ một quan hệ xã hội nào cũng đòi hỏi có sự tham gia của các chủ
thể mối quan hệ đó Căn cứ vào dấu hiệu quyền lực, chủ thể của TTHC gồm
chủ thể thực hiện TTHC và chủ thể tham gia TTHC.Chủ thể thực hiện TTHC
là chủ thể sử dụng quyền lực nhà nước, nhân danh Nhà nước tiến hành các TTHC, bao gồm các cơ quan, cán bộ, công chức, tổ chức xã hội, cá nhân được Nhà nước trao quyền quản lý trong trường hợp cụ thể do pháp luật quy định Còn chủ thể tham gia TTHC là chủ thể phục tùng quyền lực nhà nước khi tham gia vào TTHC, bao gồm các cơ quan, tổ chức, cá nhân Việc phân chia thành hai nhóm chủ thể chỉ mang tính tương đối Tùy từng TTHC cụ thể mà xác định là chủ thể thực hiện TTHC hay chủ thể tham gia TTHC
Cơ quan HCNN là cơ quan có chức năng quản lý HCNN nên trong hầu
hết các hoạt động của mình, cơ quan HCNN nhân danh quyền lực nhà nước
thực hiện hoạt động quản lý Khi đó, cơ quan nhà nước chính là chủ thể thực
hiện TTHC Các chủ thể này thực hiện nhiều TTHC khác nhau TTHC sẽ không được thực hiện nếu không có các chủ thể tiến hành Nói cách khác, TTHC chỉ là những quy định trên giấy tờ khi không có chủ thể tham gia hay
chủ thể thực hiện Vì vậy, các chủ thể tham gia và thực hiện vào quá trình cải cách TTHC được nhận thức đầy đủ, sâu sắc và tầm quan trọng của công cuộc
cải cách TTHC thì sẽ có thái độ tích cực làm thúc đẩy quá trình cải cách nhanh chóng đạt được mục đích đặt ra Các nhóm chủ thể xác định được vai trò, vị trí, trách nhiệm và quyền lợi của mình khi tham gia TTHC sẽ làm quá trình giải quyết TTHC trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn Công cuộc cải cách TTHC muốn thành công đòi hỏi con người hay chủ thể thực hiện TTHC phải
nhận thức được tầm quan trọng của cải cách TTHC trong hệ thống hành chính, từ người đứng đầu các cơ quan, đơn vị đến đội ngũ cán bộ, công chức
tiếp xúc trực tiếp tới người dân và doanh nghiệp hay tổ chức Công cuộc cải cách TTHC sẽ không thể đạt được mục tiêu nếu chỉ có cơ quan hay đơn vị
Trang 40ban hành quy định TTHC hay cán bộ, công chức thực hiện TTHC hay chủ thể tham gia TTHC mà không đề cập tới người đứng đầu mỗi cơ quan, đơn vị có liên quan Trên thực tế, việc nâng cao ý thức phục vụ và chất lượng hoạt động
của đội ngũ cán bộ, công chức là yếu tố có tính quyết định Bởi vì, các chủ trương, biện pháp dù hay và thiết thực đến mấy mà đội ngũ cán bộ, công chức
giải quyết các TTHC không thực hiện hoặc thực hiện không nhiệt tình thì hiệu
quả của cải cách TTHC không được như mong muốn Cải cách muốn thành công thì trước hết nằm ở yếu tố con người Khi TTHC được rút gọn nhưng các loại phí “bôi trơn” vẫn còn thì TTHC vẫn chỉ là phương tiện để một số người trục lợi Do đó, cần giám sát thường xuyên, có hiệu quả đối với đội ngũ cán bộ, công chức trong tiếp nhận, xử lý công việc của cá nhân và tổ chức; thiết lập cơ chế giám sát từ bên trong, từ trên xuống dưới Từ những phân tích
ở trên, có thể khẳng định, con người vẫn là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới
hiệu quả chương trình cải cách TTHC theo cơ chế một cửa hiện nay
Thứ hai, hệ thống các quy định về TTHC
Theo đánh giá Chương trình đơn giản hóa TTHC của Việt Nam tại Hội
thảo ASEAN – OECD về cải cách quy định hành chính, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: “Chính phủ Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc cải thiện quản trị công, nâng cao chất lượng thể chế, kích thích năng lực cạnh tranh và tăng trưởng bình đẳng Rất ít quốc gia trên thế
giới thực hiện được chương trình cải cách có quy mô như Đề án 30”
(http://www.molisa.gov.vn)
Kết quả của Đề án 30 đã giúp Chính phủ nhận diện được khiếm khuyết,
bất cập của hệ thống các quy định về TTHC, đặc biệt là vấn đề chất lượng của các quy định này Đề án 30 cho thấy, có thể loại bỏ rất nhiều quy định hành chính là rào cản cho hoạt động kinh doanh và đời sống của nhân dân mà vẫn đảm bảo mục tiêu quản lý nhà nước Các quy trình xây dựng, ban hành các