1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC - NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG Y TẾ

20 13 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 4,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giúp các nhà khoa học trẻ, các bạn học viên sau đại học tiến hành đề tài nghiên cứu một cách khoa học, thống nhất góp phần phát hiện những vấn đề của hệ thống y tế Việt Nam giúp các n

Trang 1

NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC

GS.TS ĐÀO VĂN DŨNG

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC -

NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG Y TẾ

(Dùng cho học viên sau đại học)

NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC

Trang 3

NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC

LỜI NÓI ĐẦU

Trong quá trình đào tạo các bác sỹ đã nghiên cứu khá kỹ lưỡng các phương pháp nghiên cứu y học, cũng như các phương pháp Dịch tễ học và

Y tế Công cộng Tuy nhiên, trong nghiên cứu khoa học, các bác sỹ, các cán

bộ y tế còn gặp lúng túng trong thiết kế và tổ chức thực hiện một nghiên cứu khoa học cụ thể nói chung, nghiên cứu hệ thống y tế, nói riêng; trong viết luận văn, luận án tốt nghiệp đào tạo sau, trên đại học

Để giúp các nhà khoa học trẻ, các bạn học viên sau đại học tiến hành đề tài nghiên cứu một cách khoa học, thống nhất góp phần phát hiện những vấn

đề của hệ thống y tế Việt Nam giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng các mô hình y tế nước nhà một cách phù hợp nhất với tình hình thực tiễn và cách viết luận văn, luận án, đồng thời từ kinh nghiệm hướng dẫn học viên cao học và nghiên cứu sinh, từ kinh nghiệm của 5 lần biên soạn xuất bản cuốn: “Thiết kế nghiên cứu hệ thống y tế” và cuốn “Nghiên cứu hệ thống y

tế” chúng tôi biên soạn giáo trình “Phương pháp nghiên cứu khoa học -

nghiên cứu hệ thống y tế”

Cuốn sách gồm 14 bài kiến thức cơ bản, các phụ lục minh hoạ một số thiết kế nghiên cứu thường gặp:

Bài 1 Nhập môn phương pháp nghiên cứu khoa học;

Bài 2 Đại cương nghiên cứu hệ thống y tế;

Bài 3 Xác định vấn đề nghiên cứu hệ thống y tế;

Bài 4 Mục tiêu, giả thuyết và biến số nghiên cứu;

Bài 5 Loại hình nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu;

Bài 6 Kỹ thuật thu thập số liệu;

Bài 7 Kế hoạch thu thập và phân tích số liệu;

Bài 8 Phân tích số liệu định tính;

Bài 9 Chọn test thống kê trong phân tích số liệu;

Bài 10 Kế hoạch hoạt động và dự toán kinh phí;

Bài 11 Phổ biến và sử dụng kết quả nghiên cứu;

Trang 4

NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC

Bài 12 Đạo đức trong nghiên cứu y học;

Bài 13 Viết đề cương nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án y học; Bài 14 Quản lý công tác nghiên cứu khoa học y học tại đơn vị cơ sở Nghiên cứu khoa học, đặc biệt là nghiên cứu hệ thống y tế là một chỉnh thể không thể tách rời sự phát triển kinh tế - xã hội, do vậy, thiết kế nghiên cứu hệ thống y tế luôn luôn đòi hỏi sự linh hoạt, sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tiễn Để có được một cuốn sách hoàn chỉnh về nghiên cứu khoa học - nghiên cứu hệ thống y tế là một điều khó đối với chúng tôi, nên nhiều vấn đề trong cuốn sách này vẫn còn dưới dạng mở, mong được các bạn đọc

bổ sung hoàn thiện Chúng tôi hy vọng rằng, cuốn sách sẽ góp phần cung cấp cho bạn đọc một số kiến thức và thực hành cơ bản

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học GS.TS Trương Việt Dũng, GS.TS Lưu Ngọc Hoạt, PGS.TS Võ Văn Thắng và nhiều nhà khoa học khác đã cho phép chúng tôi sử dụng một phần nội dung các bài giảng đã được công bố trong các lần xuất bản của cuốn: “Thiết kế nghiên cứu hệ thống y tế” và cuốn “Nghiên cứu hệ thống y tế” cũng như ý kiến đóng góp của các bạn đọc gần xa, các bạn học viên cao học và nghiên cứu sinh sau các khóa học về nghiên cứu khoa học y học Chúng tôi mong tiếp tục nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng của đông đảo bạn đọc và học viên sau đại học

Xin trân trọng cảm ơn!

TÁC GIẢ

Trang 5

NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 3 Bài 1 Nhập môn phương pháp nghiên cứu khoa học 7 Bài 2 Đại cương nghiên cứu hệ thống y tế 21 Bài 3 Xác định vấn đề nghiên cứu hệ thống y tế 43 Bài 4 Mục tiêu, giả thuyết và biến số nghiên cứu 55 Bài 5 Loại hình nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu 65 Bài 6 Kỹ thuật thu thập số liệu 88 Bài 7 Kế hoạch thu thập và phân tích số liệu 133 Bài 8 Phân tích số liệu định tính 162 Bài 9 Chọn test thống kê trong phân tích số liệu 184 Bài 10 Kế hoạch hoạt động và dự toán kinh phí 205 Bài 11 Phổ biến và sử dụng kết quả nghiên cứu 210 Bài 12 Đạo đức trong nghiên cứu y học 236 Bài 13 Viết đề cương nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án y học 249 Bài 14 Quản lý công tác nghiên cứu khoa học y học tại đơn vị cơ sở 265 Phụ lục 1 Mẫu thiết kế nghiên cứu mô tả 286 Phụ lục 2 Mẫu thiết kế nghiên cứu bệnh chứng (case - control study) 291 Phụ lục 3 Mẫu thiết kế nghiên cứu thuần tập (Cohort study) 294 Phụ lục 4 Mẫu thiết kế nghiên cứu can thiệp 297 TÀI LIỆU THAM KHẢO 335

Trang 6

NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC

Trang 7

NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC

Bài 1 NHẬP MÔN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

MỤC TIÊU HỌC TẬP

1 Trình bày và phân tích được khái niệm khoa học;

2 Trình bày được khái niệm nghiên cứu khoa học và khoa học y học;

3 Phân tích được ý nghĩa của nghiên cứu khoa học trong y học;

4 Trình bày được khái niệm phương pháp nghiên cứu khoa học

1 KHÁI NIỆM KHOA HỌC

Khoa học có thể được định nghĩa theo nhiều cách tiếp cận tùy thuộc

mục đích sử dụng Theo tài liệu “Lý luận và phương pháp luận khoa học”

của Giáo sư Vũ Cao Đàm, khoa học được định nghĩa theo một số cách tiếp cận sau:

1.1 Khoa học là một hệ thống tri thức

Khoa học được hiểu là “hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy” Định nghĩa này được UNESCO sử dụng trong các văn kiện chính thức và cũng được thừa nhận chung trong giới nghiên cứu trên thế giới

Trong khái niệm này, hệ thống tri thức được hiểu là hệ thống tri thức khoa học Khoa học là một hệ thống tĩnh tại các tri thức, xem khoa học như một sản phẩm trí tuệ được tích luỹ từ trong hoạt động tìm tòi, sáng tạo của người nghiên cứu

Khi nói tri thức khoa học, các nhà nghiên cứu muốn phân biệt với tri thức kinh nghiệm Tri thức khoa học và tri thức kinh nghiệm có đặc điểm chung là đều dựa trên các sự kiện tồn tại khách quan, đều hướng tới nhận thức chân lý khách quan Tuy nhiên, giữa tri thức khoa học và tri thức kinh nghiệm có những điểm khác biệt dẫn tới những đặc trưng cơ bản của hoạt động khoa học Những đặc điểm khác biệt giữa hai loại tri thức có thể như sau:

Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích luỹ một cách rời rạc, thường là ngẫu nhiên từ trong đời sống hàng ngày.Con người cảm thấy thế giới khách quan từ khi chào đời, chịu sự tác động của thế giới khách quan,

Trang 8

NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC

buộc phải xử lý những tình huống xuất hiện trong tự nhiên, trong lao động

và trong ứng xử Từ quá trình cảm nhận và xử lý các tình huống của con người, những hiểu biết kinh nghiệm được tích luỹ chuyền dần từ những hiểu biết về từng sự vật riêng lẻ đến những mối liên hệ mang tính hệ thống Tri thức kinh nghiệm đóng vai trò quan trọng trong đời sống, nhờ tri thức kinh nghiệm, con người có được những hình dung thực tế về các sự vật, biết cách phản ứng trước tự nhiên, biết ứng xử trong các quan hệ xã hội

và cuối cùng, tri thức kinh nghiệm đã giúp con người giải quyết hàng loạt vấn đề nảy sinh trong tự nhiên, xã hội đề có thể tồn tại và phát triển

Tri thức kinh nghiệm ngày càng được đa dạng và phong phú thêm Chúng chứa đựng những mặt riêng biệt, đúng đắn, nhưng chưa thể đi sâu vào bản chất các sự vật và do vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ giúp cho con người phát triển đến một khuôn khổ nhất định, không thể vượt khỏi những giới hạn về mặt sinh học của chính mình Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm luôn là một cơ sở quan trọng, sơ khởi cho sự hình thành các tri thức khoa học

Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích luỹ một cách hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học được vạch sẵn theo một kế hoạch có mục tiêu xác định (khám phá, sáng tạo) và được tiến hành dựa trên một hệ thống phương pháp khoa học Tri khoa học được phát triển từ tri thức kinh nghiệm, nhưng không phải là sự kế tục giản đơn các tri thức kinh nghiệm Tri thức khoa học khác căn bản với tri thức kinh nghiệm chỗ, nó là sự tổng kết những tập hợp số liệu và sự kiện ngẫu nhiên, rời rạc để khái quát hoá thành những cơ sở lý thuyết những mối liên hệ bản chất Khi nói đến tri thức khoa học là nói đến những kết luận về quy luật tất yếu đã được khảo nghiệm kiểm chứng dựa trên những luận cứ lý thuyết, quan sát hoặc khảo nghiệm Tri thức khoa học không dừng lại ở việc phát triển sự kiện, mà còn

đi xa hơn trong việc giải thích các sự kiện bằng các giả thuyết, các cơ sở lý thuyết đã được hình thành hoặc đề ra những lý thuyết mới để giải thích các

sự kiện

Như vậy, khi nói đến một bài báo khoa học, một báo cáo khoa học hoặc một tác phẩm khoa học là nói đến một sản phẩm của quá trình nghiên cứu dựa trên một hệ thống tri thức khoa học được khảo nghiệm bằng các phương pháp khoa học và nhằm vào mục đích nhận thức khoa học về sự vật được xem xét Những sản phẩm này khác căn bản với một báo cáo nghiệp vụ, một tác phẩm văn học, nghệ thuật hoặc một văn bản pháp lý, là những sản phẩm của những hoạt động lao động hoàn toàn khác với những mục đích, phương pháp, hình thức thể hiện và chức năng xã hội hoàn toàn riêng biệt

Trang 9

NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC

1.2 Khoa học là một hình thái ý thức xã hội

Theo quan điểm triết học Marx, khoa học được hiều là một hình thái ý thức xã hội Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học tồn tại mang tính độc lập tương đối với các hình thái ý thức xã hội khác Khoa học phân biệt với các hình thái ý thức xã hội khác ở đối tượng và hình thức phản ánh và mang một chức năng riêng biệt Đây là một nhận thức có ý nghĩa quan trọng về phương pháp luận nghiên cứu khoa học, trong việc xử lý các mối quan

hệ phức tạp giữa khoa học với các hình thái ý thức xã hội khác nhau

Điều cần lưu ý đối với người nghiên cứu và người quản lý là, mỗi phát hiện mới về quy luật, hoặc sáng tạo mới các giải pháp đều hoàn toàn có khả năng làm xuất hiện những dị biệt với các hình thái ý thức xã hội khác, và

do vậy, phải chấp nhận sự va chạm với các định kiến xã hội, nếu như sự phát hiện hoặc sáng tạo đó khác biệt với một truyền thống tư duy, một tập tục dân tộc, một tín điều tôn giáo, hoặc một ý thức hệ chính trị Nhận thức này rất quan trọng về phương pháp luận nghiên cứu học, nhất là khoa học xã hội Nó đòi hỏi phải xem xét kỹ những kết luận của nghiên cứu khoa học, phải xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa các kết luận của nghiên cứu khoa học với tư duy truyền thống Có thể rơi vào một trong những tình huống sau:

- Kết luận của nghiên cứu khoa học là đúng, nhưng bối cảnh xã hội chưa cho phép ứng dụng;

- Kết luận của nghiên cứu khoa học có thể đúng trong bối cảnh xã hội này, nhưng lại không hoàn toàn phù hợp với một bối cảnh xã hội khác;

- Kết luận của nghiên cứu khoa học có thể có những điểm yếu, không phù hợp với quy luật vận động của thực tế xã hội

Sự dị biệt giữa một kết luận của nghiên cứu khoa học với các hình thái ý thức xã hội khác là một tồn tại khách quan Vì vậy, người nghiên cứu và người sử dụng kết quả nghiên cứu cần luôn phải xem xét (cũng với thái độ hết sức khách quan) mối quan hệ này Đây là một điều kiện quyết định để không dẫn tới những xung đột xã hội giữa khoa học với các hình thái ý thức xã hội khác, như những cuộc xung đột đã được biết đến trong lịch sử khoa học

1.3 Khoa học là một thiết chế xã hội

Đây là một khái niệm xã hội học về khoa học được một nhà nghiên cứu lịch sử khoa học Price đưa ra vào đầu thập niên 1970 trong cuốn sách

"Thuộc tính của khoa học” Price nói rằng “có lẽ khoa học sẽ là một thiết chế xã hội có ý nghĩa nhất trong hiện đại”

Trang 10

NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC

Trong xã hội học, thiết chế xã hội được hiểu là một hệ thống những quy tắc, giá trị và cấu trúc nhằm tới một mục đích xác định: “là một hệ thống các quan hệ ổn định, tạo nên một khuôn mẫu xã hội biểu hiện sự thống nhất được xã hội công khai thừa nhận nhằm thoả mãn các nhu cầu cơ bản của

xã hội”

Với tư cách là một thiết chế xã hội, khoa học đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực hoạt động xã hội và thực hiện những chức năng của một thiết chế

xã hội:

- Định ra một khuôn mẫu hành vi lấy tính khoa làm một thước đo: tác phong làm việc khoa học, tổ chức lao động theo khoa học, trình bày vấn đề một cách có căn cứ khoa học

- Luận cứ khoa học trở nên một đòi hỏi trong mọi quyết định trong sản xuất, kinh doanh, tổ chức xã hội Hàm lượng khoa học trong sản phẩm, trong công nghệ trở nên một tiêu chuẩn phấn đấu, xem đó như một phương

tiện giành thế mạnh cạnh tranh trên thị trường

- Khoa học ngày càng trở nên một phương tiện biến đổi tận gốc rễ mọi mặt của đời sống xã hội, hơn nữa, một nguyên tắc làm việc, một phong cách ứng xử trong đời sống xã hội

Khái niệm xã hội học xem khoa học là một thiết chế xã hội có một ý nghĩa rất quan trọng đối với người nghiên cứu trong quá trình lựa chọn phương hướng nghiên cứu, đồng thời cũng có ý nghĩa quan trọng liên quan đến việc hoạch định chính sách đối với nghiên cứu khoa học, định hướng chính sách hỗ trợ những nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực cho sự phát triển

xã hội

1.4 Khoa học là một hoạt động xã hội

Khoa học ngày nay đã trở nên một hoạt động nghề nghiệp của một cộng đổng xã hội Đó là một dạng hoạt động xã hội đặc biệt, với một đặc điểm khó tìm thấy trong những lĩnh vực hoạt động xã hội khác Đó là việc tìm kiếm những điều chưa biết và phải chịu nhiều rủi ro trong quá trình tìm kiếm

Với tư cách là một hoạt động, hoạt động khoa học định hướng theo những mục đích cơ bản sau:

- Phát hiện bản chất các sự vật, phát triển nhận thức về thế giới khách quan

- Sáng tạo các sự vật mới, phát triển các phương tiện cải tạo thế giới khách quan

Hàng loạt khái niệm đã xuất hiện đi liền với ý nghĩa này Chẳng hạn, hoạt động khoa học (loại hoạt động xã hội tiến hành công việc tìm tòi, khám

Trang 11

NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC

phá, sáng tạo khoa học), v.v Tương tự, người ta cũng gặp các khái niệm nhà khoa học, hoạt động khoa học, tổ chức khoa học, v.v

2 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ NGHIÊN CỨU TRONG Y HỌC

2.1 Nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học là hoạt động tìm tòi, khám phá bản chất và các quy luật vận động của thế giới; quá trình này được tổ chức hết sức chặt chẽ, luôn phải chọn lọc và sử dụng các phương pháp nghiên cứu

Có khá nhiều khái niệm về nghiên cứu khoa học Trong các thời kỳ phát triển của các ngành và các chuyên ngành khoa học các khái niệm đó có khác nhau Nhìn chung, nghiên cứu khoa học là hoạt động nhằm làm rõ sự vật, hiện tượng về bản chất, sự vận động và quy luật chi phối, kiểm soát hoặc cải tạo sự vật, hiện tượng đó thông qua nghiên cứu quan sát (mô tả, phân tích)

để nhận thức, giải thích bản chất các quy luật các sự vật và hiện tượng và nghiên cứu can thiệp làm thay đổi hay kiểm soát sự vật và hiện tượng Nghiên cứu khoa học thường được phân thành 3 nhóm:

- Nghiên cứu cơ bản: chủ yếu là các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, cũng có mô tả, chứng minh và thực nghiệm trên các mô hình Nghiên cứu có thể ở tầm phân tử, tế bào và có thể là các nghiên cứu sử dụng sinh vật thí nghiệm, các mô và cơ quan của người nhưng chưa phải trên cơ thể người Các nghiên cứu này nhằm phát hiện bản chất và quy luật của sự vật hay hiện tượng y sinh học dựa trên các mô phỏng

- Nghiên cứu ứng dụng: vận dụng các quy luật được phát hiện qua nghiên cứu cơ bản để tìm các giải pháp và nguyên lý của giải pháp Nghiên cứu ứng dụng thực hiện trên quy mô nhỏ

- Nghiên cứu triển khai: là giai đoạn sau của nghiên cứu ứng dụng, đây là nghiên cứu áp dụng các kết quả nghiên cứu của chính tác giả hay các

kỹ thuật từ các nước khác, các tác giả khác ứng dụng trong thực tế phục vụ trực tiếp cho phòng bệnh, khám chữa bệnh và phục hồi chức năng Nghiên cứu triển khai áp dụng trên quy mô rộng rãi hoặc tại đơn vị y tế

Ngày nay, với sự tiến bộ rất nhanh chóng của các ngành khoa học, sự giao thoa giữa các ngành, chuyên ngành trong một ngành, giữa khoa học tự nhiên, nhất là công nghệ sinh học, khoa học xã hội và y học đã mang lại những thành quả rất to lớn, thậm chí khó lường, góp phần phục vụ đời sống

con người Sự giao thoa đó đã mang đến những tên gọi mới như khoa học

sự sống Sự đóng khung giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng đã

Ngày đăng: 05/01/2021, 22:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w