1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TÀI LIỆU CHUYÊN ĐỀ NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC. TS. Nguyễn Thị Kim Dung

58 29 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích lũy một cách ngẫu nhiên qua MỤC TIÊU Khi nghiên cứu xong học phần này, người học: - Trình bày được những nội dung cơ bản của hoạt độn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

VIỆN NGHIÊN CỨU SƯ PHẠM

-& -

TÀI LIỆU CHUYÊN ĐỀ NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

TS Nguyễn Thị Kim Dung

Hà Nội, 2019

Trang 2

MỤC LỤC

1 KHOA HỌC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC 3

1.1 Khoa học và sự phát triển của khoa học 3

1.1.1 Khái niệm khoa học 3

1.1.2 Sự phát triển của khoa học 4

1.1.3 Phân loại khoa học 6

1.2 Nghiên cứu khoa học 7

1.2.1 Khái niệm nghiên cứu khoa học 7

1.2.2 Các đặc điểm của nghiên cứu khoa học 7

1.2.3 Phân loại nghiên cứu khoa học 8

1.2.4 Sản phẩm của nghiên cứu khoa học và đề tài khoa học 10

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 11

2.1 Những vấn đề chung về phương pháp nghiên cứu khoa học 11

2.1.1 Khái niệm phương pháp nghiên cứu khoa học 11

2.1.2 Các đặc trưng của phương pháp nghiên cứu khoa học 12

2.1.3 Phân loại các phương pháp nghiên cứu khoa học 13

2.2 Phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể 15

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 15

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 33

2.2.3 Các phương pháp nghiên cứu bổ trợ: sử dụng toán thống kê trong nghiên cứu khoa học 35

2.2.4 Những điều cần chú ý khi vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học 35

2.3 Chọn mẫu nghiên cứu 36

2.3.1 Các phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên 36

2.3.2 Các phương pháp chọn mẫu không ngẫu nhiên 37

2.3.3 Phương pháp xác định cỡ mẫu 38

3 LOGIC TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 40

3.1 Chọn đề tài nghiên cứu khoa học 41

3.1.1 Khái niệm đề tài nghiên cứu khoa học 41

3.1.2 Những căn cứ để xác định/chọn đề tài nghiên cứu khoa học 41

3.1.3 Các loại đề tài nghiên cứu khoa học 42

Trang 3

3.2 Xây dựng đề cương nghiên cứu 44

3.2.1 Tên đề tài 44

3.2.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 44

3.2.3 Lí do chọn đề tài 45

3.2.4 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu 46

3.2.5 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 46

3.2.6 Lựa chọn phương pháp nghiên cứu khoa học 47

3.2.7 Giả thuyết khoa học 47

3.2.8 Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu của đề tài 47

3.2.9 Tiến độ triển khai nghiên cứu 48

3.2.10 Sản phẩm nghiên cứu của đề tài 48

3.2.11 Kinh phí thực hiện nghiên cứu 49

3.3 Xử lí phân tích tài liệu thu được 49

3.3.1 Sàng lọc tài liệu 49

3.3.2 Sắp xếp, phân tích tài liệu 50

3.4 Viết một công trình nghiên cứu khoa học 53

3.4.1 Xây dựng bản thảo 53

3.4.2 Viết công trình nghiên cứu khoa học 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 4

1 KHOA HỌC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC

1.1 Khoa học và sự phát triển của khoa học

1.1.1 Khái niệm khoa học

Thuật ngữ “Khoa học” là một khái niệm phức tạp ở nhiều mức độ khác nhau của quá trình tích cực nhận thức hiện thực khách quan và tư duy trừu tượng Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới,… về tự nhiên và xã hội Những kiến thức hay học thuyết mới này, tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp Ví dụ: Quan niệm thực vật là vật thể không có cảm giác được thay thế bằng quan niệm thực vật có cảm nhận

Có nhiều định nghĩa khác nhau về khoa học:

“Khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận

động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy” Hệ thống tri thức

này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội

“Khoa học là hệ thống những tri thức được hệ thống hóa, khái quát hóa từ

thực tiễn kiểm nghiệm Khoa học phản ánh dưới dạng logic, trừu tượng và khái quát những thuộc tính, những cấu trúc, những mối liên hệ bản chất, những quy luật

tự nhiên, xã hội và tư duy Đồng thời, khoa học còn bao gồm hệ thống tri thức về những biện pháp tác động có kế hoạch đến thế giới xung quanh, đến sự nhận thức

và làm biến đổi thế giới đó phục vụ cho lợi ích của con người.”

Hệ thống tri thức ở đây là hệ thống tri thức khoa học, khác với tri thức kinh nghiệm Phân biệt 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học

Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích lũy một cách ngẫu nhiên qua

MỤC TIÊU

Khi nghiên cứu xong học phần này, người học:

- Trình bày được những nội dung cơ bản của hoạt động nghiên cứu khoa học (đối tượng, ý nghĩa, nội hàm khái niệm nghiên cứu khoa học, logic tiến trình nghiên cứu khoa học…);

- Phân tích được nội dung và cách tiến hành các phương pháp nghiên cứu khoa học;

- Biết cách lựa chọn đề tài, xây dựng đề cương nghiên cứu và vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học để triển khai đề tài;

- Viết báo cáo, công bố và đánh giá các công trình khoa học

Trang 5

hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên Quá trình này giúp con người hình dung được sự vật, biết cách phản ứng trước tự nhiên, biết ứng xử trong quan hệ xã hội Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa đi sâu vào bản chất sự vật, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng những tri thức kinh nghiệm làm cơ sở cho sự hình thành các tri thức khoa học

Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống và

được khái quát nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học Các hoạt động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học Nó không phải là sự kế tục giản đơn các tri thức kinh nghiệm mà là sự khái quát hóa các quá trình ngẫu nhiên, rời rạc thành hệ thống các tri thức phản ánh bản chất về sự vật, hiện tượng Các tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ bộ môn khoa học, như: Triết học, Toán học, Vật lý, Hóa học, Tâm lí học, Giáo dục học

Các tiêu chí nhận biết một bộ môn khoa học:

- Có đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là bản chất sự vật hoặc hiện

tượng được đặt trong phạm vi quan tâm của môn khoa học

- Có hệ thống lý thuyết: Lý thuyết là hệ thống tri thức khoa học bao gồm

những khái niệm, phạm trù, quy luật, định luật, định lý, quy tắc… Hệ thống lý thuyết của một bộ môn khoa học thường bao gồm hai bộ phận: bộ phận kế thừa từ các khoa học khác và bộ phận mang nét đặc trưng riêng cho bộ môn khoa học đó

- Có hệ thống phương pháp luận: Phương pháp luận của bộ môn khoa học bao

gồm hai bộ phận là phương pháp luận riêng và phương pháp luận thâm nhập từ các

bộ môn khoa học khác

- Có mục đích ứng dụng: Do khoảng cách giữa khoa học và đời sống ngày

càng rút ngắn mà người ta dành nhiều mối quan tâm tới mục đích ứng dụng Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người nghiên cứu chưa biết được mục đích ứng dụng (chẳng hạn nghiên cứu thuần túy) Vì vậy, không nên vận dụng một cách máy móc tiêu chí này

- Có lịch sử nghiên cứu: Lịch sử nghiên cứu của một bộ môn khoa học có thể

bắt nguồn từ một bộ môn khoa học khác Trong những giai đoạn tiếp theo, sự hoàn thiện về lý thuyết và phương pháp luận, những bộ môn khoa học độc lập ra đời, tách khỏi bộ môn khoa học cũ Ví dụ như Tâm lí học bắt nguồn từ Triết học Tuy nhiên, không phải mọi bộ môn khoa học đều có lịch sử phát triển như vậy, nên không áp dụng máy móc tiêu chí này

1.1.2 Sự phát triển của khoa học

Quá trình phát triển của khoa học có hai xu hướng ngược chiều nhau nhưng không loại trừ mà thống nhất với nhau:

Trang 6

- Xu hướng thứ nhất là sự tích hợp những tri thức khoa học thành hệ thống chung

- Xu hướng thứ hai là sự phân chia các tri thức khoa học thành những ngành khoa học khác nhau

Trong giai đoạn phát triển của lịch sử, tùy theo những yêu cầu phát triển của

xã hội mà xu hướng này hay xu hướng khác nổi lên chiếm ưu thế

(i) Thời cổ đại: Xã hội loài người con sơ khai, lao động sản xuất còn đơn giản,

những tri thức mà con người tích lũy được chủ yếu là kinh nghiệm Thời kỳ này, triết học là khoa học duy nhất tích hợp những tri thức khoa học khác nhau như: hình học, cơ học, thiên văn học…

(ii) Thời trung cổ: kéo dài hàng nghìn năm, là thời kỳ thống trị của quan hệ

sản xuất phong kiến và cùng với nó là sự thống trị của giáo hội và nhà thời (chủ nghĩa duy tâm thống trị xã hội) Thời kỳ này khoa học bị giáo hội bóp nghẹt nên chậm phát triển, vai trò của khoa học đối với xã hội rất hạn chế và nó trở thành tôi

tớ của thần học

(iii) Thời kỳ tư bản chủ nghĩa (thế kỷ XV – XVIII – thời kỳ Phục Hưng): là thời

kỳ tan rã của quan hệ sản xuất phong kiến và cũng là thời kỳ mà giai cấp tư sản từng bước xác lập vị trí của mình trên vũ đại lịch sử Sự phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa đã thúc đẩy sự phát triển của khoa học, khoa học từng bước thoát ly khỏi thần học, sự phân lập các tri thức khoa học càng rõ ràng, nhiều ngành khoa học xuất hiện, phương pháp nghiên cứu khoa học (NCKH) chủ yếu được sử dụng trong thời kỳ này là phương pháp tư duy siêu hình – cơ sở của triết học để giải thích các hiện tượng xã hội

(iv) Thời kỳ Cách mạng khoa học – kỹ thuật lần thứ nhất (từ giữa thế kỷ XVIII

đến thế kỷ XIX – còn gọi là thời kỳ phát triển tư bản công nghiệp): đây là thời kỳ có nhiều phát minh khoa học lớn (định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, thuyết tiến hóa …) và xuất hiện nhiều phương tiện NCKH Sự phát triển của khoa học đã phá vỡ tư duy siêu hình và thay vào đó là tư duy biện chứng; Khoa học có sự thâm nhập lẫn nhau để hình thành những môn khoa học mới như: Toán – Lý; Hóa – Sinh; Sinh – Địa, Hóa – Lý, Toán kinh tế, Xã hội học chính trị…

(v) Thời kỳ Cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại (từ đầu thế kỷ XX đến nay)

Ở thời kỳ này, khoa học và kỹ thuật phát triện theo hai hướng sau:

- Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao nhận thức của con người trong nghiên cứu các cấu trúc khác nhau của vật chất Khoa học đi sâu vào tìm hiểu thể giới vi mô, hoàn thiện các lý thuyết về nguyên tử, về điện, sóng, từ trường… và nghiên cứu sự tiến hóa của vũ trụ

- Chuyển kết quả NCKH vào sản xuất một cách nhanh chóng, đồng thời ứng dụng chúng một cách có hiệu quả trong đời sống xã hội

Đặc điểm nổi bật của thời kỳ này là khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trở thành tiền đế, điểm xuất phát cho nhiều ngành sản xuất vật chất mới Song cũng chính sự phát triển nhanh chóng của khoa học lại nảy sinh những vấn đề mới như: ô nhiễm môi trường, khai thác cạn kiệt tài nguyên… Vì vậy, cần có sự quan tâm đầy đủ đến mối quan hệ giữa khai thác và tái tạo tự nhiên, bảo vệ môi trường, làm cho khoa học gắn bó hài hóa với môi trường sinh sống của con người

Trang 7

Tóm lại: Khoa học là hệ thống những tri thức về các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy,về những biện pháp tác động đến thế giới xung quanh, đến nhận thức

và làm biến đổi thế giới đó phục vụ cho lợi ích con người

1.1.3 Phân loại khoa học

Phân loại khoa học là sự phân chia các bộ môn khoa học thành những nhóm

bộ môn khoa học theo cùng một tiêu chí nào đó để nhận dạng cấu trúc của hệ thống tri thức Có nhiều cách phân loại khoa học Mỗi cách phân loại dựa trên một tiêu chí

có ý nghĩa ứng dụng nhất định nào đó

a) Cách phân loại của Aristốt (384 – 322 trước công nguyên – thời Hy Lạp cổ

đại) theo mục đích ứng dụng của khoa học, có 3 loại:

- Khoa học lý thuyết, gồm: siêu hình học, vật lý học, toán học… với mục đích tìm hiểu khám phá tự nhiên

- Khoa học sáng tạo gồm: tu từ học, thư pháp, biện chứng pháp… với mục đích sáng tạo tác phẩm

- Khoa học thực hành gồm: đạo đức học, kinh tế học, chính trị học, sử học với mục đích hướng dẫn đời sống

b) Cách phân loại của K Marx theo đối tượng nghiên cứu, có 02 loại:

- Khoa học tự nhiên: có đối tượng là các dạng vật chất và các hình thức vận động của các dạng vật chất đó được thể hiện trong giới tự nhiên cùng những mối liên hệ và quy luật giữa chúng như cơ học, toán học, sinh vật học…

- Khoa học xã hội hay khoa học về con người: có đối tượng là những sinh hoạt của con người cùng những quy luật, những động lực phát triển của xã hội như sử học, kinh tế học, triết học, đạo đức học…

c) Cách phân loại của B.M Keedrôv (1964) cũng theo đối tượng nghiên cứu

dựa trên ý tưởng của F Engels Khoa học được sắp xếp tương ứng với sự phát triển biện chứng của khách thế Ông đã trình bày hệ thống tri thức khoa học bằng một tam giác với 3 đỉnh là Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội và Triết học

- Khoa học triết học: Biện chứng pháp, lô gic học

- Khoa học Toán học: Lô gic toán học và toán học thực hành (bao gồm cả điều khiển học)

- Khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật: Cơ học, Thiên văn học và vũ trụ học; Vât lý học, hóa học, địa lý học, sinh học,…

- Khoa học xã hội gồm: lịch sử, khảo cổ học, nhân chủng học, thống kê kinh tế

xã hội…

- Khoa học về hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc, gồm: Kinh tế chính trị học; Khoa học về nhà nước pháp quyền, Ngôn ngữ học, Tâm lý học và Khoa học sư phạm; …

Trang 8

d) Theo UNESCO dựa vào đối tượng nghiên cứu khoa học có 5 loại:

- Nhóm các khoa học tự nhiên và khoa học chính xác

- Nhóm các khoa học kỹ thuật và công nghệ

- Nhóm các khoa học nông nghiệp

- Nhóm các khoa học xã hội và nhân văn

e) Phân loại theo cơ cấu hệ thống tri thức hoặc chương trình đào tạo có:

- Khoa học cơ bản

- Khoa học cơ sở của chuyên ngành

- Khoa học chuyên ngành (chuyên môn)

Ngoài các cách phân loại trên, còn có những cách phân loại theo nguồn gốc hình thành khoa học, theo mức độ khái quát của khoa học… Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học thì ranh giới cứng nhắc trong phân loại khoa học luôn bị phá vỡ

Do đó mọi cách phân loại cần được xem xét như hệ thống mở, phải luôn được bổ sung và phát triển

1.2 Nghiên cứu khoa học

1.2.1 Khái niệm nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học thực chất là một quá trình nhận thức hiện thực khách quan

và phản ánh những sự kiện, những quy luật của nó; là cách thức con người tìm hiểu các hiện tượng khoa học một cách có hệ thống, nhằm phát hiện những hiện tượng, sự việc

mới, có tính chân lí hoặc khám phá những quy luật, nguyên lí mới … Cái mới ở đây phải bao hàm tính phổ biến, tính logic chặt chẽ, phải được trình bày đầy đủ, tỉ mỉ trong những điều kiện, hoàn cảnh đã tạo ra nó một cách tất yếu, nghĩa là, nếu người khác hội

đủ những điều kiện y như vậy thì chắc chắn cũng tạo được cái mới ấy

Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là NCKH bao giờ cũng phải nhằm vào những vấn đề khó khăn phức tạp, những vấn đề mới Nó có thể là một cuộc điều tra tình hình thực tế, mô tả và phân tích một đồ dùng dạy học mới, một bài soạn giảng cải tiến, một kinh nghiệm mới về giáo dục đạo đức… Có rất nhiều người đã bắt đầu

sự nghiệp nghiên cứu của mình từ những vấn đề như vậy Tính chất NCKH thể hiện

ở đây qua phương pháp điều tra, cách mô tả và phân tích tỉ mỉ, đầy đủ, chính xác,

mà bất cứ người nào khác quan sát, kiểm tra cũng sẽ thấy đúng như vậy

NCKH là một hoạt động trí tuệ đặc thù bằng những phương pháp nghiên cứu nhất định để tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm những điều mà khoa học chưa biết, chưa giải thích được Tức là tạo ra sản phẩm mới dưới dạng tri thức mới,

có giá trị mới về nhận thức và phương pháp

1.2.2 Các đặc điểm của nghiên cứu khoa học

- Tính khách quan, chính xác trong nghiên cứu là thể hiện sự trung thành với

hiện thực khách quan trong khi phát hiện được cái mới Yêu cầu đó trước hết đòi

Trang 9

hỏi chúng ta phải lựa chọn những đề tài nêu được những vấn đề thiết thực được đặt

ra từ thực tiễn hay lí luận Yêu cầu khách quan, chính xác đòi hỏi phải lựa chọn phương pháp, biện pháp, công cụ, kĩ thuật nghiên cứu một cách phù hợp để ghi nhận đúng đắn, đầy đủ nhất các sự kiện, hiện tượng và tài liệu

- Quan điểm vận động và phát triển thể hiện ở việc phát hiện càng đầy đủ càng tốt tính quá trình, sự biến đổi và phát triển của đối tượng được nghiên cứu bởi

hiện thực không ngừng vận động và phát triển Trong sự vận động, sự vật và hiện tượng bộc lộ rõ hơn đặc điểm và quy luật của nó Đặc điểm này cũng cần được quán triệt khi lựa chọn đề tài nghiên cứu, chọn đối tượng nghiên cứu, khi phân tích, xử lí tài liệu cũng như khi trình bày kết quả nghiên cứu

- Xu hướng đi sâu thể hiện ở sự cố gắng tìm ra bản chất của sự kiện, tìm ra

những quy luật chi phối các sự kiện đó chứ không dừng lại ở bề mặt của sự kiện Vì vậy, một công trình NCKH dù chỉ đòi hỏi ở mức phát hiện tình hình cũng cần sử dụng những phương pháp, biện pháp, kĩ thuật, những khái niệm, phạm trù khoa học

để mô tả, ghi nhận hiện tượng, để đo đạc, đánh giá, phân tích sự kiện với mức đầy đủ,

tỉ mỉ, chính xác, sâu sắc cao nhất Yêu cầu đi sâu thường đòi hỏi chúng ta thu hẹp phạm vi đề tài bởi sẽ có khả năng phân tích nhiều mặt

1.2.3 Phân loại nghiên cứu khoa học

Có nhiều cách phân loại khác nhau Ở đây chúng tôi đề cập đến hai cách phân loại:

Phân loại theo chức năng và phân loại theo tính chất của sản phẩm (tính ứng dụng)

1.2.3.1 Phân loại theo chức năng nghiên cứu

(i) Nghiên cứu mô tả: là những nghiên cứu nhằm đưa ra một hệ thống tri thức về

nhận dạng sự vật/hiện tượng, giúp con người phân biệt được sự khác nhau về bản chất giữa sự vật/hiện tượng này với sự vật/hiện tượng khác Nội dung mô tả có thể bao gồm

mô tả hình thái, động thái, tương tác; và có mô tả định tính và mô tả định lượng

(ii) Nghiên cứu giải thích: là những nghiên cứu nhằm làm rõ nguyên nhân dẫn

đến sự hình thành và quy luật chi phối quá trình vận động của sự vật/hiện tượng Nội dung của giải thích có thể bao gồm giải thích nguồn gốc, động thái, cấu trúc, tương tác, hậu quả, quy luật chung chi phối quá trình vận động của sự vật

(iii) Nghiên cứu dự báo: là những nghiên cứu nhằm nhận dạng trạng thái của

sự vật trong tương lai Mọi dự báo đều phải chấp nhận những sai lệch kể cả trong nghiên cứu tự nhiên và nghiên cứu xã hội Sự sai lệch trong dự báo có thể do nhiều nguyên nhân: sai lệch khách quan trong kết quả so sánh, sai lệch do những luận cứ

bị biến dạng trong sự tác động của sự vật khác…

(iv) Nghiên cứu sáng tạo: là loại hình nghiên cứu nhằm làm rõ một sự vật mới

chưa từng tồn tại Khoa học không bao giờ dừng lại ở mô tả, dự báo, giải thích mà luôn hướng đến sự sáng tạo các giải pháp cải tạo thế giới

Trang 10

1.2.3.2 Phân loại theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu

(i) Nghiên cứu cơ bản (fundamental/basic research): là những nghiên cứu

nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái của sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ giữa sự vật này với sự vật khác Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản

có thể là những khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn đến việc hình thành một hệ thống lý thuyết có giá trị tổng quát, ảnh hưởng đến một hay nhiều lĩnh vực khoa học

(ii) Nghiên cứu ứng dụng (applied research): là sự vận dụng quy luật được

phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật, tạo ra những nguyên lý mới

về các giải pháp và áp dụng chúng vào sản xuất và đời sống Đó có thể là những giải pháp về công nghệ, về vật liệu, về tổ chức và quản lý Cần lưu ý là kết quả của nghiên cứu ứng dụng thì chưa ứng dụng được Để có thể đưa kết quả nghiên cứu ứng dụng vào sử dụng cần nghiên cứu khác gọi là nghiên cứu triển khai

(iii) Nghiên cứu triển khai (developmental research): còn gọi là triển khai thực

nghiệm là sự vận dụng các quy luật (từ nghiên cứu cơ bản) và các nguyên lý (từ nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra những hình mẫu với những tham số khả thi về kĩ thuật Hoạt động triển khai bao gồm triển khai trong phòng thí nghiệm/thực nghiệm

và triển khai bán đại trà Ví dụ, như nghiên cứu triển khai được áp dụng khi chế tạo một sản phẩm mới hoặc một mẫu công nghệ mới; hay như áp dụng một phương pháp giảng dạy mới ở các lớp thí điểm

1.2.3.3 Phân loại theo hình thức thu thập dữ liệu

(i) Nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định lượng là một loại hình nghiên cứu sử dụng các phương pháp thu thập dữ liệu bằng số và giải quyết quan hệ trong lý thuyết và nghiên cứu theo quan điểm diễn dịch Nghiên cứu định lượng chú trọng vào việc lượng hóa sự biến thiên của đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu định lượng dựa vào việc đo lường số lượng Nghiên cứu định lượng thường gắn vào việc kiểm định (lý thuyết) dựa vào quy trình suy diễn (Thọ, 2011) Dữ liệu định lượng là dữ liệu trả lời cho các câu hỏi: bao nhiêu? khi nào?

Như vậy nghiên cứu định lượng là nghiên cứu sử dụng các phương pháp khác nhau (chủ yếu là thống kê) để lượng hóa, đo lường, phản ánh và diễn giải các mối quan hệ giữa các nhân tố (các biến) với nhau hoặc để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu có được từ lý thuyết Ví dụ, đo mức độ hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ, đo mức độ thích thú đối với phương pháp giảng dạy mới; Hay kiểm định giả thuyết cho rằng tăng lương thì chất lượng lao động cao hơn, hay giảng dạy theo phương pháp tích cực thì học sinh hứng thú học tập hơn

(ii) Nghiên cứu định tính

Những nghiên cứu về chất lượng của các mối quan hệ, các hoạt động, các tình

Trang 11

huống hoặc các tài liệu được gọi là nghiên cứu định tính Là loại hình nghiên cứu thu thập dữ liệu bằng chữ nhằm tìm cách mô tả và phân tích đặc điểm của nhóm người từ quan điểm của nhà nhân học Nghiên cứu định tính nhấn mạnh đến việc

mô tả chi tiết, đầy đủ tất cả những gì diễn ra trong một hoạt động hay tình huống cụ thể nào đó

Nghiên cứu định tính là các nghiên cứu trong đó dữ liệu cần thu thập ở dạng định tính (không thể đo lường bằng số lượng) Dữ liệu định tính là các dữ liệu trả lời cho các câu hỏi: thế nào? cái gì? tại sao? Ví dụ khi chúng ta cần biết thái độ của người tiêu dùng về một thương hiệu nào đó, chúng ta có thể hỏi những câu hỏi sau: Vì sao anh/chị thích dùng thương hiệu này? Đặc điểm nổi bật nhất của thương hiệu này là gì? Tại sao nó là đặc điểm nổi bật nhất?

Mặc dù sự phân loại nghiên cứu khoa học đa dạng, tuy nhiên trên thực tế, rất nhiều NCKH là sự kết hợp cả nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính

1.2.4 Sản phẩm của nghiên cứu khoa học và đề tài khoa học

Kết quả NCKH cần phải viết ra dưới dạng các tài liệu khoa học khác nhau để công bố trên các ấn phẩm Các tài liệu khoa học đó có thể có nhiều ý nghĩa: để báo cáo theo yêu cầu; để trao đổi và chia sẻ thông tin khoa học; để đón nhận những ý kiến bình luận, bổ sung của đồng nghiệp; để đi tìm địa chỉ áp dụng, khẳng định quyền tác giả đối với công trình Tài liệu khoa học công bố có nhiều loại:

1.2.4.1 Bài báo khoa học

Là ấn phẩm mà nội dung có chứa thông tin mới (dựa trên kết quả quan sát, điều tra hoặc thực nghiệm khoa học) có giá trị lí luận và thực tiễn được đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành với những mục đích khác nhau: công bố một ý tưởng khoa học, công bố từng kết quả riêng biệt của một công trình nghiên cứu dài hạn, công bố kết quả toàn bộ công trình nghiên cứu…

1.2.4.2 Báo cáo khoa học

Là một báo cáo được trình bày tại hội nghị, hội thảo khoa học chuyên ngành,

có giá trị khoa học, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn – là kết quả nghiên cứu của tác giả hoặc đồng tác giả Báo cáo cần nêu những nội dung ngắn gọn, súc tích, đi thẳng vào chủ đề với đầy đủ các tài liệu lý thuyết và thực tế, có luận cứ thuyết phục và có kết luận xác đáng

1.2.4.3 Kỷ yếu khoa học

Là ấn phẩm mà nội dung của nó phản ánh tóm tắt kết quả nghiên cứu của các công trình được phân chia theo chủ đề Ví dụ những kỉ yếu về: Đào tạo nghiệp vụ sư phạm ở các trường ĐHSP; Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên ở Việt Nam…

Trang 12

1.2.4.4 Chuyên khảo

Là một công trình khoa học bàn luận về một chủ đề lớn có tầm quan trọng, có

ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với một chuyên ngành khoa học; là công trình tổng kết toàn bộ các kết quả nghiên cứu công phu, lâu dài, thể hiện sự am hiểu rộng rãi

và sâu sắc về lĩnh vực chuyên ngành của tác giả hoặc tập thể tác giả

1.2.4.5 Giáo trình, sách giáo khoa

Là tài liệu chọn lọc, tổng kết và hệ thống hóa các tri thức khoa học thuộc một lĩnh vực khoa học nhất định được trình bày theo chương trình đào tạo, chương trình giáo dục do Nhà nước quy định Sau khi thẩm định xác nhận giá trị khoa học và có tính giáo dục thì được dùng làm tài liệu giảng dạy và học tập trong các trường học nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục

1.2.4.6 Một số sản phẩm đặc biệt của NCKH

Sản phẩm đặc biệt của NCKH đó là những phát hiện, phát minh, sáng chế; những quy trình khoa học công nghệ đã được cấp bằng sáng chế…

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

2.1 Những vấn đề chung về phương pháp nghiên cứu khoa học

2.1.1 Khái niệm phương pháp nghiên cứu khoa học

Trong ngôn ngữ hàng ngày cũng như trong các tài liệu khoa học, thuật ngữ

“phương pháp” cũng thường được dùng với hàm nghĩa rất rộng Do đó, khái niệm

“phương pháp NCKH” có thể bao gồm nhiều cấp độ khác nhau Trong tài liệu này,

chúng ta quy ước với nhau cách dùng từ như sau:

Thuật ngữ “Phương pháp luận nghiên cứu” là để chỉ những nguyên lí triết

học chỉ đạo toàn bộ hoạt động nhận thức, hoạt động sáng tạo tinh thần hoặc cải tạo thực tiễn nói chung, trong đó bao gồm cả hoạt động NCKH, như: phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp luận duy tâm, phương pháp luận chủ quan siêu hình… Phương pháp luận nghiên cứu là lý thuyết về phương pháp nhận thức khoa học thế giới tổng thể, đóng vai trò chủ đạo, dẫn đường và có ý nghĩa thành bại trong NCKH

Thuật ngữ “Phương pháp tiếp cận” là để nói về các phương hướng lớn có tính

chất chiến lược chỉ đạo cách thức tiếp cận và thu thập tài liệu, sự kiện khoa học nhằm đạt được bản chất, quy luật, cơ chế của đối tượng nghiên cứu, do đó nó cũng chỉ đạo việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu, như: “Tiếp cận phát sinh”, “Tiếp cận so sánh bệnh lí”, “Tiếp cận sư phạm hóa”, “Tiếp cận cắt ngang/bổ dọc” “Tiếp cận năng lực”, “Tiếp cận hoạt động”…

Thuật ngữ “Phương pháp nghiên cứu” được dùng để chỉ những cách thức

chung trong khi tiếp cận các đối tượng, ghi nhận, thu thập sự kiện và tài liệu nghiên

Trang 13

cứu Dưới góc độ thông tin, phương pháp NCKH là cách thức, con đường, phương tiện thu thập, xử lý thông tin khoa học (số liệu, sự kiện) nhằm làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu và cuối cùng đạt được mục đích nghiên cứu

Nói cách khác: Phương pháp NCKH là những phương thức thiết lập và xử lý

thông tin khoa học nhằm mục đích thiết lập những mối liên hệ phụ thuộc có tính quy luật và xây dựng lý luận khoa học mới

Dưới góc độ hoạt động: Phương pháp NCKH là hoạt động có đối tượng, chủ thể (người nghiên cứu) sử dụng những thủ thuật, biện pháp, thao tác tác động, khám phá đối tượng nghiên cứu nhằm biến đổi đối tượng theo mục tiêu mà chủ thể tự đặt

ra để thảo mãn nhu cầu nghiên cứu của bản thân

2.1.2 Các đặc trưng của phương pháp nghiên cứu khoa học

a) Phương pháp NCKH có mặt chủ quan và khách quan thể hiện sự tương tác biện chứng giữa chủ thể và khách thể trong hoạt động NCKH

Mặt chủ quan gắn liền với chủ thể nghiên cứu Đó chính là đặc điểm, trình độ, năng lực nhận thức, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo, khả năng thực hành… của chủ thể, thể hiện trong việc ý thức được các quy luật vận động của đối tượng và sử dụng chúng để khám phá chính đối tượng và kết quả đạt được sẽ phù hợp với khả năng chủ quan ấy

Mặt khách quan gắn liền với đối tượng nghiên cứu, phản ánh đặc điểm của đối tượng và quy luật khách quan chi phối đối tượng mà chủ thể nghiên cứu phải ý thức được

Trong NCKH, cái chủ quan phải tuân thủ cái khách quan, Vì vậy, chủ thể phải hiểu biết chân thực về đối tượng để trên cơ sở đó tìm ra được những thao tác đúng đắn với đối tượng và hành động chủ quan theo đúng quy luật đó

b) Phương pháp NCKH có tính mục đích, gắn liền với nội dung; chịu sự chi phối của mục đích và nội dung; bản thân phương pháp có chức năng phương tiện

để thực hiện mục đích và nội dung

Mục đích nào, phương pháp ấy; mục đích chỉ đạo việc tìm tòi và lựa chọn phương pháp nghiên cứu Muốn cho phương pháp nghiên cứu được áp dụng hiệu quả, áp dụng thành công cần đảm bảo được hai điều: xác định mục đích và tìm được phương pháp thích hợp với mục đích nghiên cứu

Nội dung nào, phương pháp ấy; sự thống nhất của nội dung và phương pháp thể hiện ở logic phát triển của bản thân đối tượng nghiên cứu Mối quan hệ của mục đích, nội dung và phương pháp nghiên cứu là mối quan hệ biện chứng, được diễn ra theo quy luật: mục đích và nội dung quy định phương pháp Còn phương pháp là phương tiện thực hiện nội dung để đạt mục đích

Trang 14

c) Phương pháp NCKH có một cấu trúc đặc biệt (cấu trúc đa cấp) đó là hệ thống các thao tác được sắp xếp theo một chương trình tối ưu

Hoạt động (có mục đích chung là M) bao gồm nhiều hành động A1… An (có mục đích riêng – chính là các mục tiêu: MA1… MAn) mà mỗi hành động lại bao gồm nhiều thao tác: t1… tn ( thao tác không có mục đích) Để đạt được mục đích chung, người nghiên cứu cần phải thực hiện một loạt các hành động với những hệ thống logic chặt chẽ được sắp xếp theo một trình tự xác định và có kế hoạch rõ ràng Người nghiên cứu phải biết tổ chức hợp lý cấu trúc bên trong của phương pháp và triển khai quy trình đó một cách tinh thông - đây là mặt kỹ thuật của phương pháp nghiên cứu

d) Phương pháp nghiên cứu cần có công cụ, các phương tiện hỗ trợ

Phương pháp và phương tiện là hai phạm trù khác nhau nhưng chúng lại gắn

bó chặt chẽ với nhau Tùy theo các yêu cầu của phương pháp nghiên cứu mà chọn các phương tiện phù hợp, đôi khi phải tạo ra các công cụ đặc biệt để nghiên cứu đối tượng Phương tiện kĩ thuật hiện đại tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các phương pháp nghiên cứu và đảm bảo cho quá trình nghiên cứu đạt được độ chính xác và tin cậy cao

2.1.3 Phân loại các phương pháp nghiên cứu khoa học

Các phương pháp NCKH rất phong phú và đa dạng Vì thế, có nhiều cách phân loại phương pháp NCKH dựa trên những dấu hiệu sau:

a) Phân loại dựa theo lý thuyết thông tin về quy trình nghiên cứu một đề tài khoa học: Có 3 nhóm:

- Nhóm phương pháp thu thập thông tin;

- Nhóm phương pháp xử lí thông tin;

- Nhóm phương pháp trình bày thông tin

b) Phân loại theo tính chất và trình độ nhận thức: có 2 nhóm chính

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết;

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn;

- Nhóm phương pháp toán học

c) Phân loại theo logic của NCKH: có 8 nhóm

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết;

- Nhóm phương pháp lập kế hoạch nghiên cứu;

- Nhóm phương pháp tổ chức nghiên cứu;

- Nhóm phương pháp thu thập thông tin;

- Nhóm phương pháp xử lý số liệu;

Trang 15

- Nhóm phương pháp phân tích và giải thích các số liệu;

- Nhóm phương pháp kiểm tra trong thực tiễn;

- Nhóm phương pháp liên hệ giả thuyết với các phương thức nghiên cứu

d) Phân loại theo các giai đoạn tiến hành nghiên cứu một đề tài khoa học

- Giai đoạn chuẩn bị gồm các phương pháp: phương pháp lý thuyết (nghiên

cứu tài liệu, sách báo); phương pháp tìm hiểu bước đầu về đối tượng (các phương pháp quan sát, trò chuyện, điều tra bằng bảng hỏi)

- Giai đoạn xây dựng phương pháp nghiên cứu, gồm:

+ Phương pháp tổ chức nghiên cứu: Phương pháp bổ dọc (là phương pháp tổ chức nghiên cứu trong suốt thời gian dài, liên tục trên cùng một đối tượng, cho phép chuẩn đoán chính xác hơn về sự phát triển của đối tượng; Phương pháp cắt ngang –

so sánh (là phương pháp nghiên cứu một cách song song và đồng thời trên nhiều đối tượng khác nhau để so sánh, đối chiếu và kết luận); Phương pháp phức hợp (là phương pháp tổ chức nghiên cứu với sự tham gia của các nhà khoa học hoặc chuyên gia thuộc nhiều ngành khoa học khác nhau);

+ Các phương pháp cơ bản để thu thập tài liệu thực tế được lựa chọn;

+ Các phương pháp, phương tiện thực nghiệm cần thiết khác

- Giai đoạn thu thập thông tin – tài liệu: là giai đoạn cơ bản gồm các phương

pháp tìm kiếm, thu thập các sự kiện khoa học (bao gồm các phương pháp: nghiên cứu lịch sử, quan sát khách quan, thực nghiệm, nghiên cứu các sản phẩm hoạt động

lý luận và thực tiễn, mô hình hóa, điều tra và chuẩn đoán…)

- Giai đoạn phân tích, xử lý tài liệu: là giai đoạn lý giải và trình bày kết quả

nghiên cứu (phân tích cả số lượng, chất lượng); Có các phương pháp nghiên cứu: + Các phương pháp xử lí tài liệu: Phương pháp thống kê số lượng (định lượng)

và phân tích chất lượng (định tính), đó là các phương pháp thống kê toán học, phân loại, kỹ thuật vi xử lý…

+ Các phương pháp lý giải các số liệu: giúp cắt nghĩa những tài liệu thu thập được, nó cung cấp phương pháp khái quát hóa, giải thích sự kiện và mối quan hệ giữa chúng (bao gồm các phương pháp: mô hình hóa, sơ đồ, đồ thị …) Có thể chia làm hai loại phương pháp lý giải: phương pháp phát sinh – là phương pháp lý giải theo quan điểm các mối liên hệ phát sinh; phương pháp cấu trúc – là phương pháp

lý giải bằng cách phân tích các mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, cái toàn bộ

- Giai đoạn kiểm tra kết quả nghiên cứu trong thực tiễn: bao gồm các phương

pháp kiểm tra kết quả nghiên cứu qua việc ứng dụng có hiệu quả hay không vào thực tiễn và chỉ dẫn ứng dụng

Trang 16

2.2 Phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể

Phương pháp nghiên cứu khoa học được phân loại theo tính chất và trình độ nhận thức cụ thể như sau:

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp NCKH thực tiễn là các phương pháp trực tiếp tác động vào đối tượng có trong thực tiễn để làm bộc lộ bản chất và các quy luật vận động của các đối tượng ấy Có các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

2.2.1.1 Phương pháp quan sát khoa học

a) Khái niệm

Quan sát khoa học là phương pháp tri giác đối tượng một cách có hệ thống để

thu thập thông tin về đối tượng Quan sát khoa học là sử dụng một cách có chủ đích,

có kế hoạch, theo những quy cách nhất định các giác quan cùng với ngôn ngữ viết

(và có khi cả các phương tiện kĩ thuật) để ghi nhận, thu thập những biểu hiện của

các đối tượng nghiên cứu làm tư liệu phục vụ cho việc NCKH

b) Phân loại

Có nhiều loại quan sát trong NCKH: quan sát toàn diện, quan sát từng mặt (quan sát có chọn lọc); quan sát ngẫu nhiên, quan sát có bố trí, quan sát lâm sàng (có tính chất tương tự như một cuộc thực nghiệm thăm dò); quan sát phát hiện, quan sát kiểm định… Tuy nhiên, có hai loại hình quan sát chính: quan sát trực tiếp và quan sát

gián tiếp

- Quan sát trực tiếp là quan sát trực diện đối tượng đang diễn biến trong thực

tiễn bằng mắt thường hay bằng các phương tiện kỹ thuật như máy quan trắc, kính thiên văn, kính hiển vi để thu thập thông tin trực tiếp Quan sát trực tiếp sẽ giúp nhà nghiên cứu có được những thông tin chính xác về những hoạt động, sự việc

có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Vai trò tham gia của nhà nghiên cứu có thể ở

các mức độ khác nhau: hoàn toàn như là người tham gia, vừa như là người tham gia

- vừa là người quan sát, hoàn toàn là người quan sát

- Quan sát gián tiếp: là quan sát diễn biến hiệu quả của các tác động tương tác

giữa đối tượng quan sát tới các đối tượng khác, mà bản thân đối tượng không thể quan sát trực tiếp được như: nghiên cứu các nguyên tử, hóa học lượng tử

c) Thuận lợi lợi và khó khăn

Tác dụng của phương pháp quan sát Quan sát vốn là một PPNC của nhiều

khoa học, theo nghĩa rộng nhất, nó là một phương pháp để con người tích lũy kinh nghiệm, giúp nhà nghiên cứu thu thập nhiều tài liệu sinh động từ thực tế về đối tượng nghiên cứu Nhờ đó, sau khi xử lí và phân tích tài liệu, ta có thể rút ra nhiều kết luận sâu sắc về bản chất, quy luật của hiện tượng nghiên cứu

Trang 17

Tuy nhiên, phương pháp quan sát khoa học có những khó khăn như:

- Phương pháp này giá trị khách quan, toàn diện của kết quả quan sát phụ

thuộc rất nhiều vào chủ quan người quan sát (nếu thiếu hiểu biết lí luận và vốn kinh

nghiệm cần thiết, thì có khi nhìn mà không thấy, “tắm mình” trong sự kiện mà không phát hiện được gì, trong khi người “sành sỏi” chỉ cần “liếc mắt” đã thấy hết Ngoài ra, tình cảm, định kiến, tâm thế… của người quan sát, hay bản thân sự có mặt của người quan sát cũng có thể làm sai lệch kết quả thu được)

- Khối lượng tri giác không lớn, tài liệu ghi nhận không thật cụ thể; mất nhiều thời gian và nhiều khi rất bị động; chỉ cho ta thu nhận những biểu hiên trực tiếp của hiện tượng (người quan sát tinh ý, có kinh nghiệm, khéo léo sẽ thu thập được nhiều hiện tượng phong phú và trung thực Nếu quan sát nhiều lần sẽ cho phép ta khẳng định những giả thuyết về tính quy luật của hiện tượng, nhưng tất cả những điều đó chưa cho phép kết luận chắc chắn trong đó có những yếu tố nào, cái gì là bản chất, cái gì là tất yếu

d) Những yêu cầu khoa học khi sử dụng phương pháp quan sát khoa học

- Người quan sát cần có mục đích quan sát rõ ràng;

- Được trang bị đầy đủ về lí luận và thực tiễn có liên quan đến vấn đề, hiện tượng mà ta sẽ quan sát;

- Nắm được một cách sơ bộ về đối tượng được quan sát để lập kế hoạch, chuẩn bị phương tiện cho phù hợp;

- Nên có một nhóm hai – ba người trở lên cùng quan sát một số đối tượng nhất định;

- Khối lượng tài liệu quan sát phải đủ nhiều, đủ đa dạng và chi tiết (được thể hiện ở biên bản quan sát)

- Ghi chép: Phải ghi chép mọi diễn biến của đối tượng, có nhiều cách ghi chép (theo mẫu phiếu in sẵn, ghi biên bản toàn bộ nội dung quan át; ghi nhật kí theo thời

Trang 18

gian quy định trong một ngày, một tuần, một tháng ; ghi vắn tắt theo “dấu vết nóng bỏng”; ghi âm, chụp ảnh, quay phim toàn bộ sự kiện

f) Xử lí dữ liệu và kiểm tra kết quả quan sát

- Các dữ liệu do các cá nhân quan sát được là các “tư liệu thô”, chưa phải là tài liệu khoa học Các dữ liệu này cần phải được xử lý thận trọng bằng cách phân loại,

hệ thống hóa, bằng thống kê toán học, bằng máy tính mới đáng tin cậy (chúng ta có thể sử dụng các phần mềm để xử lý dữ liệu thô như NVIVO)

- Để kiểm tra các kết quả quan sát một cách khách quan, người ta thường sử dụng một loạt các biện pháp hỗ trợ khác như trao đổi trực tiếp với nhân chứng, lặp lại quan át nhiều lần, sử dụng người có trình độ cao hoặc có kinh nghiệm để quan sát lại

2.2.1.2 Phương pháp điều tra

a) Khái niệm

Điều tra là phương pháp khảo sát một nhóm đối tượng trên một diện rộng nhằm phát hiện các quy luật phân bố, trình độ phát triển, những đặc điểm về mặt định tính và định lượng của các đối tượng cần nghiên cứu

Các tài liệu điều tra được sẽ là những thông tin quan trọng về đối tượng cần cho các quá trình nghiên cứu và là căn cứ quan trọng để đề xuất những giải pháp khoa học hay giải pháp thực tiễn

b) Phân loại điều tra

Có hai loại điều tra: điều tra cơ bản và điều tra xã hội học

- Điều tra cơ bản: là khảo sát sự có mặt của các đối tượng trên một diện rộng,

để nghiên cứu các quy luật phân bổ cũng như các đặc điểm về mặt định tính và định lượng Điều tra cơ bản được sử dụng trong cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội

Ví dụ: điều tra địa hình, địa chất, điều tra dân số, trình độ văn hóa, điều tra chỉ số thông minh (IQ) của trẻ em, điều tra khả năng tiêu thụ hàng hóa

- Điều tra xã hội học: là điều tra quan điểm, thái độ của quần chúng về mặt sự

kiện chính trị, xã hội, hiện tượng văn hóa, thị hiếu, Ví dụ: điều tra nguyện vọng nghề nghiệp của thanh niên, điều tra hay trưng cầu dân ý về bản hiến pháp mới

c) Quy trình tiến hành

Điều tra là một phương pháp NCKH quan trọng, một hoạt động có mục đích,

có kế hoạch, được tiến hành một cách thận trọng

Các bước điều tra thường được tiến hành như sau:

- Xây dựng một kế hoạch điều tra bao gồm: mục đích, đối tượng, địa bàn, nhân lực, kinh phí

- Xây dựng các mẫu phiếu điều tra với các thông số, các chỉ tiêu cần làm sáng tỏ

Trang 19

- Chọn mẫu điều tra đại diện cho số đông, chú ý tới tất cả những đặc trưng của đối tượng

- Xử lý tài liệu thu thập được từ điều tra có thể bằng phương pháp thủ công hay bằng một số phần mềm (trong khoa học xã hội thường sử dụng các phần mềm SPSS, ConQuest, Excel )

d) Một số phương pháp điều tra cơ bản

- Phỏng vấn cấu trúc và bán cấu trúc: đó là việc thu thập thông tin dựa trên

những bảng hỏi được soạn thảo sẵn từ trước Chúng bao gồm hàng loạt các câu hỏi tìm kiếm thông tin để sau đó dùng cho việc so sánh Ví dụ, khi muốn nghiên cứu những đặc trưng của giáo viên dạy trường chuyên và trường bình thường khác nhau như thế nào, người nghiên cứu tiến hành thu thập thông tin bằng phỏng vấn cấu trúc với một nhóm giáo viên dạy trường chuyên và trường không chuyên về trình độ đào tạo, trình

độ tay nghề, các kinh nghiệm, các hoạt động của họ sau giờ lên lớp,… Tốt nhất là nên tiến hành phỏng vấn cấu trúc và bán cấu trúc vào cuối giai đoạn nghiên cứu, vì nó giúp cho việc kiểm tra một giả thuyết cụ thể nào đó mà nhà nghiên cứu đã có

- Phỏng vấn không chính thức Đây là loại hình phỏng vấn được dùng khá phổ

biến trong nghiên cứu định tính Nó giống như những cuộc đàm thoại, cùng theo đuổi những quan tâm của cả người nghiên cứu và người trả lời Chúng không có bất

kì một trật tự các câu hỏi hay một loại hình câu hỏi cụ thể nào cả Mục tiêu chính của phỏng vấn không chính thức là tìm hiểu những suy nghĩ và quan điểm của một

cá nhân khi so sánh với những người khác

Loại hình phỏng vấn này tạo ra tình huống tự nhiên nhất cho việc thu thập số liệu Tuy nhiên, nó đòi hỏi người nghiên cứu phải có kĩ năng phỏng vấn: nên đặt ra những câu hỏi dễ, đơn giản, không đi sâu vào cá nhân trước Và, điều quan trọng là phải tạo được bầu không khí tin tưởng, hợp tác và tôn trọng lẫn nhau giữa người phỏng vấn và người được phỏng vấn

- Một số yêu cầu đối với người phỏng vấn:

+ Tôn trọng văn hóa của những người được phỏng vấn;

+ Tôn trọng từng cá nhân người được phỏng vấn;

+ Giữ cho bầu không khí phỏng vấn càng tự nhiên càng tốt;

Trang 20

+ Hỏi cùng một câu hỏi theo những cách khác nhau trong quá trình phỏng vấn; + Yêu cầu người được phỏng vấn nhắc lại ý/câu trả lời mà mình nghe chưa được rõ hoặc chưa thật hiểu;

+ Học cách chờ đợi: Người nghiên cứu phải biết cách giữ im lặng khi đặt câu hỏi mà người được phỏng vấn chưa thể trả lời ngay được

* Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Bảng hỏi là một trong những công cụ phổ biến nhất để thu thập số liệu cho nghiên cứu định lượng Nhà nghiên cứu cần có công cụ tốt trước khi đi thu thập số liệu và công cụ đó phải giúp nhà nghiên cứu thu được thông tin để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu đặt ra

Có 4 bước trong việc thiết kế bảng hỏi, là:

- Lập bảng chi tiết, hỏi cụ thể;

- Viết câu hỏi;- Chỉnh sửa để in ấn;

- Thử bảng hỏi

Bước 1: Lập bảng chi tiết hỏi cụ thể bao gồm việc

ü Xác định các mục đích mà bảng hỏi hướng đến;

ü Xác định đối tượng điều tra;

ü Xác định các phương pháp thu thập thông tin;

ü Thiết lập mối liên hệ giữa câu hỏi nghiên cứu, các thông tin cần thiết, nguồn cung cấp thông tin và phương pháp thu thập số liệu;

ü Quyết định xem làm thế nào để đo từng biến;

ü Lập bảng chi tiết hỏi cụ thể

(i) Xác định mục đích của bảng hỏi:

§ Mục đích chính hay câu hỏi nghiên cứu là gì? Có một vài câu hỏi chính như: Bảng hỏi để tìm kiếm điều gì? Những loại thông tin nào cần?

§ Các câu hỏi nghiên cứu cụ thể là gì?

§ Những giả thuyết nào? (vẽ sơ đồ)

(ii) Xác định đối tượng điều tra

§ Ai sẽ là người thích hợp cung cấp những thông tin cần thiết?

§ Các đặc điểm của nhóm đối tượng trả lời phiếu

(iii) Xác định phương pháp thu thập thông tin

Có đúng là phải dùng bảng hỏi không? (đôi khi thông tin chúng ta cần

Trang 21

có thể đã có sẵn trong các điều tra khác, vì vậy cần quyết định dựa trên những nguồn thông tin đã có nào

(iv) Lập bảng liên kết giữa thông tin cần, nguồn thông tin và phương

pháp thu thập số liệu:

Bảng này giúp cho chúng ta định hướng xem có thể có bao nhiêu câu

hỏi cần thiết phải đặt ra

Thông tin cần thiết/biến cần đo Nguồn thông tin thu thập số liệu Phương pháp

(v) Xác định cách thức đo từng biến

Cần phải xem xét xem biến đo là biến đơn hay biến ẩn?

§ Biến đó đo một tiêu chí hay nhiều tiêu chí?

§ Đo tiêu chí đó như thế nào?

Biến đơn: là biến đo một tiêu chí, có thể quan sát, đo đạc trực tiếp Ví

dụ, giới, trình độ giáo dục của cha mẹ là biến đơn

Biến ẩn: Khả năng/năng lực được đo đạc gián tiếp thông các các biến

có liên quan có thể quan sát được Vì thế cần có sự đo đạc gián tiếp Các chỉ số là các biến quan sát được

Cần lập bảng chỉ rõ làm thế nào để đo từng chỉ số của mỗi biến ẩn

Bước 2: Viết câu hỏi

(i) Xây dựng các tiêu chí

Trước hết phải xác định những vấn đề cần quan tâm đối với mỗi tiêu chí Cụ thể là:

§ Thông tin nào ta cần phải có?

Trang 22

§ Thông tin là các sự việc/sự kiện hay không phải là sự việc/sự kiện?

§ Hỏi như thế nào?

§ Loại hình trả lời nào ta muốn? /Ta muốn người hỏi trả lời như thế nào? (cấu trúc câu hỏi)

§ Ta sẽ mã hóa từng tiêu chí như thế nào?

§ Có thể đưa cả mã hóa vào bảng hỏi được không?

(ii) Các loại hình câu hỏi:

Có hai cách phân loại câu hỏi: phân loại theo cấu trúc phương án trả lời đưa ra và phân loại theo loại hình thông tin

§ Đối với cách phân loại theo cấu trúc phương án trả lời đưa ra, có hai

loại câu hỏi là: câu hỏi đóng (dạng câu hỏi có đưa ra các phương án trả lời sẵn để người được hỏi lựa chọn, hoặc câu hỏi dưới dạng Có/Không…) và câu hỏi mở (dạng câu hỏi để cho người trả lời được

tự do đưa ra ý kiến của mình) Trong một bảng hỏi có thể bao gồm cả câu hỏi đóng và câu hỏi mở

Trong nghiên cứu, câu hỏi mở có những lợi thế sau đây:

- Người được hỏi có thể diễn đạt chính xác những quan điểm hay cảm nghĩ của mình;

- Không hạn chế các phương án trả lời;

- Rất hữu ích trong việc kiểm tra giả thuyết về những ý tưởng hay nhận thức

Tuy nhiên, câu hỏi mở cũng có những bất lợi như:

- Khó trả lời và tốn nhiều thời gian để trả lời;

- Khó phân tích và tốn nhiều thời gian để phân tích

Nhóm câu hỏi đóng gồm có các loại hình sau đây:

- Bảng kiểm

- câu hỏi hai lựa chọn

- Câu hỏi nhiều lựa chọn

- Thang xếp loại

v Bảng kiểm thường được sử dụng để kiểm tra xem có hay không có

một cái gì đó? Ví dụ: “Anh/Chị đã sử dụng những loại tài liệu tham khảo nào sau đây?” (liệt kê các tài liệu tham khảo); Hay, “Em đã tham gia những hoạt động nào sau đây?” (liệt kê các hoạt động)

Trang 23

Thế nào là một bảng kiểm tốt? Một bảng kiểm tốt cần phải:

ü Chứa đựng tất cả các lựa chọn phù hợp;

ü Sẽ tốt hơn khi cung cấp lựa chọn “cái khác” để người được hỏi có thể bổ sung thêm ở phía cuối bảng kiểm

v Câu hỏi hai lựa chọn;

Câu hỏi hai lựa chọn thường được sử dụng để đo sự khác nhau hoàn

toàn (đối lập) của các biến Trong câu hỏi hai lựa chọn, người trả lời được yêu cầu lựa chọn một trong hai phương án đối lập nhau như: Có/không; Đồng ý/không đồng ý; Ủng hộ/phản đối; Xấu/tốt; Thích/không thích; …

v Câu hỏi nhiều lựa chọn;

Câu hỏi nhiều lựa chọn là dạng câu hỏi đưa ra tất cả các phương án

trả lời có thể có để người được hỏi lựa chọn

- So với câu hỏi mở, loại hình này dễ trả lời và trả lời nhanh hơn;

- Có thể hỏi nhiều câu hỏi trong một khoảng thời gian nhất đinh;

- Có thể hỏi nhiều người;

- Giá thành thấp hơn;

- So sánh nhóm dễ hơn;

- Thời gian dành cho tập huấn cán bộ điều tra ít hơn

Những bất lợi của câu hỏi đóng:

- Có thể thiếu các phương án trả lời khác;

- Có thể có yếu tố chủ quan của nhà nghiên cứu khi yêu cầu người được hỏi chỉ được lựa chọn các phương án sẵn có đưa ra;

- Có thể có những người trả lời chọn tuỳ tiện cho xong mà không có

sự suy nghĩ thấu đáo;

- Khó thiết kế

Trang 24

§ Phân loại theo loại hình thông tin cung cấp, có các dạng câu hỏi sau:

- Câu hỏi về sự việc/sự kiện;

- Câu hỏi không hỏi về sự việc/sự kiện (thái độ, niềm tin, nhận thức) Thông thường, phần lớn các bảng hỏi đều kết hợp cả hai loại câu hỏi về

sự kiện/sự việc và câu hỏi liên quan đến thái độ, nhận thức, niềm tin

v Câu hỏi về sự việc/sự kiện:

- Có thể kiểm tra, xác minh;

- Biến đơn;

- Dễ thiết kế

v Câu hỏi không về sự việc, sự kiện:

- Khó xác minh, kiểm tra;

- Biến ẩn;

- Khó thiết kế

Một số lưu ý khi dùng câu chữ để đặt câu hỏi:

- Sử dụng các từ ngữ đơn giản, trực tiếp;

- Tránh dùng những nhóm từ viết tắt (UNESCO), chữ viết tắt, biệt ngữ (từ khó hiểu);

- Tránh dùng những từ tối nghĩa hoặc có nhiều nghĩa;

- Tránh dùng câu hỏi mang tính chỉ dẫn;

- Tránh dùng những câu hỏi có nhiều ý;

- Tránh những giả định ngấm ngầm;

- Đừng bắt trí nhớ của người trả lời làm việc quá nhiều;

- Tránh dùng các mệnh đề hay câu nói đã quen thuộc;

- Những câu hỏi về thái độ sẽ tốt nếu người được hỏi nhận thấy là câu hỏi bắt mình phải suy nghĩ

Việc lựa chọn loại hình câu hỏi cần lưu ý đến:

- Số lượng người được hỏi;

- Số lượng và loại hình thông tin cần thu thập;

- Những đặc trưng của người được hỏi (trình độ, tuổi, văn hóa, tín ngưỡng);

- Số lượng thời gian cần cho việc xử lí và phân tích số liệu;

Trang 25

- Hiểu biết của bạn về các vấn đề hỏi (bạn có thể dự đoán các phương án trả lời có thể ở mức độ nào);

- Phương pháp phân tích số liệu

(i) Cấu trúc bảng hỏi bao gồm:

+ Nêu các lí do tiến hành điều tra;

+ Nói rõ việc giữ bí mật (dấu tên) cho người trả lời;

+ Nêu lí do chọn đối tượng để hỏi;

+ Nêu rõ địa chỉ hồi âm phiếu trả lời (nếu điều tra qua đường bưu điện); + Nêu rõ địa chỉ, số điện thoại của người cần liên lạc;

+ Nêu rõ để người trả lời biết kết quả sẽ được sử dụng như thế nào; + Có lời cảm ơn

§ Chỉ dẫn từng phần ở câu hỏi:

Câu hỏi cần nêu rõ yêu cầu:

+ Cách thức trả lời từng câu hỏi như thế nào;

+ Đảm bảo chắc chắn rằng giữa chỉ dẫn và câu hỏi là phù hợp

Một số lưu ý khi xây dựng bảng hỏi:

- Nên bắt đầu với câu hỏi dễ và ít nhạy cảm;

- Không nên bắt đầu bằng câu hỏi mở;

- Nên sắp xếp các câu hỏi từ chung nhất đến cụ thể;

- Nên nhóm các câu hỏi theo từng chủ đề hay tiểu mục;

- Nên làm bảng hỏi càng ngắn càng tốt

Bước 3: Chỉnh sửa bảng hỏi

(i) Đối với các bảng hỏi với câu hỏi đóng khách quan, ví dụ, các thang đo năng

lực hoặc hành vi có cấu trúc/chuẩn hóa, khi tiến hành chỉnh sửa nhà nghiên

cứu có thể sử dụng các phần mềm thống kê thông dụng để đánh giá độ tin

cậy và độ hiệu lực của thang đo nhằm đáp ứng yêu cầu về mặt kĩ thuật

(ii) Đối với các loại bảng hỏi có câu hỏi mở, có thể sử dụng phương pháp

Trang 26

chuyên gia và chỉnh sửa theo góp ý của chuyên gia về nội dung hoặc hình

thức diễn đạt, cách trình bày, liều lượng các câu hỏi…

Bước 4: Thử bảng hỏi

(i) Thử nghiệm trên nhóm mẫu nhỏ khách thể mà nó định đo nhằm mục đích đánh giá sự phù hợp với đối tượng nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau (về cả hình thức lẫn nội dung cũng như thời gian thực hiện)

(ii) Sau lần thử đầu tiên trên mẫu nhỏ khách thể, cần phải thử tiếp trên mẫu lớn hơn để khẳng định tính khách quan của bảng hỏi

(iii) Trong trường hợp của thang đo chuẩn hóa cần có sự tính toán lại các chỉ số kĩ thuật để đảm bảo là khách quan, tin cậy

2.2.1.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Trong nghiên cứu khoa học, khi dùng khái niệm “phương pháp” để nói đến tổng kết kinh nghiệm thì nó có hàm nghĩa rất rộng, và có nghĩa như một đường lối chung để tiếp cận các hiện tượng thực tế nhằm đạt tới bản chất, quy luật của chúng Như vậy, khi vận dụng đường lối này, ngoài phương pháp đặc trưng của nó là khai thác kinh nghiệm, còn có thể dùng các phương pháp và biện pháp nghiên cứu khác nữa để phục vụ cho nó, như: nghiên cứu tài liệu, quan sát khách quan, trò chuyện, nghiên cứu sản phẩm hoạt động, thực nghiệm kiểm chứng

Hướng nghiên cứu này được sử dụng cho loại đề tài tổng kết những kinh nghiệm thành công về lĩnh vực nào đó Như vậy, thực chất của tổng kết kinh nghiệm

là sử dụng phương pháp khai thác kinh nghiệm để xác định điều kiện, nguyên nhân thành công, vạch rõ quy luật, bước đi, cơ chế hình thành của các kinh nghiệm tiên tiến điển hình về những mặt khác nhau của hoạt động thực tiễn Kết quả thu được có thể sử dụng để xây dựng lí luận về chính ngành đó hoặc khoa học khác có liên quan

Nó cũng có thể được dùng làm giả thuyết cho những thực nghiệm

“Kinh nghiệm” là một khái niệm rộng và phức tạp nếu hiểu theo góc độ triết học Ở đây, khi nói đến “tổng kết kinh nghiệm”, chúng ta chủ yếu đề cập đến theo nghĩa hẹp, tức là phương pháp khai thác kinh nghiệm Trong giai đoạn triển khai nghiên cứu với tư cách là một phương pháp NCKH, “khai thác kinh nghiệm” có nghĩa là ghi nhận, thu thập những hiện tượng, những việc làm, những sự kiện đã đem lại kết quả khiêm tốn hoặc to lớn, trong việc giải quyết những khó khăn, thực hiện tốt những nhiệm vụ được giao, thuộc mọi mặt hoạt động trong thực tiễn, để từ

đó đúc kết nên những lí luận phục vụ cho đề tài NCKH

Trong NCKH, phương pháp tổng kết kinh nghiệm có nhiều ưu điểm

- Thứ nhất, nó là những kinh nghiệm sống nên thường xuất phát từ những vấn

đề có thực, nhiều khi là từ những mâu thuẫn then chốt của thực tiễn Vì thế, những lời giải đáp cho đề tài nghiên cứu rút ra từ đó sẽ có nhiều giá trị thực tế, có thể đem

Trang 27

ứng dụng ngay, tốn ít thời gian và công sức nghiên cứu Do đó, những giải pháp này

dễ được mọi người thực hành tin tưởng và giúp họ thêm tin vào khả năng giải quyết các khó khăn trong công tác của mình

- Thứ hai, đây là những kinh nghiệm đã ít nhiều thành công về một số phương

diện nào đó, nên khi ta lựa chọn kinh nghiệm để khai thác thì công việc đó có tính chủ động hơn, tập trung hơn vào các nhiệm vụ của công trình nghiên cứu so với tính chất thụ động của quan sát khách quan Ngoài ra, nếu là kinh nghiệm của những đơn vị thí điểm thì tính định hướng của nó càng rõ rệt, càng gần gũi với thực nghiệm khoa học hơn

- Thứ ba, các kinh nghiệm sống thường sinh động, đa dạng, đặc biệt là những

kinh nghiệm tương đối toàn diện của các đơn vị tiên tiến, vì vậy có thể cung cấp tài liệu để đúc kết được nhiều khía cạnh phong phú thuộc nhiều ngành khoa học khác nhau Ngoài ra, các đơn vị tiên tiến thường có tính điển hình và là những sự kiện đã phát triển khá đầy đủ, nên khai thác những kinh nghiệm của nó để phát hiện bản chất

và quy luật sẽ thuận lợi hơn so với việc nghiên cứu các đối tượng trung bình hoặc yếu

- Cuối cùng, sử dụng phương pháp tổng kết kinh nghiệm để NCKH ở lĩnh vực

nào đó là công việc dễ kết hợp với công tác đúc rút kinh nghiệm, tổng kết công tác

mà chúng ta thường làm, vì thế có thể đạt kết quả tốt vừa cho công tác vừa cho NCKH

Tuy nhiên, phương pháp tổng kết kinh nghiệm có những khó khăn và hạn chế

nhất định

- Thứ nhất, việc phát hiện, nhìn nhận và đánh giá phụ thuộc rất nhiều vào

phẩm chất (vô tư, nghiêm túc, khoa học ) và năng lực của người nghiên cứu (nghiệp vụ chuyên môn cũng như trình độ lí luận) Nếu thiếu những điều đó, thì có thể gặp mà không thể nhìn ra kinh nghiệm tốt, đặc biệt khi nó không bộc lộ ngay

mà có tác dụng lâu dài Ngược lại, có những kinh nghiệm lúc đầu tỏ ra tốt, nhưng chỉ có lợi trước mắt mà lại có hại về lâu dài Vì thế cần phải hết sức cảnh giác điều này trong khai thác kinh nghiệm

- Thứ hai, nếu chính tác giả phải tự trình bày lại kinh nghiệm của mình thì sẽ

gặp những khó khăn của phương pháp tự quan sát hoặc phương pháp nội quan, tức

là dễ xen lẫn cái chủ quan vào cái khách quan Nếu trình độ hạn chế thì dễ bỏ sót,

dễ nhầm lẫn cái thứ yếu với cái chủ yếu, cái ngẫu nhiên với cái mang tính quy luật hoặc ngược lại, tước bỏ mất phần sinh động thực tế của kinh nghiệm

- Thứ ba, những bài học kinh nghiệm lớn thường có rất nhiều phương tiện liên

quan đến nhiều ngành khác nhau nên đòi hỏi sự nghiên cứu liên ngành Trong trường hợp đó, nếu không tổ chức được một nghiên cứu mang tính liên ngành như vậy, mà chỉ nghiên cứu từng mặt tách rời khỏi cơ cấu chung, thì khó thấy hết được

vị trí, ý nghĩa và phạm vi của các kết luận thu được Thậm chí có thể không phân

Trang 28

biệt được cái bản chất chung với cái đặc trưng, thậm chí với cái cá biệt mà nó chỉ có tác dụng trong trường hợp cụ thể đơn nhất ấy

2.2.1.4 Phương pháp thực nghiệm

Nghiên cứu thực nghiệm là một trong những loại hình nghiên cứu có sức thuyết phục nhất mà nhà nghiên cứu có thể sử dụng Đây là cách tốt nhất để thiết lập mối quan hệ nguyên nhân – kết quả giữa các biến số

(i) Đặc trưng của phương pháp thực nghiệm

Đặc trưng chính của nghiên cứu thực nghiệm là người nghiên cứu điều khiển

biến số độc lập hay còn gọi là biến số thực nghiệm Họ quyết định sẽ tác động đến

khía cạnh nào, đối tượng nào và ở chừng mực nào Trong nghiên cứu về khoa học giáo dục, các biến số độc lập có thể là các phương pháp giảng dạy; các loại hình kiểm tra, đánh gía; tài liệu học tập; các hình thức tổ chức họat động giáo dục; các loại hình câu hỏi giáo viên đặt ra trong giờ học; các hình thức tổ chức lớp học, các hình thức

khen thưởng Biến số phụ thuộc là kết quả của nghiên cứu Đó thường là kết quả học

tập, hứng thú đối với môn học, với hoạt động, động cơ, thái độ đối với nhà trường

Những đặc trưng cơ bản của nghiên cứu thực nghiệm: Ý tưởng cơ bản của tất

cả các nghiên cứu thực nghiệm rất đơn giản: thử nghiệm một cái gì đó và quan sát một cách có hệ thống xem cái gì xảy ra Các thực nghiệm chính thức thường bao gồm hai điều kiện chính: (1) Thứ nhất, ít nhất phải có hai điều kiện hay phương pháp đem so sánh để đánh giá hiệu quả của một điều kiện đặc biệt hay còn gọi là biến số độc lập; (2) Thứ hai, biến số độc lập thường được vận hành trực tiếp bởi nhà nghiên cứu ngay từ đầu Ngoài ra sắp xếp các đối tượng vào các nhóm một cách ngẫu nhiên cũng là khía cạnh quan trọng của nghiên cứu thực nghiệm

- So sánh nhóm Một thực nghiệm thường có 2 nhóm đối tượng - một nhóm

thực nghiệm và một nhóm so sánh hay còn gọi là nhóm đối chứng (đôi khi có thể

chỉ có một nhóm, hoặc nhiều hơn 2 nhóm) Nhóm thực nghiệm được nhận sự tác động của nhà nghiên cứu hay được nhận cách thức tiến hành mới, trong khi nhóm

đối chứng vẫn tiến hành theo cách thức bình thường, hoặc có thể một cách thức

khác Nhóm đối chứng rất quan trọng trong tất cả các thực nghiệm vì được sử dụng nhằm mục đích so sánh để tìm xem cách thức tiến hành mới có hiệu quả hơn trong nhiều cách đưa ra Đôi khi trong thực tế chúng ta bắt gặp nhiều thực nghiệm, mà ở

đó, nhóm đối chứng không nhận được bất kì một cách thức mới nào cả

- Điều khiển biến số độc lập Đặc trưng cơ bản thứ hai của tất cả các thực

nghiệm là người nghiên cứu điều khiển biến số độc lập một cách tích cực Điều đó có nghĩa là người nghiên cứu xác định trực tiếp và có mục đích các hình thức của biến

số độc lập, nhóm đối tượng nào sẽ nhận hình thức nào Để điều khiển biến số độc lập, người nghiên cứu cần phải qui định ai sẽ nhận được cái gì; khi nào, ở đâu và bằng cách nào họ nhận được nó

Trang 29

Biến số độc lập trong thực nghiệm có thể được thiết lập dưới nhiều cách khác nhau Cụ thể là:

+ Hai cách thức tiến hành đối ngược nhau

+ Sự hiện diện và sự vắng mặt của một cách thức tiến hành nào đó

+ Các mức độ khác nhau của cùng một cách thức

- Tính ngẫu nhiên: Khía cạnh quan trọng của bất cứ một thực nghiệm nào là

sự sắp xếp ngẫu nhiên các đối tượng vào các nhóm nghiên cứu Trên thực tế, có nhiều thực nghiệm không thể sử dụng sự sắp xếp ngẫu nhiên được, nhưng người nghiên cứu cần cố gắng sử dụng nó bất cứ khi nào có thể Sự sắp xếp ngẫu nhiên này tương tự như sự chọn mẫu ngẫu nhiên mà chúng ta sẽ thảo luận chi tiết ở phần sau Tuy nhiên, chúng không phải giống nhau hoàn toàn Sự sắp xếp ngẫu nhiên có nghĩa là từng cá nhân - đối tượng nghiên cứu đều có cơ hội như nhau để được xếp đặt vào nhóm thực nghiệm hay nhóm đối chứng Để có được sự sắp xếp ngẫu nhiên, từng đối tượng trong mẫu nghiên cứu được đánh số và sau đó dùng “Bảng số ngẫu nhiên” để lựa chọn đối tượng vào nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng

Việc xếp đặt một cách ngẫu nhiên vào nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng

là nhằm hạn chế đến mức tối đa những ảnh hưởng của các biến số không liên quan đến thực nghiệm nhưng có tác động đến kết quả nghiên cứu Đây chính là một trong những lí do vì sao thực nghiệm thường được xem xét có hiệu quả hơn các loaị hình nghiên cứu khác trong việc đánh giá mối quan hệ nguyên nhân và hệ quả

Tuy nhiên, chúng ta cần phải hiểu một thực tế là việc xếp đặt ngẫu nhiên chỉ đảm bảo các nhóm tương đương nhau ở một vài khía cạnh Hơn nữa, việc xếp đặt ngẫu nhiên sẽ không bảo đảm các nhóm tương đương nếu cả hai nhóm không đủ về

số lượng Trong nghiên cứu thực nghiệm ít nhất mỗi nhóm phải có 30 đối tượng

(ii) Các loại hình thực nghiệm

§ Loại hình tiền thực nghiệm:

Trong một số tài liệu người ta còn gọi loại thực nghiệm này là loại hình thực nghiệm yếu, bởi vì chúng không kiểm soát được bất cứ một sự tác động nào từ phía ngoài đến kết quả nghiên cứu Bên cạnh biến số độc lập, còn có nhiều sự giải thích cho kết quả nghiên cứu Vì thế, nhà nghiên cứu khi sử dụng loại hình này sẽ khó khăn khi đánh giá hiệu quả của biến số độc lập Có 4 loại hình nghiên cứu tiền thực nghiệm sau:

- Loại thứ nhất: Nghiên cứu thực nghiệm một trường hợp: Loại hình này chỉ

thu hút một nhóm chịu sự điều khiển hay tác động của nhà nghiên cứu và sau đó tiến hành đo đạc để đánh giá hiệu quả của sự tác động Điểm yếu nhất của loại hình này là không có bất kì sự kiểm soát nào

- Loại thứ hai: một nhóm có kiểm tra trước và sau thực nghiệm: Khi sử dụng

Ngày đăng: 05/01/2021, 22:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w