PHẦN THỨ NHẤT BÁO CÁO KẾT QUẢ CÔNG TÁC TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG CNTT VÀ THỐNG KÊ NGÀNH TÀI CHÍNH GIAI ĐOẠN 2011-2016 Thực hiện Quyết định số 1766/QĐ-BTC ngày 26/7/2011 của Bộ trưởng Bộ Tài ch
Trang 11
Xây dựng Bộ Tài chính điện tử, nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ
người dân và doanh nghiệp
MỤC LỤC
1 Chương trình Hội nghị 2
2 Báo cáo kết quả công tác triển khai ứng dụng CNTT và thống kê ngành tài chính giai đoạn 2011-2016 và kế hoạch triển khai ứng dụng CNTT và thống
kê giai đoạn 2016-2020 3
3 Đảm bảo an toàn thông tin ngành Tài chính 65
4 Kết quả công tác thống kê tài chính giai đoạn 2011-2015 và kế hoạch triển khai công tác thống kê tài chính giai đoạn 2016-2020 78
5 Định hướng mô hình ứng dụng CNTT tại Sở Tài chính giai đoạn 2017-2020 93
6 Phối hợp triển khai dịch vụ nộp thuế qua mạng, hoàn thuế điện tử và phối hợp với các cơ quan liên quan để triển khai dịch vụ nộp thuế đất đai, lệ phí trước bạ, hộ cá nhân qua mạng 130
7 Kinh nghiệm triển khai ứng dụng CNTT tại Cục Thuế thành phố Hà Nội 137
8 Phát triển hệ thống Hải quan điện tử, thực hiện cơ chế một cửa quốc gia và kết nối cơ chế một cửa ASEAN 143
9 Kinh nghiệm triển khai dịch vụ công trực tuyến tại Cục Hải quan thành phố Hải phòng 150
10 Kinh nghiệm hợp tác, phối hợp với các ngân hàng thương mại trong lĩnh vực thanh toán song phương, ủy nhiệm thu và phối hợp thu 155
11 Triển khai hệ thống đầu tư liên ngành tại thành phố Hà Nội 161
Trang 22
Xây dựng Bộ Tài chính điện tử, nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ
người dân và doanh nghiệp
CHƯƠNG TRÌNH HỘI NGHỊ TRIỂN KHAI CÔNG TÁC ỨNG DỤNG CNTT - THỐNG KÊ TÀI CHÍNH
07h30-08h00 Đón tiếp đại biểu
Ban Tổ chức
08h00-08h10 Tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu
08h10-08h20 Video clip về ứng dụng CNTT ngành Tài chính,
xây dựng nền móng Chính phủ điện tử 08h20-08h35 Phát biểu khai mạc và chỉ đạo Hội nghị Bộ trưởng
Bộ Tài chính
08h35-08h50 Phát biểu chào mừng hội nghị
Lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông Lãnh đạo Tổng cục Thống kê
08h50-09h15 - Báo cáo kết quả công tác triển khai ứng dụng CNTT
và thống kê ngành Tài chính giai đoạn 2011-2016
- Kế hoạch triển khai ứng dụng CNTT và thống kê ngành Tài chính giai đoạn 2016-2020
Cục THTK
09h15-09h25 Phối hợp triển khai dịch vụ nộp thuế qua mạng, hoàn
thuế điện tử và phối hợp với các cơ quan liên quan để triển khai dịch vụ nộp thuế đất đai, lệ phí trước bạ, hộ
cá nhân qua mạng
Tổng cục Thuế
09h25-09h35 Phát triển hệ thống Hải quan điện tử, thực hiện cơ chế
một cửa quốc gia và kết nối cơ chế một cửa ASEAN
Tổng cục Hải quan
09h35-09h45 Kinh nghiệm hợp tác, phối hợp với các ngân hàng
thương mại trong lĩnh vực thanh toán song phương,
ủy nhiệm thu và phối hợp thu Ngân sách Nhà nước
Kho bạc Nhà nước
09h45-11h15 Phát biểu, thảo luận Theo sự điều hành
của Ban Tổ chức 11h15-11h30 Lãnh đạo Bộ phát biểu bế mạc hội nghị Lãnh đạo Bộ
Trang 33
Xây dựng Bộ Tài chính điện tử, nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ
người dân và doanh nghiệp
BÁO CÁO KẾT QUẢ CÔNG TÁC TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG CNTT VÀ THỐNG KÊ NGÀNH TÀI CHÍNH
Trang 4PHẦN THỨ NHẤT BÁO CÁO KẾT QUẢ CÔNG TÁC TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG CNTT VÀ THỐNG KÊ NGÀNH TÀI CHÍNH GIAI ĐOẠN 2011-2016
Thực hiện Quyết định số 1766/QĐ-BTC ngày 26/7/2011 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính phê duyệt Kế hoạch ứng dụng CNTT ngành Tài chính giai đoạn
2011 – 2015, trong giai đoạn 2011 – 2015 và năm 2016, công tác triển khai ứng dụng CNTT trong toàn ngành tài chính đã được đẩy mạnh, tập trung nguồn lực xây dựng hệ thống ứng dụng tập trung phục vụ công tác quản lý điều hành, vận hành, duy trì ổn định hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ triển khai các hệ thống ứng dụng được thông suốt, đảm bảo an ninh an toàn thông tin, từng bước triển khai xây dựng Chính phủ điện tử, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, chuyên môn của Bộ Tài chính và các đơn vị thuộc Bộ Tài chính, cụ thể như sau:
I Bối cảnh triển khai ứng dụng CNTT ngành Tài chính giai đoạn 2011-2015:
Ngày 27/8/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1605/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011 – 2015 Theo đó việc triển khai ứng dụng CNTT trong giai đoạn này cần phải tập trung vào các mục tiêu:
- Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử
- Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong hoạt động nội bộ của các
cơ quan nhà nước, hướng tới nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí hoạt động
- Cung cấp thông tin, dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, trên diện rộng cho người dân và doanh nghiệp, làm cho hoạt động của cơ quan nhà nước minh bạch hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn
Tại Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông” đã đặt ra mục tiêu đến năm 2015: cung cấp hầu hết các dịch vụ công cơ bản trực tuyến tới người dân và doanh nghiệp mức độ 2 và
3 (nhận mẫu hồ sơ trên mạng và trao đổi thông tin, gửi, nhận hồ sơ qua mạng)
Trong giai đoạn này, việc xây dựng và phát triển ứng dụng CNTT trong ngành Tài chính đã có chiến lược rõ ràng, tiến hành đồng thời ba nội dung: Củng
cố về tổ chức; Tăng cường về công nghệ; Hoàn thiện về chính sách và luôn đảm bảo tính kế thừa nhằm tạo nên những bước tiến vững chắc trong quá trình xây dựng Kế hoạch tổng thể ứng dụng CNTT ngành Tài chính
Việc ứng dụng CNTT của ngành Tài chính trong giai đoạn 2011-2015 tập trung vào việc hoàn thiện và triển khai rộng các hệ thống lớn, xử lý dữ liệu tập trung, sử dụng các giải pháp công nghệ hiện đại (hệ thống quản lý ngân sách và
Trang 5kho bạc TABMIS, hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS, hệ thống quản
lý thuế tập trung TMS, ), ứng dụng CNTT luôn gắn liền với cải cách cơ chế tài chính, tái cơ cấu lại các quy trình nghiệp vụ theo thông lệ quốc tế
II Đánh giá kết quả triển khai ứng dụng CNTT ngành Tài chính giai đoạn 2011 – 2015 và năm 2016:
1 Về triển khai Chính phủ điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến phục vụ người dân, doanh nghiệp và các đơn vị có quan hệ với ngân sách:
Trong giai đoạn 2011-2015 và năm 2016 các đơn vị trong ngành đẩy mạnh cung cấp thông tin, dịch vụ hành chính công trực tuyến cho các đơn vị có quan hệ với ngân sách, người dân và doanh nghiệp; gắn chặt ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý tài chính với cải cách thủ tục hành chính, chuẩn hóa các quy trình nghiệp vụ, công khai thông tin theo quy định để hoạt động của ngành Tài chính minh bạch hơn, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phục vụ người dân, doanh nghiệp, đơn vị có quan hệ với ngân sách
- Đến nay, hệ thống Cổng Thông tin điện tử ngành Tài chính bao gồm Cổng Thông tin điện tử Bộ Tài chính và 110 Cổng Thông tin điện tử/Trang Thông tin điện tử của các đơn vị thuộc Bộ (tính đến cấp Cục) Trong đó:
+ Tại trung ương: 100% các cơ quan đơn vị của Bộ tại trung ương có Cổng Thông tin điện tử/Trang Thông tin điện tử bao gồm (Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Tổng cục Dữ trữ Nhà nước, Kho bạc Nhà nước)
+ Tại địa phương (cấp Cục): hệ thống Thuế có 63/63 đơn vị; hệ thống Hải quan
có 31/34 đơn vị; Ủy ban Chứng khoán có 1/2 đơn vị trực thuộc có cổng thông tin + 10/10 các tổ chức sự nghiệp thuộc Bộ có Cổng/Trang Thông tin điện tử trên Internet
- Đến hết năm 2016, tổng số thủ tục hành chính tại Bộ Tài chính đã triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến là 917 thủ tục, trong đó: 254 dịch vụ công trực tuyến mức độ 1; 332 dịch vụ công trực tuyến mức độ 2; 85 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 246 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 Trong đó phải kể đến một số dịch vụ công điển hình như:
- Cấp mã số đơn vị có quan hệ với ngân sách (ĐVQHNS): Từ năm 2016 đến nay, đơn vị nộp hồ sơ xin cấp mã có thể sử dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 về đăng ký mã số ĐVQHNS Triển khai Dịch vụ công mức 4, các đơn
vị sau khi nộp đầy đủ và hợp lệ hồ sơ đăng ký mã số ĐVQHNS sẽ được cơ quan tài chính cấp mã số và gửi Giấy chứng nhận mã số đơn vị có quan hệ ngân sách điện tử tại mục Dịch vụ công trực tuyến về cấp mã số ĐVQHNS trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính (www.mof.gov.vn) Đơn vị QHNS dùng Giấy chứng nhận mã số điện tử này để giao dịch với cơ quan tài chính, trên mỗi Giấy chứng nhận điện tử được gắn 01 mã vạch để thực hiện kiểm tra, xác định mã số
do cơ quan tài chính cấp Thời gian thực hiện cấp mã đã được rút ngắn xuống còn 02 ngày (rút ngắn 03 ngày so với trước đây)
Trang 6- Đối với lĩnh vực Thuế: Trong giai đoạn vừa qua đã triển khai mở rộng
hệ thống dịch vụ thuế trên mạng cung cấp các dịch vụ như: hệ thống khai thuế công nghệ mã vạch (offline), khai thuế trực tuyến (online); Cổng điện tử trao đổi thông tin về thuế với các Ngân hàng để thực hiện nộp thuế điện tử; kết hợp với các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông để triển khai hệ thống hỗ trợ nhắn tin qua điện thoại (SMS) Các ứng dụng phục vụ người nộp thuế đã được triển khai và nâng cấp thường xuyên để người nộp thuế có thể khai thác thông tin thuận lợi nhất phục vụ cho việc thực hiện nghĩa vụ thuế, tự kê khai, nộp thuế và kiểm soát được tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế của mình, đồng thời tránh được rủi ro trong quá trình kinh doanh Cụ thể:
Về khai thuế điện tử: Tính đến hết năm 2016, hệ thống khai thuế qua mạng đã được triển khai cho 63 Cục Thuế và 100% các Chi cục Thuế trực thuộc Cả nước đã có 564.488 doanh nghiệp tham gia sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử, đạt tỷ lệ 99,64 % trên tổng số 566.504 doanh nghiệp đang hoạt động; số lượng hồ sơ khai thuế điện tử đã tiếp nhận đến nay là trên 35,4 triệu hồ sơ kê khai thuế
Về nộp thuế điện tử: Tiếp tục phối hợp với 43 Ngân hàng thương mại đã hoàn thành kết nối nộp thuế điện tử với Tổng cục Thuế và 63 Cục Thuế triển khai dịch vụ Nộp thuế điện tử tuyên truyền, vận động doanh nghiệp tham gia sử dụng dịch vụ Đến cuối năm 2016, đã có trên 547.000 doanh nghiệp đã đăng ký
sử dụng dịch vụ với cơ quan Thuế (đạt tỷ lệ 96,70%) và trên 530.000 doanh nghiệp hoàn thành đăng ký dịch vụ với ngân hàng (đạt tỷ lệ 93,69%)
Theo Báo cáo môi trường kinh doanh năm 2017 vừa được Ngân hàng thế giới (WB) công bố, thứ hạng nộp thuế của Việt Nam tăng 11 bậc so với báo cáo năm 2016 (từ 178 lên thứ hạng 167, trong tổng số 190 quốc gia, vùng lãnh thổ), nếu xét trong 10 chỉ số của báo cáo môi trường kinh doanh nói chung của Việt Nam, theo xếp hạng của WB, thì thuế là chỉ tiêu có mức độ tăng điểm nhiều nhất: Từ 38.36 điểm % năm 2015 lên 49.39 điểm % năm 2016, tăng 11 điểm %
- Về hải quan điện tử: Cho đến nay 100% cơ quan Hải quan các tỉnh, thành phố (bao gồm 34/34 Cục Hải quan tỉnh, thành phố với 100% Chi cục) đã thực hiện thủ tục hải quan điện tử thông qua Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS; 100% các quy trình thủ tục hải quan cơ bản đã được tự động hóa trên phạm vi toàn quốc tới cấp Chi cục Hơn 99,65% doanh nghiệp tham gia thực hiện thủ tục hải quan bằng phương thức điện tử Việc triển khai Hệ thống VNACCS/VCIS đã rút ngắn thời gian làm thủ tục hải quan cho doanh nghiệp, giảm thiểu giấy tờ và đơn giản hóa hồ sơ hải quan, tạo tiền đề cho việc kết nối
hệ thống Cơ chế một cửa quốc gia với các Bộ, ngành liên quan
Cơ chế một cửa quốc gia và kết nối cơ chế một cửa ASEAN đã được triển khai tại 11 Bộ, ngành (Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan), Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng, VCCI) với tổng số thủ tục hành chính đưa lên Cơ chế một cửa quốc gia là 37 thủ tục với khoảng
Trang 7264.000 bộ hồ sơ và khoảng 9.400 doanh nghiệp tham gia Kết nối trao đổi thông tin với các cơ quan quản lý nhà nước, các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Logistic, bảo hiểm và các dịch vụ khác liên quan: tiếp tục triển khai thanh toán điện tử (E-payment) trên cơ sở kết nối
hệ thống CNTT hải quan với các hệ thống CNTT của Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thương mại Đến nay, ngành Hải quan đã ký thỏa thuận hợp tác thu thuế xuất nhập khẩu bằng phương thức điện tử với 33 ngân hàng
- Trong lĩnh vực kho bạc đã xây dựng các dịch vụ công điện tử phục vụ kiểm soát chi ngân sách nhà nước (NSNN) qua mạng, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương và các ngân hàng thương mại đẩy mạnh việc thu phạt vi phạm hành chính qua mạng điện tử Đến hết năm 2016, Kho bạc Nhà nước đã hoàn thành việc xây dựng và triển khai tại 5 thành phố trực thuộc Trung ương 3 dịch vụ công trực tuyến mức 3 gồm: (i) Khai báo giao nhận hồ sơ và giao dịch một cửa thuộc lĩnh vực kho bạc; (ii) Giao diện thông tin yêu cầu thanh toán và Chương trình kê khai yêu cầu thanh toán qua mạng; (iii) Đăng ký mở và sử dụng tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và sẽ tiếp tục triển khai mở rộng trong năm 2017-2018
2 Ứng dụng phục vụ công tác nghiệp vụ:
(1) Đối với lĩnh vực tài chính, ngân sách, kho bạc:
- Triển khai mở rộng Hệ thống trao đổi thông tin thu nộp thuế giữa cơ quan Thuế - Kho bạc - Hải quan -Tài chính là một trong những nội dung quan trọng theo Dự án hiện đại hóa quy trình thu, nộp thuế được phê duyệt Quyết định số 2095/QĐ-BTC ngày 16/8/2010 Năm 2013 đã hoàn thành dự án, triển khai cho 2.560 điểm (Cơ quan Thuế: 740, Cơ quan Kho bạc: 740, Cơ quan Tài chính: 740, Cơ quan Hải quan: 340) Hiện nay, toàn bộ các giao dịch về thu NSNN đều được điện tử hóa và truyền nhận qua Trung tâm trao đổi chung đặt tại Bộ Tài chính, phục vụ ổn định 24/24 giờ, trung bình 1 năm có khoảng 16 triệu chứng từ/biên lai thu (bảng kê, danh bạ, sổ thuế, tờ khai, lệnh hoàn, gói phản hồi, chứng từ) được truyền nhận
- Hệ thống quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS) đã được triển khai áp dụng ổn định từ năm 2012 tại các cơ quan thuộc Bộ Tài chính, các cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện tại 63 tỉnh, thành phố trên phạm
vi toàn quốc, 37 Bộ, ngành, 3 Sở, ban, ngành của Hà Nội với khoảng 15.000 người sử dụng (số lượng user thường xuyên sử dụng khoảng trên 11.000 người) Việc triển khai thành công hệ thống TABMIS là một bước tiến lớn về hiện đại hoá công tác quản lý ngân sách nhà nước từ khâu phân bổ dự toán, thực hiện thu, chi, kế toán và báo cáo ngân sách, nâng cao tính minh bạch trong thực hiện
kế toán thu-chi ngân sách nhà nước Bên cạnh đó, các hệ thống thông tin kết nối thu ngân sách Nhà nước với các ngân hàng thương mại, hệ thống thanh toán song phương với các NHTM (TTSP-TT) và hệ thống thanh toán liên ngân hàng (TTLNH) cũng đã được thiết lập và vận hành ổn định
- Hệ thống phân tích tài chính và quản lý nợ DMFAS vận hành chính thức
từ tháng 8/2013 với các chức năng chính gồm: (i) Quản lý nợ công của Chính
Trang 8phủ, giám sát các rủi ro tài chính từ các nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp Nhà nước; (ii) Hỗ trợ phát triển việc ghi chép nợ trong nước và quản lý rủi ro trong Chính phủ cũng như việc tổng hợp tổng thể công tác quản lý nợ thông qua giao diện với TABMIS (cung cấp cho TABMIS các thông tin về trái phiếu Chính phủ, chứng từ ghi thu – ghi chi, rút vốn vay,…từ năm 2000 cho đến nay); (iii) Quản lý các khoản viện trợ và các khoản vay nước ngoài, cung cấp một danh mục các khoản thanh toán trả nợ sắp phải trả theo lịch trả nợ và dư nợ phải trả,
hỗ trợ TABMIS trong việc chuẩn bị yêu cầu thanh toán trả nợ nước ngoài (2) Đối với lĩnh vực thuế: Từ năm 2009, Tổng cục Thuế đã xây dựng hệ thống ứng dụng Quản lý thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) sử dụng giải pháp có sẵn của quốc tế theo mô hình xử lý tập trung trên phạm vi toàn quốc Đến hết
2012, Tổng cục Thuế đã triển khai thành công hệ thống ứng dụng quản lý thuế TNCN tại 63 Cục Thuế và gần 700 cơ quan Thuế quận, huyện Đây là hệ thống quản lý thuế tích hợp cho phép xử lý và quản lý tập trung thông tin thuế TNCN trên phạm vi toàn quốc Hệ thống đã xử lý đăng ký thuế và cấp mã số thuế cho hơn 10 triệu cá nhân và hỗ trợ cán bộ thuế trong các khâu quản lý thuế như: phân loại người nộp thuế, đôn đốc kê khai, xử lý tờ khai và tính thuế, kế toán người nộp thuế, kế toán thu ngân sách, thu thuế và quản lý nợ, v.v Đặc biệt hệ thống có thể hỗ trợ cơ quan thuế kiểm tra và thực hiện quyết toán thuế, hoàn thuế TNCN cho NNT trên phạm vi toàn quốc
Từ những kết quả đã đạt được trong việc triển khai ứng dụng quản lý thuế TNCN và hiệu quả tích cực hỗ trợ triển khai Luật thuế TNCN, Tổng cục đã quyết định nâng cấp kiến trúc hệ thống ứng dụng Quản lý thuế hiện hành lên mô hình xử lý tập trung tại Tổng cục bằng giải pháp nâng cấp mở rộng hệ thống ứng dụng QLT_TNCN để quản lý các loại thuế khác gọi tắt là “Hệ thống ứng dụng Quản lý thuế tập trung” (viết tắt là TMS) Hệ thống TMS thay thế cho 16 ứng dụng Quản lý thuế hiện hành và là hệ thống ứng dụng tác nghiệp lõi chính thức
và duy nhất của ngành Thuế hỗ trợ công tác quản lý thuế của các cấp trong ngành Thuế Đến nay hệ thống đã hoàn thành triển khai và vận hành tại 63/63 Cục Thuế và toàn bộ các Chi cục Thuế trực thuộc trên toàn quốc
(3) Đối với lĩnh vực hải quan: Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS được triển khai tại 100% các đơn vị hải quan trên phạm vi toàn quốc với hơn 99,65% doanh nghiệp tham gia thực hiện thủ tục hải quan bằng phương thức điện tử Hệ thống VNACCS/VCIS cùng với các hệ thống thông quan (e-Declaration) và hệ thống thanh toán thuế (e-payment), được triển khai đồng bộ, có kết nối, trao đổi thông tin đã đảm nhận và xử lý thông tin phục vụ thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoàn toàn trên môi trường điện tử theo mô hình xử lý tập trung
(4) Đối với lĩnh vực chứng khoán: Hệ thống CNTT đối với thị trường chứng khoán bao gồm giao dịch, lưu ký chứng khoán và được áp dụng chung cho Sở giao dịch chứng khoán cũng như Trung tâm lưu ký Bên cạnh đó, trong năm 2013, UBCK đã xây dựng và triển khai 02 hệ thống phục vụ công bố thông tin và giám sát giao dịch:
Trang 9- Hệ thống công bố thông tin cho công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán IDS nhằm quản lý, giám sát hoạt động của thị trường chứng khoán Đến nay đã có khoảng 90% công ty đại chúng đăng ký sử dụng, đã thực hiện báo cáo
và công bố trên 30.000 thông tin về các công ty đại chúng;
- Hệ thống giám sát giao dịch trên thị trường chứng khoán (MSS) thực hiện các phân tích trên những dữ liệu của thị trường để hỗ trợ và phục vụ cho công tác quản lý, giám sát thị trường chứng khoán
(5) Đối với lĩnh vực dự trữ: Hệ thống quản lý vật tư hàng hóa, kho tàng dự trữ nhà nước đã được xây dựng, triển khai theo mô hình tập trung và được sử dụng thống nhất trên cả 03 cấp của hệ thống dự trữ nhà nước nhằm hỗ trợ các hoạt động nghiệp vụ nhập, xuất, bảo quản hàng hóa dự trữ quốc gia Năm 2016, Tổng cục DTNN đã hoàn thành xây dựng CSDL dự trữ nhà nước phục vụ việc cung cấp thông tin cho hoạt động đánh giá, phân tích hỗ trợ công tác điều hành
ra quyết định và xây dựng cơ chế chính sách quản lý dự trữ quốc gia
(6) Công tác thống kê tài chính: Trong giai đoạn 2011-2015, công tác thống kê đã được Lãnh đạo Bộ Tài chính quan tâm, chỉ đạo sát sao, Bộ trưởng
Bộ Tài chính đã phê duyệt Kế hoạch phát triển hệ thống thông tin và dữ liệu thống kê tài chính đến năm 2015 (Quyết định số 2179/QĐ-BTC ngày 27/8/2010)
và Kế hoạch hành động của Bộ Tài chính thực hiện Chiến lược phát triển Thống
kê Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 (Quyết định số 3036/QĐ-BTC ngày 27/11/2014) Công tác thống kê đã đạt được kết quả như sau:
Thể chế, khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động thống kê của toàn ngành, địa phương và hoạt động thống kê của các hệ thống thuộc Bộ cơ bản đã hình thành Đến thời điểm hiện nay, đã hình thành lên các tổ chức làm công tác thống
kê chuyên trách tại Cục Tin học và Thống kê tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Kho bạc Nhà nước và Tổng cục Hải Quan
Triển khai Quyết định số 2179/QĐ-BTC, Bộ Tài chính đã triển khai đồng
bộ nhiều giải pháp, nội dung nhằm xây dựng và tổ chức công tác thống kê tài chính thống nhất từ trung ương đến địa phương, hỗ trợ các Sở Tài chính phát triển công tác thống kê tài chính tại địa phương cả về nghiệp vụ, năng lực, tổ chức và phương tiện, công cụ Để nâng cao chất lượng thông tin thống kê, công tác thu thập thông tin cũng được thực hiện qua hình thức đa dạng, phong phú, hệ thống chỉ tiêu và chế độ báo cáo thống kê tài chính mới đã từng bước đảm bảo tính đồng bộ và là nguồn thông tin đầu vào tin cậy của hệ thống chỉ tiêu thống
kê quốc gia và các hệ thống chỉ tiêu thống kê khác
Bên cạnh đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong triển khai công tác thống kê tài chính, Bộ Tài chính đã tăng cường nghiên cứu, ứng dụng phương pháp luận thống kê tiên tiến và xây dựng, chuẩn hóa các quy trình thống kê theo chuẩn mực quốc tế Đồng thời, chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu biểu mẫu, hạn chế sự chồng chéo, trùng lắp; xây dựng và quản lý các bảng mã phân loại thống kê tập trung đã đáp ứng tốt các yêu cầu sử dụng trong các hệ thống phần mềm tập trung của ngành Tài chính
Trang 10Ngoài ra, việc công bố và sử dụng thông tin thống kê ngày càng được chuẩn hóa, các sản phẩm thống kê đa dạng, phong phú Bên cạnh các ấn phẩm thống kê truyền thống như: Niên giám thống kê tài chính, Báo cáo thường niên của Bộ Tài chính, Niên giám Thống kê Hải quan, Cuốn sách Ngân sách Việt Nam, Báo cáo thường niên của UBCKNN, Bộ Tài chính cũng đã áp dụng nhiều biện pháp công bố thông tin đa dạng qua Cổng thông tin điện tử, qua hệ thống phần mềm, mạng máy tính
Năm 2016 là năm đầu tiên Luật Thống kê chính thức có hiệu lực thi hành, công tác thống kê và cơ sở dữ liệu được tập trung triển khai và có nhiều đổi mới Trong năm, đã tổ chức hội nghị tập huấn Tăng cường triển khai Luật Thống kê
và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thống kê Các đơn vị trong ngành đã chủ động phối hợp triển khai nhiều giải pháp thu thập, tổng hợp, phân tích đảm bảo cung cấp kịp thời các thông tin, số liệu về kinh tế, xã hội, tài chính ngân sách phục vụ công tác quản lý điều hành của Bộ; duy trì báo cáo thống kê tài chính, thông tin phục vụ Lãnh đạo
Bên cạnh đó, việc hoàn thành nghiên cứu đề án Xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về Tài chính được phê duyệt tại Quyết định số 2376/QĐ-BTC ngày 01/11/2016 là cơ sở cho triển khai công tác thống kê và xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính tạo nền tảng xây dựng Chính phủ điện tử
(7) Đối với lĩnh vực quản lý công sản: năm 2014 đã hoàn thành dự án nâng cấp Hệ thống Quản lý đăng ký tài sản Nhà nước lên phiên bản 3.0 theo mô hình tập trung hỗ trợ việc đăng ký, quản lý sử dụng tài sản của các đơn vị sử dụng ngân sách, với các tài sản là đất, nhà cửa, vật kiến trúc, ô tô và các tài sản cố định khác
có nguyên giá trên 500 triệu đồng, triển khai cho 127 đơn vị (Cục Quản lý công sản, 63 Sở Tài chính và 63 Bộ, ngành cơ quan trung ương)
(8) Xây dựng, vận hành và tổ chức triển khai CSDL tài chính, ngân sách Trong giai đoạn 2011-2015, ngành Tài chính không thực hiện xây dựng mới các CSDL, chỉ thực hiện duy trì cập nhật và phát triển các đã được đầu tư xây dựng trong giai đoạn 2000 - 2010, gồm:
- CSDL thu chi ngân sách: CSDL thu chi NSNN được thiết kế, xây dựng lần đầu năm 2003 có chức năng thu thập, tổng hợp, lưu trữ, xử lý và cung cấp các thông tin ngân sách như: Thông tin về tình hình thực hiện chấp hành thu chi Ngân sách hàng tháng, quý và năm chi tiết theo MLNS; Thông tin về quyết toán NSNN, lưu các thông tin số liệu về các báo cáo quyết toán thu, chi NSNN hàng năm; Nhóm báo cáo công khai ngân sách gồm những báo cáo có sẵn, được đính kèm file, hoặc nhập dữ liệu trực tiếp theo form định sẵn; Nhóm dữ liệu tổng hợp báo cáo lưu các thông tin về dữ liệu tổng hợp báo cáo sinh ra từ các dữ liệu gốc Việc cập nhật dữ liệu từ Hệ thống Tabmis vào CSDL thu chi NSNN được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 123/2014/TT-BTC ngày 27/8/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn tổ chức vận hành, khai thác Hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và Kho bạc (TABMIS)
Trang 11- CSDL đơn vị có quan hệ ngân sách: CSDL chủ đề mã số đơn vị có quan
hệ với ngân sách là ứng dụng cấp mã đơn vị có quan hệ với ngân sách đang được nâng cấp theo hướng cung cấp dịch vụ công mức 4, cấp mã trực tuyến, hướng tới cung cấp công khai các thông tin về các đơn vị có quan hệ với ngân sách kể từ ngày 01/01/2016 Hệ thống được cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước tại TW và địa phương sử dụng trong công tác cấp và quản lý mã số đơn vị
có quan hệ với ngân sách, mã giao dịch với cơ quan kho bạc Tổng số mã số đơn
vị có quan hệ với ngân sách đã cấp được là 695.151 đơn vị trong đó có 105.941 đối tượng là đơn vị dự toán, đơn vị sử dụng ngân sách, đơn vị khác có quan hệ với ngân sách và 589.210 mã số dự án đầu tư
- CSDL văn bản pháp quy: thu thập và lưu trữ toàn bộ các văn bản pháp quy của Quốc hội, Chính phủ và các Bộ liên quan đến tài chính ngân sách CSDL lưu trữ được gần 31.935 văn bản, trong đó có 8.883 văn bản của ngành Tài chính, khoảng 23.052 văn bản của các đơn vị ngoài ngành Tài chính CSDL về văn bản pháp quy được cập nhật đầy đủ, kịp thời, có hiệu quả và thường xuyên được sử dụng khai thác với trung bình 60.000 lượt truy cập trong một năm
- CSDL danh mục dùng chung (DMDC): CSDL DMDC là hệ thống CSDL được đầu tư xây dựng, phục vụ chuẩn hóa hệ thống danh mục, hạn chế sự chồng chéo, trùng lắp, quản lý các bảng mã phân loại tập trung của ngành Tài chính theo quy định về Hệ thống danh mục điện tử dùng chung ngành Tài chính tại Quyết định số 35/QĐ-BTC ngày 06/01/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Dữ liệu về DMDC được cập nhật hàng ngày phục vụ cho việc tích hợp, trao đổi thông tin, phân loại, phân tổ kế toán, thống kê trong các phần mềm ứng dụng, hệ thống thông tin của ngành Tài chính (Kế toán kho bạc, Quản lý ngân sách, Hệ thống trao đổi số liệu thu nộp Thuế (TCS), Quản lý tài sản công, ) đặc biệt đây
là hệ thống đã cung cấp các bảng mã chính (Hệ thống COA) phục vụ tích cực cho việc triển khai thành công dự án TABMIS
- Lĩnh vực Hải quan: Trong giai đoạn 2011 - 2015 đã xây dựng, triển khai: CSDL thông tin tình báo; CSDL quản lý rủi ro; CSDL trị giá hải quan; CSDL hàng hóa xuất khẩu/nhập khẩu; CSDL danh mục biểu thuế và phân loại mức thuế Việc xây dựng các CSDL này đã góp phần quan trọng trong việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong ngành Hải quan, thúc đẩy chuyển đổi mô hình CNTT từ phân tán sang mô hình CNTT tập trung tại Tổng cục Hải quan; đồng thời nâng cao chất lượng công tác điều tra chống buôn lậu; công tác kiểm tra sau thông quan; đáp ứng yêu cầu quản lý, khai thác số liệu
- Lĩnh vực Thuế: Đã xây dựng CSDL tập trung thông tin đầy đủ, chính xác về người nộp thuế và tình hình thu, nộp thuế trên toàn quốc Đồng thời, củng
cố và nâng cấp CSDL tập trung về doanh nghiệp đã được xây dựng từ giai đoạn trước; xây dựng và triển khai ứng dụng khai thác thông tin từ CSDL tập trung này phục vụ cho công tác chỉ đạo, điều hành và quản lý thuế theo phương pháp quản lý rủi ro, hình thành CSDL về quản lý thuế tập trung tại Tổng cục Thuế theo tiến độ triển khai của ứng dụng Quản lý thuế tập trung (TMS)
Trang 12- Lĩnh vực Dự trữ: đã hoàn thành dự án Thiết kế và xây dựng CSDL dự trữ Nhà nước, hình thành một kho dữ liệu tập trung, tổng hợp dữ liệu toàn ngành
về dự trữ quốc gia, phục vụ thông tin cho công tác điều hành, ra quyết định và xây dựng cơ chế, chính sách quản lý dự trữ nhà nước Dữ liệu tổng hợp của các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Tổng cục DTNN được thu thập, tổng hợp và chuyển đổi vào kho dữ liệu trên cơ sở các chiều thông tin liên quan;
là tiền đề xây dựng các chỉ tiêu hỗ trợ đánh giá, truy vấn, phân tích, xử lý số liệu phục vụ hệ thống thông tin báo cáo sắp triển khai
- Lĩnh vực Chứng khoán: đã triển khai và đưa vào vận hành 05 hệ thống CSDL: Hệ thống CSDL quản lý Công ty chứng khoán (SCMS); Hệ thống CSDL quản lý Công ty quản lý Quỹ và Quỹ đầu tư chứng khoán (FMS); Hệ thống CSDL quản lý Nhà đầu tư nước ngoài; Hệ thống CSDL quản lý Người hành nghề chứng khoán; Hệ thống CSDL phục vụ công tác Thanh tra
- Lĩnh vực tài sản công: đã triển khai xây dựng và đưa vào vận hành CSDL quốc gia về tài sản nhà nước để quản lý các nhóm tài sản lớn gồm: (i) đất, nhà thuộc trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp; (ii) xe ô tô các loại (xe phục vụ chức danh, xe phục vụ chung, xe chuyên dùng); (iii) các tài sản khác có nguyên giá từ 500 triệu đồng trở lên/1 đơn vị tài sản Đến nay, CSDL quốc gia
về TSNN đã cập nhật thông tin về TSNN của 101.723 đơn vị, trong đó có 85.680 đơn vị có tài sản thuộc các loại nêu trên đã thực hiện việc kê khai đăng
ký vào CSDL, số đơn vị còn lại không có tài sản thuộc đối tượng phải kê khai đăng ký Tổng giá trị TSNN đến ngày 31/12/2016 là 1.044.899,47 tỷ đồng, trong đó: tài sản là quyền sử dụng đất: 682.538,52 tỷ đồng, tài sản là nhà: 265.068,38
tỷ đồng, tài sản là ô tô: 23.986,30 tỷ đồng, tài sản khác có nguyên giá từ 500 triệu đồng trở lên: 73.306,27 tỷ đồng
- Đối với lĩnh vực quản lý giá: Trong năm 2012, đã hoàn thành xây dựng, triển khai phần mềm Quản lý giá cả thị trường hàng hóa, dịch vụ (phần mềm 2.0) tại 63 Sở Tài chính địa phương nhằm thu thập xử lý thông tin về giá cả thị trường hàng hoá, dịch vụ trong và ngoài nước, tăng cường công tác quản lý điều hành giá và bình ổn giá, hỗ trợ công tác thẩm định giá đáp ứng các nội dung tại Thông tư số 55/2011/TT-BTC ngày 29/4/2011 hướng dẫn chế độ báo cáo giá thị trường hàng hoá, dịch vụ trong nước, giá hàng hoá nhập khẩu Việc triển khai sử dụng phần mềm 2.0 bước đầu góp phần hình thành CSDL về giá và tạo nguồn
dữ liệu cho CSDL quốc gia về giá xây dựng trong thời gian tới theo quy định của Luật Giá số 11/2012/QH13, Nghị định số 89/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 06/08/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật về thẩm định giá; Nghị định số 177/2013/NĐ-CP ngày 14/09/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giá và văn bản hướng dẫn liên quan
3 Ứng dụng CNTT trong nội bộ Bộ Tài chính
(1) Chương trình quản lý văn bản và điều hành:
- Chương trình Quản lý văn bản và điều hành ngành Tài chính (eDocTC): Hoàn thành cài đặt, triển khai và đào tạo hướng dẫn sử dụng phần mềm eDocTC cho 04 đơn vị theo phạm vi triển khai chương trình eDocTC đã được Bộ phê
Trang 13duyệt: cơ quan Bộ Tài chính, Kho bạc Nhà nước, Tổng cục Thuế, Tổng cục Dự trữ Nhà nước Đã chính thức liên thông văn bản điện tử giữa Bộ và các đơn vị trực thuộc Bộ, tích hợp chương trình EdocTC với trục liên thông văn bản điện tử Chính phủ
- Thực hiện Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 22/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường sử dụng văn bản điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước văn bản điều hành cho cơ quan Bộ và các đơn vị thuộc Bộ: Hệ thống của Bộ Tài chính chính thức kết nối liên thông với hệ thống phần mềm quản lý văn bản với Văn phòng Chính phủ từ ngày 1/8/2016 Tính đến hết năm 2016 đã trao đổi 2.881 văn bản, trong đó nhận 1.900 văn bản (bao gồm tất cả các văn bản hành chính và văn bản quy phạm pháp luật), 981 văn bản đi
(2) Hệ thống điện tử đa phương tiện hỗ trợ chỉ đạo điều hành của Bộ Tài chính: Đến hết năm 2016 đã tổ chức thành công 23 cuộc họp trực tuyến Trong
đó, 100% các cuộc họp sơ kết 6 tháng, tổng kết năm của các đơn vị hệ thống đều được thực hiện qua hệ thống Việc triển khai hệ thống đã bước đầu đem lại hiệu quả: Thông tin được phổ biến toàn diện, đồng bộ tới tất cả các đơn vị; Tiết kiệm chi phí đi lại, ăn ở, ; Các cuộc họp, hội nghị, hội thảo được tổ chức một cách nhanh chóng, thuận tiện, có thể tổ chức để phục vụ yêu cầu điều hành ở mọi thời điểm, trong các tình huống khẩn cấp; đa dạng các hình thức trao đổi, thảo luận; có thể thực hiện trong thời gian dài; có thể cùng một lúc hội nghị được với nhiều điểm nhánh hoặc một điểm nhánh riêng lẻ với các nội dung khác nhau
(3) Về sử dụng hệ thống thư điện tử: 100% cán bộ, công chức nghiệp vụ (Bộ Tài chính, Kho bạc nhà nước, Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thuế, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước) được cấp và thường xuyên sử dụng thư điện tử trong công việc, riêng Tổng cục DTNN đạt 90% cán bộ, công chức do tại các kho dự trữ hệ thống trang thiết bị CNTT còn thiếu, khả năng sử dụng CNTT của cán bộ còn thấp
(4) Phần mềm Thi đua khen thưởng 2.0: Hoàn thành nâng cấp và tổ chức triển khai, đào tạo hướng dẫn sử dụng phần mềm cho cán bộ làm công tác thi đua khen thưởng trong ngành Tài chính và triển khai chính thức từ ngày 15/5/2016
(5) Về quản lý hồ sơ cán bộ: giai đoạn 2011-2015 sử dụng Chương trình QLCB 4.0 để đáp ứng các yêu cầu quản lý của Bộ, việc quản lý hồ sơ cán bộ của công chức các cấp tại trụ sở cơ quan Bộ Tài chính và các Tổng cục thực hiện phân tán Để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra là Xây dựng hệ thống quản lý cán bộ tập trung tại Bộ Tài chính, trong năm 2016 đã hoàn thành công tác tư vấn nghiên cứu khả thi để xây dựng Chương trình Quản lý cán bộ tập trung toàn ngành, hiện nay đang trong quá trình thiết kế thi công và dự kiến dự án được triển khai trong năm 2017 - 2018
(6) Về công tác quản lý tài sản nội ngành: hiện tại ứng dụng quản lý tài sản nội ngành Tài chính theo mô hình tập trung đang gấp rút hoàn thiện và sẽ đưa vào triển khai trong năm 2017
Trang 144 Xây dựng hạ tầng kỹ thuật và đảm bảo an toàn an ninh thông tin:
Trong giai đoạn 2011-2015, Bộ Tài chính tiếp tục duy trì, nâng cấp, bổ sung, mở rộng các hạ tầng kỹ thuật đã thiết lập từ giai đoạn trước, đáp ứng mục tiêu đề ra Cụ thể:
- Hạ tầng truyền thông thống nhất ngành Tài chính: Tiếp tục duy trì mô hình Trung tâm miền/Trung tâm tỉnh và công nghệ MPLS/VPN; Trang bị mới, thay thế thiết bị hết khấu hao, nâng cấp thiết bị cho 2.246 đơn vị; Kết nối thêm 241 đơn vị trong ngành và 40 Bộ, ngành tham gia sử dụng TABMIS; Nâng cấp băng thông cho 1.907 đơn vị; Bổ sung kênh truyền dự phòng; Trang bị đảm bảo môi trường hoạt động 24/7 cho các Trung tâm miền, Trung tâm tỉnh Tổng cộng, hệ thống hiện gồm 2.827 điểm kết nối và 5.067 kênh truyền Hệ thống đáp ứng các chỉ tiêu về độ sẵn sàng quy định tại Quy chế quản lý, vận hành, sử dụng hạ tầng truyền thông thống nhất ngành Tài chính ban hành theo Quyết định số 109/QĐ-BTC ngày 15/01/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, đáp ứng yêu cầu của nghiệp vụ
- Trung tâm dữ liệu: Hiện nay toàn ngành có 05 TTDL, trong đó có 02 TTDL do các đơn vị trực tiếp xây dựng, quản lý, vận hành và đặt tại trụ sở của các đơn vị là Kho bạc Nhà nước và Tổng cục Hải quan, số còn lại (Tổng cục Thuế, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Bộ Tài chính) đang thực hiện thuê ngoài
- Mạng nội bộ, Internet và trang thiết bị: 100% đơn vị cấp Trung ương, tỉnh, huyện có mạng nội bộ và kết nối Internet (trực tiếp hoặc gián tiếp) Mạng nội bộ của các đơn vị cấp Trung ương và các đơn vị lớn cấp tỉnh được thiết kế theo mô hình tiêu chuẩn, hiện đại, tốc độ cao Mạng nội bộ của các đơn vị cấp tỉnh và huyện cơ bản đáp ứng yêu cầu công việc của đơn vị
- Ngành đã đầu tư các máy chủ lớn phục vụ các ứng dụng tập trung quy
mô toàn ngành và áp dụng công nghệ ảo hóa nhằm tối ưu hóa năng lực của máy chủ Toàn ngành (không bao gồm các Sở Tài chính, phòng Tài chính Kế hoạch)
có trên 5.300 máy chủ, 77.000 máy trạm (100% cán bộ nghiệp vụ được trang bị máy tính phục vụ công việc) Các thiết bị đều đáp ứng các tiêu chuẩn công nghệ theo quy định của Bộ
- Để đảm bảo tính liên thông, đồng bộ dữ liệu nghiệp vụ tài chính Bộ Tài chính đã triển khai đề án trang bị hạ tầng CNTT đồng bộ cho các Sở Tài chính, các Phòng Tài chính Đến hết năm 2011, Bộ Tài chính đã trang cấp cho các Sở Tài chính hệ thống mạng LAN, máy chủ, máy trạm, kết nối hạ tầng truyền thông, trang bị hệ thống các phần mềm, bước đầu đã giúp cho các Sở Tài chính khắc phục được các khó khăn về hạ tầng CNTT đảm bảo liên thông kết nối để trao đổi dữ liệu phục vụ công tác quản lý tài chính của Bộ Tài chính cũng như công tác quản lý của địa phương Hiện nay, việc hỗ trợ đang được Bộ Tài chính tập trung vào các hoạt động như: hỗ trợ duy trì kênh truyền, hỗ trợ trong lĩnh vực đảm bảo an toàn an ninh thông tin (duy trì bản quyền phần mềm phòng diệt virus, rà soát mã độc máy tính tại các Sở Tài chính, đào tạo kiến thức chuyên sâu về an toàn thông tin cho cán bộ tin học của Sở) và hỗ trợ các ứng dụng do
Bộ Tài chính triển khai (Ngân sách, Kế toán xã, kế toán hành chính sự nghiệp, chương trình quản lý tài sản )
Trang 15- Về công tác đảm bảo an toàn, an ninh thông tin: Trước năm 2010, đầu tư cho an toàn an ninh thông tin của ngành mới chỉ dừng ở mức kỹ thuật và trang bị rất cơ bản (tường lửa, hệ thống phòng diệt virus) Trong giai đoạn 2011-2015, lĩnh vực này đã được quan tâm một cách toàn diện và mạnh mẽ: Ban hành quy định áp dụng toàn ngành về đảm bảo an toàn thông tin; Tiêu chuẩn hóa các thiết bị an toàn thông tin chính yếu; Bước đầu triển khai áp dụng tiêu chuẩn quản lý an toàn thông tin TCVN ISO/IEC 27001:2009; Thành lập các bộ phận chuyên trách về an toàn thông tin; Triển khai thường xuyên các hoạt động đào tạo, nâng cao nhận thức về
an toàn thông tin cho cán bộ tin học, cán bộ nghiệp vụ; Củng cố các hệ thống kỹ thuật an toàn thông tin đã thiết lập và trang bị mới các giải pháp nâng cao (phát hiện và phòng chống tấn công, tường lửa ứng dụng, công cụ dò quét bảo mật ); Triển khai các sáng kiến trong việc kiểm soát truy cập Internet nhằm hạn chế tác nhân gây mất an toàn thông tin từ môi trường này
- Hệ thống dự phòng: 100% các đơn vị cấp Trung ương và cấp tỉnh đã trang bị hệ thống sao lưu dữ liệu tập trung Các hệ thống lớn đều được trang bị
dự phòng tại chỗ và đảm bảo chế độ bảo hành, bảo trì thường xuyên Trung tâm
dữ liệu dự phòng thảm họa đã bắt đầu hoạt động xây dựng
- Khai thác hạ tầng chứng thực chữ ký số: Trong giai đoạn 2011-2015, ngành Tài chính triển khai rất mạnh hoạt động ứng dụng chữ ký số, sử dụng triệt
để hạ tầng của Ban Cơ yếu Chính phủ và dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng, tạo nên một bước ngoặt lớn trong việc chuyển đổi hình thức giao tiếp giữa doanh nghiệp, người dân với các cơ quan Thuế, Hải quan, Kho bạc, Chứng khoán, thúc đẩy mạnh mẽ cải cách thủ tục hành chính ở phạm vi toàn ngành
5 Xây dựng môi trường pháp lý và xây dựng tổ chức, phát triển nguồn nhân lực CNTT-Thống kê:
(1) Về xây dựng môi trường pháp lý:
Để đảm bảo việc tổ chức triển khai ứng dụng CNTT trong toàn ngành được đồng bộ thống nhất, tuân thủ các quy định của Nghị định số 102/2009/NĐ-
CP ngày 6/11/2009 về quản lý đầu tư CNTT sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã phê duyệt Quyết định số 2699/QĐ-BTC ngày 10/11/2011 ban hành Quy chế quản lý đầu tư ứng dụng CNTT tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ Tài chính, Quyết định số 2738/QĐ-BTC ngày 22/12/2015 sửa đổi bổ sung Quyết định 2699/QĐ-BTC
Đến nay, toàn ngành đã ban hành các quy định, quy chế áp dụng cho hoạt động ứng dụng CNTT tại các đơn vị, hệ thống theo các nhóm chính sách: hướng dẫn triển khai các quy định, tiêu chuẩn của nhà nước (29 văn bản); quy trình, quy định về triển khai ứng dụng CNTT (88 văn bản); quy định về lĩnh vực thống
kê, cơ sở dữ liệu (19 văn bản); giao dịch điện tử (11 văn bản) (chi tiết tại phụ lục
đính kèm)
Công tác đầu tư ứng dụng CNTT được tổ chức đảm bảo tuân thủ quy định của Chính phủ về quản lý đầu tư ứng dụng CNTT, việc đầu tư, mua sắm ứng dụng CNTT được phân cấp tại Quyết định số 2298/QĐ-BTC ngày 09/6/2012 và
Trang 16Quyết định 2442/QĐ-BTC ngày 11/9/2015 tạo sự chủ động cho các đơn vị trong triển khai ứng dụng CNTT đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ, hiện đại hóa ngành
Các văn bản, cơ chế chính sách góp phần tạo hành lang pháp lý cho các đơn vị trong ngành Tài chính tổ chức thực hiện quản lý, triển khai ứng dụng CNTT đảm bảo tuân thủ các quy định Nhà nước và của ngành Tài chính (2)Về cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực ứng dụng CNTT:
Thực hiện Nghị định số 102/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ
về quản lý đầu tư ứng dụng CNTT sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, Bộ Tài chính đã kiện toàn lại cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của đơn vị chuyên trách về CNTT, đảm bảo thực hiện được đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ của đơn
vị chuyên trách về CNTT như quy định tại Điều 46, Nghị định số
64/2007/NĐ-CP, đồng thời đáp ứng công tác triển khai ứng dụng CNTT trong giai đoạn mới
Trong thời gian qua, công tác đào tạo về kiến thức tin học cơ bản cho cán
bộ nghiệp vụ được Bộ Tài chính quan tâm, chú trọng Hàng năm, Bộ Tài chính thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo kiến thức tin học cơ bản, các lớp tập huấn
sử dụng các ứng dụng tác nghiệp, hướng dẫn khai thác CSDL cho cán bộ nghiệp
vụ đảm bảo toàn bộ cán bộ có đủ kiến thức để sử dụng thành thạo các ứng dụng tác nghiệp phục vụ công tác chuyên môn
Để đảm bảo tổ chức và vận hành các hệ thống lớn, công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực CNTT chuyên sâu đã được quan tâm đúng mức Các chương trình đào tạo được thiết kế và lựa chọn phù hợp với trình độ của từng đối tượng cán bộ, trang bị các kiến thức CNTT theo chuẩn quốc tế, nhiều cán bộ
có chứng chỉ quốc tế chuyên viên quản trị mạng CCNA; 05 cán bộ có chứng chỉ quốc tế về chuyên gia quản trị mạng CCNP; 13 cán bộ có chứng chỉ quốc tế chuyên gia bảo mật CEH; 03 cán bộ có chứng chỉ quốc tế về quản trị mạng Juniper; 04 cán bộ có chứng chỉ quốc tế MCSA, MCP; 25 cán bộ có chứng chỉ quốc tế về quản trị CSDL Oracle OCA, OCP và khoảng 27 cán bộ có chứng chỉ quốc tế quản trị dự án CNTT
6 Về hỗ trợ triển khai ứng dụng CNTT tại các Sở Tài chính đảm bảo tính liên thông dữ liệu phục vụ yêu cầu quản lý của nghiệp vụ tài chính:
Sở Tài chính (STC) là một thành phần quan trọng trong triển khai ứng dụng CNTT của ngành Tài chính, cung cấp dữ liệu về các CSDL đặt tại Bộ Tài chính, khai thác các phần mềm chung của ngành thông qua hệ thống mạng HTTT thống nhất ngành Tài chính Tuy nhiên, do điều kiện tại mỗi địa phương khác nhau nên việc đầu tư ứng dụng CNTT tại các STC không đồng đều và chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nghiệp vụ tài chính Để đảm bảo tính liên thông
dữ liệu đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ quản lý tài chính, trong giai đoạn 2011-2016,
Bộ Tài chính đã triển khai một số nội dung ứng dụng CNTT hỗ trợ các STC
- Triển khai các phần mềm ứng dụng chuyên ngành của Bộ cho các STC và Phòng Tài chính (PTC), góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý, chuyên môn nghiệp vụ của Bộ Tài chính và tại địa phương: Phần mềm Quản lý ngân sách (QLNS) và TABMIS; Hệ thống trao đổi thông tin thu nộp thuế giữa cơ
Trang 17quan Thuế - Kho bạc Nhà nước - Hải quan - Tài chính; CSDL thu chi ngân sách;
Hệ thống Quản lý đăng ký tài sản Nhà nước; phần mềm Quản lý giá cả thị trường hàng hóa, dịch vụ; phần mềm báo cáo thống kê; dịch vụ cấp mã số đơn vị có quan hệ với ngân sách trực tuyến mức độ 4
- Hỗ trợ sử dụng chương trình Quản lý ngân sách, hỗ trợ nhận dữ liệu thu, chi ngân sách cho cơ các quan tài chính từ Trung ương xuống địa phương: năm
2013 hỗ trợ người sử dụng (NSD) chương trình QLNS, công tác tổng hợp quyết toán ngân sách (trực tiếp tại 30 STC và hỗ trợ từ xa cho 63 STC); năm 2016 Hỗ trợ chương trình Quản lý ngân sách 8.0 phục vụ trong công tác điều hành, quyết toán ngân sách trong 12 tháng (hỗ trợ trực tiếp cho 30 STC và Hỗ trợ từ xa cho
- Đảm bảo an toàn an ninh thông tin các hệ thống kết nối với hệ thống của
Bộ Tài chính: triển khai phần mềm phòng chống các mã độc hại cho máy chủ, máy trạm tại STC, PTC; Rà soát, củng cố bảo mật máy tính tại Sở Tài chính, phòng Tài chính – Kế hoạch (năm 2015 triển khai tại 30 STC )
- Hướng dẫn thành lập bộ phận chuyên trách về CNTT, thống kê: Tính đến hết năm 2016 đã có 41/63 Sở Tài chính đã thành lập Phòng Tin học và Thống kê
- Đào tạo, tập huấn cán bộ tin học và thống kê của STC:
+ Năm 2012: Tổ chức đào tạo, tập huấn mạng căn bản, triển khai các phần mềm chuyên ngành của Bộ Tài chính, hỗ trợ cơ quan Tài chính địa phương chuyển đổi dữ liệu quản lý ngân sách, đồng bộ dữ liệu với Kho bạc Nhà nước cho 33 STC và 396 PTC
+ Năm 2013: Cập nhật kiến thức quản trị hệ thống cho 63 Sở Tài chính (Đào tạo HTTT, Windows Server 2012, OfficeScan, Dịch vụ công, Quản lý dự
Trang 18của ngành, đóng góp chủ động và tích cực trong các chỉ số cạnh tranh; các hệ thống CNTT được điều chỉnh kịp thời theo chiến lược nghiệp vụ, tạo nền tảng tốt cho việc phát triển Chính phủ điện tử nói chung và Bộ Tài chính điện tử nói riêng, cụ thể:
(1) Đã hình thành và triển khai có hiệu quả một số hệ thống thông tin lớn, hiện đại, có tính đột phá trong lĩnh vực quản lý tài chính như: hệ thống thông tin Quản lý ngân sách và Kho bạc (TABMIS), Hệ thống trao đổi dữ liệu thu nộp thuế giữa các cơ quan Thuế-Kho bạc-Hải quan-Tài chính, Hệ thống Đăng ký tài sản nhà nước; hệ thống Thông tin Quản lý nợ (DMFAS), hệ thống Hải quan điện tử và thực hiện cơ chế quản lý Hải quan một cửa quốc gia phục vụ hiện đại hóa Hải quan,hệ
thống quản lý thuế thu nhập cá nhân, hệ thống quản lý thuế tập trung (TMS),
(2) Hoàn thành xây dựng và triển khai các CSDL trong lĩnh vực chứng khoán, hải quan, dự trữ nhà nước (CSDL Công ty đại chúng, Công ty chứng khoán, Công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài, người hành nghề chứng khoán, thanh tra chứng khoán; CSDL hàng hóa xuất nhập khẩu; CSDL vật tư hàng hoá, kho tàng dự trữ Nhà nước)
(3) Đã cải thiện một bước cơ bản về xây dựng môi trường pháp lý, cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của các đơn vị CNTT-Thống kê trong ngành, đồng thời hoàn thành tổ chức tốt công tác đào tạo, tập huấn qua đó nâng cao trình độ CNTT, thống kê của các cán bộ nghiệp vụ ngành Tài chính trong việc khai thác, sử dụng các ứng dụng CNTT và các khóa đào tạo chuyên sâu về CNTT, thống kê theo tiêu chuẩn quốc tế gắn với tổ chức bộ máy, gắn với công tác quy hoạch và xây dựng đội ngũ cán bộ CNTT, thống kê Tạo điều kiện cho cán bộ chuyên trách và kiêm nhiệm về CNTT, thống kê được học tập, nâng cao trình độ chuyên môn ở trong và ngoài nước Các thành công của ứng dụng CNTT trong ngành Tài chính nói chung đã được ghi nhận cả trong và ngoài ngành Tài chính, đặc biệt là trong lĩnh vực Thuế và Hải Quan đã có quyết tâm và nỗ lực lớn để triển khai tốt các Nghị quyết của Chính phủ như triển khai ứng dụng CNTT hỗ trợ kê khai thuế, Hải quan điện tử đều vượt chỉ tiêu đề ra và được các Bộ, Ngành, Chính phủ, cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận, đánh giá cao
Những nỗ lực trên đã được ghi nhận với kết quả Bộ Tài chính đứng đầu trong
04 năm liên tục (từ năm 2013 đến năm 2015 và năm 2016) về Chỉ số ứng dụng CNTT (ICT index) trong khối các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
2 Một số tồn tại và hạn chế trong việc ứng dụng CNTT
Trong giai đoạn 2011- 2015 và năm 2016 việc triển khai ứng dụng CNTT của Bộ Tài chính còn một số tồn tại như:
- Chưa có được một kiến trúc tổng thể về CNTT của toàn ngành, cũng như của từng đơn vị hệ thống Một phần do đến nay Chính phủ cũng chưa có kiến trúc tổng thể về công nghệ thông tin chung của Chính phủ (đến năm 2015 mới chỉ có Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam), một phần Bộ Tài chính là một đơn
vị đa ngành, đa lĩnh vực với nhiều nghiệp vụ phức tạp Để xây dựng được một kiến trúc tổng thể về CNTT phải có một kiến trúc về nghiệp vụ rõ ràng
Trang 19- Việc tổ chức triển khai các dự án CNTT mất nhiều thời gian, nhiều dự
án kéo dài phải chuyển thực hiện sang giai đoạn sau
- Nhiều nội dung trong ứng dụng nội bộ chưa thực sự tham gia trong các quy trình xử lý công việc do chưa được pháp lý hoá: việc tham gia ý kiến qua thư điện tử chỉ là một kênh tham khảo chưa được chính thức và vẫn phải sử dụng văn bản giấy
- Các đơn vị tài chính địa phương (STC) vẫn là hệ thống có mức triển khai CNTT thấp nhất trong các hệ thống, từ đầu tư ứng dụng CNTT, nhân lực, đào tạo; đây cũng là mảng yếu nhất trong triển khai CNTT của ngành, nguy cơ
lỗ hổng bảo mật cao trong các kết nối trao đổi dữ liệu của ngành tài chính
- Việc phối hợp, đồng bộ trong trao đổi dữ liệu với các Bộ, ngành, địa phương còn chưa đồng bộ, khó khăn về cả pháp lý và nền tảng công nghệ, nguồn lực
- Công tác thống kê tài chính mới chỉ dừng lại ở nghiệp vụ ban đầu là thu thập và tổng hợp số liệu theo phương pháp truyền thống, công tác ứng dụng CNTT vào lĩnh vực thống kê phân tích chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu Việc tổ chức lưu trữ các thông tin thống kê phục vụ quá trình quản lý, điều hành
và hoạch định chính sách, cũng như phục vụ công tác nghiên cứu về lĩnh vực tài chính còn phân tán, chưa áp dụng được các công nghệ, mô hình phân tích, dự báo hiện đại Việc kết nối và trao đổi thông tin với các Bộ, ngành khác hầu như chỉ ở mức thông qua các thông tin đã được đăng tải trên trang web của Bộ
3 Nguyên nhân của hạn chế tồn tại:
3.1 Nguyên nhân khách quan:
(2) Về sự thay đổi công nghệ:
Sự phát triển nhanh chóng của các giải pháp, sản phẩm CNTT mới (xu hướng bùng nổ dữ liệu Big Data); ảo hóa, điện toán đám mây (Cloud computing); xu hướng tăng cường tính di động (Mobility), .) trong giai đoạn này cũng tác động không nhỏ tới việc triển khai ứng dụng CNTT của Bộ Tài chính Do việc triển khai ứng dụng CNTT trong giai đoạn này thực hiện theo mô hình tập trung, có tính tích hợp cao (các hệ thống ứng dụng CNTT TABMIS, PIT, TMS, VNACCS/VCIS, quản lý tài sản, quản lý cán bộ,…), khi nghiên cứu
Trang 20giải pháp ứng dụng CNTT cho các hệ thống này cần phải có thời gian nghiên cứu, thử nghiệm, thuyết minh sự phù hợp Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới việc quyết định lựa chọn giải pháp công nghệ và thời gian triển khai các dự án (3) Về hoạt động nghiệp vụ của ngành Tài chính:
Để đáp ứng yêu cầu quản lý, các chính sách, chế độ về nghiệp vụ tài chính thay đổi nhanh, thời gian kể từ khi ban hành văn bản đến khi văn bản có hiệu lực ngắn Trong khi trình tự triển khai các hoạt động đầu tư ứng dụng CNTT theo quy định hiện hành rất nhiều bước, nhiều thủ tục Do đó phạm vi, nội dung việc xây dựng, nâng cấp và triển khai các ứng dụng CNTT cũng bị thay đổi theo dẫn đến việc chậm tiến độ
Các yêu cầu cải cách hiện đại hoá nghiệp vụ, nâng cao các chỉ số về năng lực cạnh tranh trong giai đoạn vừa qua dẫn đến chính sách nghiệp vụ tài chính thường xuyên thay đổi, đặc biệt là trong lĩnh vực thuế, hải quan Sự thay đổi thường xuyên về cơ chế chính sách, hiệu lực của cơ chế chính sách thường áp dụng ngay trong thời gian ngắn sau khi ban hành, do đó với trình tự thủ tục như quy định thì không thể chỉnh sửa một các kịp thời hệ thống ứng dụng CNTT, để đưa chính sách vào cuộc sống
3.2 Nguyên nhân chủ quan:
(1) Sự nhận thức chưa đồng bộ, chưa đầy đủ về vai trò CNTT để từ đó đưa vào thể chế hoá trong cơ chế điều hành hàng ngày tại các đơn vị
(2) Sự phối hợp giữa các đơn vị trong quá trình triển khai các hoạt động ứng dụng CNTT chưa tuân thủ theo hướng cơ chế, quy trình nghiệp vụ phải đi trước, phải chuẩn hoá theo hướng ứng dụng CNTT và hiệu lực của chính sách phải dành đủ thời gian để hoàn thành ứng dụng CNTT theo yêu cầu nghiệp vụ (3) Thiếu nguồn lực CNTT, thống kê chất lượng: Trình độ cán bộ CNTT, thống kê còn chưa đồng đều ở các cấp, đặc biệt tại địa phương cán bộ CNTT còn kiêm nhiệm Thiếu các chuyên gia trong lĩnh vực hoạch định chiến lược, định hướng phát triển CNTT và trong lĩnh vực quản trị, vận hành hệ thống CNTT lớn Các cán bộ CNTT chưa được đào tạo, bồi dưỡng kịp thời về các kiến thức, nghiệp vụ tài chính
(4) Về đầu tư cho CNTT còn chưa liên tục, đồng bộ ở khối Sở Tài chính, Phòng Tài chính, do nguồn kinh phí còn hạn hẹp dẫn việc đầu tư ứng dụng CNTT tại các đơn vị địa phương không đồng đều, làm giảm hiệu quả khai thác các ứng dụng của ngành tài chính và tạo rủi ro lớn về an toàn thông tin cho các
hệ thống thông tin của ngành Tài chính mà khối đơn vị này tham gia sử dụng (Hạ tầng truyền thông, TABMIS, )
4 Bài học kinh nghiệm
Một số bài học kinh nghiệm được rút ra trong quá trình triển khai ứng dụng CNTT ngành Tài chính giai đoạn 2011 - 2016 như sau:
(1) Tăng cường tính chủ động trong công tác dự báo, bám sát và nắm bắt kịp thời xu hướng, định hướng về tình hình phát triển của ngành Tài chính, sự
Trang 21phát triển của CNTT để nâng cao tầm nhìn chiến lược trong xây dựng kiến trúc tổng thể ứng dụng CNTT ngành Tài chính
(2) Tranh thủ sự chỉ đạo của Chính phủ, sự ủng hộ của các Bộ, ngành, sự chủ động liên hệ, phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của các cấp Lãnh đạo, cán bộ, nhân viên các đơn vị thuộc Bộ về vai trò và tầm quan trọng của ứng dụng CNTT trong công tác điều hành tài chính, ngân sách quốc gia
(3) Đảm bảo sự phối kết hợp chặt chẽ của các Bộ, ngành và các đơn vị liên quan trong và ngoài ngành trong quá trình thực hiện triển khai ứng dụng CNTT Hệ thống CNTT hoạt động hiệu quả khi được kết nối thành công và vận hành ổn định bởi tất cả những bên tham gia vào hệ thống Vì vậy, để đảm bảo triển khai thành công, ngành tài chính đã chủ động xây dựng mối quan hệ phối hợp công tác tốt trong nội bộ cũng như với các Bộ, ngành liên quan
Tăng cường công tác phối hợp chặt chẽ với Bộ Thông tin và Truyền thông trong việc cập nhật các văn bản mới ngay từ khi dự thảo; tăng cường trao đổi với các đơn vị nghiệp vụ trong ngành Tài chính; trực tiếp tham gia vào các dự thảo liên quan đến nghiệp vụ của các đơn vị để xác định nhanh, rõ bài toán cần triển khai (4) Trong việc quản lý, hỗ trợ và phát triển các dự án phần mềm cần đầu
tư vào công tác xây dựng quy trình, áp dụng phương pháp quản lý dự án tiên tiến và sử dụng những công cụ quản lý hiện đại, khoa học của các hãng CNTT lớn trên thế giới nhằm tăng năng suất lao động và giảm chi phí, thời gian
(5) Chú trọng xây dựng môi trường pháp lý, cơ chế chính sách đầu tư ứng dụng CNTT và đảm bảo việc thực thi tuân thủ đúng các quy định
(6) Công tác kiểm tra, đôn đốc và phối hợp triển khai công việc với các đơn vị CNTT trong ngành cũng cần được thực hiện thường xuyên để nắm bắt kịp thời các vướng mắc, khó khăn từ đó tìm biện pháp tháo gỡ khẩn trương và triển khai đồng bộ (7) Việc xây dựng bộ máy, độ ngũ cán bộ CNTT và thống kê cần quy hoạch rõ và đào tạo liên tục để cán bộ CNTT và thống kê trong ngành Tài chính
có thể nắm vững các tiến bộ, ứng dụng mới cũng như các văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý ứng dụng CNTT Tập trung đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật đối với nhóm các cán bộ thực hiện việc quản trị, vận hành những hệ thống lớn, phức tạp
(8) Công tác quản lý, điều hành triển khai ứng dụng CNTT, thống kê phải tập trung thống nhất từ Trung ương, có phân cấp để đảm bảo nhất quán mục
tiêu, nội dung tiến độ
Trang 22PHẦN THỨ HAI
KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG CNTT VÀ THỐNG KÊ
GIAI ĐOẠN 2016-2020
I Bối cảnh triển khai ứng dụng CNTT - Thống kê giai đoạn 2016-2020
Ngày 01/7/2014, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 36-NQ/TW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế (Nghị quyết 36) Được xây dựng trên cơ sở kế thừa một số quan điểm lớn của Chỉ thị 58, Nghị quyết 36 được Bộ Chính trị bổ sung, làm rõ thêm những quan điểm mới về ứng dụng và phát triển CNTT trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay CNTT đã được Đảng và Nhà nước xác định là công cụ hữu hiệu
để thực hiện 3 đột phá chiến lược trong phát triển đất nước, là chìa khóa mở ra cánh cửa để dân tộc ta bước vào giai đoạn mới Trong Nghị quyết 36, Bộ Chính trị đã khẳng định 4 quan điểm chính:
Thứ nhất, CNTT là một công cụ hữu hiệu tạo lập phương thức phát triển
mới và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, là một trong những động lực quan trọng phát triển kinh tế tri thức, xã hội thông tin, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế; góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững
Thứ hai, ứng dụng, phát triển CNTT là một yếu tố quan trọng bảo đảm
thực hiện thành công 3 đột phá chiến lược, cần được chú trọng, ưu tiên trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
Thứ ba, ứng dụng, phát triển CNTT trong tất cả các lĩnh vực song có
trọng tâm, trọng điểm Ưu tiên ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính, cung cấp dịch vụ công, trước hết là trong các lĩnh vực liên quan tới doanh nghiệp, người dân như giáo dục, y tế, giao thông, nông nghiệp; ưu tiên phát triển công nghiệp phần mềm và dịch vụ CNTT; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn với thu hút các tập đoàn công nghiệp CNTT đa quốc gia, hình thành các trung tâm nghiên cứu, phát triển
Thứ tư, đầu tư cho CNTT là đầu tư cho phát triển và bảo vệ đất nước, cần
được đi trước một bước trên cơ sở quản lý tốt, tăng cường khả năng làm chủ, sáng tạo công nghệ, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, giữ vững chủ quyền quốc gia trên không gian mạng
Với các quan điểm nêu trên, Nghị quyết 36 đã chỉ rõ mục tiêu phải đạt
được thời gian tới, đó là: CNTT phải được ứng dụng rộng rãi và trở thành một
ngành kinh tế có tác động lan tỏa trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, chất lượng cuộc sống, chỉ số phát triển con người Việt Nam và nâng cao khả năng phòng thủ quốc gia trong chiến tranh mạng Đến năm 2030, đưa năng lực nghiên cứu, ứng dụng, phát triển, sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ CNTT đạt trình độ tiên tiến thế giới; Việt Nam trở thành quốc gia mạnh
về CNTT và bằng CNTT
Trang 23Trong các nhóm giải pháp nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quốc phòng, an ninh; bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, nâng cao năng lực quản lý các mạng viễn thông, truyền hình Internet, Nghị quyết 36 nêu rõ:
- Gắn kết chặt chẽ việc ứng dụng, phát triển CNTT với bảo đảm an toàn,
an ninh và bảo mật hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia; Có biện pháp bảo đảm an toàn thông tin cho các hạ tầng thông tin trọng yếu; Phát huy vai trò của các lực lượng bảo vệ an toàn, an ninh thông tin và bí mật nhà nước; Thực hiện cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng công an, quân đội, ngoại giao,
cơ yếu, thông tin và truyền thông
- Ưu tiên sử dụng các sản phẩm, giải pháp bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, máy tính và mạng máy tính của các tổ chức, doanh nghiệp trong nước; Khuyến khích nhiều nhà sản xuất cùng tham gia phát triển, sáng tạo các sản phẩm, giải pháp an toàn, an ninh thông tin
- Xây dựng tiềm lực về công nghệ, cơ sở vật chất và nhân lực đủ khả năng bảo đảm an ninh chính trị, an toàn xã hội, bảo đảm an toàn mạng, an ninh thông tin; Tăng cường khả năng phòng, chống và ứng cứu các sự cố về an toàn, an ninh thông tin; phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan bộ, ngành địa phương, các cơ quan chuyên trách để sẵn sàng, chủ động phòng ngừa và xử lý các tình huống phát sinh
Thực hiện Nghị quyết số 36 của Bộ Chính trị, ngày 15/04/2015 Chính phủ
đã ban hành Nghị quyết 26/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện nghị quyết số 36-NQ/TW Chính phủ đặt nhiệm vụ trọng tâm tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức và kiến thức về công nghệ thông tin trong xã hội, bảo đảm công nghệ thông tin là một trong các nội dung trọng tâm, thường xuyên trong các chương trình truyền thông của các cơ quan thông tin đại chúng các cấp Đặc biệt, sẽ xây dựng và đưa vào khai thác Hệ thống Cổng thông tin điện tử cơ quan hành chính nhà nước thống nhất, thông suốt từ Trung ương đến địa phương; Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính và tình hình, kết quả giải quyết thủ tục hành chính tại các cấp chính quyền Kế hoạch của Chính phủ sẽ thực hiện đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các ngành, các lĩnh vực nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành của cơ quan nhà nước, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, đặc biệt là các ngành kinh tế, kỹ thuật, các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế, giao thông, xây dựng, điện, thuế, hải quan, tư pháp…
Bên cạnh đó, từ năm 2014, Chính phủ đã ban hành các Nghị quyết số 19/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Theo đó nhiều nội dung về cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan cần được đẩy mạnh triển khai ứng dụng của CNTT
Ngày 14/10/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 36a/NQ-CP về Chính phủ điện tử, theo đó đẩy mạnh phát triển Chính phủ điện tử, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, phục vụ người dân và
Trang 24doanh nghiệp ngày càng tốt hơn Nâng vị trí của Việt Nam về Chính phủ điện tử theo xếp hạng của Liên hợp quốc, thực hiện công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước trên môi trường mạng
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, Cách mạng công nghiệp lần thứ IV (cách mạng 4.0) đang là xu thế lớn có tác động đến phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các quốc gia Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với xu hướng phát triển dựa trên nền tảng tích hợp cao độ của hệ thống kết nối số hóa - vật lý - sinh học với sự đột phá của Internet vạn vật và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi căn bản nền sản xuất thế giới Khẳng định cách mạng 4.0 tác động mạnh mẽ tới mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 về tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, theo đó chỉ đạo từ nay đến năm 2020 phải tập trung phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ để tận dụng tối đa lợi thế Để chủ động nắm bắt cơ hội, tận dụng tối đa lợi thế, giảm thiểu tác động tiêu cực của cuộc cách mạng 4.0, Thủ tướng yêu cầu lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương từ nay đến năm 2020 tập trung thúc đẩy phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu
tư, phát triển, kinh doanh công nghệ mới; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa công nghệ thông tin - truyền thông trong phạm vi cả nước, bảo đảm an toàn, đồng bộ, kết nối liên ngành và liên vùng Đồng thời, tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, rà soát lại các chiến lược, chương trình hành động, thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp; thay đổi mạnh mẽ các chính sách, nội dung, phương pháp giáo dục dạy nghề Ngoài ra, xây dựng các cơ chế, chính sách về thuế, tài chính nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho các hoạt động đổi mới công nghệ, nghiên cứu phát triển và đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ thông tin và các công nghệ tiên tiến khác; xây dựng kế hoạch và các nhiệm vụ trọng tâm, đồng thời rà soát các sản phẩm, lựa chọn sản phẩm chủ lực, phù hợp xu hướng phát triển của cách mạng công nghiệp lần thứ 4
II Các định hướng về nghiệp vụ của ngành Tài chính và định hướng phát triển về ứng dụng CNTT:
1 Định hướng về nghiệp vụ
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 450/QĐ-TTg ngày 18/04/2012 phê duyệt Chiến lược Tài chính đến năm 2020, đồng thời đã ban hành Chiến lược thuế, kho bạc, hải quan, dữ trữ nhà nước, thị trường chứng khoán, bảo hiểm, dịch vụ kế toán, kiểm toán, quản lý nợ công, theo đó định hướng nghiệp vụ tài chính đến năm 2020 trong các lĩnh vực như sau:
(1) Về lĩnh vực thu NSNN
- Hoàn thiện hệ thống chính sách thu đi đôi với cơ cấu lại thu ngân sách nhà nước Đến năm 2020 xây dựng một hệ thống thuế đồng bộ, có cơ cấu bền vững, phù hợp với thông lệ quốc tế và có khả năng huy động đầy đủ, chủ động, hợp lý nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Trang 25- Nghiên cứu sửa đổi các luật thuế (giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế) để tiếp tục thực hiện chính sách, cải thiện môi trường kinh doanh, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh và khuyến khích nội địa hóa, phát triển công nghiệp hỗ trợ, ; hoàn thiện hệ thống pháp luật về phí, lệ phí, từng bước thực hiện chuyển các loại phí sang cơ chế giá dịch vụ và tăng cường phân cấp quản lý cho địa phương
- Tăng cường công tác quản lý thuế, khắc phục tình trạng gian lận trong hoàn thuế giá trị gia tăng; cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế; thực hiện công khai, minh bạch, bình đẳng; cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích đầu
tư, phát triển sản xuất kinh doanh
(2) Về lĩnh vực chi NSNN
- Đổi mới cơ cấu chi ngân sách nhà nước theo hướng tăng cường cho đầu
tư phát triển đặc biệt là đầu tư cho con người; Cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, thực hiện đúng cam kết về nghĩa vụ trả nợ
- Đổi mới hoạt động lập và phân bổ dự toán ngân sách nhà nước: Nghiên cứu, tổ chức triển khai theo Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 đảm bảo tập trung thống nhất vai trò chủ đạo và điều phối của ngân sách trung ương; từng bước xóa bỏ tính lồng ghép của hệ thống ngân sách nhà nước; tăng quyền hạn và trách nhiệm trong công tác quản lý ngân sách ở các cấp, các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước cùng với việc tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, tăng cường kiểm tra, giám sát
- Hoàn thiện khung pháp lý để xây dựng kế hoạch tài chính trung hạn và kế hoạch chi tiêu trung hạn; triển khai việc lập báo cáo tài chính nhà nước bao gồm: thông tin tài chính nhà nước, kết quả hoạt động tài chính nhà nước, báo cáo lưu chuyển tiền tệ; nâng cao chất lượng công tác phân tích dự báo tài chính-ngân sách (3) Về lĩnh vực quản lý giá
- Tiếp tục thực hiện nhất quán nguyên tắc quản lý giá theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước theo quy định của pháp luật; tôn trọng quyền
tự định giá, cạnh tranh về giá của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật Đẩy mạnh thực hiện công khai, minh bạch trong điều hành đối với giá điện, xăng dầu cũng như các hàng hóa, dịch vụ quan trọng, thiết yếu khác
có ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu dùng của người dân; điều tiết hài hòa lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, doanh nghiệp và Nhà nước Chủ động áp dụng các biện pháp bình ổn giá theo quy định của Luật giá Bên cạnh đó có các giải pháp hỗ trợ hợp lý đối với người nghèo, người có thu nhập thấp, thực hiện các chính sách an sinh xã hội
- Theo dõi sát diễn biến cung cầu, thị trường, giá cả; tiếp tục làm tốt hơn nữa công tác dự báo, phân tích giá cả, cung cầu thị trường để có phương án điều hành phù hợp từng thời kỳ Triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giá đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về giá theo quy định tại Luật Giá và hướng dẫn của
Bộ Tài chính
Trang 26- Đánh giá, tổng kết và tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành về quản lý giá, đảm bảo tính thực thi, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường có sự
điều tiết của Nhà nước và hội nhập ngày càng sâu rộng với kinh tế thế giới
(4) Về quản lý tài sản công
- Quản lý, sử dụng tài sản công đất đai và các nguồn tài nguyên quốc gia theo cơ chế thị trường; đảm bảo quản lý và khai thác hiệu quả tài sản quốc gia phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
- Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản nhà nước đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm và chống lãng phí; triển khai cơ chế mua sắm tài sản nhà nước theo phương thức tập trung
- Tách bạch cơ chế quản lý nhà nước đối với tài sản công với dịch vụ công về tài sản
(5) Về quản lý dự trữ Nhà nước
- Sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật
về dự trữ quốc gia đồng bộ, phù hợp với yêu cầu, điều kiện và tình hình nhiệm
vụ thi hành Luật Dự trữ quốc gia
- Tăng cường lực lượng dự trữ quốc gia, xây dựng cơ cấu danh mục mặt hàng hợp lý, phù hợp với nhu cầu xã hội; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật
(6) Về phát triển đồng bộ thị trường tài chính và dịch vụ tài chính
- Hoàn thiện khung pháp lý điều tiết hệ thống thị trường tài chính và dịch
vụ tài chính để tăng cường điều tiết vĩ mô của Nhà nước và thực hiện giám sát hiệu quả các hoạt động trên thị trường; thúc đẩy sự phát triển của hệ thống các thị trường tài chính theo chiều sâu trên cơ sở đa dạng hóa các định chế tài chính, các hàng hóa trên thị trường tài chính
- Tiếp tục hoàn hiện cấu trúc của thị trường chứng khoán đảm bảo sự phát triển đồng bộ, cân đối giữa thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ phát sinh
- Xây dựng cơ chế kết nối giữa thị trường tiền tệ với thị trường vốn, thị trường bảo hiểm, thúc đẩy thu hút vốn đầu tư nước ngoài, kết nối với thị trường tài chính khu vực
- Tăng cường năng lực hoạt động của các tổ chức tham gia thị trường tài chính và dịch vụ tài chính (tổ chức kinh doanh chứng khoán, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán, kiểm toán, các hiệp hội nghề nghiệp) Hình thành và phát triển các tổ chức định mức tín nhiệm; hoàn thiện
mô hình doanh nghiệp kinh doanh xổ số, tăng cường kiểm soát của Nhà nước đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực đặt cược và trò chơi có thưởng, trong đó
có casino
- Phối hợp với các bộ, ngành liên quan hoàn thiện các chính sách để thúc đẩy sự phát triển các sản phẩm, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cung
Trang 27cấp an toàn cho xã hội; đa dạng hóa dịch vụ thanh toán, đẩy mạnh ứng dụng thanh toán điện tử
(7) Đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực tài chính, hoàn thiện phương thức điều hành chính sách tài chính
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính: Đồng bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính; cắt giảm và nâng cao chất lượng thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài chính; đơn giản hóa và công khai hóa quy trình, thủ tục hành chính theo hướng bình đẳng, minh bạch, khả thi, phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển của Việt Nam và tiến trình hội nhập quốc tế, trong đó tập trung vào cải cách thủ tục hành chính về thuế, hải quan, chi ngân sách nhà nước
và các thủ tục hành chính trong việc cung cấp dịch vụ công khác thuộc khu vực thị trường tài chính
- Thực hiện hiện đại hóa nền tài chính quốc gia với trọng tâm là đẩy mạnh ứng dụng CNTT: Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong lĩnh vực tài chính, phấn đấu đến năm 2020 hoàn thành xây dựng và triển khai các hệ thống thông tin lớn trong ngành Tài chính; tích hợp và đồng bộ các hệ thống thông tin tài chính; Cơ bản hình thành việc xây dựng CSDL tài chính quốc gia và xây dựng các CSDL chuyên ngành; thiết lập hệ thống thông tin, quản lý và tăng cường khai thác hiệu qủa các hệ thống thông tin phục vụ công tác chỉ đạo điều hành Hoàn thành việc xây dựng nền tảng công nghệ cung cấp dịch vụ công điện tử ngành Tài chính
Trong giai đoạn 2016-2020, một số chính sách nghiệp vụ đã có sự thay đổi như: Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 có hiệu lực từ 01/01/2017; Luật Kế toán số 88/2015/QH13 có hiệu lực từ 01/01/2017; Luật Quản lý Tài sản công (trình Quốc hội tại kỳ họp tháng 5/2017); Luật Quản lý nợ công (đang trình Chính phủ)
2 Định hướng về ứng dụng CNTT
(1) Định hướng triển khai CNTT của Chính phủ
Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước đã quy định việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước phải tập trung vào các nội dung công khai minh bạch thông tin trên môi trường mạng; số hoá, lưu trữ, chia sẻ thông tin số; tăng cường sử dụng văn bản điện tử và đảm bảo an ninh an toàn thông tin
Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin
và truyền thông đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020: Chính phủ điện tử Việt Nam thuộc loại khá trên thế giới Việt Nam nằm trong nhóm 1/3 nước dẫn đầu trong bảng xếp hạng của Liên hiệp quốc về mức độ sẵn sàng Chính phủ điện tử Hầu hết các dịch vụ công cơ bản được cung cấp trên mạng cho người dân và doanh nghiệp ở mức độ 4 (thanh toán phí dịch vụ, nhận kết quả dịch vụ qua mạng) 100% các ngành công nghiệp then chốt của đất nước, các doanh nghiệp và tổ
Trang 28chức xã hội ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành, sản xuất kinh doanh
Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử đặt ra mục tiêu: “Đẩy mạnh phát triển Chính phủ điện tử, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn Nâng vị trí của Việt Nam về Chính phủ điện tử theo xếp hạng của LHQ Công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước trên môi trường mạng” và cụ thể hóa thành các chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Trong năm 2015 - 2017 tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý và cung cấp dịch vụ công trực tuyến, bảo đảm rút ngắn quy trình xử lý, giảm số lượng và đơn giản hóa, chuẩn hóa nội dung hồ sơ, giảm thời gian và chi phí thực hiện thủ tục hành chính
- Phấn đấu đến hết năm 2016 các bộ, ngành Trung ương có 100% các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến ở mức độ cho phép người sử dụng điền, gửi các mẫu văn bản và được xác nhận qua mạng điện tử cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ; việc trao đổi thông tin (hỏi – đáp, hỗ trợ thực hiện, cập nhật tình hình xử lý…) trong quá trình cung cấp dịch vụ được thực hiện qua mạng điện tử; việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ công (dịch vụ công trực tuyến mức độ 3)
- Phấn đấu đến hết năm 2016, một số dịch vụ công phổ biến, liên quan nhiều tới người dân, doanh nghiệp được cung cấp ở mức độ 3 như nêu trên và mọi giao dịch trong quá trình cung cấp dịch vụ được thực hiện qua mạng điện
tử, cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) qua mạng điện tử; việc trả kết quả có thể được thực hiện qua mạng điện tử, gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến người sử dụng (dịch vụ công trực tuyến mức độ 4)
- Cải cách toàn diện cả ba nhóm chỉ số dịch vụ công trực tuyến (OSI), hạ tầng viễn thông (TII) và nguồn nhân lực (HCI); phấn đấu đến hết năm 2016, nằm trong Nhóm 4 và năm 2017 nằm trong Nhóm 3 quốc gia đứng đầu ASEAN
về chỉ số dịch vụ công trực tuyến (OSI) và Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) của LHQ
(2) Định hướng triển khai ứng dụng CNTT ngành Tài chính đến 2020
Để đảm bảo hoàn thành các mục tiêu của Chiến lược Tài chính và thực hiện theo định hướng triển khai ứng dụng CNTT của Chính phủ, việc triển khai ứng dụng CNTT trong ngành Tài chính giai đoạn tới đã đề ra một số nội dung trọng điểm, cụ thể là:
- Tập trung vào mục tiêu cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân
và doanh nghiệp trên cơ sở chuẩn hóa thủ tục hành chính, ứng dụng CNTT trong cải cách hành chính Áp dụng nhiều hình thức hỗ trợ dịch vụ qua các thiết bị công nghệ tích hợp (điện thoại thông minh, công nghệ nghe nhìn, đa phương tiện)
- Tập trung vào mục tiêu xây dựng hệ thống thông tin quản lý, thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành cho lãnh đạo; cung cấp thông tin đa chiều, hỗ trợ
Trang 29phân tích, thống kê, dự báo: xây dựng các kho dữ liệu chuẩn theo công nghệ hiện đại, áp dụng công cụ khai thác thông tin đa chiều (BI)
- Tiếp tục nâng cấp, hoàn thiện theo yêu cầu để phát huy hiệu quả các hệ thống lớn, hợp nhất toàn ngành: hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và Kho bạc tích hợp (TABMIS), quản lý thuế tập trung (TMS), hệ thống tự động hóa thủ tục Hải quan và Hải quan một cửa Quốc gia (VNACCS/VCIS) Từng bước ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực quản lý tài chính (giá, công sản, doanh nghiệp, bảo hiểm, ) theo lộ trình cải cách và hiện đại hóa của các đơn vị chuyên môn
- Xu hướng ứng dụng liên kết nhiều nghiệp vụ, trong phạm vi cấp Tổng cục, cấp Bộ, ngành và liên kết đa ngành Chuyển dần từ các ứng dụng phân tán (tới cấp Chi cục hoặc cấp Cục) sang mô hình xử lý tập trung, với việc áp dụng các phần mềm doanh nghiệp theo chuẩn quốc tế Áp dụng từng bước các công nghệ mới hiện nay như ảo hóa, điện toán đám mây để đảm bảo hiệu suất đầu tư cao
- Chuyển đổi phương thức đầu tư theo hình thức công tư (PPP, BTO), chuyên môn hóa; tăng cường thuê ngoài (outsourcing) dịch vụ CNTT theo Quyết định số 80/2014/QĐ-TTg ngày 30/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm thuê dịch vụ CNTT trong hoạt động cơ quan nhà nước
III Kế hoạch ứng dụng CNTT và Thống kê ngành Tài chính giai đoạn 2016-2020
Việc lập kế hoạch triển khai ứng dụng CNTT giai đoạn 2016-2020 của ngành Tài chính được căn cứ vào định hướng phát triển CNTT của Chính phủ,
và yêu cầu chiến lược phát triển của ngành Tài chính, với các nội dung cụ thể như sau:
1 Mục tiêu tổng quát
(1) Xây dựng các dịch vụ công tài chính (mức 3 và mức 4) phục vụ người dân, doanh nghiệp và các tổ chức; tăng cường chia sẻ thông tin, nội dung số đảm bảo khả năng tiếp cận và sử dụng thông tin tài chính cho người dân và toàn xã hội, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
(2) Xây dựng các hệ thống ứng dụng cốt lõi và Cơ sở dữ liệu quốc gia về Tài chính, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo công nghệ hiện đại phục vụ công tác chỉ đạo, quản lý và điều hành của các cấp trong ngành Tài chính
(3) Xây dựng, khai thác, sử dụng hiệu quả các hệ thống ứng dụng CNTT trong hoạt động nội bộ ngành Tài chính, ưu tiên các ứng dụng CNTT phục vụ cải cách hành chính, nâng cao năng suất hiệu quả công việc
(4) Hiện đại hóa hạ tầng CNTT trong ngành theo các công nghệ hiện đại phù hợp với yêu cầu triển khai trong từng giai đoạn
(5) Đảm bảo an ninh an toàn cho hoạt động của các hệ thống thông tin ngành Tài chính trên các phương diện: thể chế, phương án kỹ thuật và quản lý vận hành
Trang 30(6) Đổi mới công tác quản lý đầu tư, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý, phát triển nguồn nhân lực CNTT ngành Tài chính đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện đại hóa ngành
về việc Ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020
(2) 100% các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến tối thiểu ở mức độ 3, trong đó 30% đạt mức độ 4 thông qua Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính và được tích hợp lên Cổng dịch vụ công quốc gia, trong đó:
+ Rút ngắn thời gian thực hiện thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cho doanh nghiệp đạt mức trung bình của các nước ASEAN-4 Kết nối với các
Bộ, ngành thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia và kết nối với các nước thực hiện
Cơ chế một cửa ASEAN
+ 30% hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý trực tuyến mức độ 4
+ Tối thiểu 90% số người nộp thuế được tiếp cận đầy đủ, kịp thời các thông tin về thay đổi chính sách, thủ tục hành chính thuế; 95% doanh nghiệp thường xuyên sử dụng các dịch vụ thuế điện tử; 95% doanh nghiệp nộp thuế điện tử; 95% hồ sơ hoàn thuế được nộp và trả kết quả qua mạng; 80% cá nhân kinh doanh nộp thuế qua dịch vụ thuế điện tử hoặc qua hình thức xã hội hóa dịch
vụ thu hộ
(3) Mở rộng chia sẻ thông tin, trao đổi dữ liệu điện tử với các Bộ, ngành, địa phương; tổ chức cung cấp dịch vụ dữ liệu điện tử cho cơ quan nhà nước và
xã hội theo quy định
b) Ứng dụng CNTT phục vụ hoạt động nghiệp vụ quản lý tài chính và xây dựng CSDL Quốc gia về tài chính
(4) Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực quản lý chuyên môn theo hướng đồng bộ, thống nhất, trong đó tập trung xây dựng triển khai các hệ thống nghiệp vụ chính
(5) Hoàn thiện chính sách pháp luật trong công tác quản lý, vận hành, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về Tài chính
(6) Hệ thống dữ liệu về tài chính được quản lý thống nhất, tập trung từ trung ương đến địa phương
(7) Cơ sở dữ liệu quốc gia về Tài chính được xây dựng theo mô hình cơ sở
dữ liệu tổng hợp đặt tại Bộ Tài chính, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành tại các Tổng cục, Cục thuộc Bộ Tài chính
Trang 31c) Ứng dụng CNTT phục vụ hoạt động nội bộ ngành Tài chính
(8) 100% các văn bản không mật trình Bộ dưới dạng điện tử (bao gồm cả các văn bản trình song song cùng văn bản giấy)
(9) 80% văn bản không mật trao đổi giữa các đơn vị trong ngành Tài chính dưới dạng điện tử (bao gồm cả các văn bản gửi song song cùng văn bản giấy)
(10) 100% hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức được lưu trữ, quản lý dưới dạng hồ sơ điện tử Thiết lập mã định danh duy nhất về công chức, viên chức ngành Tài chính
(11) 100% dữ liệu tài sản của ngành Tài chính được cập nhật, quản lý và lưu trữ tập trung tại Bộ Tài chính
(12) Hoàn thành xây dựng môi trường làm việc điện tử trên cơ sở nâng cấp, mở rộng Trang điện tử Bộ Tài chính tích hợp với hệ thống ứng dụng hạ tầng
(13) Hoàn thành triển khai ứng dụng Kế toán nội bộ tại các đơn vị, hệ thống trong ngành
d) Mục tiêu hoàn thiện hạ tầng công nghệ
(14) Hệ thống hạ tầng truyền thông thống nhất toàn ngành được duy trì ổn định, an toàn
(15) Các ứng dụng cốt lõi có hệ thống dự phòng
(16) Hạ tầng kỹ thuật CNTT ngành Tài chính được nâng cấp, phát triển, chuẩn hóa, áp dụng công nghệ mới hiện đại, đáp ứng yêu cầu triển khai các hệ thống ứng dụng của ngành
(17) Hỗ trợ nâng cao khả năng đáp ứng hạ tầng kỹ thuật CNTT phục vụ triển khai các ứng dụng của Bộ Tài chính cho Sở Tài chính các tỉnh, thành phố
(18) Đảm bảo việc trao đổi thông tin giữa các hệ thống ứng dụng trong và ngoài ngành được quản lý, giám sát thống nhất, đồng bộ
(19) Bảo đảm triển khai các hệ thống CNTT của ngành Tài chính có bản quyền theo quy định của pháp luật
đ) An toàn thông tin
(20) Hoàn thiện các văn bản quy định, tiêu chuẩn về an toàn thông tin trong ngành Tài chính
(21) Đảm bảo an toàn thông tin, phòng chống thất thoát dữ liệu, chủ động phát hiện và phòng chống các loại hình tấn công vào các hệ thống ứng dụng CNTT của ngành Tài chính
e) Tổ chức bộ máy, đào tạo nguồn nhân lực về quản lý CNTT
(22) 100% công chức, viên chức nghiệp vụ được đào tạo sử dụng các ứng dụng CNTT phục vụ nghiệp vụ theo vị trí công việc được phân công và chương trình nghiệp vụ được sử dụng
Trang 32(23) 100% công chức, viên chức làm công tác CNTT được đào tạo bổ sung kiến thức để quản lý, quản trị, vận hành các hệ thống ứng dụng CNTT đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa của ngành Tài chính
(24) Tiếp tục kiện toàn tổ chức, chức năng nhiệm vụ theo hướng chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu mới trong việc quản lý, duy trì và phát triển hệ thống thông tin ngành Tài chính giai đoạn 2016-2020 và các năm tiếp theo
IV Các nhiệm vụ ứng dụng CNTT giai đoạn 2016-2020
1 Hoàn thiện mô hình kiến trúc CNTT ngành Tài chính
Trong giai đoạn 2016-2020, Bộ Tài chính tiếp tục kế thừa mô hình hệ thống
đã được xây dựng trong các giai đoạn trước và hoàn thiện mô hình kiến trúc phù hợp với định hướng phát triển của ngành và khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam Mô hình tổng quan như sau:
Trang 33Các thành phần chính của mô hình gồm:
(1) Đối tượng phục vụ được tổ chức theo 2 nhóm gồm: nhóm đối tượng bên ngoài ngành (người dân, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước); nhóm đối tượng bên trong ngành (cán bộ công chức viên chức nội ngành Tài chính)
(2) Các dịch vụ hành chính công, cung cấp dịch vụ, trao đổi thông tin phục vụ các đối tượng, gồm: Cổng thông tin điện tử, dịch vụ công, hệ thống trao đổi thông tin bên ngoài; Cổng/Trang thông tin nội bộ và Hệ thống trao đổi thông tin nội bộ (phục vụ các đối tượng bên trong ngành)
(3) Hệ thống dịch vụ chia sẻ tích hợp: gồm các trục tích hợp dữ liệu bên ngoài và trục tích hợp dữ liệu nội bộ để thực hiện việc quản lý, giám sát, trao đổi thông điệp dữ liệu giữa các hệ thống ứng dụng với nhau Tùy theo yêu cầu có thể tổ chức dịch vụ chia sẻ tích hợp phục vụ trao đổi thông tin trong và ngoài ngành theo các hệ thống riêng biệt
(4) Hệ thống các ứng dụng gồm: Các ứng dụng phục chuyên môn nghiệp
vụ, ứng dụng phục vụ hoạt động nội bộ của các đơn vị được xây dựng, nâng cấp
và triển khai theo nhu cầu quản lý theo hướng tập trung, thống nhất
(5) Các dịch vụ hạ tầng: đảm bảo cho hoạt động của các hệ thống ứng dụng được tổ chức theo kiến trúc hướng dịch vụ, ảo hóa, đám mây, để đảm bảo thống nhất và linh hoạt trong sử dụng, khai thác tài nguyên
(6) An toàn thông tin: là thành phần xuyên suốt, bảo đảm an ninh, an toàn cho toàn bộ các hệ thống CNTT
(7) Hạ tầng kỹ thuật: gồm hệ thống trang thiết bị, kênh truyền, trung tâm dữ liệu (8) Hỗ trợ/Quản lý giám sát chất lượng dịch vụ: là thành phần xuyên suốt thực hiện mục tiêu hỗ trợ người sử dụng; giám sát chất lượng dịch vụ
2 Phát triển và hoàn thiện các ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp
- Duy trì, vận hành và phát triển Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính, Cổng thông tin điện tử của các đơn vị, hệ thống thuộc Bộ thành một hệ thống hiện đại, liên kết chặt chẽ, đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin, tuân thủ các quy định của Nhà nước và của Bộ Tài chính
- Duy trì và nâng cao hiệu quả sử dụng các dịch vụ công đã được triển khai thực hiện trong giai đoạn 2011-2015 và tiếp xây dựng mới, triển khai 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 trở lên; cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 đối với các lĩnh vực: khai báo hải quan và thông quan hàng hóa, khai báo phương tiện vận tải đường biển, đường không, thanh toán thuế, phí và lệ phí, miễn giảm hoàn thuế và cung cấp các dịch vụ thuế điện tử hỗ trợ người nộp thuế; đẩy mạnh triển khai hệ thống một cửa quốc gia, một cửa ASEAN
- Kết nối với Cổng thông tin điện tử Chính phủ, tích hợp triển khai tất cả các dịch vụ công trực tuyến của ngành Tài chính trên Cổng thông tin điện tử của
Bộ, Cổng dịch vụ công quốc gia theo lộ trình của Chính phủ
Trang 34- Duy trì và phát triển hệ thống thanh toán điện tử với các ngân hàng
- Xây dựng, phát triển hệ thống trao đổi thông tin dữ liệu kết nối với các
Bộ, ngành, địa phương
- Xây dựng và triển khai các dịch vụ cung cấp thông tin dữ liệu điện tử nhằm đa dạng hóa các kênh thông tin, nâng cao chất lượng dịch vụ theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp
- Nghiên cứu, triển khai giải pháp tích hợp để thực hiện đấu thầu qua mạng đấu thầu quốc gia theo hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
3 Ứng dụng CNTT phục vụ chuyên môn và xây dựng CSDL Quốc gia
về tài chính
a) Ứng dụng phục vụ công tác chuyên môn
- Duy trì, nâng cấp các hệ thống ứng dụng CNTT hiện tại đảm bảo hoạt động ổn định, phù hợp với điều chỉnh về chính sách nghiệp vụ
- Tập trung xây dựng mới các hệ thống ứng dụng CNTT cốt lõi trong các lĩnh vực Thuế, Kho bạc, Hải quan, Chứng khoán, Dự trữ:
+ Xây dựng và triển khai hệ thống Tổng kế toán Nhà nước
+ Xây dựng và triển khai hệ thống Tổng hợp quyết toán ngân sách nhà nước
+ Mở rộng Cổng thông tin một cửa quốc gia và kết nối Cơ chế một cửa ASEAN
+ Xây dựng hệ thống quản lý hàng hóa tại cảng biển
+ Xây dựng phân hệ thực hiện thủ tục quá cảnh
+ Nâng cấp hệ thống Kế toán thuế xuất khẩu, nhập khẩu
+ Nâng cấp hệ thống Cổng/Trang thông tin điện tử ngành Hải quan mở rộng cung cấp dịch vụ công trực tuyến
+ Nâng cấp và triển khai mở rộng hệ thống Quản lý Hoá đơn điện tử có
mã xác thực của cơ quan Thuế
+ Nâng cấp kiến trúc và triển khai ứng dụng đáp ứng nghiệp vụ phân tích rủi ro trong quản lý thuế
+ Xây dựng hệ thống quản lý, giám sát thị trường chứng khoán phái sinh + Xây dựng hệ thống Quản lý nghiệp vụ Dự trữ Quốc gia
+ Hệ thống quản lý giám sát vốn Nhà nước tại doanh nghiệp
- Triển khai các hệ thống quản lý trao đổi thông tin nội bộ ngành Tài chính theo nguyên tắc thống nhất đầu mối cung cấp thông tin, nhất quán dữ liệu điện tử giữa các cơ quan tài chính
b) Xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về Tài chính
Trang 35- Xây dựng Đề án Cơ sở dữ liệu quốc gia về Tài chính với các nội dung: xây dựng, quản lý, duy trì, cập nhật, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu
- Xây dựng hệ thống các chỉ tiêu và văn bản pháp lý thuộc Cơ sở dữ liệu quốc gia về Tài chính trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo các lĩnh vực quản
lý của ngành Tài chính như: (1) Quản lý Ngân sách Nhà nước; (2) Quản lý Thuế, phí và lệ phí; (3) Quản lý Quỹ ngân sách, quỹ dự trữ tài chính Nhà nước
và các quỹ tài chính khác của Nhà nước; (4) Quản lý Dự trữ quốc gia; (5) Quản
lý Tài sản Nhà nước; (6) Quản lý Tài chính doanh nghiệp và quản lý vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp; (7) Quản lý vay nợ, trả nợ trong nước, ngoài nước của Chính phủ, nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia và nguồn viện trợ quốc tế; (8) Quản lý Chứng khoán và thị trường chứng khoán; (9) Quản lý Bảo hiểm; (10) Quản lý tài chính các tổ chức tài chính và dịch vụ tài chính; (11) Quản lý Hải quan;(12) Quản lý Giá
- Xây dựng và ban hành chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về hệ thống, trao đổi, báo cáo, tích hợp dữ liệu, trong đó xác định rõ đối tượng, nội dung áp dụng đối với từng chuẩn, quy chuẩn, theo hướng tăng cường hiệu quả sử dụng các cơ sở dữ liệu sẵn có
- Duy trì, nâng cấp và khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu chuyên ngành
đã xây dựng
- Xây dựng mới cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo hướng chỉ xây dựng đối với các lĩnh vực đã xác định nguồn dữ liệu đầu vào, nội dung nghiệp vụ phải cung cấp:
+ Xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về Tài chính (Cơ sở dữ liệu tổng hợp, trước mắt tập trung cho các hệ thống chỉ tiêu thống kê tài chính)
+ Cơ sở dữ liệu chuyên ngành: Thuế, Hải quan, Kho bạc, Dự trữ, Chứng khoán
+ Cơ sở dữ liệu quốc gia về Giá
4 Phát triển và hoàn thiện các ứng dụng CNTT trong nội bộ ngành Tài chính
- Nâng cấp, mở rộng Trang điện tử nội bộ Bộ Tài chính tích hợp với hệ thống ứng dụng hạ tầng: hệ quản trị người dùng, hệ thống thư điện tử, công cụ văn phòng; tích hợp các ứng dụng nội bộ, phần mềm nghiệp vụ tại mỗi đơn vị, hình thành môi trường nhất quán cho người sử dụng khi tương tác với các hệ
thống CNTT
- Triển khai mở rộng chương trình Quản lý văn bản và điều hành cho toàn ngành Tài chính; đảm bảo tích hợp trao đổi thông tin dữ liệu, kết nối với các Bộ, ngành, địa phương theo hướng dẫn của Chính phủ
- Xây dựng Hệ thống thông tin thống kê tài chính
- Nâng cấp hệ thống Trung tâm trao đổi thông tin thu ngân sách nhà nước tại Bộ Tài chính
Trang 36- Xây dựng hệ thống quản lý cán bộ tập trung toàn ngành Tài chính bảo đảm tích hợp với hệ thống thông tin quản lý cán bộ, công chức của Bộ Nội vụ
- Xây dựng Hệ thống thông tin Quản lý tài sản nội ngành theo mô hình tập trung
- Hoàn thành triển khai ứng dụng Kế toán nội bộ trên cơ sở ứng dụng Kế toán nội bộ của Kho bạc Nhà nước cho các đơn vị, hệ thống trong ngành
5 Hạ tầng kỹ thuật
a) Về hạ tầng kỹ thuật
- Duy trì vận hành hạ tầng truyền thông: Duy trì, nâng cấp cơ sở hạ tầng truyền thông thống nhất ngành Tài chính đảm bảo tính sẵn sàng của đường truyền, đáp ứng yêu cầu triển khai các bài toán nghiệp vụ của ngành, yêu cầu của công tác quản lý, điều hành và trao đổi chuyên môn giữa các đơn vị thuộc
Bộ và nội bộ của từng đơn vị
- Xây dựng phương án chuyển đổi mô hình quản trị Trung tâm tỉnh theo hướng thuê dịch vụ
- Hoàn thành xây dựng, đưa vào khai thác hiệu quả trung tâm dữ liệu chính của Bộ Tài chính tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc
- Thiết lập Trung tâm dữ liệu dự phòng của Bộ Tài chính
- Hoàn thiện mô hình kiến trúc CNTT ngành Tài chính
- Trang bị tập trung bản quyền phần mềm, dịch vụ hỗ trợ các sản phẩm phần mềm có quy mô triển khai toàn ngành (Oracle, Microsoft, )
- Hạ tầng thiết bị:
+ Đầu tư hạ tầng kỹ thuật CNTT theo hướng sử dụng các công nghệ mới (ảo hóa, điện toán đám mây) tập trung năng lực xử lý cho các hệ thống cốt lõi,
sử dụng tối ưu tài nguyên, đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm
+ Đầu tư, thay thế các trang thiết bị, thực hiện bảo trì, bảo dưỡng thiết bị, dịch vụ hỗ trợ CNTT, đảm bảo tăng cường năng lực và tính sẵn sàng của các hệ thống CNTT ngành Tài chính hoạt động ổn định, thông suốt
+ Xây dựng, triển khai hệ thống lưu trữ, dự phòng thảm họa cho các hệ thống ứng dụng cốt lõi
- Xây dựng đề án trình Bộ phê duyệt về triển khai hạ tầng kỹ thuật CNTT cho các Sở Tài chính để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất khi triển khai các hệ thống ứng dụng của Bộ Tài chính cho các đơn vị tài chính địa phương
- Xây dựng nền tảng tích hợp, chia sẻ dịch vụ trao đổi thông tin để chuẩn hóa dữ liệu cung cấp; quản lý, giám sát quá trình gửi, nhận thông tin giữa các hệ thống bên trong và bên ngoài
b) Về quản trị, vận hành hệ thống CNTT
Xây dựng các quy trình phục vụ công tác quản trị, vận hành các hệ thống CNTT trong ngành Tài chính
Trang 376.Về an toàn thông tin
- Xây dựng, cập nhật các quy chuẩn, chính sách chung về an toàn thông tin trong ngành Tài chính; hướng dẫn triển khai thực hiện đảm bảo tuân thủ các quy định chung về an toàn thông tin
- Đầu tư, duy trì, nâng cấp các hệ thống đảm bảo an toàn thông tin
- Tích hợp chữ ký số vào hệ thống quản lý văn bản điều hành, các dịch
vụ công, hệ thống báo cáo thống kê, các ứng dụng nghiệp vụ, hệ thống thư điện
tử có yêu cầu tính toàn vẹn và bảo mật cao
- Nghiên cứu, áp dụng các giải pháp mã hóa nhằm bảo vệ bí mật nhà nước
- Định kỳ hàng năm thực hiện việc kiểm tra, đánh giá về an toàn thông tin
- Xây dựng và diễn tập về bảo đảm an toàn thông tin tại cơ quan Bộ và các đơn vị hệ thống thuộc Bộ
7 Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực cho ứng dụng CNTT
- Tổ chức triển khai hệ thống đào tạo trực tuyến phục vụ đào tạo, triển khai, sử dụng các hệ thống ứng dụng CNTT của ngành Tài chính
- Đào tạo phát triển nguồn nhân lực CNTT, thống kê ngành Tài chính theo hướng chuyên môn hóa, theo chuẩn mực quốc tế
- Tổ chức kiện toàn chức năng nhiệm vụ, tổ chức bộ máy quản lý CNTT của các đơn vị, hệ thống thuộc Bộ phù hợp với yêu cầu quản lý giai đoạn 2016-
2020 và các năm tiếp theo
- Tổ chức nghiên cứu khoa học, tiếp cận công nghệ mới
V Giải pháp
1 Tăng cường thuê dịch vụ để triển khai ứng dụng CNTT
- Ưu tiên lựa chọn hình thức thuê dịch vụ để triển khai ứng dụng CNTT trong Bộ Tài chính trên cơ sở nhu cầu, điều kiện nguồn lực thực tế và tính hiệu quả giữa việc thuê dịch vụ so với đầu tư, xây dựng, vận hành các hệ thống CNTT
3 Giải pháp về quản lý, triển khai CNTT
- Gắn việc hoàn thiện cơ chế chính sách, chuẩn hóa nghiệp vụ với việc xây dựng chương trình, đề án, dự án ứng dụng CNTT đảm bảo các nghiệp vụ của ngành Tài chính phải được triển khai ứng dụng CNTT nâng cao hiệu quả, hiệu lực của chính sách tài chính
Trang 38- Đầu tư trọng điểm, tập trung, ưu tiên triển khai các hệ thống CNTT phục vụ cải cách hành chính, phục vụ người dân, doanh nghiệp Kết hợp chặt chẽ việc triển khai Kế hoạch ứng dụng CNTT giai đoạn 2016-2020 với chương trình cải cách hành chính
- Hiện đại hóa các hệ thống thông tin của ngành Tài chính phù hợp với
xu hướng phát triển công nghệ tiên tiến như: xu hướng bùng nổ dữ liệu (Big Data); xu hướng ảo hóa (Cloud computing); xu hướng tăng cường tính di động (Mobility); xu hướng định danh mọi thứ trên Internet (Internet of things); xu hướng áp dụng nền tảng công nghệ S.M.A.C với sự kết hợp chặt chẽ của 4 yếu tố: Social (xã hội), Mobility (di động), Analytics (phân tích dữ liệu lớn) và Cloud (điện toán đám mây)
- Xây dựng, công bố các quy định kỹ thuật về dữ liệu, chuẩn, giao diện,
để hỗ trợ việc kết nối, trao đổi thông tin giữa các hệ thống thông tin của ngành Tài chính theo quy định tại Thông tư số 25/2014/TT-BTTTT ngày 31/12/2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về triển khai các hệ thống thông tin
có quy mô và phạm vi từ Trung ương tới địa phương
4 Giám sát, đánh giá
- Thường xuyên kiểm tra, đánh giá tình hình ứng dụng CNTT trong các đơn vị, hệ thống thuộc Bộ Tài chính để có những giải pháp thúc đẩy kịp thời, đảm bảo việc triển khai kế hoạch CNTT đúng thời gian, tiến độ đáp ứng yêu cầu quản lý Đưa tiêu chí đánh giá hiệu quả ứng dụng CNTT vào các phong trào thi đua, bình xét khen thưởng
- Xây dựng các phương pháp đánh giá khoa học về ứng dụng CNTT phù hợp điều kiện thực tế tại các đơn vị, hệ thống thuộc Bộ Tài chính và theo chuẩn mực quốc tế
5 Nâng cao nhận thức, đào tạo nguồn nhân lực
Thực hiện đào tạo phát triển nguồn nhân lực trong đó tập trung vào các nội dung:
- Đào tạo nhận thức về CNTT cho lãnh đạo các cấp và cán bộ, công chức trong ngành
- Tổ chức tuyên truyền rộng rãi nhằm nâng cao hiểu biết, nhận thức cho cán bộ, công chức, người dân và doanh nghiệp để khuyến khích, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp trong việc tiếp cận, sử dụng hiệu quả các dịch vụ của Bộ Tài chính
- Bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý CNTT cho giám đốc CNTT, phụ trách cấp phòng về CNTT của các đơn vị, hệ thống thuộc Bộ Tài chính
- Xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức chuyên trách CNTT và thống kê phù hợp với từng giai đoạn và từng lĩnh vực nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu công việc
- Hoàn thiện quy trình tuyển dụng, đào tạo, quy hoạch, bổ nhiệm và bố trí cán bộ phù hợp với thực tế quản lý CNTT và thống kê
Trang 396 Bảo đảm môi trường pháp lý
- Chủ động bám sát quá trình xây dựng các văn bản quy định về CNTT
và thống kê của Bộ quản lý chuyên ngành để cung cấp, trao đổi, hướng dẫn kịp thời, thống nhất trong triển khai ứng dụng CNTT và thống kê của ngành Tài chính Đảm bảo triển khai CNTT và thống kê của Bộ Tài chính phù hợp với quy định của Nhà nước
7 Học tập kinh nghiệm quốc tế
- Triển khai các hoạt động tìm hiểu thực tế mô hình phát triển Chính phủ điện tử thành công tại các nước
- Tranh thủ kinh nghiệm của các chuyên gia, nguồn lực của các hãng, đẩy mạnh các hoạt động trao đổi, thảo luận về ứng dụng các giải pháp công nghệ mới trong xây dựng và triển khai các hệ thống CNTT của ngành
VI Kế hoạch chi tiết năm 2017-2018:
1 Mục tiêu:
Tiếp tục xây dựng, phát triển và duy trì hệ thống CNTT và thống kê tài chính đồng bộ, thống nhất, gắn liền với các nhiệm vụ chính trị được giao của ngành Tài chính, đáp ứng đầy đủ, kịp thời các yêu cầu điều hành nền tài chính quốc gia của Bộ Tài chính Cụ thể như sau:
(1) Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế chính sách, đẩy mạnh việc hướng dẫn thực hiện các quy định về quản lý đầu tư CNTT, góp phần hình thành nên môi trường pháp lý đồng bộ, đầy đủ, đáp ứng các yêu cầu quản lý và tổ chức triển khai ứng dụng CNTT và thống kê trong ngành Tài chính
(2) Tổ chức triển khai các dự án lớn, trọng điểm toàn ngành đảm bảo yêu cầu về chất lượng và thời gian thực hiện Tổ chức nghiên cứu, đề xuất các giải pháp công nghệ phục vụ chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Bộ
(3) Phát triển hệ thống thông tin thống kê tài chính tập trung, thống nhất, gắn liền với hệ thống thống kê kinh tế quốc dân và hệ thống thống kê tiền tệ của Nhà nước, phù hợp các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về Thống kê tài chính Chính phủ nhằm thu thập đầy đủ thông tin thống kê tài chính trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, phục vụ việc xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế-
xã hội, đáp ứng đầy đủ, kịp thời các yêu cầu về phân tích, đánh giá, hoạch định
và điều chỉnh chính sách trong quản lý, điều hành của các cấp lãnh đạo và nhu cầu sử dụng thông tin thống kê tài chính của các tổ chức, cá nhân khác
(4) Tiếp tục ổn định tổ chức, bộ máy, nhân sự CNTT và thống kê tại các đơn vị thuộc Bộ, từng bước xây dựng nguồn nhân lực có đủ kỹ năng tiếp nhận quản trị, vận hành các hệ thống lớn và đảm bảo an ninh, an toàn thông tin
2 Nhiệm vụ trọng tâm năm 2017-2018:
2.1 Triển khai Chính phủ điện tử:
- Xây dựng và triển khai 100% các dịch vụ công mức độ 3 được cung cấp trực tuyến thông qua Cổng Thông tin điện tử Bộ Tài chính, Cổng thông tin điện tử
Trang 40của các đơn vị hệ thống thuộc Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan,
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Kho bạc Nhà nước, Tổng cục Dự trữ Nhà nước)
- Xây dựng, triển khai ứng dụng cung cấp dịch vụ công mức độ 3 và tích hợp lên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính, từng bước tích hợp lên Cổng dịch vụ công Quốc gia theo lộ trình của Chính phủ
- Thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin tối thiểu đạt tỷ lệ 95% khai thuế điện tử, nộp thuế điện tử và hoàn thuế; thời gian thực hiện thủ tục về thuế đối với doanh nghiệp, thời gian hoàn thành thủ tục khai thuế, nộp thuế (bao gồm
cả thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp) được rút ngắn xuống còn dưới 119 giờ/năm và đạt mức trung bình của các nước ASEAN-4 Triển khai thực hiện đề án hoá đơn điện tử có mã xác thực
- Tiếp tục duy trì, nâng cao hiệu quả hệ thống thông quan điện tử (VNACCS/VCIS), bảo đảm vận hành ổn định, bền vững; mở rộng thực hiện thanh toán điện tử, triển khai mở rộng cơ chế một cửa quốc gia và kết nối cơ chế một cửa ASEAN
2.2 Về công tác triển khai nhiệm vụ đầu tư ứng dụng CNTT, Thống kê:
Việc tổ chức triển khai ứng dụng CNTT, thống kê năm 2017, 2018 toàn ngành tài chính tập trung theo các mảng chính sau:
(1) Triển khai các dự án, phần mềm dùng chung trong ngành tài chính
- Dự án Nâng cấp phần mềm Quản lý tài sản nội ngành tài chính theo mô hình tập trung;
- Dự án xây dựng Hệ thống thông tin quản lý cán bộ Bộ Tài chính theo
mô hình tập trung;
- Dự án Nâng cấp hệ thống Trung tâm trao đổi thông tin thu NSNN tại Bộ Tài chính;
- Dự án Nâng cấp phần mềm cấp mã số đơn vị có quan hệ ngân sách;
- Dự án Xây dựng chương trình quản lý kiểm soát chi đầu tư trên mạng diện rộng ngành Tài chính (Chương trình ĐTTC);
- Dự án Xây dựng và triển khai hệ thống Tổng kế toán Nhà nước;
- Triển khai Đề án Cơ sở dữ liệu Quốc gia về Tài chính: trong đó tập trung triển khai các dự án:
+ Dự án Nâng cấp Kho dữ liệu thu chi ngân sách nhà nước;
+ Dự án Xây dựng CSDL quốc gia về Giá giai đoạn 1;
+ Dự án xây dựng CSDL Danh mục điện tử dùng chung ngành Tài chính; + Dự án xây dựng CSDL tổng hợp về Tài chính;
- Triển khai nâng cấp ứng dụng QLNS 8.0, Nâng cấp hệ thống CSDL danh mục dùng chung ngành Tài chính lên phiên bản 5,0 đáp ứng thay đổi mục lục ngân sách nhà nước;