1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THỰC VẬT BẬC CAO CÓ MẠCH VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ HOẠT, TỈNH NGHỆ AN . TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

28 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 606,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá được tính đa dạng hệ thực vật bậc cao có mạch thành phần loài, thảm thực vật ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt nhằm đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát tr

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

-

NGUYỄN DANH HÙNG

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THỰC VẬT BẬC CAO CÓ MẠCH

VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO TỒN Ở KHU BẢO TỒN

THIÊN NHIÊN PÙ HOẠT, TỈNH NGHỆ AN

Chuyên ngành: Thực vật học

Mã số: 9.42.01.11

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

HÀ NỘI, 2020

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện Hàn

lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học 1: TS Đỗ Ngọc Đài

Người hướng dẫn khoa học 2: PGS TS Trần Minh Hợi

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

Đa dạng sinh học (ĐDSH) có vai trò cực kì to lớn đối với con người Từ

xa xưa, con người đã sử dụng nguồn tài nguyên này cho nhiều mục đích khác nhau để phục vụ đời sống như: lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nơi ở

và ngay cả những hoạt động tinh thần như phong tục tập quán, nghệ thuật - thi

ca, hội hoạ cũng đều xuất phát từ mối liên hệ giữa con người và những sinh vật xung quanh

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với các khu hệ động vật, thực vật, nấm, vi sinh vật rất đa dạng và phong phú nên được xem là một trong những trung tâm ĐDSH cao trên thế giới Đến nay, ở Việt Nam biết khoảng hơn 13.000 loài thực vật bậc cao có mạch; hàng năm,con số này vẫn tăng lên vì có nhiều loài mới được phát hiện và bổ sung thêm

Khu BTTN Pù Hoạt bao gồm những khối núi lớn với độ cao là 2.457 m Đây là vùng nằm trong “Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An” được UNESCO công nhận ngày 20/9/2007 Khu BTTN Pù Hoạt có tổng diện tích 90.741 ha, thuộc phạm vi 9 xã của huyện Quế Phong gồm: Thông Thụ, Đồng Văn, Tiền Phong, Hạch Dịch, Nậm Giải, Tri Lễ, Nậm Nhoóng, Cắm Muộn và Châu Thôn, ở phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An, có tọa độ địa lý 19027’46” -

19059’55” độ vĩ Bắc, 104037’-104014’ độ kinh Đông Tuy có Hệ thực vật phong phú nhưng những nghiên cứu về chúng còn rất ít Một số công trình đã có của Đỗ Ngọc Đài và công sự (2012), Đoàn Điều tra Quy hoạch lâm nghiệp Nghệ An (2013), Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An (2016) mới đề cập đến những khía cạnh khác nhau chưa mang tính hệ thống và cập nhập đầy đủ về Khu hệ thực vật

bậc cao có mạch Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu đa dạng thực

vật bậc cao có mạch và đề xuất các giải pháp bảo tồn ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt, tỉnh Nghệ An”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá được tính đa dạng hệ thực vật bậc cao có mạch (thành phần loài, thảm thực vật) ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt nhằm đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1.Quan điểm về đa dạng sinh học

Vấn đề đa dạng sinh học và bảo tồn đã trở thành một chiến lược trên toàn thế giới Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật trên toàn phạm vi thế giới Đó

là Hiệp hội quốc tế bảo vệ thiên nhiên (IUCN), Chương trình môi trường Liên

Trang 4

hợp quốc (UNEP), Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF), Viện Tài nguyên

di truyền quốc tế (IPGRI) Việc bảo tồn đa dạng sinh học là trọng tâm của sinh học bảo tồn, nhưng cụm từ “đa dạng sinh học” còn có rất nhiều định nghĩa Định nghĩa do Quỹ quốc tế về bảo tồn thiên nhiên WWF (1989) đề xuất như sau: Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và

là hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” Do vậy đa dạng sinh học phải được tính theo ba mức độ: Đa dạng về loài, đa dạng hệ sinh thái

1.2.2 Nghiên cứu thảm thực vật

Nghiên cứu về thảm thực vật, có nhiều quan điểm khác nhau, mỗi quan điểm đều đưa ra những cách thức phân loại riêng theo từng mục đích như phân loại rừng dựa theo cấu trúc và ngoại mạo Đây là hướng cổ điển được nhiều nhà nghiên cứu áp dụng như A F Schimper (1903), Champion (1936), A Aubréville (1949), Schimithusen (1959), UNESCO (1973),…

1.3 Nghiên cứu về thực vật ở Việt Nam

1.3.1 Nghiên cứu hệ thực vật

Nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam chủ yếu là các tác giả của J Loureiro (1793), J.B.L Pierre (1880), H Lecomte và cộng sự (1907-1952), A Aubréville (1960-1996), Lê Khả Kế và cộng (1971-1989), Phạm Hoàng Hộ (1991-1993; 1999-2000), Tập thể các nhà nghiên cứu thực vật Việt Nam (2001,

2003, 2005) Ngoài ra, còn có một số tài liệu về các họ riêng biệt đã được công

bố như Orchidaceae Việt Nam (L Averyanov, 1994), Euphorbiaceae (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1999), Annonaceae (Nguyễn Tiến Bân, 2000), Lamiaceae (Vũ Xuân Phương, 2000), Myrsinaceae (Trần Thị Kim Liên, 2002), Cyperaceae

(Nguyễn Khắc Khôi, 2002), Một số nghiên cứu về đa dạng thành phần loài: T

Pócs (1965), Phan Kế Lộc (1969, 1980), Thái Văn Trừng (1978), Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), Lê Trần Chấn (1999), Nguyễn Tiến Bân (2005)…

Trang 5

1.3.2 Nghiên cứu thảm thực vật

Một số công trình nghiên cứu về thảm thực vật của người nước ngoài như: Chevalier (1918), Maurand (1943), Dương Hàm Nghi (1956), Rollet, Lý Văn Hội và Neay Sam Oil (1958), Loschau (1960), Schmid M (1974),

Trong nước, có một số công trình nghiên cứu của các tác giả: Vũ Tự Lập (1976), Thái Văn Trừng (1978, 2000), Vũ Đình Huề (1984), Phan Kế Lộc (1985) Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu khác như: Phùng Ngọc Lan (1996), Nguyễn Nghĩa Thìn (2004),…

1.4 Nghiên cứu yếu tố địa lý thực vật

Các công trình nghiên cứu về phổ dạng sống của hệ thực vật ở Việt Nam nói chung và các khu hệ thực vật của các địa phương nói riêng đã áp dụng theo

hệ thống phân chia dạng sống thực vật của C Raunkiær (1934) Một số công trình nghiên cứu như: T Pócs (1965) nghiên cứu phổ dạng sống của hệ thực vật Bắc Việt Nam, Thái Văn Trừng (1978) còn áp dụng các ký hiệu khác cho chồi

và lá theo các trạng mùa, ký hiệu về hình dạng tán, chất liệu dây leo, Lê Trần Chấn (1999) …

1.5 Nghiên cứu phổ dạng sống

Gagnepain là người đầu tiên nghiên cứu, phân tích và đánh giá các yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật Việt Nam (1926, 1944), T Pócs (1965) đã phân tích và sắp xếp các loài thực vật ở Bắc Việt Nam thành nhóm các yếu tố trên cơ

sở khu phân bố hiện tại mà không phân tích đến nguồn gốc phát sinh của chúng Thái Văn Trừng (1978), Nguyễn Nghĩa Thìn (1999),…

1.6 Nghiên cứu thực vật ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt

Nghiên cứu thực vật ở Khu BTTN Pù Hoạt trước đó và sau này thành lập Ban quản lý đã có một số công trình như: Hoàng Danh Trung và cs (2010)

“Nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở vùng đệm Khu BTTN Pù Hoạt, Nghệ An”;

Đỗ Ngọc Đài và Lê Thị Hương (2012) bước đầu đánh giá tính đa dạng hệ thực vật ở Khu BTTN Pù Hoạt, Nghệ An công bố 925 loài; Năm 2013, Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã đánh giá tính đa dạng sinh học để thành lập Khu BTTN Pù Hoạt đã công bố 776 loài Năm 2017, Sở Khoa học và Công nghệ đã thực hiện

đề tài “Điều tra, đánh giá tính đa dạng sinh học ở Khu BTTN Pù Hoạt và đề xuất các giải pháp bảo tồn” đã thống kê được 1159 loài, 469 chi và 122 họ trong

5 ngành thực vật bậc cao cáo mạch Năm 2018, Xin Hong và cs đã công bố loài

Bế pù hoạt (Didymocarpus puhoatensis) ở Khu BTTN Pù Hoạt

1.7 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt

1.7.1 Điều kiện tự nhiên khu BTTN Pù Hoạt

Khu BTTN Pù Hoạt có tổng diện tích tự nhiên 90.741 ha, trong đó rừng đặc dụng 39.221 ha và rừng phòng hộ 51.52 ha Nằm trên địa bàn 9 xã thuộc huyện Quế Phong: Tri Lễ, Tiền Phong, Thông Thụ, Hạnh Dịch, Nậm Giải, Đồng Văn, Nậm Nhoóng, Cắm Muộn và Châu Thôn

Trang 6

1.7.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

- Dân tộc Thái có 8.148 người, chiếm 83,7%; Dân tộc H’Mông có 3.310 người, chiếm 7,3%; Dân tộc Khơ Mú có 412 chiếm 4,5%; Dân tộc Kinh có 1.832 người, chiếm 4,1%; Dân tộc Thổ có 166 người, chiếm 0,4% Đặc điểm 100% dân tộc H’Mông sinh sống ở xã Tri Lễ, được hình thành 10 bản, trong đó

8 bản nằm trong Khu BTTN (3 bản ở trong vùng lõi, 5 bản ở vùng đệm)

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loài thực vật bậc cao có mạch và các trạng thái thảm thực vậtở khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt, tỉnh Nghệ An

2.2 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành từ 3/2017 đến tháng 8 năm 2019

Mỗi năm thu mẫu 6 đợt, mỗi đợt 7 ngày

Các tuyến điều tra gồm:

+ Tuyến Hạnh Dịch: gồm các tiểu khu: 59, 61, 62, 63, 72, 78

+ Tuyến Thông Thụ: gồm các tiểu khu: 2, 11, 12, 17, 27, 41, 46, 47, 48, 49,

50, 64, 65, 68

+ Tuyến Nậm Giải: gồm các tiểu khu: 91, 92, 94, 96, 97, 101

+ Tuyến Đồng Văn: gồm các tiểu khu 16, 26, 36, 37, 38, 39, 40, 52

+ Tuyến Tiền Phong: gồm các tiểu khu: 69, 76

+ Tuyến Tri Lễ: gồm các tiểu khu: 95, 98, 103

+ Tuyến Châu Thôn: gồm tiểu khu 115

+ Tuyến Nậm Nhóong: gồm các tiểu khu: 126, 130

+ Tuyến Cắm Muộn: gồm các tiểu khu 135

Tổng số mẫu thu được 5.324 mẫu và được lưu ở Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (HN), Viện Sinh học Nhiệt đới (VNM), Trường Đại học Đà Lạt (DLU), Trường Đại học Kinh tế Nghệ An, Khu BTTN Pù Hoạt

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Xây dựng danh lục các loài thực vật khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt

- Đánh giá tính đa dạng về các taxon thực vật, dạng sống, yếu tố địa lý, giá trị sử dụng, các loài thực vật quý hiếm và vấn đề bảo tồn

- Phân loại và mô tả cấu trúc các kiểu thảm thực vật ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt

- Đề xuất các giải pháp bảo tồn về đa dạng thực vật ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

Kế thừa các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở khu vực

Trang 7

nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu trước đó

2.4.2 Phương pháp điều tra thực địa

Chọn tuyến và OTC để thu mẫu theo nguyên tắc được ghi trong sách Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Thái Văn Trừng (1999) và Klein R.M., Klein D.T (1975)

- Điều tra tuyến

- Điều tra theo tuyến vạch sẵn trên bản đồ địa hình, tuyến cần được lựa chọn dựa trên các đường mòn có sẵn để dễ tiếp cận khu vực hơn Các tuyến điều tra có chiều dài không giống nhau được xác định đảm bảo đi qua tất cả các trạng thái rừng Tuyến điều tra được đánh dấu trên bản đồ và đánh dấu trên thực địa bằng sơn hoặc dây nilon có màu dễ nhận biết Xác định các tuyến điều tra chính

để điều tra xác định tất cả các loài thực vật bậc cao có mạch theo các nội dung đề

ra

- Điều tra trong ô tiêu chuẩn

Do điều kiện địa hình khu vực nghiên cứu phức tạp, giao thông khó khăn, nên chúng tôi đã lựa chọn diện tích mỗi ô tiêu chuẩn (OTC) là 2000m² với kích thước 40x50m Trong mỗi OTC tiến hành lập 5 ô dạng bản (ODB) ở 4 góc và 1

ô chính giữa, diện tích ô dạng bản là 25m² có kích thước 5x5m Trong ô tiêu chuẩn điều tra toàn diện tầng cây gỗ Tầng cây bụi, thảm tươi, thực vật ngoại tầng, cây tái sinh điều tra trong các ô dạng bản

Ngoài ra trong các kiểu thảm điển hình của khu vực, tiến hành lập các ô điều tra phẫu đồ rừng để xác định cấu trúc không gian đặc trưng của các kiểu thảm thực vật Diện tích của ô điều tra phẫu đồ rừng là 400m²

- Thu mẫu thực vật

Mỗi cây ít nhất thu 2-3 mẫu tiêu bản, kích cỡ phải đạt 29 x 41cm có thể tỉa bớt cành, lá, nếu cần thiết Sau khi thu mẫu đánh số hiệu vào mẫu Đối với mẫu cùng cây đánh cùng một số hiệu Đặc biệt, phải ghi ngay những đặc điểm

dễ nhận biết ngoài thiên nhiên vào phiếu ghi thực địa vì những đặc điểm này dễ

bị mất khi mẫu khô: màu sắc của cây, hình dạng các ổ bào tử và cách sắp xếp của các ổ bào tử, các kiểu lá

2.4.4 Phương pháp xác định tên khoa học

Tên khoa học được xác định bằng phương pháp hình thái so sánh.Đây là phương pháp truyền thống được sử dụng trong nghiên cứu phân loại thực vật từ trước đến nay Tài liệu chính được sử dụng trong quá trình nghiên cứu Cây cỏ

Trang 8

Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (1999-2003), Thực vật chí Trung Quốc, Tập

1-25, thực vật chí Đông Dương và các bộ thực vật chí Việt Nam (Tập 1-21)

Kiểm tra tên khoa học: Khi đã có đầy đủ tên loài, tiến hành kiểm tra lại

các tên khoa học để đảm bảo tính hệ thống, tránh sự nhầm lẫn và sai sót, dựa theo Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập I-III và trang Web: http://www theplantlist.org (The Plant List); Kết hợp với Luật danh pháp Quốc tế, Melbourne (2012), tham khảo tra cứu tên khoa học trên các trang http://www ipni.org (The International Plant Names Index)

2.4.5 Lập danh lục thành phần loài

Danh lục thành phần loài được sắp xếp họ, chi, loài theo Brummitt (1992) Danh lục ngoài tên khoa học và tên Việt Nam của các loài còn ghi tình trạng bảo tồn trong Sách Đỏ Việt Nam và các thông tin khác gồm: dạng sống, yếu tố địa lý và giá trị sử dụng, mẫu nghiên cứu

2.4.6 Phương pháp đánh giá về đa dạng thực vật

2.3.6.1 Đánh giá đa dạng các ngành, lớp và họ, chi

Đánh già về các ngành, hai lớp của ngành Ngọc lan, xác định họ, chi có nhiều loài, tính tỷ lệ % số loài các chi đó so với toàn bộ số loài của cả hệ thực vật

2.4.6.2 Phương pháp đánh giá về dạng sống

Tiến hành xác định, phân tích dạng sống của hệ thực vật nghiên cứu theo thang phân chia các dạng sống của Raunkiær (1934)

2.4.6.3 Phương pháp đánh giá đa dạng về yếu tố dịa lý

Việc thiết lập phổ các yếu tố địa lý, áp dụng sự phân chia của các tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn (2007)

2.4.6.4 Phương pháp đánh giá về giá trị tài nguyên và mức độ đe dọa

- Đánh giá về giá trị tài nguyên

Tìm hiểu sơ bộ về giá trị sử dụng của các loài qua phương pháp tiếp cận

cộng đồng (PRA: Participatory Rural Appraisal - đánh giá nhanh nông thôn có sự

tham gia của người dân) Sưu tầm các loài cây có giá trị sử dụng làm thuốc, làm cảnh, cho tinh dầu… (theo kinh nghiệm dân gian) Ngoài ra, còn sử dụng các tài liệu đã công bố trong và ngoài nước để tra cứu về giá trị sử dụng của các loài như: Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 2012), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 1999), Cây Cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn Chi- Trần Hợp, tập I-1999, tập II-2002), Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam (2004); Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam (Triệu Văn Hùng và cộng sự, 2007)

- Đa dạng các loài thực vật hiếm và vấn đề bảo tồn

Căn cứ vào các tiêu chuẩn của Sách Đỏ Việt Nam (2007), thang đánh giá của IUCN (2017), Nghị định số 06/2019/NĐ-CP về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (2019)

2.4.7 Phương pháp xây dựng bản đồ thảm thực vật và hệ thống các đơn vị thảm thực vật

Trang 9

Bước 1 Công tác chuẩn bị:

Bước 2 Xử lý ảnh viễn thám:

Bước 3 Thành lập bản đồ thảm thực vật:

Từ bản đồ lớp phủ bề mặt, kết hợp với các lớp thông tin khác như mô hình số độ cao, phân vùng sinh thái, nhiệt độ, lượng mưa để xây dựng bản đồ thảm thực vật Sau khi có đủ các lớp thông tin của bản đồ, tiến hành biên tập, trình bày nội dung của từng bản đồ theo thiết kế kỹ thuật Sử dụng phần mềm GIS đưa ra các số liệu của từng lớp thông tin theo mục đích sử dụng, có thể bao gồm các số liệu thống kê, bảng biểu, diện tích

2.4.8 Phương pháp xây dựng đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn đa dạng thực vật ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt

- Căn cứ đề xuất giải pháp

- Phương pháp đề xuất giải pháp quản lý thảm thực vật

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đa dạng về thành phần loài thực vật ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt

3.1.1 Đa dạng về các taxon thực vật ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt

3.1.1.1 Đa dạng về bậc ngành

Danh lục các loài thực vật bậc cao có mạch tại Khu BTTN Pù Hoạt, tỉnh Nghệ An, được sắp xếp họ theo Brummitt (1992), gồm có tổng số 2.425 loài và dưới loài (2.367 loài và 58 đơn vị dưới loài) thuộc 885 chi và 208 họ của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch (Bảng 3.1) Trong đó đã phát hiện, mô tả 3 loài

mới cho khoa học dự kiến đặt tên là: Trà hoa vàng nghệ an (Camellia

ngheanensis Do N.D., Luong V.D., Ly N.S., Le T.H & Nguyen D.H.), Trà hoa

vàng pù hoạt (Camellia puhoatensis Luong V.D., Ly N.S., Le T.H., Nguyen D.H & Do N.D.) thuộc họ Chè (Theaceae) và Xuyến thư pù hoạt (Loxotigma

puhoatensis Ly N.S., Le T.H., Nguyen D.H & Do N.D.) thuộc họ Tai voi

(Gesneriaceae)

Đồng thời ghi nhận bổ sung thêm 4 loài cho Hệ thực vật Việt Nam nói

chung, ở Khu BTTN Pù Hoạt nói riêng là: Gừng quả trần (Zingiber nudicarpum

D Feng), Gừng nhọn đầu mới (Zingiber neotruncatum T.L Wu, K Larsen & Turland), Sa nhân nhẵn (Amomum glabrum S Q Tong), thuộc họ Gừng (Zingiberaceae) và loài Huyết rồng pù hoạt (Spatholobus pulcher Dunn.) thuộc

họ Đậu (Fabaceae)

Ngoài ra còn ghi nhận 8 loài gần đây mới được công bố cho khoa học và

bổ sung cho Hệ thực vật Việt Nam ở Khu BTTN Pù Hoạt là: Nô vũ quang

(Neolitsea vuquangensis Mitsuyuki & Yahara.) thuộc họ Long não (Lauraceae),

Trang 10

Giác đế bân (Goniothalamus banii B.H Quang, R.K Choudhary & V.T Chinh) thuộc họ Na (Annonaceae), Gừng trung bộ (Zingiber castaneum Škorničk & Q.B Nguyễn), Gừng lá sáng bóng (Zingiber nitens M.F Newman), Riềng nhiều hoa (Alpinia polyantha D Fang), Sa nhân (Amomum velutina X.E.Ye, Škorničk

& N.H Xia), Gừng vũ quang (Zingiber vuquangense Ly N.S., Le T.H., Do N.D., Trinh T.H, Nguyen V.H.), Sa nhân quế (Amomum cinnamomeum

Škorničk., Luu & H.Đ Trần) thuộc họ Gừng (Zingiberaceae)

Bảng 3.1 Phân bố của các bậc taxon ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt

Psilotophyta Khuyết lá thông 1 0,48 1 0,11 1 0,04 Lycopodiophyta Thông đất 2 0,96 4 0,45 30 1,24 Equisetophyta Cỏ tháp bút 1 0,48 1 0,11 1 0,04 Polypodiophyta Dương xỉ 27 12,98 83 9,38 233 9,61 Pinophyta Thông 8 3,85 11 1,24 16 0,66 Magnoliophyta Ngọc lan 169 81,25 785 88,70 2.144 88,49

Hình 3.1 Phân bố của các taxon bậc ngành ở Khu BTTN Pù Hoạt

Qua bảng 3.1 và hình 3.1 cho thấy, phân bố của các taxon bậc ngành của

Hệ thực vật Khu BTTN Pù Hoạt có sự khác nhau rõ rệt Trong đó, ngành Ngọc lan chiếm ưu thế tới 88,49% tổng số loài và dưới loài, 88,70% tổng số chi; 81,25% tổng số họ Tiếp đến là ngành Dương xỉ có số loài và dưới loài là 233 chiếm 9,61% tổng số loài và dưới loài, với 83 chi, chiếm 9,38% tổng số chi; 27

Trang 11

họ chiếm 12,98% tổng số họ Các ngành còn lại là Khuyết lá thông, Thông đất,

Cỏ tháp bút chiếm tỷ lệ không đáng kể về số lượng họ, chi và loài

Giữa hai lớp đó là lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) và lớp Hành (Liliopsida) trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) thì thấy các họ, chi và loài của lớp Ngọc lan cũng chiếm ưu thế (bảng 3.2; hình 3.2)

Bảng 3.2 Phân bố của các taxon trong hai lớp của ngành Ngọc lan

Lớp

Số lượng Tỷ lệ %

Số lượng Tỷ lệ %

Số lượng Tỷ lệ %

Lớp Ngọc lan

(Magnoliopsida) 132 78,11 608 77,32 1.682 78,45 Lớp Hành

(Liliopsida) 37 21,89 177 22,68 462 21,55

Tỷ lệ

Hình 3.2 Tỷ lệ % của lớp Ngọc lan so với lớp Hành trong ngành Ngọc lan

Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) có 132 họ, chiếm 78,11% tổng số họ; 607 chi chiếm 77,32% tổng số chi và 1.682 loài, chiếm 78,45% tổng số loài; lớp Hành (Liliopsida) chỉ với 37 họ, chiếm 21,89%; 178 chi chiếm 22,68% và 462 loài, chiếm 21,55%

Trang 12

Xét về tỷ lệ thì số họ của lớp Ngọc lan so với lớp Hành là 3,57%, có nghĩa là cứ 3,57 họ của lớp Ngọc lan mới có 1 họ của lớp Hành; về số chi và

số loài tương ứng là 3,41 và 3,64

3.1.1.2 Đa dạng về bậc họ

Kết quả nghiên cứu đã xác định được 208 họ, trong đó có 49 họ mới chỉ gặp 1 loài, 34 họ mới chỉ gặp 2 loài, 15 họ có 3 loài, 6 họ có 4 loài, 37 họ có từ 5-9 loài, 67 họ có từ 10 loài trở lên

Thông thường khi đánh giá tính đa dạng của một hệ thực vật, người ta thường phân tích 10 họ đa dạng nhất của hệ thực vật đó Bởi vì tỷ lệ (%) của 10

họ đa dạng nhất so với tổng số loài của toàn hệ được xem là bộ mặt của mỗi hệ thực vật và là chỉ tiêu so sánh đáng tin cậy

Kết quả trong bảng trên cho thấy, với 10 họ đa dạng nhất chiếm 4,83% tổng số họ, nhưng có 787 loài chiếm 32,19% tổng số loài Các họ đa dạng nhất của HTV Khu BTTN Pù Hoạt (trên 100 loài) là họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) với 119 loài chiếm 4,91%; tiếp đến là họ Long não với 113 loài chiếm 4,66%;

họ Cà phê (Rubiaceae) với 102 loài chiếm 4,21% 7 họ còn lại có từ 50 đến 78 loài chiếm từ 2,06% đến 3,22% tổng số loài

Như vậy, tổng số loài của 10 họ đa dạng nhất ở Khu BTTN Pù Hoạt chiếm 32,45% phù hợp với nhận định của A.I Tonmachop (1974) cho rằng 10 họ đa dạng nhất của hệ thực vật nhiệt đới thường chiếm không quá 40-50% tổng số loài của hệ thực vật và rất ít họ chiếm quá 10% số loài của toàn hệ Kết quả này cũng phù hợp với một số kết quả đã công bố của các tác giả nghiên cứu hệ thực vật ở các vùng khác nhau như khu BTTN Xuân Liên (27,18%), Khu BTTN Bến En (40,3%), VQG Pù Mát (32,81%), Khu BTTN Pù Luông (27,83%)

3.1.1.3 Đa dạng về bậc chi

Trong số 885 chi đã biết thì 10 chi đa dạng nhất chỉ chiếm 1,13% tổng số chi, nhưng có 229 loài, chiếm 9,44% tổng số loài của hệ thực vật Khu BTTN Pù Hoạt

Kết quả cho thấy Ficus là chi đa dạng nhất Đây được đanh giá là chi đặc

trưng cho rừng mưa nhiệt đới, chúng phân bố khá rộng từ đai thấp đến đai vừa

Đáng chú ý là, các chi Litsea, Cinnamomum, Syzygium mang tính chất đặc trưng,

tham gia cấu trúc các thảm thực vật chính của HTV Khu BTTN Pù Hoạt 2 chi

Asplenium và Selaginella mang tính chất đặc trưng cấu trúc nên tầng cỏ quyết

Điều đó cho thấy tính chất của HTV ở Khu BTTN Pù Hoạt là nhiệt đới gió mùa

3.1.2 Đa dạng về giá trị sử dụng

Trên cơ sở các thông tin đã có (Võ Văn Chi (2012), 1900 loài cây có ích của Trần Đình Lý (chủ biên) (1993), Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) (2000, 2003, 2005), Triệu Văn Hùng (chủ biên) (2007), … kết hợp với các kết quả phỏng cộng đồng cư dân trong quá trình điều tra thực địa có thể sắp xếp các loài thực vật ở Khu BTTN Pù Hoạt vào 15 nhóm giá trị sử dụng khác nhau (bảng 3.13)

Bảng 3.13 Giá trị sử dụng của các loài thực vật ở Khu BTTN Pù Hoạt

Trang 13

TT Giá trị sử dụng Ký hiệu Số loài * Tỷ lệ %

1 Cây dùng làm thuốc THU 1103 45,48

5 Cây cho tinh dầu CTD 197 8,12

6 Cây cho sợi, đan lát, dây SOI 39 1,61

7 Cây thức ăn gia súc AGS 38 1,57

11 Cây cho chất nhuộm NHU 13 0,54

* Một loài có thể có 1 hoặc nhiều giá trị sử dụng khác nhau

Hình 3.6 Giá trị sử dụng của các loài thực vật ở Khu BTTN Pù Hoạt

Kết quả thống kê được 1.513 loài có giá trị sử sụng chiếm 62,39% tổng số loài Trong đó, nhóm cây được sử dụng nhiều nhất là cây làm thuốc với 1.103 loài, chiếm 45,48% tổng số loài; tiếp đến là cây cho gỗ với 348 loài, chiếm 14,35%; cây ăn được với 263 loài, chiếm 10,85%; cây làm cảnh với 205 loài, chiếm 8,45%; cây cho tinh dầu với 197 loài, chiếm 8,12%; các nhóm giá trị sử dụng còn lại có từ 5 loài đến 38 loài, chiếm 0,21% đến 1,57% được thể hiện qua

Trang 14

3.1.3 Đa dạng về dạng sống

Một quần xã thực vật được đặc trưng về mặt cấu trúc bởi các dạng sống của các loài cấu thành hệ thực vật đó Mỗi loài đều có những đặc điểm hình thái nhất định phân biệt với các loài khác, đó chính là kết quả của quá trình tiến hoá, quá trình biến đổi lâu dài thích nghi với điều kiện ngoại cảnh Vì thế, đối với một khu hệ thực vật thì việc lập phổ dạng sống là rất quan trọng, nó giúp cho việc xác định cấu trúc hình thái của hệ và từ đó đưa ra những biện pháp tối ưu trong công tác bảo tồn và khai thác

Áp dụng hệ thống phân loại dạng sống của Raunkiaer (1934) khi phân tích phổ dạng sống của HTV Pù Hoạt thì đã xác định được 2.425 loài, kết quả được thể hiện qua bảng 3.15

Bảng 3.15 Dạng sống của các loài thực vật ở Khu BTTN Pù Hoạt

Hình 3.7 Phổ dạng sống của hệ thực vật khu BTTN Pù Hoạt

Các kết quả trong Bảng 3.15 cho thấy, nhóm cây chồi trên (Ph) chiếm ưu thế với 1.781 loài, chiếm 73,44% tổng số loài Trong đó, chủ yếu là các loài của họ: Na (Annonaceae), Ngọc lan (Magnoliaceae), Long não (Lauraceae), Dẻ (Fagaceae), Chè (Theaceae), Cam (Rutaceae), Thầu dầu (Euphorbiaceae), Bồ hòn (Sapindaceae), Sim (Myrtaceae), Xoan (Meliaceae),…; tiếp đến là các

Ngày đăng: 05/01/2021, 21:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w