1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) quản lý thuế thu nhập cá nhân tại cục thuế thành phố hà nội

128 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian qua việc quản lý thuế Thu nhập cá nhân tại Cục thuế Thành phố Hà Nội đã đạt được một số thành tựu như: Công tác quản lý thuế TNCN cũng đã từng bước được cải thiện cho phù

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

-/ -

BỘ NỘI VỤ / HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

-/ -

BỘ NỘI VỤ / HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nguyên cứu độc lập của bản thân tôi, các

số liệu sử dụng trong luận văn là số liệu thật và trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Các kết luận, nhận định và kết quả nguyên cứu trong luận văn chưa từng được công

bố trong bất kỳ công trình khoa học nào

Tác giả luận văn

Trương Khánh Ly

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Khi viết những dòng cuối cùng của cuốn luận văn tốt nghiệp, tôi càng thấy quyết định đi học cao học Khoa Quản lý Công của mình là đúng Để đi đến được chặng đường này, tôi xin gửi lời biết ơn chân thành tới Ban lãnh đạoHọc Viện Hành chính Quốc Gia; Ban Lãnh đạo Khoa tài chính Công; Phòng Đào tạo; các Thầy Cô giảng viên giảng dạy lớp cao học Quản lý Công – Khóa 21 và các bộ phận liên quan của nhà trường đã tạo điều kiện cho chúng tôi học tập, truyền thụ cho chúng tôi những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học tại trường

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Người hướng dẫn luận văn của tôi, TS.Đặng Thị Hà - Giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia Bằng kiến thức sâu sắc trong lĩnh vực quản lý kinh tế và lòng nhiệt tình, cô đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn bạn bè, gia đình đã động viên giúp đỡ về thời gian, thông tin và tinh thần để tôi hoàn thành khóa học và luận văn

Đáp lại những điều đó, tôi sẽ vận dụng những kiến thức đã được học ở nhà trường vào thực tiễn cuộc sống một cách có hiệu quả nhất, để góp phần làm tốt hơn nữa công việc của cơ quan, của bản thân và đóng góp nhiều hơn cho đất nước

Tác giả luận văn

Trương Khánh Ly

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC BẢNG BIỂU v

DANH MỤC HÌNH VẼ vi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 6

1.1 Tổng quan về quản lý thuế thu nhập cá nhân 6

1.2 Quản lý thuế thu nhập cá nhân - 11

1.2.1 Khái niệm quản lý thuế thu nhập cá nhân 12

1.2.2 Mục tiêu, nguyên tắc, yêu cầu, sự cần thiết, phương pháp và công cụ quản lý thuế Thu nhập cá nhân 13

1.2.3 Nội dung quản lý thuế Thu nhập cá nhân 19

1.2.4 Nhân tố ảnh hưởng công tác quản lý thuế Thu nhập cá nhân 31

1.3 Kinh nghiệm quản lý thuế Thu nhập cá nhân và bài học có thể áp dụng ở Việt Nam 35

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý thuế Thu nhập cá nhân của các nước 35

1.3.2 Bài học về quản lý thuế thu nhập cá nhân có thể áp dụng ở Việt Nam 38

Tom tắt Chương 1 42

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ HÀ NỘI 43

2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội của Thành phố Hà Nội 43

2.2 Thực trạng quản lý Thuế Thu nhập cá nhân tại Cục thuế Thành phố Hà Nội - 49

2.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý thuế Thu nhập cá nhân tại Cục thuế Thành phố Hà Nội 49

2.2.2 Tổ chức thực hiện quản lý thuế Thu nhập cá nhân 54

2.2.3 Công tác thanh tra, kiểm tra thuế Thu nhập cá nhân 73

Trang 6

2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thuế Thu nhập cá nhân tại Cục thuế

Thành phố Hà Nội 76

2.3.1 Các nhân tố chủ quan 77

2.3.2 Các nhân tố khách quan 79

2.4 Đánh giá thực trạng quản lý thuế Thu nhập cá nhân tại Cục thuế Thành phố Hà Nội 80

2.4.1 Những kết quả đạt được 80

2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 84

Tóm tắt chương 2 97

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ HÀ NỘI 98

3.1 Định hướng quản lý thuế Thu nhập cá nhân tại Cục thuế Thành phố Hà Nội 98

3.1.1 Quan điểm, mục tiêu xây dựng Luật thuế Thu nhập cá nhân 98

3.1.2 Định hướng quản lý thuế Thu nhập cá nhân 98

3.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý thuế Thu nhập cá nhân tại Cục thuế Thành phố Hà Nội 99

3.2.1 Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ thuế 99

3.2.2 Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan liên ngành 111

3.2.3 Mở rộng các dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế 112

3.2.4 Khuyến khích trả lương qua tài khoản ngân hàng 112

3.2.5 Đăng ký mã số thuế cho tất cả các đối tượng 112

3.3 Kiến nghị - 113

3.3.1 Đối với Quốc hội, Bộ Tài Chính và Tổng Cục thuế 113

3.3.2 Các kiến nghị khác 114

Tóm tắt chương 3 117

KẾT LUẬN 118

TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Kết quả thu ngân sách nhà nước năm 2014-2016 45 Bảng 2.2: Kết quả công tác hỗ trợ, đối thoại với Doanh nghiệp năm 2016: 57 Bảng 2.4: Công tác tuyên truyền Người nộp thuế năm 2014-2016 59 Bảng 2.5: Kết quả thực hiện dự toán thu thuế Thu nhập cá nhân của Cục thuế Thành phố Hà Nội năm 2014 - 2016 64 Bảng 2.6: Kết quả thu thuế Thu nhập cá nhân năm 2016 theo nguồn thu nhập 65 Bảng 2.8: Kết quả kiểm tra về thuế Thu nhập cá nhân các năm 2014-2016 của

6 Phòng Kiểm tra thuế, Phòng Quản lý thuế Thu nhập cá nhân và các Chi cục Thuế 75 Bảng 2.9: Kết quả thu thuế Thu nhập cá nhân trên địa bàn Hà Nội từ năm 2014-2016 76

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức Bộ máy của Cục thuế Thành phố Hà Nội 46 Hình 2.2 : Quản lý thuế theo cơ chế người nộp thuế tự kê khai - tự tính - tự nộp thuế 49

Hình 2.3 : Quản lý theo chức năng của Cục thuế Thành phố Hà Nội 53

Hình 2.4: Sơ đồ mô tả phòng chức năng nhận, xử lý tờ khai, kế toán thuế 61

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN, thuế có vai trò quan trọng trong điều tiết nền kinh tế, góp phần đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội Trong đó, thuế TNCN là công cụ rất cần thiết để thực hiện việc kiểm soát, điều tiết và phân phối thu nhập của các tầng lớp dân cư Chính vì vậy: việc quản lý thuế chặt chẽ và minh bạch TNCN là vấn đề hết sức quan trọng đối với tất cả các quốc gia trên thế giới

Sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, Việt Nam dần có những biến đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế là xu thế thời đại

để phát triển Trước hoàn cảnh đó, Nhà nước nhận thấy sự cần thiết của việc bổ sung sắc thuế thu nhập cá nhân vào hệ thống thuế và Luật thuế thu nhập cá nhân số

04 2007 QH12 đã ra đời ngày 21 tháng 11 năm 2007 Công tác triển khai thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân được tiến hành từ năm 2008 và có nhiều thuận lợi do có

sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng, Chính phủ, Bộ Tài chính và sự phối hợp của các Bộ, ngành; Đảng bộ và chính quyền địa phương các cấp Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị số 22 2008 CT-TTg ngày 15 tháng 7 năm 2008 về việc triển khai Luật thuế thu nhập cá nhân trong cả nước, đồng thời ban hành quyết định số 1132 QĐ-TTg ngày 19 tháng 8 năm 2008 thành lập Ban chỉ đạo Trung ương triển khai thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân Các Bộ, ngành và địa phương căn cứ vào chỉ thị số 22/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ cũng đã có quyết định thành lập các Ban chỉ đạo triển khai Luật thuế TNCN của Bộ, ngành và địa phương

Quá trình triển khai thực hiện, một số điểm bất cập của Luật thuế TNCN 2007

đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 26 2012 QH13 ngày 22 11 2012 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 65 2013 NĐ-CP ngày 27 06 2013 qui định chi tiết một số điều của Luật thuế TNCN sửa đổi bổ sung; Bộ Tài chính cũng đã ban hành thông tư hướng dẫn số 111 2013 TT-BTC ngày 15 08 2013 hướng dẫn thu hành một số điều của Luật thuế TNCN và hướng dẫn thi hành nghị định 65 2013 NĐ-CP

Tuy nhiên, Luật thuế thu nhập cá nhân có phạm vi điều chỉnh rộng, có nhiều

Trang 11

khoản thu nhập chịu thuế; mỗi khoản thu nhập có căn cứ tính thuế khác nhau; số lượng đối tượng nộp thuế và giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc lớn; việc quản lý thuế TNCN yêu cầu có cơ sở dữ liệu đầy đủ và tập trung; ngoài ra, quá trình quản lý liên quan đến nhiều chính sách xã hội nên việc triển khai gặp không ít khó khăn

Trong thời gian qua việc quản lý thuế Thu nhập cá nhân tại Cục thuế Thành phố Hà Nội đã đạt được một số thành tựu như: Công tác quản lý thuế TNCN cũng đã từng bước được cải thiện cho phù hợp với tình hình mới; Cục Thuế TP Hà Nội đã tích cực tăng cường công tác đôn đốc kê khai nộp thuế, công tác kiểm tra, khai thác nguồn thu và đã tập trung nhân lực, tài lực để hỗ trợ tối đa cho NNT thực hiện tốt nghĩa vụ thuế, nhất là tại bộ phận “Một cửa” tại cơ quan thuế…

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được việc quản lý thuế Thu nhập cá nhân tại Cục thuế Thành phố Hà Nội vẫn còn tồn tại những hạn chế như: còn

để sót nguồn thu nhập của NNT, công tác tổ chức cán bộ còn nhiều hạnchế, công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT nhưng hiệu quả còn hạn chế…

Chính vì những lý do đó, cùng với mong muốn đóng góp một phần vào việc hoàn thiện công tác quản lý thuế nói chung, thuế thu nhập cá nhân nói riêng trên địa

bàn thành phố Hà Nội, học viên lựa chọn đề tài: “ u t u t u c t

Cục t u T à ố Hà Nộ ” làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng và tìm ra những giải pháp góp phần hoàn thiện quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Để hoàn thành mục tiêu nêu trên, đề tài tập trung vào các nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý thuế thu nhập cá nhân;

- Phân tích thực trạng quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn Thành phố Hà Nội, rút ra những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân;

- Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Trang 12

3 Tình hình nghiên cứu có liên quan tới đề tài

Thuế TNCN của Việt Nam dần được hoàn hiện theo thời gian Từ năm 1991 đến trước năm 2009, để phù hợp hơn với tình hình thực tế, thuế TNCN ở Việt Nam được quy định dưới hình thức Thuế thu nhập với người có thu nhập cao Từ

01 01 2009, Luật thuế TNCN chính thức có hiệu lực, đánh dấu bước phát triển quan trọng của sắc thuế này; đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về thuế thu nhập

cá nhân đã công bố như:

- Quản lý thu thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay, của Nguyễn Thị Thanh Hương (2014), luận văn thạc sỹ, Học Viện Tài chính Ở Luận văn này tác giả đánh giá thực trạng quản lý thu thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam giai đoạn 2010 –

2013 Đây là giai đoạn thuế Thu nhập cá nhân được điều chỉnh bởi Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30 9 2008 Ở Luận văn này tác giả đã đánh giá được thực trạng thu thuế Thu nhập cá nhân và đưa ra các giải pháp, các kiến nghị trong giai đoạn tác giả nghiên cứu Tuy nhiên, tác giả không thể phân tích và đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ toàn bộ công tác quản lý thu thuế TNCN, chưa thể phân tích cụ thể kết quả đạt được và hạn chế của việc quản lý thu thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay.

- Quản lý thu thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn huyện Chương Mỹ, Hà Nội, của tác giả Nguyễn Thị Huyền (2016), luận văn thạc sỹ Trường Đại học Thương mại

Ở Luận văn này tác giả đánh giá thực trạng quản lý thu thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam giai đoạn 2012 – 2015 Ở Luận văn này tác giả đã đánh giá được thực trạng thu thuế Thu nhập cá nhân và đưa ra các giải pháp, các kiến nghị trong giai đoạn tác giả nghiên cứu Ở luận văn này tác giả chưa chỉ ra được những bất cập, hạn chế để hoàn thiện luật thuế, tăng cường hiệu quả cho công tác quản lý thu thuế

Một số bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành khác Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến một số khía cạnh khác nhau liên quan đến thuế thu nhập cá nhân về chính sách, về quản lý nhà nước, về kinh nghiệm tuyên truyền Tuy nhiên, trong luận văn này tác giả đánh giá thực trạng quản lý thuế Thu nhập cá nhân năm 2014 – 2016 Giai đoạn này được điều chỉnh bởi Thông tư số

Trang 13

111/2013/TT-BTC ngày 15 8 2013 Trong giai đoạn này thuế Thu nhập cá nhân có những thay đổi đáng kể so với Thông tư số 84 2008/TT-BTC Ở giai đoạn này, mức thu nhập chịu thuế đối với các cá nhân tính thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần thay đổi từ 4.000.000 đồng lên 9.000.000 đồng Mức giảm trừ gia cảnh cũng từ mức 1.600.000 đồng lên 3.600.000 đồng cho một người phụ thuộc Việc thay đổi các mức tính thuế này cũng ảnh hưởng đáng kể đến số thu của Ngân sách nhà nước, do mức thu nhập của người dân Việt Nam đa phần vẫn còn ở mức thấp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đố tượ g g ê cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn Thành phố Hà Nội tại Cục thuế Thành phố Hà Nội

4.2 P m v g ê cứu

- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản của công

tác quản lý thuế thu nhập cá nhân, bao gồm: Quản lý đối tượng nộp thuế thu nhập cá

nhân; Quản lý nguồn thu nhập của cá nhân; ập ế ho ch thuế thu nhập cá nhân; Tổ chức bộ máy quản lý thuế thu nhập cá nhân; Xây dựng các biện pháp thực hiện ế

ho ch thu thuế; Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý thuế Thu nhập

cá nhân và Kiểm tra, thanh tra đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân

- Về hông gian: Luận văn giới hạn nghiên cứu công tác quản lý thuế thu nhập

cá nhân tại Cục Thuế Thành phố Hà Nội

- Về thời gian: Luận văn sử dụng số liệu thu thập, xử lý và phân tích trong 3

năm, giai đoạn 2014 đến 2016 Từ đó có những giải pháp đóng góp cho những năm

2020, định hướng những năm 2030

5 Đóng góp của Luận văn

Trên cơ sở phân tích giữa yêu cầu và thực tế quản lý của địa phương nghiên cứu, luận văn chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong quá trình thực hiện quản lý thuế thu nhập cá nhân của Cục thuế Thành phố Hà Nội, xác định nguyên nhân của những tồn tại đó và đề xuất các giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế nói chung và quản lý thuế thu nhập cá nhân nói riêng trên địa bàn Đồng thời

Trang 14

luận văn cũng đề xuất một số kiến nghị với các cơ quan chức năng có thẩm quyền liên quan một số vấn đề cần giải quyết ở tầm vĩ mô để giúp cho công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân nói chung và công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng đạt kết quả cao nhất

6 Cấu trúc của Luận văn

Tên luận văn: “Qu t u T u c t Cục t u T à ố

Hà Nộ ”

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm các chương sau:

Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý thuế Thu nhập cá nhân

Chương 2: Thực trạng quản lý thuế Thu nhập cá nhân tại Cục thuế Thành

phố Hà Nội

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý thuế Thu nhập cá

nhân tại Cục thuế Thành phố Hà Nội

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ THUẾ

THU NHẬP CÁ NHÂN

1.1 Tổng quan về quản lý thuế thu nhập cá nhân

Thuế TNCN đã có hơn 200 năm lịch sử Bắt nguồn từ cuối thế kỷ 18, khi nước Anh lâm vào sự thâm hụt ngân sách tài chính một cách trầm trọng do phải vay mượn tài chính để trang trải cho cuộc chiến tranh với Pháp Năm 1798, thủ tướng Anh William Pitt (1759-1806) ban hành một sắc thuế mới đánh vào thu nhập của một số người có thu nhập cao, nhằm mục đích trang trải chiến phí với hoàng đế Napoleon Năm 1801, thủ tướng William Pitt từ chức, thủ tướng kế nhiệm Henry Addington (1757-1844) đã ra lệnh huỷ bỏ sắc thuế này vào năm 1802

Năm 1803, cuộc chiến với Pháp lại bùng nổ và thuế TNCN lại được ban hành Thuế thu nhập của Addington ban hành năm 1803 đánh thuế theo bậc và thu nhập trên 60 Bảng Anh, rất khác biệt so với thuế thu nhập của William Pitt năm 1799 Addington là cha đẻ của hai nguyên tắc mà thuế TNCN hiện đại vẫn đang áp dụng

đó là: thuế được khấu trừ tại nguồn (witholding at source) và thuế đánh trên từng loại thu nhập (schedule of income tax)

Khi cuộc chiến tranh với Pháp chấm dứt, chính phủ Anh lại huỷ bỏ thuế TNCN một lần nữa Trong giai đoạn 1816 -1842, ngân sách nước Anh lại trông cậy chủ yếu vào nguồn thu thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu

Nói chung trong vòng khoảng một thế kỷ kể từ lần đầu tiên được áp dụng, thuế TNCN là loại thuế không phổ biến và vai trò đóng góp nguồn thu ngân sách mang tính tình thế (temporary tax); chỉ từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX thì loại thuế này mới thực sự trở thành một nguồn thu ổn định và được luật hóa trong hệ thống thu hàng năm của ngân khố thông qua hệ thống khấu trừ thuế tại nguồn có tên là "chi trả thuế theo thu nhập "- PAYE (Pay as you earn)

Đến nay, đã có khoảng 180 nước áp dụng thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập

cá nhân là một loại thuế phổ biến, đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống

Trang 16

chính sách thuế của nhiều nước Các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều coi thuế thu nhập cá nhân là một trong những sắc thuế có tầm quan trọng đặc biệt trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối công bằng xã hội và điều tiết

vĩ mô nền kinh tế

Khái niệm t u t u c

Theo Đỗ Đức Minh, Nguyễn Việt Cường (2010): “Thuế thu nhập là loại thuế điều tiết trực tiếp thu nhập thực tế của cá nhân và tổ chức trong xã hội trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)” Các sắc thuế thu nhập phổ biến trên thế giới là thuế thu nhập công ty (thuế thu nhập doanh nghiệp) và thuế thu nhập cá nhân (TNCN)

“Thuế TNCN là lo i thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận được của các

cá nhân trong một ỳ tính thuế nhất định thường một năm, từng tháng hoặc từng lần, hông phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập” [10]

Đối tượng chịu thuế TNCN mà pháp luật các quốc gia hướng tới là thu nhập của các cá nhân trong xã hội (thông thường bao gồm cả cá nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh) Trong đó, TNCN có thể hiểu là tổng số tiền, hàng hóa, dịch vụ mà một cá nhân nhận được trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)

Thuế TNCN có lịch sử ra đời hàng trăm năm, được áp dụng lần đầu tiên ở Anh vào năm 1799 dưới hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức ban hành vào năm 1842 Sau đó, thuế TNCN được lan truyền nhanh chóng sang các nước công nghiệp khác như Nhật Bản (1887),

Mỹ (1913), Pháp (1914),…Một số nước Châu Á cũng bắt đầu áp dụng thu thuế TNCN từ giữa thế kỷ 20: Thái Lan (1939), Philipin (1945), Hàn Quốc (1948)… Đến nay, đã có hơn 180 nước áp dụng thuế TNCN và thuế TNCN đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách thuế của nhiều quốc gia trên thế giới

Ở Việt Nam, văn bản pháp luật về thuế TNCN được ban hành lần đầu tiên ngày 27/12/1990 là Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Ngày

21 11 2007, Quốc hội ban hành Luật thuế TNCN và chính thức có hiệu lực thi hành

từ ngày 01 01 2009, thay thế cho Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập

Trang 17

cao trước đây

Đặc đ ểm của t u t u c

Thuế TNCN có những đặc điểm quan trọng ảnh hưởng đến quản lý thu thuế

như sau:

Thứ nhất, thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của người

nộp thuế, người nộp thuế đồng nhất với người chịu thuế nên khó có thể chuyển gánh nặng thuế sang cho người khác

Thứ hai, thuế TNCN là loại thuế có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan trực tiếp

đến lợi ích cụ thể của người nộp thuế và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong xã hội Đặc điểm này xuất phát từ tính trực thu của thuế TNCN Do đó, thuế TNCN rất nhạy cảm và dễ bị phản ứng của người nộp thuế

Thứ ba, thuế TNCN là loại thuế luôn gắn liền với chính sách xã hội của mỗi

quốc gia mặc dù các quốc gia hiện nay vẫn luôn hướng tới một hệ thống chính sách thuế mang tính trung lập Khi tính thuế TNCN có xem xét đến hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế bằng việc quy định một số khoản được khấu trừ có tính chất xã hội trước khi tính thuế

Thứ tư, thuế thu nhập cá nhân được đánh theo nguyên tắc “khả năng nộp thuế”

và cũng xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, động viên sự đóng góp của những người có thu nhập thấp, thu nhập trung bình trong xã hội do vậy, thuế TNCN thường được tính theo biểu thuế luỹ tiến

Thứ năm, thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hoá, dịch vụ Thuế thu nhập

cá nhân không cấu thành trong giá bán (giá thanh toán) hàng hoá, dịch vụ nên nó không tạo ra sự sai lệch giá cả hàng hoá, dịch vụ

Thứ sáu, thuế thu nhập cá nhân có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có

thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và hầu như tất cả số thu nhập có được của các

cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh trong nước hay ngoài nước Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách của thuế thu nhập cá nhân rất cao

Trang 18

Thứ bảy, nguồn thu nhập chịu thuế đa dạng, phân tán và rất phức tạp, nhất là đối

với các nước áp dụng hệ thống đánh thuế trên tổng thể (Global Income Taxes) cho nên Thuế TNCN đòi hỏi trình độ quản lý rất cao và bao quát

Thứ tám, chi phí hành thu của thuế TNCN thường rất cao, điều này làm cơ sở

để áp dụng biện pháp khấu trừ thuế tại nguồn chi trả (Witholding at source), đó cũng

là một biện pháp để giảm chi phí hành thu

Vai trò của thu thu nh cá nhân

T ứ ất, thuế TNCN là công cụ góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm

bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa những người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấp trong xã hội

Thuế TNCN ra đời xuất phát từ yêu cầu đảm bảo sự công bằng trong tiêu dùng hàng hoá công cộng và phân phối thu nhập Điều này đặc biệt cần thiết trong điều kiện kinh tế thị trường vì sự phân hoá giàu nghèo là điều khó tránh khỏi Trong hoàn cảnh đó, thuế thu nhập cá nhân sẽ là một biện pháp tốt để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội mà vẫn đảm bảo tính công bằng trong đóng góp của các cá nhân cho xã hội

Thuế TNCN đánh vào thu nhập của cá nhân dựa trên nguyên tắc “lợi ích được hưởng”, “công bằng” và “khả năng nộp thuế” Theo nguyên tắc “lợi ích được hưởng” của kinh tế học công cộng, công dân phải có nghĩa vụ nộp thuế để được hưởng những lợi ích do Nhà nước mang lại, chẳng hạn như hệ thống luật pháp, quốc phòng, an ninh, trật tự, dịch vụ, hàng hoá công Thuế TNCN đảm bảo nguyên tắc “công bằng” Trong đó, những người có thu nhập như nhau phải nộp thuế như nhau (công bằng theo chiều ngang), những người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp (công bằng theo chiều dọc)

Bên cạnh đó, cần phải xem xét “khả năng nộp thuế” của đối tượng nộp để đảm bảo tính khả thi của chính sách thuế vì người dân không thể nộp thuế khi không đảm bảo thu nhập để duy trì cuộc sống tối thiểu Trên ý nghĩa đó, thuế TNCN là sắc thuế đảm bảo tính công bằng, hợp lý và hiệu quả trong phân phối thu nhập quốc dân

Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của một quốc gia Mặc dù về quan

Trang 19

điểm hoàn thiện chính sách thuế là cần phải xây dựng một chính sách thuế có tính trung lập, không nhằm nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng trong thực tế chưa có quốc gia nào tách rời hẳn chính sách thuế TNCN với một số chính sách xã hội Sự công bằng được biểu thị bởi biểu thuế luỹ tiến từng phần, mức điều tiết về thuế tăng dần đều, người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều Chính sách xã hội thể hiện thông qua cơ chế chiết trừ gia cảnh và một số khoản giảm trừ trước khi tính thuế

T ứ a , thuế TNCN là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng và ổn định

cho Ngân sách Nhà nước

Do nhu cầu chi tiêu của nhà nước ngày càng tăng trong điều kiện chức năng của nhà nước ngày càng mở rộng Hơn nữa, tiến trình tự do hoá thương mại khu vực và thế giới trong những thập kỷ gần đây đã làm cho nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu bị sụt giảm đáng kể Điều đó đặt ra nhu cầu tăng cường các nguồn thu nội địa để bù đắp thiếu hụt ngân sách Thuế thu nhập cá nhân được coi là nguồn thu quan trọng trong tổng thu ngân sách nhà nước

Thuế TNCN có diện thu thuế rất rộng, khả năng tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước cao, nhất là ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển Bên cạnh đó, Thuế TNCN có độ co giãn theo thu nhập tương đối lớn nên cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng không ngừng tăng lên, nếu có chính sách động viên hợp lý, ổn định thì không cần phải thường xuyên thay đổi mà vẫn thu được một mức thu mong muốn Do sự ổn định trong mức huy động thuế đã tạo ra một môi trường phù hợp với mục tiêu đầu tư kinh tế dài hạn của quốc gia, góp phần khuyến khích, thúc đẩy sản xuất kinh doanh có hiệu quả, thu được lợi nhuận nhiều, tạo ra mức thu nhập ngày càng cao từ đó tạo nguồn thu ngày càng tăng trưởng cho Ngân sách Nhà nước

Kinh tế - xã hội càng phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước để giải quyết các vấn đề an ninh, quốc phòng, an sinh

xã hội, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế cũng ngày càng gia tăng Thêm vào đó, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn đến cơ cấu thu Ngân sách cũng thay đổi theo hướng nguồn thu từ tích luỹ trong nước được tăng dần và chiếm tỷ trọng ngày càng

Trang 20

cao trong tổng thu Ngân sách Nhà nước Thuế TNCN cũng sẽ góp phần nâng cao tỷ trọng thu nội địa để ổn định thu cho Ngân sách Nhà nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Tỷ trọng thuế TNCN trong tổng số thu Ngân sách tại các nước trong khối ASEAN, như: Thái Lan, Ma-lay-xi-a, Phi-lip-pin khoảng 12-16%, các nước đang phát triển khoảng 13-14%, các nước phát triển như: Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Đức khoảng 30-40% Ở Việt Nam, tỷ trọng thuế TNCN hiện nay khoảng 4,1% [17], [18]

T ứ ba, thuế thu nhập cá nhân là công cụ inh tế vĩ mô được Nhà nước sử dụng

điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết iệm

Thuế thu nhập được sử dụng như một công cụ điều tiết vĩ mô, kích thích tiết kiệm và đầu tư theo hướng nâng cao năng lực hiệu quả xã hội Một trong những lý thuyết căn bản của Kenyes là Lý thuyết về tính hữu dụng giảm dần của thu nhập (mức thu nhập càng cao thì tính hữu dụng của nó càng thấp) Do vậy, để tăng phúc lợi xã hội cần thiết phải điều tiết bớt thu nhập của những đối tượng có thu nhập cao

và phân phối lại cho những đối tượng có thu nhập thấp hơn Bên cạnh đó, thông qua chính sách miễn giảm, hỗ trợ, ưu đãi thuế thu nhập có thể có tác động trực tiếp đến định hướng tiêu dùng và đầu tư theo hướng có lợi, thực hiện mục tiêu điều chỉnh kinh

tế của nhà nước

Thuế TNCN với cơ chế thuế suất biên (MRT – Marginal tax rate) được coi là công cụ điều tiết tự động nền kinh tế nhằm khắc phục những nhược điểm của các chính sách chủ động Thông qua mức thuế TNCN và chế độ miễn giảm thuế có thể khuyến khích đầu tư, tiết kiệm…

Thông qua việc kiểm tra, xác minh thu nhập tính thuế TNCN, cơ quan Nhà nước có thể phát hiện những khoản thu nhập hợp pháp, không hợp pháp để có những biện pháp xử lý phù hợp Tài liệu, số liệu về thuế TNCN giúp cho Chính phủ có thêm

cơ sở để đánh giá khái quát về tình hình thu nhập xã hội, về cơ cấu thu nhập dân cư

để đề ra các chính sách kinh tế-xã hội phù hợp

1.2 Quản lý thuế thu nhập cá nhân

Trang 21

1.2.1 K ệm qu t u t u c

Trên thực tế nhiều cách tiếp cận khái niệm “quản lý” Thông thường, quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động viên, kiểm tra, điều chỉnh…

Mỗi một học thuyết nghiên cứu tổ chức, quản lý ở những giác độ khác nhau, trên cơ sở triết học và điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, vì thế mà xuất hiện nhiều khái niệm khác nhau về quản lý Cho đến nay có một cách tiếp cận nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà khoa học và quản lý thực tiễn về khái niệm quản lý: “Quản lý

là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu dự kiến” [12, tr4]

Ngoài ra, theo một định nghĩa khác: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động

Quản lý thuế TNCN là sự tác động có chủ đích của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước đối với quá trình tính và thu thuế TNCN để thay đổi quá trình này nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách và đạt được các mục tiêu mà nhà nước đặt ra

Quản lý thu thuế bao gồm các khía cạnh chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, chủ thể của quản lý thu thuế là Nhà nước, bao gồm cơ quan lập pháp

với vai trò là người nghiên cứu, xây dựng hệ thống pháp luật thuế; cơ quan hành pháp với tư cách là người điều hành trực tiếp công tác thu và nộp thuế, hệ thống các

cơ quan chuyên môn giúp việc cho cơ quan hàng pháp thay mặt cho nhà nước tổ chức và thực hiện thu thuế

Thứ hai, đối tượng quản lý thu thuế là các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ nộp

thuế vào NSNN (người nộp thuế)

Thứ ba, mục tiêu của quản lý thu thuế là huy động nguồn lực tài chính từ các tơ

chức và cá nhân trong xã hội cho Nhà nước thông qua việc ban hành và tổ chức thi hàng pháp luật thuế

Thứ tư, quản lý thu thuế là một hệ thống nhất giữa các cơ quan quản lý nhà

Trang 22

nước với nhau và giữa xây dựng chính sách thuế với tổ chức hành thu

Thứ năm, quá trình tác động, điều hành thu thuế gắn với quá trình thực hiện các

chức năng quản lý của Nhà nước và quá trình này phải tuân thủ các quy luật khách quan

1.2.2 Mục t êu, guyê tắc, yêu cầu, sự cầ t t, ươ g và cô g cụ qu

t u T u c

1.2.2.1 Mục tiêu quản lý thuế Thu nhập cá nhân

Một là, bảo đảm các văn bản pháp luật về chính sách thu thuế được thực thi một

các nghiêm chỉnh trong thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội Đây là mục tiêu tất yếu của công tác quản lý thu thuế xuất phát từ yêu cầu quản lý các hoạt động kinh tế - xã

hội theo pháp luật nhà nước pháp quyền

Hai là, tăng cường tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho ngân sách

nhà nước trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu Thuế thu nhập

cá nhân chiếm tỉ trọng chủ yếu trong số thu ngân sách nhà nước ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Vì vậy, làm tốt công tác quản lý thu thuế thu nhập sẽ có tác dụng lớn trong việc tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho ngân sách nhà nước

Ba là, bảo đảm phát huy được vai trò tích cực của thuế trong điều chỉnh vĩ mô

các hoạt động kinh tế - xã hội theo mục tiêu của Nhà nước Đây là mục tiêu hết sức quan trọng trong quản lý nhà nước theo quan điểm hiện đại

Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước thông qua công cụ luật pháp để tác động vào nền kinh tế ở tầm vĩ mô Ý thức chấp hành luật pháp của các tổ chức kinh tế và dân cư sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện những tác động này Qua công tác tổ chức thực hiện và thanh tra việc chấp hành các luật thuế nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng, cùng với việc tăng cường tính pháp chế của chính sách thuế này, ý thức chấp hành chính sách thuế sẽ được nâng cao, từ đó tạo thói quen “sống và làm việc theo pháp luật”

Ở các nước phát triển, thu nhập trung bình của người dân cao nên thuế thu nhập

cá nhân đã trở nên vô cùng quen thuộc Do là thuế trực thu nên tác động của thuế thu nhập cá nhân mang tính trực tiếp, đối tượng chịu thuế có thể cảm nhận được ngay

Trang 23

Họ biết mình phải nộp thuế và dần trở nên quen thuộc với việc này Từ đó, người dân

sẽ nhận thức được rõ hơn về nghĩa vụ nộp thuế của mình Chính vì vậy, họ sẽ có ý thức rõ ràng hơn về tính pháp chế của chính sách thuế, từ đó nâng cao ý thức chấp hành chính sách này Còn ở các nước đang phát triển, do thu nhập dân cư còn thấp nên thuế thu nhập cá nhân là vấn đề còn mới mẻ với khá nhiều người Người dân vẫn phải nộp thuế nhưng có cảm nhận ít hơn về tác động của thuế, thậm chí không biết gì đến thuế vì chủ yếu là thuế gián thu Người dân mua hàng hóa, dịch vụ với giá cả đã

có thuế trong đó Do đó, ý thức về nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước nhìn chung là thấp hơn

Bốn là, đảm bảo thực hiện tốt dự toán thuế đã được cơ quan quyền lực Nhà

nước quyết định

Dự toán thuế được xác lập dựa trên cơ sở nguồn thu dự kiến phát sinh và nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong năm kế hoạch Dự toán thuế được tổng hợp vào dự toán NSNN và được thông qua cơ quan quyền lực Nhà nước quyết định Vì vậy, các chỉ tiêu trong dự toán thuế là chỉ tiêu pháp lệnh buộc các cấp, các ngành và cá đơn vị

có liên quan phải tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh Tuy nhiên, dự toán thuế chỉ là yêu cầu đặt ra của Nhà nước, do vậy trong kỳ có biến động kinh tế dẫn đến không đáp ứng được yêu cầu thu của NSNN thì cũng có thể chấp nhập được Mục tiêu hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu của dự toán thuế là mục tiêu hàng đầu của công tác quản lý thuế nhằm bảo đảm tính chủ động trong điều hành và quản lý NSNN; bởi vì thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN và dự toán thuế là bộ phận cấu thành quan trong trong dự toán NSNN

1.2.2.2 Nguyên tắc quản lý thuế ở Việt Nam

Một là, nguyên tắc tuân thủ pháp luật thuế

Đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động quản lý thuế nói chung và hoạt động quản lý thuế TNCN nói riêng Trong hoạt động quản lý thuế không thể không có tính tuân thủ pháp luật thuế Tổng cục thuế đã xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá tính Tuân thủ pháp luật thuế của Người nộp thuế (NNT) Bộ tiêu chí này là một trong các căn cứ giúp cho cơ quan thuế phân loại người nộp thuế về mức độ tuân thủ

Trang 24

pháp luật thuế

Hai là, nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ

Thống nhất, tập trung dân chủ là nguyên tắc chủ đạo trong quản lý kinh tế - xã hội nói chung và quản lý NSNN nói riêng Ở nước ta, quản lý thu thuế là một trong những nội dung quan trọng trong quản lý NSNN, mặt khác, thuế chứa đựng các yếu

tố chính trị - kinh tế - xã hội sâu rộng, vừa gắn bó với lợi ích chung của toàn xã hội, vừa tác động đến lợi ích của các thể nhân và pháp nhân trong xã hội, vì vậy, quản lý thu thuế tất yếu cần phải tôn trọng nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ Trong quản lý thu thuế thu nhập cá nhân thì nguyên tắc thống nhất tập trung dân chủ được thể hiện ở việc chính sách thu phải được xuyên suốt từ Luật, Nghị định, Thông tư hướng dẫn và các văn bản quy phạm pháp luật, công tác quản lý thu được áp dụng thống nhất ở từng cơ quan thuế trung ương đến địa phương

Ba là, nguyên tắc tiết iệm, hiệu quả

Trong quá trình quản lý thu nộp thuế vào NSNN luôn phát sinh các chi phí từ phía cơ quan thuế và từ phía các đối tượng nộp thuế, vì vậy tiết kiệm và hiệu quả được đặt ra đối với công tác quản lý thu thuế là tất yếu khách quan

Tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý thu thuế được đánh giá dựa trên cơ sở các chi phí phát sinh trong quá trình tổ chức thu nộp thuế và số thuế được tập trung vào NSNN Quản lý thu thuế phải bảo đảm các chi phí phát sinh từ cơ quan thu và đối tượng nộp thuế là thấp nhất, số thuế tập trung vào NSNN ở mức cao nhất nhưng vẫn bảo đảm nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu; hạn chế các trường hợp trốn thuế, lậu thuế, biển thủ tiền thuế và các gian lận khác về thuế

Đối tượng của quản lý thu thuế thu nhập cá nhân là rất lớn, rất rộng, bao gồm nhiều tầng lớp trong xã hội mà số thu của thuế TNCN là chưa lớn do vậy đòi hỏi Nhà nước phải tính toán, cân đối để số thu nộp NSNN là lớn mà chi phí thu nộp là nhỏ nhất đảm bảo hiệu quả

Bốn là, nguyên tắc phù hợp

Quản lý thu thuế phải bảo đảm phù hợp với thực trạng kinh tế - xã hội trong thời kỳ và thông lệ quốc tế

Trang 25

Nguồn thu của thuế chính là kết quả của các hoạt động kinh tế - xã hội; vì vậy, thực trạng kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ là cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng các văn bản pháp luật về thuế và thiết lập các biện pháp quản lý thu thuế phù hợp nhằm bảo đảm cho tính thực thi của văn bản pháp luật về thuế trong thực tiễn và bảo đảm hiệu quả của các biện pháp quản lý thu thuế Mặt khác, xu hướng vận động tất yếu của các nền kinh tế trên thế giới là mở cửa và hội nhập; vì vậy, hệ thống thuế và các biện pháp quản lý thu thuế của một quốc gia cần thiết phải có phù hợp với thông lệ quốc tế

Cũng như đã nói ở trên, đối tượng quản lý thu thuế TNCN là rất lớn do vậy tình hình kinh tế xã hội trong từng thời kỳ đảm bảo hợp lòng dân, ví dụ như trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, Nhà nước có chính sách miễn giảm thuế TNCN để tháo

gỡ khó khăn cũng như thúc đẩy kinh tế

Thuế TNCN điều chỉnh cả đối tượng là cá nhân người nước ngoài, do vậy phải phù hợp với thông lệ quốc tế, tức là mức thu không quá cao hay quá thấp với các nước trong khu vực

1.2.2.3 Yêu cầu về quản lý thuế thu nhập cá nhân

Để đạt được những mục tiêu về quản lý thu thuế nói trên, quản lý thu thuế cần quán triệt các yêu cầu cơ bản sau:

Một là, thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo luật định

Thu đúng, thu đủ là cơ quan thực hiện nhiệm vụ thu thuế căn cứ đúng chính sách pháp luật về thuế TNCN cũng như về quản lý thuế để thực hiện việc thu đúng Căn trên

số thuế phải nộp của NNT, cơ quan thuế thu đủ và đúng thời hạn theo luật định, tránh việc NNT lạm dụng nguồn thu của Nhà nước Đồng thời để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật về thuế của Nhà nước

Hai là, vận dụng thống nhất các văn bản pháp luật về thuế và xây dựng các biện

pháp quản lý thu thuế phù hợp với thực trạng kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, tạo thuận lợi cho người thu và nộp thuế, tối thiểu hoá chi phí hành thu

Như đã nói ở trên, phải thống nhất các văn bản pháp luật về thuế để thực hiện thống nhất các vùng miền trên cả nước và cũng để NNT thống nhất cách tính thuế,

Trang 26

đảm bảo sự công bằng giưã NNT Nhà nước căn cứ tình hình kinh tế xã hội từng thời

kỳ để có chính sách chế độ đảm bảo phù hợp với tình hình chung của đất nước và NNT Ví dụ như tình hình kinh tế khó khăn, Nhà nước có thể ban hành chế độ miễn giảm một phần thuế, giúp NNT xóa bỏ một phần gánh nặng về thuế cho NNT

Nguồn thu cho NSNN là vô cùng quan trọng, do vậy việc thu được thuế cho NSNN là rất quan trọng, tuy nhiên, Nhà nước cũng cần tính toán để tối thiểu hóa mọi chi phí thu, tránh tình trạng số thu nhỏ hơn chi phí thu

Ba là, quản lý thu thuế phải gắn với việc thực hiện các mục tiêu kinh tế

Cơ quan hành thu căn cứ vào mục tiêu đặt ra đối với từng chính sách thuế, từng mục tiêu ở mỗi thời kỳ để quản lý thu thuế

1.2.2.4 Sự cần thiết phải quản lý thuế Thu nhập cá nhân

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, thu nhập của các tầng lớp dân cư tăng lên rõ rệt Khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa nhóm người có thu nhập cao với nhóm người có thu nhập thấp đã có xu hướng ngày càng tăng lên, trong khi việc áp dụng thuế Thu nhập cá nhân để thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư vẫn còn chưa thực sự hiệu quả Trong khi đó các chuyên gia tài chính nhận định, trong những năm tới thị trường tài chính tiền tệ, vốn, lao động, bất động sản, … phát triển mạnh mẽ hơn nữa; nền kinh

tế tiếp tục tăng trưởng nhanh, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân có cơ hội đầu tư, sản xuất kinh doanh và sẽ có thêm nhiều nguồn thu nhập khác nhau Bên cạnh đó, cùng với tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước sẽ kéo theo số người nước ngoài đến làm việc tại nước ta ngày càng nhiều Do đó, sự đa dạng và gia tăng thu nhập của các cá nhân trong xã hội sẽ làm cho khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư ngày càng lớn Kinh tế - xã hội càng phát triển, hội nhập kinh tế càng sâu rộng thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước để giải quyết các vấn đề an ninh quốc phòng, an sinh xã hội, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, … cũng ngày một gia tăng Bên cạnh đó, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn đến cơ cấu thu ngân sách cũng thay đổi theo hướng nguồn thu từ tích lũy trong nước được tăng dần và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu NSNN Thuế Thu nhập cá nhân sẽ góp phần nâng cao

Trang 27

tỷ trọng thu nội địa để ổn định thu cho NSNN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc

tế Thế nhưng khả năng thu được thuế TNCN hiện nay chưa cao, chưa mang tính triệt

để vì rất nhiều lý do như: đa số thu nhập của người lao động đều trả bằng tiền mặt, hệ thống thông tin chưa phát triển, các khoản thu nhập từ thừa kế, quà tặng còn khó kiểm soát và năng lực, số lượng cán bộ thuế chưa đáp ứng được sự thay đổi của nền kinh tế Từ những yếu tố nói trên, Bộ Tài chính cho rằng cần thiết phải xây dựng và ban hành Luật thuế TNCN cho phù hợp với sự phát triển và hội nhập quốc tế của đất nước

1.2.2.5 Phương pháp quản lý thuế Thu nhập cá nhân

Phương pháp quản lý huế TNCN bao gồm: phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế, phương pháp giáo dục

Phương pháp hành chính là phương thức tác động tới tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng quản lý bằng cách quy định trực tiếp nghĩa vụ của họ qua những mệnh lệnh dựa trên quyền lực nhà nước và phục tùng Phương pháp hành chính được sử dụng khi cơ quan thuế buộc người nộp thuế phải tuân thủ một cách bắt buộc, vô điều kiện

và chỉ được sử dụng khi mà các quyết định của cơ quan thuế có căn cứ khoa học, có luận chứng đầy đủ về mặt kinh tế Sử dụng phương pháp hành chính phải gắn chặt quyền hạn, trách nhiệm của cấp ra quyết định, mỗi bộ phận, mỗi cán bộ khi sử dụng quyền hạn đó

Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động gián tiếp đến hành vi của các đối tượng quản lý thông qua việc sử dụng những đòn bẩy kinh tế tác động đến lợi ích con người Phương pháp kinh tế trong quản lý thu thuế thể hiện dưới hình thức khoán, thưởng, ưu đãi…

Phương pháp giáo dục trong quản lý thu thuế được sử dụng thông qua việc cơ quan thuế tác động vào nhận thức của NNT nhằm nâng cao tính tự giác, tính tích cực của họ trong việc thực hiện các nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước Cơ quan thuế có thể

sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng như sách, báo, đài phát thanh, truyền hình…, sử dụng các đoàn thể, các hoạt động có tính xã hội để tuyên truyền, giáo dục

1.2.2.6 Công cụ quản lý thuế Thu nhập cá nhân

Trang 28

Công cụ quản lý thuế TNCN là pháp luật, kế hoạch và một số công cụ khác

Những quy định đã được thừa nhân trong các văn bản Pháp luật là công cụ quản

lý thuế có tính định hướng và điều tiết quan trọng nhất Nó tạo tiền đề để điều chỉnh các quan hệ kinh tế, duy trì sự ổn định lâu dài của nền kinh tế quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng bền vững Pháp luật thể hiện chủ yếu ở các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban nhân dân (UBND), Hội đồng nhân dân (HĐND)… ban hành như Luật quản lý thuế, Luật thuế TNCN, các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành Luật thuế TNCN…

Kế hoạch cũng là một công cụ không thể thiếu trong công tác quản lý thu thuế TNCN Để đánh giá, so sánh chất lượng hiệu quả quản lý thu thuế, cơ quan thuế cần lập các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn một cách cụ thể Lập dự toán thu ngân sách dựa trên kết quả thực hiện kế hoạch thu các năm trước, lập các kế hoạch thu thuế một cách cụ thể theo từng tháng, từng quý… nhằm đảm bảo hoàn thành dự toán thu ngân sách đã đề ra trước đó

Ngoài ra, công tác thanh kiểm tra là công cụ hữu hiệu không những nhằm đảm bảo tính thượng tôn Pháp luật thuế mà còn bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế

1.2.3 Nộ du g qu t u Thu c

Quản lý thuế là khâu tổ chức thực hiện chính sách thuế của cơ quan thuế các cấp, là việc xây dựng một hệ thống các tổ chức, phân công chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho các tổ chức này, xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu trong việc thực thi các chính sách thuế nhằm đạt các mục tiêu đã đề

ra, trong điều kiện môi trường quản lý luôn biến động

Quản lý thuế là hoạt động của Nhà nước mà cơ quan thuế là đại diện để tổ chức, điều hành hệ thống quản lý thuế nhằm động viên nguồn thu từ thuế vào NSNN theo những quy định của pháp luật về thuế, phí - lệ phí, và đưa pháp luật về thuế vào đời sống, thực hiện các mục tiêu của cơ quan thuế đã đề ra trong từng thời kỳ

Quản lý thuế quan tâm trước hết tới việc thực thi chính sách thuế Để thực hiện tốt công tác quản lý thu thuế cần có một chính sách thuế hợp lý, khả thi Sau khi chính sách thuế được hoạch định và được thông qua, chính sách đó được thực thi

Trang 29

trong thực tế Quản lý huế có vai trò quyết định trong việc đưa chính sách thuế vào cuộc sống Hoạt động quản lý thu thuế là sự tác động có tổ chức, tuân theo những quy tắc nhất định và mang tính quyền lực nhà nước Đây cũng có thể coi là hoạt động quản lý hành chính - kinh tế trong lĩnh vực thuế

Quản lý thuế được thực hiện bằng các quy chế, quy trình nghiệp vụ nhất định, với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do luật quy định

Công tác quản lý thuế TNCN là một phần quan trọng của quản lý tài chính Nhà nước nên cần được nhìn nhận ở tầm vĩ mô và phải bao gồm toàn bộ các công việc thuộc các lĩnh vực lập pháp và hành pháp, tư pháp về thu Nội dung quản lý thuế TNCN bao gồm:

1.2.3.1 Ban hành chính sách quản lý thuế Thu nhập cá nhân

Công tác quản lý thuế TNCN là một phần quan trọng của quản lý tài chính Nhà nước Công tác này cần được nhìn nhận ở tầm vĩ mô và phải bao gồm toàn bộ các công việc thuộc các lĩnh vực lập pháp và hành pháp, tư pháp về thu Nội dung của công tác quản lý thuế TNCN bao gồm việc ban hành chính sách thuế TNCN Đây là công việc thuộc lĩnh vực lập pháp Việc ban hành chính sách thuế TNCN

sẽ tạo ra những quy định pháp luật làm cơ sở để tính và thu thuế TNCN Đồng thời ban hành chính sách cũng đưa ra những căn cứ để kiểm tra, thanh tra và áp dụng các chế tài đối với quá trình tính và thu này

Thực tiễn cho thấy có hai xu hướng: một là, các vấn đề về quản lý thuế được ghi nhận trong các luật về chính sách thuế; hai là, các vấn đề về quản lý thuế được quy định tại một văn bản độc lập – gọi là luật quản lý thuế Mỗi một xu hướng đều có các ưu nhược điểm khác nhau Dù được xây dựng, thiết kế theo nguyên tắc nào thì luật quản lý thuế bao giờ cũng có vai trò hết sức quan trọng trong việc quản lý điều hành chính sách thuế hay nói một cách trực diện hơn, luật quản lý thuế là luật tổ chức thực hiện các luật thuế Vì vậy, vấn đề hiệu quả của các luật về chính sách thuế phụ thuộc khá lớn vào luật quản lý thuế Cho dù các luật về chính sách thuế phản ánh chuẩn xác, khoa học chính sách thuế nhưng nếu luật quản lý thuế - quản lý cách thức vận hành của chính sách thuế - không phù hợp và thiếu tính khoa học, vô hình trung,

Trang 30

đã làm vô hiệu hoá các luật thuế

Cũng cần có nhận thức sâu sắc rằng, luật quản lý thuế và các luật về chính sách thuế có mối quan hệ nội tại thống nhất với nhau, sự thay đổi nội dung của các luật thuế tất yếu kéo theo sự thay đổi của luật quản lý thuế, đặc biệt đối với luật quản lý thuế có quy định những vấn đề quản lý mang tính chất đặc thù của từng sắc thuế Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa sự thay đổi của luật quản lý thuế hoàn toàn phụ thuộc vào sự thay đổi của các luật thuế, mà luật quản lý thuế có tính độc lập tương đối của nó Sự thay đổi cơ bản của luật quản lý thuế phần lớn phụ thuộc vào cơ chế, phương thức quản lý thuế của một quốc gia, phụ thuộc vào ý thức tuân thủ luật pháp của các thành viên trong xã hội

Và cũng phải thấy rằng, luật quản lý thuế không chỉ có mối quan hệ chặt chẽ với các luật thuế mà còn có mối quan hệ chặt chẽ với các văn bản pháp luật khác, như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thanh tra, Luật Hải quan, Pháp lệnh Điều tra các vụ án hình sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính v.v Vì vậy khi ban hành luật quản lý thuế cần có sự cân nhắc cẩn trọng để đảm bảo tính thống nhất giữa các văn bản pháp luật đó

Những nội dung cơ bản của chính sách thuế TNCN:

- Quản lý đối tượng nộp thuế

Đây là khâu đặc biệt quan trọng đối với công tác quản lý thu thuế TNCN Quản lý tốt ĐTNT sẽ đảm bảo phần lớn hiệu quả của công tác quản lý thuế TNCN bởi chúng ta chưa biết chính xác ai là những đối tượng phải nộp thuế trước khi kê khai thu nhập của họ Do đó, cần giám sát thu nhập của tất cả các đối tượng lao động, từ đó chúng ta có thể xác định được đối tượng nào phải nộp thuế và nộp thuế bao nhiêu

Cơ quan thuế phải tiến hành đăng ký ĐTNT Phương thức đăng ký ĐTNT thường được áp dụng là phương thức thủ công và quản lý bằng mạng vi tính Tuy nhiên, phương thức quản lý bằng mạng vi tính thích hợp với công tác quản lý thuế TNCN vì ĐTNT TNCN ở đây nhiều và không tập trung nên Theo phương thức này thì cơ quan quản lý thuế cần phải tiến hành cấp MST cho các ĐTNT và cơ quan

Trang 31

CTTN thống nhất trong phạm vi cả nước Mỗi ĐTNT được gắn với một mã số duy nhất Mọi thông tin cần thiết về ĐTNT được lưu trữ vào cơ sở dữ liệu với một file riêng mà tên file là mã số của ĐTNT Khi cần kiểm tra thông tin về một ĐTNT, cơ quan quản lý chỉ cần mở file theo mã số của đối tượng đó, nhờ đó mà tránh được tình trạng bỏ sót các ĐTNT đồng thời cũng đảm bảo sự nhanh gọn cho cơ quan thuế trong công tác quản lý thu thuế

- Quản lý ê hai, nộp thuế

Có 2 hình thức kê khai, đăng ký, nộp thuế:

Thông qua cơ quan ủy nhiệm thu hay cơ quan CTTN tính thuế cho các ĐTNT

có thu nhập do đơn vị mình chi trả Sau khi tính thuế và khấu trừ thuế của ĐTNT,

cơ quan CTTN sẽ tiến hành khấu trừ phần thuế phải nộp ra khỏi thu nhập trước thuế của ĐTNT để đem nộp vào NSNN Cơ quan CTTN sẽ được hưởng một khoản tiền theo tỉ lệ trên số thuế thu được và nộp vào NSNN

ĐTNT sẽ trực tiếp kê khai thu nhập và tự tính mức thuế mình phải nộp Sau

đó sẽ đến nộp tờ khai cho cơ quan thuế và tiến hành nộp khoản thuế vào NSNN Cơ quan thuế sẽ có nhiệm vụ ghi lại tất cả các khoản thuế mà các ĐTNT phải nộp, để

từ đó có thể giám sát và kiểm tra khi cần thiết Đồng thời đó cũng là cơ sở để đảm bảo sự minh bạch trong công tác thu nộp thuế, cả cho ĐTNT và cơ quan thuế cũng như cơ quan ủy nhiệm thu

- Quản lý quyết toán thuế, hoàn thuế

Việc quyết toán thuế cho từng ĐTNT là cần thiết Việc này sẽ giúp cơ quan thuế biết được tình hình thu nhập và nộp thuế của từng đối tượng, qua đó có thể cung cấp cho các cơ quan khác, các nhà lập chính sách hoặc chính cơ quan thuế cũng có thể sử dụng trong việc phân tích và đánh giá về chính sách thuế khả năng nộp thuế của dân cư Quyết toán thuế hàng năm cũng sẽ giúp cơ quan thuế có thể phát hiện ra các trường hợp sai phạm thông qua việc so sánh mức thuế thu nhập nộp giữa các năm với nhau

1.2.3.2 Tổ chức bộ máy quản lý thuế

Nhà nước xây dựng bộ máy quản lý thuế để quản lý thuế TNCN cũng như các

Trang 32

sắc thuế khác Bộ máy quản lý thuế được xây dựng tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng nước Nhìn tổng thể trong phạm vi nền kinh tế quốc dân, cơ quan thuế ở các nước trên thế giới đều được tổ chức thành một hệ thống bao gồm nhiều cấp Tại nhiều nước, hệ thống đó không hoàn toàn phù hợp với hệ thống chính quyền Nhà nước và bao gồm: cơ quan thuế trung ương, cơ quan thuế cấp tỉnh, thành phố và cơ quan thuế cấp quận, huyện như Trung Quốc, Việt Nam… Ngoài ra,

ở một số quốc gia thì hệ thống ngành thuế còn được tổ chức theo các dạng khác

Ở từng cấp, bộ máy cơ quan thuế có thể được tổ chức theo các mô hình sau:

Mô hình tổ chức theo chức năng: người ta tổ chức các phòng ban chức năng

riêng rẽ trong một cơ quan thuế Mỗi phòng ban thực hiện một công việc nghiệp vụ

cụ thể có liên quan đến tất cả các sắc thuế như phòng xử lý tờ khai thuế, phòng tính thuế, phòng kiểm tra ĐTNT…

Mô hình tổ chức theo đối tượng nộp thuế: ĐTNT được chia thành các nhóm,

dựa trên quy mô hoạt động, hình thức sở hữu hoặc ngành kinh tế… Mỗi phòng ban chịu trách nhiệm quản lý cung cấp những thông tin đầy đủ về từng nhóm ĐTNT

Để đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý thuế, đảm bảo nguồn thu kịp thời cho NSNN và đảm bảo công bằng, bình đẳng trong xã hội mỗi nước sẽ lựa chọnmột mô hình cụ thể tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội Có những nước có thể lựa chọn kiểu mô hình pha trộn giữa các kiểu trên

1.2.3.3 Tổ chức thực hiện

a) Tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế TNCN

Hoạt động tuyên truyền giáo dục pháp luật về thuế là nhiệm vụ của cán bộ thuế bằng nhiều hình thức và phương pháp phù hợp để tuyên truyền về chính sách thuế một cách hiệu quả đến người nộp thuế và các tầng lớp dân cư Hoạt động tuyên truyền về thuế bao gồm các nội dung tuyên truyền từ bản chất của thuế, lợi ích xã hội từ việc nộp thuế cho đến các biện pháp xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật thuế nhằm tạo điều kiện cho người dân trong việc hiểu và có ý thức trong việc chấp hành pháp luật thuế Các biện pháp tuyên truyền kịp thời còn giúp người nộp thuế có thể cập nhật thường xuyên thông tin về thuế khi có những sự sửa đổi, bổ sung về chính sách để có

Trang 33

những điều chỉnh cho thích hợp trong sản xuất kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ của mình Ngôn ngữ tuyên truyền cần đơn giản, dễ hiểu để phù hợp với nhiều người nộp thuế khác nhau trong các tầng lớp dân cư khác nhau

- Nội dung hoạt động tuyên truyền về thuế có thể bao gồm các vấn đề sau:

+ Tuyên truyền, giải thích về bản chất, vai trò của thuế, các lợi ích xã hội có được từ việc sử dụng tiền thuế

+ Tuyên truyền, phổ biến nội dung các chính sách, pháp luật về thuế

+ Phổ biến các vấn đề liên quan đến nghĩa vụ vầ trách nhiệm của cơ quan thuế, của người nộp thuế và các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội trong việc cung cấp thông tin và phối hợp trong việc thực hiện các luật thuế

+ Phổ biến các thủ tục về thuế quy định về việc xử lý các vi phạm pháp luật thuế + Tuyên dương, khen thưởng người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật về thuế

- Các hình thức tuyên truyền pháp luật thuế

Hoạt động tuyên truyền pháp luật thuế là các hoạt động do cơ quan thuế chủ động xây dựng nội dung và cung cấp cho người nộp thuế theo các mục tiêu, chương trình đã được xác định Các hình thức tiếp cận người nộp thuế vì vậy bao gồm các hoạt động tuyên truyền, quảng bá thông tin về thuế thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như sách, báo, tạp chí, đài phát thanh, truyền hình, internet; hoạt động tuyên truyền về thuế cũng có thể được thực hiện qua các bài phóng sự, phỏng vấn, hỏi đáp, các tiểu phẩm, các “gameshow” với chủ đề thuế và các buổi tập huấn, hội nghị, hội thảo về thuế

Các hình thức chủ yếu được thực hiện trong công tác tuyên truyền hỗ trợ pháp luật thuế bao gồm:

+ Xuất bản các ấn phẩm về thuế

+ Tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng

+ Xây dựng chương trình tăng cường hiểu biết về thuế trong trường học

b) Đăng ký, kê khai nộp thuế TNCN

- Đăng ký thuế:

Đăng ký thuế là khâu đặc biệt quan trọng đối với quản lý thu thuế thu nhập cá

Trang 34

nhân Quản lý tốt người nộp thuế sẽ đảm bảo phần lớn hiệu quả của công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân Trong công tác quản lý người nộp thuế, chúng ta chưa biết chính xác ai là những đối tượng phải nộp thuế trước khi kê khai thu nhập của họ Do

đó, cần giám sát thu nhập của tất cả các đối tượng lao động, từ đó chúng ta có thể xác định được đối tượng nào phải nộp thuế và nộp thuế bao nhiêu Cơ quan thuế thường xuyên tiến hành đăng ký thuế cho người nộp thuế Phương thức thủ công và quản lý bằng mạng vi tính là hai phương thức đăng ký người nộp thuế thường được áp dụng

Vì người nộp thuế thu nhập cá nhân ở đây nhiều và không tập trung nên phương thức quản lý bằng mạng vi tính thích hợp với công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân Theo phương thức này thì cơ quan quản lý thuế cần phải tiến hành cấp mã số thuế cho các người nộp thuế và cơ quan chi trả thu nhập thống nhất trong phạm vi cả nước Mỗi người nộp thuế được gắn với một mã số duy nhất Mọi thông tin cần thiết

về người nộp thuế được nạp vào máy vi tính với một file riêng mà tên file là mã số của người nộp thuế Khi cần kiểm tra một người nộp thuế, cơ quan quản lý chỉ cần

mở file theo mã số của đối tượng đó, nhờ đó mà tránh được tình trạng bỏ sót các người nộp thuế đồng thời cũng đảm bảo sự nhanh gọn cho cơ quan thuế trong công tác quản lý thu thuế

- Kê khai, nộp thuế TNCN

Để đảm bảo số thuế kê khai là đúng, chính xác và phù hợp với hệ thống chính sách thuế cũng như pháp luật có liên quan thì nội dung công tác kê khai thuế bao gồm những vấn đề chủ yếu sau:

Thứ nhất, quản lý người khai thuế

Để đảm bảo quản lý được tốt nghĩa vụ kê khai thuế của người nộp thuế theo đúng qui định của pháp luật thuế thì trước hết cần quản lý được người thực hiện nghĩa vụ khai thuế Người thực hiện nghĩa vụ khai thuế có thể là các tổ chức, cá nhân,

kể cả cá nhân người nước ngoài Theo qui định của pháp luật đến thời hạn kê khai thuế người nộp thuế phải có nghĩa vụ kê khai số tiền thuế phải nộp vào NSNN, kể cả trong trường hợp không phát sinh nghĩa vụ thuế hoặc đang thuộc diện được hưởng ưu đãi, miễn, giảm thuế, trừ trường hợp đã chấm dứt hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế Người

Trang 35

nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế với cơ quan thuế theo mẫu qui định và nộp đủ các chứng từ, tài liệu qui định trong hồ sơ khai thuế

Thứ hai, quản lý hồ sơ khai thuế

Hồ sơ khai thuế bao gồm: tờ khai thuế và các tài liệu liên quan làm căn cứ để người nộp thuế khai thuế, tính thuế với cơ quan thuế Tùy theo qui định của từng sắc thuế mà hồ sơ khai thuế có thể bao gồm các loại chứng từ, tài liệu cụ thể khác nhau Việc quản lý hồ sơ khai thuế là công việc hết sức quan trọng, có ảnh hưởng đến tính chính xác trong việc xác định số thuế phải nộp của NNT, từ đó đảm bảo tính nghiêm minh và công bằng trong thực thi chính sách thuế Hồ sơ khai thuế là bằng chứng pháp

lý ban đầu để chứng minh nghĩa vụ nộp thuế Quản lý hồ sơ khai thuế bao gồm cả quản

lý số lượng các tờ khai, mẫu biểu và tài liệu trong hồ sơ do NNT nộp cho cơ quan thuế

và quản lý cả chất lượng của việc kê khai các nội dung trong tờ khai, tài liệu có liên quan

NNT phải sử dụng đúng mẫu tờ khai thuế và các mẫu phụ lục kèm theo tờ khai thuế do các cơ quan có thẩm quyền hoặc pháp luật qui định NNT không được thay đổi khuôn dạng, thêm, bớt hoặc thay đổi vị trí của bất kỳ chỉ tiêu nào trong tờ khai thuế cũng như các loại giấy tờ trong hồ sơ khai thuế đã được qui định Trường hợp NNT phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế có sai sốt, nhầm lẫn gây ảnh hưởng đến số thuế phải nộp thì được khai bổ sung hồ sơ khai thuế

Thứ ba, quản lý thời hạn kê khai thuế

Mỗi sắc thuế có thể có thời hạn kê khai và nộp thuế khác nhau Do vậy, công tác quản lý thời hạn kê khai thuế sẽ ảnh hưởng đến thời hạn xác định nghĩa vụ nộp thuế của NNT Để phù hợp với qui định của từng sắc thuế cũng như đặc thù trong công tác quản lý thuế, thời hạn khai thuế có thể là:

+ Khai thuế định kỳ: là việc khai thuế theo những thời hạn nhất định đã được pháp luật qui định trước Kê khai định kỳ có thể dưới hình thức kê khai theo tháng, quý, quyết toán năm

+ Kê khai theo từng lần phát sinh là việc kê khai thuế không theo thời hạn nhất

Trang 36

định, không ấn định trước được kỳ kê khai thuế

Trong một số trường hợp đặc biệt NNT có thể được gia hạn nộp hồ sơ khai thuế Khi đó thời hạn kê khai thuế là thời hạn được gia hạn nộp hồ sơ khai thuế c) Tổ chức quản lý thu nộp, miễn giảm thuế và xử lý vi phạm

- Tổ chức quản lý thu nộp

Việc tổ chức quản lý thu thuế thu nhập cá nhân chủ yếu được thực hiện theo cơ chế khấu trừ tại nguồn thông qua sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan chi trả thu nhập,

tổ chức đón tiếp, quản lý người nước ngoài, các cơ quan quản lý nhà nước

+ Quản lý thu thuế đối với cá nhân có thu nhập từ tiền lương tiền công

Cơ quan chi trả thu nhập có trách nhiệm chủ động khai báo, đăng ký kê khai với

cơ quan thuế địa phương việc thu thuế thu nhập cá nhân theo phương thức khấu trừ tại đơn vị mình; hướng dẫn người có thu nhập chịu thuế thực hiện thủ tục đăng ký mã

số thuế cá nhân Thực hiện chế độ báo cáo; thanh quyết toán tiền thuế, biên lai thu thuế, chứng từ khấu trừ thuế, tiền thù lao được hưởng với cơ quan thuế và xuất trình đầy đủ các tài liệu liên quan đến thuế thu nhập khi cơ quan thuế yêu cầu

+ Quản lý thu thuế TNCN đối với cá nhân là người nước ngoài có thu nhập phát sinh tại Việt Nam, cá nhân cư trú có thu nhập toàn cầu

Các tổ chức đón tiếp và quản lý người nước ngoài có trách nhiệm hướng dẫn cho người nước ngoài khi kết thúc nhiệm kỳ công tác phải hoàn tất thủ tục về quyết toán thuế thu nhập để được cấp biên lai thuế trước khi làm thủ tục xuất cảnh

Các cơ quan quản lý Nhà nước gồm: Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh, cơ quan cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài, cơ quan quản lý lao động và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm cung cấp cho cơ quan thuế các thông tin liên quan đến thu nhập chịu thuế, người nộp thuế khi cơ quan thuế có yêu cầu

Cơ quan thuế có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước và các

cơ quan hữu quan để tuyên truyền, hướng dẫn các tổ chức, các nhân, đồng thời kiểm tra và yêu cầu các tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập đóng trên địa bàn thực hiện việc đăng ký, kê khai thuế thu nhập theo phương pháp khấu trừ tại nguồn đảm bảo thu đúng thu đủ tiền thuế vào ngân sách nhà nước

Trang 37

- Miễn giảm thuế

Đối tượng được giảm thuế, miễn thuế là cá nhân người nộp thuế gặp khó khăn

do thiên tai, địch họa, tai nạn làm thiệt hại đến tài sản, thu nhập, ảnh hưởng đến đời sống bản thân thì được xét giảm thuế, miễn thuế trong năm tùy theo mức độ thiệt hại

Số thuế được xét miễn giảm bằng tỷ lệ giữa số tiền thiệt hại so với thu nhập chịu thuế trong năm nhưng không vượt quá số tiền thuế phải nộp cả năm Trong trường hợp đặc biệt, nếu việc nộp thuế của cá nhân làm ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế, chính trị,

xã hội của quốc gia thì được miễn giảm thuế

+ Cá nhân, tổ chức nộp chậm tiền thuế hoặc tiền phạt so với ngày qui định phải nộp hoặc quyết định xử lý về thuế , thì ngoài việc nộp đủ số thuế, số tiền phạt, mỗi ngày nộp chậm còn bị phạt 0.05% số tiền chậm nộp

+ Trường hợp cá nhân, tổ chức tri trả thu nhập có hành vi không khai báo, đăng ký,

kê khai các cá nhân thuộc diện chịu thuế, không thực hiện khấu trừ phần thuế thu nhập thì ngoài việc bồi thường cho NSNN số thuế bị thất thoát còn bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo qui định của pháp luật hiện hành Số tiền thuế phải bồi thường và số tiền nộp phạt được lấy từ thu nhập của cá nhân, cơ quan chi trả thu nhập, từ tiền thù lao

đã được hưởng và không được tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp

+ Cá nhân, tổ chức không nộp thuế, nộp phạt theo thông báo hoặc quyết định

xử lý về thuế thì bị xử lý: trích tiền của tổ chức cá nhân có tại kho bạc, tổ chức tín dụng để nộp thuế, nộp phạt; kê biên tài sản theo quy định của pháp luật để đảm bảo

Trang 38

thu đủ tiền thuế tiền phạt còn thiếu

Thực hiện tất cả các biện pháp trên là nhằm mục tiêu đảm bảo thu đúng, thu đủ

số thuế cho ngân sách trên cơ sở đảm bảo công bằng, tuân thủ đúng pháp luật và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cá nhân, đơn vị, tổ chức có liên quan trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế

d) Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thu thuế thu nhập cá nhân Việc ứng dụng CNTT vào công tác quản lý thuế là việc thiết kế các chương trình, phần mềm tính theo các nội dung và trình tự của công tác quản lý thuế để thu nhận, tính toán, sử lý và cung cấp thông tin cần thiết cho công tác quản lý và việc áp dụng các phương tiện kỹ thuật để thực hiện các chương trình đã được thiết kế theo mục đích đã định sẵn

Việc ứng dụng CNTT trong quản lý thuế còn bao gồm việc thiết kế các chương trình phần mềm gắn với các qui định hiện hành của chính sách thuế giúp cho NNT

có thể thực hiện kê khai thuế nhanh chóng, chính xác, lưu trữ và xử lý thông tin đầy

đủ, kịp thời, nâng cao được hiện quả công tác chấp hành chính sách pháp luật thuế Ngoài ra, CNTT còn có thể được ứng dụng thông qua các kết nối mạng máy tính giữa CQT với các tổ chức, cá nhân nộp thuế và các đối tượng liên quan để tạo điều kiện cho NNT có thể truyền dữ liệu kê khai thuế cho CQT và CQT có thể nhận, lưu giữ, xử lý hồ sơ khai thuế và các nội dung quản lý khác một cách nhanh gọn, chính xác và hiệu quả cao

Như vậy việc ứng dụng CNTT vào công tác quản lý thuế chính là nhằm nâng cao hiệu suất và hiệu quả công tác quản lý thuế, nhờ vào tính năng ưu việt của máy tính và công nghệ tin học Máy tính và công nghệ tin học trở thành một công cụ hỗ trợ đắc lực cho CQT cũng như NNT và các đối tượng liên quan trong việc thực hiện các nộp dung của công tác quản lý thuế, công tác chấp hành pháp luật thuế Máy tính là công cụ lưu trữ liên quan đến NNT, cơ quan quản lý thu thuế và quá trình thực hiện thu nộp thuế Máy tính còn là công cụ để tính toán, tổng hợp thông tin, xử

lý dữ liệu liên quan đến đến các nội dung của quản lý thuế và thực hiện in ấn, soạn thảo văn bản, bảng biểu, quyết định, thông báo, báo cáo theo yêu cầu phù hợp với

Trang 39

công tác quản lý cụ thể Việc ứng dụng máy tính trong công tác quản lý thuế ở Việt Nam là một yêu cầu bức thiết trong điều kiện hiện nay Một mặt, nó giúp cho công tác quản lý thuế, công tác phát hành pháp luật thuế được nhanh chóng, thuận lợi, hiệu quả; mặt khác nó cho phép xem xét đối chiếu giữa các CQT, CQT với NNT, CQT với các cơ quan khác nhằm phát huy tốt nhất hiệu quả công tác của toàn bộ hệ thống cơ quan quản lý thuế ở nước ta

Việc ứng dụng CNTT trong quản lý thuế có các tác dụng cơ bản sau:

- Giúp cho việc thu nhận tính toán, xử lý và cung cấp thông tin một cách nhanh chóng, kịp thời và có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu quản lý

- Giúp cho việc lưu trữ, bảo quản các tài liệu, số liệu, các thông tin liên quan đến công tác quản lý của CQT và NNT được thuận lợi và an toàn nhất

- Tiết kiệm chi phí quản lý, nâng cao hiệu lực và hiệu quả của công tác quản lý thuế

- Tạo điều kiện hoàn thành tốt các nhiệm vụ của công chức thuế, NNT, đồng thời thực hiện tốt công tác báo cáo, thống kê, phân tích, đánh giá và công tác chỉ đạo của cơ quan quản lý thuế

1.2.3.4 Thanh tra, iểm tra thuế Thu nhập cá nhân

Đây là một nội dung quan trọng của công tác quản lý thuế TNCN Thanh, kiểm tra thuế TNCN được thực hiện bởi bộ phận cán bộ thuế chuyên ngành Đối tượng thanh, kiểm tra thuế là các tổ chức kinh tế và cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế TNCN cho Nhà nước và bao gồm cả các đơn vị thuộc ngành thuế

Mục tiêu thanh, kiểm tra thuế TNCN là phát hiện và xử lý các trường hợp sai trái nhằm giảm bớt những tổn thất cho Nhà nước và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Đồng thời cũng qua quá trình thanh, kiểm tra, cơ quan thuế có thể phát hiện những thiếu sót, bất cập trong văn bản pháp luật thuế và quá trình tổ chức thực hiện, từ

đó tìm ra những hướng giải quyết nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN Thanh, kiểm tra thuế TNCN được thực hiện dưới cá hình thức và phương pháp khác nhau

- Các hình thức thanh, iểm tra xét theo thời gian tiến hành thanh tra:

Trang 40

+ Hình thức thanh, kiểm tra thường xuyên được thực hiện mang tính định kỳ, không phụ thuộc vào việc có xảy ra vụ việc hay không trong các ĐTNT và các cơ quan quản lý thuế

+ Thanh, kiểm tra đột xuất là hình thức thanh, kiểm tra mang tính bất thường

và đối tượng thanh tra không được biết trước Hình thức này được tiến hành khi có những vụ việc xảy ra từ, kiểm phía các ĐTNT hoặc trong các cơ quan thuế để có biện pháp xử lý

- Các hình thức thanh, iểm tra xét theo ph m vi và nội dung:

+ Thanh, kiểm tra toàn diện: Được tiến hành với tất cả các nội dung thanh, kiểm tra thuế, hoặc với tất cả đối tượng thanh, kiểm tra Hình thức này thường được

áp dụng để phục vụ cho những nghiên cứu cải tiến lớn về hệ thống thuế

+ Thanh, kiểm tra có trọng điểm: Được tiến hành chỉ với một số nội dung, một

số đối tượng Người ta thường chọn ra các đối tượng điển hình và tổ chức thanh tra, kiểm từ đó rút ra các kết luận chung cho toàn hệ thống

Trên thực tế, người ta cũng có thể kết hợp cả hai hình thức này trong trường hợp cần thiết

1.2.4.1 Nhóm nhân tố hách quan

- Chính sách pháp luật của Nhà nước về hệ thống thuế, trong đó có Thuế TNCN

Quan điểm của các nhà Lãnh đạo có ảnh hưởng trước hết tới các chính sách thuế TNCN, sau đó là tới quá trình thực hiện và các công việc khác thuộc phạm vi quản lý sắc thuế này Pháp luật thể hiện quan điểm của giai cấp thống trị Luật thuế nói chung và Luật thuế TNCN nói riêng cũng không có ngoại lệ Một Nhà nước chú trọng công bằng hơn hiệu quả kinh tế sẽ có chính sách điều tiết mạnh vào người có

Ngày đăng: 05/01/2021, 10:53

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w