1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh thanh hóa theo chức danh

110 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đứng trước yêu cầu khắt khe về chất lượng đội ngũ công chức trong giai đoạn phát triển mới, công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức lại bộc lộ nhiều hạn chế như: việc xây dựng kế hoạch đào

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ ………/…… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

MAI THỊ HUỆ

ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC

CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, nội dung nghiên cứu là hoàn toàn chân thực và chƣa đƣợc công bố trong bất cứ công trình khoa học nào Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Tác giả

Mai Thị Huệ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với kiến thức tích lũy được trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại Học viện Hành chính Quốc gia cùng với sự quan tâm giúp đỡ tận tình của Ban Giám đốc Học viện, Khoa Sau đại học, Ban Đào tạo, cô giáo chủ nhiệm và các thầy cô giáo của học viện Đến nay, tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Quản lý công, với sự trân trọng tôi xin chân thành cảm ơn đến:

PGS.TS Lê Thị Vân Hạnh - công tác tại Học viện Hành chính Quốc gia,

người đã dành thời gian quý báu và tâm huyết hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Tôi cũng mong muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban Giám hiệu, các thầy cô, đồng nghiệp ở Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa, Sở Nội vụ tỉnh Thanh Hóa, trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện đã chia sẻ kiến thức, thảo luận, cung cấp tài liệu hướng dẫn, số liệu để giúp tôi hoàn thành tốt luận văn của mình

Xin cảm ơn sự hỗ trợ, động viên của bạn bè và gia đình trong quá trình tôi học tập cũng như thực hiện luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Mai Thị Huệ

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨC VÀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ THEO CHỨC DANH 9

1.1 Công chức và công chức cấp xã 9

1.1.1 Khái niệm công chức, công chức cấp xã 9

1.1.2 Vai trò cúa công chức cấp xã 11

1.1.3 Các chức danh công chức cấp xã 13

1.1.4 Đặc điểm hoạt động của công chức cấp xã 21

1.2 Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh 22

1.2.1 Đào tạo, bồi dưỡng 22

1.2.2 Đặc điểm đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh 24

1.2.3 Sự cần thiết phải đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh 29

1.2.4 Điều kiện để thực hiện đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh 31

1.3 Yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh 34

1.3.1 Mục tiêu đào tạo 34

1.3.2 Nguyên tắc đào tạo 34

1.3.3 Nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng 36

1.3.4 Phương thức đào tạo, bồi dưỡng 39

1.3.5 Cơ quan sử dụng công chức cấp xã và cơ sở đào tạo công chức cấp xã 40

1.3.6 Đội ngũ cán bộ, giảng viên 41

1.3.7 Cơ sở vật chất - kỹ thuật 43

Tiểu kết chương 1 44

Trang 7

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP

XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA THEO CHỨC DANH 45

2 1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa 45

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 45

2.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội 45

2.2 Thực trạng đội ngũ công chức cấp xã tỉnh Thanh Hóa 50

2.2.1 Số lượng 50

2.2.2 Chất lượng 52

2.3 Phân tích thực trạng bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh trên điạ bàn tỉnh Thanh Hóa 59

2.3.1 Về công tác tham mưu, phối hợp triển khai thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng 59

2.3.2.Về xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, biên soạn tài liệu bồi dưỡng 59

2.3.3 Về cơ sở đào tạo và đội ngũ giảng viên 60

2.3.4 Kết quả thực hiện 61

2.4 Đánh giá chung về đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh ở tỉnh Thanh Hóa 66

2.4.1 Những mặt đạt được 66

2.4.2 Những hạn chế, yếu kém 70

2.5 Nguyên nhân của những ưu điểm và những hạn chế, yếu kém trong đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh ở tỉnh Thanh Hóa 71

2.5.1 Nguyên nhân của những ưu điểm 71

2.5.2 Nguyên nhân của hạn chế: 72

2.6 Kinh nghiệm từ thực trạng đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh tại tỉnh Thanh Hóa 72

Tiểu kết chương 2 74

Trang 8

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH

HÓA THEO CHỨC DANH 75

3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh 75

3.2 Phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 79

3.3 Giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh trên địa bàn ở tỉnh Thanh Hóa 82

3.3.1 Giải pháp về nhận thức và phương hướng chung: 82

3.3.2 Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng 83

3.3.3 Đổi mới phương thức đào tạo, bồi dưỡng và phương pháp giảng dạy 85

3.3.4 Đổi mới công tác quản lý đào tạo 87

3.3.5 Xây dựng cơ sở vật chất nhà đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng 89

3.3.6 Nâng cao chất lượng công tác phối hợp trong đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã 89

Tiểu kết chương 3 95

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Cơ cấu giới tính, dân tộc công chức cấp xã 50

Bảng 2.2 Cơ cấu độ tuổi công chức cấp xã 51

Bảng 2.3 Trình độ chuyên môn nghiệp vụ 52

Chức danh 52

Bảng 2.4 Trình độ lý luận chính trị 54

Bảng 2.5 Trình độ quản lý hành chính nhà nước 55

Bảng 2.6 Trình độ ngoại ngữ và tiếng dân tộc 56

Bảng 2.7 Trình độ tin học công chức cấp xã 57

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cấp xã là đơn vị hành chính cấp cơ sở trong hệ thống chính quyền các cấp của nước ta, là hình ảnh của một xã hội thu nhỏ, các hoạt động trong đời sống xã hội đều diễn ra ở đó Vì vậy, cấp xã có vị trí rất quan trọng, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền với nhân dân, thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương theo thẩm quyền được phân cấp Hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trị nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực, chất lượng và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, công chức Để có một đội ngũ công chức cấp xã có chất lượng, đảm bảo “vừa hồng, vừa chuyên” hết lòng phụng sự nhân dân, giữ gìn đoàn kết ở cơ sở, tăng uy tín của Đảng và Nhà nước với nhân dân đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân đã đặt ra nhiều vấn đề lý luận, pháp lý cần phải giải đáp thấu đáo, có căn cứ khoa học và thực tiễn, thì vấn đề nâng cao chất lượng công chức cấp xã đã và đang đặt ra cho các nhà quản lý nhiều vấn đề cần xem xét

Chương trình Tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn

2011-2020 đã đề ra một trong 5 mục tiêu quan trọng đó là: “Xây dựng đội ngũ cán

bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước” [5] Trong các khâu của

công tác cán bộ từ tuyển dụng, bố trí sử dụng, nâng ngạch, đề bạt, bổ nhiệm, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá thì đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đóng vai trò rất quan trọng nhằm trang bị tri thức, văn hoá và trình độ chuyên môn làm cơ sở nâng cao hiệu quả thực thi công vụ

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là nhiệm vụ quan trọng nhằm

Trang 11

được giao trên nguyên tắc kết quả, hiệu quả và chất lượng Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức không chỉ nhằm đáp ứng những quy định về tiêu chuẩn cán bộ, ngạch bậc công chức, mà còn nhằm đáp ứng yêu cầu công việc theo chức vụ lãnh đạo, quản lý và vị trí việc làm của cán bộ, công chức

Hiện nay việc đào tạo, bồi dưỡng công chức còn có những bất cập trước

sự vận động và phát triển của thực tiễn Đào tạo, bồi dưỡng chung cho nhiều đối tượng công chức khác nhau về giới tính, dân tộc, độ tuổi, thế hệ, năng lực (trình độ nhận thức, học vấn) và môi trường (ngành nghề, điều kiện công tác) Hơn nữa, sự thay đổi công việc/công tác, thay đổi vị trí, làm cho người cán

bộ, công chức dù đã được đào tạo vẫn bộc lộ thiếu hụt những kiến thức, chuyên môn và kỹ năng cần thiết Tình trạng công chức làm việc không theo chuyên môn đào tạo còn khá phổ biến Chương trình, giáo trình, nội dung và chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cũng chưa thật phù hợp với yêu cầu thực tiễn của từng ngành, từng địa phương, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu từng vị trí việc làm của công chức Nội dung còn nặng về lý thuyết, ít tính ứng dụng, ít chú ý đến tính đặc thù của từng vị trí việc làm của công chức; ít chú ý bồi dưỡng về kỹ năng (năng lực/khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết/kiến thức/kinh nghiệm) nhằm tạo

ra kết quả mong muốn trong quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện, nhất là xử

lý những tình huống trong thực tiễn Do vậy, đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh cho đội ngũ công chức là góp phần bù đắp những thiếu hụt, bổ sung những tri thức lý luận và thực tiễn mới, sát hợp giúp công chức đáp ứng yêu cầu của hoạt động thực tiễn

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm việc đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh, theo đó, những cơ sở chính trị - pháp lý của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh từng bước được hoàn thiện Chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã từng bước tạo nên thể chế, cơ chế quản lý đối với lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng công

Trang 12

chức trong đó có bồi dưỡng chức danh Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa khóa XVII đã ban hành Nghị quyết 04-NQ/TU ngày 13/02/2012 về “Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán

bộ và đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ đáp ứng Thanh Hóa thành tỉnh tiên tiến vào năm 2020” Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, tiếp tục xác định xây dựng đội ngũ cán bộ là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của tỉnh

Để thực hiện nhiệm vụ chính trị đó, trước tiên chính quyền cần phải có nguồn cán bộ chất lượng trong thực thi công vụ, có thể cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước và chính sách của địa phương vào thực tiễn cuộc sống Đứng trước yêu cầu khắt khe về chất lượng đội ngũ công chức trong giai đoạn phát triển mới, công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức lại bộc lộ nhiều hạn chế như: việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng ở cấp chính quyền cơ sở chưa sát với thực tế; chọn cử người đi học chưa sát, đúng với yêu cầu của địa phương, năng lực thực hiện nhiệm vụ của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, về cơ sở vật chất, trang thiết

bị phục vụ, nội dung bồi dưỡng còn trùng lắp, việc đào tạo theo vị trí việc làm, chức danh chuyên môn còn nhiều bất cập

Qua quá trình nghiên cứu thực trạng đội ngũ công chức và thực trạng

công tác đào tạo, bồi dưỡng ở tỉnh Thanh Hóa, tôi xin lựa chọn đề tài “Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa theo chức danh” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ quản lý công

2 Tình hình nghiên cứu

Đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố có liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh, theo yêu cầu công việc, nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu, đánh giá và đưa ra các giải pháp toàn diện nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay

Trang 13

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh, theo đó, những cơ sở chính trị - pháp lý từng bước được hoàn thiện:

Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII ngày 18-6-1997 về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”; số 54- QĐ/TW Bộ Chính trị ra ngày 12-5-1999“Quy định về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng”; ngày 5-3-2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 18/2010/NĐ-CP “Về Đào tạo, bồi dưỡng công chức”, ngày 1-2-2013 ban hành Quy định số 164-QĐ/TW“Quy định về chế độ bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp” , Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI số 29-NQTW, ngày 4-11-2013 Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26-5-2014 của Bộ Chính trị Khóa XI về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ lãnh đạo, quản lý”; v.v Chính sách của

Đảng và Nhà nước về công tác ĐTBD cán bộ đã từng bước tạo nên thể chế,

hệ thống các chính sách và cơ chế quản lý đối với lĩnh vực ĐTBD cán bộ, trong đó có đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh; Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05-3-2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhấn

mạnh: "Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm nhằm trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm tốt công việc được giao"

Các công trình khoa học đã được công bố liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng công chức theo chức danh của các nhà quản lý và nhà khoa học đã đưa

ra những lý luận và thực tiễn khác nhau để giải quyết vấn đề này, có thể kể đến các công trình như:

- Nguyễn Ngọc Vân (2005), Nghiên cứu luận cứ khoa học và giải pháp thực hiện phân công, phân cấp đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh cán bộ, công chức nhà nước Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Nội vụ

Trang 14

- Ngô Thành Can, Đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực trong khu vực công, Nxb Lao động, 2014

- Cơ sở khoa học của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức hành chính theo nhu cầu công việc của TS Nguyễn Ngọc Vân (2007)

- Nguyễn Văn Cường: “Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu công việc”, Luận văn thạc sỹ (2014)

- Vũ Thị Duy: “Đào tạo, bồi dưỡng công chức xã huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định theo yêu cầu công việc, Luận văn thạc sỹ (2016)

- Tô Thị Anh: “đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã theo chức danh trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sỹ (2010)

- Tô Thị Linh: “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã theo tiêu chuẩn chức danh”, Luận văn thạc sỹ (2012)

- Đào Mĩ Duyên: “Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội theo chức danh chuyên môn”, Luận văn thạc sỹ (2015)

Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã nghiên cứu về chất lượng công chức, đào tạo bồi dưỡng công chức nói chung và đào tạo, bồi dưỡng công chức theo chức danh nói riêng Nhưng mỗi công trình đều có những góc nhìn mang màu sắc cá nhân của từng tác giả, cũng như phù hợp với đặc thù của từng địa phương Việc nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở tỉnh Thanh Hóa, cũng đã được các nhà nghiên cứu đánh giá Tuy nhiên việc đánh giá đặc thù công tác đào tạo, bồi dưỡng trên phạm vi toàn tỉnh thì chưa có công trình nào Chính vì thế, tác giả lựa chọn nghiên cứu

đề tài đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa theo chức danh nhằm góp phần bổ sung thêm lý luận và thực tiễn công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức của tỉnh Thanh Hóa Từ đó, xây dựng được những giải pháp đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức và nâng cao chất lượng

Trang 15

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp

xã theo chức danh chuyên môn nghiệp vụ trên địa bàn tỉnh tỉnh Thanh Hóa Bao gồm các công chức được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Theo quy định ở Khoản 3, Điều 61 Luật Cán bộ Công chức năm

2008, công chức cấp xã bao gồm các chức danh:

+ Văn hóa - Xã hội

Do đặc thù nghề nghiệp của chức danh trưởng công an xã và Chỉ huy trưởng quân sự nên trong phạm vi luận văn không nghiên cứu hai chức danh này

- Phạm vi không gian: cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

- Phạm vi thời gian: từ năm 2010-2015, định hướng nghiên cứu đến năm 2025

4 Mục đích và nhiệm vụ

4.1 Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận về đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Khảo sát thực tiễn một số vấn đề liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa và trên cơ sở đó, cung cấp những luận cứ, luận chứng khoa học cho việc đề xuất một số giải pháp góp phần đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp

xã của tỉnh Thanh Hóa

Trang 16

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp

Phương pháp tổng hợp được thực hiện nhằm thu thập thông tin, hệ thống các khái niệm và luận điểm, cơ sở lý thuyết về đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã từ các công trình nghiên cứu, các tài liệu của các tác giả

Luận văn cũng nghiên cứu các tài liệu là các văn bản pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật như luật, nghị quyết, nghị định, thông tư, kế hoạch, hướng dẫn…của các cơ quan Đảng và Nhà nước để làm căn cứ pháp lý cho việc phân tích các khái niệm liên quan đến đề tài Luận văn tổng hợp số liệu thống kê của Sở Nội vụ tỉnh Thanh Hóa, Trường Chính trị tỉnh, Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện…để cung cấp số liệu chính thức nhằm đánh giá thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã

- Phương pháp phân tích hệ thống: phương pháp này áp dụng để phân

Trang 17

- Phương pháp so sánh, đánh giá các kết quả đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã từ năm 2010-2015

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh, cung cấp những luận cứ khoa học giúp tỉnh Thanh Hóa thực hiện tốt hơn công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn hiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Từ những phân tích về thực trạng bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh, luận văn chỉ ra những điểm mạnh, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Trên cơ sở đó, đề xuất, kiến nghị giải pháp phù hợp để công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã đạt hiệu quả cao nhất

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh trên địa bàn tỉnh Thanh hóa

và các địa phương

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục Nội dung luận văn được thể hiện ở 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã theo

chức danh

Chương 2: Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa

bàn tỉnh Thanh Hóa

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng

công chức cấp xã theo chức danh trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨC VÀ ĐÀO TẠO,

BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ THEO CHỨC DANH

1.1 Công chức và công chức cấp xã

1.1.1 Khái niệm công chức, công chức cấp xã

Thuật ngữ công chức xuất hiện lần đầu tiên ở nước Anh năm 1859 song song với sự tồn tại và phát triển của chế độ công vụ Tuy nhiên cách hiểu về thuật ngữ này giữa các quốc gia có sự khác nhau Ở các nước như Anh, Thái Lan, Singapore… công chức được hiểu là những người làm công tác chuyên môn nghiệp vụ trong bộ máy hành chính của các bộ thuộc Chính phủ Như vậy, những đối tượng khác tuy làm việc ở Bộ nhưng không trực tiếp làm công tác chuyên môn nghiệp vụ theo chức năng quản lý của Bộ thì không phải là công chức và cũng theo quan niệm về công chức như vậy thì những người làm việc trong bộ máy của chính quyền địa phương cũng không phải là công chức Các nước như Nga, Trung Quốc, Ba Lan, Hungari… lại có cách hiểu về công chức không chỉ là những người thực hiện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ quản lý trong bộ máy hành chính của các bộ (trung ương) mà còn bao gồm cả những người làm công tác chuyên môn nghiệp vụ quản lý trong

bộ máy hành chính thuộc chính quyền của địa phương Khác với những quan niệm đã nêu trên, một số nước như Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha…xác định phạm vi công chức bao gồm cả những người thực thi công vụ tại các tổ chức cung ứng dịch vụ công hoặc cả ngành lập pháp, tư pháp

Ở Việt Nam khái niệm công chức đã được quy định từ rất sớm từ Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

về Quy chế công chức Công chức được hiểu là “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ

Trang 19

giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ thì được gọi là công chức, còn những người làm việc ở các cơ quan khác thì không Tuy nhiên, do hoàn cảnh kháng chiến những năm sau đó, tuy không có văn bản nào bãi bỏ Sắc lệnh 76/SL nhưng trên thực tế các quy chế đó về công chức không được

áp dụng Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30/4/1975, nước ta thực hiện chế độ cán bộ trên phạm vi cả nước, theo đó tất cả những người làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước, nông trường, lâm trường và lực lượng vũ trang đều được gọi chung bằng một cụm từ “cán bộ, công nhân viên nhà nước” Đến năm 1998, khi Pháp lệnh Cán bộ, công chức được ban hành, những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, đoàn thể được gọi chung trong một cụm từ là “ cán bộ, công chức” Lúc này việc xác định ai là công chức, ai là cán bộ vẫn chưa được nêu rõ và vẫn bao gồm

cả khu vực hành chính, khu vực sự nghiệp và các cơ quan của Đảng, đoàn thể Pháp lệnh Cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 đã tách riêng đối tượng công chức, viên chức và quy định về chế độ công chức dự bị Công chức là người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước; viên chức không đảm nhận những công việc chuyên môn và làm việc trong các đơn vị sự nghiệp

Cho đến năm 2008, thuật ngữ công chức được quy định chính thức trong Luật Cán bộ công chức số 22/2008/QH12, thông qua ngày 13/11/2008; tại khoản 2 điều 4 Luật Cán bộ công chức quy định công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong

cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị

sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị

Trang 20

- xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đám từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật Tại điều 2 Nghị định số 06/2010/NĐ-CP căn cứ xác định công chức công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này

Theo khoản 3 điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

1.1.2 Vai trò cúa công chức cấp xã

- Là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân

Cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong thực tế Mọi hoạt động của chính quyền cấp xã đều do cán bộ, công chức cấp xã thực hiện Do đó, cán bộ, công chức cấp xã là một bộ phận không thể thiếu trong đội ngũ cán bộ, công chức Công chức cấp xã luôn phát huy những vai trò của mình trong đời sống chính trị -

xã hội của đất nước, của địa phương

Đội ngũ công chức cấp xã có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng

và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành nhiệm vụ công vụ Công chức cấp xã trực tiếp gắn bó với quần chúng; tạo dựng phong trào cách mạng quần chúng Cơ sở xã, phường, thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và đội ngũ công chức cấp xã nói riêng Công chức cấp xã góp phần

Trang 21

nước Chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước

có được thực thi tốt hay không, có hiệu quả hay không hiệu quả một phần quyết định ở cấp xã

Cán bộ, công chức cấp xã là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân Cán bộ, công chức cấp xã là những người trực tiếp đem chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước giải thích cho dân chúng hiểu

rõ và thi hành; đồng thời nắm bắt tình hình triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước phản ánh cho Đảng và Nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho đúng và phù hợp với thực tiễn

- Vai trò trong quản lý và tổ chức công việc của chính quyền cơ sở Công chức cấp xã có vai trò quan trọng trong quản lý và tổ chức công việc của chính quyền cơ sở, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm lợi ích của nhân dân địa phương Tùy theo vị trí, chức danh của mình, mỗi người công chức cấp xã sẽ đảm nhận và thực hiện những nhiệm vụ nhất định Việc thực thi công vụ của họ có vai trò trực tiếp đảm bảo kỷ cương, pháp luật đi vào thực tiễn ở cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự xã hội, ngăn chặn các hành vi

vi phạm pháp luật Thông qua hoạt động của đội ngũ công chức cấp xã, nhân dân thể hiện được quyền làm chủ và trực tiếp thực hiện quyền tự quản của mình ở địa phương

Thực tiễn cho thấy rằng, nơi nào có được đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vững mạnh, đảm bảo chất lượng thì nơi ấy tình hình chính trị - xã hội

ổn định, kinh tế, văn hóa phát triển, quốc phòng, an ninh được giữ vững, cán

bộ, công chức được dân tin, mọi chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước được triển khai có kết quả Ngược lại, ở đâu đội ngũ công chức cấp xã không được quan tâm đúng mức, không đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, hách dịch, cửa quyền

Trang 22

với nhân dân thì ở đó kinh tế - xã hội kém phát triển, quyền lợi của nhân dân không được đảm bảo, đời sống - xã hội bất ổn vì bị kẻ xấu lợi dụng kích động chống phá chính quyền, gây rối trật tự xã hội

- Vai trò trong xây dựng, hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, hoạt động thi hành nhiệm vụ, công sở

Trước đây, do điều kiện lịch sử, kinh tế- xã hội nên chúng ta chưa đánh giá đúng vị trí, vai trò của lực lượng công chức cấp xã vì vậy chưa có sự quan tâm đúng mức đối với họ trên mọi phương diện Tuy nhiên, trong những năm qua và hiện nay, Đảng và Nhà nước đã có sự đổi mới về mặt nhận thức đối với lực lượng công chức cấp xã, đã đánh giá rất cao vai trò của họ trong sự nghiệp cách mạng nước ta Đó là sự thay đổi có ý nghĩa tích cực đối với việc xây dựng và hoàn thiện chính quyền cơ sở, nâng cao nhận chất lượng cán bộ, công chức cấp xã, góp phần vào sự thành công của sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

1.1.3 Các chức danh công chức cấp xã

Điểm 3 Điều 61 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định Công chức cấp xã là nhóm người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân xã Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ “Về chức danh số lượng một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã” và Quyết định số 04/2004/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004/QĐ-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường thị trấn

Công chức cấp xã đảm nhận các chức danh chuyên môn sau:

- Văn phòng - Thống kê

Công việc: Giúp UBND cấp xã xây dựng chương trình công tác, lịch làm việc và theo dõi thực hiện chương trình, lịch làm việc đó; tổng hợp báo

Trang 23

+ Giúp UBND dự thảo văn bản trình cấp có thẩm quyền; làm báo cáo gửi cấp trên

+ Quản lý công văn, sổ sách, giấy tờ, quản lý việc lập hồ sơ lưu trữ, biểu báo cáo thống kê; theo dõi biến động số lượng, chất lượng cán bộ, công chức cấp xã

+ Giúp HĐND tổ chức kỳ họp, giúp UBND tổ chức tiếp dân, tiếp khách, nhận đơn khiếu nại của nhân dân chuyển đến HĐND và UBND hoặc lên cấp trên có thẩm quyền giải quyết

+ Đảm bảo điều kiện vật chất phục vụ cho các kỳ họp của HĐND cho công việc của UBND

+ Giúp UBND về công tác thi đua khen thưởng ở xã, phường, thị trấn + Giúp HĐND và UBND thực hiện nghiệp vụ công tác bầu cử đại biểu HĐND và UBND theo quy định của pháp luật và công tác được giao

+ Nhận và trả kết quả trong giao dịch công việc giữa UBND với cơ quan, tổ chức và công dân theo cơ chế “một cửa”

Tiêu chuẩn:

+ Độ tuổi: không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu

+ Học vấn: tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng,

đô thị, tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi

+ Lý luận chính trị: sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên

+ Chuyên môn, nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp văn thư, lưu trữ hoặc trung cấp hành chính, trung cấp luật trở lên Với công chức đang công tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn về một trong các ngành chuyên môn trên; nếu mới được tuyển dụng lần đầu phải có trình độ trung cấp của một trong ba ngành chuyên môn trên Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng quản lý hành

Trang 24

chính nhà nước (nếu chưa qua trung cấp hành chính) Ở khu vực đồng bằng

và đô thị phải sử dụng được kỹ thuật tin học phục vụ công tác chuyên môn

- Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã)

+ Thẩm tra, lập văn bản để UBND cấp xã, UBND cấp trên quyết định

về giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đối với hộ gia đình và cá nhân và tổ chức thực hiện quyết định đó

+ Thu thập tài liệu, số liệu về số lượng đất đai; tham gia xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai; kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất đai đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

+ Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê đất đai theo thời gian và mẫu quy định

+ Bảo quản hồ sơ địa giới hành chính, bản đồ địa giới hành chính, bản

đồ chuyên ngành, sổ địa chính, sổ mục kê, sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ theo dõi biến động đất đai, số liệu thống kê, kiểm kê, quy hoạch -

kế hoạch sử dụng đất tại trụ sở UBND cấp xã, các mốc địa giới…

+ Tham mưu cho UBND cấp xã quản lý công tác xây dựng, giám sát về

kỹ thuật trong việc xây dựng các công trình phúc lợi ở địa phương

Trang 25

+ Tuyên truyền, giải thích, hòa giải tranh chấp về đất đai, tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo của dân về đất đai, để giúp UBND cấp có thẩm quyền giải quyết, thường xuyên kiểm tra nhằm phát hiện các trường hợp vi phạm đất đai để kiến nghị UNBD cấp xã xử lý

+ Phối hợp với cơ quan chuyên môn cấp trên trong việc đo đạc, lập bản

đồ địa chính, bản đồ địa giới hành chính, giải phóng mặt bằng

+ Tham gia tuyên truyền, phổ biến về chính sách pháp luật đất đai Tiêu chuẩn:

+ Học vấn: tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng

và đô thị, tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi

+ Lý luận chính trị: sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên

+ Chuyên môn nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp địa chính hoặc trung cấp xây dựng trở lên Với công chức đang công tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn địa chính hoặc xây dựng; nếu mới được tuyển dụng lần đầu phải có trình độ trung cấp địa chính hoặc xây dựng trở lên Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng về quản lý đất đai, đo đạc bản đồ, quản lý hành chính nhà nước, ở khu vực đồng bằng và đô thị phải sử dụng được kỹ thuật tin học trong công tác chuyên môn

- Tài chính - Kế toán

Công việc:

+ Xây dựng dự toán thu chi ngân sách trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, giúp UBND trong việc tổ chức dự toán thu, chi ngân sách, quyết toán ngân sách, kiểm tra hoạt động tài chính khác của xã

+ Thực hiện quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, tài sản công tại

xã, phường, thị trấn theo quy định

Trang 26

+ Tham mưu cho UBND trong khai thác nguồn thu, thực hiện các hoạt động tài chính ngân sách đúng quy định của pháp luật

+ Kiểm tra các hoạt động tài chính, ngân sách theo đúng quy định, tổ chức thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan tài chính cấp trên

+ Thực hiện chi tiền theo lệnh chuẩn chi; thực hiện theo quy định về quản lý tiền mặt và giao dịch đối với Kho bạc Nhà nước về xuất nhập quỹ

+ Báo cáo tài chính, ngân sách đúng quy định

Tiêu chuẩn:

+ Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng

và đô thị, tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi

+ Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính trị với trình độ tương đương sơ cấp trở lên

+ Chuyên môn nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp tài chính kế toán trở lên Với công chức đang công tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn tài chính- kế toán; nếu mới được tuyển dụng lần đầu phải có trình độ trung cấp tài chính - kế toán trở lên Phải qua bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước sau khi tuyển dụng, ở khu vực đồng bằng và đô thị phải sử dụng được kỹ thuật tin học trong công tác chuyên môn

- Tư pháp - Hộ tịch

Công việc:

+ Giúp UBND cấp xã soạn thảo, ban hành các văn bản quản lý theo quy định của pháp luật; giúp UBND cấp xã tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với dự án luật, pháp lệnh theo kế hoạch của UBND cấp xã và hướng dẫn của

cơ quan chuyên môn cấp trên; giúp UBND cấp xã phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân xã, phường, thị trấn

+ Giúp UBND cấp xã chỉ đạo cộng đồng dân cư tự quản xây dựng

Trang 27

chính sách theo quy định của pháp luật; quản lý tủ sách pháp luật; phối hợp hướng dẫn hoạt động đối với tổ hòa giải Phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng

tổ dân phố sơ kết, tổng kết công tác hòa giải, báo cáo với UBND cấp xã và cơ quan tư vấn cấp trên

+ Thực hiện việc đăng ký và quản lý hộ tịch theo các nhiệm vụ cụ thể được phân cấp quản lý và đúng thẩm quyền được giao

+ Thực hiện việc chứng thực theo thẩm quyền đối với các công việc thuộc nhiệm vụ được pháp luật quy định

+ Giúp UBND cấp xã thực hiện một số công việc về quốc tịch theo quy định của pháp luật

+ Quản lý hộ tịch tư pháp, thống kê tư pháp ở xã, phường, thị trấn + Giúp UBND cấp xã về công tác thi hành án theo nhiệm vụ cụ thể được phân cấp

+ Giúp UBND cấp xã trong việc phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan quyết định việc giáo dục tại xã, phường, thị trấn

+ Giúp UBND cấp xã thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm về quyền

sử dụng đất, bất động sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật

+ Chấp hành quy chế làm việc của cơ quan, các chế độ quản lý hồ sơ tài liệu, chế độ báo cáo công tác theo quy định

+ Thực hiện các nhiệm vụ tư pháp khác theo quy định của pháp luật Tiêu chuẩn:

+ Học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng

và đô thị; tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi

+ Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên

+ Chuyên môn nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp luật trở lên và phải qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ tư pháp cấp xã sau khi được tuyển dụng Với công chức đang công tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối

Trang 28

thiểu được bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ tư pháp cấp xã, nếu mới được tuyển dụng lần đầu phải có trfnh độ trung cấp luật trở lên Phải qua bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước sau khi được tuyển dụng Ở khu vực đồng bằng

và đô thị phải sử dụng được kỹ thuật tin học trong công tác chuyên môn

- Văn hóa - xã hội

Công việc:

+ Giúp UBND cấp xã trong việc thông tin tuyên truyền giáo dục về đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tình hình kinh tế-chính trị ở địa phương và đấu tranh chống âm mưu tuyên truyền phá hoại của địch; báo cáo thông tin về dư luận quần chúng về tình hình môi trường văn hóa ở địa phương lên chủ tịch UBND cấp xã

+ Giúp UBND trong việc tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, văn hóa văn nghệ quần chúng, các câu lạc bộ, lễ hội truyền thống, bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh ở địa phương, điểm vui chơi giải trí

và xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, ngăn chặn việc tuyên truyền tư tưởng phản động, đồi trụy dưới hình thức văn hóa, nghệ thuật và các

tệ nạn xã hội khác ở địa phương

+ Giúp UBND trong việc tổ chức vận động để xã hội hóa các nguồn lực nhằm xây dựng, phát triển sự nghiệp văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, bảo

vệ các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, các điểm vui chơi giải trí ở địa phương

+ Hướng dẫn, kiểm tra đối với tổ chức và công dân chấp hành pháp luật trong hoạt động văn hóa thông tin, thể dục thể thao

+ Lập chương trình, kế hoạch công tác văn hóa, văn nghệ, thông tin tuyên truyền, thể dục thể thao, công tác lao động, thương binh và xã hội trình UBND cấp xã và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch được phê duyệt

Trang 29

+ Thống kê dân số, lao động, tình hình việc làm, ngành nghề trên địa bàn; nắm số lượng và tình hình các đối tượng chính sách lao động- thương binh và xã hội

+ Hướng dẫn và nhận hồ sơ của người xin học nghề, tìm việc làm, người được hưởng chính sách ưu đãi, chính sách xã hội trình UBND xã giải quyết theo thẩm quyền

+ Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện chi trả trợ cấp cho người hưởng chính sách lao động, thương binh và xã hội

+ Phối hợp với các đoàn thể trong việc chăm sóc, giúp đỡ các đối tượng chính sách; quản lý các nghĩa trang liệt sỹ, công trình ghi công liệt sỹ và bảo trợ xã hội, việc nuôi dưỡng, chăm sóc các đối tượng xã hội ở cộng đồng

+ Theo dõi thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo

+ Giúp UBND cấp xã thực hiện sơ kết, tổng kết báo cáo công tác văn hóa, văn nghệ, thông tin tuyên truyền, thể dục thể thao, công tác lao động- thương binh và xã hội ở xã, phường, thị trấn

Tiêu chuẩn:

+ Độ tuổi: không quá 35 tuổi khi tuyển dụng lần đầu

+ Học vấn: tốt nghiệp trung học phổ thông đối với khu vực đồng bằng

và đô thị, tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên đối với khu vực miền núi

+ Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương ứng trình độ sơ cấp trở lên

+ Chuyên môn nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng phải đạt trung cấp về văn hóa nghệ thuật (chuyên ngành) hoặc trung cấp quản lý văn hóa- thông tin hoặc trung cấp nghiệp vụ lao động- thương binh vã xã hội trở lên Với công chức đang công tác trong khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn về một trong các ngành chuyên môn trên; nếu mới được tuyển dụng lần đầu thì phải có trình độ trng cấp trở lên về một tong các ngành chuyên môn nêu trên Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng

Trang 30

quản lý hành chính nhà nước và ngành chuyên môn còn thiếu liên quan đến nhiệm vụ được giao Sử dụng thành thạo các trang thiết bị phù hợp với ngành chuyên môn Ở khu vực đồng bằng và đô thị phải sử dụng được kỹ thuật tin học trong công tác

1.1.4 Đặc điểm hoạt động của công chức cấp xã

Công chức cấp xã có những đặc điểm cơ bản của đội ngũ cán bộ, công chức trong nền công vụ Việt Nam Tuy nhiên, do vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã nên đội ngũ công chức cấp xã có những đặc điểm mang tính đặc thù như sau:

- Thứ nhất, công chức cấp xã là người trực tiếp làm việc với người dân

Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều

do đội ngũ CBCC cấp xã phổ biến, triển khai để nhân dân hiểu rõ và thi hành

- Thứ hai, công chức cấp xã thường hội tụ đủ các vai trò khác nhau mà

họ phải thể hiện như: công dân; đồng hương, bà con, họ hàng; người đại diện của cộng đồng; đại diện cho Nhà nước Những vai trò này vừa có tính thống nhất vừa có tính mâu thuẫn, xung đột trong mỗi hoàn cảnh, ít nhiều có tác động, chi phối hoạt động công vụ của họ, nhất là trong việc giải quyết những vấn đề có liên quan đến mối quan hệ giữa các lợi ích cá nhân - cộng đồng - Nhà nước

- Thứ ba, hoạt động thực thi công vụ của công chức cấp xã mang tính

đa dạng, phức tạp Họ phải giải quyết tất cả các công việc trong đời sống xã hội ở địa phương, mang tính thường xuyên để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người dân

- Thứ tư, hiện nay trình độ của công chức cấp xã đã từng bước được

nâng lên Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập về trình độ văn hoá, nhận thức, năng lực thực thi công vụ, đặc biệt là công chức ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Trang 31

1.2 Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh

1.2.1 Đào tạo, bồi dưỡng

Theo Từ điển tiếng Việt do GS Hoàng Phê chủ biên, Đào tạo - đó là làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định; Còn Bồi dưỡng - đó là làm cho - 1) tăng thêm sức của cơ thể bằng chất bổ và - 2) tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất Theo Đại từ điển do GS Nguyễn Như Ý chủ biên, Đào tạo - đó là dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp; Còn Bồi dưỡng - đó là làm cho - 1) khỏe thêm, mạnh thêm và - 2) tốt hơn, giỏi hơn

Phân tích hai khái niệm, mặc dù có sự tương đồng nhất định (như đều

có phần nghĩa làm chỉ quá trình làm tốt hơn, lành mạnh hơn, chuyên nghiệp hơn cho khách thể), song đây là hai khái niệm không đồng nghĩa, khu biệt nhau bằng những nội hàm nghĩa rất cụ thể, mà trước hết, đó là sự khu biệt cơ bản về chất của cả một quá trình giáo dục Nếu như với đào tạo, thì đây là một quá trình dài, khép kín nhằm trang bị và xây dựng cho khách thể các tố chất

mà trước đó khách thể đó không có; Còn đối với bồi dưỡng thì đây chỉ là một giai đoạn ngắn, bổ trợ, nhằm bồi bổ thêm, làm tốt thêm và nâng cao hơn các

tố chất vốn đã có sẵn của khách thể

Trên thực tế, hiện nay có nhiều tranh luận, ý kiến khác nhau về khái niệm đào tạo, bồi dưỡng Song phần đông thống nhất theo cách hiểu “đào tạo, bồi dưỡng” là vừa thực hiện nhiệm vụ của giáo dục quốc dân để tổ chức đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học; vừa tổ chức cập nhật kiến thức, trang bị kỹ năng, phương pháp làm việc cho cán bộ, công chức

Theo PGS.TS Nguyễn Bá Dương “Đào tạo, bồi dưỡng là việc cung cấp bổ sung, cập nhật những kiến thức, kinh nghiệm cần thiết về một hay nhiều lĩnh vực cho những người có nhu cầu, nhiệm vụ cần học tập, tiếp thu để phục vụ cho một công việc, mục đích nào đó” [18]

Trang 32

Pháp luật Việt Nam quy định ở khoản 1 điều 5 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ban hành ngày 5/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi

dưỡng công chức thì đào tạo “ là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học” Khái niệm

“đào tạo” trong đào tạo công chức ở nước ta có những nội hàm khác biệt với khái niệm đào tạo thuần túy Bởi ngoài nghĩa đào tạo thông thường, nó còn có

ý nghĩa trang bị những kiến thức, kỹ năng mới mà trước đó có thể người công chức chưa được biết đến hoặc chưa được đào tạo Nó phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của từng chức danh, công việc mà người công chức đó đảm nhận

Theo Điều 5 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ban hành ngày 5/3/2010 của

Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức xác định: “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” Tuy nhiên,

đối với việc đào tạo cán bộ, công chức chúng ta không hiểu theo hai nghĩa tách biệt đào tạo và bồi dưỡng, mà được hiểu là “đào tạo, bồi dưỡng” với tính cách là một khâu của công tác cán bộ

Đào tạo được xác định như là quá trình làm biến đổi hành vi con người một cách có hệ thống thông qua việc học tập Việc học tập này có được là kết quả của việc giáo dục, hướng dẫn, phát triển, và lĩnh hội kinh nghiệm một cách có kế hoạch Theo định nghĩa của Uỷ ban Nhân lực của Anh, đào tạo,

bồi dưỡng cán bộ công chức được xác định như là: một quá trình có kế hoạch làm biến đổi thái độ, kiến thức hoặc kỹ năng thông qua việc học tập rèn luyện

để làm việc có hiệu quả trong một hoạt động hay trong một loạt các hoạt động nào đó Mục đích của nó, xét theo tình hình công tác ở tổ chức, là phát triển nâng cao năng lực cá nhân và đáp ứng nhu cầu nhân lực hiện tại và tương lai của cơ quan

Từ cách tiếp cận nêu trên, có thể khái quát “Đào tạo, bồi dưỡng công chức xã theo chức danh là trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc,

Trang 33

Với việc xác định trên, công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã gồm các yếu tố cấu thành sau:

- Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng

- Phương thức tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và phương pháp giảng dạy

- Công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng

- Đội ngũ cán bộ, giảng viên

- Các điều kiện để đảm bảo cho thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng Ngoài những yếu tố trên, trong quá trình thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng, cần phải có cơ chế chính sách đầy đủ, cơ chế vận hành và có sự tham gia quản lý, phối hợp của các cấp, các ngành, các địa phương… Đây là những yếu tố tác động vào quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Vì vậy, nghiên cứu

về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chúng ta cần phải nghiên cứu đồng thời các yếu tố cấu thành cũng như các yếu tố khách quan tác động vào quá trình thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Những yếu tố này tạo nên

sự gắn kết giữa công tác đào tạo, bồi dưỡng với các khâu khác của công tác cán bộ

Đào tạo, bồi dưỡng có vai trò quan trọng trong công tác cán bộ và có quan hệ mật thiết với công tác cán bộ khác Đó là sự tác động qua lại lẫn nhau, đào tạo, bồi dưỡng là điều kiện cần của các công tác cán bộ khác; ngược lại, các công tác cán bộ khác tạo điều kiện, tạo nguồn, cung cấp đối tượng, phản ánh chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng phục vụ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

Đào tạo, bồi dưỡng là công tác thường xuyên, đào tạo, bồi dưỡng đảm bảo chất lượng, số lượng sẽ là điều kiện cần để xây dựng đội ngũ cán bộ chất lượng

1.2.2 Đặc điểm đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh

Hiện nay công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Việt Nam chủ yếu là đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh hoặc đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch và đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu

Trang 34

Đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh chuyên môn là loại hình đào tạo căn

cứ vào vị trí công tác, yêu cầu nghiệp vụ cụ thể của từng đối tượng công chức, từng chức danh để xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo phù hợp

Chương trình bồi dưỡng theo chức danh là cung cấp kiến thức mang tính hệ thống cho học viên, cung cấp kỹ năng, bài tập xử lý tình huống trong thực tiễn, nhằm cập nhật những kiến thức mới về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nâng cao kỹ năng và phương pháp công tác; nâng cao trình độ, năng lực lãnh đạo, phẩm chất chính trị, đạo đức để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao

Cơ sở của việc xác định nội dung của chương trình bồi dưỡng theo chức danh là yêu cầu của thực tiễn địa phương, yêu cầu của người học (cần thiết/thiết thực); năng lực, trình độ của người học (phù hợp/có ích); thời gian, kinh phí (tiết kiệm/hiệu quả); khả năng (kiến thức, kinh nghiệm, năng lực tổ chức lớp/khóa học của cơ sở đào tạo, của giáo viên/giảng viên/báo cáo viên; tham khảo các chuyên gia, cán bộ lãnh đạo của các ban, ngành Trung ương, các cán bộ khoa học và thực tiễn có liên quan, v.v

Mỗi một chức danh công chức có các tiêu chuẩn và nhiệm vụ riêng Đào tạo, bồi dưỡng công chức theo chức danh bao gồm hai nhiệm vụ cơ bản:

Một là, đào tạo, bồi dưỡng nhằm đảm bảo các tiêu chuẩn chức danh của

công chức

Hai là, đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ

của công chức nhằm cung cấp cho công chức có kiến thức, kỹ năng, thái độ

để hoàn thành tốt nhất những nhiệm vụ chức danh mà mình đảm nhận

- Một số tiêu chí so sánh đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh chuyên môn với đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch đó là:

Trang 35

Các chỉ

số

so sánh

ĐTBD theo tiêu chuẩn ngạch

ĐTBD theo chức danh chuyên môn

Đối tượng Công chức phân theo

Trang bị năng lực theo yêu cầu vị trí

chức danh chuyên môn Thời gian Dài ngày (từ 2 tháng

trở lên)

Ngắn ngày, thông thường từ 5-7 ngày, một năm có thể có nhiều đợt Chương

trình, nội

dung

Những kiến thức, kỹ năng quy định cho từng ngạch

Những kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ

huống, đóng vai Giảng

viên

Cơ bản là giảng viên chuyên nghiệp Cơ bản là giảng viên kiêm chức Cách thức

tổ chức

Đại trà, mang tính chất

bắt buộc

Chọn theo lĩnh vực; đề cao tính tự giác, khuyến khích, tự nguyện; đào

tạo theo nhu cầu

Quy mô

lớp học

Lớp đông học viên, là những người đang giữ cùng ngạch

Lớp ít học viên, học viên là những người cùng lĩnh vực công tác

Quy trình Tự mãn, kết thúc sau

khi được đáp ứng

Liên tục cập nhật, học tập là quá trình

lâu dài Kinh phí Ngân sách nhà nước Sử dụng nhiều nguồn

Tổ chức

thực hiện Phân theo cấp Mang tính cạnh tranh

Quản lý theo phân cấp Cộng đồng trách nhiệm giữa đơn vị

quản lý và sử dụng cán bộ công chức

Trang 36

Sự khác nhau giữa hai loại hình đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh chuyên môn và theo tiêu chuẩn ngạch thể hiện ở những khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, điểm khác biệt lớn nhất giữa hai hình thức đào tạo, bồi

dưỡng là sự khác biệt về mục tiêu Chính sự khác biệt này đã chi phối tất cả các nội dung khác, trong đó cần đặc biệt lưu ý đến việc phân loại học viên và thiết kế nội dung chương trình Hình thức đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh đòi hỏi phải phân loại học viên theo lĩnh vực công tác Nội dung đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào yêu cầu lĩnh vực chuyên môn mà công chức đang làm việc Về cơ bản, nội dung chương trình phải trả lời được 3 câu hỏi: ở vị trí công việc đó người công chức phải làm những việc gì? Làm việc đó như thế nào? Cần có quan hệ phối hợp như thế nào để đạt chất lượng và hiệu quả công việc cao nhất

Thứ hai, hình thức đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch nhằm đáp

ứng yêu cầu của quản lý đối với người học đáp ứng tiêu chuẩn quy định Đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh chuyên môn là quá trình khắc phục sự chênh lệch giữa năng lực thực tế của mỗi công chức với yêu cầu mà vị trí công việc đặt ra Sự thiếu hụt này còn gọi là sự thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng, thái độ,

nó hoàn toàn phụ thuộc vào mỗi đối tường được đào tạo Mỗi cá nhân sẽ có

sự thiếu hụt khác nhau về kiến thức, kỹ năng, thái độ Chính vì vậy đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh chuyên môn không thể đào tạo đại trà, ít thay đổi,

tự triệt tiêu như theo tiêu chuẩn ngạch, mà sẽ có thiết kế riêng cho từng đối tượng dự học, dựa trên sự cá biệt hóa quá trình đào tạo Chính vì vậy, đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh chuyên môn luôn phát triển và đáp ứng nhu cầu phát triển

Thứ ba, các chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo ngạch bậc còn thiên

về lý thuyết, chưa quan tâm đúng mức cả về nội dung, thời lượng và phương pháp đối với chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng để thực thi công việc

Trang 37

thống cho học viên, cung cấp kỹ năng, bài tập xử lý tình huống trong thực tiễn, nhằm cập nhật những kiến thức mới về đường lối, chính sách của Đảng

và Nhà nước, nâng cao kỹ năng và phương pháp công tác; nâng cao trình độ, năng lực lãnh đạo, phẩm chất chính trị, đạo đức để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao Nội dung giáo trình đào tạo, bồi dưỡng theo ngạch bậc

do có nhiều đối tượng học khác nhau nên khó tìm ra phương pháp, giáo trình phù hợp cho nên hiệu quả đào tạo chưa cao Công chức tham gia vào khóa đào tạo chủ yếu là do yêu cầu duy trì hay chuyển ngạch chứ không phải mục đích nâng cao trình độ và năng lực Ngược lại,đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh là hình thức đào tạo xuất phát từ nhu cầu thực tế đang trở thành đòi hỏi cần thiết khách quan của cơ quan nhà nước và người công chức Cho nên công chức được chủ động trong lựa chọn nội dung, chương trình, cơ sở đào tạo và thời gian học tập phù hợp sát với thực tế Điều đó giúp cho cơ quan sử dụng công chức có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhân sự hàng năm Công chức tự lựa chọn việc học tập sẽ nâng cao tính tự giác và trách nhiệm trong học tập và thực thi nhiệm vụ, là cơ sở để cơ quan sử dụng công chức đánh giá đúng hơn năng lực thi hành công vụ Bên cạnh đó, cơ quan quản lý đào tạo giảm bớt phần việc đôn đốc công chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng, tập trung kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo bồi dưỡng hàng năm Thực hiện đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh còn giúp tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí đào tạo, bồi dưỡng

Thứ tư, về giảng viên và phương pháp bồi dưỡng Trên thực thế đào

tạo, bồi dưỡng theo chức danh nên mời các giảng viên kiêm chức tham gia hướng dẫn Đó là những người đã có kinh nghiệm thực tiễn trong việc thực hiện những công việc đó mới biết và chỉ dẫn cụ thể được phải làm việc đó như thế nào và làm sao để đạt hiệu quả cao nhất

Trang 38

1.2.3 Sự cần thiết phải đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh

Một là, xuất phát từ thực trạng đào tạo, bồi dưỡng theo cách truyền thống

Đào tạo công chức là giải pháp cơ bản để nâng cao năng lực làm việc của công chức đáp ứng các yêu cầu mới Trong thập kỷ qua, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức và dành nhiều sự quan tâm về chính sách, chế độ và kinh phí cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức Tuy nhiên, công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức vẫn còn nhiều bất cập Việc đào tạo, bồi dưỡng mới tập trung vào cung cấp các kiến thức lý thuyết đầu vào, mà chưa chú trọng đến việc chuyển giao và

áp dụng kiến thức đó trong thực tiễn Nói cách khác, việc đào tạo, bồi dưỡng được tiến hành không gắn với yêu cầu phát triển các năng lực cần có của công chức, vì vậy mà hiệu quả đào tạo còn rất hạn chế

Hiện nay, trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, càng khảo sát

kỹ, đi sâu vào các lĩnh vực càng thấy bộc lộ rõ mâu thuẫn giữa nhu cầu và khả năng Công việc cần giải quyết ngày càng nhiều, đa dạng và phức tạp hơn, căng thẳng hơn về áp lực thời gian và chất lượng thực thi công vụ Trong khi

đó, những gì được xem là năng lực của công chức thường được tích lũy từ trải nghiệm của bản thân hơn là thu hoạch được qua đào tạo, bồi dưỡng (dù kinh phí, công sức đầu tư cho công tác mở các loại hình đào tạo, bồi dưỡng công chức hoàn toàn không phải là nhỏ, nhưng kết quả thu về lại không cao; học nhiều nhưng chất lượng thực thi công vụ chưa thực sự nâng lên) Công tác đào tạo, bồi dưỡng thời gian qua còn lúng túng nhất là trong công tác quy hoạch, công tác đào tạo lại; chưa xây dựng được chương trình đào tạo công chức một cách khoa học, lâu dài; chưa có kế hoạch toàn diện; thiếu chủ động đào tạo mới, đào tạo lại số công chức đã qua đào tạo nên chưa đáp ứng được yêu cầu công việc; chưa xây dựng được kế hoạch đào tạo cho từng loại công

Trang 39

đầu ra, thậm chí còn tình trạng tự phát, dàn đều Vì vậy, còn tình trạng công chức phải học qua nhiều khoá đào tạo, tốn nhiều thời gian, kinh phí nhưng vẫn thiếu kiến thức chuyên môn và kỹ năng cần thiết cho công việc Hệ thống đào tạo còn nhiều bất cập cả về quy mô, nội dung, phương pháp và nhất là về chất lượng chưa đáp ứng kịp những nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao đối với cán

bộ, công chức Nội dung đào tạo còn dàn trải, chương trình còn nặng về lý thuyết, thiếu tính thực tiễn, kỹ năng thực hành không nhiều; phương pháp đào tạo theo kiểu truyền thống vẫn còn phổ biến, kinh nghiệm truyền đạt của giảng viên hạn chế dẫn đến người học nhàm chán Đó là nguyên nhân chính dẫn đến hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong những năm qua chưa hiệu quả

Hai là, đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã theo chức danh để thực

hiện thắng lợi mục tiêu chương trình cải cách hành chính nhà nước, hiện đại hóa nền hành chính nhà nước

Chương trình Tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn

2011-2020 đề ra mục tiêu đến năm 2011-2020:” xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ và năng lực thi hành công

vụ, phục vụ nhân dân và sự nghiệp phát triển đất nước” [5]

Cải cách hành chính là tiền đề, động lực phát triển kinh tế - xã hội, làm cho bộ máy Nhà nước trở nên gần dân hơn, khắc phục nhiều bất cập vốn có trong quá trình vận hành và phát triển Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước nói chung, của hệ thống hành chính nói riêng được quyết định bởi phẩm chất năng lực và kết quả công tác của đội ngũ công chức nhà nước Phẩm chất của đội ngũ công chức ngoài khả năng và tinh thần tự học tập, lại phụ thuộc rất nhiều vào công tác đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên kiến thức và kỹ năng thực hành cho họ Trong điều kiện đội ngũ công chức ở nước ta hiện nay đa

số chưa được chuẩn hoá theo tiêu chuẩn chức danh, chưa đáp ứng được đầy

đủ yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất

Trang 40

nước, xây dựng nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế; đặc biệt những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại

đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao nǎng suất lao động, làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia và làm thay đổi sâu sắc mọi mặt đời sống xã hội loài người, việc ứng dụng những thành tựu khoa học, công nghệ tin học để cải tiến, hiện đại hoá nền hành chính là yêu cầu, nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu phải thực hiện

Vì vậy, đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực cho công chức nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, hiện đại hóa nền hành chính nhà nước, đảm bảo xây dựng một nền hành chính công - một nền hành chính hướng đến phục vụ, một nền hành chính trong cơ chế thị trường phù hợp xu hướng toàn cầu hóa

Ba là, đào tạo, bồi dưỡng nhằm hoàn thiện nhân cách, xây dựng đội

ngũ công chức có “đức”, “tài” để phục vụ nhân dân, phụng sự tổ quốc

Đào tạo, bồi dưỡng công chức có ý nghĩa quan trọng, góp phần tích cực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, nhận thức chính trị, năng lực công tác, hướng tới mục tiêu là tạo được sự thay đổi về chất của người công chức Bồi dưỡng nâng cao trình độ, tiếp tục trang bị những kiến thức, kỹ năng, thái

độ phục vụ của công chức; trong đó, việc thường xuyên cung cấp những kiến thức thực tiễn, lý luận khoa học, trang bị kỹ năng, cách thức hoạt động thực thi công vụ…nhằm xây dựng được đội ngũ công chức thực sự có năng lực, biết giải quyết các vấn đề được giao trên nguyên tắc kết quả, hiệu quả và chất lượng; có tinh thần trách nhiệm và ý thức phục vụ nhân dân

1.2.4 Điều kiện để thực hiện đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh

Thứ nhất, xác định vị trí việc làm gắn với chức danh của công chức

Vị trí việc làm là một trong số những nguyên tắc quản lý cán bộ, công chức Điều 5 Luật cán bộ, công chức quy định về các nguyên tắc quản lý cán

Ngày đăng: 05/01/2021, 10:51

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w