1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu lựa chọn bài tập thể chất nâng cao khả năng chú ý có chủ định của trẻ (6 9 tuổi) chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ ở thành phố hồ chí minh TT

38 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu lựa chọn bài tập thể chấtnâng cao khả năng chú ý có chủ định của trẻ 6-9 tuổi chậm phát triển trí tuệ dạng nh

Trang 1

1

A GIỚI THIỆU LUẬN ÁN

1 PHẦN MỞ ĐẦU

Ở Việt Nam, có hơn 7 triệu người khuyết tật, trong đó có khoảng

3 triệu trẻ em khuyết tật Theo đó, số trẻ khuyết tật trí tuệ chiếm đông nhất (ước tính 27%) Đây cũng là nhóm trẻ gặp nhiều khó khăn nhất về nhận thức, hành vi thích ứng và khả năng hòa nhập xã hội Năm 2006, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 23/2006/QĐ-BGDĐT ngày 22/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc giáo dục dành cho người khuyết tật và tàn tật Đây là cơ

sở pháp lý trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục, chăm sóc đối với trẻ khuyết tật, trong đó có trẻ chậm phát triển trí tuệ (CPTTT).Trong các mức độ của trẻ CPTTT thì trẻ CPTTT dạng nhẹ chiếm đa số Khoảng 85% các em ở loại này Trẻ CPTTT dạng nhẹ

có thể đạt IQ từ 50-55 đến khoảng 70

Giáo dục sự phát triển chú ý cho trẻ CPTTT hiện nay chỉ được xem là một hoạt động gắn liền với hoạt động giáo dục phát triển các quá trình nhận thức khác như cảm giác - tri giác, tư duy… Do đó, để nâng cao khả năng CYCCĐ của trẻ và nhất là trẻ CPTTT cần có những hoạt động tích cực tác động đến đứa trẻ thông qua hoạt động giáo dục mà giáo dục thể chất có thể xem lại một phương thức tác động trực tiếp làm biến đổi căn bản hoạt động và các quá trình nhận thức của trẻ góp phần phát triển tư duy, duy trì sức khỏe

Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu lựa chọn bài tập thể chấtnâng cao khả năng chú ý

có chủ định của trẻ (6-9 tuổi) chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ ở thành phố Hồ Chí Minh”

Mục đích nghiên cứu

Lựa chọn bài tập thể chất(BTTC) nhằm nâng cao khả năng chú ý

có chủ định (CYCCĐ)và thể lựccủa trẻ 6-9 tuổi chậm phát triển trí

Trang 2

2 tuệ (CPTTT) dạng nhẹ ở một số trường chuyên biệt tại thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM)

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng khả năng CYCCĐ và thể lực

của trẻ 6-9 tuổi CPTTT dạng nhẹ ở một số trường chuyên biệt tại TPHCM

Mục tiêu 2: Nghiên cứu lựa chọn BTTC nâng cao khả năng

CYCCĐ của trẻ 6-9 tuổi CPTTT dạng nhẹ tại TPHCM

Mục tiêu 3: Đánh giá hiệu quả của BTTC đã lựa chọn trong việc

nâng cao khả năng CYCCĐ và sự phát triển thể lực của trẻ 6-9 tuổi CPTTT tại TPHCM

Giả thuyết khoa học của đề tài

Trẻ CPTTT dạng nhẹ là đối tượng khá đặc biệt, có nhiều hạn chế

về kĩ năng, ngôn ngữ, giao tiếp và đặc biệt là sự tập trung chú ý Do vậy, nếu sử dụng BTTC cho trẻ CPTTT dạng nhẹ tập luyện thì ngoài việc tăng cường sức khỏe, khả năng vận động còn giúp trẻ tập trung chú ý thông qua đó phát triển CYCCĐ Vì vậy, có thể nói BTTC có thể nâng cao khả năng CYCCĐ của trẻ 6-9 tuổi CPTTT dạng nhẹ

2 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

- Qua nghiên cứu, đề tài đã xác định được 04 thuộc tính với 17 tiêu chí để đánh giá thực trạng khả năng chú ý có chủ định và 06 test để đánh giá thể lực của trẻ chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ 6 - 9 tuổi ở TPHCM,

kết quả đều ở mức thấp và cận trung bình

- Đề tài đã lựa chọn 22 bài tập thể chất với 02 nhóm Nhóm 1 là bài tập thể dục (gồm các bài tập về kĩ năng vận động cơ bản và bài tập dạng mô phỏng hình ảnh gần gũi trong cuộc sống); Nhóm 2 là bài tập dạng trò chơi, đồng thời xây dựng được kế hoạch và tiến trình ứng dụng các bài tập vào thực tiễn để đánh giá hiệu quả của chúng

Trang 3

3 CẤU TRÚC LUẬN ÁN

Luận án được trình bày trong 151 trang bao gồm phần: Đặt vấn

đề (4 trang); Các nội dung của luận án: Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu (49 trang), Chương 2: Đối tượng, phương pháp và

tổ chức nghiên cứu (17 trang), Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận (79 trang), Phần kết luận và kiến nghị (2 trang) Trong luận

án có 34 bảng, 7 biểu đồ Ngoài ra, luận án đã sử dụng 90 tài liệu tham khảo trong đó có 62 tài liệu viết bằng tiếng Việt, 28 tài liệu tiếng Anh và 05 phụ lục

B NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm Đảng và Nhà nước về người khuyết tật

1.2 Cơ sở lý luận về nghiên cứu lựa chọn BTTC nâng cao khả năng CYCCĐ của trẻ 6-9 tuổi CPTTT dạng nhẹ

1.2.1 Lý luận về khả năng chú ý có chủ định

1.2.1.1 Khái niệm về khả năng chú ý có chủ định

Trang 4

4

Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn, “chú ý có chủ định” là loại chú ý

có mục đích tự giác, có biện pháp để hướng chú ý vào đối tượng, đòi hỏi một sự nỗ lực nhất định CYCCĐ không phụ thuộc vào đối tượng mới lạ hay quen thuộc, có cường độ kích thích mạnh hay yếu, hấp dẫn hay không hấp dẫn, mà tập trung vào đối tượng hay sự vật để tiến hành một hoạt động tương ứng theo một động cơ nhất định, bao gồm các hành động nhằm vào một mục đích nhất định

1.2.1.2 Đặc điểm của chú ý có chủ định

Từ định nghĩa về CYCCĐ, có thể khái quát một số đặc điểm của CYCCĐ gồm: tính mục đích, tính nỗ lực của ý chí và tính kế hoạch

1.2.2 Lý luận về trẻ chậm phát triển trí tuệ

1.2.2.1 Khái niệm trẻ chậm phát triển trí tuệ

Trẻ CPTTT là những trẻ có hoạt động trí tuệ dưới mức trung bình,

bị thiếu hụt hoặc khiếm khuyết ít nhất là hai trong số những hành vi thích ứng sau: giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, kĩ năng xã hội/ liên cá nhân, sử dụng tiện ích công cộng, tự định hướng, kĩ năng học đường chức năng, lao động, giải trí, sức khoẻ và an toàn; khuyết tật xuất hiện trước 18 tuổi

1.2.2.2 Phân loại mức độ trẻ chậm phát triển trí tuệ

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này khai thác, chúng tôi sử dụng phân loại trẻ CPTTT của DSM-IV DSM-IV sử dụng chỉ số trí tuệ - IQ làm tiêu chí để phân loại mức độ CPTTT Có bốn mức độ CPTTT là:

CPTTT nhẹ: chỉ số IQ từ 50-55 tới xấp xỉ 70;

CPTTT trung bình: chỉ số IQ từ 35-40 tới 50-55;

CPTTT nặng: chỉ số IQ từ 20-25 tới 35-40;

CPTTT rất nặng: chỉ số IQ dưới 20 hoặc 25

1.2.2.3 Đặc điểm của trẻ chậm phát triển trí tuệ dạng nhẹ

1.2.2.4 Khái niệm khả năng CYCCĐ của trẻ CPTTT dạng nhẹ

Trang 5

5

Khả năng CYCCĐ của trẻ CPTTT dạng nhẹ là sự chú ý có mục đích, có kế hoạch, có sự nỗ lực của ý thức nhằm thực hiện tốt một hoạt động nào đó đã được định ra từ trước mà không phụ thuộc vào

sự hấp dẫn, mới mẻ hay tính chất khác lạ của kích thích ở trẻ CPTTT

có chỉ số IQ từ 50-55 tới xấp xỉ 70

1.2.3 Lý luận về giáo dục thể chất và bài tập thể chất

1.2.3.1 Khái niệm giáo dục thể chất

Giáo dục thể chấttrong đề tài là loại hình giáo dục rèn luyện kĩ năng vận động, phát triển tố chất thể lực, nâng cao tri thức cũng như phát triển đời sống tình cảm cho học sinh bằng những BTTC đa

dạng

1.2.3.2 Khái niệm về bài tập thể chất

BTTC là yêu cầu, nhiệm vụ liên quan các hoạt động vận động chuyên biệt do con người sáng tạo nhằm phục vụ việc học tập, rèn luyện và tuân thủ các qui luật GDTC, đặc trưng của GDTC

Vai trò của bài tập thể chất với sự phát triển trí tuệ của trẻ CPTTT

Mối quan hệ giữa bài tập thể chất và khả năng CYCCĐ của trẻ CPTTT

Trẻ CPTTT gặp khó khăn trong các lĩnh vực vận động cảm giác, nhưng các em vẫn có khả năng thể hiện mình trong các vận động giải trí Chính vì vậy, các BTTC được lựa chọn và xây dựng nếu đáp ứng nhu cầu, hứng thú và thỏa mãn sự tò mò, sẽ là động cơ để trẻ tham gia

1.2.4 Lý luận về lựa chọn bài tập thể chất nâng cao khả năng chú

ý có chủ định của trẻ CPTTT dạng nhẹ

1.2.4.1 Khái niệm lựa chọn các bài tập thể chất nâng cao khả năng chú ý có chủ định của trẻ CPTTT dạng nhẹ

Trang 6

6 Lựa chọn BTTC là quá trình cân nhắc, quyết định những BTTC chuyên biệt, có chủ đích để phục vục việc học tập, rèn luyện nhằm phát huy sự nỗ lực của ý thức ở trẻ làm cơ sở để góp phần phát triển

Căn cứ vào thuộc tính của chú ý và đặc điểm về phân loại BTTC, chúng tôi định hướng lựa chọn BTTC nhằm nâng cao khả năng CYCCĐ của trẻ CPTTT theo ma trận sau:

Bảng 1.1 Ma trận định hướng lựa chọn BTTC nhằm nâng cao

khả năng chú ý có chủ định của trẻ CPTTT

Thuộc tính của

CYCCĐ

Hướng tiếp cận từ phân loại BTTC

Định hướng lựa chọn nội dung bài tập

Sự phân phối

của chú ý

Bài tập dạng trò chơi

tiếp cận để phát triển sự phân phối và sự di chuyển của chú ý

Trò chơi vận động (Từ đơn giản đến phức tạp theo hướng khắc phục các hạn chế về vận động của trẻ)

1.2.5 Vài nét về GDTC cho trẻ 6-9 tuổi CPTTT dạng nhẹ ở TPHCM: được trình bày cụ thể trong luận án

1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu về lựa chọn BTTC nâng cao khả năng chú ý có chủ định của trẻ 6-9 tuổi CPTTT

Trang 7

7

1.3.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về trẻ CPTTT, giáo dục thể chất cho trẻ CPTTT, lựa chọn BTTC nâng cao khả năng chú ý cho trẻ CPTTT

Trong nghiên cứu tổng quan, chúng tôi phân chia thành ba nhóm các công trình nghiên cứu liên quan:

Nhóm thứ nhất: Các nghiên cứu lý thuyết về đặc điểm tâm lý và

chú ý của trẻ CPTTT

Nhóm thứ hai: Các nghiên cứu về GDTC cho trẻ CPTTT

Nhóm thứ ba: Các nghiên cứu về sử dụng các biện pháp GDTC

nâng cao khả năng chú ý cho trẻ CPTTT

1.3.2 Các công trình nghiên cứu trong nước về trẻ CPTTT

Nhóm thứ nhất: Các nghiên cứu lý thuyết về chú ý của

trẻCPTTT

Nhóm thứ hai: Các nghiên cứu về GDTC cho trẻ CPTTT

Nhóm thứ ba: Các nghiên cứu về việc sử dụng BTTC nâng cao

khả năng chú ý cho trẻ CPTTT

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP

VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

BTTC nhằm nâng cao khả năng CYCCĐ của trẻ 6-9 tuổi CPTTT dạng nhẹ ở các trường chuyên biệt tại TPHCM

2.1.2 Khách thể nghiên cứu

Trẻ CPTTT dạng nhẹ từ 6-9 tuổi ở Trường Chuyên biệt Tương Lai Quận 5 và trường Hy Vọng Quận 8 tại TPHCM

Trong đó, số lượng nhóm TN (TN) (75) và nhóm ĐC (ĐC) (71) Khách thể phỏng vấn: 30 chuyên gia về GDTC, giáo viên Thể dục; 80 chuyên viên tâm lý và giáo viên làm công tác giáo dục trẻ CPTTT

Trang 8

8

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các mục tiêu đề ra, đề tài đã sử dụng 06 phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp tham khảo tài liệu; Phương pháp phỏng vấn; Phương pháp quan sát sư phạm; Phương pháp kiểm tra sư phạm; Phương pháp thực nghiệm sư phạm; Phương pháp toán thống

2.3 Tổ chức nghiên cứu

2.3.1 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài được tiến hành TNvà nghiên cứu tại: Trường chuyên biệt Tương Lai Quận 5, Trường Hy Vọng Quận 8; Viện khoa học Thể dục Thể thao, Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao TPHCM và Trường Đại học Sư phạm TPHCM

2.3.2 Kế hoạch nghiên cứu

Đề tài tiến hành từ tháng 01/2017 đến tháng 9/2019 Cụ thể: nghiên cứu thực trạng từ 9/2017 - 8/2018 và TN từ 9/2018 - 6/2019

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 3.1 Đánh giá thực trạng khả năng chú ý có chủ định và thể lực của trẻ 6-9 tuổi CPTTT dạng nhẹ ở TPHCM

3.1.1 Đánh giá thực trạng khả năng chú ý có chủ định của trẻ 6-9 tuổi CPTTT dạng nhẹ ở TPHCM

3.1.1.1 Lựa chọn các tiêu chí đánh giá khả năng chú ý có chủ định cho trẻ 6-9 tuổi CPTTT dạng nhẹ

Để lựa chọn các thuộc tính và tiêu chí để đánh giá chú ý của trẻ CPTTT dạng nhẹ, đề tài tiến hành phỏng vấn 80 GV đang dạy tại một số trường chuyên biệt Kết quả được thể hiện ở bảng 3.1.Kết quả này là cơ sở để đề tài đã lựa chọn 4 thuộc tính và 17 tiêu chí để đánh giá thực trạng khả năng CYCCĐ của trẻ 6-9 tuổi CPTTT dạng nhẹ ở các trường chuyên biệt Kết quả được thể hiện ở bảng 3.2

Trang 9

Bảng 3.2 Các tiêu chí của thuộc tính đánh giá khả năng CYCCĐ

2 Chỉ chú ý đến một hay một số đối tượng cần thiết

3 Khả năng chú ý không bị phân tán, bị nhiễu do

những kích thích khác không liên quan

5 Khả năng duy trì chú ý trên 3-5 phút

6 Khả năng duy trì chú ý trên 5-7 phút

7 Khả năng duy trì chú ý trên 7-10 phút

8 Khả năng duy trì chú ý trên 10 phút

15 Chú ý khi kết thúc giờ ra chơi bắt đầu vào học

16 Chú ý khi chuyển từ hoạt động vui chơi vào hoạt

động học

17 Chú ý khi chuyển từ hoạt động động sang hoạt

động tĩnh

Trang 10

Thực trạng sự tập trung chú ý của trẻ CPTTT dạng nhẹ được

khảo sát thông qua việc phát phiếu cho tất cả giáo viên theo 5 mức

độ ứng với 03 biểu hiện cụ thể.Số liệu ở bảng 3.3 cho thấy sự tập trung chú ý của trẻ ở mức độ thấp (2,48 điểm), trong đó từng thuộc tính của sức tập trung chú ý có mức độ khác nhau Số liệu cao nhất là khả năng chú ý vào một phạm vi hẹp (2,74 điểm), tiếp đến là chỉ chú

ý đến một hay một số đối tượng cần thiết (2.64 điểm), cả hai thuộc tính này thuộc mức độ trung bình Khả năng chú ý không bị phân tán,

bị nhiễu do những kích thích khác không liên quan có điểm số trung bình là (2.05 điểm) thuộc mức độ thấp

Thực trạng sự bền vững chú ý của trẻ CPTTT dạng nhẹ được

khảo sát thông qua việc phát phiếu cho tất cả giáo viên theo 5 mức

độ ứng với 05 biểu hiện cụ thể Kết quả thể hiện ở bảng 3.4 cho thấy , điểm trung bình sự bền vững chú ý là 2,15 ở mức thấp; cụ thể trong các biểu hiện thì khả năng duy trì trong thời gian từ 1-3 phút là có điểm số trung bình cao nhất (2,45 điểm), tiếp theo là khả năng duy trì chú ý từ trên 3-5 phút (2,25 điểm) và từ trên 5-7 phút (2,20 điểm); khả năng duy trì chú ý từ trên 7-10 phút và trên 10 phút điểm số trung bình rất thấp (1,91 điểm) Kết quả còn cho thấy sự bền vững chú ý có số điểm giảm dần theo thời gian

Trang 11

10

Thuộc tính bền vững chú ý là sự duy trì cường độ chú ý cần thiết trong một khoảng thời gian dài Tính bền vững của chú ý còn được hiểu là khả năng tập trung “tư tưởng” dài hay ngắn vào một phạm vi đối tượng của hoạt động Như kết quả trên, sự bền vững của chú ý giảm dần theo thời gian và trẻ CPTTT rất khó khăn lựa chọn những thông tin cần thiết, tập trung chú ý vào những thông tin đó và bỏ qua những kích thích không có liên quan.Đặc biệt, khả năng duy trì chú ý trong thời gian dài đối với một hay một số đối tượng nhất định không chuyển sang đối tượng khác của trẻ duy trì ở mức thấp (32,9%)

Thực trạng sự phân phối chú ý của trẻ CPTTT dạng nhẹ được

khảo sát thông qua việc phát phiếu cho tất cả giáo viên giảng dạy trẻ theo 5 mức độ ứng với 05 biểu hiện cụ thể kết quả thể hiện ở bảng 3.5 Kết quả thống kê ở bảng 3.5 cho thấy, sự phân phối chú ý của trẻ (6-9 tuổi) CPTTT dạng nhẹ có điểm trung bình chung là 2,21, ứng với mức thấp theo thang đo

Xem xét biểu hiện sự phân phối chú ý ở trẻ có thể thấy: Biểu hiện thành phần có điểm trung bình cao nhất trong thuộc tính này là khả năng cùng một lúc chú ý đầy đủ đến nhiều đối tượng một cách có chủ định là 2.36 điểm, cao nhất trong 5 biểu hiện sự phân phối chú ý của trẻ CPTTT dạng nhẹ, nhưng cũng chỉ ứng với mức thấp theo thang đo đã xác lập và thứ 2 là khả năng cùng một lúc chú ý đầy đủ đến nhiều hoạt động một cách có chủ định ĐTB=2,34.Hai biểu hiện tiếp theo các em có thể chú ý đến hai hoạt động cùng một lúc; các em

có thể chú ý đến ba hoạt động cùng một lúc và các em có thể chú ý nhiều hơn ba hoạt động cùng một lúc có ĐTB lần lượt là 2,23; 2,09

và 2,04, đều ứng với mức thấp

Mặc dù cả 5 biểu hiện về sự phân phối của chú ý đã phân tích đều

ở mức thấp, nhưng có thể nhận thấy 2 biểu hiện sự phân phối của chú

Trang 12

11

ý có tính chủ định có ĐTB cao hơn so với không có chủ định Kết quả này cho thấy, nếu được hướng dẫn và có yêu cầu rõ ràng thì trẻ 6-9 tuổi CPTTT dạng nhẹ vẫn có thể cùng một lúc chú ý đến nhiều đối tượng và nhiều hoạt động.Số liệu cũng cho thấy khoảng 67,10% - 70,50% trẻ phân phối chú ý ở mức Thấp và Trung bình với nhiều đối tượng và hoạt động khác nhau một cách có chủ định Trẻ phân phối

sự chú ý tốt nhất trên hai hoạt động và sự phân phối của chú ý tỉ lệ nghịch với số hoạt động diễn ra cùng lúc Trẻ chậm phát triển trí tuệ khó tập trung vào một đối tượng cụ thể nào đó, quá trình xử lí, nhận thức cảm tính của trẻ không thể diễn ra trơn tru như bao trẻ khác vì trẻ không thể hình dung, mã hóa được thông tin về đối tượng đó Vì vậy, trẻ CPTTT rất dễ bị phân tán chú ý

Điều này có thể rút ra nhận định rằng, GV nên hạn chế tối đa việc

sử dụng cùng lúc nhiều đối tượng hay hoạt động khi hướng dẫn trẻ trong giờ học, chỉ nên hướng dẫn từ bài tập một và sử dụng phương tiện trực quan thì cũng phải chú ý đặc điểm này để sử dụng từng phương tiện cho phù hợp với khả năng phân phối chú ý của trẻ

Thực trạng sự di chuyển chú ý của trẻ CPTTT dạng nhẹ được

khảo sát thông qua việc phát phiếu cho tất cả giáo viên theo 5 mức

độ ứng với 04 biểu hiện cụ thể và được thể hiện qua bảng 3.6 Điểm

trung bình chung sự di chuyển chú ý là 2,35 thuộc mức độ “thấp”

trong 5 mức đã được xác lập, như đã nói đây là một trong các thuộc tính khó thực hiện của chú ý, đòi hỏi các em phải có khả năng di chuyển chú ý từ hoạt động này sang hoạt động khác Điều này cho thấy đây là nội dung cần được quan tâm khi xây dựng biện pháp tác động để nâng cao khả năng chú ý cho trẻ CPTTT dạng nhẹ trong giờ học Sự di chuyển chú ý không mâu thuẫn với độ bền vững chú ý và cũng không phải phân tán chú ý vì nó được di chuyển từ đối tượng

Trang 13

12

này sang đối tượng khác một cách có ý thức và khi chuyển sang đối tượng chú ý mới thì chú ý lại được tập trung với cường độ cao Nhìn chung khi có hiệu lệnh và yêu cầu rõ ràng, sự di chuyển chú

ý của trẻ sẽ cao hơn so với không có hiệu lệnh và yêu cầu Không có

sự chênh lệch đáng kể khi có sự thay đổi giữa các yếu tố như giờ học

và hoạt động học Như vậy sự di chuyển chú ý của trẻ ổn định nhất trong các mặt biểu hiện của chú ý và GV có thể dễ dàng hơn trong việc cho trẻ nghỉ giải lao, hoặc từ việc trẻ đang tham gia các trò chơi

có thể yêu cầu di chuyển chú ý vào bài học

3.1.2 Đánh giá thực trạng thể lực của trẻ 6-9 tuổi CPTTT dạng nhẹ ở TPHCM

3.1.2.1 Lựa chọn các test đánh giá thực trạng thể lực của trẻ 6-9 tuổi CPTTT dạng nhẹ ở TPHCM

Khách thể nghiên cứu đề tài là 146 trẻ CPTTT dạng nhẹ 6-9 tuổi được chia ngẫu nhiên như sau:

dù ng để đánh giá thể lực của trẻ 6-9 tuổi CPTTT dạng nhẹ Và tiến hành phỏng vấn lựa chọn các test đánh giá tác động của các BTTC đã lựa chọn tới thể lực của trẻ 6-9 tuổi CPTTT dạng nhẹ các trường chuyên biệt ở TPHCM.Kết quả thể hiện ở bảng 3.7

Trang 14

Bảng 3.7 Kết quả kiểm định của 2 lần phỏng vấn để

chọn một số test đánh giá thể lực của trẻ 6-9 tuổi CPTTT

các trường chuyên biệt ở TPHCM

ý

Không đồng ý Đồng ý

Không đồng ý

8 Ngồi dẻo gập thân (cm) 25 5 23 7 0.39 > 0,05

9 Đứng dẻo gâ ̣p thân

Trang 15

(3) Ngồi dẻo gập thân (cm);

(4) Chạy con thoi 4x10m (s);

(5) Đứng thăng bằng trên 1 chân (s);

(6) Ném bóng trúng đích (quả)

Để kết quả được đánh giá khách quan, đối với tác động của các BTTC đã lựa chọn tới thể lực của trẻ 6 - 9 tuổi CPTTT dạng nhẹ, chúng tôi phân tích kết quả thể lực theo giới như sau:

Đề tài tính giá trị các tham số:

X

Trang 16

3 Ngồi dẻo gập thân (cm) -4,22 0,35 8,30 0,05

4 Chạy con thoi 4x10m(s) 21,17 1,19 5,62 0,05

3 Ngồi dẻo gập thân (cm) -5,39 0,45 8,43 0,05

4 Chạy con thoi 4x10m(s) 21,15 1,32 6,24 0,05

3 Ngồi dẻo gập thân (cm) -5,42 0,31 5,72 0,04

4 Chạy con thoi 4x10m(s) 21,11 1,18 5,57 0,04

3 Ngồi dẻo gập thân (cm) -7,39 0,33 -4,53 0,04

4 Chạy con thoi 4x10m(s) 20,46 1,21 5,91 0,04

Trang 17

Bảng 3.9 Thực trạng thể lực của trẻ nam 6-9 tuổi

3 Ngồi dẻo gập thân (cm) -3,64 0,60 16,40 0,04

4 Chạy con thoi 4x10m (s) 21,82 2,25 10,31 0,04

3 Ngồi dẻo gập thân (cm) -4,00 0,35 -8,81 0,05

4 Chạy con thoi 4x10m(s) 21,51 1,48 6,86 0,05

3 Ngồi dẻo gập thân (cm) -5,40 0,47 8,78 0,04

4 Chạy con thoi 4x10m(s) 21,03 1,55 7,38 0,04

3 Ngồi dẻo gập thân (cm) -6,36 0,44 6,85 0,04

4 Chạy con thoi 4x10m(s) 20,38 2,40 11,80 0,05

Trang 18

di chuyển chú ý (2,35 điểm) và đều được đánh giá ở mức “thấp”

Thực trạng sự tập trung chú ý: Khả năng chú ý không bị phân

tán, bị nhiễu do những kích thích khác không liên quan có ĐTB= 2,05 thuộc mức độ thấp Đây cũng là khả năng khó thực hiện nhất

đối với trẻ CPTTT vì các em dễ bị cuốn hút bởi các kích thích khác Thực trạng sự bền vững chú ý: Tính bền vững của chú ý giảm dần

theo thời gian, có thể nhận thấy sau 7 phút đã xuất hiện sự ổn định,

cụ thể trong 3-5 phút đầu tiên hầu hết trẻ duy trì được sự chú ý ở

mức Thấp (37,7%) và Trung bình (27,4%)

Thực trạng sự phân phối chú ý: Ở cả 5 biểu hiện về sự phân phối

của chú ý khi điều tra đều ở mức thấp, nhưng có thể nhận thấy sự phân phối của chú ý có tính chủ định cao hơn so với không có chủ định

Thực trạng sự di chuyển chú ý: Khi có hiệu lệnh/yêu cầu rõ ràng,

sự di chuyển chú ý của trẻ CPTTT sẽ cao hơn so với không có Không có sự chênh lệch đáng kể khi có sự thay đổi giữa các yếu tố

như giờ học và hoạt động học

Về đánh giá thể lực của trẻ 6-9 tuổi CPTTT dạng nhẹ các trường chuyên biệt ở TPHCM:

Với 06 test được lựa chọn để đánh giá sự phát triển thể lực của trẻ 6-9 tuổi CPTTT dạng nhẹ là phù hợp Giá trị trung bình tất cả các

Trang 19

Đề tài lựa chọn những BTTC theo hướng tác động quá trình tri giác đến trẻ CPTTT dạng nhẹ để làm hướng nghiên cứu của đề tài Bao gồm 02 nhóm: Nhóm bài tập thể dục và Nhóm bài tập trò chơi làm hướng nghiên cứu của đề tài

Qui trình việc lựa chọn ba ̀ i tập thể chất nhằm nâng cao khả năng CYCCĐ của trẻ 6-9 tuổi CPTTT dạng nhẹ

Bước 1: Căn cứ vào nguyên tắc đúng mục tiêu và nguyên tắc

hiệu quả, định hướng lựa chọn BTTC theo đặc điểm các thuộc tính của CYCCĐ và hướng tiếp cận phân loại BTTC đề tài đã xác lập để xác lập ma trận định hướng lựa chọn nội dung BTTC ở bảng 1.1

Bước 2: Thiết kế các BTTC theo các định hướng ở bước 1 trên

cơ sở tham khảo các nguồn tài liệu chuyên môn và các sáng kiến kinh nghiệm của GV giảng dạy tại các trường chuyên biệt

40 bài tâ ̣p theo nội dung và hình thức được trình bày ở bảng 3.10

Ngày đăng: 05/01/2021, 05:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w