Ngân hàng chính sách xã hội là một tổ chức tín dụng với hoạt động chủ yếu là phục vụ người nghèo và các chính sách kinh tế, chính trị và xã hội đặc biệt của mỗi quốc gia.. - Thúc đẩy phá
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN DUY LÂM
CHO VAY HỘ NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH
XÃ HỘI THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN MẠNH HÙNG
THỪA THIÊN HUẾ, năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
/
BỘ NỘI VỤ ./
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Học viên
Nguyễn Duy Lâm
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Mạnh Hùng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ Tôi xin chân thành cảm ơn Cơ sở Học viện Hành chính khu vực miền Trung
và quý thầy cô giáo ở Học viện Hành chính Quốc gia đã tạo điều kiện, giúp đỡ và tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, phòng kế hoạch - nghiệp vụ của Ngân hàng chính sách xã hội thị xã Hương Thủy đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu để nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Huế, tháng 06 năm 2017 Học viên
Nguyễn Duy Lâm
Trang 4iii
MỤC LỤC PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC ii
DANH MỤC VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC BIỂU ĐỒ x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 2
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 4
4 Đối tượng nghiên cứu 4
5 Phạm vi của đề tài 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Kết cấu luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 6
1.1 Tổng quan về ngân hàng chính sách xã hội 6
1.1.1 Khái niệm và bản chất của ngân hàng chính sách xã hội 6
1.1.1.1 Khái niệm 6
1.1.1.2 Bản chất 7
1.1.2 Chức năng và đặc điểm của ngân hàng chính sách xã hội 8
1.1.2.1 Chức năng 8
1.1.2.2 Đặc điểm 9
1.1.3 Các hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội 12
1.1.3.1 Các chương trình cho vay chủ yếu của ngân hàng chính sách xã hội 13
1.1.3.2 Các phương thức cho vay 14
1.2 Hoạt động cho vay hộ nghèo của ngân hàng chính sách xã hội 15
Trang 5iv
1.2.1 Khái quát về hộ nghèo 15
1.2.1.1 Khái niệm về hộ nghèo 15
1.2.1.2 Đặc điểm của hộ nghèo 17
1.2.1.3 Các quy định về chuẩn nghèo 18
1.2.2 Cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội 20
1.2.2.1 Khái niệm và đặc điểm về cho vay hộ nghèo 20
1.2.2.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hộ nghèo 21
1.2.2.3 Đối tượng cho vay hộ nghèo 23
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay hộ nghèo 24
1.3.1 Các tiêu chí đánh giá hoạt động cho vay hộ nghèo 24
1.3.1.1 Mức độ đáp ứng nhu cầu tiếp cận vốn ưu đãi đối với hộ nghèo 24
1.3.1.2 Tiêu chí đánh giá cho vay hộ nghèo về tác động xã hội 24
1.3.1.3 Các chỉ tiêu định tính 25
1.3.1.4 Các chỉ tiêu định lượng 26
1.3.2 Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay hộ nghèo của ngân hàng chính sách xã hội 27
1.3.2.1 Nhân tố bên ngoài 27
1.3.2.2 Nhân tố bên trong 29
1.4 Kinh nghiệm quốc tế về cho vay hộ nghèo và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 30
1.4.1 Kinh nghiệm của một số nước 30
1.4.1.1 Cho vay XĐGN của Ngân hàng Grameen (Bangladesh) 30
1.4.1.2 Cho vay xóa đói giảm nghèo của Ấn Độ 33
1.4.1.3 Cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế 36
1.4.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 38
1.4.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho thị xã Hương Thủy 39
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 41
Chương 2: THỰC TRẠNG CHO VAY HỘ NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG
Trang 6v
CHÍNH SÁCH XÃ HỘI THỊ XÃ HƯƠNG THỦY 42
2.1 Giới thiệu về ngân hàng chính sách xã hội thị xã Hương Thủy 42
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng chính sách xã hội thị xã Hương Thủy 42
2.1.2 Giới thiệu về môi trường hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội thị xã Hương Thủy 43
2.1.2.1 Các chương trình cho vay đang được thực hiện tại ngân hàng chính sách xã hội thị xã Hương Thủy 44
2.1.2.2 Cơ cấu, tổ chức, nhân sự 44
2.1.3 Kết quả hoạt động tại ngân hàng chính sách xã hội thị xã Hương Thủy trong giai đoạn 2014 - 2016 46
2.1.3.1 Tình hình lao động 46
2.1.3.2 Cơ cấu nguồn vốn 47
2.1.3.3 Công tác sử dụng vốn 49
2.1.3.4 Hoạt động tín dụng 51
2.1.3.5 Kết quả kinh doanh 53
2.2 Thực trạng cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội thị xã Hương Thủy 53
2.2.1 Những quy định về cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội 54
2.2.1.1 Mục đích cho vay 54
2.2.1.2 Đối tượng cho vay 54
2.2.1.3 Điều kiện vay vốn 54
2.2.1.4 Những hộ không được vay vốn 55
2.2.1.5 Mức cho vay 55
2.2.1.6 Thủ tục cho vay 55
2.2.1.7 Thời hạn và lãi suất cho vay 58
2.2.2 Thực trạng về cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội thị xã Hương Thủy 58
2.2.2.1 Công tác cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội thị xã Hương Thủy từ năm 2014 - 2016 59
Trang 7vi
2.2.2.2 Doanh số cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội thị xã Hương
Thủy năm 2014 - 2016 61
2.2.2.3 Doanh số thu nợ tại ngân hàng chính sách xã hội thị xã Hương Thủy năm 2014 - 2016 65
2.2.2.4 Dư nợ tại ngân hàng chính sách xã hội thị xã Hương Thủy từ năm 2014 - 2016 67
2.2.2.5 Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội thị xã Hương Thủy từ năm 2014 - 2016 70
2.2.2.6 Kết quả cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội thị xã Hương Thủy 71
2.2.3 Đánh giá thực trạng cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội thị xã Hương Thủy từ năm 2014 - 2016 73
2.2.3.1 Kết quả đạt được 73
2.2.3.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 77
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 82
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI THỊ XÃ HƯƠNG THỦY 83
3.1 Định hướng nâng cao chất lượng hoạt động cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội thị xã Hương Thủy 83
3.1.1 Những thuận lợi và khó khăn trong công tác cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội thị xã Hương thủy 83
3.1.1.1 Những thuận lợi 83
3.1.1.2 Những khó khăn 84
3.1.2 Định hướng nâng cao chất lượng hoạt động cho vay hộ nghèo trong thời gian tới của ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế 85
3.1.3 Định hướng nâng cao chất lượng hoạt động cho vay hộ nghèo trong thời gian tới của ngân hàng chính sách xã hội thị xã Hương Thuỷ 86
3.2 Giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách thị xã Hương Thủy 87
Trang 8vii
3.2.1 Giải pháp chung 87
3.2.1.1 Về cơ chế cho vay đối với hộ nghèo 87
3.2.1.2 Giải pháp nhằm giúp người nghèo sử dụng vốn vay có hiệu quả 89
3.2.2 Tăng trưởng nguồn vốn nhằm nâng cao hiệu quả cho vay hộ nghèo 89
3.2.2.1 Huy động vốn từ các ngân hàng thương mại nhà nước 89
3.2.2.2 Huy động tiền gửi tiết kiệm trong dân cư và trong cộng đồng người nghèo 90 3.2.2.3 Tập trung nguồn vốn ủy thác của Nhà nước, của các tổ chức tài chính trong và ngoài nước vào các hoạt động cho vay hộ nghèo 91
3.2.3 Giải pháp hoàn thiện cho vay hộ nghèo 91
3.2.3.1 Mở rộng hình thức cho vay 91
3.2.3.2 Tăng cường kiểm soát việc sử dụng vốn vay 92
3.2.3.3 Kết hợp cung ứng vốn tín dụng với công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và dạy nghề cho người nghèo 93
3.2.3.4 Phối hợp chặt chẽ hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội với hoạt động của các quỹ xóa đói giảm nghèo và chương trình kinh tế xã hội của từng địa phương 93
3.2.3.5 Mức cho vay, thời hạn cho vay linh hoạt theo dự án và đối tượng vay vốn ở từng vùng 95
3.2.3.6 Củng cố, hoàn thiện tổ vay vốn 95
3.2.3.7 Đẩy mạnh công tác đào tạo nhân sự 96
3.2.3.8 Ứng dụng công nghệ thông tin 97
3.3 Kiến nghị 97
3.3.1 Đối với Chính phủ 97
3.3.2 Đối với Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam 99
3.3.3 Đối với Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế 100
3.3.4 Đối với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương các cấp tại địa bàn thị xã Hương Thủy 100
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 102
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 9Tổ TK&VV : Tổ tiết kiệm và vay vốn
Trang 10Bảng 2.7 Doanh số cho vay hộ nghèo của từng xã, phường trên địa bàn thị xã Hương
Thuỷ qua 3 năm 2014 - 2016 62
Bảng 2.8 Doanh số cho vay hộ nghèo thông qua các hội, đoàn thể nhận uỷ thác từ
Bảng 2.13 Nợ quá hạn cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội thị xã
Hương Thủy trong thời gian 2014 - 2016 70
Trang 11Biểu đồ 2.3 Dư nợ cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội thị xã Hương
Thủy trong thời gian 2014 - 2016 71
Trang 121
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Sau hơn 30 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm đạt từ 7 - 8%, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, chính trị được giữ vững và ổn định Lĩnh vực XĐGN cũng đạt được nhiều thành tích nổi bật và được Liên Hợp Quốc đánh giá cao Tuy vậy, mặt trái của sự phát triển cũng ngày càng bức xúc, như khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng, sự tụt hậu ngày càng lớn giữa khu vực nông thôn so với thành thị, giữa miền núi so với đồng bằng, tình trạng thiếu việc làm nghiêm trọng, tình trạng ô nhiễm môi trường và lãng phí tài nguyên đất nước Hàng triệu hộ nghèo hiện nay ở Việt Nam, đặc biệt là hộ nghèo ở vùng sâu, vùng xa không được hưởng những thành quả của sự phát triển Họ đang bơ vơ, lạc lõng trước sự hội nhập toàn cầu và ánh sáng của thế giới văn minh Những yếu kém trên là nguyên nhân mất ổn định về chính trị - xã hội, là nỗi đau của một xã hội đang phấn đấu vì
lý tưởng dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng - dân chủ - văn minh
Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta cũng đã luôn quan tâm đến nhiệm vụ XĐGN Nghị quyết Quốc hội Việt Nam về nhiệm vụ năm
1993 đã đánh giá cao tinh thần cộng đồng, tương thân tương ái “trong nhân dân đã phát triển nhiều hoạt động từ thiện giúp đỡ nhau và phong trào xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa ” Sáng kiến của Thủ tướng Chính phủ được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lấy ngày 17 tháng 10 là ngày “Vì người nghèo”, đó cũng là ngày Liên Hợp Quốc chọn là ngày “Thế giới chống đói nghèo”
Đại hội VIII năm 1996 của Đảng đã xác định rõ XĐGN là một trong những chương trình phát triển kinh tế, xã hội vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài
và nhấn mạnh “phải thực hiện tốt chương trình XĐGN, nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc Xây dựng và phát triển quỹ XĐGN bằng nhiều nguồn vốn trong và ngoài nước; quản lý chặt chẽ, đầu tư đúng đối tượng và có hiệu quả” Chính phủ đã phê duyệt và triển khai chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN,
giai đoạn 1998 - 2000, giai đoạn 2001 - 2010, và chương trình mục tiêu quốc gia
Trang 13Trong lĩnh vực tín dụng cho người nghèo, năm 1996 đã thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo và đến năm 2003 được tách ra thành Ngân hàng chính sách xã hội với mục tiêu chủ yếu là cho vay ưu đãi hộ nghèo Sau 14 năm hoạt động, ngân hàng chính sách xã hội đã cho vay hàng chục ngàn tỷ đồng, cho hàng chục triệu lượt hộ nghèo và đã góp phần to lớn trong công cuộc XĐGN cho đất nước
Tuy nhiên, sự nghiệp XĐGN vẫn đang còn ở phía trước, với nhiệm vụ ngày càng khó khăn, phức tạp, trong đó, lĩnh vực tín dụng cho hộ nghèo gặp nhiều vấn đề vẫn đang bức xúc như: Quy mô tín dụng chưa lớn, hiệu quả XĐGN còn chưa cao, hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội chưa thực sự bền vững Những vấn đề trên là phức tạp, nhưng chưa có mô hình thực tiễn và chưa được nghiên cứu đầy đủ
Để giải quyết tốt vấn đề nghèo đói ở Việt Nam nói chung và tín dụng cho hộ nghèo nói riêng, đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách có hệ thống, khách quan và khoa học, phải có sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước cũng như toàn xã hội
Với những lý do nêu trên, tôi chọn đề tài luận văn: “Cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế”
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Hiện nay, đối với hoạt động cho vay của NHCSXH vẫn còn có một số mặt tồn tại, hạn chế cần phải được tiếp tục xem xét giải quyết Chính vì vậy đã có
Trang 143
nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về tín dụng tại NHCSXH
- Luận án Tiến sỹ “Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội” của tác giả Hà Thị Hạnh đã nhìn nhận rõ
hơn về mô hình tổ chức hoạt động cũng như cơ chế hoạt động của NHCSXH, bảo
vệ tại Đại học kinh tế quốc dân năm 2003 Tác giả đã tập trung nghiên cứu mô hình tố chức hoạt động phù hợp tại Việt nam, trên cơ sở tác giả đã tham khảo học hỏi kinh nghiệm của một số nước có mô hình Ngân hàng giống nước ta Nhưng vì đặc thù chính trị và bộ máy quản lý nhà nước khác nhau nên tác giả đã nghiên cứu hoàn thiện từ mô hình Ngân hàng người nghèo trước kia để mở rộng hơn nữa đáp ứng phục vụ nhân dân được tốt hơn
- Luận văn Thạc sỹ “Giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay tại chi nhánh ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Quảng Nam” của tác giả Lê Anh Trà, bảo vệ tại
Đại học Đà Nẵng năm 2008 Đề tài của tác giả Lê Anh Trà đã hệ thống hóa cơ sở
lý luận về Ngân hàng chính sách xã hội và hoạt động cho vay của ngân hàng chính sách xã hội Luận văn cũng đã nêu một số mô hình tổ chức của hoạt động cho vay
hộ nghèo trên thế giới Đề tài đã khảo sát, đánh giá và phân tích các hoạt động cho vay hộ nghèo theo từng chương trình tại chi nhánh ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Quảng Nam Trên cơ sở đó, đề tài đã nêu các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay tại chi nhánh ngân hàng chính sách xã hội Quảng Nam Nhiều nội dung lý luận đã được tác giả làm rõ các giải pháp có tính khả thi cao Tuy nhiên, nội dung của đề tài đề cập đến tất cả các hoạt động cho vay của ngân hàng chính sách xã hội nên bao quát một phạm vi khá rộng
- Luận văn Thạc sỹ “ Nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Ninh Bình” của tác giả Đỗ Ngọc Tân (2012) Luận văn
đã trình bày một cách tổng quát những vấn đề lý luận về hộ nghèo, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Ninh Bình Điểm hạn chế chung trong luận văn là chưa xác định được nhóm chỉ tiêu định lượng ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng hộ
Trang 15 Nhiệm vụ
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về cho vay đối với hộ nghèo tại
ngân hàng chính sách xã hội
- Thực tiễn cho thấy chính sách ưu đãi hộ nghèo có hiệu quả thiết thực, góp phần
ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, khẳng định chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước và chương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo
4 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung phân tích, đánh giá hoạt động cho vay của NHCSXH thị
xã Hương Thủy với đối tượng vay vốn là hộ nghèo, đây là đối tượng phục vụ của ngân hàng phục vụ người nghèo trước đây và hiện nay là ngân hàng chính sách xã hội
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Tác giả sử dụng phương pháp là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Trang 165
Luận văn sử dụng phương pháp điều tra, phương pháp tổng hợp, chứng minh, diễn giải, sơ đồ, thống kê, phân tích hoạt động kinh tế và xử lý hệ thống trong trình bày luận văn
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các một số tài liệu kèm theo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về hoạt động cho vay hộ nghèo của ngân hàng chính sách xã hội
Chương 2: Thực trạng cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội thị
xã Hương Thủy
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội thị xã Hương Thủy
Trang 176
Chương 1:
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ NGHÈO
CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1.1 Tổng quan về ngân hàng chính sách xã hội
1.1.1 Khái niệm và bản chất của ngân hàng chính sách xã hội
1.1.1.1 Khái niệm
Ngân hàng thương mại (NHTM) ra đời, tồn tại và phát triển với mục đích huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để cho vay trên nguyên tắc bù đắp chi phí hoạt động và có lãi Bởi vì là một hoạt động kiếm lời, nên NHTM có những quy định để bảo vệ lợi ích kinh tế cho mình, dẫn đến không phải ai cần vốn cũng đều được NHTM cho vay, đặc biệt là những người nghèo, những người không đủ điều kiện tín dụng đảm bảo Vì thế người nghèo luôn phải sống trong vòng lẩn quẩn “thu nhập thấp, tiết kiệm thấp, đầu tư thấp, thu nhập thấp hơn”
Theo thống kê của Liên Hợp Quốc một nữa dân số thế giới sống với mức thu nhập dưới 2 USD/ngày, trong đó có khoảng 1 tỉ người đang phải sống trong cảnh nghèo đói Điều đó cho thấy nghèo đói luôn là vấn nạn lớn của toàn cầu, và mục tiêu xoá đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội luôn là mục tiêu hàng đầu mà các quốc gia muốn thực hiện
Từ những nhu cầu khách quan đó, vào những năm 70, các nước trên thế giới
đã bắt đầu nảy ra một ý tưởng về một mô hình tín dụng cung cấp vốn cho người nghèo Tuỳ vào lịch sử hình thành và mục đích hoạt động, mà ở mỗi quốc gia có những cách gọi khác nhau cho loại hình tín dụng này Nhưng ta có thể hiểu theo nghĩa chung và rộng nhất, đó là các ngân hàng chính sách xã hội
Ngân hàng chính sách xã hội là một tổ chức tín dụng với hoạt động chủ yếu là phục vụ người nghèo và các chính sách kinh tế, chính trị và xã hội đặc biệt của mỗi quốc gia Mục tiêu chính của các ngân hàng chính sách xã hội không phải là lợi nhuận trong kinh doanh mà là hỗ trợ tối đa về vốn cho các đối tượng trên Chính vì thế, NHCSXH không phải là một NHTM và không đáp ứng các tiêu chí về kinh doanh thương mại
Trang 187
Dựa vào tính chất của đối tượng vay, hoạt động cho vay của NHCSXH có thể phân thành 3 loại:
- Cho vay xoá đói giảm nghèo
- Cho vay hỗ trợ các chính sách xã hội, giáo dục, y tế
- Cho vay các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ hoặc không đủ điều kiện vay thông thường hoặc với các điều kiện ưu đãi
Dựa vào nguồn gốc thành lập, NHCSXH được chia làm 2 loại: sở hữu tư nhân
do tư nhân thành lập, kiểm soát và hoạt động, sở hữu nhà nước do nhà nước thành lập, kiểm soát và hoạt động Từ chỗ nguồn gốc thành lập, mà các hoạt động cho vay của các NHCSXH cũng bị ảnh hưởng nhiều
Vai trò của ngân hàng chính sách xã hội:
- Tạo nguồn vốn thoát nghèo cho người nghèo, góp phần thực hiện xoá đói giảm nghèo, công bằng xã hội
- Thúc đẩy phát triển kinh tế ở các khu vực sản xuất, các doanh nghiệp cần sự
Nền kinh tế thị trường trong quá trình phát triển tuy phù hợp nhưng cũng có những mặt trái của nó như sự phân hóa giàu nghèo, sự thiếu cân bằng trong đầu tư… Nền kinh tế thị trường sẽ tồn tại những ngành hàng, những khu vực, đối tượng khách hàng có sức cạnh tranh kém, không đủ các điều kiện để tiếp cận với dịch vụ tín dụng của các ngân hàng thương mại như các ngành hàng mang tính lợi ích công cộng, những khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện thời tiết khắc nghiệt, chi phí đầu tư cao, rủi ro lớn, do đó các Ngân hàng thương mại rất ít đầu tư vào khu vực này, mặt khác nhiều hộ dân, tổ chức kinh tế ở vùng này thiếu vốn
Trang 198
nhưng không đủ các điều kiện để vay vốn các Ngân hàng thương mại Tuỳ điều kiện
và quan điểm của mỗi quốc gia, Chính phủ sẽ thiết lập các kênh tín dụng hoặc các ngân hàng chuyên biệt để thực hiện chính sách cho vay các nhóm đối tượng này Như vậy, các khoản tín dụng chính sách là các khoản cho vay chỉ định để hổ trợ các chính sách kinh tế và ngành công nghiệp của Chính phủ Đây là việc cho vay phi thương mại đối với các hoạt động mà không đáp ứng các tiêu chí thương mại nhưng lại
có tác động xã hội và chính trị quan trọng trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia Các ngân hàng được thiết lập để chuyên thực hiện tín dụng chính sách của Chính phủ được gọi là loại hình ngân hàng chính sách
Các mô hình phổ biến trên thế giới về việc hình thành các ngân hàng chính sách thường bao gồm hai loại hình chính:
- Ngân hàng chính sách phục vụ chính sách phát triển kinh tế theo định hướng của Chính phủ, thường được gọi là Ngân hàng phát triển
- Ngân hàng chính sách phục vụ các chính sách xã hội của Nhà nước thường được gọi là Ngân hàng chính sách xã hội
1.1.2 Chức năng và đặc điểm của ngân hàng chính sách xã hội
1.1.2.1 Chức năng
Hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội không vì mục đích lợi nhuận Sự
ra đời của NHCSXH có vai trò rất quan trọng, là cầu nối đưa chính sách ưu đãi của Chính phủ đến với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận được các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các
hộ nghèo, hộ chính sách có điều kiện gần gũi với các cơ quan công quyền địa phương, giúp các cơ quan này gần dân và hiểu dân hơn
Ngân hàng chính sách xã hội được thành lập để thực hiện chính sách tín dụng
ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác
Hoạt động của NHCSXH không vì mục đích lợi nhuận, được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước
Trang 209
Ngân hàng chính sách xã hội được thực hiện các nghiệp vụ: huy động vốn, cho vay, thanh toán, ngân quỹ và được nhận vốn uỷ thác cho vay ưu đãi của chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội, các hiệp hội, các hội, các
tổ chức phi Chính phủ, các cá nhân trong và ngoài nước đầu tư cho các chương trình dự án phát triển kinh tế xã hội
Ngân hàng chính sách xã hội là một trong những công cụ đòn bẩy kinh tế của Nhà nước nhằm giúp hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tượng chính sách có điều kiện tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống, vươn lên thoát nghèo, góp phần thực hiện chính sách phát triển kinh tế gắn liền với xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, vì mục tiêu dân giàu - nước mạnh - dân chủ - công bằng - văn minh
1.1.2.2 Đặc điểm
Về mô hình tổ chức
Ngân hàng chính sách xã hội là một loại hình Ngân hàng đặc thù, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, do đó mô hình tổ chức của nó cũng có những đặc điểm riêng Đối tượng phục vụ của Ngân hàng chính sách xã hội là những khách hàng do Chính phủ chỉ định theo chính sách từng thời kỳ Đây là những khách hàng không
có điều kiện tiếp cận với các tổ chức tín dụng thông thường; nói cách khác là các khách hàng phi thương mại không đủ điều kiện vay vốn của các Ngân hàng thương mại Loại hình Ngân hàng chính sách xã hội chủ yếu là Ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước, sử dụng một phần nguồn tài chính của Nhà nước tham gia hỗ trợ cho các ngành, các khu vực Vì vậy, mô hình tổ chức quản lý của loại hình Ngân hàng này phải có sự hiện diện của một số cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan để tham gia quản trị Ngân hàng, hoạch định các chính sách tạo lập nguồn vốn, chính sách đầu tư đối với các khu vực, các đối tượng trong từng thời kỳ cho Ngân hàng Chính sách xã hội
- Tại cấp Trung ương: Hội đồng quản trị Ngân hàng chính sách xã hội, ngoài những thành viên chuyên trách, còn có các thành viên kiêm nhiệm là đại diện có thẩm quyền của các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội
- Tại địa phương: Bên cạnh bộ phận tác nghiệp chuyên trách của Ngân hàng
Trang 21 Về cơ chế hoạt động
Khách hàng của Ngân hàng chính sách xã hội phần lớn là những đối tượng hầu như không thể tiếp cận được với vốn tín dụng thông thường của các Ngân hàng thương mại Do đó khả năng sinh lời từ hoạt động cho vay những đối tượng khách hàng này của Ngân hàng chính sách xã hội là rất thấp, thậm chí không thể có được Chính vì lẽ đó, Ngân hàng chính sách xã hội thường hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà mục tiêu hoạt động của Ngân hàng chính sách xã hội là nhằm xoá đói giảm nghèo:
- Đối với khu vực kinh tế nông thôn: hỗ trợ kinh tế hộ gia đình từng bước cải thiện cuộc sống
- Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hợp tác xã, các cơ sở sản xuất kinh doanh của người tàn tật: cho vay để tạo việc làm
- Đối với các tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh thuộc những khu vực kinh tế kém phát triển, vùng sâu, vùng xa: cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống
- Đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn: cho vay trang trải các chi phí học tập
Đây là điểm khác biệt rõ nét đối với hoạt động của các Ngân hàng thương mại Hoạt động của Ngân hàng thương mại là kinh doanh tiền tệ, ngân hàng tồn tại và phát triển vì tạo ra một mức chênh lệch dương giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động Lợi nhuận được hình thành từ nghiệp vụ này Trong hoạt động của mình, các ngân hàng thương mại luôn quan tâm tới lợi nhuận, tạo sức cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường đối với tất cả các dịch vụ mà Ngân hàng thương mại cung ứng
Trang 2211
Ngân hàng chính sách xã hội thực hiện cho vay các đối tượng khách hàng, các
dự án phát triển, các đối tượng đầu tư theo chỉ định của Chính phủ
Đối tượng khách hàng của ngân hàng chính sách xã hội có thể là: hộ gia đình nghèo, hộ sản xuất, doanh nghiệp vừa và nhỏ ở vùng nghèo và các đối tượng thụ hưởng chính sách xã hội khác Đây là những khách hàng rất ít có các điều kiện để tiếp cận với dịch vụ tín dụng của các NHTM, là các khách hàng dễ bị tổn thương, cần có sự hỗ trợ tài chính từ Chính phủ và cộng đồng để vươn lên tự cải thiện điều kiện sống của chính họ
Trong khi hoạt động đặc trưng của các Ngân hàng thương mại là “đi vay” để
cho vay, hay nói cách khác là đi huy động các nguồn vốn nhàn rỗi để cho vay đáp ứng nhu cầu vốn cho sự phát triển kinh tế thì nguồn vốn của Ngân hàng Chính sách
xã hội lại được tạo lập chủ yếu từ Ngân sách Nhà nước theo các hình thức như:
- Cấp vốn điều lệ và hàng năm được Ngân sách Trung ương, địa phương cấp
để thực hiện các chương trình tín dụng cho các đối tượng chính sách theo vùng, theo đối tượng
- Nguồn vốn ODA dành cho chương trình tín dụng chính sách của Chính phủ
- Nguồn vốn của Chính phủ vay dân dưới các hình thức phát hành trái phiếu, công trái hoặc từ Quỹ tiết kiệm bưu điện của Chính phủ để chỉ định thực hiện chương trình tín dụng chính sách
- Nguồn vốn huy động vốn trên thị trường, tuy nhiên, khối lượng nguồn vốn huy động phụ thuộc vào khối lượng và kế hoạch cấp bù từ Ngân sách Nhà nước
Do đặc điểm cơ cấu nguồn vốn có nguồn gốc hoặc phụ thuộc vào Ngân sách Nhà nước nên khối lượng nguồn vốn của ngân hàng chính sách xã hội tăng trưởng xác định theo kế hoạch được Chính phủ phê duyệt
Xuất phát từ đặc thù về đối tượng khách hàng vay vốn thường là những đối tượng dễ bị tổn thương, gặp khó khăn, sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế kém
Trang 2312
phát triển, ít có điều kiện tiếp cận với dịch vụ tín dụng của các Ngân hàng thương mại… nên Ngân hàng chính sách xã hội cũng có những đặc thù về sử dụng vốn như:
- Món cho vay nhỏ, chi phí quản lý cao
- Vốn tín dụng đầu tư mang tính rủi ro cao, chẳng hạn các hộ gia đình nghèo thiếu vốn sản xuất, chủ yếu sống ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơi môi trường thiên nhiên bị tàn phá, thường xuyên xảy ra bão lụt, hạn hán Mặt khác, bản thân họ dân trí thấp, thiếu kiến thức làm ăn, trong sản xuất kinh doanh dễ bị thua lỗ
Vì vậy, việc sử dụng vốn tín dụng dễ gặp rủi ro
- Các quy định về đảm bảo tiền vay, các quy trình về thẩm định dự án, các thủ tục và quy trình vay vốn, quy định mức đầu tư tối đa, thời hạn vay vốn, quy định về trích lập và xử lý rủi ro, quy trình xử lý nghiệp vụ có những khác biệt so với các quy định của Ngân hàng thương mại
- Thực thi các chính sách tín dụng có ưu đãi như: ưu đãi về các điều kiện vay vốn, ưu đãi về lãi suất cho vay…
- Thường áp dụng phương thức giải ngân uỷ thác qua các tổ chức trung gian như: các tổ chức tín dụng, các tổ chức chính trị - xã hội…
1.1.3 Các hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội
Huy động vốn: Là một ngân hàng, NHCSXH phải huy động vốn để cho vay Ngoài vốn tự có Nhà nước cấp phần lớn các ngân hàng phải huy động từ các nguồn khác Yêu cầu đặt ra là các ngân hàng phải mở rộng quy mô huy động và phải tìm được những nguồn vốn có lãi suất thấp
- NHCSXH phải huy động tiết kiệm với mặt bằng chung của các NHTM trên địa bàn Quy mô huy động phụ thuộc vào lãi suất và các dịch vụ đi kèm Địa bàn cho vay chủ yếu ở vùng khó khăn, nghèo đói, trong khi muốn huy động được tiết kiệm nhiều NHCSXH phải phát triển mạng lưới ở đô thị, mở rộng mạng lưới sẽ làm gia tăng chi phí Hơn nữa là ngân hàng chuyên doanh, NHCSXH không thể cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích như NHTM Những yếu tố trên cho thấy sự khó khăn của NHCSXH trong việc huy động và tăng trưởng nguồn vốn
- Huy động tiền gửi của các tổ chức: Tiền gửi của các tổ chức kinh tế chính trị
Trang 2413
xã hội luôn gắn với nhu cầu thanh toán tức thời Điều này yêu cầu tổ chức huy động phải có khả năng thực hiên thanh toán trên phạm vi trong và ngoài nước, phải đảm bảo khả năng thanh toán nhanh NHCSXH không có được lợi thế này
- Nguồn đóng góp của các tổ chức và cá nhân từ thiện: Rất nhiều tổ chức và các nhân muốn hỗ trợ người nghèo Thông qua ngân hàng chính sách xã hội, số tiền
hỗ trợ được quay vòng nhiều lần và có hiệu quả Tuy nhiên quy mô nguồn này không lớn
- Nguồn cho vay ưu đãi của Chính phủ và các tổ chức tài chính: Những khoản ngân sách cho các chương trình tín dụng của Nhà nước phù hợp với mục tiêu xóa đói giảm nghèo và sẽ được chuyển cho NHCSXH
- Tài trợ của các Chính phủ và tổ chức tài chính quốc tế: Một số nguồn tài trợ của Chính phủ các nước cho chương trình xóa đói giảm nghèo, cải thiện vệ sinh môi trường
Cho vay ưu đãi: Cho vay với lãi suất thấp và không có tài sản đảm bảo phản ánh tính đặc trưng của NHCSXH Rủi ro trong cho vay rất cao do năng lực tài chính của người vay thấp hoặc không có, điều kiện làm ăn không thuận lợi Cho vay với lãi suất thấp một mặt hỗ trợ tài chính cho người nghèo, mặt khác tăng gánh nặng ngân hàng và làm “lệch lạc” thị trường tín dụng nông thôn
Thu hồi gốc và lãi: Việc xem xét tính hiệu quả của phương án làm ăn của người nghèo là thách thức đối với NHCSXH, có rất ít căn cứ để đánh giá hiệu quả tài chính của phương án vay vốn, cán bộ không đủ để phân tích và thẩm định nên khả năng mất vốn là rất lớn Trong nhiều trường hợp cơ sở kinh tế để cho vay và để thu hồi vốn chủ yếu là xét duyệt của chính quyền địa phương
1.1.3.1 Các chương trình cho vay chủ yếu của ngân hàng chính sách xã hội
- Chương trình cho vay các thành viên xóa đói giảm nghèo
- Cho vay tài chính để thúc đẩy phát triển nông nghiệp
- Chương trình cho vay điện thoại nông thôn
- Cho vay học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn
- Cho vay chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường
- Cho vay giải quyết việc làm
Trang 2514
- Cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn
1.1.3.2 Các phương thức cho vay
Cho vay trực tiếp
Là phương thức cho vay thực hiện trong thời kỳ đầu, khi chưa xây dựng được mạng lưới trung gian chuyển tải vốn Vốn vay được chuyển giao trực tiếp từ ngân hàng tới hộ nghèo thông qua các tổ tiết kiệm và vay vốn Tổ vay vốn ở đây bao gồm tất cả các loại tổ nhóm đang tồn tại và hoạt động với nhiều tên gọi khác nhau như:
Tổ tiết kiệm và vay vốn, Tổ tương trợ, Tổ tín chấp…
Tổ TK&VV vay vốn là hình thức tập hợp các hộ gia đình nghèo có nhu cầu vay vốn, được thành lập trên cơ sở tự nguyện của các hộ gia đình nghèo cư trú trên một địa bàn hành chính, có nhu cầu vay vốn để sản xuất kinh doanh, tương trợ giúp đỡ lẩn nhau trong sản xuất và đời sống, cũng như chịu trách nhiệm liên đới trong việc vay vốn và trả nợ ngân hàng Phương thức này gặp nhiều khó khăn trong việc tổ chức cho vay và quản lý tín dụng, mặt khác hoạt động của các tổ chức vay vốn nhiều nơi còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao
Ủy thác từng phần
Là phương thức cho vay hộ nghèo thông qua các tổ chức tín dụng, tổ chức chính trị - xã hội Với phương thức cho vay này, vốn vay không được chuyển trực tiếp từ ngân hàng đến người nghèo mà chuyển từ ngân hàng đến các tổ chức tín dụng, tổ chức chính trị nhận ủy thác, và các tổ chức này có trách nhiệm chuyển giao vốn tới tay các hộ nghèo Các tổ chức chính trị - xã hội làm nhiệm vụ ủy thác cho NHCSXH có nhiệm vụ là cầu nối giữa Nhà nước với nhân dân, thông qua tổ chức thành lập và chỉ đạo hoạt động của các Tổ tiết kiệm và vay vốn tại cơ sở, có điều kiện trực tiếp làm dịch vụ ủy thác tín dụng đến khách hàng Các tổ chức chính trị -
xã hội như: Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên, đã tận dụng được bộ máy của các tổ chức này với hàng vạn người, tiết kiệm đáng kể chi phí quản lý, tạo điều kiện lồng ghép có hiệu quả chương trình tín dụng với các chương trình văn hóa, xã hội Phương thức cho vay qua ủy thác mang lại hiệu quả cao, tiết kiệm là do:
Trang 26- Việc quản lý vốn được thực hiện hiệu quả và bảo đảm hơn Về cơ bản quy trình cho vay ủy thác qua các tổ chức hội cũng đầy đủ các bước như quy trình cho vay trực tiếp, tuy nhiên có sự tham gia của đại diện các tổ chức hội ở mỗi bước giúp ngân hàng trong việc thẩm định, giải ngân cũng như giám sát vốn vay được sử dụng hiệu quả và đảm bảo không làm mất vốn cũng như sử dụng vốn không đúng mục đích
1.2 Hoạt động cho vay hộ nghèo của ngân hàng chính sách xã hội
1.2.1 Khái quát về hộ nghèo
1.2.1.1 Khái niệm về hộ nghèo
Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á
- Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Thái Lan năm 1993, các quốc gia trong
khu vực đã thống nhất cao cho rằng "Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận" [3, trang 122]
Khái niệm nghèo đói này bao gồm 3 khía cạnh:
- Nhu cầu cơ bản của con người bao gồm ăn ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội
- Nghèo thay đổi theo thời gian: Thước đo nghèo khổ sẽ thay đổi theo thời
gian, khi kinh tế càng phát triển thì nhu cầu cơ bản của con người cũng sẽ thay đổi theo xu hướng ngày một cao hơn
- Nghèo thay đổi theo không gian: Thông qua định nghĩa này cũng chỉ cho
chúng ta thấy sẽ không có chuẩn nghèo chung cho tất cả nước, vì nó phụ thuộc vào
Trang 2716
sự phát triển kinh tế - xã hội và các yếu tố văn hoá của từng quốc gia, từng vùng
Tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo
như sau: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại" [3, trang 125]
Trong “Báo cáo về tình hình phát triển thế giới - tấn công đói nghèo, năm 2000”, Ngân hàng Thế giới (WB) thừa nhận quan điểm truyền thống hiện nay về đói nghèo đói nghèo "không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất (được do lường theo một khái niệm thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng) mà còn là sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế”[6, trang 20] báo cáo đã mở rộng quan điểm về đói
nghèo khi tính đến cả nguy cơ dễ bị tổn thương, dễ bị rủi ro của người nghèo Báo
cáo nêu bật "nghèo có nghĩa là không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường” Báo cáo chỉ ra "người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự biểu hiện bất lợi nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ Họ thường bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt
ra rìa và không có tiếng nói quyền lực trong các thể chế đó” [6, trang 22]
Để đánh giá rõ hơn mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành 2 loại nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối
+ Nghèo tuyệt đối là số tiền cần thiết để mua một số lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng với lượng 2.100 - 2.300 calo/người/ngày Mức nghèo tuyệt đối là thước đo dễ lượng hóa để mô tả tình trạng đói nghèo
Mức nghèo tuyệt đối có phương pháp tính toán riêng nên ranh giới nghèo tuyệt đối được xác lập cụ thể Ngược lại, ranh giới của nghèo tương đối rất khó xác định bởi không có một tiêu chuẩn chung áp dụng Nó phụ thuộc chủ yếu vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia và mức độ quan tâm, điều chỉnh của chính quốc gia đó
+ Khái niệm nghèo tương đối được Robert Mc Namara - nguyên Tổng giám đốc WB định nghĩa: "Nghèo ở mức độ tương đối là sống ở ranh giới ngoài cùng
Trang 2817
của tồn tại Những người nghèo tương đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt qua sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta"
Như vậy, nghèo tương đối không chỉ bao hàm mức thu nhập và tiêu dùng thấp
mà còn bao gồm cả mức hưởng thụ thấp về giáo dục, y tế và các lĩnh vực khác của
sự phát triển con người Trong những hoàn cảnh nhất định, họ không có tiếng nói chính trị, thậm chí còn bị tẩy chay sống biệt lập với xã hội
Các quan niệm về nghèo đói nêu trên phản ánh 3 khía cạnh của người nghèo:
- Không được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người
- Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư
- Thiếu cơ hội lựa chọn, tham gia trong quá trình phát triển cộng đồng
Một cách chung nhất thì nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư vì những
lý do nào đó không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu mà xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của chính xã hội
đó Biểu hiện của việc không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản đó, là tình trạng thiếu ăn, thiếu nước sinh hoạt, suy dinh dưỡng, mù chữ, bệnh tật, môi trường suy thoái, tuổi thọ trung bình thấp, ít được tiếp cận với các dịch vụ xã hội
1.2.1.2 Đặc điểm của hộ nghèo
Nghèo đói xuất hiện ở những hộ có thu nhập thấp và bấp bênh, thu nhập của
bộ phận lớn dân cư nằm ở khu vực giáp ranh nghèo, vì vậy chỉ điều chỉnh nhỏ về chuẩn nghèo cũng có thể làm cho tỷ lệ nghèo tăng lên
Nghèo đói tập trung ở các vùng có có điều kiện sống khó khăn, tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn, khí hậu khắc nghiệt, khiến cho các điều kiện sản xuất bị ảnh hưởng tiêu cực Sự kém phát triển về hạ tầng cũng là nguyên nhân đặc biệt khiến cho các vùng này bị tách biệt với các vùng khác làm hạn chế khả năng phát triển kinh tế
Nghèo đói là hiện tượng phổ biến ở nông thôn với trên 90% số người nghèo
cả nước Phần đông số người nghèo là nông dân với trình độ tay nghề thấp, khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn nhân lực trong sản xuất như vốn, công nghệ, kỹ thuật, thị trường tiêu thụ Những người dân nghèo thường không có điều kiện
Trang 2918
chuyển đổi sang các ngành phi nông nghiệp đem lại thu nhập cao và ổn định hơn Trong khu vực thành thị, tuy tỷ lệ nghèo đói thấp hơn và mức sống trung bình cao hơn mức sống trung bình cả nước nhưng mức độ cải thiện điều kiện sống không đồng đều Đa số người nghèo ở khu vực thành thị làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức, công việc không ổn định ảnh hưởng đến sự ổn định của thu nhập Cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới hiện nay làm cho nhiều công ty, doanh nghiệp không tiêu thụ được sản phẩm, không có tiền thuê nhân công, dẫn đến tình trạng công nhân bị thất nghiệp, làm cho điều kiện sống ngày càng khó khăn hơn Đói nghèo mang tính chất phân vùng rõ rệt, tỷ lệ đói nghèo ở các vùng sâu, vùng xa, nơi các dân tộc ít người sinh sống cao hơn so với vùng thành thị, nông thôn Do điều kiện sống ở vùng sâu, vùng xa khó khăn hơn, địa lý cách biệt, khả năng tiếp cận với các điều kiện sản xuất và dịch vụ còn nhiều hạn chế, hạ tầng cơ sở kém phát triển càng làm tăng tỷ lệ đói nghèo trong khu vực này
1.2.1.3 Các quy định về chuẩn nghèo
Để xác định mức độ nghèo đói người ta thường dựa trên mức thu nhập hoặc mức chi tiêu Một người được coi là nghèo đói nếu mức độ chi tiêu hoặc thu nhập dưới mức tối thiểu cần thiết để đáp ứng cho các nhu cầu căn bản Mức tối thiếu này được gọi là “ngưỡng đói nghèo” Các yếu tố đáp ứng nhu cầu căn bản thay đổi theo thời gian và xã hội, do đó, “ngưỡng đói nghèo” khác nhau theo thời gian, địa điểm và mỗi quốc gia sử dụng các ngưỡng thích hợp với mức độ phát triển, chuẩn mực và giá trị xã hội của mình
Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã đưa ra một phương pháp để đánh giá nghèo đói tại khu vực châu Á và Thái Bình Dương Chuẩn nghèo mới, còn được gọi
là Chuẩn nghèo châu Á, được ADB xác định là mức sống dưới mức 1,35 USD/ngày
Các quốc gia khác nhau sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá mức
độ giàu nghèo
- Nước Mỹ áp dụng mức chuẩn nghèo từ những năm 60 của thế kỷ trước, cụ thể thu nhập 18.600 USD/năm là ngưỡng nghèo đối với các gia đình có bốn người
Trang 3019
(gồm bố mẹ và hai con) và thu nhập 9.573 USD/năm là ngưỡng nghèo đối với người độc thân trong độ tuổi lao động
- Malayxia sử dụng tiêu chuẩn 9.910 calo một ngày tính trên một gia đình
có hai người lớn và ba trẻ em để làm chuẩn nghèo
- Ấn Độ áp dụng ngưỡng nghèo với chuẩn mức tiêu thụ bình quân đầu người hàng ngày 2.400 calo đối với vùng nông thôn
- Một số nước khác căn cứ vào mức tiêu thụ calo bình quân đầu người hàng ngày: Pakistan (2.350), Sri Lanka (2.500), Nepal (2.124), Thái Lan (2.099), Bangladesh (2.122), Azerbaijan (2.200), một số quốc gia khác lại sử dụng ngưỡng nghèo là tiêu thụ một ngày 2.100 calo một người như Lào, Campuchia, Trung Quốc, Indonesia…
- Từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã nhiều lần điều chỉnh chuẩn nghèo cho phù hợp với tăng trưởng kinh tế và mức sống dân cư, làm cơ sở để Nhà nước xác định đối tượng cần trợ giúp và xây dựng, đánh giá kết quả thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo Diễn biến của chuẩn nghèo ở nước ta qua từng giai đoạn theo tiêu chí
của Bộ Lao động - Thương binh và Xă hội như sau: Đơn vị tính: Đồng
Giai đoạn
Thu nhập bình quân đầu người/tháng
Khu vực nông thôn Khu vực thành thị Miền núi Đồng bằng
Trang 3120
1.2.2 Cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội
1.2.2.1 Khái niệm và đặc điểm về cho vay hộ nghèo
Khái niệm cho vay hộ nghèo
Cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội là cho vay vốn tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm, đảm bảo an sinh xã hội
Tín dụng đối với người nghèo là những khoản tín dụng chỉ dành riêng cho những người nghèo, có sức lao động, nhưng thiếu vốn để phát triển sản xuất trong một thời gian nhất định phải hoàn trả số tiền gốc và lãi, tuỳ theo từng nguồn có thể hưởng theo lãi suất ưu đãi khác nhau nhằm giúp người nghèo mau chóng vượt qua nghèo đói vươn lên hoà nhập cùng cộng đồng
Tín dụng đối với người nghèo hoạt động theo những mục tiêu, nguyên tắc, điều kiện riêng, khác với các loại hình tín dụng của các Ngân hàng thương mại mà
nó chứa đựng những yếu tố cơ bản sau:
Mục tiêu: Tín dụng đối với người nghèo nhằm vào việc giúp những người nghèo đói có vốn phát triển sản xuất kinh doanh nâng cao đời sống, hoạt động vì mục tiêu XĐGN, không vì mục đích lợi nhuận
Nguyên tắc cho vay: Cho vay hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn sản xuất kinh doanh Hộ nghèo vay vốn phải là những hộ được xác định theo chuẩn mực nghèo đói do Bộ LĐ-TB&XH hoặc do địa phương công bố trong từng thời kỳ Thực hiện cho vay có hoàn trả (gốc và lãi) theo kỳ hạn đã thoả thuận
Điều kiện: Có một số điều kiện, tuỳ theo từng nguồn vốn, thời kỳ khác nhau, từng địa phương khác nhau có thể quy định các điều kiện cho phù hợp với thực tế Nhưng một trong những điều kiện cơ bản nhất của tín dụng đối với người nghèo đó
là khi được vay vốn không phải thế chấp tài sản
Đặc điểm cho vay hộ nghèo
- Hộ nghèo vay vốn tại ngân hàng chính sách xã hội không phải thế chấp tài sản và được miễn lệ phí làm thủ tục vay vốn nhưng phải là thành viên tổ tiết kiệm
Trang 32- Mức cho vay đối với từng hộ nghèo được xác định căn cứ vào nhu cầu vay vốn, vốn tự có và khả năng trả nợ của hộ vay
- Thời hạn vay vốn đối với hộ nghèo phù hợp với đối tượng và thời gian luân chuyển của chu kỳ sản xuất, kinh doanh và được cho vay nhiều lần cho đến khi thoát nghèo
- Do mục đích sử dụng vốn vay cho những nhu cầu thiết yếu, nên tất cả các chương trình cho vay hộ nghèo đều là khoản vay vốn ngắn hạn và trung hạn
- Nguồn vốn cho vay hộ nghèo là nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước, huy động vốn, vốn đi vay, vốn đóng góp tự nguyện của các tổ chức kinh tế - chính trị trong và ngoài nước, vốn nhận ủy thác cho vay ưu đãi của chính quyền địa phương
và các nguồn vốn khác
1.2.2.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hộ nghèo
Chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ dành cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác có vai trò quan trọng và ý nghĩa đối với hộ nghèo Nó được coi là công cụ quan trọng để phá vỡ vòng luẩn quẩn của thu nhập thấp, tiết kiệm thấp và năng suất thấp, là chìa khoá vàng để giảm nghèo Nguồn vốn cho vay ưu đãi được thể hiện ở một số nội dung sau:
Cung cấp vốn, góp phần cải thiện thị trường tài chính cộng đồng, nơi có hộ nghèo sinh sống
Nguồn vốn ưu đãi dành cho người nghèo đã góp phần cải thiện tình hình thị trường tài chính khu vực nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng có nhiều đồng bào dân tộc ít người sinh sống Trong ba yếu tố cơ bản để
hộ nghèo có điều kiện sản xuất kinh doanh, đó là vốn bằng tiền hoặc đất đai, lao động và kỹ thuật; trong đó, vốn bằng tiền đóng vai trò quan trọng nhất vì nếu có vốn
Trang 3322
bằng tiền, thì người sản xuất có thể mua sắm các tư liệu sản xuất khác, kể cả đất đai Hiện nay, tích luỹ của người nghèo ở nước ta rất thấp, do đó hầu như các hộ nghèo đều thiếu vốn để sản xuất kinh doanh Nhờ nguồn vốn của ngân hàng mà các hộ nghèo có điều kiện tiếp cận được khoa học kỹ thuật, công nghệ mới như các giống cây, con mới, kỹ thuật canh tác mới và cũng nhờ vay vốn, mà hộ nghèo tiếp cận được với công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư
Nguồn vốn ưu đãi ngân hàng làm giảm tệ nạn cho vay nặng lãi
Tệ nạn cho vay nặng lãi đã có từ lâu đời nay, hiện nay vẫn đang tồn tại khá nặng nề ở nông thôn, nhất là vùng cao, vùng sâu, vùng xa Cho vay nặng lãi thể hiện
ở lãi suất cao hơn nhiều so với lãi suất cho vay của ngân hàng hoặc dưới dạng mua bán sản phẩm non như lúa non, lạc non, mía non… ở thời kỳ giáp hạt
Do nhu cầu cấp bách (thường là do đói kém, ốm đau bệnh tật, chi phí con đi học hoặc nhu cầu đột xuất), nên họ phải vay nặng lãi Vốn nặng lãi gây nhiều tác hại cho người dân, đặc biệt là hộ nghèo, làm cho hộ nghèo càng nghèo thêm Chính hoạt động tín dụng ngân hàng, nhất là NHCSXH đã trực tiếp làm giảm tệ nạn cho vay nặng lãi
Giúp người nghèo có việc làm, nâng cao kiến thức tiếp cận thị trường, có điều kiện hoạt động SXKD trong nền kinh tế thị trường
Cung ứng vốn cho người nghèo theo chương trình, với mục tiêu đầu tư cho SXKD để XĐGN, sau một thời gian thu hồi cả gốc và lãi đã buộc người vay phải tính toán trồng cây gì, nuôi con gì, làm nghề gì và làm như thế nào để có hiệu quả kinh tế cao, tăng thu nhập cho gia đình, đồng thời trả nợ cho ngân hàng Để làm được điều đó, họ phải học hỏi kỹ thuật sản xuất, suy nghĩ biện pháp quản lý Từ đó, tạo cho họ tính năng động, sáng tạo trong lao động sản xuất, tích luỹ được kinh nghiệm trong công tác quản lý kinh tế Mặt khác, khi số đông người nghèo sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá thông qua việc trao đổi trên thị trường, làm cho họ tiếp cận được kinh tế thị trường một cách trực tiếp Đồng thời giải quyết tình trạng không có việc làm cho hàng vạn lao động nghèo, phát huy tiềm năng sẵn có của các
hộ gia đình Thông qua vốn tín dụng cho người nghèo đã hỗ trợ phát triển ngành
Trang 34 Cung ứng vốn cho người nghèo góp phần xây dựng nông thôn mới
Vốn ưu đãi dành cho người nghèo của NHCSXH thực hiện theo các quy định
nghiệp vụ như bình xét công khai đối tượng được vay, thành lập tổ vay vốn, phải qua sự kiểm tra của chính quyền xã, phường, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp từ Trung ương đến địa phương, vốn vay được phát trực tiếp tận người vay Do đó, thông qua vay vốn, các hộ nghèo trong tổ cùng giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống, trao đổi kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm quản lý kinh tế, chia sẻ rủi ro, hoạn nạn Thông qua đó mà tình làng nghĩa xóm được gắn bó hơn Đồng thời số lượng các hội viên sinh hoạt tại các tổ chức hội (HND, HPN, HCCB, ĐTN) ngày càng đông, hoạt động của các tổ chức hội phong phú hơn về nội dung, các hội làm dịch vụ uỷ thác cho vay hộ nghèo cũng có thêm khoản thu nhập từ phí uỷ thác ngân hàng trả theo tỷ lệ
và định kỳ nhất định (hàng quý) Kết quả phát triển kinh tế đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn Trật tự an ninh, an toàn xă hội được giữ vững; hạn chế được những mặt tiêu cực, tạo ra bộ mặt mới trong đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn
1.2.2.3 Đối tượng cho vay hộ nghèo
Để được vay vốn tín dụng ưu đãi, người vay là hộ nghèo có hộ khẩu thường trú hoặc có đăng ký tạm trú dài hạn tại địa phương nơi cho vay, có tên trong danh sách hộ nghèo ở xã (phường, thị trấn) sở tại theo chuẩn hộ nghèo do Bộ LĐ-TB&XH công bố từng thời kỳ, được tổ tiết kiệm và vay vốn tại các khu phố, thôn, ấp bình xét, phải là hộ nghèo có sức lao động, có điều kiện tổ chức sản xuất kinh doanh, nhưng thiếu vốn và có khả năng hoàn trả vốn
Vốn vay phải được sử dụng vào việc mua sắm vật tư, thiết bị, giống cây trồng, vật nuôi, thanh toán các dịch vụ phục vụ sản xuất kinh doanh, mua sắm các công cụ
Trang 3524
lao động, đầu tư làm các nghề thủ công, chi phí nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản, góp phần thực hiện các dự án hợp tác sản xuất, kinh doanh được cấp thẩm quyền phê duyệt, giải quyết một phần nhu cầu tất yếu về nhà ở, điện thắp sáng, nước sạch, học tập
Trên thực tế việc lập danh sách hộ nghèo do cộng đồng dân cư địa phương thực hiện, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương nên mang tính tương đối và
có sự khác nhau về chuẩn mực đói nghèo của từng địa phương
1.3 Các chỉ tiêu đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay hộ nghèo
1.3.1 Các tiêu chí đánh giá hoạt động cho vay hộ nghèo
1.3.1.1 Mức độ đáp ứng nhu cầu tiếp cận vốn ưu đãi đối với hộ nghèo
Tiêu chí này đánh giá mặt chất lượng trong hoạt động cho vay hộ nghèo Thể hiện ở các tiêu chí thủ tục đơn giản, thuận tiện, xử lý hồ sơ nhanh chóng, giảm bớt các chi phí về giao dịch cho các hộ nghèo vay vốn nhưng vẫn đảm bảo các nguyên tắc chung
1.3.1.2 Tiêu chí đánh giá cho vay hộ nghèo về tác động xã hội
Chất lượng tín dụng và hiệu quả tín dụng là hai chỉ tiêu quan trọng trong hoạt động cho vay của Ngân hàng Hai chỉ tiêu này có điểm giống nhau đều là chỉ tiêu phản ánh lợi ích do do vốn tín dụng mang lại cho khách hàng và Ngân hàng về mặt kinh tế Nhưng hiệu quả tín dụng mang tính cụ thể và tính toán được giữa lợi ích thu được với chi phí bỏ ra trong quá trình đầu tư tín dụng thông qua các chỉ tiêu:
Luỹ kế số lượt hộ nghèo được vay vốn Ngân hàng
Chỉ tiêu này cho biết số hộ nghèo đã được sử dụng vốn tín dụng ưu đãi trên tổng số hộ nghèo của toàn quốc, đây là chỉ tiêu đámh giá về số lượng Chỉ tiêu này được tính luỹ kế từ hộ vay đầu tiên đến hết kỳ cần báo cáo kết quả
Tổng số hộ Luỹ kế số lượt hộ Luỹ kế số lượt hộ
lượt hộ nghèo = được vay đến + được vay trong
được vay vốn cuối kỳ trước kỳ báo cáo
Trang 3625
Tỷ lệ hộ nghèo được vay vốn
Đây là chỉ tiêu đánh giá về mặt lượng đối với công tác tín dụng; bằng tổng số
hộ nghèo được vay vốn trên tổng số hộ nghèo đói theo chuẩn mực được công bố
Tỷ lệ hộ Tổng số hộ nghèo được vay vốn
vay vốn Tổng số hộ nghèo đói trong danh sách
Số tiền vay bình quân 1 hộ
Chỉ tiêu này đánh giá mức đầu tư cho một hộ ngày càng tăng lên hay giảm xuống, điều đó chứng tỏ việc cho vay có đáp ứng được nhu cầu thực tế của các hộ nghèo hay không
Số tiền cho vay Dư nợ cho vay đến thời điểm báo cáo
bình quân =
một hộ Tổng số hộ còn dư nợ đến thời điểm báo cáo
Số hộ đã thoát khỏi ngưỡng nghèo đói
Là chỉ tiêu quan trọng nhất đánh giá hiệu quả của công tác tín dụng đối với hộ nghèo Hộ đã thoát khỏi ngưỡng nghèo đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ cao hơn chuẩn mực nghèo đói hiện hành, không còn nằm trong trong danh sách hộ nghèo, có khả năng vươn lên hoà nhập với cộng đồng
Tổng số HN Số HN Số HN Số HN trong Số HN
đã thoát khỏi = trong DS - trong DS - DS đầu kỳ + mới vào
ngưỡng nghèo đầu kỳ cuối kỳ di cư đi nơi khác trong kỳ BC
1.3.1.3 Các chỉ tiêu định tính
- Thông qua việc sử dụng vốn vào sản xuất kinh doanh, trình độ quản lý kinh
tế của người vay được nâng lên Người nghèo có điều kiện tiếp cận được với khoa học kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi tiến tiến, có điều kiện áp dụng khoa học kỹ thuật mới Đây cũng là một trong những tiêu chí đánh giá hiệu quả tín dụng mang lại cho hộ nghèo
- Các vùng nghèo, xã nghèo, nhờ nguồn vốn tín dụng ưu đãi của NHCSXH đã xoá bỏ được tình trạng vay nặng lãi và bán nông sản non, góp phần thay đổi bộ mặt đời sống nhân dân nông thôn
Trang 3726
- Nếu hiệu quả tín dụng của NHCSXH được nâng lên, thì không chỉ các hộ nghèo được vay vốn, mà ngân hàng còn có điều kiện để phục vụ các hộ thuộc vùng khó khăn trong các khoản vay thương mại, phục vụ chính sách phát triển kinh tế của Chính phủ, của địa phương
- Mức độ đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương: Nếu hiệu quả tín dụng cao, ngân hàng sẽ có thêm điều kiện để phục vụ tốt hơn nhu cầu vay vốn của các đối tượng, từ đó sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế, xã hội của địa phương phát triển
- Thông qua cho vay của NHCSXH, đã kéo theo một đội ngũ cán bộ ở cấp xã, huyện vào cuộc cùng ngân hàng trong công tác hỗ trợ hộ nghèo, số tiền hoa hồng tổ nhóm, phí ủy thác đã là nguồn thu đáng kể để hoạt động đối với ban quản lý tổ vay vốn và tổ chức hội
- Thông qua vay vốn hộ nghèo, nội dung hoạt động của các tổ chức chính trị -
xã hội càng thêm phong phú, số lượng hội viên tham gia sinh hoạt ngày càng đông
1.3.1.4 Các chỉ tiêu định lượng
Do đặc điểm trong hoạt động cho vay hộ nghèo, hiện ở NHCSXH sử dụng 3 tiêu chí đánh giá kết quả kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay hộ nghèo là tỷ lệ
nợ quá hạn, tỷ lệ nợ khoanh và nợ chiếm dụng xâm tiêu
+ Tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu cơ bản mà NHCSXH đang dùng để đánh giá chất lượng tín dụng trong cho vay hộ nghèo Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ % giữa dư nợ quá hạn và tổng dư nợ cho vay hộ nghèo của ngân hàng tại một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm Khi một khoản vay không được hoàn trả đúng hạn như đã cam kết, mà không có lý do chính đáng thì nó đã vi phạm nguyên tắc tín dụng và bị chuyển sang nợ quá hạn, với lãi suất quá hạn cao hơn lãi suất bình thường (lãi suất nợ quá hạn hiện nay bằng 130% lãi suất cho vay)
Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay
Trang 381.3.2.1 Nhân tố bên ngoài
Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo, những hộ sống ở vùng đồng bằng, nơi có cơ sở hạ tầng tốt, trình độ dân trí cao, khí hậu ôn hòa, đất đai rộng, thì vốn tín dụng hộ nghèo dễ có điều kiện phát huy hiệu quả cao và ngược lại, những nơi cơ sở hạ tầng thấp kém, giao thông đi lại khó khăn, đất đai ít, cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt thì vốn tín dụng phát huy hiệu quả không cao
Điều kiện xã hội
Do tập quán canh tác ở một số nơi vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn lạc hậu, như chăn nuôi gia súc, gia cầm thả rông, không có chuồng trại, không tiêm phòng dịch, nên hiệu quả không cao Từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tín dụng hộ nghèo Các hộ nghèo thường có số con đông hơn các hộ trung bình, nhưng sức lao động ít, trình độ học vấn của chủ hộ và các thành viên trong gia đình thấp, nên sử dụng vốn kém hiệu quả Một số hộ nghèo do nhận thức còn hạn chế, xem nguồn vốn tín dụng của NHCSXH là vốn cấp phát, cho không của Nhà nước, nên sử dụng chủ yếu vào sinh hoạt trong gia đình, không đầu tư vào SXKD, vốn sử dụng không có hiệu quả, dẫn đến không trả nợ cho ngân hàng
Trang 3928
Điều kiện kinh tế
Vốn tự có của hộ nghèo hầu như không có (chỉ có sức lao động), nên vốn SXKD chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng cũng là một yếu tố làm giảm hiệu quả của vốn vay Cùng với việc thiếu vốn SXKD, th́ việc lồng ghép tập huấn các chương trình như: Khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư… hạn chế cũng góp phần làm giảm hiệu quả tín dụng hộ nghèo
Điều kiện y tế, giáo dục, thị trường cũng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả tín dụng hộ nghèo Những nơi có trạm y tế, có đội ngũ y, bác sĩ đầy đủ, thì nơi đó việc chăm sóc sức khỏe cho người dân được đảm bảo, người dân có sức khỏe tốt đồng nghĩa với sức lao động tốt, có điều kiện để sản xuất kinh doanh tốt, sử dụng vốn có hiệu quả; trong đó, có vốn tín dụng hộ nghèo và ngược lại Giáo dục có ý nghĩa quyết định đến việc sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả Nếu nơi nào có tỷ lệ người được học cao, thì nơi đó dễ có điều kiện tiếp thu khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, nơi đó con người có ý thức tốt hơn, sản xuất kinh doanh có hiệu quả, chấp hành pháp luật Nhà nước và thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng
Thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng hộ nghèo Nơi nào có chợ họp thường xuyên thì nơi đó kinh tế phát triển, hàng hóa sản xuất ra
dễ tiêu thụ, người dân tiếp cận được với khoa học kỹ thuật, có điều kiện tiếp cận được kinh tế thị trường
Chính sách của Nhà nước
Sự can thiệp (điều tiết) của Nhà nước đối với nền kinh tế là một tác nhân quan trọng đối với sự ổn định và phát triển kinh tế Sự điều tiết của Nhà nước đúng, kịp thời sẽ giúp môi trường kinh tế được lành mạnh hóa, hoặc ngược lại sẽ gây rối loạn thị trường Để Nhà nước có các chính sách hỗ trợ vốn cho các vùng nghèo, xã nghèo, hộ nghèo kịp thời, liên tục, có chính sách hướng dẫn hộ đầu tư vốn vào lĩnh vực nào trong từng thời kỳ, xử lý rủi ro kịp thời cho hộ nghèo, thì vốn vay dễ có điều kiện phát huy hiệu quả cao Sản phẩm làm ra của hộ nghèo, nếu có thị trường tiêu thụ tốt, thì dễ tiêu thụ có lợi nhuận và hiệu quả đồng vốn cao và ngược lại, nếu Nhà nước có các chính sách đúng, kịp thời hỗ trợ hộ nghèo trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, thì góp phần làm cho việc sử dụng vốn có hiệu quả Nhà nước phải
Trang 4029
đầu tư cơ sở hạ tầng, bao gồm xây dựng và nâng cấp các con đường giao thông nông thôn, các công trình thuỷ lợi và chợ Hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, bao gồm cung cấp giống mới và các loại vật tư nông nghiệp khác, tập huấn và khuyến nông
để người nghèo có các điều kiện cần thiết sử dụng vốn có hiệu quả
Bản thân hộ nghèo
Khách hàng vay vốn của NHCSXH hiện nay chủ yếu là hộ nghèo và các đối tượng chính sách, mà hộ nghèo thường thiếu nhiều thứ; trong đó, thiếu tri thức, kinh nghiệm SXKD, dẫn đến hiệu quả của SXKD hạn chế, sản phẩm sản xuất ra chi phí cao, chất lượng và khả năng cạnh tranh kém khó vượt qua các rủi ro trong sản xuất
và đời sống Về vốn chủ yếu là vốn vay ngân hàng, không có vốn tự có, dẫn đến bị động về vốn sản xuất Nếu hộ nghèo có ý thức sử dụng vốn đúng mục đích gặp thuận lợi trong sản xuất, chăn nuôi thì có hiệu quả Tuy nhiên, hiện nay tại một số vùng đặc biệt khó khăn là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn
tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự trợ giúp của Nhà nước Một số hộ nghèo do ý thức hạn chế, nên sử dụng vốn sai mục đích, không chấp hành việc trả nợ (gốc, lãi) cho ngân hàng đúng hạn
1.3.2.2 Nhân tố bên trong
- Nguồn lực của ngân hàng: Để thành công tốt trong hoạt động thì yếu tố nguồn lực rất quan trọng, có cơ sở vật chất đầy đủ giúp cho công tác điều hành hoạt động đạt kết quả tốt hơn Nhưng đối với NHCSXH thời gian thành lập chưa lâu nên
cở sở vật chất còn nhiều khó khăn, đa số các trụ sở làm việc từ chi nhánh tỉnh đến các phòng giao dịch huyện lúc đầu đều đi thuê hoặc mượn, chỉ còn có một ít được xây dựng mới nên ảnh hưởng đến công tác hoạt động, đồng thời phương tiện máy móc làm việc cũng còn nhiều khó khăn, chương trình phần mềm để giao dịch dùng lại chương trình cũ của ngân hàng người nghèo, nguồn vốn cho vay chưa chưa chủ động, còn phù thuộc lớn vào kế hoạch phân bổ từ ngân sách; chính vì những khó khăn trên nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động cho vay vốn đối với
hộ nghèo
- Năng lực quản lý điều hành: Mô hình hoạt động của NHCSXH khác hẳn với NHTM nên công tác chỉ đạo đều hành còn mới mẻ, cán bộ tuổi nghề còn trẻ