1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm trong hệ thống thư viện công cộng tại thành phố hà nội

104 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 787,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA NGUYỄN THU NGÂN BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC THEO VỊ TRÍ VIỆC LÀM TRONG HỆ THỐNG THƢ VIỆN CÔNG CỘNG

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

…………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THU NGÂN

BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC

THEO VỊ TRÍ VIỆC LÀM TRONG HỆ THỐNG

THƢ VIỆN CÔNG CỘNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

…………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THU NGÂN

BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC

THEO VỊ TRÍ VIỆC LÀM TRONG HỆ THỐNG

THƢ VIỆN CÔNG CỘNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả luận văn xin cam đoan nội dung của luận văn do chính tác giả nghiêm túc nghiên cứu, không trùng lặp, sao chép các luận văn khác Số liệu

và kết quả nghiên cứu là trung thực, tài liệu tham khảo cho luận văn đều có chỉ dẫn rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thu Ngân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lời cám ơn chân thành và sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn tôi là TS Nguyễn Thị Hà – Phó Trưởng khoa Văn bản và Công nghệ hành chính – Học viện Hành chính Quốc gia đã tận tình hướng dẫn và góp ý để tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin cám ơn cô Đỗ Thuận An – Giáo viên chủ nhiệm lớp cao học K19B2 – Khoa đào tạo sau đại học - Học viện Hành chính Quốc gia đã luôn nhắc nhở và hướng dẫn tôi các thủ tục để hoàn tất quá trình bảo vệ luận văn thạc sỹ

Tôi xin gửi lời cám ơn tới các bạn đồng nghiệp tại Thư viện Hà Nội nơi tôi công tác đã tạo mọi điều kiện, chia sẻ và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn này

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn tới những người thân đã luôn bên cạnh động viên, cổ vũ tôi trong suốt quá trình thực hiện luân văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thu Ngân

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC BẢNG BIỂU

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 6

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 6

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4.1 Đối tượng nghiên cứu 7

4.2 Phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 8

5.1 Phương pháp luận 8

5.2 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 8

7 Kết cấu luận văn 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC VÀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC THEO VỊ TRÍ VIỆC LÀM 10

1.1 Công chức, viên chức và công chức, viên chức thư viện 10

1.2 Bồi dưỡng và bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm 18

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm 25 1.4 Quy trình bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm ngành thư

Trang 6

Tiểu kết chương 1 40

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC THEO VỊ TRÍ VIỆC LÀM TRONG HỆ THỐNG THƯ VIỆN CÔNG CỘNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 41

2.1 Khái quát hệ thống thư viện công cộng tại thành phố Hà Nội 41

2.2 Phân tích thực trạng công tác bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm trong hệ thống thư viện công cộng tại thành phố Hà Nội 47

2.3 Đánh giá nhận xét 57

Tiểu kết chương 2 62

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC THEO VỊ TRÍ VIỆC LÀM TRONG HỆ THỐNG THƯ VIỆN CÔNG CỘNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 63

3.1 Định hướng và mục tiêu 63

3.2 Một số giải pháp tăng cường hiệu quả công tác bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm trong hệ thống thư viện công cộng tại thành phố Hà Nội 67

3.3 Một số kiến nghị 76

Tiểu kết chương 3 79

KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 85

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Thống kê số lượng công chức, viên chức trong thư viện công cộng tại thành phố Hà Nội năm 2017……… 45 Bảng 2.2: Các vị trí việc làm trong hệ thống thư viện công cộng tại thành phố

Hà Nội……… 46 Bảng 2.3: Số lượng cán bộ thư viện làm việc theo vị trí việc làm trong hệ thống thư viện công cộng tại thành phố Hà Nội……….….48 Bảng 2.4: Chất lượng công chức, viên chức tại Thư viện Hà Nội và thư viện quận/huyện trực thuộc theo trình độ chuyên môn………49Bảng 2.5: Chất lượng công chức, viên chức tại Thư viện Hà Nội và thư viện quận/huyện trực thuộc theo trình độ lý luận chính trị……… 51Bảng 2.6: Chất lượng công chức, viên chức tại Thư viện Hà Nội và thư viện quận/huyện trực thuộc theo trình độ quản lý nhà nước 52Bảng 2.7: Chất lượng công chức, viên chức tại thư viện xã phường và tủ sách

cơ cở theo trình độ chuyên môn……… 52Bảng 2.8: Chất lượng công chức, viên chức tại thư viện xã, phường và tủ sách

cơ sở theo trình độ lý luận chính trị……….53Bảng 2.9: Chất lượng công chức, viên chức trong hệ thống thư viện công cộng tại thành phố Hà Nội theo trình độ tin học và tiếng Anh……….53Bảng 2.10: Các lớp bồi dưỡng đối với cán bộ thư viện thành phố Hà Nội và thư viện quận/huyện……….56Bảng 2.11: Các lớp bồi dưỡng đối với cán bộ thư viện xã/phường và tủ sách

cơ sở……….57

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thư viện có chức năng, nhiệm vụ giữ gìn di sản thư tịch của dân tộc: thu thập, tàng trữ, tổ chức việc khai thác sử dụng chung vốn tài liệu trong xã hội nhằm truyền bá tri thức, cung cấp thông tin phục vụ cho nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của mọi tầng lớp nhân dân; góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học công nghệ, kinh tế, văn hóa, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [29, tr.1]

Trong thực tế, thư viện công cộng đã và đang trở thành trung tâm văn hóa và thông tin của các địa phương trong cả nước, Hà Nội cùng không ngoại

lệ Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của thư viện, hiện nay, các quận huyện trên thành phố Hà Nội đều có ít nhất một thư viện công cộng để phục

vụ nhu cầu của người dân, ngoài ra, còn có các thư viện chuyên ngành để phục vụ nhu cầu nghiên cứu mang tính chuyên sâu của mọi đối tượng trong

xã hội

Bốn yếu tố cấu thành nên một thư viện đó là: cán bộ thư viện, cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn tài liệu và bạn đọc Bốn yếu tố trên có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại và hỗ trợ lẫn nhau Thiếu một trong bốn yếu tố thư viện không thể vận hành và phát triển Trong đó, cán bộ thư viện là một yếu tố then chốt quyết định đến chất lượng hoạt động của thư viện

Trong thời kỳ bùng nổ thông tin, cán bộ thư viện là người làm chủ nguồn thông tin, có nhiệm vụ thu thập và xử lý, sắp xếp, bảo quản tài liệu, là cầu nối giữa bạn đọc với tri thức Để đáp ứng được yêu cầu của công việc, cán

bộ thư viện cần phải giỏi chuyên môn và thành thạo các kỹ năng mềm Tuy

Trang 10

nhiên, hiện nay, tại các hệ thống thư viện công cộng trên cả nước nói chung

và tại thành phố Hà Nội nói riêng không chỉ hạn chế cả về chất lượng cán bộ

mà còn thiếu về số lượng Các thư viện công cộng hiện đang thiếu cán bộ trầm trọng, nhiều thư viện không có cán bộ chuyên trách mà chỉ có cán bộ kiêm nhiệm không được đào tạo bài bản về nghiệp vụ thư viện Đây là một trong những lý do khiến thư viện công cộng tại Hà Nội thiếu cán bộ về số lượng và chất lượng Ngoài ra, công tác tuyển dụng chưa chặt chẽ, vẫn tuyển những người được đào tạo ở những ngành nghề khác vào làm thư viện hoặc tuyển những người đào tạo đúng ngành nhưng ở trình độ thấp (trung cấp) Việc cán bộ kiêm nhiệm, đào tạo trái ngành nghề hoặc có trình độ thấp về nghiệp vụ thư viện làm ảnh hưởng không nhỏ tới việc phục vụ nhu cầu của bạn đọc

Hơn nữa, ngày nay, các thiết bị tìm kiếm thông tin giúp con người có thể tìm kiếm thông tin mọi lúc, mọi nơi Nếu như cán bộ thư viện không nắm chắc nghiệp vụ, không sử dụng thành thạo máy tính và các công cụ tìm tin thì không thể phục vụ bạn đọc có hiệu quả cũng như không thu hút được bạn đọc đến thư viện tìm thông tin, đọc sách từ đó văn hóa đọc truyền thống sẽ bị mất dần theo thời gian Điều này khiến vai trò và tầm quan trọng của thư viện công cộng trong xã hội bị mai một

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muốn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Các văn kiện của Đảng, văn bản của Nhà nước đều khẳng định tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; chất lượng của công tác này cần phải được đổi mới Do vậy, việc đào tạo cán

bộ, công chức, viên chức nói chung và đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức trong hệ thống thư viện công cộng tại thành phố Hà Nội nói riêng cần phải đi sâu và bám sát vào yêu cầu thực tiễn hơn nữa Việc bố trí đúng người

Trang 11

đúng việc giúp cho công chức, viên chức có thể phát huy hết khả năng sáng tạo, kiến thức chuyên môn và hứng thú trong lao động làm hiệu quả công việc được đẩy lên cao nhất đào tạo, bồi dưỡng theo VTVL chính là cá nhân hóa nhu cầu đào tạo, bổ sung những kiến thức, kỹ năng mà mỗi vị trí việc làm thực sự cần, khắc phục sự dàn trải, cào bằng trong chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng Đây là một phương pháp đào tạo, bồi dưỡng tiếp cận phù hợp

để nâng cao năng lực làm việc của đội ngũ công chức, viên chức Tuy nhiên, cho đến nay, các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm ngành thư viện vẫn chưa có hệ thống văn bản quy định, hướng dẫn cụ thể

Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Bồi dƣỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm trong hệ thống thƣ viện công cộng tại thành phố Hà Nội” nghiên cứu làm luận văn cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức là vấn đề đã được nhiều nhà nghiên cứu, nhà quản lý quan tâm nghiên cứu và đã có nhiều công trình, đề tài, các bài tạp chí nghiên cứu, có thể kể ra một số công trình tiêu biểu như sau:

- Ngô Thành Can (2014), cuốn sách “Đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực trong khu vực công”, Nxb Lao động Tác giả đề cập những

vấn đề cơ bản của đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức; quá trình đào tạo, bồi dưỡng với các thành tố cơ bản như: xác định nhu cầu, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và đánh giá đào tạo, bồi dưỡng; một số trang thiết bị dạy học thường được sử dụng trong đào tạo, bồi dưỡng

- Nguyễn Thị Hồng Hải (2015), chủ biên“Quản lý nguồn nhân lực

Trang 12

một số vấn đề quản lý nguồn nhân lực trong khu vực công và thực tiễn của một số nước trên thế giới

- Trần Thị Minh Nguyệt (2010), đề tài cấp Bộ “Tiêu chí nguồn nhân lực thông tin – thư viện nguồn nhân lực thư viện” Đề tài chỉ ra các giải pháp

nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, phương pháp giảng dạy trong các lớp đào tạo bồi dưỡng công chức, viên chức ngành thư viện

- Đoàn Tất Thành (2014), “Đào tạo, bồi dưỡng công chức theo yêu cầu vị trí việc làm”, luận văn thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính

Quốc gia Luận văn khẳng định: đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức theo

vị trí việc làm thực sự là quá trình phát triển năng lực thực thi công vụ, là con đường để đi đến mục tiêu xây dựng nên công vụ chính quy, chuyên nghiệp, hiệu quả và hiện đại

- Nguyễn Văn Thâm (2011), “Đào tạo theo vị trí việc làm, cơ sở và những điều kiện cần thiết”, Hội thảo khoa học Đào tạo, bồi dưỡng theo

VTVL ngành Nội vụ của Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức – Bộ Nội vụ, Hà Nội Tác giả đưa ra một số giải pháp cho việc xác định vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh công chức, viên chức trong các cơ quan Bộ Nội vụ

- Nguyễn Thị Hồng Yến (2013), “Đào tạo, bồi dưỡng công chức các

cơ quan hành chính nhà nước theo vị trí việc làm tại tỉnh Phú Thọ”, luận văn

thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia Luận văn đưa ra các giải pháp nâng cao công tác đào tạo bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm từ nhiều góc độ, bên cạnh những giải pháp có hiệu quả ngay, có những giải pháp cần phải có thời gian để trải nghiệm

Ngoài ra còn có hàng loạt các bài tạp chí nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo vị trí việc làm như:

Trang 13

- Ngô Thành Can (2009), “Triển khai thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng theo Luật Cán bộ công chức”, số 4, (tr.23 – 25), Tạp chí Tổ chức nhà nước, Bộ Nội Vụ; (2013) “Phát triển năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giảng viên trong các cơ sở đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức”, số 11, (tr.28 –

29), Tạp chí Tổ chức Nhà nước

- Trương Đại Lượng – Chu Vân Khánh (2010), “Đào tạo cán bộ thư

viện”, số 6, (tr.28 – 32), Tạp chí Thư viện Việt Nam Tác giả cho rằng việc

nâng cao trình độ của đội ngũ giảng viên, cải tiến nội dung, phương pháp giảng dạy và cách thức kiểm tra đánh giá giữ vị trí quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ thông tin thư viện hiện nay

- Tạ Ngọc Hải (2010), “Kinh nghiệm các nước về phương pháp xác định vị trí việc làm”, số 6, (tr.46 – 49), Tạp chí Tổ chức Nhà nước, Bộ Nội vụ; Phạm Đức Toàn (2010), “Một vài suy nghĩ về xác định cơ cấu vị trí việc làm trong các cơ quan nhà nước” số 7, (tr.37 – 39), Tạp chí Tổ chức Nhà

nước, Bộ Nội vụ Hai bài viết nhận diện, xác định vị trí việc làm của cán bộ công chức, viên chức, xác định vị trí việc làm là nội dung cần thiết để thực hiện cải cách chế độ công vụ Bản chất của việc xác định vị trí việc làm là xem trong một cơ quan, tổ chức có bao nhiêu vị trí việc làm và cần bao nhiêu người để thực hiện nhiệm vụ của vị trí việc làm đó Qua xác đinh vị trí việc làm, các cơ quan có thể tuyển dụng, sắp xếp, bố trí công chức, viên chức phù hợp, đóng góp đáng kể cho công tác tinh giảm biên chế

- Nguyễn Thị Hạnh (2010),“Tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán

bộ thông tin – thư viện ở Việt Nam” Tác giả khẳng định: việc quan tâm và có

biện pháp phù hợp với công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, viên chức ngành thư viện bên cạnh các hình thức đào tạo sau đại học sẽ đảm bảo được nguồn nhân lực làm việc tại các cơ quan thông tin – thư viện đáp

Trang 14

- Nguyễn Trọng Phượng (2011), “Nguồn nhân lực của hệ thống thư viện công cộng Việt Nam: mạnh hay yếu?”, số 2, (tr.21 – 24), Tạp chí Thư

viện Việt Nam Bài viết khẳng định: trong những năm qua, hệ thống thư viện công cộng Việt Nam đã đạt được một số thành tựu về phát triển nguồn nhân lực song vẫn còn nhiều hạn chế Bởi vậy, cần quan tâm nhiều hơn và coi việc phát triển nguồn nhân lực là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của hệ thống thư viện công cộng Xét cho cùng, thư viện có phát triển được hay không, vị thế của thư viện thế nào phụ thuộc phần lớn vào chất lượng nguồn nhân lực của thư viện

- Lưu Kiếm Thanh, (2012) “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức một hình thức giáo dục - đào tạo đặc thù và chuyên biệt”, số 201,

(tr.2 – 8), Tạp chí Quản lý Nhà nước

Các bài viết trên đều tập trung viết về đào tạo và bồi dưỡng công chức, viên chức, các đặc điểm về bồi dưỡng công chức, đào tạo công chức viên chức theo vị trí việc làm Tuy nhiên, viết về bồi dưỡng công chức, viên chứctheo vị trí việc làm trong hệ thống thư viện công cộng tại thành phố Hà Nội thì chưa có đề tài, luận văn, bài viết nào nghiên cứu tới Do đó, việc chọn đề

tài “Bồi dƣỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm trong hệ thống thƣ viện công cộng tại thành phố Hà Nội” nghiên cứu trong bối cảnh hiện

nay là hoàn toàn cần thiết

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn từ đó có cơ sở để đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả công tác bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm làm việc trong hệ thống thư viện công cộng tại thành phố Hà Nội

Trang 15

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nên trên, luận văn phải thực hiện một số nhiệm

vụ sau:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm;

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về công chức, viên chức thư viện;

- Đánh giá thực trạng công tác bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm tại các thư viện công cộng trong thành phố Hà Nội;

- Đề xuất giải pháp tăng cường cao hiệu quả công tác bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm cho hệ thống thư viện công cộng tại thành phố Hà Nội

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm trong hệ thống thư viện công cộng tại thành phố Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: tác giả khảo sát, nghiên cứ cụ thể 12 vị trí việc

làm tại Thư viện Hà Nội và 29 thư viện trực thuộc bao gồm: hành chính quản trị; tổ chức nhân sự; văn thư lưu trữ; bảo quản tài liệu; kế toán; thủ quỹ; bổ sung, sưu tầm tài liệu; xử lý kỹ thuật nghiệp vụ thư viện; thủ thư (phục vụ độc giả); công nghệ thông tin; hướng dẫn nghiệp vụ thư viện

- Phạm vi về không gian: Hệ thống thư viện công cộng tại thành phố

Hà Nội gồm Thư viện Hà Nội và 29 thư viện quận huyện trực thuộc

- Phạm vi thời gian: từ năm 2012 đến 2017

Trang 16

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, các quan điểm, định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước về bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: tổng hợp và phân tích các số liệu thu thập được từ đó đưa ra những tiêu chí chung về vấn đề bồi dưỡng công chức, viên chức theo VTVL trong hệ thống thư viện công cộng tại thành phố

Hà Nội

- Phương pháp thống kê: số liệu, bảng biểu để khái quát kết quả nghiên cứu về việc bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm trong hệ thống thư viện công cộng tại thành phố Hà Nội

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm

- Đề tài góp phần cung cấp thêm luận cứ khoa học cho việc đổi mới công tác bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam nói chung và trong hệ thống thư viện công cộng tại Hà Nội nói riêng nhằm hướng tới xây dựng và phát triển năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

- Kết quả nghiên cứu đề tài có thể giúp cho việc triển khai các hoạt động đào tạo theo vị trí việc làm ở quy mô phù hợp, bảo đảm quá trình đào tạo, bồi dưỡng trở thành quá trình phát triển năng lực cho đội ngũ cán bộ,

Trang 17

công chức, viên chức trong hệ thống thư viện công cộng tại thành phố Hà Nội

- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo giúp các cơ sở bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm lên kế hoạch và chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho phù hợp với điều kiện thực tiễn

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung nghiên cứu của luận văn được chia làm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về bồi dưỡng công chức, viên chức và bồi

dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm

Chương 2: Thực trạng bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc

làm trong hệ thống thư viện công cộng tại thành phố Hà Nội

Chương 3: Định hướng, mục tiêu và giải pháp tăng cường hiệu quả bồi

dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm trong hệ thống thư viện công cộng tại thành phố Hà Nội

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC

VÀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC

THEO VỊ TRÍ VIỆC LÀM

1.1 Công chức, viên chức và công chức, viên chức thư viện

1.1.1 Khái niệm thư viện

Theo Pháp lệnh thư viện: “Thư viện có chức năng, nhiệm vụ giữ gìn di sản thư tịch của dân tộc; thu thập, tàng trữ, tổ chức việc khai thác và sử dụng chung vốn tài liệu trong xã hội nhằm truyền bá tri thức, cung cấp thông tin phục vụ cho nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của mọi tầng lớp nhân dân; góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học công nghệ, kinh tế, văn hóa, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [29, tr1]

Trong hệ thống thư viện có nhiều loại hình thư viện khác nhau được quy định trong Thông tư liên tịch số 02/2015/TTLT-BVHTTDL-BNV ngày 19/5/2015 bao gồm hệ thống thư viện công cộng và hệ thống thư viện chuyên ngành, đa ngành Hệ thống thư viện công cộng gồm: Thư viện Quốc gia Việt Nam, thư viện do UBND các cấp thành lập Hệ thống thư viện chuyên ngành,

đa ngành gồm: thư viện của viện và trung tâm nghiên cứu khoa học, thư viện của nhà trường và cơ sở giáo dục, thư viện của nhà nước, thư viện của đơn vị

vũ trang, thư viện của tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp [11, tr.2-6]

Thư viện công cộng được hiểu là loại hình thư viện cung cấp tài liệu sách báo, các dịch vụ thư viện phục vụ nhân dân miễn phí Các thư viện này chọn lọc tài liệu, sách báo phù hợp với nhu cầu của nhân dân từng địa

Trang 19

phương, từng vùng Thư viện công cộng góp phần tích cực trong việc thu hẹp dần khoảng cách về đời sống văn hóa giữa đô thị và nông thôn, giữa các vùng kinh tế, từng bước nâng cao trình độ dân trí, phát triển văn hóa, giáo dục… đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống ở nông thôn

Điểm khác biệt của thư viện công cộng với các loại hình thư viện khác

là hoạt động theo tính chất phi lợi nhuận Ngân sách hoạt động của thư viện công cộng do Nhà nước trung ương hoặc chính quyền địa phương cấp

1.1.2 Khái niệm công chức, viên chức thư viện

1.1.2.1 Khái niệm công chức thư viện

Ở Việt Nam, công chức được quy định chính thức trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008 có hiệu lực năm 2010 Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ,

công chức quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan nhân dân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [30, tr.1]

Từ quy định nêu trên, tác giả cho rằng công chức thư viện là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh làm việc tại Vụ Thư viện thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tham mưu giúp

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý nhà nước về thư viện, quản lý các dịch vụ công thuộc lĩnh vực thư viện trong cả nước theo quy định

Trang 20

của pháp luật; làm nhiệm vụ quản lý mọi hoạt động của hệ thống thư viện trên toàn quốc, hướng dẫn việc hợp tác, trao đổi sách báo, tài liệu với nước ngoài

và việc liên thông sách báo, tài liệu giữa các thư viện; hướng dẫn điều kiện thành lập và hoạt động thư viện; hướng dẫn cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng; thể chế hóa các văn bản về thư viện được Nhà nước và pháp luật quy định; trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật

Như vậy, ngoài các vị trí thuộc Vụ Thư viện được gọi là công chức, ở thư viện công cộng vị trí Giám đốc và phó Giám đốc - những người trực tiếp điều hành thư viện, chịu mọi trách nhiệm về hoạt động của thư viện với Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội và Vụ Thư viện được gọi là công chức

1.1.2.2 Khái niệm viên chức thư viện

Trong Luật Viên chức số 58/2010/QH12 năm 2010 quy định: Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo VTVL, làm việc tại đơn vị

sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [31, tr.1]

Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị

sự nghiệp công lập theo quy định của Luật Viên chức (2010) [31] và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Từ quy định nêu trên, tác giả cho rằng viên chức thư viện là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại các thư viện công lập theo chế độ làm việc hợp đồng, hưởng lương từ quỹ lương của thư viện nơi tuyển dụng theo quy định của pháp luật, làm việc theo đúng chuyên môn, đúng vị trí được tuyển dụng

Trang 21

1.1.3 Đặc điểm công chức, viên chức thư viện

Công chức, viên chức ngành thư viện là đội ngũ những người trong độ tuổi lao động, đang làm việc và cống hiến trong lĩnh vực hoạt động Thông tin – Thư viện Qua các văn bản quy định và thực tế công việc, tác giả luận văn nhận thấy công chức, viên chức thư viện cần phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

- Nắm vững chuyên môn nghiệp vụ ngành thông tin – thư viện: công chức, viên chức ngành thư viện phải là người được đào tạo đúng chuyên ngành hoặc nếu được tào đạo chuyên ngành khác thì phải có chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ của cơ quan có thẩm quyền cấp

- Kỹ năng công nghệ thông tin: Trong thời đại công nghệ số và Internet hiện nay, cán bộ thư viện cần phải có kiến thức kỹ năng sử dụng công nghệ và

sử dụng thành thạo các ứng dụng trên internet để cập nhật thông tin một cách nhanh chóng và kịp thời Mặt khác, giới thiệu quảng bá nguồn tài nguyên thông tin đến bạn đọc một cách hiệu quả nhất

- Kỹ năng ngoại ngữ: Trên thế giới có rất nhiều tài liệu thông tin bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau có giá trị học thuật ngữ và ứng dụng cao, Bởi vậy, người cán bộ thư viện cần thành thạo ít nhất một ngoại ngữ để có thể tiếp cận với những nguồn thông có giá trị này Hơn nữa, trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, thành thạo ngoại ngữ sẽ giúp cán bộ thư viện học hỏi kinh nghiệm, cập nhật kiến thức từ những quốc gia có nền thư viện phát triển trên thế giới như: Mỹ, Anh, Singapore,…

- Kỹ năng tra cứu thông tin: thời đại bùng nổ thống tin khiến nguồn tài nguyên thông tin đa dạng, phong phú nên đòi hỏi cán bộ thư viện cần phải có

kỹ năng tra cứu thông tin nhằm quản lý, khai thác, giới thiệu những thông tin

Trang 22

- Kỹ năng giao tiếp: Đây là kỹ năng quan trọng, tạo thuận lợi trong quá trình làm việc giữa cán bộ với nhau, giữa cán bộ với người dùng tin và cán bộ thư viện với cấp trên Kỹ năng giao tiếp không chỉ giúp các cán bộ thư viện trao đổi học hỏi kiến thức, kinh nghiệm mà còn giúp họ bày tỏ quan điểm với cấp trên trong suốt quá trình làm việc Hơn nữa, kỹ năng giao tiếp quyết định đến chất lượng dịch vụ thông tin – thư viện và là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hài lòng của người dùng tin với dịch vụ của thư viện

1.1.4 Tiêu chuẩn công chức, viên chức thư viện

Theo Thông tư liên tịch số 02/2015/TTLT-BVHTTDL-BNV ngày 19/5/2015 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Nội vụ ban hành đã quy định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp công chức, viên chức ngành thư

viện [11, tr.2] như sau:

Tiêu chuẩn chung về đạo đức nghề nghiệp:

- Có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc được giao, luôn tuân thủ pháp luật; luôn thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của người viên chức trong hoạt động nghề nghiệp

- Thực hiện nghiêm túc các quy định về chuyên môn, nghiệp vụ của ngành Có ý thức nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác Không lạm dụng vị trí công tác, nhiệm vụ được phân công để trục lợi

- Yêu nghề, luôn có ý thức cải tiến nâng cao chất lượng dịch vụ thư viện để đáp ứng nhu cầu thông tin, tri thức của mọi tầng lớp nhân dân

- Tôn trọng quyền được sử dụng thư viện của mọi tầng lớp nhân dân mà pháp luật đã quy định Khi phục vụ, phải luôn có thái độ niềm nở, ân cần, tận

Trang 23

tình, chu đáo; trang phục phải lịch sự, gọn gàng, phù hợp với công việc; tác phong nhanh nhẹn, khoa học, cẩn thận

- Có ý thức phối hợp, giúp đỡ đồng nghiệp, chia sẻ kinh nghiệm trong công tác

Ngoài những tiêu chuẩn chung về đạo đức nghề nghiệp trong Thông tư liên tịch số 02/2015/TTLT-BVHTTDL-BNV còn quy định tiêu chuẩn riêng dành cho từng chức danh nghề nhiệp của cán bộ thư viện trong hệ thống thư viện (bao gồm thư viện công cộng; thư viện chuyên ngành, đa ngành: thư viện của viện và trung tâm nghiên cứu khoa học, thư viện của nhà trường và cơ sở giáo dục, thư viện của nhà nước, thư viện của đơn vị vũ trang, thư viện của tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh

tế, đơn vị sự nghiệp) [11, tr.2 -6] như sau:

Thư viện viên hạng II:

- Tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng:

+ Tốt nghiệp đại học về chuyên ngành thư viện hoặc chuyên ngành khác có liên quan Nếu tốt nghiệp đại học chuyên ngành khác phải có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chuyên ngành thư viện do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp

+ Có trình độ ngoại ngữ bậc 3 (B1) theo quy định tại Thông tư 01/2014/TT-BGDDT ngày 24/01/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam;

+ Có trình độ tin học đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản theo quy định tạo Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT ngày 11/03/2014 của

Bộ Thông tin và Truyền thông quy định Chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin;

Trang 24

+ Có chứng chỉ bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ thư viện hạng II

- Tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn nghiệp vụ:

+ Nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác thư viện và có khả năng vận dụng trong hoạt động phát triển chuyên ngành thư viện

+ Nắm vững thực tế về hoạt động thư viện, xu thế phát triển chuyên môn đang đảm nhận, có kiến thức tổng hợp về lĩnh vực khác

+ Tham gia ít nhất 01 đề án, dự án, đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh,

Bộ hoặc chủ trì 02 đề án, dự án, đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở đã được nghiệm thu với kết quả đạt yêu cầu trở lên

+ Nắm vững các ứng dụng của công nghệ thông tin vào lĩnh vực chuyên môn đang đảm nhận và các kỹ năng tin học khác trong hoạt động được phân công

Thư viện viên hạng III:

- Tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng:

+ Tốt nghiệp đại học về chuyên ngành thư viện hoặc chuyên ngành khác có liên quan Nếu tốt nghiệp đại học chuyên ngành khác phải có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chuyên ngành thư viện do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp

+ Có trình độ ngoại ngữ bậc 3 (B1) theo quy định tại Thông tư 01/2014/TT-BGDDT ngày 24/01/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam;

+ Có trình độ tin học đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản theo quy định tạo Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT ngày 11/03/2014 của

Trang 25

Bộ Thông tin và Truyền thông quy định Chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin;

- Tiêu chuẩn về năng lực, chuyên môn nghiệp vụ:

+ Nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác thư viện và có khả năng vận dụng trong hoạt động phát triển chuyên ngành thư viện

+ Nắm vững những kiến thức cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ thư viện và lĩnh vực chuyên môn được phân công

+ Biết ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thư viện và các kỹ năng tin học khác trong hoạt động chuyên môn được phân công

Thư viện viên hạng IV:

- Tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng:

+ Tốt nghiệp đại học về chuyên ngành thư viện hoặc chuyên ngành khác có liên quan Nếu tốt nghiệp đại học chuyên ngành khác phải có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chuyên ngành thư viện do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp

+ Có trình độ ngoại ngữ bậc 3 (B1) theo quy định tại Thông tư 01/2014/TT-BGDDT ngày 24/01/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam;

+ Có trình độ tin học đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản theo quy định tạo Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT ngày 11/03/2014 của

Bộ Thông tin và Truyền thông quy định Chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin

Trang 26

- Tiêu chuẩn về năng lực, chuyên môn nghiệp vụ:

+ Nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác thư viện

+ Nắm vững những kiến thức cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ thư viện

+ Biết ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thư viện và các kỹ năng tin học khác trong hoạt động chuyên môn được phân công

1.2 Bồi dƣỡng và bồi dƣỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm

1.2.1 Một số khái niệm có liên quan

1.2.1.1 Khái niệm đào tạo:

Theo Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010

của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức đã định nghĩa: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học” [17,tr.1]

Theo định nghĩa trên: Đào tạo được hiểu là quá trình tác động đến con người, nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống

và khả năng phân công lao động nhất định, góp phần vào việc phát triển xã hội Đào tạo được xem như là một quá trình làm cho người được đào tạo có kiến thức chuyên môn, nghề nghiệp, kỹ năng nghiệp vụ theo những tiêu chuẩn nhất định do yêu cầu đòi hỏi của công việc

Từ những khái niệm và đặc điểm nêu trên, tác giả luận văn cho rằng: Đào tạo là quá trình huấn luyện, trang bị cho con người những kiến thức, kỹ năng, thái độ, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp để họ có thể tự tạo được việc làm hoặc làm việc trong những ngành nghề nhất định

Trang 27

1.2.1.2 Khái niệm bồi dưỡng

Bồi dưỡng là quá trình cập nhật kiến thức thiếu hoặc lạc hậu, bổ túc kinh nghiệm hoặc các hoạt động nhằm tạo điều kiện cho người có cơ hội để củng cố và mở rộng những kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ theo chuyên ngành, có tính ứng dụng để lao động nghề nghiệp có hiệu quả hơn Bồi dưỡng thường không gắn liền với văn bằng, cũng không nhất thiết do các

cơ sở đào tạo thực hiện, mà quan trọng là bổ sung, tăng cường kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng để đáp ứng yêu cầu công việc và hoạt động bồi dưỡng thường chiếm thời gian ngắn tùy theo nhu cầu người học hoặc theo sự sắp xếp của tổ chức

Theo Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010

của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức đã định nghĩa: “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [17, tr.2]

Từ những nghiên cứu phân tích trên, tác giả luận văn cho rằng: Bồi dưỡng là quá trình hoàn thiện và bổ sung, cập nhật những tri thức mới, kinh nghiệm thực tiễn và phẩm chất nghề nghiệp nhằm mục tiêu giúp cho người lao động hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ mà mình được giao tại đơn vị

1.2.2 Bồi dưỡng công chức, viên chức

Theo Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức đã định nghĩa: “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [17, tr.2] Đây là quá trình liên tục nâng cao trình độ, năng lực trên cơ sở đã được đào tạo trước đây

Hoạt động bồi dưỡng có nhiệm vụ cập nhật, trang bị thêm về kiến thức,

kỹ năng thực thi nhiệm vụ, công vụ của người cán bộ, công chức, viên chức

Trang 28

1.2.3 Bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm

1.2.3.1 Khái niệm vị trí việc làm

- Theo khoản 3 Điều 7 Luật Cán bộ, công chức quy định vị trí việc làm là: công việc gắn với chức danh, chức vụ, cơ cấu và ngạch công chức để xác định biên chế và bố trí công việc trong cơ quan tổ chức, đơn vị [31, tr.1]

- Theo khoản 1 điều 2 Luật Viên chức quy định vị trí việc làm là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập [32, tr.2]

- Tại điều 3 Nghị định số 36/2013/NĐ-CP ngày 22/5/2013 của Chính phủ về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức quy định: VTVL là công việc gắn với chức danh, chức vụ, cơ cấu và ngạch công chức để xác định biên chế và bố trí công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị [14, tr.2]

Tóm lại: Vị trí việc làm là công việc gắn liền với chức danh, chức vụ,

cơ cấu và ngạch công chức, viên chức để xác định biên chế và bố trí công việc trong trong cơ quan, tổ chức, đơn vị

Vị trí việc làm trong một cơ quan tổ chức bao gồm:

- Các vị trí lãnh đạo, quản lý

- Các vị trí thừa hành, thực thi (tham mưu, hoạch định chính sách, tham mưu tổng hợp, xử lý nghiệp vụ, thanh tra, kiểm tra, phục vụ…)

1.2.3.2 Khái niệm bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm

Có nhiều quan điểm nói về đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm như:

- Bồi dưỡng theo vị trí việc làm xuất phát khi có yêu cầu mới phát sinh trong quá trình lao động sản xuất, các nhà quản lý phải tổ chức đào tạo trang

Trang 29

bị cho người lao động những kiến thức và kỹ năng liên quan, phục vụ trực tiếp cho thực hiện một phần hoặc một công đoạn công việc; điều mà họ chưa được biết, chưa được học để đảm bảo một công việc cụ thể thì cần người lao động cũng phải có được những kiến thức, kỹ năng và năng lực để thực hiện công việc cụ thể đó

- Bồi dưỡng theo vị trí việc làm về thực chất vẫn phải dựa trên nhu cầu công việc nhưng được cụ thể hơn, dễ hiểu hơn và để đáp ứng với yêu cầu của thực tiễn

- Bồi dưỡng theo vị trí việc làm nói chung là một loại hình đào tạo theo từng vị trí công việc, từng cá nhân trên cơ sở phân tích và đánh giá năng lực hiện tại (kiến thức, kỹ năng) so với vi trí công việc đang đảm nhận về năng lực, trình độ do yêu cầu công việc đặt ra

Thông qua bồi dưỡng theo vị trí việc làm đội ngũ công chức, viên chức

sẽ được trang bị kiến thức, kỹ năng chuyên môn sâu, tinh thông nghiệp vụ Khắc phục tình trạng không ít công chức, viên chức được đào tạo cơ bản, được bồi dưỡng đáp ứng các tiêu chuẩn của ngạch, chức danh nhưng thực thi nhiệm vụ trong phạm vi chức trách được giao còn hạn chế, lúng túng thậm chí chưa am hiểu nghiệp vụ của công việc đang đảm nhận Ngoài việc bồi dưỡng

về chuyên môn nghiệp vụ, công chức, viên chức còn được cử đi học các lớp học về lý luận chính trị, chuyên viên, chuyên viên cao cấp…

Như vậy, tác giả luận văn cho rằng: Bồi dưỡng theo vị trí việc làm là trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết cho công chức, viên chức ở từng vị trí công việc hoặc công chức, viên chức ở từng nhóm vị trí công việc để công chức, viên chức làm tốt công việc được giao

Trang 30

1.2.3.3 Vai trò của bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm

Bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm gắn kết với công việc mà người công chức đang đảm nhiệm, phù hợp với đặc điểm hoạt động của công chức, viên chức So với hình thức bồi dưỡng theo ngạch thì bồi dưỡng theo VTVL “gắn với công việc” hơn là “gắn với người” và gắn liền với kết quả đầu ra hơn Bồi dưỡng theo VTVL bổ sung thêm hình thức bồi dưỡng công chức, nhằm đảm bảo quá trình này thực sự là quá trình phát triển năng lực thực thi nhiệm vụ cho đội ngũ công chức, viên chức

Bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm năng động, linh hoạt đội ngũ và có khả năng đáp ứng yêu cầu công việc của công chức, viên chức

Bồi dưỡng công chức, viên chức giúp cải thiện tối đa, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả thực hiện công việc và chất lượng thực hiện công việc

Bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm tạo ra cách nhìn mới, cách tư duy mới trong công việc từ đó phát huy tính sáng tạo của công chức, viên chức

1.2.4 Sự khác biệt giữa của bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm với bồi dưỡng công chức, viên chức theo tiêu chuẩn ngạch

Bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm có nhiều điểm khác biệt so với bồi dưỡng công chức, viên chức theo tiêu chuẩn ngạch như sau:

Trang 31

STT Tiêu chí Bồi dƣỡng theo tiêu

chuẩn ngạch Bồi dƣỡng theo vị trí việc làm

1 Đối tượng công chức, viên

chức

công chức, viên chức

2 Mục tiêu

Trang bị kiến thức theo tiêu chuẩn ngạch

Bồi dưỡng kỹ năng, kiến thức cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả làm việc tại từng vị trí việc làm

3 Nội dung

Là những kiến thức,

kỹ năng do các cơ quan quản lý quy định

Trang bị những kiến thức mới, những kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu của từng vị trí việc làm

4 Chương

trình

Được biên soạn sẵn Xây dựng dựa trên nhu cầu Bồi

dưỡng của từng vị trí việc làm

5

Cách thức

tổ chức

Đại trà, bắt buộc Chọn lọc theo lĩnh vực, nhu cầu

6 Thời gian Từ 1- 3 tháng Tùy từng đối tượng và nội dung

trên 50 học viên/lớp Vì học theo phương pháp thảo

luận nhóm nên lớp khoảng 30 –

50 học viên/lớp

- Bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm là công tác bồi dưỡng gắn liền với công việc của người công chức, viên chức đang đảm nhận

Trang 32

từng vị trí Ví dụ như: đối với công chức, viên chức làm việc ở vị trí quản lý, lãnh đạo thì việc thiết kế, xây dựng chương trình bồi dưỡng phải phù hợp với công việc mà công chức, viên chức đó đảm nhận như bồi dưỡng về kiến thức

và kỹ năng về quản lý, lãnh đạo…

Chương trình bồi dưỡng được xây dựng theo hướng linh hoạt hơn, bảo đảm trang bị cho học viên những năng lực mà học viên cần, những kiến thức,

kỹ năng mà học viên còn thiếu đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm là cá nhân hóa nhu cầu đào tạo, khác biệt với tính đại trà trong nội dung đào tạo, bồi dưỡng theo ngạch bậc

Với chương trình bồi dưỡng theo nhu cầu của học viên thì việc tổ chức lớp bồi dưỡng cũng linh hoạt, chủ động hơn về thời gian và có thể thường xuyên cập nhật các kiến thức mới nhất

Cùng với sự thay đổi của chương trình bồi dưỡng công chức, viên chức thì phương pháp bồi dưỡng theo vị trí việc làm cũng có sự thay đổi, không chỉ đơn giản là sự thuyết giảng, truyền đạt kiến thức một chiều mà thay vào đó là cùng chia sẻ, cùng thảo luận, cùng giải quyết các vấn đề để tiếp nhận kiến thức mới, tăng khả năng làm việc của công chức, viên chức

- Bồi dưỡng cho công chức, viên chức ngành thư viện là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc trong hoạt động thông tin thư viện (đối với vị trí Giám đốc, Phó Giám đốc thư viện cần phải xây dựng nội dung chương trình bồi dưỡng về quản lý nhà nước về thư viện, các kỹ năng quản lý lãnh đạo; ở vị trí kế toán cần xây dựng chương trình về tài chính khu vực công, sử dụng và quản lý ngân sách nhà nước…)

Trang 33

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm

1.3.1 Khung thể chế, chính sách về bồi dưỡng công chức, viên chức

Để công tác bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm có chất lượng, trước hết cần có khung pháp lý quy định cụ thể, rõ ràng để các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng có căn cứ pháp lý thực hiện Nhưng trên thực tế các quy định pháp lý còn rất hạn chế Đặc biệt đối với ngành thư viện vẫn chưa có văn bản quy định cụ thể Hiện tại, chỉ có một số văn bản quy định chung về vấn đề này như:

+ Nghị định 101/2017/NĐ-CP ngày 01/09/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức viên chức;

+ Thông tư 01/2018/TT-BNV ngày 08/01/2018 của Bộ Nội vụ về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01 tháng 09 năm 2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức

Hệ thống văn bản pháp lý là yếu tố quan trọng tạo nền móng và định hướng cho công tác bồi dưỡng công chức, viên chức Tuy nhiên, hiện nay, các văn bản quy định cụ thể việc bồi dưỡng theo vị trí việc làm quá sơ sài, chưa

đủ tính pháp lý cho công tác này

1.3.2 Nội dung, chương trình, tài liệu bồi dưỡng công chức, viên chức

Xây dựng nội dung bồi dưỡng phải thường xuyên cập nhật, bám sát vào yêu cầu vị trí việc làm và nhu cầu của người học để phù hợp với yêu cầu của từng VTVL, Bồi dưỡng về LLCT; Bồi dưỡng kiến thức quản lý hành chính nhà nước; Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; Tin học, ngoại ngữ; Kỹ năng mềm

Trang 34

Tại Điều 6 Nghị định 18/2010/NĐ-CP [17, tr.3] quy định nội dung bồi dưỡng như sau:

- Đối với bồi dưỡng trong nước: Lý luận chính trị; Chuyên môn nghiệp vụ; Kiến thức pháp luật; Kỹ năng quản lý nhà nước và quản lý chuyên ngành; Tin học, ngoại ngữ, tiếng dân tộc

- Đối với bồi dưỡng ở nước ngoài: Kiến thức quản lý hành chính nhà nước và quản lý chuyên ngành; Kiến thức, kinh nghiệm hội nhập quốc tế

Thời gian của khóa bồi dưỡng cần phải hài hòa giữa lý thuyết và thực hành, đảm bảo công chức, viên chức có thể áp dụng vào công việc một cách nhuần nhuyễn sau khóa bồi dưỡng

Từ những nghiên cứu và phân tích trên, tác giả cho rằng:

- Nội dung, chương trình, tài liệu bồi dưỡng là yếu tố cốt lõi ảnh hưởng tới kết quả của công tác bồi dưỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm Nội dung, giáo trình bồi dưỡng quyết định đến lượng kiến thức mà người học được trang bị và cách áp dụng kiến thức đó vào công việc

- Chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng đảm bảo cho cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian giữa các môn học

lý thuyết và thực hành nhằm giúp học viên nắm vững kiến thức đại cương đồng thời cập nhật bổ sung kiến thức mới phục vụ vị trí công tác tại cơ quan, đơn vị

- Giáo trình và tài liệu là tập hợp những nội dung bồi dưỡng được nghiên cứu, biên soạn chuẩn mực, là cơ sở lý luận để định hướng và tham khảo cho người học trong quá trình học tập Tài liệu bồi dưỡng được chuẩn bị tốt, kỹ lưỡng sẽ đem lại hứng thú tham khảo, sử dụng cho người học, ngược lại nếu tài liệu quá cũ, không được cập nhật kiến thức mới sẽ gây nhàm chán

Trang 35

và khiến người học không muốn sử dụng, áp dụng vào công việc đang đảm nhận

1.3.3 Hình thức và phương pháp bồi dưỡng công chức, viên chức

Hình thức và phương pháp bồi dưỡng công chức, viên chức có tác động không nhỏ đến chất lượng bồi dưỡng Nếu phương pháp giảng dạy không phù hợp hoặc không linh hoạt sẽ làm giảm hiệu quả tiếp thu của người học

Khi lựa chọn và tiến hành các hình thức và phương pháp bồi dưỡng phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau nhưng về cơ bản muốn đạt được chất lượng tốt phải cân nhắc đầy đủ đặc điểm của người học là công chức, viên chức

Sử dụng phương pháp tích cực, phát huy tính tự giác, chủ động và tư duy sáng tạo của người học, tăng cường trao đổi thông tin, kiến thức và kinh nghiệm giữa giảng viên và giữa các học viên

Điều 15, Nghị định 101/2017/NĐ-CP ngày 01/09/2017 về Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức quy định có 4 hình thức bồi dưỡng [15, tr.8] như sau:

1 Tập sự

2 Bồi dưỡng theo chuẩn ngạch công chức, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức

3 Bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý

4 Bồi dưỡng theo yêu cầu của vị trí việc làm; bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành bắt buộc hàng năm (thời gian thực hiện tối thiểu là 01 tuần/01 năm; một tuần được tính bằng 05 ngày học, một ngày học 08 tiết)

Trang 36

1.3.4 Các nguồn lực trong hoạt động bồi dưỡng công chức, viên chức

1.3.4.1 Con người

Con người là yếu tố cấu thành nên tổ chức do đó tất cả các hoạt động trong tổ chức đều chịu sự tác động của nhân tố này Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cũng vậy Nhân tố con người trong hoạt động bồi dưỡng bao gồm: lãnh đạo đơn vị, người được cử đi học (công chức, viên chức), giảng viên, quản lý các cơ sở bồi dưỡng

- Việc nhận thức đúng đắn về công tác bồi dưỡng của các nhà quản lý

và quyết định nội dung chương trình bồi dưỡng của cơ sở bồi dưỡng là một điều quan trọng góp phần tạo nên sự thành công của khóa bồi dưỡng đó Nếu một khóa bồi dưỡng có người học tốt, giáo viên giỏi nhưng nội dung chương trình không tốt thì khóa bồi dưỡng đó không thể đạt hiệu quả tối ưu

- Nhận thức của công chức, viên chức được cử đi học cũng góp phần không nhỏ vào hiệu quả của khóa bồi dưỡng Giáo viên giỏi, chương trình tốt

mà người học không chịu khó tư duy, học hỏi thì rất khó để đạt được mục tiêu ban đầu của khóa bồi dưỡng

- Giảng viên là lực lượng quan trọng trong công tác bồi dưỡng Đối với bồi dưỡng theo vị trí việc làm, bên cạnh đội ngũ giảng viên cơ hữu của cơ sở bồi dưỡng thì đội ngũ giảng viên hợp đồng cũng có vai trò nòng cốt Bồi dưỡng theo vị trí việc làm đòi hỏi đội ngũ giảng viên phải có kinh nghiệm thực tiễn, am hiểu về vị trí làm việc, nhận diện được những kiến thức, kỹ năng, thái độ cần có để hoàn thành tốt nhiệm vụ Vì vậy, hiệu quả bồi dưỡng theo vị trí việc làm phụ thuộc vào việc có phát huy được năng lực của đội ngũ giảng viên hợp đồng hay không, đồng thời, có những giải pháp nào nhằm nâng cao kiến thức thực tiễn cho đội ngũ giảng viên cơ hữu

Trang 37

Sự sáng tạo, kết hợp nhịp nhàng giữa 4 yếu tố nêu trên góp phần tạo nên một khóa bồi dưỡng có chất lượng và đạt hiệu quả cao nhất

1.3.4.2 Tài chính

Tài chính là một trong những nguồn lực quan trọng có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả, chất lượng của công tác bồi dưỡng Nếu ngân sách nhà nước dành một phần quá ít cho công tác này sẽ dẫn tới việc mở các khóa bồi dưỡng mang tính hình thức, số lượng lớp ít, số lượng công chức, viên chức được cử đi bồi dưỡng hạn chế, nội dung bồi dưỡng không được đầu tư, cập nhật mới

Như vậy, nguồn kinh phí hạn hẹp ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt đến công tác bồi dưỡng của các thư viện Nhiều thư viện nhận biết rõ nhu cầu bồi dưỡng nhưng do khả năng tài chính hạn chế nên chỉ lựa chọn những khóa bồi dưỡng với chi phí vừa phải, thường thuê các đơn vị cung cấp dịch vụ bồi dưỡng ở mức trung bình Việc lựa chọn các chương trình bồi dưỡng chất lượng cao với mức chi phí đáng kể là rất khó

1.3.4.3 Cơ sở vật chất

Địa điểm bồi dưỡng công chức, viên chức có thể tại chính cơ quan, đơn

vị hoặc tại các cơ sở chuyên thực hiện công tác bồi dưỡng

Cơ sở vật chất tại các cơ sở bồi dưỡng bao gồm: thiết bị giảng dạy (máy tính, máy chiếu, âm thanh, bàn ghế,…), không gian học, địa điểm học (hội trường), tài liệu, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin (phần mềm quản lý, phần mềm đào tạo hiện đại và chất lượng)

Các cơ sở bồi dưỡng cần đảm bảo các tiêu chuẩn về cơ sở vật chất của một trường/viện/trung tâm bồi dưỡng hiện đại nêu trên để đảm bảo quá trình bồi dưỡng công chức, viên chức diễn ra hiệu quả

Trang 38

1.4 Quy trình bồi dƣỡng công chức, viên chức theo vị trí việc làm ngành thƣ viện

Trong từ điển Tiếng Việt, quy trình được định nghĩa là trình tự các bước thực hiện một hoạt động, đáp ứng mục tiêu được đề ra của hoạt động đó

Theo PGS.TS Ngô Thành Can đề cập trong cuốn“Đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực trong khu vực công” [13] quy trình bồi dưỡng công

chức, viên chức được thực hiện qua các trình tự sau:

Sơ đồ quy trình bồi dƣỡng công chức, viên chức

1.4.1 Xác định nhu cầu bồi dưỡng công chức, viên chức

Nhu cầu bồi dưỡng chính là sự đòi hỏi tất yếu, khách quan của thư viện theo từng vị trí công việc của công chức, viên chức về nâng cao năng lực, kiến thức, kỹ năng cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động quản lý của thư

XÁC ĐỊNH NHU CẦU ĐÀO TẠO

THỰC HIỆN

KẾ HOẠCH ĐÀO TẠO

ĐÁNH GIÁ

ĐÀO TẠO

LẬP KẾ HOẠCH ĐÀO TẠO

Trang 39

viện và yêu cầu về tiêu chuẩn công chức, viên chức ở từng vị trí trong thư viện

Xác định nhu cầu bồi dưỡng là bước đầu tiên quan trọng của quá trình bồi dưỡng Bước này yêu cầu phải phân tích nhu cầu của cá nhân, của nhóm,

tổ chức và yêu cầu của công việc thật kỹ lưỡng dựa vào bản mô tả công việc của từng vị trí việc làm

Tham khảo cuốn sách “Đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực trong khu vực công” của PGS.TS Ngô Thành Can, tác giả cho rằng các bước

xác định nhu cầu bồi dưỡng theo vị trí việc làm tại thư viện như sau:

- Lập kế hoạch xác định nhu cầu bồi dưỡng: làm rõ mục tiêu, các hoạt động, các nguồn lực, thời gian thực hiện, kinh phí, theo dõi đánh giá

- Phân tích nhu cầu bồi dưỡng: rà soát chức năng nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy, yêu cầu của từng vị trí việc làm, phân tích kết quả đầu ra để biết nhu cầu của cá nhân và tổ chức cần được bồi dưỡng

- Đánh giá nhu cầu bồi dưỡng: dựa vào thực trạng trong việc thực hiện công việc của công chức, viên chức ngành thư viện và so sánh thực trạng đó với năng lực cần có cho từng vị trí việc làm

- Tổng hợp nhu cầu bồi dưỡng: Xác định các mục tiêu và nội dung bồi dưỡng thông qua các thông tin và số liệu đã phân tích ở các bước trên thành một báo cáo cụ thể

Xác định nhu cầu bồi dưỡng có vai trò đặc biệt quan trọng trong bồi dưỡng theo yêu cầu vị trí việc làm Bước này phải quyết định được việc bồi dưỡng nên tiến hành đến đâu, tới mức độ nào để đảm bảo thành công lớn nhất, chi phí hiệu quả nhất trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến năng lực làm việc của công chức, viên chức trong đơn vị Nói cách khác, không xác

Trang 40

1.4.2 Lập kế hoạch bồi dưỡng công chức, viên chức

Lập kế hoạch là quá trình thu thập, phân tích và xử lý thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mục tiêu, phân bố các nguồn lực, thời gian và các phương án thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đặt ra cho một hoạt động nào đó Hay nói cách khác, lập kế hoạch chính là sự thiết kế trước bước đi cho một hoạt động trong tương lai để đạt được mục tiêu đã định thông qua việc sử dụng các nguồn lực [13, tr.195]

Trong luận văn này, tác giả hiểu: Lập kế hoạch là việc liệt kê các công việc cần phải làm, các mục tiêu cần hướng tới theo một trình tự nhất định và được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định

Lập kế hoạch bồi dưỡng giúp các nhà quản lý thư viện và cơ sở bồi dưỡng không bị chồng chéo công việc, không lãng phí thời gian, xác định rõ mục tiêu cần đạt được và phương pháp để thực hiện chúng

Sau khi xác định được nhu cầu bồi dưỡng, các nhà quản lý thư viện và

cơ sở bồi dưỡng phải lên kế hoạch bồi dưỡng trong một năm với các bước như sau:

1

Mục tiêu: đáp ứng yêu cầu tại từng vị trí

công việc của thư viện; nâng cao kiến thức,

kỹ năng cho công chức, viên chức

- Nhà quản lý thư viện

- Cơ sở bồi dưỡng

- Công chức, viên chức

2 Số lượng lớp bồi dưỡng /năm Cơ sở bồi dưỡng

3

Thời gian: một năm tổ chức bao nhiêu lớp

Thời lượng: lớp học kéo dài bao lâu Cơ sở bồi dưỡng

Ngày đăng: 04/01/2021, 22:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w