1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.Ý nghĩa phương pháp luận và bài học đối với bản thân

30 172 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 84,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

giảng viên đánh giá rất cao bài thảo luận của nhóm, nhóm được 9,5 điểm. vật chất nhất định và đang tồn tại, vật chất có tính cách là vật chất không có sự tồn tại cảm tính. Đồng thời Ph.Ăng ghen cũng chỉ ra rằng bản thân phạm trù vật chất cũng không phải là sự sáng tạo tùy tiện của tư duy con người mà trái lại là kết quả của con đường trìu tượng hóa, của tư duy con người về các sự vật, hiện tượng có thể cảm biến bằng giác quan. Đặc biệt Ph Ăng ghen xác định, xét về thực chất nội hàm của phạm trù triết học nói chung, của phạm trù vật chất nói riêng chẳng qua là sự tóm tắt của chúng ta tập hợp theo những thuộc tính chung của tính phong phú, muôn vẻ nhưng có thể cảm biết được bằng giác quan của các sự vật, hiện tượng của thế giới vật chất. Lê nin đã nhắc lại luận điểm của Ăng ghen: “Vật chất không phải là sản phẩm của tinh thần mà chỉ là sản phẩm cao cấp của vật chất mà thôi”. Ph.Ăng ghen chỉ rõ các sự vật hiện tượng của thế giới dù rất phong phú muôn vẻ nhưng chúng vẫn có đặc tính chung, thống nhất đó là tính vật chất – tính tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý thức. Để bao quát được hết các sự vật, hiện tượng cụ thể thì tư duy cần phải nắm lấy đặc tính chung này và đưa nó vào trong phạm trù vật chất. Ph.Ăng ghen giải thích Ete có tính vật chất không: Dù sao nếu Ete tồn tại thì nó phải có tính vật chất, nó nằm trong khái niệm vật chất. Tóm lại, Ăngghen chưa đưa ra định nghĩa khái quát về phạm trù vật chất, nhưng quan niệm của Mác và Ăngghen về vật chất rõ ràng là có tính chất duy vật biện chứng sâu sắc. Các ông đó mở rộng quan niệm về vật chất trong lĩnh vực xã hội, khắc phục được tính chất siêu hình máy móc của các nhà triết học duy vật trước đây, tạo tiền đề cho sự phát triển tiếp phạm trù vật chất mà Lênin thực hiện trong điều kiện khoa học tự nhiên có bước phát triển mới vào đầu thế kỷ XX.

Trang 1

NỘI DUNG BÀI THẢO LUẬN NHÓM 2

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN: Hãy phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Rút ra ý nghĩa phương pháp luận và ý nghĩa với bản thân.

BÀI LÀM

I VẬT CHẤT

1 Quan niệm về vật chất

a Các quan niệm về vật chất qua các thời kì

Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm

Từ thời cổ đại đến hiện đại tuy buộc thừa nhận sự tồn tại của các sựvật, hiện tượng của thế giới nhưng lại phủ nhận đặc tính tồn tại khách quancủa vật chất

Quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước C.Mac về vật chất: Chủ nghĩa duy vật thời cổ đại và Chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XV-XVIII.

 Chủ nghĩa duy vật thời cổ đại

- Thời Cổ đại, đặc biệt là Hy Lạp – La Mã, Trung Quốc, Ấn Độ đã xuấthiện chủ nghĩa duy vật với quan niệm chất phác về tự nhiên, về vậtchất Các nhà duy vật thời Cổ đại đồng nhất vật chất với vật thể cụ thể

và xem chúng là khởi nguyên của thế giới, tức đồng nhất vật chất vềnhững vật thể hữu hình, cảm tính đang tồn tại ở thế giới bên ngoài.Chẳng hạn như:

Ấn Độ có tứ đại Đất, Nước, Gió, Lửa

Trung Quốc có Ngũ hành và Âm dương

- Ở phương Tây, một số quan điểm về thời kì này như: Thales coi vậtchất là nước, Heraclitus coi vật chất là lửa, Anaximenes coi vật chất làkhông khí

- Một số trường hợp đặc biệt, họ quy vật chất (không chỉ vật chất màthế giới) về những cái trừu tượng như Không (Phật giáo), Đạo(LãoTrang)

- Và bước tiến mới quan trọng của sự phát triển phạm trù vật chất làđịnh nghĩa vật chất của hai nhà triết học Hy Lạp cổ đại là Loxip vàDemocirit Hai ông đều cho rằng vật chất là nguyên tử Nguyên tửtheo họ là những hạt nhỏ nhất, không thể phân chia, không khác vềchất, tồn tại vĩnh viễn và sự phong phú của chúng về hình dạng, tưthế, trật tự sắp xếp quy định, nguyên tử vận động nhưng bên trongkhông vận động

Trang 2

Các nhà triết học duy vật thời cổ đại đã coi vật chất là cơ sở, bản nguyêncủa mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới; xuất phát từ chính thế giới vật chấtgiải thích thế giới.

Sai lầm của họ là đồng nhất vật chất với vật thể, thuộc tính của vật thể,lấy chúng để giải thích cho toàn bộ thế giới vật chất Những yếu tố khởinguyên mà các nhà tư tưởng nêu ra đều chỉ là các giả định, còn mang tínhchất trực quan cảm tính, chưa được chứng minh về mặt khoa học

 Chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XV-XVIII

Bắt đầu từ thời kỳ Phục hưng (thế kỷ XV), khoa học thực nghiệm ởphương Tây phát triển rất mạnh.Đến thế kỷ XVII-XVIII, thuyết nguyên tửvẫn được các nhà triết học và khoa học tự nhiên như Galile, Becon, Honbach,Newton

Đặc biệt, những thành công kỳ diệu của Newton trong vật lý học cổ điển

và việc khoa học vật lý thực nghiệm chứng minh được sự tồn tại thực sự củanguyên tử càng làm cho quan niệm trên đây được củng cố thêm.Và thời kỳnày vật chất còn được đồng nhất với khối lượng

Ở thời kỳ này quan niệm về vật chất dựa trên cơ sở khoa học phân tích thếgiới vật chất Đó chính là bước tiến lớn của chủ nghĩa duy vật so với thời cổđại (chỉ dựa trên sự quan sát bề ngoài thế giới vật chất) Đồng thời, cũng nhưchủ nghĩa duy vật thời cổ đại,quan niệm này đã xuất phát từ chính bản thânthế giới để giải thích thế giới

Hạn chế của thời kì này siêu hình, máy móc, đồng nhất vật chất với mộtdạng tồn tại cụ thể (nguyên tử) hoặc một thuộc tính cụ thể (khối lượng) củavật chất

b Quan niệm của Ăng ghen về vật chất

Ph.Ănghen trong khi đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, thuyết bất khảtri và phê phán chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc đã đưa ra những tưtưởng hết sức quan trọng về vật chất

Theo Ph.Ang ghen: “Vật chất, với tính cách là vật chất, là một sáng tạothuần tuý của tư duy và là một sự trừu tượng Chúng ta bỏ qua những sự khácnhau về chất của những sự vật, khi chúng ta gộp chúng, với tính cách lànhững vật tồn tại hữu hình, vào khái niệm vật chất Do đó, khác với nhữngvật chất xác định và đang tồn tại, vật chất, với tính cách là vật chất, không có

sự tồn tại cảm tính Khi khoa học tự nhiên hy vọng tìm ra vật chất có hìnhdạng đồng nhất, và muốn quy tất cả những sự khác nhau về chất lượng thànhnhững sự khác nhau thuần tuý về số lượng do sự kết họp của những hạt nhỏđồng nhất tạo ra thì như thế là nó cũng hành động giống như khi nó muốn coi

Trang 3

trái cây với tính cách là trái cây chứ không phải là trái anh đào, trái lê, tráitáo; coi loài có vú với tính cách là loài có vú, chứ không phải là con mèo, conchó, con cừu…”

Để có quan niệm đúng đắn về vật chất cần phải có sự phân biệt rõ rànggiữa vật chất với tính cách là một phạm trù triết học, một sáng tạo tư duy conngười trong quá trình phản ánh hiện thực chứ không phải là sản phẩm của tưduy tức vật chất với tính cách là vật chất, với bản thân là sự vật, hiện tượng

cụ thể của thế giới vật chất Do đó khác với những vật chất nhất định và đangtồn tại, vật chất có tính cách là vật chất không có sự tồn tại cảm tính Đồngthời Ph.Ăng ghen cũng chỉ ra rằng bản thân phạm trù vật chất cũng khôngphải là sự sáng tạo tùy tiện của tư duy con người mà trái lại là kết quả củacon đường trìu tượng hóa, của tư duy con người về các sự vật, hiện tượng cóthể cảm biến bằng giác quan Đặc biệt Ph Ăng ghen xác định, xét về thựcchất nội hàm của phạm trù triết học nói chung, của phạm trù vật chất nóiriêng chẳng qua là sự tóm tắt của chúng ta tập hợp theo những thuộc tínhchung của tính phong phú, muôn vẻ nhưng có thể cảm biết được bằng giácquan của các sự vật, hiện tượng của thế giới vật chất Lê nin đã nhắc lại luậnđiểm của Ăng ghen: “Vật chất không phải là sản phẩm của tinh thần mà chỉ

là sản phẩm cao cấp của vật chất mà thôi”

Ph.Ăng ghen chỉ rõ các sự vật hiện tượng của thế giới dù rất phong phúmuôn vẻ nhưng chúng vẫn có đặc tính chung, thống nhất đó là tính vật chất –tính tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý thức Để bao quát được hết các sựvật, hiện tượng cụ thể thì tư duy cần phải nắm lấy đặc tính chung này và đưa

nó vào trong phạm trù vật chất Ph.Ăng ghen giải thích Ete có tính vật chấtkhông: Dù sao nếu Ete tồn tại thì nó phải có tính vật chất, nó nằm trong kháiniệm vật chất

Tóm lại, Ăngghen chưa đưa ra định nghĩa khái quát về phạm trù vật chất,nhưng quan niệm của Mác và Ăngghen về vật chất rõ ràng là có tính chất duyvật biện chứng sâu sắc Các ông đó mở rộng quan niệm về vật chất trong lĩnhvực xã hội, khắc phục được tính chất siêu hình máy móc của các nhà triết họcduy vật trước đây, tạo tiền đề cho sự phát triển tiếp phạm trù vật chất màLênin thực hiện trong điều kiện khoa học tự nhiên có bước phát triển mới vàođầu thế kỷ XX

c Quan niệm của V.I Lênin về phạm trù vật chất

Lênin đã tiến hành tổng kết toàn diện những thành tựu mới nhất của khoahọc về, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa hoài nghi, duy tâm.Lênin đã tìm kiếm phương pháp định nghĩa mới cho phạm trù vật chất thông

Trang 4

qua đối lập với phạm trù ý thức Từ đó, Lênin đã đưa ra định nghĩa về vậtchất:

“Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

Đây là một định nghĩa hoàn chỉnh về vật chất và cho đến nay được cácnhà khoa học hiện đại coi là một định nghĩa kinh điển

Nội dung định nghĩa vật chất gồm những khía cạnh cơ bản sau:

 “Vật chất là một phạm trù của triết học”

Phạm trù vật chất là một phạm trù triết học, tức là phạm trù rộng nhất,rộng đến cùng cực, bao hàm mọi dạng vật chất mà khoa học đã biếtđến, cũng như các dạng vật chất mà khoa học chưa biết đến Chúng tacần phân biệt khái niệm “vật chất” với tư cách là một phạm trù triết họckhác với “vật chất” được sử dụng trong khoa học cụ thể, chuyên ngành

 “…dùng để chỉ thực tại khách quan… và tồn tại không lệ thuộc vàocảm giác”

Vật chất là những gì tồn tại khách quan, tức là tồn tại bên ngoài và độclập với ý thức Đây là nội dung quan trọng nhất của định nghĩa, chỉ rathuộc tính chung nhất, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất, mà chỉ nhờ

đó mới phân biệt được vật chất và ý thức: vật chất tồn tại khách quan, ýthức tồn tại chủ quan

 “… được đem lại cho con người trong cảm giác”

Vật chất là cái mà khi (bằng cách này hay cách khác) tác động vào giácquan của con người thì sinh ra cảm giác ở trên vỏ não Như vậy, xétđến cùng thì vật chất là cái có trước và sinh ra cảm giác, là cơ sở đầutiên để hình thành nên ý thức con người

 “được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh”

Nhờ thuộc tính phản ánh mà vật chất “được cảm giác của chúng ta chéplại, chụp lại, phản ánh” Điều đó cũng có nghĩa là: con người có khảnăng nhận thức được thế giới…

Ý nghĩa định nghĩa vật chất của V.I Lênin

 Chống lại quan điểm duy tâm chủ quan,duy tâm khách quan và khắcphục những hạn chế trong quan niệm của chủ nghĩa duy vật cũ về vậtchất

Trang 5

 Giải quyết một cách đúng đắn và triệt để cả hai mặt vấn đề cơ bản củatriết học trên lập trường duy vật và khả tri.

 Khắc phục được khủng hoảng thế giới quan, đem lại niềm tin trongkhoa học tự nhiên

 Tạo liên kết giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vậtlịch sử thành một hệ thống lý luận thống nhất, góp phần tạo ra nền tảng

lý luận khoa học cho việc phân tích một cách duy vật biện chứng cácvấn đề của chủ nghĩa duy vật lịch sử, trước hết là các vấn đề về sự vậnđộng và phát triển của phương thức sản xuất vật chất, về mối quan hệgiữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, về mối liên hệ giữa quy luật kháchquan của lịch sử và hoạt động có ý thức của con người

 Định hướng cho các nhà khoa học tự nhiên trong việc tìm kiếm, khámphá ra những dạng và cấu trúc vật chất mới

 Là cơ sở để xây dựng nền tảng vững chắc cho sự liên minh ngày càngchặt chẽ cho triết học duy vật biện chứng

2 Các hình thức tồn tại của vật chất

a Vận động

Khái niệm

Theo V.I Lenin:

“Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là một phuơng thứctồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, bao gồm tất cảmọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vịtrí đơn giản cho đến tư duy.”

Vận động là phương thức tồn tại của vật chất

 Vận động là một thuộc tính cố hữu của vật chất nên nó không do ai sáng

tạo và cũng không thể tiêu diệt được Mọi sự vật, hiện tượng luôn luôn

vận động Bằng sự vận động và thông qua sự vận động mà các sự vật,hiện tượng tồn tại và thể hiện đặc tính của mình Không thể có vật chất

mà không có vận động và ngược lại Vận động là hình thức tồn tại củavật chất nên các dạng vật chất được nhận thức thông qua sự vận độngcủa chúng

 Vật chất chỉ có thể tồn tại bằng cách vận động và thông qua vận động vàthông qua vận động mà biểu hiện sự tồn tại của nó với các hình dạngphong phú, muôn vẻ, vô tận Do đó con người chỉ nhận thức được sâusắc sự vật, hiện tượng bằng cách xem xét chúng trong quá trình vậnđộng

Trang 6

Theo Ăngghen: “Quan niệm về giới tự nhiên đã được hoàn thành trên những nét cơ bản: Tất cả những gì cố định đều biến thành mây khói, và tất cả những gì người ta cho là tồn tại vĩnh cửu thì nay đã trở thành nhất thời, và người ta đã chứng minh rằng toàn bộ giới tự nhiên đều vận động theo một vòng tuần hoàn vĩnh cửu”.

Vận động là tuyệt đối, là vĩnh viễn Điều này không có nghĩa là chủ nghĩa duy vật biện chứng phủ nhận sự đứng im, cân bằng; nhưng đứng im, cân bằng chỉ là hiện tượng tương đối, tạm thời và thực chất đứng im, cân bằng chỉ là một trạng thái đặc biệt của vận động.

Quá trình vận động bao hàm trong nó hiện tượng đứng im Theo quanđiểm của Triết học Mác – Lênin thì đứng im là một trạng thái đặc biệt của vậnđộng đó là sự vận động trong trạng thái cân bằng, tức là những tính chất củavật chất chưa có sự biến đổi về cơ bản

Theo Ăng-Ghen thì "Mọi sự cân bằng chỉ là tương đối và tạm thời".

Đứng im chỉ là hiện tượng tương đối và tạm thời Đứng im chỉ biểu hiện củamột trạng thái vận động, đó là vận động trong thăng bằng, trong sự ổn địnhtương đối, biểu hiện thành một sự vật nhất định khi nó còn là nó chưa bị phânhóa thành cái khác Chính nhờ trạng thái ổn định đó mà sự vật thực hiện được

sự chuyển hóa tiếp theo Đứng im còn được biểu hiện như một quá trình vậnđộng trong phạm vi chất của sự vật còn ổn định, chưa thay đổi

Trang 7

Theo Ăngghen thì "vận động riêng biệt có xu hướng chuyển thành cân bằng, vận động toàn bộ phá hoại sự cân bằng riêng biệt"

b Không gian và thời gian

Khái niệm

Dựa trên những thành tựu vủa khoa học và thực tiễn, chủ nghĩa duy vậtbiện chứng đã khẳng định tính khách quan của không gian và thời gian, xemkhông gian và thời gian là hình thức tồn tại của vật chất vận động Trong đó:

 Không gian là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt quảng tính, sự cùngtồn tại, trật tự, kết cấu và sự tác động lẫn nhau

 Thời gian là hình thức tồn tại của vật chất vận động xét về mặt độ dài củadiễn biến, sự kế tiếp của các quá trình

Tính chất

 Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất vậnđộng, được con người khái quát khi nhận thức thế giới Không có khônggian và thời gian thuần túy tách rời vật chất vận động Không gian vàthời gian là thuộc tính của vật chất tồn tại gắn liền với nhau và gắn liềnvới vật chất Vì vật chất tồn tại khách quan, do đó không gian và thờigian là thuộc tính của nó nên cũng tồn tại khách quan Điều đó phủ nhậnquan điểm của chủ nghĩa duy tâm coi không gian, thời gian chỉ là sảnphẩm của ý thức con người

 Không gian và thời gian là hai thuộc tính, hai hình thức tồn tại khác nhaucủa vật chất vận động, nhưng chúng không tách rời nhau Không có sựvật, hiện tượng nào tồn tại trong không gian mà không có một quá trìnhdiễn biến của nó Cũng không thể có sự vật, hiện tượng nào có thời gian

để tồn tại mà lại không có quảng tính, kết cấu nhất định Tính chất củakhông gian và sự biến đổi của nó bao giờ cũng gắn liền với tính chất và

sự biến đổi của thời gian và ngược lại Do dó, không gian va thời gian,

về thực chất là một thể thống nhất không – thời gian Không gian luôn có

ba chiều (chiều dài, chiều rộng, chiều cao), còn thời gian chỉ có mộtchiều (từ quá khứ tới tương lai)

 Không gian và thời gian của vật chất nói chung là vô tận, xét về cả phạm

vi lẫn tính chất Khoa học hiện đại đã chứng minh rằng trong thế giớikhông ở đâu có tận cùng về không gian, cũng như không ở đâu có ngưngđọng, không biến đổi hoặc không có sự tiếp nối của các quá trình Khônggian và thời gian không có tận cùng về một phía nào, xét cả về quá

Trang 8

khứ lẫn tương lai, cũng như mọi phương vị Đây chính là tính vĩnh cửu

và vô tận của không gian và thời gian

Không gian và thời gian là một trong các hình thức tồn tại của vật chất.Chúng gồm ba tính chất: tính khách quan; tính vĩnh cửu và vô tận; tính bachiều của không gian và tính một chiều của thời gian

II Ý THỨC

1 Nguồn gốc của ý thức

a Quan điểm duy tâm

Khi lý giải nguồn gốc ra đời của ý thức, các nhà triết học duy tâm chorằng, ý thức là nguyên thể đầu tiên, tồn tại vĩnh viễn, là nguyên nhân sinhthành, chi phối sự tồn tại biến đổi của toàn bộ thế giới vật chất Chủ nghĩa duytâm khách quan với những đại biểu tiêu biểu như Platôn, G.Hêghen đã tuyệtđối vai trò của lý tính, khẳng định thế giới “ý niệm”, hay “ý niệm tuyệt đối” làbản thể, sinh ra toàn bộ thế giới hiện thực Còn chủ nghĩa duy tâm chủ quanvới những đại biểu như G.béccơli, E.makhơ lại tuyệt đối hóa vai trò của cảmgiác, coi cảm giác là tồn tại duy nhất, “tiên thiên”, sản sinh ra thế giới vậtchất Ý thức của con người là do cảm giác sinh ra, nhưng cảm giác theo quanniệm của họ không phải là sự phản ánh thế giới khách quan mà chỉ là cái vốn

có của mỗi cá nhân tồn tại tách rời, biệt lập với thế giới bên ngoài Đó lànhững quan niệm hết sức phiến diện, sai lầm, của chủ nghĩa duy tâm, cơ sở lýluận của tôn giáo

b Quan điểm duy vật siêu hình

Đối lập với các quan niệm của chủ nghĩa duy tâm, các nhà duy vật siêuhình phủ nhận tính chất siêu tự nhiên của ý thức, tinh thần Họ xuất phát từthế giới hiện thực để lý giải nguồn gốc của ý thức Các nhà duy vật siêu hình

đã đồng nhất ý thức với vật chất Họ coi ý thức cũng chỉ là một dạng vật chấtđặc biệt, do vật chất sản sinh ra Chẳng hạn từ thời cổ đại, Đêmôcơrít quanđiểm ý thức là do những nguyên tử đặc biệt liên kết với nhau tạo thành Cácnhà duy vật tầm thường thế kỉ XVIII lại cho rằng: “Óc tiết ra ý thức như gantiết ra mật” Một số nhà duy vật khác thuộc phái “vật hoạt luận” lại quan niệm

ý thức là thuộc tính phố biến của mọi dạng vật chất – từ giới vô sinh đến dướihữu sinh, mà cao nhất là con người

c Quan điểm duy vật biện chứng

Nguồn gốc tự nhiên:

Trang 9

 Bộ óc người là kết cấu vật chất phát triển ở trình độ cao nhất, là cơ sở vậtchất của ý thức.

 Thế giới khách quan là đối tượng phản ánh, tác động vào bộ óc hìnhthành quá trình phản ánh ý thức

 Phản ánh là thuộc tính của mọi dạng vật chất, tùy từng trình độ phát triểncủa vật chất mà có các trình độ phản ánh tương ứng

Trong mối quan hệ này, thế giới khách quan được phản ánh thông quahoạt động của các giác quan đã tác động đến bộ óc người, hình thành nên ýthức

Nguồn gốc xã hội: Là lao động và ngôn ngữ Hai yếu tố này vừa là nguồn

gốc vừa là tiền đề của sự ra đời ý thức

2 Bản chất của ý thức

Khái niệm: Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là quá trình phản ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan của óc người.

Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: Về nội dung mà

ý thức phản ánh là khách quan, còn hình thức phản ánh là chủ quan Ý thức

là cái vật chất ở bên ngoài “di chuyển” vào trong đầu óc của con người vàđược cải biến đi ở trong đó Kết quả phản ánh của ý thức tùy thuộc vàonhiều yếu tố: đối tượng phản ánh, điều kiện lịch sử xã hội, phẩm chất, nănglực, kinh nghiệm, thể chất khác nhau, trong những hoàn cảnh lịch sử khácnhau… thì kết quả phản ánh đối tượng trong ý thức cũng rất khác nhau

Ph.Ăngghen đã từng chỉ rõ bản chất phức tạp của quá trình phản ánh: “Trên thực tế, bất kì phản ánh nào của hệ thống thế giới vào trong tư tưởng cũng đều bị hạn chế về mặt khách quan bởi những điều kiện lịch sử, và về mặt chủ quan bởi đặc điểm về thể chất và tinh thần của tác giả” Trong ý thức

của chủ thể, sự phù hợp giữa tri thức và khách thể chỉ là tương đối, biểutượng về thế giới khách quan có thể đúng đắn hoặc sai lầm, và cho dù phảnánh chính xác đến đâu thì đó cũng chỉ là sự phản ánh gần đúng, có xuhướng tiến gần đến khách thể

Ý thức mang bản chất xã hội (ý thức là sản phẩm lịch sử của sự phát triển xã hội): Sự ra đời và tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực

tiễn, chịu sự chi phối không chỉ của các quy luật sinh học mà chủ yếu làcủa các quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinhhoạt hiện thực của đời sống xã hội quy định Với tính năng động, ý thức đãsáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn xã hội

Trang 10

Theo Mác – Ăngghen: “Ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn như vậy cho đến chừng nào con người còn tồn tại”.

Tóm lại, tính phản ánh và tính sáng tạo của ý tức thống nhất với nhau trong hoạt động thực tiễn xã hội của con người Ý thức là hình tức phản ánh

xã hội – phản ánh một cách năng động sáng tạo hiện thực khách quan vàotrong bộ óc của con người có lợi ích

3 Kết cấu của ý thức

Ý thức là một hiện tượng tâm lý – xã hội có kết cấu rất phức tạp Có nhiềucách tiếp cận khác để nghiên cứu về kết cấu của ý thức song ở đây chúng tachỉ nghiên cứu theo hai chiều là chiều ngang và chiều dọc

a Theo chiều ngang

Ý thức gồm 3 yếu tố cơ bản:

 Tri thức: Theo C.Mac, “phương thức mà theo đó ý thức tồn tại vàtheo đó một cái gì đó tồn tại đối với ý thức là tri thức…, cho nên mộtcái gì đó nảy sinh ra đối với ý thức, chừng nào ý thức biết cái đó”

 Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh tồn tại, nó phảnánh quan hệ giữa người với người và quan hệ giữa người với thế giớikhách quan

 Ý chí chính là những cố gắng, nỗ lực, khả năng huy động mọi tiềmnăng trong mỗi con người vào hoạt động để có thể vượt qua mọi trởngại đạt mục địch đề ra

Vấn đề trí tuệ nhân tạo

Trí tuệ nhân tạo là sự nghiên cứu và thiết kế của những tác nhân thôngminh (Intelligent agent) Những tác nhân thông minh này có khả năng phântích môi trường và tạo ra hành động nhằm tối ưu hóa thành công Nghiên cứu

AI sẽ sử dụng các công cụ và cần hiểu biết từ nhiều lĩnh vực gồm khoa họcmáy tính, tâm lý học, triết học, khoa học thần kinh, khoa học nhận thức, ngônngữ học, nghiên cứu hoạt động, kinh tế, lý thuyết điều khiển, xác suất, tối ưuhóa và logic Nghiên cứu AI cũng bao gồm các tác vụ như điều khiển hệthống, lên lịch trình, khai thác dữ liệu, nhận dạng giọng nói, logistic, nhậndiện khuôn mặt và nhiều thứ khác nữa

Trang 11

Trí tuệ con người xoay quanh việc thích nghi với môi trường bằng sự kếthợp với một số quá trình nhận thức Lĩnh vực trí tuệ nhân tạo tập trung vàoviệc thiết kế các máy móc có thể bắt chước hành vi của con người Tuy nhiên,các nhà nghiên cứu AI có thể tiến xa đến mức thực hiện AI yếu, chứ khôngphải là AI mạnh Trên thực tế, một số người tin rằng AI mạnh là điều khôngthể do sự khác biệt giữa não người và máy tính Vì vậy, tại thời điểm này, khảnăng đơn thuần bắt chước hành vi của con người được coi là trí tuệ nhân tạo. Ngoài ra, việc sử dụng trí tuệ nhân tạo chắc chắn sẽ giúp cuộc sống chúng tatrở nên thuận tiện hơn và thậm chí buộc con người phải phát triển các kỹnăng Có lẽ sẽ không bao giờ chuyện máy móc có thể thay thế hoàn toàn conngười.

III MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

Mối quan hệ vật chất và ý thức là “Vấn đề cơ bản của mọi triết học,đặc biệt là của triết học hiện đại” Tùy theo lập trường thế giới khác nhau,khi giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức mà hình thành hai đườnglối cơ bản của trong triết học là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.Khẳng định nguyên tắc tính đảng trong triết học, V.I Lênin đã viết: “Triếthọc hiện đã cũng có tính đảng như triết học hai nghìn năm về trước Nhữngđảng phái đang đấu tranh với nhau, về thực chất, mặc dù thực chất đó bịche giấu bằng những nhãn hiệu mới của thủ đoạn lang băm hoặc tính phiđảng ngu xuẩn – là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm”

1 Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình

Trong lịch sử triết học, khi lý giải mối quan hệ vật chất – ý thức các nhàtriết học đã phạm nhiều sai lầm chủ quan, phiến diện do không hiểu được bảnchất thực sự của vật chất và ý thức Khi nghiên cứu các tư tưởng triết học

trong lịch sử, trong “Luận cương về L.Phoiobac”, C Mác đã ghi rõ hạn chế

của các nhà chủ nghĩa duy vật trực quan và chủ nghĩa duy tâm: “Sự vật, hiệnthực cái có thể cảm giác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể,hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức về mặt chủ quan Vìvậy, mặt năng động được chủ nghĩa duy tâm phát triển một cách trừu tượng,

vì chủ nghĩa duy tâm dĩ nhiên là không hiểu được hoạt động hiện thực, cảmgiác được”

Đối với chủ nghĩa duy tâm, ý thức, tinh thần vốn có của con người đã bị

trừu tượng hoá, tách khỏi con người hiện thực thành một lực lượng thần bí,tiên nhiên Họ coi ý thức là tồn tại duy nhất, tuyệt đối, là tính thứ nhất từ đósinh ra tất cả; còn thế giới vật chất chỉ là bản sao, biểu hiện khác của ý thứctinh thần, là tính thứ hai, do ý thức tinh thần sinh ra Trên thực tế, chủ nghĩaduy tâm là cơ sở lý luận của tôn giáo, chủ nghĩa ngu dân Mọi con đường màchủ nghĩa duy tâm mở ra đều dẫn con người đến với thần học, với “đườngsang thế” Trong thực tiễn, người duy tâm phủ nhận tính khách quan, cường

Trang 12

điệu vai trò nhân tố chủ quan, duy ý chí, hành động bất chấp điều kiện, quyluật khách quan.

Chủ nghĩa duy vật siêu hình, tuyệt đối hoá yếu tố vật chất, chỉ nhấn mạnh

một chiều vai trò của vật chất sinh ra ý thức, quyết định ý thức, phủ nhận tínhđộc lập tương đối của ý thức, không thấy được tính năng động, sáng tạo, vaitrò to lớn của ý thức trong hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan

Do vậy, họ đã phạm nhiều sai lầm có tính nguyên tắc bởi thái độ “ khách quanchủ nghĩa”, thụ động, ỷ lại, trông chờ không đem lại hiệu quả trong hoạt độngthực tiễn

2 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Kiên trì đường lối duy vật, nắm vững phép biện chứng, luôn theo sát

và kịp thời khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên, cácnhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lenin đã khắc phục được những sai lầm,hạn chế của các quan niệm duy tâm, siêu hình và nêu lên những quan điểmkhoa học, khái quát đúng đắn về mặt triết học hai lĩnh vực lớn nhất của thếgiới là vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa chúng

Theo quan điểm triết học Mác – Lenin, vật chất và ý thức có mối quan

hệ biện chứng trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác động tích cực trở lại vật chất.

a Vật chất quyết định ý thức

Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức được thể hiện trên mấykhía cạnh sau:

Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức.

Vật chất “sinh” ra ý thức, vì ý thức xuất hiện gắn liền với sự xuấthiện của con người cách đây 3 – 7 triệu năm, mà con người là kết quả củamột quá trình phát triển, tiến hóa lâu dài, phức tạp của giới tự nhiên, củathế giới vật chất Con người do giới tự nhiên, vật chất sinh ra, cho nên lẽtất nhiên, ý thức – một thuộc tính của bộ phận con người – cũng do giới tựnhiên, vật chất sinh ra Các thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại đãchúng minh được rằng, giới tự nhiên có trước con người; vật chất là cái cótrước, còn ý thức là cái có sau; vật chất là tính thứ nhất, còn ý thức là tínhthứ hai Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và là nguồn gốcsinh ra ý thức Bộ óc người là một dạng vật chất có tổ chức cao nhất, là cơquan phản ánh để hình thành ý thức Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạtđộng thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh hiện thực khách quan

Sự vận động của thế giới vật chất là yếu tố quyết định sự ra đời của cái vậtchất có tư duy là bộ óc người

Ví dụ:

Điều gì sẽ xảy ra với chúng ta hay mọi sinh vật khác khi không

có thức ăn? Câu trả lời rất đơn giản: Ta sẽ không thể sống sót quangày Vì vậy luôn có câu nói đúc kết từ xa xưa: “Có thực mới vực

Trang 13

được đạo” Khi chúng ta hấp thụ thức ăn “vật chất” vào trong cơ thểthì ý thức mới tồn tại và sinh sôi, sức khỏe, đầu óc mới minh mẫn.Tóm lại vật chất chính là cái quyết định đến nguồn gốc ra đời của ýthức Không có vật chất, ý thức sẽ không thể hiện diện trong khônggian.

Ví dụ đơn giản tiếp theo đó là: Khi chúng ta có ta có điều kiện,

có tiền bạc để mua những thiết bị giải trí phục vụ cho công việc nhưtivi, laptop hay chiếc điện thoại thông minh Chúng ta sử dụng đồngtiền để du lịch ở đâu đó… Đó là những giá trị vật chất mang lại tinhthần thoải mái cho con người giúp con người sáng tạo.Ý thức củachúng ta từ đó cũng dần được cải thiện và văn minh

Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức.

Ý thức dưới bất kì hình thức nào, suy cho cùng đếu là phản ánh hiệnthực khách quan Ý thức mà trong nội dung của nó chẳng qua là kết quảcủa sự phản ánh khách quan vào trong đầu óc con người Hay nói cáchkhác, có thế giới hiện thực vận động phát triển theo những quy luật kháchquan của nó, được phản ánh vào ý thức mới có nội dung của ý thức

Thế giới khách quan mà trước hết và chủ yếu là hoạt động thực tiễn

có tính xã hội – lịch sử của loài người là yếu tố quyết định nội dung mà ýthức phản ánh “Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồntại được ý thức” Ý thức chỉ là hình ảnh của thế giới khách quan Sự pháttriển của hoạt động thực tiễn cả về bề rộng và chiều sâu là động lực mạnh

mẽ nhất quyết định tính phong phú và độ sâu sắc của nôi dung của tư duy,

ý thức con người qua các thế hệ, qua các thời đại từ mông muội tới vănminh, hiện đại

Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức

Phản ánh và sáng tạo là hai thuộc tính không tách rời trong bản chấtcủa ý thức Nhưng sự phản ánh của con người không phải là “soi gương”,

“chụp ảnh” hoặc là “phản ánh tâm lý” như con vật mà là phản ánh tíchcực, tự giác, sáng tạo thông qua thực tiễn Khác với chủ nghĩa của duy vật

cũ, xem xét thế giới vật chất như là những sự vật, hiện tượng cảm tính,chủ nghĩa duy vật biện chứng xem xét thế giới vật chất là thế giới của conngười hoạt động thực tiễn Chính thực tiễn là hoạt động vật chất có tínhcải biến thế giới của con người – là cơ sở để hình thành, phát triển ý thức,trong đó có ý thức của con người vừa phản ánh, vừa sáng tạo, phản ánh đểsáng tạo và sáng tạo trong phản ánh

Trang 14

gì để làm Rồi tự nhiên có bạn đến nhà chơi thì nó ứng tiền trước nênlại có nước có điện và bản thân các bạn sinh viên ấy tự nhiên lại vuihẳn lên, trong khi rõ ràng là bình thường vẫn có điện có nước mà bảnthân lại không cảm thấy gì Từ đó ta thấy được giá trị của điện vànước đã có một sự thay đổi lớn trong suy nghĩ của các bạn sinh viên

ấy Vốn dĩ thì trên thực tế giá trị vốn có của điện và nước vẫn không

hề thay đổi nhưng đối với các bạn sinh viên ấy thì giá trị của hai thứnày lại có một sự chênh lệch lớn trong những hoàn cảnh nhất định

Từ đó ta khẳng định được rằng thế giới khách quan đã tác động lêncách nhìn nhận của chúng ta về sự vật hay sự việc nào đó hay nóicách khác, vật chất đã quyết định bản chất của ý thức, và rõ hơn làtác động lên hình ảnh chủ quan mà ý thức phản ánh lại từ thế giớikhách quan

Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động phát triển của ý thức.

Mọi sự tồn tại, phát triển của ý thức đều gắn liền với quá trình biếnđổi của vật chất; vật chất thay đổi thì sớm hay muộn thì ý thức cũng phảithay đổi theo Con người – một sinh vật có tính xã hội càng ngày pháttriển cả thể chất và tinh thần, thì dĩ nhiên ý thức – một hình thức phản ánhcủa óc người cũng phát triển cả về nội dung và hình thức phản ánh của nó.Đời sống xã hội ngày càng văn minh và khoa học ngày càng phát triển đãchứng minh điều đó

Loài người đã người nguyên thủy sống bầy đàn dựa vào sản vật củathiên nhiên thì tư duy của họ cũng đơn sơ, giản dị như cuộc sống của họ.Cùng với mỗi bước phát triển của sản xuất, tư duy, ý thức của con ngườicũng càng ngày càng mở rộng, đời sống tinh thần của con người ngàycàng phong phú Con người không chỉ ý thức được hiện tại, mà còn ý thứcđược cả những vấn đề trong quá khứ và dự kiến được cả trong tương lai,trên cơ sở khái quát ngày càng sâu sắc của bản chất, quy luật vận động,phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy của họ Sự vận động biến đổikhông ngừng của thế giới vật chất, của thực tiễn là yếu tố quyết định sựvận động biến đổi của tư duy, ý thức con người Khi sản xuất xã hội xuấthiện chế độ tư hữu, ý thức chính trị, pháp quyền cũng dần thay thế cho ýthức quần cư, cộng đồng thời nguyên thủy Trong nền sản xuất tư bản,tính chất xã hội hóa của sản xuất phát triển là cơ sở để ý thức xã hộ chủnghĩa ra đời mà đỉnh cao của nó là sự hình thành và phát triển khôngngừng lý luận và khoa học của nhà chủ nghĩa Mac – Lenin

Trong đời sống xã hội, vai trò quyết định của vật chất đối với ý thứcđược biểu hiện ở vai trò của kinh tế đối với chính trị, đời sống vật chất đốivới đời sống tinh thần, tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội Trong xã hội

Trang 15

sự phát triển của kinh tế xét đến cùng sự quy định và phát triển của vănhóa; đời sống vật chất thay đổi thì sớm muộn đời sống tinh thần cũng thayđổi theo.

Vật chất và ý thức là hai hiện tượng đối lập nhau về bản chất nhưng

về mặt nhận thức luận, cần quán triệt sâu sắc tư tưởng biện chứng củaV.I.Lenin, rằng “sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đốitrong những phạm vi hết sức hạn chế: trong trường hợp này chỉ giới hạntrong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì có trước và cái gì

là cái có sau? Ngoài giới hạn đó thì không còn nghi ngờ gì nữa rằng đốilập đó là tương đối” Ở đây tính tương đối của sự đối lập giữa vật chất và

ý thức thể hiện qua mối quan hệ giữa thực thể vật chất đặc biệt – bộ óccon người và thuộc tính của chính nó

 Ý thức của A: chiếc bút chì thẳng, không gãy

 Ý thức của B: chiếc bút chì bị gãy

Trong ví dụ trên thì anh A tin chắc như đinh đóng cột rằng có tồntại chiếc bút chì, và chiếc bút chì đó không hề bị làm sao cả vì đóchính là chiếc bút chì anh sử dụng hàng ngày Hơn nữa, anh cònnhấc lên, nhúng xuống nước vài lần để kiểm chứng

Khẳng định của B cho rằng chiếc bút chì bị gãy thôi thúc anh tìmhiểu nguyên nhân tại sao lại như vậy Tại sao cả anh và bạn anh đềunhìn thấy chiếc bút chì như bị gãy làm đôi khi nhúng vào nước, mặc

dù chiếc bút chì thực chất hoàn toàn bình thường?

Thế là anh vùi đầu ngày đêm vào công cuộc nghiên cứu, tiến hànhthí nghiệm các kiểu Cuối cùng, anh đã hiểu ra cách thức ánh sángđược truyền đi trong các môi trường trong suốt khác nhau Anh

đã khái quát hóa nó thành một định luật gọi là Định luật khúc xạánh sáng

b Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất

Điều này được thể hiện trên những khía cạnh sau:

Thứ nhất, tính độc lập tương đối của ý thức thể hiện ở chỗ, ý thức là

sự phản ánh thế giới vật chất vào trong đầu óc con người, do vật chất sinh

ra, nhưng khi đã ra đời thì ý thức có “đời sống” riêng, có quy luật vận

Ngày đăng: 04/01/2021, 22:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w