Áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hộiÁp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khía cạnh pháp luật và xã hội
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIM PHƯỢNG
ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI: KHÍA CẠNH PHÁP LUẬT VÀ XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Hà Nội - 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIM PHƯỢNG
ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI:
KHÍA CẠNH PHÁP LUẬT VÀ XÃ HỘI
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA
Hà Nội - 2019
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHẬN THỨC VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI
DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TỪ KHÍA CẠNH PHÁP LUẬT VÀ
XÃ HỘI 8 1.1 Khái niệm, đặc điểm của áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 8 1.2 Các nguyên tắc trong áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 12 1.3 Căn cứ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ khía cạnh pháp luật 18 1.4 Căn cứ áp dụng pháp luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ khía cạnh xã hội 22 Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ HÌNH
PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TỪ KHÍA CẠNH PHÁP LUẬT VÀ XÃ HỘI 288 2.1 Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 288 2.2 Thực tiễn áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 400 Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ÁP DỤNG
HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 687 3.1 Yêu cầu nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 687 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ khía cạnh pháp luật 698 3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ khía cạnh xã hội 764
Trang 4DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ANTT: An ninh trật tự
BLHS: Bộ luật hình sự
CAND: Công an nhân dân
CQĐT: Cơ quan điều tra
UBND: Ủy ban nhân dân
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 6Bảng 2.3 Các vụ án hình sự sơ thẩm có bị cáo là người dưới 18 tuổi và việc
áp dụng các biện pháp tha miễn trách nhiệm hình sự và hình phạt của Tòa án nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội các năm 2013
- 2017
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: Trẻ em là mùa xuân của dân tộc và
là tương lai của đất nước Trong suốt cuộc đời mình, Hồ chủ tịch đã hết sức quan tâm tới việc chăm sóc và giáo dục trẻ em Hiện nay, cùng với sự phát triển chung của đất nước, Đảng và Nhà nước ta xác định: nguồn nhân lực là một trong những nhân tố quyết định đối với sự phát triển của quốc gia và là chìa khóa dẫn tới cánh cửa thành công Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra các định hướng và chính sách nhằm tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho sự phát triển toàn diện về đạo đức, trí lực, thể lực và nghệ thuật giúp trẻ em trở thành “nguồn nhân lực có chất lượng” góp phần đưa Việt Nam trở thành một quốc gia hùng mạnh
Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm ở Việt Nam đang có những diễn biến khá phức tạp, trong đó có tình trạng gia tăng của tội phạm dưới 18 tuổi Tốc độ trẻ hóa của tội phạm dưới 18 tuổi ở nước ta thời gian qua đòi hỏi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải có những giải pháp phù hợp để không chỉ nhằm bảo vệ sự phát triển bền vững của quốc gia trong tương lai mà còn nhằm bảo vệ trật tự an toàn xã hội Tuy nhiên, việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi là vấn đề không hề đơn giản Bởi vì, người dưới 18 tuổi
là những người phát triển chưa đầy đủ về thể chất, tâm lý, sinh lý, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi còn những hạn chế nhất định vì kinh nghiệm sống còn non nớt Chính vì vậy, hành vi của những người này thường là bộc phát chưa đủ sự chín chắn, sự bản lĩnh làm chủ hành vi của mình Do đó, việc
xử lí đối với hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho
Trang 8xã hội Do đó, khi áp dụng hình phạt đối với những người dưới 18 tuổi không thể giống như áp dụng hình phạt đối với những người trưởng thành
Mục đích của hình phạt được quy định tại Điều 31 BLHS như sau: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống XHCN, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm” Tuy nhiên, khi áp dụng hình phạt nói riêng và áp dụng pháp luật nói chung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì tòa án nhân dân các cấp đều phải tuân thủ một trong các nguyên tắc sau đây: việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi (khoản 1 Điều 91 BLHS) Đây là nguyên tắc chung định hướng cho các chủ thể tiến hành tố tụng khi quyết định lựa chọn biện pháp xử lý nhất định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ đó tìm ra các biện pháp xử lý phù hợp nhất đối với đối tượng này Nội dung của nguyên tắc này là đòi hỏi các cá nhân, cơ quan, tổ chức khi tiến hành các hoạt động tố tụng có liên quan đến việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội cần bảo đảm rằng quyết định ấy là tối ưu nhất, tốt nhất cho các em trong mối quan hệ hài hòa với các lợi ích khác của xã hội cũng như bảo đảm được tính nghiêm minh của pháp luật
BLHS 2015 sửa đổi 2017 đã có những thay đổi nhất định trong việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Mặc dù vậy việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội vẫn còn có nhiều bất cập, hạn chế như việc áp dụng pháp luật nhiều nơi chưa đồng bộ, chưa thống nhất hay chưa phân hóa được cụ thể trách nhiệm hình sự của những người này ở các mức
độ, các độ tuổi khác nhau Từ những hạn chế, bất cập ấy có thể thấy rằng: quá trình nghiên cứu, đánh giá chính xác và hiệu quả việc áp dụng hình phạt đối
Trang 9với người dưới 18 tuổi phạm tội dưới khía cạnh lập pháp và xã hội là vấn đề rất cần thiết và có ý nghĩa
Đây chính là lý do tác giả lựa chọn đề tài: “Áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội: khía cạnh pháp luật và xã hội” làm đề tài luận
văn thạc sỹ
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua có một số công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài đã được công bố như:
+ Các công trình liên quan đến xã hội học nói chung như:
Tác giả Võ Khánh Vinh năm 2012 - Xã hội học pháp luật – những vấn
đề cơ bản, NXB Khoa học xã hội, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội
Tác giả Trần Đức Châm năm 2013 - Xã hội học pháp luật, NXB Chính
trị quốc gia sự thật, Hà Nội
+ Các giáo trình, bình luận khoa học Bộ luật hình sự:
Giáo trình luật hình sự Việt Nam phần các tội phạm - quyển 1 của
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2013), Nxb Hồng Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình luật hình sự Việt Nam,
Tập 2, NXB Công an nhân dân, Hà Nội
Tác giả Đinh Văn Quế năm 2003 - Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự,
Tập 2, NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả Nguyễn Đức Mai năm 2013 - Bình luận khoa học BLHS năm
1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) - Phần các tội phạm, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội
+ Các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học có liên quan:
Tác giả Nguyễn Tất Viễn năm 2014 - Tòa án người chưa thành niên, Số
chuyên đề Tạp chí Vì trẻ thơ, Hà Nội
Trang 10Tác giả Trịnh Tiến Việt năm 2007 - Những trường hợp miễn trách nhiệm
hình sự quy định trong Phần chung Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, Số 18,
Tạp chí Tòa án nhân dân, Hà Nội
Tác giả Trịnh Quốc Toản năm 2011 - Một số vấn đề lý luận về hình phạt
trong Luật hình sự, Số 27 của Tạp chí Khoa học ĐHQGHN - Luật học, Hà Nội
+ Các luận văn, luận án tương tự:
Tác giả Lê Văn Đệ - Định tội danh và quyết định hình phạt trong Luật
hình sự Việt Nam năm 2004, Nhà xuất bản CAND, Hà Nội
Tác giả Trần Ngọc Lan Trang (2017) - Các biện pháp thay thế cho hình
phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật hình sự
2015, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả Nguyễn Minh Khuê, Quyết định hình phạt đối với người chưa
thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học
năm 2007, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội
Tác giả Nguyễn Anh Tú, Quyết định hình phạt đối với người chưa thành
niên phạm tội từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ Luật học
năm 2016, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội
Tác giả Nguyễn Văn Thanh Bình, Quyết định hình phạt đối với người
chưa thành niên phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Cần Thơ, Luận văn thạc sỹ Luật học năm 2016, Học viện Khoa học xã hội,
Hà Nội
Các đề tài khoa học, các công trình nghiên cứu, các bài viết trên đây đều
là những công trình khoa học có giá trị cao về mặt lý luận khoa học và thực tiễn Tuy nhiên, nội dung của các công trình, các đề tài, các bài viết trên có nội hàm nghiên cứu quá rộng, có đề tài nghiên cứu thời gian đã lâu nên ý nghĩa của
đề tài với thực tiễn hiện nay còn những hạn chế nhất định, có đề tài nghiên cứu lại gắn với một địa bàn nhất định nên tính khái quát của đề tài về mặt lý luận
Trang 11chưa cao Vì vậy, theo đánh giá của tác giả, mặc dù có rất nhiều công trình, đề tài, bài viết nghiên cứu về hình phạt tuy nhiên các công trình, đề tài, bài viết phần lớn mới chỉ đề cập đến vấn đề quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, chưa có một công trình, một đề tài, bài viết nào nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện vấn đề áp dụng hình phạt đối với người dưới
18 tuổi phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ khía cạnh pháp luật và xã hội Tuy vậy, kết quả của những công trình nghiên cứu, các đề tài, các bài viết
đã công bố nêu trên là một trong những nguồn tài liệu quan trọng mà tác giả có thể vận dụng, kế thừa, phát triển và bổ sung thêm để hoàn thiện cho đề tài nghiên cứu của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở xác định mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài cần phải thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu làm rõ lý luận về áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội dưới khía cạnh pháp luật và dưới khía cạnh xã hội
- Phân tích, đánh giá thực trạng việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội giai đoạn 2014 - 2018
Trang 12- Kiến nghị, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ khía cạnh pháp luật và xã hội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định về việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ khía cạnh pháp luật và từ khía cạnh xã hội
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở tổng hợp số liệu tình hình giải quyết các vụ án dưới 18 tuổi phạm tội trên phạm vi cả nước trong giai đoạn 2014-2018; thực tiễn áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thông qua các số liệu thống kê cụ thể của một số địa phương trong cả nước
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận là phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước
và pháp luật; quan điểm của Đảng và Nhà nước về tội phạm và hình phạt nói chung và về chính sách áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng Đồng thời, trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài, tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như phân tích, đánh giá, so sánh, tổng hợp nhằm làm rõ nội dung vấn đề cần trình bày cũng như tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả của việc áp dụng hình phạt đối với dưới 18 tuổi phạm tội dưới khía cạnh lập pháp và xã hội
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận
có liên quan đến việc xây dựng chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng và việc áp dụng pháp hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói chung
Trang 136.2 Ý nghĩa thực tiễn
Bên cạnh giá trị về mặt lý luận, thông qua việc nghiên cứu đề tài để đánh giá thực trạng áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Từ đó làm cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật nói chung về áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu như sau:
Chương 1 Nhận thức về áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ khía cạnh pháp luật và xã hội
Chương 2 Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và thực tiễn áp dụng từ khía cạnh pháp luật và xã hội
Chương 3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ khía cạnh pháp luật và xã hội
Trang 14Chương 1 NHẬN THỨC VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI
DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TỪ KHÍA CẠNH
PHÁP LUẬT VÀ XÃ HỘI
1.1 Khái niệm, đặc điểm của áp dụng hình phạt đối với người dưới
18 tuổi phạm tội
1.1.1 Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội
Người dưới 18 tuổi là người vẫn đang trong quá trình phát triển về thể chất, tình cảm và đạo đức Họ chưa phải là những người trưởng thành và có cách nhìn nhận, đánh giá thế giới xung quanh khác với những người trưởng thành do đó khả năng nhận thức, giao tiếp, tham gia vào quá trình tố tụng hình
sự của họ phụ thuộc rất nhiều vào độ tuổi và mức độ phát triển của bản thân Người dưới 18 tuổi khi phạm tội có những hạn chế về nhận thức, về mặt tâm sinh lý cũng chưa phát triển hoàn thiện ổn định, họ phải chịu trách nhiệm theo pháp luật về hành vi phạm tội của mình chính vì vậy cần có những quy định khác với người đã thành niên phạm tội để họ được dễ hòa nhập cộng đồng sau khi bị kết án về hành vi họ gây ra khi dưới 18 tuổi
Điều 1 Công ước về quyền trẻ em và Điều 11(a) Quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước tự do có khái niệm như sau:
“Người chưa thành niên phạm tội là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với người đó quy định tuổi thành niên sớm hơn, bị cáo buộc hay
Trang 15Xu hướng chung trong chính sách xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội của nhiều nước trên thế giới là ưu tiên áp dụng các biện pháp thay thế
xử lý hình sự, việc đưa người dưới 18 tuổi vào hệ thống xử lý chính thức chỉ khi không còn cách nào khác để bảo đảm sự an toàn của cộng đồng, do vậy, tỷ
lệ người dưới 18 tuổi phạm tội được áp dụng các biện pháp thay thế xử lý hình
sự rất cao
Trong lịch sử khoa học pháp lý ở Việt Nam, những kiến thức về lý luận đối với người dưới 18 tuổi phạm tội xuất hiện cùng với sự ra đời của BLHS năm 1985 Dựa trên những quy định về tội phạm tại Điều 8 BLHS: “Tội phạm
là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật
tự pháp luật XHCN mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”; cũng như các quy định về những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm
Như vậy, trên cơ sở khái quát các quy định trong nước và quốc tế có thể
đưa ra khái niệm như sau: “Người dưới 18 tuổi phạm tội là người chưa thành niên
đã thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi và phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với độ tuổi, hành vi và lỗi của mình theo quy định của BLHS”
1.1.2 Khái niệm áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước cụ thể hoặc nhà chức trách có thẩm quyền
tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật hoặc
tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quy định làm phát
Trang 16sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể [28, tr 249]
Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật cụ thể có những nét đặc thù riêng Mục đích trực tiếp của áp dụng pháp luật là bảo đảm cho những qui phạm pháp luật được thực hiện triệt để trong đời sống thực tế Thiếu hình thức thực hiện này trong nhiều trường hợp các qui phạm pháp luật không thể bảo đảm trở thành hiện thực trong thực tế Bởi vì có những trường hợp, nếu không có sự tác động của nhà nước thì nhiều qui phạm pháp luật sẽ không được thực hiện không đúng
Như vậy, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, tính quyền lực nhà nước, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện (hoặc các tổ chức xã hội được trao quyền) nhằm áp dụng các qui phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể như hoạt động áp dụng PLHS
Áp dụng PLHS là hình thức thực hiện pháp luật trong lĩnh vực hình sự, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc người
có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể quan hệ PLHS thực hiện những quy định của PLHS hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của PLHS từ đó tạo ra những quyết định làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ PLHS
Hoạt động áp dụng PLHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội bắt đầu
từ quá trình giải quyết vụ án hình sự như: tiếp nhận tin báo, tố giác, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người dưới 18 tuổi khi họ thực hiện hành vi phạm tội Hoạt động này do nhiều chủ thể khác nhau tiến hành tùy theo từng giai đoạn trong quá trình TTHS Hoạt động này do nhiều chủ thể khác nhau thực hiện ở mỗi giai đoạn khác nhau bao gồm các nội dung như: định tội danh, quyết định hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự…
Ngoài ra, trong BLHS 2015 tại Điều 30 quy định như sau: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ
Trang 17luật này do TA quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó”
Tóm lại, từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm áp dụng hình
phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như sau: Áp dụng hình phạt đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội là hoạt động của Tòa án sau khi đã xác định được hành vi của người dưới 18 tuổi thực hiện, có lỗi, xâm phạm quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ để đưa ra biện pháp xử lý tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho các quan hệ xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo dưới
18 tuổi đã thực hiện
Hoạt động áp dụng hình phạt của Tòa án đối với người dưới 18 tuổi thực hiện bao gồm việc xác định loại hình phạt và việc xác định khung hình phạt tương ứng trong phạm vi quy định của BLHS đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi
1.1.3 Đặc điểm của áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một hình thức
cụ thể trong hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nên khi thực hiện người áp dụng hình phạt phải tuân theo những nguyên tắc chung và quy trình chung Bên cạnh đó, áp dụng hình phạt cũng có những đặc điểm riêng biệt sau đây:
Một là: Áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội do Tòa
án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện
Theo quy định trong Hiến pháp 2013 tại Khoản 1 Điều 31 quy định như sau: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của TA đã có hiệu lực pháp luật” Tại Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp 2013 cũng quy định: “TA nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”
Điều 26 BLHS 2015 cũng quy định: “Hình phạt được quy định trong Bộ luật
hình sự và do Tòa án quyết định” Như vậy, hình phạt là một biện pháp cưỡng
Trang 18chế nhà nước được TAND – cơ quan duy nhất có quyền nhân danh Nhà nước quyết định áp dụng đối với người phạm tội hay pháp nhân thương mại phạm tội, không một chủ thể nào khác ngoài TA có quyền quyết định áp dụng hình phạt Đối với trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi thì việc áp dụng hình phạt cũng chỉ do Tòa án quyết định
Hai là: Áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi do Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân tiến hành đối với người dưới 18 tuổi thực hiện tội phạm theo một trật tự pháp lý nhất định được quy định trong BLHS
Chỉ những người thuộc Hội đồng xét xử tức là Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân mới có quyền áp dụng một loại hình phạt nào đó đối với chủ thể thực hiện tội phạm mà chủ thể ấy là những người dưới 18 tuổi thì trình tự thủ tục tố tụng cũng như những căn cứ pháp lý áp dụng lại theo một trình tự riêng biệt được quy định tại Chương XII của BLHS và Chương XXVIII của BLTTHS
1.2 Các nguyên tắc trong áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cũng giống như áp dụng hình phạt đối với người trên 18 tuổi cần phải tuân thủ những nguyên tắc chung như: nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đảm bảo cho hoạt động áp dụng hình phạt Tòa án phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của BLHS; nguyên tắc nhân đạo trong áp dụng hình phạt thể hiện sự khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội dưới 18 tuổi; nguyên tắc công bằng đảm bảo cho sự bình đẳng trước pháp luật về giới tính, dân tộc, trình độ… Ngoài ra việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải tuân thủ những nguyên tắc được quy định trong BLHS
Điều 91 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung Điều 69 BLHS năm 1999 theo hướng ghi nhận đầy đủ hơn một số nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đã được quy định tại Công ước Quyền trẻ em mà Việt Nam là thành
Trang 19viên của công ước và các chuẩn mực quốc tế khác có liên quan vừa bảo đảm tăng cường hiệu quả giáo dục, phục hồi đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, vừa thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện các cam kết quốc tế về chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ em nói chung và người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng, là một nỗ lực lớn trong việc làm hài hòa
hệ thống pháp luật quốc gia tiến gần với hệ thống pháp luật quốc tế trong quá trình hội nhập
Nội dung sửa đổi, bổ sung tại Điều 91 BLHS năm 2015 có thêm nguyên tắc: “Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi” (quy định tại khoản 1 Điều 91 BLHS) Đây là nguyên tắc
có tính định hướng cho Tòa án khi quyết định lựa chọn biện pháp xử lý cụ thể đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để tìm ra biện pháp phù hợp, hiệu quả nhất đối với họ Nội dung của nguyên tắc này yêu cầu đối với Tòa án mà cụ thể là Thẩm phán khi quyết định áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cần bảo đảm rằng quyết định hình phạt đó là phù hợp nhất, tốt nhất cho họ trong mối quan hệ hài hòa với các lợi ích khác cũng như bảo đảm sự nghiêm minh của hệ thống pháp luật Bộ luật hình sự đã dành một chương riêng, Chương XII “Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội”; trong đó, Điều 91 quy định về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Cụ thể như sau:
- Thứ nhất: Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm được những lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích răn đe, giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa lỗi lầm, phát triển trong sáng, lành mạnh, trở thành những công dân có ích cho gia đình và xã hội
Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau như: độ tuổi, khả năng nhận thức, về điều kiện hoàn cảnh xảy ra tội phạm, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và
Trang 20động cơ, mục đích phạm tội Nội dung của nguyên tắc này đòi hỏi Tòa án khi quyết định áp dụng pháp luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cần bảo đảm rằng quyết định đó là tốt nhất cho họ, đảm bảo mối quan hệ hài hòa với các lợi ích khác của họ cũng như bảo đảm sự nghiêm minh của cả hệ thống pháp luật
- Thứ hai: Người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp
có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự của Bộ luật này (Điều 29) và thuộc một trong các trường hợp phạm tội về: cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác, tội hiếp dâm, tội cướp giật tài sản, các tội có liên quan đến ma túy… (Luật quy định cụ thể trường hợp phạm tội
và độ tuổi) thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục như: khiển trách (Điều 93), hòa giải tại cộng đồng (Điều 94) hoặc biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Điều 95) Ngoài ra, luật hình
sự cũng quy định tình tiết giảm nhẹ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là người đồng phạm có vị trí, vai trò không đáng kể trong vụ án
Một điểm nữa là miễn TNHS theo quy định tại Điều 29 BLHS đồng nghĩa với việc trả tự do hoàn toàn cho người được miễn TNHS, trong khi đó người được miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 91 BLHS sẽ phải chịu sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức trong một thời hạn nhất định tùy từng trường hợp
cụ thể Do đó, chỉ được miễn TNHS và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều
29 của BLHS năm 2015
- Thứ ba: Việc truy cứu TNHS đối với trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ khi thật cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân, căn cứ vào tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng ngừa tội phạm
Trang 21Nếu xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người dưới
18 tuổi phạm tội thì tòa án áp dụng các biện pháp giám sát giáo dục và biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng như: Khiển trách, hòa giải tại cộng đồng, giáo dục tại xã, phường, thị trấn và biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng
- Thứ tư: Khi xét xử, TA chỉ quyết định áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn TNHS và việc áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 hoặc việc áp dụng các biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại Mục 3 của chương này không bảo đảm hiệu quả trong việc giáo dục, phòng ngừa tội phạm
BLHS năm 2015 tại Khoản 4 Điều 91 thể hiện lại nguyên tắc này theo hướng phù hợp hơn với nội dung và tinh thần của Công ước về Quyền trẻ em Khi xét xử người dưới 18 tuổi, Tòa án trước hết phải cân nhắc khả năng áp dụng việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục hoặc khả năng áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với các em và chỉ khi xét thấy việc áp dụng các biện pháp này không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa thì mới áp dụng hình phạt đối với các
em Đồng thời, tại khoản 6 của Điều 91 BLHS 2015 cũng quy định rõ TA chỉ quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa và chỉ áp dụng với thời hạn thích hợp, ngắn nhất
Trang 22tử hình một ai đó không nhằm mục đích trả thù cho nạn nhân, thân nhân nạn nhân mà chỉ nhằm mục đích răn đe đối với những ai có ý định phạm tội tương
tự Theo quan điểm của các nhà làm luật, chỉ được phép quyết định áp dụng hình phạt tương đương với mức độ nhận thức của đối tượng khi phạm tội Người dưới 18 tuổi thường là những người chưa phát triển đầy đủ về tâm lý, thể chất, đặc biệt là tâm sinh lý còn đang hoàn thiện, họ thiếu kinh nghiệm sống, bản lĩnh cuộc sống, khả năng tự kiềm chế bản thân còn thấp Vì vậy, họ chưa thể nhận thức đúng và đầy đủ về mức độ, tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội do mình gây ra Cùng với quan điểm đó, người dưới 18 tuổi cũng không bị áp dụng hình phạt tù chung thân
- Thứ sáu: TA chỉ được áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong trường hợp xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa
Khi quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn TA cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức hình phạt nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người
đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất có thể Luật hình sự cũng quy định, TA không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Ngoài ra, khoản 4 và khoản 5 Điều 91 của BLHS năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng tiếp cận phù hợp hơn trong chính sách xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Theo đó, nội dung của Công ước về Quyền trẻ em cũng khẳng định rằng: “Việc bắt, giam giữ hoặc bỏ tù trẻ em… phải là biện pháp cuối cùng và trong thời hạn thích hợp ngắn nhất” Như vậy, việc áp dụng chế tài đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong Công ước là ưu tiên áp dụng các biện pháp không giam giữ Các biện pháp mang tính giam giữ và hình phạt tù chỉ được áp dụng khi không còn cách nào khác Tuy nhiên, Điều 91 của BLHS năm
2015 tại khoản 4 quy định như sau:" Khi xét xử, TA chỉ áp dụng hình phạt đối
Trang 23với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn TNHS và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 hoặc việc áp dụng các biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại Mục 3 của Chương này không bảo đảm hiệu quả răn đe, giáo dục, phòng ngừa" thì lại thể hiện theo hướng ngược lại, nghĩa là trước tiên Tòa án phải cân nhắc việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Chỉ trong trường hợp TA xét thấy không cần thiết quyết định áp dụng hình phạt thì mới áp dụng biện pháp tư pháp - với tính chất là những biện pháp thay thế hình phạt, nhân đạo hơn đối với người bị kết án
- Thứ bảy: Án đã tuyên đối với những trường hợp người phạm tội chưa
đủ 16 tuổi thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm
Theo quy định này, án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội
dù đã thi hành xong hay chưa thì cũng không dùng để tính tái phạm, tái phạm nguy hiểm Do đó 03 nhóm đối tượng còn lại (người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, người được miễn hình phạt – theo Điều 69 BLHS; người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm
ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng do vô ý và người
bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương XII – theo Điều 107) không được hưởng chính sách này
Có thể thấy, chính sách hình sự với người dưới 18 tuổi phạm tội trong BLHS năm 2015 được thể hiện ở phạm vi chịu trách nhiệm hình sự và chính sách xử lý đối với người dưới 18 tuổi khi thực hiện hành vi phạm tội Với quan điểm nhất quán trong việc bảo vệ trẻ em, chính sách hình sự của Nhà nước ta
về việc truy cứu TNHS đối với người dưới 18 tuổi là răn đe, giúp đỡ, cải tạo, giáo dục để người dưới 18 tuổi nhận ra sai lầm của mình, tạo điều kiện để các
em có khả năng tái hòa nhập cộng đồng trong thời gian sớm nhất Những cải tiến về mặt lập pháp này không chỉ là chế tài quan trọng giúp giảm thiểu tình trạng người dưới 18 tuổi phạm tội mà còn giúp rèn giũa, định hướng các em về
Trang 24mặt nhận thức, qua đó giải quyết, xử lý triệt để vấn đề coi thường pháp luật, coi thường sự nghiêm minh của Nhà nước và hạ thấp các giá trị đạo đức xã hội Việt Nam đối với thế hệ trẻ - những người chủ tương lai của đất nước, lực lượng
thành trì xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1.3 Căn cứ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
từ khía cạnh pháp luật
Để đảm bảo hình phạt đã tuyên đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là đúng đắn, chính xác và đạt được mục đích của hình phạt Tòa án phải dựa trên những căn cứ quyết định hình phạt cụ thể được quy định trong Luật hình sự bởi
vì những căn cứ ấy là cơ sở cho việc xác định loại và mức hình phạt
Căn cứ quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là những yêu cầu cơ bản có tính nguyên tắc do LHS quy định hay do giải thích luật mà
có từ đó buộc Tòa án phải tuân theo khi áp dụng hình phạt đối với người dưới
18 tuổi phạm tội
Để đảm bảo cho hình phạt đã tuyên đạt được mục đích nhằm cụ thể hóa những nguyên tắc cơ bản của LHS trong việc áp dụng hình phạt BLHS quy
định căn cứ quyết định hình phạt tại Điều 54 như sau: “Khi quyết định hình
phạt, TA căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS” Đây là những căn cứ chung mang
tính bắt buộc và là cơ sở cho thẩm phán trực tiếp xét xử vụ án khi áp dụng hình phạt
Đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, khi áp dụng hình phạt Tòa án cũng phải tuân thủ những cơ sở lý luận có tính nguyên tắc trên, cụ thể:
- Thứ nhất, căn cứ vào các quy định của BLHS: Khi xét xử Tòa án căn
cứ vào các quy định trong Phần chung và Phần các tội phạm của BLHS để áp dụng hình phạt đúng đắn Có thể nói BLHS là căn cứ, là cơ sở cho việc quyết
Trang 25định hình phạt một cách thống nhất Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình
sự cũng chính là tuân thủ một trong những nguyên tắc quan trọng khi quyết định hình phạt - nguyên tắc pháp chế XHCN Nếu như trong Phần chung của
Bộ luật hình sự quy định về nhiệm vụ, cơ sở trách nhiệm hình sự, các nguyên tắc chung cho việc xác định tội phạm thì trong Phần các tội phạm quy định về các tội phạm cụ thể, loại và mức hình phạt áp dụng đối với từng tội phạm tương ứng TAND chỉ quyết định áp dụng hình phạt khi có đủ căn cứ xác định được người dưới 18 tuổi đã thực hiện một hành vi được quy định là một tội phạm cụ thể trong BLHS Như vậy, Tòa án phải định tội trước đối với họ sau đó mới quyết định hình phạt Tòa án chỉ phản ánh trong bản án, quyết định hình phạt những quy định trong Phần chung của BLHS có liên quan đến việc xác định tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, đối chiếu hành vi phạm tội đã thực hiện với những dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm cụ thể từ đó mới có thể chọn lựa loại tội phạm và mức hình phạt cụ thể trong Phần các tội phạm áp dụng đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội
- Thứ hai, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vi phạm tội: Khoản 2 Điều 8 BLHS quy định: “Những hành vi tuy có dấu hiệu
của tội phạm, nhưng tính chất, mức độ nguy hiểm không đáng kể thì không phải là tội phạm” Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: tính chất, tầm quan trọng và giá trị của các quan hệ xã hội mà tội phạm đó xâm hại tới – đây chính là khách thể của tội phạm Bên cạnh khách thể của tội phạm bị xâm hại thì tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội còn phụ thuộc vào các dấu hiệu khác của tội phạm như mức
độ thiệt hại về vật chất, tinh thần mà tội phạm gây ra; tính chất và mức độ lỗi; động cơ phạm tội, mục đích phạm tội; phương thức, thủ đoạn phạm tội… Như vậy, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là thuộc
Trang 26tính khách quan của một loại tội nhất định, được xác định bởi tổng thể các dấu hiệu thuộc cấu thành tội phạm đó mà quan trọng nhất là dấu hiệu khách thể của tội phạm hay là dấu hiệu về tính chất, tầm quan trọng và giá trị của những quan
hệ xã hội bị hành vi phạm tội xâm hại tới
Khi áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi, Tòa án phải chỉ ra rõ những tình tiết cụ thể chứng minh tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do người dưới 18 tuổi thực hiện mà Tòa án đã căn cứ vào
đó cùng với những căn cứ khác để lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể đảm bảo việc áp dụng hình phạt đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
- Thứ ba, căn cứ vào nhân thân người phạm tội: Theo quy định của luật
hình sự thì nhân thân của người phạm tội được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của bản thân người phạm tội có ý nghĩa nhất định đối với việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của bản thân họ Những đặc điểm đó
có thể là giới tính, tuổi, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, thái độ làm việc, thái độ trong quan hệ với những người khác, lối sống, hoàn cảnh gia đình và đời sống kinh tế, thái độ chính trị, ý thức pháp luật, tôn giáo, dân tộc, tiền án, tiền sự… Nhân thân của người phạm tội tuy không phải là yếu tố cấu thành tội phạm nhưng những đặc điểm về nhân thân của người phạm tội lại có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định TNHS của người phạm tội
Nhân thân người phạm tội dưới 18 tuổi là những đặc điểm như: giới tính, tuổi, hoàn cảnh gia đình, trình độ học vấn, khả năng nhận thức của người dưới
18 tuổi, phạm tội lần đầu hay đã có tiền án, tiền sự; thái độ đối với hành vi phạm tội và hậu quả của nó… Đối với người phạm tội bất kỳ yếu tố nhân thân nào cũng có ý nghĩa lớn thì đối với người phạm tội dưới 18 tuổi yếu tố nhân thân lại càng có ý nghĩa lớn trong việc quyết định hình phạt Cho nên khi quyết định áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi Tòa án phải cân nhắc yếu tố nhân thân của họ; tiến hành xem xét cả mặt tốt và mặt xấu từ đó đánh giá được
Trang 27khả năng phát triển nhân cách của người dưới 18 tuổi, khả năng giáo dục cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội
- Thứ tư, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Điều 50 BLHS không quy định các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS là
một trong những căn cứ quyết định hình phạt Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS là các tình tiết không có ý nghĩa về mặt định tội hay định khung hình phạt mà những tình tiết này chỉ có tác dụng làm tăng hoặc giảm mức độ TNHS trong một khung hình phạt đối với một loại tội phạm nhất định Bởi vì, tình tiết định tội là cơ sở để các chủ thể có thẩm quyền xác định tội danh cụ thể; còn tình tiết định khung lại là cơ sở để xác định khung hình phạt Do đó, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ là một căn cứ quan trọng để TA để quyết định áp dụng hình phạt, quyết định loại và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi khung hình phạt đã xác định của một loại tội phạm cụ thể
Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được TA cân nhắc khi quyết định hình phạt quy định tại Điều 51 BLHS năm 2015 là những tình tiết khác nhau về tội phạm
đã thực hiện, về nhân thân người phạm tội đã được quy định cụ thể trong Luật hình sự hoặc không được quy định cụ thể trong Luật hình sự nhưng được TA cân nhắc với ý nghĩa làm giảm nhẹ TNHS và hình phạt đối với người phạm tội Các tình tiết tăng nặng TNHS được cân nhắc khi quyết định hình phạt quy định
ở Điều 52 BLHS năm 2015 là những tình tiết khác nhau về loại tội phạm đã thực hiện về nhân thân người phạm tội được quy định cụ thể trong Luật hình
sự, những tình tiết này có ý nghĩa làm tăng nặng TNHS và hình phạt đối với người phạm tội
Ý nghĩa của từng tình tiết giảm nhẹ và tình tiết tăng nặng TNHS đối với từng vụ án, từng người phạm tội cụ thể là khác nhau Việc đánh giá các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS ảnh hưởng đến mức độ nào cho việc quyết
Trang 28định hình phạt là thẩm quyền của TA Như vậy luật hình sự đã dành cho TA quyền tự phán xét trong khi cân nhắc, đánh giá các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS nhưng phải trong phạm vi quy định của luật Thông thường, trên thực tế khi quyết định áp dụng hình phạt TA thường phải tiến hành xem xét tình tiết người dưới 18 tuổi phạm tội là một căn cứ để giảm nhẹ TNHS
Khi cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS để áp dụng hình phạt, TA phải tuân thủ nghiêm chỉnh quy định có tính nguyên tắc là các tình tiết tăng nặng chỉ là những tình tiết đã được quy định rõ trong luật hình sự tại Điều 52 BLHS, còn các tình tiết giảm nhẹ có thể được quy định trong luật hình
sự cũng có thể không được quy định cụ thể trong luật hình sự nhưng được TA coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS và phải nêu rõ lý do và ghi cụ thể trong bản án Đồng thời những tình tiết nào đã được dùng là tình tiết định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS của tội phạm đó
1.4 Căn cứ áp dụng pháp luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
từ khía cạnh xã hội
Trong những năm qua thực hiện công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, tình hình kinh tế - xã hội của cả nước nói chung đã có những bước chuyển mình tích cực; tình hình
an ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo Tuy nhiên, tình hình tội phạm nói chung và tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện có chiều hướng gia tăng cả về số vụ và số người phạm tội với những diễn biến phức tạp về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm ngày càng cao Đây là vấn đề lớn, đáng lo ngại không chỉ được các cấp ủy Đảng, chính quyền, các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan tư pháp quan tâm chỉ đạo sát sao mà toàn thể các ban, các ngành, các cấp cũng như toàn thể nhân dân cả nước đang hết sức quan ngại Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề
Trang 29giải quyết đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cụ thể như sau: "Vấn đề không phải chỉ đơn giản là xử một vụ án, trừng phạt một tội phạm nào đó, điều quan trọng là phải tìm ra mọi cách để làm giảm bớt những hoạt động phạm pháp và tốt hơn hết là ngăn ngừa đừng để các việc sai trái ấy xảy ra”
Do đó đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, khi áp dụng hình phạt Tòa
án vừa phải tuân theo những căn cứ chung đã nêu trên vừa phải căn cứ vào cơ
sở thực tiễn của đời sống xã hội, cụ thể như:
Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng Nó là công cụ vô cùng quan trọng không thể thiếu được, bảo đảm cho sự tồn tại, phát triển, vận hành một cách bình thường của xã hội nói chung và nền đạo đức xã hội nói riêng Pháp luật không chỉ là một công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu,
mà pháp luật còn tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức đạo đức, ý thức pháp luật, ý thức cá nhân làm lành mạnh hóa đời sống xã hội và góp phần bồi đắp nên những giá trị đạo đức mới Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thể hiện đúng đắn ý chí và nguyện vọng của số đông, phù hợp với xu thế vận động của lịch sử sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội Một
hệ thống pháp luật phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của nhà nước không chỉ có những quy định về chính sách phát triển kinh tế xã hội hay những quy định về các loại quan hệ thương mại hay hợp đồng mà ở đó còn có những quy định liên quan đến chính sách hình sự, đến việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội thế nào cho đúng, cho hợp lý Mỗi giai đoạn phát triển của nhà nước, của xã hội lại có sự ảnh hưởng nhất định đến chính sách hình sự, nhất là những chính sách liên quan đến người dưới 18 tuổi như việc áp dụng hình phạt làm sao để đảm bảo tính răn đe nhưng không phải là là trừng trị…
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và quá trình toàn cầu hóa hiện nay, một yêu cầu đặt ra đối với hệ thống pháp luật hình sự là phải tác động tích cực đến nền tảng đạo đức của xã hội Nền kinh tế thị trường định
Trang 30hướng XHCN đòi hỏi mỗi cá nhân trong quá trình hoạt động của mình phải tính toán chặt chẽ những điều kiện khách quan, những yếu tố tác động bên ngoài đến hiệu quả kinh tế Khi đời sống kinh tế - xã hội đã và đang có những chuyển biến lớn thì quan hệ giữa con người với con người không thể chỉ là mối quan
hệ trực tiếp, cảm tính, chủ yếu vẫn bị chi phối bởi những nguyên tắc và chuẩn mực của sự phát triển ưu trội về đạo đức như trước đây, mà nó cần được bổ sung những chuẩn mực, những giá trị mới Sự phát triển của nền kinh tế, của văn hóa, của dư luận xã hội cũng có tác động không nhỏ tới các quyết định của các chủ thể có thẩm quyền định tội danh, đặc biệt là định tội danh đối với người dưới 18 tuổi
Điển hình như vụ án: Ngày 29/11/2014, tại gia đình anh Vũ Ngọc Hoàn,
ở thôn 7, xã Hà Thái, huyện Hà Trung xảy ra vụ án giết người, cướp tài sản Nạn nhân là cháu Vũ Đức Đạt (SN 2005, con trai anh Hoàn) Cháu Đạt bị giết hại dã man, trên đầu có nhiều vết chém, tay chân bị trói vào sợi dây thừng, thi thể nằm dưới giếng nước
Hung thủ là Vũ Anh Tú (SN 29/2/2000) trú tại thôn 3 xã Hà Thái, huyện
Hà Trung Do nghiệm game, Tú vào nhà anh Hoàn lục lọi tìm tiền và lấy đi 1 chiếc điện thoại Sợ bị cháu Đạt phát hiện hung thủ đã lấy một con dao dưới gầm giường chém chết cháu Đạt nhằm diệt khẩu Quá hoảng sợ cháu Đạt đã bỏ chạy, Tú đuổi theo ra ngoài sân khống chế bắt cháu Đạt cởi bỏ quần áo nhảy xuống giếng tìm tiền cho mình nhằm đánh lạc hướng cháu Đạt
Trước sự uy hiếp của Tú, cháu Đạt hoảng sợ, khóc van xin, nhưng Tú dùng dây gầu múc nước buộc chặt hai chân và xô Đạt xuống giếng với mục đích dốc ngược đầu nạn nhân xuống nước đến chết, sau đó sẽ tháo dây khỏi chân nạn nhân
để tạo hiện trường giả Trong lúc Tú đẩy nạn nhân xuống miệng giếng, theo phản
xạ tự nhiên, cháu Đạt đã co gấp người ngược đầu lên túm được tay và dây thừng (đầu ngóc lên phía trên) Lúc này, thấy không thể làm cho cháu Đạt bị chết ngạt
Trang 31nước, Tú dùng dao chém liên tục nhiều nhát vào đầu nạn nhân Sau đó, Tú ném mạnh chiếc búa mang theo và ba viên gạch vồ (loại gạch làm bằng đá mạt và xi măng để cạnh bờ giếng) xuống giếng với mục đích cho cháu Đạt chết và chìm hẳn xuống nước Buổi chiều cùng ngày, sau khi gây ra vụ án mạng, Tú vẫn đi học thêm, rồi về sinh hoạt bình thường cùng gia đình cho đến khi bị công an bắt giữ
Ngày 03/04/2015 TAND tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử Vũ Anh Tú
về tội giết người Sau khi xem xét những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS,
do bị cáo chưa đủ 16 tuổi ở thời điểm phạm tội nên TAND tỉnh Thanh Hóa tuyên phạt bị cáo Vũ Anh Tú 12 năm tù về tội “giết người”, 2 năm tù về tội
“cướp tài sản”, tổng hợp hình phạt là 12 năm tù
Có thể nói với những tình tiết của vụ án cho thấy sự man rợ của Vũ khi
cố tình giết Đạt tới cùng, ngoài ra thái độ nhởn nhơ coi thường pháp luật của
Vũ sau khi vụ án xảy ra và tại phiên tòa khiến cho gia đình nạn nhân và những người tham dự mong muốn một bản án nặng hơn 12 năm tù đối với Vũ Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng không thể đi ngược lại những quy định của pháp luật hình sự nên chỉ có thể tuyên tổng mức hình phạt đối với Vũ là 12 năm tù
Căn cứ vào những nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 phạm tội: Khi
áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải dựa trên những nguyên tắc để đảm bảo việc xử lý đối với họ chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ
họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân tốt, công dân
có ích cho xã hội Người dưới 18 tuổi phạm tội cũng có thể được miễn TNHS nếu phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, gây thiệt hại không lớn, không nghiêm trọng và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức… nhận giám sát, giáo dục Việc áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ được thực hiện trong trường hợp thật cần thiết và phải căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân người phạm tội và yêu cầu của việc đấu tranh phòng ngừa
Trang 32tội phạm Nếu trong trường hợp xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt thì TA có thể quyết định áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định trong BLHS
Căn cứ vào giới tính, độ tuổi, tình trạng thể chất, tinh thần và mức độ nhận thức hành vi của người dưới 18 tuổi khi thực hiện hành vi phạm tội: Độ
tuổi thể hiện sự phát triển thể chất và tinh thần cũng như mức độ nhận thức hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi Do đó xác định được chính xác yếu
tố này góp phần cho việc lựa chọn loại và mức hình phạt hợp lý Ví dự như: không áp dụng hình phạt tiền đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi hay không
áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình với người dưới 18 tuổi phạm tội… Việc làm rõ những đặc điểm tính cách, tình trạng thể chất và tinh thần của người dưới 18 tuổi còn có ý nghĩa đối với việc đánh giá chứng cứ và xác định mức hình phạt đối với họ
Căn cứ vào hoàn cảnh, điều kiện sống và điều kiện giáo dục của người dưới 18 tuổi phạm tội: Những căn cứ ấy gồm điều kiện, hoàn cảnh sống của
gia đình, thái độ và cách xử sự của những người thân trong gia đình đối với việc giáo dục, dạy dỗ người dưới 18 tuổi; những điều kiện học tập, sinh hoạt của họ ở nhà trường, đoàn thể, nơi họ cư trú hoặc nơi làm việc Có thể nói người dưới 18 tuổi phạm tội có thể là do họ bị ảnh hưởng bởi những yếu tố tiêu cực được hình thành từ môi trường của gia đình họ Sau môi trường gia đình thì môi trường học tập và việc quản lý giáo dục của các tổ chức xã hội cũng ảnh hưởng lớn đến việc giáo dục và bồi dưỡng, rèn luyện nhân cách cho người dưới 18 tuổi Việc xác định chính xác, rõ ràng những yếu tố này sẽ giúp TA biết được rõ ràng, chính xác nguyên nhân và điều kiện của tội phạm từ đó góp phần vào việc quyết định áp dụng loại hình phạt và mức hình phạt phù hợp
Thực tế cho thấy, hệ thống pháp luật và việc thi hành pháp luật hình sự
ở nước ta đối với những người dưới 18 tuổi phạm tội đã có những tác động rõ
Trang 33rệt đến đời sống xã hội Những quy định trong Hiến pháp, trong các luật và văn bản dưới luật của nước ta luôn đề cao tính nhân đạo, nhân văn bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp cũng như hợp lý của Nhà nước mà nhân dân làm chủ thực
sự Nói đúng hơn, đó là hệ thống pháp luật phục vụ cho việc thực thi các lợi ích
cơ bản của con người, đặc biệt là lợi ích của người dưới 18 tuổi – lứa tuổi sẽ là thế hệ tương lai của đất nước Chính vì vậy, những nguyên tắc định hướng cho việc xây dựng nội dung của cả hệ thống pháp luật như nguyên tắc công bằng, nhân đạo, bình đẳng vì sự phát triển và tiến bộ của con người, của xã hội cũng chính là những nguyên tắc đạo đức nền tảng, cơ bản mà nhân loại tiến bộ đã, đang và sẽ hướng tới Có thể nói, hệ thống pháp luật hoàn chỉnh có vai trò rất lớn trong việc hình thành ý thức tôn trọng và chấp hành những quy định chung,từ đó giúp con người có những hành vi ứng xử văn minh, phù hợp với chiều hướng phát triển tiến bộ của thời đại
Việc tăng cường vai trò của pháp luật, tạo môi trường thuận lợi cho sự hình thành và phát triển ý thức đạo đức đã trở thành một trong những yêu cầu cấp thiết Quá trình tiến hành xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, Nhà nước pháp quyền XHCN cũng như xã hội dân sự đòi hỏi mỗi cá nhân phải tích cực hơn nữa trong việc đưa pháp luật vào đời sống hình thành và phát triển ý thức pháp luật Đồng thời, việc xã hội hóa tri thức, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài song song với việc tạo cơ sở nâng cao đạo đức lên trình độ pháp lý và khoa học, chuyển thói quen điều chỉnh các quan hệ xã hội theo “lệ”, chủ yếu là
sự cảm thông sang điều chỉnh các quan hệ xã hội xã hội bằng pháp luật trên nguyên tắc công bằng và bình đẳng xã hội là chính xác và hết sức cần thiết Trong quan niệm về chuẩn các giá trị và đánh giá đạo đức, tính linh hoạt, tính khách quan, khoa học phải thay cho sự tùy tiện vốn tồn tại xưa nay dựa trên cơ
sở kinh nghiệm thực tiễn
Trang 34Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TỪ KHÍA CẠNH PHÁP LUẬT VÀ XÃ HỘI
2.1 Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
2.1.1 Các loại hình phạt được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Hình phạt áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là trường hợp đặc biệt Tính chất đặc biệt của trường hợp này là do hình phạt được quy định đối với họ nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tội có các tình tiết phạm tội tương đương và mức giảm nhẹ hình phạt phụ thuộc vào độ tuổi của người phạm tội Sở dĩ người dưới 18 tuổi được hưởng chính sách giảm TNHS của Nhà nước khi có hành vi phạm tội bởi vì họ có những đặc điểm đặc biệt về nhân thân
Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm lý, sinh lí, chưa nhận thức được đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện Nhận thức của họ thường non nớt, thiếu sự chín chắn và đặc biệt họ dễ bị lôi kéo, kích động bởi môi trường và những người xung quanh, nếu ở trong một môi trường xấu và không được chăm sóc, giáo dục chu đáo, người dưới 18 tuổi dễ bị ảnh hưởng bởi những thói hư tật xấu ấy dẫn đến phạm pháp Bên cạnh đó, so với những người đã thành niên thì người dưới 18 tuổi dễ tiếp thu sự giáo dục của xã hội, nhà trường cũng như gia đình để từ bỏ con đường phạm tội Do vậy, không thể coi người dưới 18 tuổi giống như người đã thành niên, không thể để họ phải chịu trách nhiệm hình
sự giống như người đã thành niên Chính vì thế, khi quyết định áp dụng hình phạt với người dưới 18 tuổi phạm tội phải nhẹ hơn so với người đã thành niên
Trang 35Để đảm bảo cho việc lựa chọn loại và mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của người dưới 18 tuổi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự…
từ đó đạt được mục đích cụ thể của hình phạt và đảm bảo tính công bằng của PLHS, BLHS quy định bốn loại hình phạt áp dụng cho người dưới 18 tuổi phạm tội bao gồm: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn
Bốn loại hình phạt trên được xếp theo thứ tự tăng dần mức độ từ nhẹ đến nặng Đây đều là bốn hình phạt chính vì BLHS không áp dụng hình phạt bổ sung với người dưới 18 tuổi phạm tội Về mặt nội dung, cả bốn hình phạt này tương tự như các loại hình phạt tương tự áp dụng cho người từ 18 tuổi phạm tội Nhưng do những đặc điểm thể chất cũng như tâm, sinh lý của người dưới
18 tuổi còn chưa hoàn thiện và mục đích chủ yếu của việc áp dụng hình phạt đối với họ là giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm nên các điều kiện áp dụng cũng như mức hình phạt có khác so với người từ 18 tuổi phạm tội, cụ thể:
Hình phạt cảnh cáo
Cảnh cáo là sự khiển trách công khai của Nhà nước do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội Điều 34 BLHS quy định như sau: “Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt” Cảnh cáo so với các loại hình phạt chính khác là hình phạt nhẹ nhất trong hệ thống hình phạt bởi vì nó không tước bỏ hoặc hạn chế bất cứ quyền lợi nào của người bị kết án mà chỉ lên án về tinh thần đối với họ Nội dung của cảnh cáo chỉ thể hiện ở việc Tòa án tuyên bản án
có tội đối với người bị kết án và Tòa án sẽ nhân danh Nhà nước lên án người
bị kết án về việc họ đã thực hiện tội phạm Hậu quả pháp lý bất lợi duy nhất mà cảnh cáo mang lại cho người bị kết án là họ phải chịu án tích trong thời hạn một năm (Điều 70 BLHS) Tuy nhiên, hình phạt này cũng gây ra cho người bị kết án những tổn thất nhất định về mặt tinh thần là mang án tích trong thời hạn
Trang 361 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật Việc áp dụng hình phạt cảnh cáo được thực hiện bằng việc TA tiến hành tuyên án đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại phiên tòa Để phát huy được mục đích và vai trò của loại hình phạt này trong việc giáo dục người phạm tội thì cần phải có sự thông báo của cơ quan thi hành án cho các cơ quan, tổ chức xã hội, chính quyền địa phương nơi người đó học tập, lao động và sinh sống Đây là loại hình phạt mang tính giáo dục cao, chủ yếu đánh vào tinh thần, ý thức của người phạm tội
Trong xu thế hội nhập như hiện nay, việc nghiên cứu, đề xuất các hình phạt không có tính chất tước tự do như hình phạt cảnh cáo là rất cần thiết, mặt khác, nhằm tạo cơ hội cho thẩm phán quyền được lựa chọn hình phạt phù hợp, tương ứng với mức độ, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội đặc biệt là người dưới 18 tuổi phạm tội, bảo đảm mục đích của hình phạt thì việc duy trì hình phạt cảnh cáo là cần thiết Bên cạnh đó, cần xem xét mở rộng khả năng áp dụng hình phạt cảnh cáo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Vì vậy, hình phạt này cần được TA quyết định áp dụng nhiều hơn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong thực tế xét xử thời gian tới
Hình phạt tiền
BLHS 2015 sửa đổi 2017 đã có những thay đổi theo hướng mở rộng khả năng áp dụng các chế tài không giam giữ như phạt tiền, cải tạo không giam giữ đối với cả trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng Tuy nhiên, nhìn chung quy định của BLHS năm 2015 về hình phạt áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội so với quy định của BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009
không có quá nhiều sự khác biệt Cụ thể tại Điều 99 BLHS 2015 quy định “Phạt
tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng Mức tiền phạt đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội không quá 1/2 mức tiền phạt mà
điều luật quy định”
Trang 37Hình phạt tiền mang tính cưỡng chế cao hơn hình phạt cảnh cáo bởi vì
nó tước bỏ một phần lợi ích vật chất của người phạm tội nhằm giáo dục người phạm tội có ý thức tuân thủ pháp luật, tôn trọng các quy tắc của nền trật tự công cộng, trật tự quản lý xã hội Hình phạt tiền vừa tác động vào ý thức, danh dự vừa tước bỏ một phần lợi ích vật chất thuộc sở hữu của người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội Việc áp dụng hình phạt tiền với người dưới 18 tuổi phạm tội làm tăng khả năng áp dụng các loại hình phạt có tính chất nặng hơn như hạn chế hoặc tước tự do đối với bản thân họ TA có thể quyết định áp dụng hình phạt tiền khi có đầy đủ các yếu tố quy định tại Điều 92 BLHS đó là: Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu người phạm tội có thu nhập hoặc có tài sản riêng
Hình phạt tiền áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là những người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vì theo quy định của BLHS đây là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và phải chịu trách nhiệm hình sự
về mọi loại tội phạm Không áp dụng hình phạt tiền đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vì theo nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Điều 91 BLHS
Hình phạt tiền được lấy từ thu nhập hợp pháp của người dưới 18 tuổi phạm tội có thể là những thu nhập xuất phát từ hợp đồng lao động hoặc từ việc kinh doanh, buôn bán Đó có thể là những thu nhập mang tính chất ổn định, lâu dài hoặc mang tính thời vụ, thất thường Tài sản của người dưới 18 tuổi phạm tội là những tài sản thuộc quyền sở hữu của họ hình thành do lao động, được tặng, cho, thừa kế, trúng thưởng Mức phạt tiền áp dụng đối với người dưới
18 tuổi phạm tội không được quá 1/2 mức tiền phạt mà điều luật quy định Người dưới 18 tuổi phạm tội có thể nộp phạt tiền một lần hay nộp phạt làm nhiều lần theo quyết định của Tòa án Nếu sau khi bị phạt tiền, người dưới 18 tuổi phạm tội rơi vào trường hợp hoàn cảnh kinh tế khó khăn kéo dài do thiên
Trang 38tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau, bệnh tật gây ra thì TA có thể xem xét quyết định giảm hình phạt hoặc miễn việc chấp hành phần tiền phạt còn lại cho họ Người dưới 18 tuổi nếu lập công lớn trong hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm hoặc giúp đỡ người khác khi xảy ra thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn hoặc tai nạn khác thì cũng được giảm hình phạt hoặc miễn việc chấp hành đối với phần tiền còn lại Các quy định này của BLHS nhằm động viên, khuyến khích người dưới 18 tuổi phạm tội tham gia tích cực và có hiệu quả vào các hoạt động có ích cho xã hội Qua đó, họ tự cải tạo, hoàn thiện bản thân để trở thành người có ích cho xã hội Đây là loại hình phạt lần đầu tiên áp dụng với người dưới 18 tuổi phạm tội nhưng nó đã thể hiện những ưu điểm nhất định giúp Tòa án có nhiều sự lựa chọn hơn khi quyết định hình phạt và người dưới 18 tuổi phạm tội tránh được loại hình phạt quản chế hoặc tước tự do
Hình phạt cải tạo không giam giữ
Tại Điều 100 BLHS 2015 quy định như sau: Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý Hình phạt cải tạo không giam giữ là loại hình phạt nặng hơn hình phạt tiền và hình phạt cảnh cáo Đây là hình phạt có nội dung giáo dục sâu sắc không cách
ly người phạm tội khỏi gia đình và xã hội Tuy nhiên, bên cạnh việc tác động đến danh dự, ý thức người phạm tội, hình phạt cải tạo không giam giữ cũng hạn chế một phần tự do cá nhân, buộc họ phải tuân thủ chế độ quản lý, giáo dục nghiêm khắc nhất định dưới sự giám sát chặt chẽ của gia đình, nhà trường, cơ quan, tổ chức và xã hội
Hình phạt cải tạo không giam giữ là hình phạt được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong các trường hợp sau: Người dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng Do đó, những người dưới 18 tuổi
Trang 39phạm tội bị áp dụng hình phạt này là những người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi Tuy nhiên không vì thế mà những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không bị áp dụng hình phạt này, mà họ cũng có thể bị áp dụng hình phạt này nếu Tòa án quyết định chuyển sang loại hình phạt khác nhẹ hơn từ hình phạt tù
có thời hạn Theo Điều 51 BLHS: "Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 50 của Bộ luật này… thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn… Mà hình phạt cải tạo không giam giữ nhẹ hơn hình phạt
tù có thời hạn
Ngoài ra, người dưới 18 tuổi phạm tội cần phải có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng mới được áp dụng hình phạt này Đây chính là điều kiện về khả năng giáo dục cải tạo của họ vì không cần thiết phải cách ly
họ ra khỏi xã hội mà vẫn bảo đảm được mục đích của việc giáo dục, cải tạo của hình phạt Tuy nhiên chỉ khi có việc làm ổn định hoặc nơi thường trú rõ ràng thì việc giám sát, giáo dục của gia đình, cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương mới đạt được hiệu quả Thời hạn cao nhất của hình phạt cải tạo không giam giữ áp dụng với người dưới 18 tuổi phạm tội không quá một phần hai thời hạn mà điều luật quy định, tức là không quá 1 năm 6 tháng
Khoản 2 Điều 100 BLHS quy định: "Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì không khấu trừ thu nhập của người đó" Bởi vì họ đang trong độ tuổi phát triển, chưa phải là lao động chính thức tạo ra thu nhập, nếu khấu trừ sẽ gây khó khăn nhất định cho người phạm tội và gia đình họ Thông thường, người dưới 18 tuổi phạm tội là những người đang còn trong độ tuổi học tập, rèn luyện nên khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, TA có thể giao người đó cho nhà trường, cơ sở giáo dục đào tạo nơi người đó học tập, rèn luyện trước khi thực hiện tội phạm để giám sát, giáo dục, cải tạo giúp đỡ họ sửa chữa lỗi lầm Trong những trường hợp người
Trang 40dưới 18 tuổi phạm tội đang lao động, sản xuất tại các doanh nghiệp, hợp tác xã,
cơ sở sản xuất trước khi phạm tội thì TA giao người phạm tội cho chính những
cơ sở đó phối hợp cùng với gia đình kiểm tra, giám sát, giáo dục người bị kết
án Trong trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội không còn tham gia học tập thì Tòa án giao cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người dưới 18 tuổi phạm tội cư trú để cùng gia đình phối hợp giám sát, giáo dục, cải tạo họ
BLHS cũng quy định: Người dưới 18 tuổi phạm tội bị áp dụng hình phạt này đã chấp hành được 1/4 thời hạn cải tạo không giam giữ thì được xét giảm mức phạt Trường hợp người phạm tội lập công đột xuất hoặc mắc các bệnh hiểm nghèo thì được cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục đề nghị TA cấp quận, huyện nơi người đó cư trú xem xét giảm thời gian chấp hành hình phạt và có thể được miễn chấp hành hình phạt còn lại Hình phạt này thể hiện tính nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta trong việc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Loại hình phạt này hạn chế phần nào tự do của người phạm tội nhằm giáo dục, rèn luyện, giúp họ trở thành công dân có ích cho xã hội Do đó, loại hình phạt này nên được Tòa án áp dụng nhiều hơn trong khi xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội
Hình phạt tù có thời hạn
Hình phạt tù có thời hạn được quy định trong BLHS ở hầu hết tất cả các điều luật trong phần các tội phạm BLHS 2015 sửa đổi quy định hình phạt tử hình theo hướng loại bỏ dần chỉ còn 18 tội quy định loại hình phạt này Điều này càng chứng minh rằng hình phạt tù có thời hạn là một trong các loại hình phạt thể hiện rõ nhất chính sách hình sự và nguyên tắc của Đảng, Nhà nước ta đối với người phạm tội, đồng thời ngăn ngừa người phạm tội tiếp tục phạm tội mới, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo để người phạm tội nhanh chóng trở
về hoà nhập với cộng đồng và trở thành những công dân có ích cho xã hội