Khẳng định tầm quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án phải được nghiêm chỉnh thực thi trong thực tế, Điều 106 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 quy định “Bản án, quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển nhanh của nền kinh tế và sự thay đổi không ngừng của đời sống xã hội, đòi hỏi hệ thống pháp luật phải điều chỉnh kịp thời để phù hợp với các quan hệ nảy sinh. Nhất là thực trạng công tác thi hành án dân sự (THADS) đang diễn biến hết sức phức tạp, khó khăn, bất cập, thậm chí nhiều khi còn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho đội ngũ Chấp hành viên, cán bộ trong quá trình tác nghiệp, vì hoạt động THADS ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền về tài sản, về kinh tế và nhân thân, do đó việc gặp phải những phản ứng, cản trở, chống đối ở từng mức độ khác nhau của các bên đương sự là điều khó tránh khỏi. Mặt khác, hoạt động THADS cũng như hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền khác đều nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức, đồng thời luôn được đặt dưới sự giám sát của nhân dân, nhằm phòng ngừa, hạn chế và đấu tranh với những vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước nói chung, hệ thống các cơ quan pháp luật và cơ quan THADS nói riêng.
Trang 1I LỜI NÓI ĐẦU
Khẳng định tầm quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu lực đối với bản án,quyết định của Tòa án phải được nghiêm chỉnh thực thi trong thực tế, Điều 106
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 quy định “Bản án, quyết định của
Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn
trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển nhanh của nền kinh tế và sựthay đổi không ngừng của đời sống xã hội, đòi hỏi hệ thống pháp luật phải điềuchỉnh kịp thời để phù hợp với các quan hệ nảy sinh Nhất là thực trạng công tác thihành án dân sự (THADS) đang diễn biến hết sức phức tạp, khó khăn, bất cập, thậmchí nhiều khi còn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho đội ngũ Chấp hành viên, cán bộ trongquá trình tác nghiệp, vì hoạt động THADS ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền vềtài sản, về kinh tế và nhân thân, do đó việc gặp phải những phản ứng, cản trở,chống đối ở từng mức độ khác nhau của các bên đương sự là điều khó tránh khỏi
Mặt khác, hoạt động THADS cũng như hoạt động của các cơ quan có thẩmquyền khác đều nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức,đồng thời luôn được đặt dưới sự giám sát của nhân dân, nhằm phòng ngừa, hạn chế
và đấu tranh với những vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ, làm trong sạchđội ngũ cán bộ, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nướcnói chung, hệ thống các cơ quan pháp luật và cơ quan THADS nói riêng
Cùng với sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật nói chung thì các quy địnhcủa pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THADS nói riêng trong thờigian gần đây cũng được hoàn thiện đáng kể Từ Pháp lệnh THADS năm 2004 đếnLuật THADS năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì công tác giải quyếtkhiếu nại, tố cáo luôn đặt lên hàng đầu Pháp lệnh THADS năm 2004 có mộtchương và 05 điều quy định về giải quyết khiếu nại tố cáo, đến Luật THADS năm
2008 đã dành hẳn một chương gồm 03 mục và 22 điều quy định về Khiếu nại, tốcáo và kháng nghị về THADS và đến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của LuậtTHADS năm 2014 tuy có sửa đổi, bổ sung một số khoản nhưng cơ bản vẫn giữnguyên như Luật THADS 2008 gồm một chương với 03 mục và 22 điều quy địnhvề Khiếu nại, tố cáo và kháng nghị về THADS
Bên cạnh đó, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo còn được thực hiện theothủ tục quy định tại Luật Khiếu nại năm 2011; Luật Tố cáo năm 2011; Nghị định
số 75/2012/NĐ-CP và Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chínhphủ hướng dẫn Luật khiếu nại, Luật tố cáo; Quyết định số 3961/QĐ-BTP ngày26/9/2011 về Quy chế giải quyết khiếu nại, tố cáo và phản ánh, kiến nghị liên quanđến khiếu nại, tố cáo của Bộ Tư pháp; Thông tư liên tịch 06/2014/TTLT-BTP-
Trang 2TTCP-BQP hướng dẫn khiếu nại, giải quyết khiếu nại về bồi thường nhà nướctrong hoạt động quản lý hành chính và THADS; Điều 38 Nghị định số62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thihành một số điều của Luật THADS; Quy chế Giải quyết khiếu nại, tố cáo vềTHADS Ban hành kèm theo Quyết định số 1420/QĐ-GQKNTC ngày 01/6/2010của Tổng cục trưởng Tổng cục THADS; Thông tư số 02/2016/TT-BTP ngày01/02/2016 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định quy trình giải quyết đơn khiếunại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị, phản ánh trong THADS; Thông tư số10/2011/TTLT-BTP-TTCP ngày 06/6/2011 của Bộ Tư pháp và Thanh tra Chínhphủ hướng dẫn thực hiện trợ giúp pháp lý trong việc khiếu nại quyết định hànhchính, hành vi hành chính và một số văn bản khác quy định về quy trình giải quyếtkhiếu nại, tố cáo, quy trình tiếp công dân, quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tốcáo, đơn kiến nghị, phản ánh ….
Vấn đề thực tiễn đặt ra là các bên đương sự luôn cảm thấy bức xúc trướcnhững quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên vàcán bộ làm công tác thi hành án khi nguyện vọng của họ chưa được thỏa mãn, do
đó trong mọi giai đoạn tổ chức thi hành án đều có thể bị khiếu nại, tố cáo, từ khâunhận đơn yêu cầu thi hành án, ra quyết định, thông báo, xác minh, cưỡng chế thihành án, thậm chí khi kết thúc thi hành án vẫn có thể bị khiếu nại, tố cáo Vì vậy,Bản án, quyết định của Toà án có được thi hành nghiêm chỉnh, kịp thời, đúng phápluật, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự có được đảm bảo hay không đềuphụ thuộc rất nhiều vào các quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hànhán và Chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án, đòi hỏi bản thân tôi, với
tư cách là thủ trưởng đơn vị cần phải nắm vững và áp dụng đúng các quy định của
pháp luật nói chung cũng như các quy định của pháp luật về THADS nói riêng, đặc biệt là các trình tự thủ tục trong công tác giải quyết khiếu nại tại đơn vị.
Bằng những kiến thúc đã được tiếp thu qua lớp đào tạo, bồi dưỡng lãnh đạo,quản lý cấp Phòng, trên cơ sở lý luận chung và bằng tình huống từ thực tiễn giảiquyết, để có thêm kiến thức và kinh nghiệm trong công tác giải quyết khiếu nại về
THADS, vì vậy tôi chọn tình huống “Việc giải quyết khiếu nại của bà Lê Thị T,
trú tại: khối 7, Thị trấn Đ, huyện L, tỉnh N và một số kinh nghiệm, giải pháp, kiến nghị, đề xuất trong công tác giải quyết khiếu nại ” để làm bài thu hoạch kết
thúc quá trình học tập của bản thân
Do kinh nghiệm thực tiễn, đặc biệt là kinh nghiệm trong việc giải quyếtkhiếu nại đối với các vụ việc phức tạp chưa nhiều, bài thu hoạch chắc chắn cònnhiều hạn chế Vì vậy rất mong sự góp ý, bổ cứu của các thầy cô giáo để giúp tôihoàn thiện hơn về kỹ năng vận dụng và xử lý các tình huống tương tự trong côngtác giải quyết khiếu nại về THADS nhằm hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao
Trang 3II NỘI DUNG TÌNH HUỐNG
1 Hoàn cảnh ra đời
- Ngày 15/01/2020, Chi cục THADS huyện L nhận được đơn khiếu nại của
bà Lê Thị T, trú tại: Khối 7, Thị trấn Đ, huyện L, tỉnh N với nội dung khiếu nạinhư sau:
+ Bà T không đồng tình với việc tổ chức thi hành án của ông Đặng Văn H, làChấp hành viên Chi cục THADS huyện L, tỉnh N Bà cho rằng việc xác minh điềukiện thi hành án chưa đúng vì Chấp hành viên chưa xác định được địa chỉ của ôngTrần Xuân T (người phải thi hành án), theo thông tin do Cục Quản lý xuất nhậpcảnh cung cấp ngày 24/11/2019 thì ông T đã xuất cảnh tại Sân bay quốc tế TânSơn Nhất ngày 15/5/2019, gia đình không biết địa chỉ cụ thể của ông T Bà T đãbáo cho Chấp hành viên Chi cục THADS huyện L biết thông tin này nhưng Chicục không có văn bản yêu cầu cơ quan quản lý xuất nhập cảnh xác minh mà giaotrách nhiệm cho bà gọi chồng về và áp dụng khoản 2 Điều 43 Luật THADS năm
2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thông báo trên Báo Pháp luật Việt Namtrong trường hợp vắng mặt tại địa phương đối với chồng bà B là trái quy định tạiĐiều 44a Luật THADS về xác minh điều kiện thi hành án, khoản 3 Điều 9 Nghịđịnh số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 Căn cứ vào các quy định trên thì Chi cụctrưởng Chi cục THADS huyện L phải ra quyết định về việc chưa có điều kiện thihành án đối với trường hợp của bà T và ông T
+ Ông T xuất cảnh trong thời hạn chuẩn bị xét xử (xuất cảnh ngày15/5/2019, xét xử ngày 27/6/2019), do đó thẩm quyền xét xử thuộc Toà án nhândân tỉnh N theo quy định tại khoản 3 Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổsung năm 2012, do đó bà cho rằng TAND huyện L đã vi phạm nghiêm trọng thủtục tố tụng, vì vậy bà T yêu cầu giám đốc thẩm, huỷ án sơ thẩm Việc bà khôngkháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2019/DSST ngày 27/6/2019 của Toà ánnhân dân huyện L là do bà chưa nhận được bản án
- Ngày 27/3/2020, Chi cục THADS huyện L tiếp tục nhận được đơn khiếunại của bà bà Lê Thị T với nội dung khiếu nại ông Đặng Văn H, chức vụ: Chấphành viên Chi cục THADS huyện L, tỉnh N vi phạm nhiệm vụ, quyền hạn củaChấp hành viên quy định tại khoản 4 Điều 20 Luật Thi hành án dân sự trong việcxác minh điều kiện thi hành án, dẫn đến việc tổ chức thi hành án trái pháp luật
Trong đơn khiếu nại, bà Lê Thị T còn đề nghị:
+ Cơ quan THADS xác minh tại Cục quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Nđể có căn cứ thi hành án
Trang 4+ Đề nghị Thủ trưởng cơ quan THADS huyện L có văn bản kiến nghị người
có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều
23 Luật Thi hành án dân sự đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2019/DSST ngày27/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện L do vi phạm thẩm quyền xét xử quy địnhtại khoản 3 Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011
+ Thu hồi các văn bản có liên quan đến việc thi hành án mà Chi cục đã banhành và bồi thường tổn thất tinh thần theo quy định
2 Mô tả tình huống
Quyết định của Bản án Dân sự sơ thẩm số 29/2019/DSST ngày 27/6/2019
của Tòa án nhân dân huyện L tuyên: “ Buộc ông Trần Xuân T và bà Lê Thị T
phải thanh toán cho ông Trần Minh S số tiền 1.250.000.000đ (Một tỷ, hai trăm năm mươi triệu đồng) Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa trả hết số tiền trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án
Về án phí: " Buộc Buộc ông Trần Xuân T và bà Lê Thị T phải nộp 42.000.000đ (bốn mươi hai triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm".
Ngày 04/7/2019, Chi cục THADS huyện L nhận được đơn yêu cầu thi hànhán của ông Trần Minh S, địa chỉ: xóm P, xã S, huyện L, tỉnh N Nội dung: Yêu cầuthi hành khoản buộc ông Trần Xuân T và bà Lê Thị T phải thanh toán cho ông
Căn cứ bản án có hiệu lực pháp luật và đơn yêu cầu thi hành án của ông TrầnMinh S, ngày 08/7/2019 Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện L ra Quyết địnhthi hành án số 123/QĐ-CTHADS và phân công Chấp hành viên Đặng Văn H tổchức thi hành
Ngày 08/7/2019, ông Trần Minh S có đơn đề nghị ra quyết định về việc tạmdừng việc đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng tài sản đối với ông Trần Xuân T
và bà Lê Thị T gửi Chi cục THADS huyện L Căn cứ văn bản trên, Chấp hành viên
đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-CCTHADS ngày 08/7/2019 về việc tạm dừngviệc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đối với
Trang 5- Về địa chỉ cư trú: ông Trần Xuân T và bà Lê Thị T có hộ khẩu thường trútại Khối 7, Thị trấn Đ, huyện L, tỉnh N, hiện tại ông T không có mặt tại địaphương, không rõ địa chỉ cư trú khác do ông T không thực hiện việc làm thủ tụccắt chuyển khẩu hay tạm vắng tại địa phương.
thửa số 452, tờ bản đồ số 07 tại Khối 7, Thị trấn Đ, huyện L, tỉnh N, quyền sửdụng đất đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB
724534 ngày 26/5/2013 mang tên ông Trần Xuân T và bà Lê Thị T
Ngày 29/8/2019, ông Trần Minh S có đề nghị Chi cục THADS huyện Lthông báo nghĩa vụ thi hành án của ông Trần Xuân T lên phương tiện thông tin đạichúng, căn cứ đề nghị của người được thi hành án và quy định của pháp luật, Chấphành viên đã thực hiện việc thông báo về nghĩa vụ phải thi hành án của ông T 02lần liên tiếp trên Báo Pháp luật Việt Nam (số 234 ngày 11/9/2019 và số 235 ngày12/9/2019) Đồng thời ấn định thời hạn (10 ngày kể từ ngày thông báo) nếu ông Tkhông có mặt để giải quyết việc thi hành án thì Chấp hành viên sẽ tiến hành cưỡngchế kê biên xử lý tài sản theo quy định của pháp luật
Hết thời hạn thông báo nhưng ông T vẫn không có mặt, Chấp hành viên đã
ra Quyết định cưỡng chế THADS số 08/QĐ-CCTHADS ngày 08/10/2019 về việccưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất; ngày 16/11/2019, Chấp hành viên đã thực
viên đã tổ chức cho các bên đương sự thỏa thuận về giá tài sản kê biên, về tổ chứcthẩm định giá, tổ chức bán đấu giá nhưng các bên không có thỏa thuận và đề nghị
cơ quan thi hành án xử lý theo quy định của pháp luật Do đó, Chấp hành viên đãthực hiện việc ký hợp đồng thẩm định giá với Công ty cổ phần Thẩm định giáPhương Nam để thẩm định giá tài sản kê biên theo quy định Theo chứng thư thẩmđịnh giá 68/CT-TĐGPN ngày 28/11/2019, tài sản đã kê biên được thẩm định giávới giá là: 1.242.050.000 đồng
Không đồng ý với việc xác minh của Chấp hành viên, bà Lê Thị T khiếu nạivới nội dung như đã nêu trên và thầm quyền giải quyết khiếu nại thuộc Chi cụctrưởng Chi cục THADS huyện L
III KHUNG LÝ THUYẾT ÁP DỤNG CHO TÌNH HUỐNG
1 Vai trò, mục tiêu của hoạt động lãnh đạo xử lý tình huống.
- Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân, đồng thời xem xétviệc áp dụng pháp luật của Chấp hành viên (có vi phạm hay không) trong quá trình
tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật Từ đó đề ra các phương án khả thi
Trang 6nhằm giải quyết các vấn đề trong tình huống đặt ra được đúng pháp luật, đảm bảo
kỷ cương, kỷ luật, hiệu quả trong việc giải quyết khiếu nại liên quan đến THADS
- Thực hiện tốt nguyên tắc dân chủ, đảm bảo công khai, minh bạch, côngbằng trong việc giải quyết khiếu nại của công dân; giải quyết hài hòa giữa lợi íchcủa các bên đương sự với cơ quan nhà nước
- Duy trì, củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nướcđặc biệt là vai trò của cơ quan THADS trong đời sống xã hội
- Trau dồi, tích lũy và nâng cao kiến thức về pháp luật THADS liên quan đếnviệc giải quyết khiếu nại, tố cáo
2 Các nguyên tắc, yêu cầu cơ bản.
Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 đã giải thích rõ: "Khiếu nại là việc
công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình".
Để chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trongTHADS, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 02/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016quy định quy trình giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị, phản ánhtrong THADS Tại Điều 3 của Thông tư số 12/2016/TT-BTP đã giải thích từ ngữ
như sau: "Khiếu nại về THADS là việc đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến việc THADS đề nghị người có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành
vi của Thủ trưởng cơ quanTHADS, Chấp hành viên nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình".
Khiếu nại về THADS là việc người có quyền khiếu nại, bao gồm người đượcthi hành án, người phải thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan thực hiệnviệc khiếu nại bằng hình thức pháp luật quy định như có đơn khiếu nại hoặc trìnhbày trực tiếp về quyết định, hành vi của Chấp hành viên, Thủ trưởng cơ quanTHADS khi có căn cứ cho rằng, quyết định, hành vi đó làm ảnh hưởng đến quyền,lợi ích hợp pháp của chính họ
Giải quyết khiếu nại về THADS là việc người có thẩm quyền giải quyếtkhiếu nại tiến hành các trình tự, thủ tục tiếp nhận, thụ lý và ban hành văn bản,quyết định để giải quyết khiếu nại của người khiếu nại theo hướng chấp nhận toàn
bộ hay một phần hoặc không chấp nhận toàn bộ hay một phần khiếu nại theo quyđịnh của pháp luật
Trang 73 Quy trình và các bước xử lý tình huống cụ thể.
3.1 Diễn biến tình huống
Theo trình tự pháp luật quy định, sau khi nhận được đơn khiếu nại của bà
Lê Thị T, Chi cục THADS huyện L thực hiện các thủ tục theo quy định để thụ lýgiải quyết vụ việc:
- Ngày 14/02/2020 Chi cục THADS huyện L có Giấy mời bà Lê Thị T đếnlàm việc Bà T đã có mặt theo giấy mời, tại buổi làm việc, bà T trình bày như sau:
+ Chấp hành viên Đặng Văn H chưa xác định được địa chỉ của người phảithi hành án là ông Trần Xuân T (chồng bà T), việc thi hành án ảnh hưởng đến tàisản chung của vợ chồng ông Trần Xuân T và bà Lê Thị T Việc không xác địnhđược địa chỉ của người phải thi hành án vi phạm khoản 4 Điều 20 Luật THADS
+ Việc Chấp hành viên yêu cầu bà T gọi chồng về và giao văn bản thi hànhán cho ông T theo khoản 2 Điều 40 Luật THADS; Thông báo trên Báo Pháp luậtViệt Nam trong trường hợp người phải thi hành án vắng mặt tại địa phương theokhoản 2 Điều 43 Luật THADS là không có cơ sở và trái pháp luật, các hình thứcthông báo trên chỉ được áp dụng khi đương sự có mặt trên lãnh thổ Việt Nam
+ Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện L phải ra quyết định về việc chưa
có điều kiện thi hành án đối với ông Trần Xuân T và bà Lê Thị T theo quy định tạiĐiều 44a Luật THADS, khoản 3 Điều 9 Nghị định 62, điểm b khoản 1 Điều 48Luật THADS
+ Yêu cầu khắc phục bồi thường tổn thất tinh thần cho các quyết định vàhành vi trái pháp luật của Chi cục THADS huyện L gây ra
+ Ông Trần Xuân T đã xuất cảnh ngày 15/5/2019 tại Sân bay quốc tế TânSơn Nhất, gia đình không rõ địa chỉ ở nước nào và ở đâu
- Ngày 23/03/2020, Chi cục THADS huyện L tiếp tục có Giấy mời bà T lênlàm việc liên quan đến việc khiếu nại Tại buổi làm việc bà tiếp tục nêu lại cáckhiếu nại, kiến nghị các nội dung tại buổi làm việc ngày 14/02/2020 Đồng thời gửikèm theo các tài liệu:
+ Phiếu tra cứu hộ chiếu;
+ Danh sách xuất cảnh của ông T
- Đến ngày 27/03/2020, Chi cục THADS huyện L tiếp tục nhận được Đơnkhiếu nại của bà Lê Thị T với các nội dung như đã nêu trên
3.2 Đề xuất giải pháp xử lý tình huống
Trang 8- Sau khi nghiên cứu nội dung phản ánh kiến nghị của bà Lê Thị T tại buổilàm việc ngày 23/3/2020, Chi cục THADS huyện L có trả lời như sau:
Thứ nhất, về nội dung “CHV Đặng Văn H chưa xác định được địa chỉ của
người phải thi hành án là Ông Trần Xuân T là vi phạm quy định tại khoản 4 Điều
20 của Luật THADS” Tại biên bản xác minh điều kiện thi hành án ngày 11/8/2019
thể hiện ông Trần Xuân T có hộ khẩu tại Thị trấn Đ, huyện L, tỉnh N, tại thời điểmxác minh ông T vắng mặt tại địa phương nhưng không làm thủ tục khai báo tạmvắng hay chuyển khẩu Do đó, hiện tại hộ khẩu ông Trần Xuân T vẫn do địa
phương quản lý Mặt khác, theo khoản 3 Điều 12 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP
của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số số điều của LuậtTHADS, về thông báo thi hành án đã quy định rõ nghĩa vụ cung cấp địa chỉ của
người được thông báo như sau: “Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
có thay đổi về địa chỉ liên lạc thì phải kịp thời thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành án biết để thực hiện việc thông báo theo địa chỉ mới Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thông báo địa chỉ mới thì việc thông báo theo địa chỉ được xác định trước đó được coi là hợp lệ” Như vậy, theo quy định này, nghĩa vụ cung cấp địa chỉ mới thuộc về người
được thông báo, nếu người được thông báo không kịp thời cung cấp địa chỉ khithay đổi địa chỉ thì việc thông báo theo địa chỉ trước đó được coi là hợp lệ
Thứ hai, về nội dung “Việc CHV yêu cầu bà T gọi chồng về và giao văn
bản thi hành án cho ông T theo Khoản 2 Điều 40 Luật THADS; Thông báo trên báo pháp luật Việt Nam trong trường hợp người phải thi hành án vắng mặt tại địa phương theo Khoản 2 Điều 43 Luật THADS là không có cơ sở pháp luật, các hình thức thông báo trên chỉ được áp dụng khi đương sự có mặt trên lãnh thổ Việt Nam” Về hình thức thông báo thi hành án cho cá nhân được quy định tại Điều 40,
Điều 42, Điều 43 Luật thi hành án dân sự quy định như sau: “Trường hợp người
được thi hành án vắng mặt thì văn bản thông báo được gửi cho một trong số những người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú với người đó, bao gồm vợ, chồng, con, ông, bà,… của đương sự, của vợ hoặc chồng của đương sự”; Việc niêm yết công khai thực hiện khi “không rõ địa chỉ của người được thông báo”; Việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng chỉ được thực
hiện “khi pháp luật có quy định hoặc khi đương sự có yêu cầu” Trong trường hợp
này, theo cung cấp của chính quyền địa phương, ông Trần Xuân T vắng mặt tại địaphương nhưng không khai báo tạm vắng, không chuyển hộ khẩu, không cắt hộkhẩu, hộ khẩu vẫn do địa phương quản lý Do vậy, Chấp hành viên Chi cụcTHADS huyện L có quyền áp dụng các quy định tại Điều 40, Điều 42, Điều 43 củaLuật THADS để tiến hành thông báo thi hành án cho ông Trần Xuân T
Trang 9Thứ ba, về nội dung “Chi cục THADS huyện L phải căn cứ quy định tại
Điều 44a, khoản 3 Điều 9 NĐ 62, điểm b khoản 1 Điều 48 Luật THADS để ra quyết định chưa có điều kiện thi hành án” Theo phản ánh trong bản án cũng như
trong biên bản xác minh điều kiện thi hành án thì ông Trần Xuân T và bà Lê Thị T
có tài sản là nhà đất Như vậy, theo quy định tại khoản 6, Điều 3 Luật THADS thì
người phải thi hành án có điều kiện thi hành án “có điều kiện thi hành án là
trường hợp người phải thi hành án có tài sản, thu nhập để thi hành nghĩa vụ về tài
sản…”, trong trường hợp này căn cứ Điều 44a, khoản 3 Điều 9 Nghị định 62, điểm
b khoản 1 Điều 48 Luật THADS để ra quyết định chưa có điều kiện là không có cơ
sở Việc ra quyết định chưa có điều kiện thi hành án đối với “Trường hợp chưa
xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người phải thi hành án (điểm c khoản 1 Điều 44a)” đã được hướng dẫn cụ thể tại khoản 3 Điều 9 Nghị định 62 là áp dụng trong
trường hợp chưa xác định được địa chỉ và tài sản của người phải thi hành án hoặcchưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án mà theo bản án, quyết định
họ phải tự mình thực hiện (nghĩa vụ công khai xin lỗi) Điểm b khoản 1 Điều 48
Luật THADS cũng áp dụng đối với nghĩa vụ tự mình thực hiện theo bản án, quyết
định (nghĩa vụ công khai xin lỗi) Trường hợp ông Trần Xuân T đã xác định được
tài sản, nghĩa vụ của ông T, bà T là thanh toán nợ, do đó không thuộc trường hợpphải ra quyết định chưa có điều kiện thi hành án
Thứ tư, đối với những nội dung liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợppháp của người phải thi hành án, người được thi hành án, người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan trong bản án thì chính người đó phải có đơn trình bày rõ nộidung khiếu nại
Đối với các nội dung phản ánh kiến nghị, khiếu nại như đã trả lời trên đây,người có quyền lợi trực tiếp phải có đơn khiếu nại gửi Chi cục THADS huyện Ltrước ngày 30/3/2020 để được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật Quáthời hạn nêu trên mà người có quyền lợi trực tiếp không làm đơn khiếu nại, Chi
cục THADS huyện L sẽ tiếp tục tổ chức thi hành án (nội dung này sau đó bà Lê
Thi T đã có đơn khiếu nại vào ngày 27/3/2020 như đã nêu trên).
3.3 Lựa chọn giải pháp xử lý
- Ngày 26/4/2020, Chi cục THADS huyện L có Quyết định số CTHADS giải quyết khiếu nại của bà Lê Thị T Nội dung như sau:
68/QĐ-Nhận định:
Xét đơn khiếu nại ngày 25/3/2020 của bà Lê Thị T, khiếu nại: ông Đặng Văn
H, Chấp hành viên Chi cục THADS huyện L vi phạm nhiệm vụ, quyền hạn củaChấp hành viên, quy định tại khoản 4 Điều 20 Luật THADS trong việc xác minh
Trang 10điều kiện thi hành án, dẫn đến việc tổ chức thi hành án của Chấp hành viên tráipháp luật.
Trên cơ sở nội dung đơn khiếu nại của bà Lê Thị T, báo cáo giải trình và kếtquả kiểm tra việc tổ chức thi hành án của Chấp hành viên Đặng Văn H,
Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện L nhận thấy:
Quyết định của Bản án Dân sự sơ thẩm số 29/2019/DSST ngày 27/6/2019
của Tòa án nhân dân huyện L tuyên: “ Buộc ông Trần Xuân T và bà Lê Thị T
phải thanh toán cho ông Trần Minh S số tiền 1.250.000.000đ (Một tỷ, hai trăm năm mươi triệu đồng) Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa trả hết số tiền trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án
Về án phí: " Buộc Buộc ông Trần Xuân T và bà Lê Thị T phải nộp 42.000.000đ (bốn mươi hai triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm".
Căn cứ bản án có hiệu lực pháp luật và đơn yêu cầu thi hành án của ông TrầnMinh S, ngày 08/7/2019 Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện L ra Quyết địnhthi hành án số 123/QĐ-CTHADS và phân công Chấp hành viên Đặng Văn H tổchức thi hành Đồng thời, căn cứ đề nghị áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành áncủa ông Trần Minh S, Chấp hành viên đã ban hành Quyết định số 11/QĐ-CCTHADS ngày 08/7/2019 về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu,
452, tờ bản đồ số 07, địa chỉ: Khối 7, Thị trấn Đ, huyện L, tỉnh N Quá trình tổchức thi hành án, do ông T, bà T không tự nguyện nộp tiền thi hành án nên Chấphành viên đã tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của ông T, bà T để làm cơ
sở cho việc tổ chức thi hành án Kết quả xác minh của Chấp hành viên thể hiện:
- Về địa chỉ cư trú: ông Trần Xuân T và bà Lê Thị T có hộ khẩu thường trútại Khối 7, Thị trấn Đ, huyện L, tỉnh N, hiện tại ông T không có mặt tại địaphương, không rõ địa chỉ cư trú khác do ông T không thực hiện việc làm thủ tụccắt chuyển khẩu hay tạm vắng tại địa phương
thửa số 452, tờ bản đồ số 07 tại Khối 7, Thị trấn Đ, huyện L, tỉnh N, quyền sửdụng đất đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB
724534 ngày 26/5/2013 mang tên ông Trần Xuân T và bà Lê Thị T
Căn cứ đề nghị của người được thi hành án và quy định của pháp luật, Chấphành viên đã thực hiện việc thông báo về nghĩa vụ phải thi hành án của ông T, bà T
02 lần liên tiếp trên Báo Pháp luật Việt Nam (số 234 ngày 11/9/2019 và số 235
Trang 11ngày 12/9/2019) Đồng thời ấn định thời hạn (10 ngày kể từ ngày thông báo) nếuông T không có mặt để giải quyết việc thi hành án thì Chấp hành viên sẽ tiến hànhcưỡng chế kê biên xử lý tài sản theo quy định của pháp luật
Hết thời hạn thông báo, thực hiện Quyết định số 08/QĐ-CCTHADS ngày08/10/2019 về việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất; ngày 16/11/2019, Chấp
biên, Chấp hành viên đã tổ chức cho các bên đương sự thỏa thuận về giá tài sản kêbiên, về tổ chức thẩm định giá, tổ chức bán đấu giá nhưng các bên không có thỏathuận và đề nghị cơ quan thi hành án xử lý theo quy định của pháp luật Do đó,Chấp hành viên đã thực hiện việc ký hợp đồng thẩm định giá với Công ty cổ phầnThẩm định giá Phương Nam để thẩm định giá tài sản kê biên theo quy định Theochứng thư thẩm định giá 68/CT-TĐGPN ngày 28/11/2019, tài sản đã kê biên đượcthẩm định giá với giá là: 1.242.050.000 đồng
Không đồng ý với việc xác minh của Chấp hành viên, bà Lê Thị T khiếu nại,
do người bị khiếu nại là Chấp hành viên Chi cục THADS huyện L nên thuộc thẩmquyền giải quyết của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện L
Về nội dung khiếu nại của bà T, Chi cục THADS huyện L thấy rằng:
Để tổ chức thi hành Quyết định thi hành án số 123/QĐ-CTHADS nêu trên,ngày 11/8/2019, Chấp hành viên đã phối hợp với chính quyền địa phương tổ chứcxác minh trực tiếp điều kiện thi hành án của ông Trần Xuân T và bà Lê Thị T tạigia đình ông T, bà T ở Khối 7, Thị trấn Đ, huyện L Kết quả xác minh thể hiện:
“ vợ chồng ông Trần Xuân T và bà Lê Thị T có 02 người con lớn 14, nhỏ 11 tuổi đều đang học phổ thông Hiện tại, ông Trần Xuân T không có mặt tại địa phương, gia đình Khi đi ông T không làm thủ tục tạm vắng nên chính quyền địa phương không nắm được ông đang ở đâu, làm gì Hiện tại hộ khẩu vẫn do địa phương quản lý Về tài sản: vợ chồng ông T, bà T có một thửa đất số 452, tờ bản đồ số 07
có diện tích 203m 2 tại Khối 7, Thị trấn Đ, huyện L, tỉnh N, quyền sử dụng đất đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 724534 ngày 26/5/2013 mang tên ông Trần Xuân T và bà Lê Thị T .” Ngày 26/9/2019, Chấp
hành viên đã thực hiện việc niêm yết các Quyết định thi hành án số CTHADS ngày 08/7/2019, số 11/QĐ-CCTHADS ngày 08/7/2019 và số 678/QĐ-
123/QĐ-CCTHADS ngày 09/7/2019 (thi hành khoản án phí) tại UBND Thị trấn Đ, nhà văn
hóa Khối 7, nơi ở của ông T, bà T và tại Chi cục THADS huyện L Ngày18/8/2019, Chấp hành viên tiếp tục thực hiện việc xác minh tại Văn phòng đăng ký
được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 724534 ngày26/5/2013 mang tên ông Trần Xuân T và bà Lê Thị T