1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo hiểm hoả hoạn thực trạng- giải pháp đối với Tổng Công ty Bảo Việt.doc

42 879 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo Hiểm Hoả Hoạn Thực Trạng- Giải Pháp Đối Với Tổng Công Ty Bảo Việt
Tác giả Tạ Quang Tuấn
Người hướng dẫn Thầy Giáo Hướng Dẫn Thân Danh Phúc
Trường học Tổng Công Ty Bảo Việt
Thể loại chuyên đề tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 211 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo hiểm hoả hoạn thực trạng- giải pháp đối với Tổng Công ty Bảo Việt

Trang 1

Đây cũng là mối quan tâm lớn đối với các doanh nghiệp bảo hiểmViệt Nam, nhất là từ khi thị trường bảo hiểm đã chuyển từ "thị trườngcủa người bán" thành "thị trường của người mua" Vấn đề nghiên cứu,cải tiến, áp dụng và triển khai các loại hình bảo hiểm mới đang trởthành một trong những chiến lược quan trọng mà các công ty bảo hiểm

sử dụng để cạnh tranh trên thị trường

Đối với những cán bộ bảo hiểm cũng như những ai đang nghiêncứu, học tập trên lĩnh vực này, nghiệp vụ Bảo hiểm Hoả hoạn đã khôngcòn xa lạ Tuy nhiên, làm thế nào để hiểu thấu đáo, tường tận cơ sở lýluận và thực tế triển khai loại hình này cho phù hợp với điều kiện ViệtNam mà vẫn đáp ứng được với nhu cầu ngày càng đa dạng và phức tạpcủa các doanh nghiệp đang là câu hỏi lớn đặt ra với tất cả các công ty

bảo hiểm hoạt động tại Việt nam Chính vì vậy, em đã chọn đề tài “Bảo

hiểm hoả hoạn thực trạng- giải pháp đối với Tổng Công ty Bảo Việt “

làm nội dung nghiên cứu

Mục đích của đề tài nhằm tập hợp, hệ thống hoá các nguyên tắc lýluận được áp dụng chung trong loại hình Bảo hiểm Hoả hoạn, các đặc

Trang 2

điểm riêng biệt của loại hình, cũng như những công tác cần thiết trongviệc triển khai nghiệp vụ Ngoài ra, đề tài cũng dành một phần đề cậpđến thực tế tình hình triển khai nghiệp vụ tại Tổng Công ty Bảo hiểmViệt Nam - công ty bảo hiểm đầu tiên tiến hành loại hình bảo hiểm mới

mẻ này trong những năm vừa qua

Ngoài phần mở đầu và kết luận, bản luận văn bao gồm 3 chươngvới những nội dung cơ bản sau:

Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện đề tài này, chúng tôi đã nhậnđược sự giúp đỡ tận tình thiết thực của Thầy giáo hướng dẫn Thân Danh

Phúc và một số cán bộ công tác tại Phòng Bảo hiểm Hoả hoạn và Kỹ

Thuật thuộc Tổng Công ty Bảo hiểm Hà Nội Xin chân thành bày tỏ lòngcảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó

Bản chuyên đề này chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những khiếmkhuyết trong biên tập và trình bày Rất mong được sự góp ý và phêbình của thày giáo và các bạn đồng nghiệp

Sinh viên thực hiện

Tạ Quang Tuấn

Trang 3

CHƯƠNG I MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM HOẢ HOẠN

TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

I Vài nét về lịnh sử bảo hiểm hoả hoạn

Hiệp hội bảo hiểm hoả hoạn lần đầu tiên ra đời trên thế giới là ở Đứcnăm 1591 mang tên Feuer Casse Một thời gian ngắn sau đó xuất hiên thêmvài Công ty nữa nhưng không để lại dấu ấn gì lớn cho tới giữa thế kỷ 17.Năm 1666 đẫ xẩy ra một vụ Hoả hoạn khủng khiếp ở Lôn Đôn Vụ Hoảhoạn kéo dài năm ngày Thiêu huỷ gần như toàn bộ thành phố đã kích thích

sự ra đời của bảo hiểm hoả hoạn Một nhà vật lý người Anh tên làNICHOLAS BARBEN chuyển nghạch sang lĩnh vực xây dựng trong thờigian xây dựng lại thành phố đã đồng thời cũng bắt đầu bảo hiểm hoả hoạncho các ngôi nhà mới xây dựng Ban đâu ông điều khiển Công ty theo kiểuCông ty tư nhât nhưng sau đó năm 1680 ông đổi thành Công ty cổ phầnmang tên là “ The Fire Office “ Một số Công ty khác cũng theo đó ra đờitrong đó có Hand in Hand năm 1696 và Sun Fire Office năm 1710

Công ty bảo hiểm đầu tiên thành công ở Mỹ là Công ty bảo hiểm tương hỗ,

do Benfamir Franklin và một số thành viên khác sáng lập năm 1752, mangtên là The Philadenphia Contributionship chuyên bảo hiểm Hoả hoạn chonhà cửa Công ty bảo hiểm cổ phần đầu tiên ở Mỹ mang tên là Theinsurance company of Noth America được thành lập năm 1792

Xuất phát từ nhu cầu thực tế Bảo hiểm hoả hoạn đã phát triển mạnh mẽ vàtrở thành nghiệp vụ truền thống với phí thu hàng năm rất cao ở Nhật, sốphí bảo hiểm hoả hoạn thu hàng năm 1993 là 1.017.008 triệu yên ( trên 10

tỷ đô la) chiếm 15,5% doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm phí nhân thọ

Trang 4

II Sự cần thiết và vai trò của bảo hiểm hảo hoạn

Hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển thì nhu cầu tập trung

vật tư, hàng hoá rất lớn, quy trình công nghệ ngày càng phức tạp và những

loại máy móc hiện đại sẽ được phổ biến hơn Trong khi đó, khoa học kỹ

thuật an toàn thường đi sau, nguồn vốn sử dụng cho các biện pháp an toàn

thường rất thấp so với vốn đầu tư phát triển sản xuất thêm vào đó điều kiện

tự nhiên ngày càng khắc nghiệt và đã khiến cho khả năng xảy ra rủi ro tai

nạn nhiều hơn so với mức độ thiệt hại về người và của nghiêm trong hơn

Chỉ tính riêng hoả hoạn mỗi năm nước ta xẩy ra hàng nghìn vụ Hoả hoạn

nổ, làm chết hoặc bị thương hàng trăm người, thiệt hại về tài sản hàng chục

tỷ đồng Có những vụ Hoả hoạn làm thiêu huỷ hàng trăm nóc nhà, toàn bộ

khu chợ lớn hoặc cả một cơ sở sản xuất kinh doanh hàng chục tỷ đồng, làm

cho hàng nghìn người không còn nhà ở hàng nghìn hộ kinh doanh phải điêu

đứng vi mất hết toàn bộ hàng hoá, tiền của , không còn chỗ kinh doanh làm

cho hàng trăm công nhân không còn nơi làm việc Số liệu thống kê về hoả

hoạn ở Việt Nam của cục cảnh sát phòng Hoả hoạn chữa Hoả hoạn trong 5

năm 1998-2003 như sau:

Bảng 1_ Hoả hoạn ở Việt Nam trong năm 1998-2002

Nhànước

Tậpthể

Tưnhân

Liêndoanh

Chết Thương

tật

Tàisản(tỷđồng)

Vậy làm thế nào doanh nghiệp trách được tổn thất bảo toàn nguồn vốn

kinh doanh của mình? Thực ra nó còn nhiều biên pháp sử dụng như sử

Trang 5

dụng các biện pháp an toàn, thành lập quỹ dự trữ đề phòng xẩy ra tổnthất Trước đây chúng ta có một vài Công ty bảo hiểm hoả hoạn tại miềnNam trong thời kỳ Pháp thuộc song sang năm 1975 do cơ chế bao cấp, nhànước đứng ra bù đắp mọi thiệt hại, bảo đảm tài chính cho các doanh nghiệpkhi không may gặp rủi ro nên bảo hiểm nói chung và bảo hiểm hoả hoạnnói riêng không có mảnh đất phát triển Trong điều kiên nền kinh tế chuyểnsang cơ chế thị trường hiên nay các doanh nghiệp phải tự chủ về nguồn tàichính, tham gia bảo hiểm tài sản mà cụ thể là bảo hiểm Hoả hoạn vẫn làphương án tối đa.

Theo quy tắc bảo hiểm Hoả hoạn hiện nay vẫn sử dụng ở các Công tybảo hiểm trong nước, người tham gia bảo hiểm có thể tham gia đăng ký bảohiểm cho những tài sản như nhà của trang thiết bị hàng hoá, nguyên vật liệucủa mình Ngoài Hoả hoạn là rủi ro chính họ còn đăng ký cho các rủi rophụ như nổ, giông bão, động đất nước chảy hay rò rỉ tràn từ bể chứa đườngống hoặc thiết bị chữa Hoả hoạn, xe cộ hay súc vật đâm vào Trongtrương hợp xẩy ra tổn thất, các Công ty bảo hiểm bồi thường cho nhữngthiệt hại trực tiếp từ các nguyên nhân kể trên và cả những chi tiết cần thiếthợp lý nhằm hạn chế tổn thất tài sản được bảo hiểm trong và ngay khi chấy Tuy nhiên Hoả hoạn không chỉ gây thiệt hại trực tiếp đến cho conngười và tài sản mà nó còn để lại những thiệt hại và tổn thât khổng lồ chocác doanh nghiệp Trên thực tế sau khi Hoả hoạn hoạt động sản xuất khôngthể phát triển theo kế hoạch kinh doanh đặt ra, các doanh nghiệp sẽ mấtkhoản lợi nhuận do nhà xưởng, máy móc bị hư hại Để tránh bị phá sản họphải tiến hành các biện pháp khôi phục lại sản xuất Bên cạch việc duy trìchi trả tiền lương cho nhân công và thanh toán các chi phí cố định như tiềnthuê nhà xưởng, khấu hao, điện nước lãi xuất ngân hàng các doanh nghiệpcòn phải thuê thêm nhân viên làm việc thêm giờ để hoàn tất đơn đặt hàngtồn đọng Rõ ràng những khám phá này không được bồi thường theo đơnbảo hiểm Hoả hoạn

Trang 6

Để đáp ứng được các khoản chi phí trên, nhiều doanh nghiệp đã sửdụng các quỹ dự trữ, hoặc vay vốn từ ngân hàng và các tổ chức cho vaykhác, song các phương pháp này hoàn toàn thụ động Một biện pháp hiệnnay đang khẳng định tính ưu việt với các nhà đầu tư nước ngoài đó là thamgia bảo hiểm gián đoạn kinh doanh Với loại hình này, các doanh nghiệpkhông những được bồi thường tài chính cho các khoản chi phí nói trên màcòn được bù đắp phần lợi nhuận ròng bị mất mát mà lẽ ra họ được màkhông bị tổn thương Như vậy có thể nói rằng bảo hiểm hoả hoạn đã hạnchế tối thiểu mức ảnh hưởng của các rủi ro tới hoạt động sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp.

Bằng việc đóng góp một khoản phí nhỏ ( thường là một phần ngàn giátrị của tài sản) người được bảo hiểm có thể đầu tư tối đa và triệt để nguồnvốn nhàn rỗi cho phát triển hoạt động sản xuất, bởi họ không phải trích lậpquỹ dự phòng trường hợp xẩy ra rủi ro và quan trọng hơn, bên cạnh việcđược bồi thường khi xẩy ra tổn thất họ có một tâm lý an tâm khi tiến hànhcông việc kinh doanh của mình

Tham gia bảo hiểm các doanh nghiệp còn được các Công ty tư vấn vềcác biện pháp phòng trách tổn thất, tăng cường biện pháp phòng Hoả hoạnchữa Hoả hoạn và thực hiện chính sách quản lý rủi ro nhằm đảm bảo sự antoàn cao nhất

Bên cạnh việc mang lại lợi ích trên cho các doanh nghiệp bảo hiểm hoảhoạn cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định và phát triển nền kinh

tế Bời vì thông qua việc hướng dẫn các doangh nghiệp thực hiện nhữngbiện pháp an toàn, các Công ty bảo hiểm góp phần hạn chế tổn thất tai nạngiúp khách hàng của họ có điều kiện thúc đẩy mở rộng sản xuất như mongmuốn Mặt khác, một phần không nhỏ khoản phí thu được từ loại hình nàyđược Công ty bảo hiểm đóng góp vào ngân sách nhà nước để chính phủ sửdụng các mục đích xã hội

III Việc thực hiện bảo hiểm hoả hoạn ở Việt Nam

Trang 7

ở Việt Nam bảo hiểm hoả hoạn bắt đầu được thực hiện từ năm 1989sau khi có quyết định số 06/TCQĐ ngày 17/1/1989 của bộ trưởng bộ tàichính ban hành quy tắc về bảo hiểm hoả hoạn Sau một thời gian thực hiện

để phù hợp hơn với tình hình thực tế, Bộ tài chính lại có quyết định số 142/TCQĐ ban hành quy tắc và biểu phí mới và quyết định số 212/TCQĐ ngày12/4/1993 ban hành biểu phí và bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệtvới các mức phí tối đa thay cho biểu phí bảo hiểm hoả hoạn theo quyếtđịnh số 142/TCQĐ

Đến nay bảo hiểm hoả hoạn đã được thực hiện trong khắp cả nước.Nếu như năm 1991 số đơn vị hoả hoạn cấp ra mới chỉ có 413 thì tới năm

1994 con số này đã lên tới 2000 giá trị tài sản năm 1991 là 1000 tỷ đồng thìnăm 1992 trên 4000 tỷ, năm 1993 là 7000 và năm 1994 trên 14000 tỷ đồ

ng Số tiền bảo hiểm phí tương ứng của các năm đó là 4,5 tỷ, 10,2 tỷ, 21,3

tỷ và 3902 tỷ Bảo việt cũng phải chi bồi thường thiệt hại nhiều vụ Hoảhoạn lớn như Công ty giầy Hiệp Hưng trên 10 tỷ, Công ty dược Đồng Tháp4,5 tỷ đồng, chợ đồng xuân trên 8 tỷ đồng, Công ty sản xuất và xuất khẩusông Bé gần 18 tỷ đồng Có thể nói rằng bảo hiểm hoả hoạn đã dần dần đivào tiềm thức của con người Việt Nam, đáp ứng đòi hỏi tất yếu của xã hội

và ngày càng củng cố vững chắc vị trí quan trọng của mình trong cơ cấuchung của nghành bảo hiểm Việt Nam

Từ khi bắt đầu bảo hiểm hoả hoạn tới nay Tổng Công ty bảo hiểmViệt Nam đã tổ chức nhiều đợt tập huấn nghiệp vụ, đã làm nhiều văn bảntài liệu hưỡng dẫn Tuy nhiên số người trực tiếp tham gia tập huấn khôngphải là nhiều, tài liệu hướng dẫn cũng rải rác, không tập trung hơn nữa theothời gian bản thân những tài liệu đã ban hành trở nên lại lạc hậu đòi hỏiphải hoàn thiện bổ xụng thêm

Ngay cả quan điểm biện pháp thực hiên nghiệp vụ cũng có sự thay đổicăn bản Nếu như trước đây chúng ta tiến hành bảo hiểm trong điều kiênđộc quyền thì nay hoàn toàn ngược lại chúng ta phải cạnh tranh với nhiều

Trang 8

đối thủ trong và ngoài nước, hiệu quả kinh doanh đã trở thành thước đoquan trọng cho hoạt động của Công ty Điều đó phải đòi hỏi các cán bộnghiệp vụ, ngoài các phẩm chất khác của người bán hàng, phải hết sứcnhanh nhậy trong việc đưa ra các tỷ lệ phí có sức cạnh tranh nhưng phảiđáp ứng đúng chuẩn mực quy định để đảm bảo kinh doanh có lãi và đápứng yêu cầu của nhà nhận tái bảo hiểm Đông thời cùng với việc mở rộngkinh doanh, chúng ta cũng phải chú ý đến việc kiểm soát sự tích tụ rủi ro,nhất là các rủi ro thiên tai như bão, lũ lụt để tránh các trường hợp tồn thấthàng loạt Trong việc giải quyết bồi thường cũng phải đảm bảo chính xác,đúng điều kiện của đơn bảo hiểm và nhanh chóng hơn Mặt khác người bảohiểm cũng phải tăng cường công tác quản lý rui ro, cùng với khách hànglàm tốt công tác hạn chế tổn thất

Xuất phát từ thực tế đó Công ty Bảo Việt đã khai thác tốt thị trườngbảo hiểm trong nước về lĩnh vực bảo hiểm hoả hoạn Do đó những năm gầnđây doanh số của phòng bảo hiểm hảo hoạn tăng từ đó làm tăng doanh thucủa Công ty Bảo Việt

IV Một số khái niệm cơ bản

1 Rủi ro có thể lựa chọn để bảo hiểm

Mỗi rủi ro có thể được nêu thành tên riêng Hầu hết các Công ty trênthế giới đều chấp nhận áp dụng các phương pháp tiêu chuẩn khi cấp đơnbảo hiểm và lưu trữ, sử dụng số liệu các rủi ro này được đưa vào phụ lụccủa “ Quy tắc bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt”

Dùng áp dụng mẫu đơn bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt tiêuchuẩn của thị trường bảo hiểm Lôn Đôn ( standard Fire and Special PerilsPolicy) hay ( Quy tắc bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt” của ViệtNam thì rủi ro chính được bảo hiểm thì cũng là bảo hiểm hoả hoạn Rủi ro

A còn có rủi ro B- nổ, C- máy bay và rơi vào, E- nổi loạn bạo động dânsự được coi là các rủi ro phụ Các rủi ro phụ đó không được bảo hiểmriêng mà chỉ có thể bảo hiểm cùng với rủi ro hoả hoạn Các rủi ro phụ đó

Trang 9

cũng không được bảo hiểm một cách tự động mà chỉ được bảo hiểm khikhách hàng yêu cầu với điều kiện phải đóng thêm phí và phải được ghi rõtrong giấy yêu cầu và giấy chứng nhận bảo hiểm.

Dưới đây chúng ta sẽ xem xét một số rủi ro cơ bản dễ gây hiểu lầm còncác rủi ro khác thì hiểu theo tên gọi của chúng

 Hoả hoạn

Rủi ro này thực chất bao gồm 3 phần: Hoả hoạn , sét và nổ

 Hoả hoạn : Trong đơn bảo hiểm Hoả hoạn tiêu chuẩn không địnhnghĩa rõ thế nào là hoả hoạn vì người ta hiểu nó theo nghĩa thôngdụng nghĩa là sẽ được coi là hoả hoạn nếu có đủ 3 yếu tố sau đây

- Phải thực sự có phát lửa

- Lửa đó không phải là lửa chuyên dùng

- Về vật chất đám lửa phải bất ngờ ngẫu nhiên với người được bảohiểm chứ không phải là cố ý có chủ định của họ hoặc đồng loã của

họ Tuy nhiên hoả hoạn được xẩy ra do bất cẩn của người được bảohiểm vẫn thuộc phạm vi được bồi thường

Khi có đầy đủ 3 yếu tố trên và co thiệt hại về vật chất do nhữngnguyên nhân được coi là hợp lý gây ra những thiệt hại đó được bồi thường

dù cho là bị Hoả hoạn

Mặc dù không được nêu rõ trong đơn bảo hiểm nhưng thiệt hại do hoảhoạn ở đây bao gồm có:

- Thiệt hại do khói mà nguồn lửa gây ra thuộc phạm vi thuộc tráchnhiệm bảo hiểm

- Thiệt hại do nước dùng để chứa Hoả hoạn

- Thiệt hại do phá rỡ để ngăn chặn Hoả hoạn lan

- Thiệt hại do việc thực hiện nhiệm vụ chữâ Hoả hoạn

- Thiệt hại mà người được bảo hiểm phải gánh chịu do việc bảo vệ tàisản và kiểm soát sự phát triển của ngọn lửa

Tuy vậy hoả hoạn ở đây loại trừ:

Trang 10

- Nổ ro ảnh hưởng của hoạ hoạn

- Động đất ngầm

- Tài sản bị phá huỷ hay hư hỏng do

+ Do bị lên men hoặc toả nhiệt

+Quá trình sử lý bằng nhiệt

Việc loại trừ này nhằm thống nhất khái niệm hoả hoạn được dùngtrong toàn bộ đợn vị bảo hiểm bằng những rủi ro phụ riêng biệt

 Nổ : Theo rủi ro hoả hoạn, phạm vi bảo hiểm bao gồm:

Các trương hợp hoả hoạn do nổ ngẫu nhiên được bảo hiểm như vậy ởđây chỉ có những thiệt hại do nổ mà không gây Hoả hoạn vấn đề còn lại là:

- Tổn thất và thiệt hại do nổ nhưng không gây chay thì không được bồithường trừ trương hợp nổ nồi khơi khí phục vụ cho sinh hoạt, vớiđiều kiện vụ nổ đó không phải do các nguyên nhân bị loại trừ

- Tổn thất do chay xuất phát từ nổ thì được bồi thường với điều kiện là

sự nổ không phải do các nguyên nhân bị loại trừ

- Tổn thất hoặc thiệt hại do nổ xuất phát từ Hoả hoạn: Thiệt hại banđầu do Hoả hoạn được bồi thường nhưng những tổn thất do hậu quảcủa nổ thì không

 Sét : Theo khái niệm thông thường được áp dụng trong đơn bảo hiểm

là người được bảo hiểm sẽ được bồi thường khi tài sản bị phá huỷtrực tiếp do sét hoặc bị sét đánh gây Hoả hoạn Tuy nhiên, cũng theokhái niệm thông thường thì sét đánh mà không phát lửa hoặc khônngpha huỷ trực tiếp tài sản thì không thuộc phạm vi trách nhiệm bồithường

ở đây cần lưu ý trừ khi trừ khi tia sét phá huỷ trực tiếp các thiết bị điệnđược bồi thường, còn tia sét làm thay đổi dòng điện dẫn tới thiệt hại chothiết bị điện thì không được bồi thường

2 Cụm rủi ro

Trang 11

Một nhóm những ngôi nhà hoặc kho tàng ngoài trời ở liền kề nhautrong một khu vực, tách biệt với những ngôi nhà kho tàng ngoài trờikhác về không gian

Các ngôi nhà hoặc kho tàng ngoài tời được coi là tách biệt nhau vềkhông gian nếu khoảng cách giữa chúng là khoảng cách tối thiểu.Khoảng cách tối thiểu là khoảng cách tính bằng chiều cao của ngôi nhàcao nhất hoặc vượt quá 20m nếu tài sản là loại dễ Hoả hoạn và qua 10mnếu tài sản là loại không Hoả hoạn hoặc khó Hoả hoạn Khoảng cáchtrên 20m được coi là tách biệt về không gian

3 Đơn vị rủi ro

Một số ngôi nhà, bộ phận của nhà kho ngoài trời liền nhau nhưng táchbiệt với các ngôi nhà, bộ phận nhà kho ngoài trời khác về không gian hoặccấu trúc

Đơn vị rủi ro được coi là tách biệt về không gian khi khoảng cách giữacác ngôi nhà hoặc kho ngoài trời bằng vật liệu không Hoả hoạn đảm bảo10m

Đối với kho ngoài trời bằng vật liệu dễ Hoả hoạn, khoản cách đó phảiđảm bảo 20

Đơn vị rủi ro được coi là cách biệt về mặt cấu trúc nếu các ngôi nhà bộphận nhà hoặc kho được ngăn bằng tường chống Hoả hoạn

Phong được ngăn cách chống Hoả hoạn nếu:

- Không lớn hơn 10% diện tích có tầng bằng phòng đó

- Được ngăn cắt bằng tường chông Hoả hoạn

- Trần làm bằng vật liệu không Hoả hoạn

4.Tương ngăn Hoả hoạn.

Là tường ngăn Hoả hoạn để chia ngôi nhà hoặc kho ngoài trời thànhnhiều đơn vị rủi ro

Đặc điểm xây dựng của tường ngăn Hoả hoạn:

- tường ngăn Hoả hoạn phải có giới hạn chiu lửa ít nhất 90 độ

Trang 12

- Phải được xây kín các tầng và không được so le nhau

- Nếu mái nhà là loại khó Hoả hoạn thì tường ngăn Hoả hoạn phảicách mái nhà ít nhất là 30m

- Nếu có các cấu kiện khác nằm trong tường ngăn Hoả hoạn phân độdầy còn lại cũng phải đảm bảo giới hạn chịu lửa tối thiếu

- Không được để vật liệu cấu kiện dễ Hoả hoạn vắt nganh qua tườngngăn Hoả hoạn

- Tường ngăn Hoả hoạn phải xây cách những lỗ hở trên mái ít nhất5m

họ trong hồ sơ về khách hàng, nó cũng là tài liệu để báo cáo cho các nhànhận bảo hiểm và cũng là cơ sở đối chiếu khi giải quyết bồi thường

Nếu việc điều tra đánh giá rủi ro được thực hịên một cách đầy đủ, kỹlưỡng, kết hợp với bảng hưỡng dẫn tính phí hoặc sử dụng chương trình tínhphí bảo hiểm trên máy vi tính, cán bộ khai thác hoàn toàn có thể tính toánngay được một cách chính xác tỷ lệ phí Điều này giúp cho việc chủ động,nhanh chóng trong khai thác, trách được tình trạng phải tham khảo, hỏihan, tốn kém mất thời giờ

Trang 13

CHƯƠNG II TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM

HOẢ HOẠN TẠI BẢO VIỆT

I Thị trường bảo hiểm Việt Nam - Sự ra đời và phát triển của nghiệp

vụ bảo hiểm Hoả hoạn

Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam ( gọi tắt là Bảo Việt ) được thànhlập từ ngày 15.1.1965 theo Quyết định số 179/CP ngày 17.12.1964 của Thủtướng Chính phủ, là doanh nghiệp nhà nước duy nhất hoạt động kinh doanhdịch vụ bảo hiểm Bảo Việt có nhiệm vụ thành lập quỹ dự trữ bảo hiểm từ

sự đóng góp, tham gia bảo hiểm của các đơn vị sản xuất kinh doanh

Từ năm 1981, Bảo Việt đã thành lập các công ty chi nhánh ở cáctỉnh, địa phương để tiến hành các dịnh vụ bảo hiểm Hoạt động của các chinhánh không những giúp Bảo Việt triển khai bảo hiểm trên phạm vi cảnước mà còn hình thành một mạnh lưới đảm bảo an toàn tài chính cho toàn

bộ người được bảo hiểm

Trong hơn 30 năm qua, ở Việt nam từ "bảo hiểm " đồng nghĩa với

"Bảo Việt " và ngược lại lúc nào người ta cũng nghĩ rằng chỉ duy nhất cómột công ty bảo hiểm hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Điều đó có lý docủa nó Ngoài sự hiện diện và đóng góp của Bảo Việt đối với nền kinh tế,

xã hội và với mỗi gia đình, trong suốt thời gian qua không thấy nói đến mộttên công ty bảo hiểm nào khác.Với đường lối mở của của nhà nước, trong

cơ chế thị trườngthì việc Nhà nước dộc quyền trong lĩnh vực bảo hiểm ( kể

cả trên danh nghĩa) là điều khó có thể chấp nhận Chính vì thế nên ngày 12-1993 Nghị định 100/CP của Chính Phủ đã ra đời cho phép các doanhnghiệp trong nước cũng như nước ngoài được thành lập các công ty bảohiểm, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm, mở chi nhánh công ty nước ngoàitại Việt Nam

Trang 14

18-Tại Bảo Việt, các nghiệp vụ bảo hiểm như bảo hiểm thân tàu, bảohiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu đãđược tiến hành từ lâu và đã trở thành những nghiệp vụ bảo hiểm truyềnthống Song đến năm 1989, Bảo Việt mới chính thức triển khai bảo hiểmHoả hoạn theo Quyết định 06/TCQĐ của Bộ Tài chính.

Năm 1990, trên cả nước đã có 16 công ty bảo hiểm tiến hành nghiệp

vụ này Tuy nhiên nhìn chung mới chỉ bảo hiểm cho các nghành xăng, dầucòn lại phần lớn các tài sản, các nhà máy, xí nghiệp, công xưởng, hệ thốngkhách sạn từ Nam ra Bắc trị giá nhiều tỷ đồng vẫn chưa được bảo hiểm

Có nhiều nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan dẫn đến việc ngành bảohiểm chưa triển khai được toàn diện Nguyên nhân cơ bản là chúng ta đãquá quen với cơ chế bao cấp, Hoả hoạn và rủi ro xảy ra đã có Nhà nước bùđắp thiệt hại còn các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác thìchưa có thói quen tham gia bảo hiểm tài sản Bên cạnh đó về chủ quan,công tác tuyên truyền, vận động thu hút khách hành của nghành bảo hiểmcòn nhiều hạn chế

Sau một năm thực hiện, một yêu cầu cấp bách được đặt ra là phải cóquy định chung hướng dẫn về bảo hiểm Hoả hoạn Vì vậy ngày 2 5.1991,Bảo Việt đã ban hành Quy tắc bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt ápdụng trên cả nước Nghiệp vụ này ngày càng khẳng định được vị trí quantrọng của nó đặc biệt là sau khi Hội đồng bộ trưởng ra quyết định số 332/HĐBT ngày 23 10 1991 về việc bảo toàn, phát triển vốn kinh doanh đốivới doanh nghiệp nhà nước Bên cạnh đó, thông tư số 82/TC/CN hướngdẫn cụ thể việc thực hiện quyết định trên của HĐBT : " Để tránh cáctrường hợp không bảo toàn được vốn do nguyên nhân khách quan nhưthiên tai, rủi ro trong quá trình sản xuất kinh doanh tránh các trường hợpphải xử lý giảm vốn và đưa lỗ vào doanh nghiệp, các doanh nghiệp cầnphải mua bảo hiểm tài sản để tạo nguồn bù đắp cho các thiệt hại đó tại cáccông ty bảo hiểm Việt nam Khoản chi về bảo hiểm được hạch vào giá

Trang 15

thành hoặc chi phí lưu thông của doanh nghiệp Nhà nước sẽ không cho ghigiảm vốn trong trường hợp tài sản bị tổn thất vì những rủi ro mà công tybảo hiểm trong nước triển khai loại hình bảo hiểm tương ứng ".

II Các hoạt động trong bảo hiểm hoả hoạn

Cũng giống như bất cứ một nghiệp vụ bảo hiểm nào, nghiệp vụ bảohiểm Hoả hoạn gồm các bước cơ bản sau :

1 Công tác khai thác bảo hiểm

Đây là bước đầu tiên và không thể thiêú trong nghiệp vụ bảo hiểm.Công tác khai thác đóng một vai trò quyết định trong sự phát triển mộtcông ty Khách hàng sẽ không mua bảo hiểm nếu họ không biết rằng muabảo hiểm họ sẽ được lợi gì Do đó mà công việc tuyên truyền, quảng cáotrong bước này là cần thiết và nó càng trở nên đặc biệt quan trọng đồi vớinghiệp vụ bảo hiểm Hoả hoạn - nghiệp vụ mà chưa có tập quán ở nước ta

1.1 Tuyên truyền, quảng cáo, chủ động tiếp cận khách hàng

Hàng năm Bảo Việt kết hợp với các cơ quan, ban ngành có liên quannhư : cảnh sát PCCC, đài truyền thanh, truyền hình, báo chí, các Bộ,nghành để tuyên truyền về ý nghĩa, tác dụng của bảo hiểm Hoả hoạn Qua

đó mới có thể thuyết phục được khách hàng mua bảo hiểm

Mặt khác, công ty cử cán bộ xuống từng xí nghiệp, đơn vị kinhdoanh để giải thích, vận động mua bảo hiểm chứ không thụ động ngồi chờkhách hàng hoặc chỉ gửi các công văn, quy tắc cho họ trả lời vì khách hàng

Trang 16

rất ngại đọc Một phần vì khó hiểu, một phần vì không nhận thức được hết

ý nghĩa, tác dụng của bảo hiểm

Cán bộ bảo hiểm cần chủ động đến gặp khách hàng, cùng họ đi thăm

cơ sở sản xuất, nghiên cứu quy trình sản xuất của họ , chỉ cho họ thấynhững rủi ro mà họ có thể gặp phải và những hậu quả của nó Cán bộ bảohiểm giải thích rõ cho khách hàng khi tham gia bảo hiểm họ được gì và mất

gì, ước tính số phí mà họ phải trả, giải đáp những vấn đề mà họ còn thắcmắc, chưa hiểu rõ, gây cho họ lòng tin và nhu cầu tham gia bảo hiểm Kinhnghiệm cho thấy rằng, hướng tuyên truyền vận động nên tập trung vàonhững đối tượng "ăn nên làm ra ", có của ăn của để Vì thế, Bảo Việt đãchú ý đến các đơn vị, doanh nghiệp lớn có khả năng tài chính khai thácnhư : Công ty liên doanh về các thiết bị viễn thông COMVIK đã mua bảohiểm với số tiến bảo hiểm là 19000000 $, mức phí là 47500 $ ; công ty liêndoanh INDOCHINA CERAMIC sản xuất vật liệu xây dựng, trang thiết bịnội thất đã mua với số tiền bảo hiểm là 12250000 $, mức phí là 20825 $

Để tìm ra các doanh nghiệp "ăn nên làm ra" không phải là khó, cán

bộ khai thác nên chú ý theo dõi quảng cáo trên các phương tiện thông tinđại chúng (báo chí, phát thanh, truyền hình ) đồng thời phải có sự phốihợp với các ngân hàng, cơ quan khác để nắm bắt được đối tượng

1.2 Đánh giá rủi ro

Công tác đánh giá rủi ro được tiến hành sau khi khách hàng gửi giấyyêu cầu bảo hiểm với mục đích giá chính xác các rủi ro có thể xảy ra vớicác đối tượng bảo hiểm Qua đó xác định tỷ lệ phí bảo hiểm thích hợptương ứng với các rủi ro mà công ty bảo hiểm nhận bảo hiểm

Để có cơ sở đáng giá đúng rủi ro, thông thường công ty bảo hiểm sẽgửi cho khách hàng bản phiếu điều tra các rủi ro (bảng câu hỏi) Qua phầntrả lời khách hàng trong phiếu điều tra, các công ty bảo hiểm sẽ xác địnhđược bậc chịu lửa của công trình, loại PCCC (các thiết bị PCCC được trang

bị, đội cứu hoả, bảo vệ ), hạng sản xuất (với đơn vị sản xuất), loại kinh

Trang 17

doanh dịch vụ ( với đơn vị kinh doanh dịch vụ ), mức độ nguy hiểm với cáctài sản để trong kho, cửa hàng, từ đó xác định mức phí thích hợp.

Tuy nhiên trên thực tế, để đảm bảo sự chính xác, trung thực khi đánhgiá rủi ro, ngoài việc gửi phiếu điều tra rủi ro, các cán bộ khai thác bảohiểm sẽ đến làm việc trực tiếp với khách hàng, nghiên cứu và khảo sát thực

tế kỹ hơn, hướng dẫn khách hàng trả lời các câu hỏi trong phiếu điều tra,cùng cộng tác với cảnh sát PCCC đánh giá thực tế về công tác PCCC,phương tiện chuyên môn (khách hàng cần những phương tiện PCCC nào,

bố trí ở đâu, với số lượng là bao nhiêu ) Cuối cùng trên cơ sở đánh giá rủi

ro, cán bộ khai thác sẽ thoả thuân với khách hàng về tỷ lệ phí sẽ áp dụng

Như vậy công tác đánh giá rủi ro có ý nghĩa vô cùng quan trọng Nóyêu cầu cán bộ bảo hiểm không những phải giỏi chuyên môn mà còn phải

có sự năng động, tận tình và cẩn thận.Trong bảo hiểm Hoả hoạn, khâu đánhgiá rủi ro là khâu quyết định trong việc cấp đơn bảo hiểm cũng như việcđưa ra mức phí phù hợp

1.3 Cấp giấy chứng nhận bảo hiểm (đơn bảo hiểm)

Đối với nghiệp vụ bảo hiểm Hoả hoạn, công ty bảo hiẻm sẽ cấp giấychứng nhận bảo hiểm cho khách hàng sau khi họ đã chấp nhận mức phí.Giấy chứng nhận bảo hiểm Hoả hoạn bao gồm :

- Số đơn bảo hiểm

- Tên, địa chỉ người được bảo hiểm

- Ngành sản xuất kinh doanh

- Những rủi ro được bảo hiểm

- Tài sản dược bảo hiểm

- Tổng giá trị tài sản

- Số tiền bảo hiểm

- Chi phí dọn dẹp hiện trường

- Mức miễn thường

- Thời hạn bảo hiểm

Trang 18

- Phí bảo hiểm cả năm

Thông thường tài sản được bảo hiểm của khách hàng có nhiều loạikhông thể hiện được chi tiết trong Giấy yêu cầu bảo hiểm Vì vậy, kèmtheo Giấy chứng nhận bảo hiểm còn có bản danh mục tài sản Bản nàyđược coi như một bộ phận của Giấy chứng nhận bảo hiểm và có giá trịpháp lý, nó thể hiện từng hạng mục tài sản, số lượng, đơn giá, giá trị, sốtiền bảo hiểm của từng loại đó :

Giấy chứng nhận bảo hiểm cần được lập thành bốn bản : Một bảntrao cho khách hàng, một bản cho tài vụ, một bản lưu và một bản cho Tổngcông ty.Hiện nay Bảo Việt cũng quy định phạm vi mức phân cấp khai tháccho từng công ty Nếu đối tượng bảo hiểm có số tiền bảo hiểm trong phạm

vi đó thì công ty chỉ cần gửi một bản giấy chứng nhận Nếu vượt quá mứcphân cấp, trước khi cấp giấy chứng nhận cho khách hàng, các công ty cầngửi hồ sơ cho Tổng công ty xem xét và quyết định

1.4 Bổ sung tài sản được bảo hiểm và theo dõi tình hình thu phí

Trên thực tế, có nhiều khách hàng yêu cầu sửa đổi, bổ sung tài sảnđược bảo hiểm sau khi đã được cấp giấy chứng nhận bảo hiểm Các công tycần xem xét kỹ yêu cầu thay đổi như : giá trị bảo hiểm, các yếu tố ảnhhưởng đến tỷ lệ phí để từ đó tính toán, điều chỉnh lại tỷ lệ phí, phí bảo hiểmcho thích hợp Bản bổ sung sửa đổi cũng được lập thành bốn bản trao chocác bộ phận nói trên

Ngoài ra các cán bộ khai thác cũng cần định kỳ xuống thăm các đốitượng bảo hiểm, kiểm tra các công tác PCCC, nêu ra các đề xuất để tăngcường công tác này Đồng thời phải phối hợp với các bộ phận tài vụ đểtheo dõi việc đóng phí của khách hàng, nhắc nhở họ tái tục bảo hiểm khithời hạn bảo hiểm sắp hết

1.5 Hoa hồng

Trong công tác khai thác không thể không nói đến vấn đề hoa hồng.Đây là một khoản chi được tính theo tỷ lệ phần trăm so với số phí bảo

Trang 19

hiểm Khoản hoa hồng này, công ty trả cho người trực tiếp đứng ra thamgia bảo hiểm hoặc trả cho người môi giới nhằm động viên khuyến khích họnhiệt tình công tác, thu hút thêm nhiều khách hàng tham gia bảo hiểm Đâycũng là một hình thức tạo dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng.Từnăm 1995, để tạo tính chủ động, linh hoạt trong hoạt động, khoản chi hoahồng được tính vào chi quản lý nghiệp vụ.

Có thể nói công tác khai thác có một vai trò quan trọng trong hoạtđộng kinh doanh bảo hiểm Thực hiện tốt khâu này sẽ tạo tiền đề cho cáccông ty bảo hiểm mở rộng và chiếm lĩnh thị trường

2 Công tác giám định tổn thất

Khâu giám định tổn thất có vị trí quan trọng đối với công tác bồithường Các giám định viên bảo hiểm có nhiệm vụ xác định : nguyên nhânrủi ro có thuộc phạm vi bảo hiểm hay không, giá trị thiệt hại thực tế là baonhiêu

2.1 Điều tra tai nạn

Nhận được thông báo tai nạn, giám định viên bảo hiểm sẽ xuốngngay hiện trường để nắm tình hình và điều tra tai nạn Mục đích của việcđiều tra tai nạn là thu nhập các bằng chứng và sự kiện Trên cơ sở đó giảiđáp các câu hỏi : tai nạn đã xảy ra như thế nào, ở đâu, khi nào, vì sao.Muốn vậy trong quá trình điêù tra, giám định viên phải thu thập hai loạithông tin : các tang vật và lời khai của nhân chứng

- Tang vật : Là bất cứ một việc gì có liên quan giúp cho việc xác địnhnhững sự việc liên quan đến tai nạn Hầu hết các tang vật đều có thể tìmthấy ở hiện trường hay cũng có thể tìm thấy ở nơi sửa chữa bị hư hại

- Lời khai của nhân chứng : Là những lời kể, những câu trả lời của cácnhân chứng thường là những người có mặt ở nơi hiện trường khi xảy ra tainạn Lời khai của nhân chứng cũng giúp cho việc xác định những vấn đề cóliên quan đến tai nạn Người bảo hiểm cần có những khả năng phân tích

Trang 20

tìm ra những lời khai xác thực vì các lời khai của nhân chứng thường khácnhau và có khi mâu thuẫn với nhau.

Ngoài việc tiếp xúc, trao đổi, hỏi chuyện với các nhân chứng, giámđịnh viên cần gặp gỡ, trao đổi với người được bảo hiểm, với công anPCCC Qua đó, nguyên nhân Hoả hoạn, đánh giá sơ bộ và khái quát mức

độ thiệt hại

2.2 Đề xuất các biện pháp hạn chế tổn thất

Thông thường sau khi gặp hoả hoạn, người được bảo hiểm rất hoangmang và lúng túng không biết phải làm gì Vì vậy trên cơ sở xem xét hiệntrường và song song với việc điều tra tai nạn, giám định viên bảo hiểm phảigóp ý kiến với người được bảo hiểm các biện pháp hạn chế tổn thất nhưsau:

- Cách ly khu vực và tài sản bị thiệt hại

- Rào kín những nơi mà người ngoài có thể đột nhập vào

- Bơm rút nước cứu hoả còn đọng lại ra khỏi những nơi chứa tài sản

để tránh tài sản hư hỏng thêm

- Di chuyển các mảnh đổ vỡ, tro than để cứu tài sản,

Qua quá trình điều tra, các giám định viên phải tìm ra được nguyênnhân gây Hoả hoạn Chú ý rằng đó phải là những nguyên nhân trực tiấp dẫnđến hoả hoạn Cuối cùng các giám định viên bảo hiểm sẽ xác định mức độthiệt hại và lập biên bản giám định Biên bản giám định sẽ được trình lêncông ty một bản và Tổng công ty một bản

3 Công tác bồi thường

Một trong những yêu cầu và cũng là một trong những phẩm chấtquan trọng đối với người làm công tác bảo hiểm là phải quan tâm và cảmthông sâu sắc tới các nhu cầu và nguyện vọng của khách hàng Phẩm chất

đó phải được thể hiện đặc biệt rõ nét trong khâu trong khâu giải quyết bồithường Giải quyết bồi thường tốt có nghĩa là giải quyết nhanh và đúng -đây là nhiệm vụ số một của người làm công tác bồi thường và là một trong

Trang 21

những biện pháp tuyên truyền có hiệu quả nhất, làm tăng uy tín của công ty

và có ảnh hưởng tích cực tới khâu khai thác bảo hiểm

Đảm bảo được mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ của công tác bồi thường,cán bộ công ty cần thực hiện tốt những bước sau :

3.1 Kiểm tra hồ sơ khiếu nại và xác định trách nhiệm bảo hiểm

Nhận được hồ sơ đòi bồi thường, người bảo hiểm phải kiểm tra, xemxét hồ sơ có đầy đủ và hợp lệ không Trường hợp hồ sơ thuộc trách nhiệmbảo hiểm nhưng chưa đầy đủ thì phải yêu cầu khách hàng bổ sung kịp thời

và ngày trả lời khách hàng Sau đó, cán bộ bồi thường xem xét đối chiếuvới quy tắc bảo hiểm và văn bằng hướng dẫn của Tổng công ty để xác địnhtrách nhiệm bảo hiểm Cụ thể : khiếu nại có nằm trong phạm vi thoả thuậnbảo hiểm không; có điểm loại trừ nào tác động và ảnh hưởng đến khiếu nại

đó không; có điều kiện bảo hiểm nào bị vi phạm làm vô hiệu hoá hoặc thuhẹp phạm vi được bảo hiểm của khiếu nại không ?

3.2 Xác định mức độ thiệt hại

Chức năng chính của công tác bảo hiểm là bồi thường những thiệthại thực tế xảy ra cho người tham gia bảo hiểm nhằm đảm bảo sản xuấtkinh doanh cho người được bảo hiểm Xác định đúng giá trị thiệt hại mớiđảm bảo việc bồi thường thực sự đem lại hiệu quả cho người được bảohiểm.Việc xác định giá trị thiệt hại được tiến hành trên nguyên tắc : phảixác định ngay tại thời điểm và địa điểm xảy ra tổn thất Trên cơ sở biên bảngiám định về mức độ thiệt hại cùng các biên lai, chứng từ xác minh kèmtheo các hồ sơ khiếu nại, cán bộ bồi thường sẽ xác định được mức thiệt hạithực tế của từng đối tượng bảo hiểm

3.3 Xác định số tiền bồi thường

Nếu hồ sơ khiếu nại đã hợp lệ, đầy đủ, tổn thất đã được xác định làthuộc phạm vi bảo hiểm và tính toán được số tiền thiệt hại thì ta có thể tiếnhành xác định số tiền bồi thường

Số tiền bồi thường xác định dựa trên các cơ sở sau :

Ngày đăng: 27/08/2012, 11:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng : Cơ cấu doanh thu bảo hiểm Hoả hoạn tại Bảo Việt - Bảo hiểm hoả hoạn thực trạng- giải pháp đối với Tổng Công ty Bảo Việt.doc
ng Cơ cấu doanh thu bảo hiểm Hoả hoạn tại Bảo Việt (Trang 29)
Bảng : Tình hình bồi thường thực tế của nghiệp vụ bảo hiểm Hoả hoạn - Bảo hiểm hoả hoạn thực trạng- giải pháp đối với Tổng Công ty Bảo Việt.doc
ng Tình hình bồi thường thực tế của nghiệp vụ bảo hiểm Hoả hoạn (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w