Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tại Bảo Việt Hà Nội giai đoạn 1998 - 2001
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, thực hiện đường lối phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần, vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tếnước ta đã có sự biến đổi sâu sắc và mạnh mẽ Cùng với sự đi lên của nền kinh tếViệt Nam, hoạt động kinh doanh bảo hiểm cũng phát triển hết sức sôi động Thịtrường bảo hiểm Việt Nam hiện nay đã xuất hiện nhiều nghiệp vụ bảo hiểm mớinhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tham gia bảo hiểm Trong số nhữngnghiệp vụ bảo hiểm mới xuất hiện đó phải kể đến nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạnkinh doanh, một nghiệp vụ đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu những hậuquả ảnh hưởng của rủi ro đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp,góp phần ổn định và phát triển nền kinh tế
Trong thời gian thực tập tại phòng bảo hiểm cháy và rủi ro hỗn hợp thuộc công tyBảo hiểm Hà Nội, được tiếp xúc với nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, tôinhận thấy tuy đây là một nghiệp vụ bảo hiểm mới mẻ nhưng rất có tiềm năng trênthị trường Việt Nam Tuy nhiên, quá trình triển khai nghiệp vụ này tại công ty BảoViệt Hà Nội còn gặp nhiều khó khăn Với mong muốn được nghiên cứu, tìm hiểutình hình triển khai nghiệp vụ gián đoạn kinh doanh, trên cơ sở đó đưa ra một số
giải pháp nhằm phát triển nghiệp vụ này, tôi đã chọn "Bảo hiểm gián đoạn kinh
doanh tại Bảo Việt Hà Nội giai đoạn 1998 - 2001" làm đề tài cho luận văn tốt
nghiệp của mình Mặc dầu vậy, do thời gian quá ngắn cũng như phạm vi thực tậpchỉ giới hạn trong "Phòng bảo hiểm cháy và rủi ro hỗn hợp" nên trong luận văn nàytôi sẽ đi sâu vào nghiên cứu về bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy tại Công tyBảo hiểm Hà Nội giai đoạn 1998 - 2001
Kết cấu luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1 : Lý luận chung về bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Chương 2 : Thực tiễn triển khai nghiệp vụ bảo hiểm gián đoạn kinh
Trang 2doanh tại Công ty Bảo hiểm Hà Nội.
Chương 3 : Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả
hoạt động kinh doanh bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tạiCông ty bảo hiểm Hà Nội
Mặc dù rất cố gắng, song do thời gian quá eo hẹp và trình độ nghiên cứu có hạn, vìvậy luận văn này không tránh khỏi những khiếm khuyết Rất mong nhận được sựđóng góp chân tình từ phía các thầy cô giáo và độc giả để luận văn này được hoànthiện hơn
CHƯƠNG 1
Trang 3LÝ LUẬN CHUNG
VỀ BẢO HIỂM GIÁN ĐOẠN KINH DOANH
1.1 SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA BẢO HIỂM GIÁN ĐOẠN KINH DOANH
1.1.1 Sự ra đời của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Bảo hiểm là một hoạt động tài chính, có tính chất chuyên ngành mà thông qua cáchoạt động này các cá nhân và tổ chức kinh tế xã hội cùng tham gia đóng góp mộtkhoản tiền nhất định để tạo lập nên quĩ bảo hiểm và khoản đóng góp đó gọi là phíbảo hiểm Khi không may gặp phải những rủi ro, tổn thất ngoài mong đợi của cácthành viên đóng góp thì lúc đó quĩ bảo hiểm sẽ phát huy tác dụng của nó là giúp đỡcác thành viên này nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống, tiếp tục công việckinh doanh một cách bình thường Ngày nay, hoạt động bảo hiểm chủ yếu đượcthực hiện thông qua hoạt động kinh doanh bảo hiểm của các tổ chức bảo hiểm.Nhìn lại sự ra đời và phát triển của bảo hiểm, chúng ta thấy bảo hiểm có nguồn gốc
từ rất xa xưa trong lịch sử nền văn minh nhân loại Tuy vậy, khi mới ra đời thì cácnghiệp vụ bảo hiểm không phong phú, đa dạng như ngày nay Xã hội ngày càngphát triển, hoạt động kinh doanh ngày càng hoàn thiện đã dần dần làm nảy sinhnhiều nhu cầu bảo hiểm mới Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là một trong cácnghiệp vụ bảo hiểm mới đó So với bảo hiểm hàng hải hay bảo hiểm hoả hoạn, bảohiểm gián đoạn kinh doanh ra đời muộn hơn rất nhiều Vào những năm đầu của thế
kỷ XX, mặc dù bị sự thúc ép của chính phủ và yêu cầu của các nhà sản xuất nhưngcác công ty bảo hiểm ở Anh vẫn chưa tiến hành bất cứ loại hình bảo hiểm "tổn thấthậu quả" nào Sự chậm trễ đó là do tính phức tạp trong việc phân tích các chi phí tàichính, xác định phạm vi bảo hiểm trong điều kiện nền kinh tế chính trị chưa ổnđịnh Sau đó, với sự ra đời của hai nguyên tắc Herry Booth & Commercial Union(năm 1923) và Polikoff Ltd vs North British and Mercantile (năm 1936) mới thật sựđặt nền móng cho bảo hiểm gián đoạn kinh doanh hình thành và phát triển
Trang 4Khi mới triển khai, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh được biết đến dưới tên gọi "bảohiểm mất lợi nhuận" hay "tổn thất hậu quả" do mục đích của nó là bồi thường chongười được bảo hiểm đối với trường hợp bị mất lợi nhuận và các chi phí phụ để tiếptục kinh doanh Những tổn thất này thường xuất hiện sau một khiếu nại thiệt hại vềmột vụ cháy hay sau những tổn thất được bảo hiểm khác Trong thực tế, những loạibảo hiểm chính (như bảo hiểm cháy, kỹ thuật) sẽ bảo hiểm cho tổn thất hay thiệt hại
cơ bản, tuy nhiên người được bảo hiểm vẫn chưa được đền bù hoàn toàn vì anh taphải chịu những chi phí bổ sung chưa được bảo hiểm theo các đơn bảo hiểm này
Do đó, việc xuất hiện bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là một nhu cầu hoàn toànkhách quan, cần thiết
Mặc dù "mầm mống" ra đời của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã xuất hiện từnhững năm 1920 như đã đề cập ở trên, nhưng phải đến năm 1985 sự giao dịch củabảo hiểm gián đoạn kinh doanh mới xuất hiện tại Uỷ ban tổn thất hậu quả (một bộphận trong Uỷ ban bảo hiểm hoả hoạn ở Anh) Đây là nơi đánh dấu sự ra đời bảnmẫu đầu tiên về đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh Mẫu đơn này đã được thôngqua và sử dụng ở một số nước Tây Âu Vào tháng 10 năm 1989, Hiệp hội các nhàbảo hiểm London (ABI) đã xem xét lại mẫu đơn này trên cơ sở thống nhất lại phạm
vi bảo hiểm và sau đó chính thức phát hành Từ đó đến nay, hầu hết các quốc giađều áp dụng theo mẫu đơn đó
Ngày nay, ở các nước phát triển, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã trở nên thôngdụng và phổ biến rộng rãi Nó đã góp phần đắc lực vào việc ổn định tâm lý cũngnhư an toàn sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp
Ở Việt nam, nghiệp vụ này mới được triển khai khoảng chục năm trở lại đây trên
cơ sở mẫu đơn của nước Anh Tuy mới triển khai nhưng loại hình này đã khẳngđịnh được vị trí, vai trò và tiềm năng cũng như những ưu điểm không thua kém gìcác nghiệp vụ "đàn anh, đàn chị" khác Những năm gần đây, nghiệp vụ này đã thuhút được sự chú ý của nhiều nhà bảo hiểm Vào thời gian từ 18 đến 22/08/1997 tại
Hà nội đã diễn ra hội thảo bảo hiểm ngừng trệ kinh doanh (hay bảo hiểm gián đoạnkinh doanh) do Muniche và Vinare đồng tổ chức Từ đó đến nay, hàng năm các
Trang 5công ty bảo hiểm đều liên kết với nhau tổ chức hội thảo đề cập tới vấn đề này Điềunày khẳng định vai trò quan trọng của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh trong việcđảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh cho mọi thành phần kinh tế, tạo tâm lý ổnđịnh cho các nhà đầu tư,
Tóm lại, nếu ta coi bảo hiểm thiệt hại vật chất là điều kiện cần thì bảo hiểm giánđoạn kinh doanh sẽ là điều kiện đủ trong một đơn bảo hiểm hỗn hợp
1.1.2 Vai trò kinh tế xã hội của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
1.1.2.1 Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là "lá chắn kinh tế" của các doanh nghiệp, góp phần giảm thiểu những hậu quả ảnh hưởng của các rủi ro đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗidoanh nghiệp đôi khi xảy ra những rủi ro bất ngờ mà không ai lường trước được.Các rủi ro đã và đang gây nên những tổn thất, thiệt hại về tài sản, về tính mạng củacon người, làm gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhiều thành tựu khoa học kỹ thuậtđược ứng dụng trong sản xuất kinh doanh, từ đó làm cho qui mô của hoạt động sảnxuất kinh doanh ngày càng mở rộng Do vậy, giá trị tài sản của doanh nghiệp ngàycàng lớn Nếu chẳng may rủi ro thiệt hại xảy ra thì hậu quả thường rất nặng nề vàảnh hưởng lâu dài không chỉ tới bản thân chính doanh nghiệp mà còn ảnh hưởngđến cả các doanh nghiệp, cá nhân thường xuyên có quan hệ với doanh nghiệp Sự rađời của các công ty bảo hiểm đã giúp các đơn vị sản xuất kinh doanh ổn định tìnhhình sản xuất, đảm bảo công việc kinh doanh được tiến hành bình thường Thôngqua việc bồi thường một cách kịp thời, chính xác, trung thực đã giúp cho các doanhnghiệp nhanh chóng khắc phục được hậu quả thiệt hại Bên cạnh đó, với sự chuyểnđổi của cơ chế quản lý, Nhà nước đã chủ động giao vốn cho các doanh nghiệp, chủyếu là các doanh nghiệp Nhà nước Trong việc bảo tồn và phát triển vốn, các doanhnghiệp không có sự hỗ trợ nhiều của Nhà nước như trong thời kỳ bao cấp trước đây.Nếu khi có thiệt hại gì xảy ra, doanh nghiệp không được quyền ghi giảm vốn đặc
Trang 6biệt là những thiệt hại gây ra bởi các rủi ro các công ty bảo hiểm trong nước đã triểnkhai hay với các loại hình tương tự Vì vậy bảo hiểm sẽ là "lá chắn kinh tế" để đảmbảo sự bảo toàn vốn cho các doanh nghiệp khi không may gặp phải những thiệt hạicủa thiên tai hoặc do sự sơ suất vô ý của người lao động.
Trên thực tế, sau khi rủi ro xảy ra đối với một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinhdoanh thì hầu như mọi hoạt động không thể tiến hành bình thường như kế hoạch đãđặt ra trước Từ đó dẫn đến nhiều khoản tổn thất không được bồi thường trong đơnbảo hiểm tài sản như chi phí về thuê nhà, trụ sở, chi trả lương công nhân viên Đểkhắc phục tình trạng doanh nghiệp có thể bị phá sản hoặc lâm vào tình thế khó khănkhi phải đối mặt với các tổn thất đó, tham gia bảo hiểm gián đoạn kinh doanh làcách tốt nhất để bù đắp thiệt hại Khi tham gia loại hình bảo hiểm này, nếu tổn thấtxảy ra, các cơ quan, doanh nghiệp không những được bồi thường cho những khoảnchi phí nói trên mà còn được bù đắp phần lợi nhuận ròng bị mất mát mà lẽ ra họ cóthể nhận được nếu như không có tổn thất xảy ra Vậy cùng với đơn bảo hiểm tàisản, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã góp phần làm hạn chế đến mức tối thiểunhững hậu quả ảnh hưởng của các rủi ro tới hoạt động sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp
1.1.2.2 Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần mang lại sự an toàn trong xã hội
Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa như hiện nay, nước ta đã thu hút được lượnglớn vốn đầu tư không những của các nhà đầu tư trong nước mà còn của các nhà đầu
tư nước ngoài Các nhà đầu tư, vì mục đích kinh doanh của mình, luôn quan tâmđến việc bảo toàn và phát triển vốn, làm sao có thể an toàn nhất tránh các rủi rođáng tiếc xảy ra với đồng vốn của họ Tuy nhiên, trong sản xuất kinh doanh cónhiều yếu tố rủi ro mang tính ngẫu nhiên xảy ra bất cứ lúc nào và không loại trừ bất
cứ ai Các công ty bảo hiểm là các doanh nghiệp kinh doanh hoạt động trên cơ sở
xử lý, chuyển giao, phân tán rủi ro, vì vậy để hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn,cần thiết các doanh nghiệp bảo hiểm phải tìm cách giảm thiểu xác suất xảy ra rủi ro.Một trong số các biện pháp mà các doanh nghiệp bảo hiểm đang áp dụng rất hiệuquả đó là biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất nhằm bảo vệ đối tượng bảo hiểm
Trang 7Hàng năm, các công ty bảo hiểm thường trích ra một khoản theo tỉ lệ nhất định trên
cơ sở nguồn phí thu được để thực hiện các biện pháp phòng tránh cần thiết có hiệuquả nhất Phí thu được từ các đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tất yếu sẽ có phầnđóng góp trong đó Vì vậy, có thể nói bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần đềphòng, hạn chế tổn thất, mang lại sự an toàn cho các doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh nói riêng và cho toàn xã hội nói chung
1.1.2.3 Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nước, thúc đẩy kinh tế phát triển
Cũng như nhiều nghiệp vụ bảo hiểm khác nói riêng và những loại hình kinh doanhdịch vụ khác nói chung, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh góp phần tăng thu cho ngânsách Nhà nước, đặc biệt tăng nguồn thu từ ngoại tệ cho Nhà nước Một phần nguồnphí thu được từ nghiệp vụ bảo hiểm này hàng năm được đóng góp vào ngân sáchNhà nước để sử dụng vào các mục đích chính trị, xã hội Ngoài ra, một phần phí thuđược tạm thời nhàn rỗi từ các hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã tạo ralượng vốn lớn để phát triển nền kinh tế thông qua việc đầu tư
Tất cả những gì đã nêu trên là minh chứng rõ ràng và đầy đủ cho sự cần thiết củaviệc tham gia bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
1.2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BẢO HIỂM GIÁN ĐOẠN KINH DOANH
1.2.1 Đặc điểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh "bảo hiểm cho các tổn thất mất giảm thu nhập thực
tế và tiềm năng cũng như các phụ phí phát sinh từ hậu quả của tổn thất vật chất"[3,5/7] Do vậy, nó có một số các đặc điểm riêng biệt so với các loại bảo hiểm khácnhư sau:
- Đặc điểm về đối tượng bảo hiểm:
Khi có một rủi ro xảy ra, ví dụ một vụ hoả hoạn, gây thiệt hại tài sản, người đượcbảo hiểm sẽ được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm tài sản (cụ thể là đơn bảo hiểm hoảhoạn và các rủi ro đặc biệt) Với số tiền bảo hiểm nhận được, người được bảo hiểm
có thể có đủ khả năng khôi phục lại cơ sở hạ tầng, mua lại các thiết bị, máy móc,
Trang 8phục vụ cho việc sử dụng như trước khi xảy ra rủi ro Tuy vậy, nếu như số tài sản bịthiệt hại đang được sử dụng cho mục đích sản xuất kinh doanh thì nhà kinh doanh
sẽ phải chịu cả những thiệt hại về mặt kinh doanh như mất lợi nhuận, mất khả năngkinh doanh trong một thời gian nhất định Hơn thế nữa, anh ta phải chịu những chiphí như chi phí thuê nhà xưởng, chi phí trả lương cho công nhân viên, lãi suất ngânhàng, mặc dù không thực hiện sản xuất kinh doanh hoặc những chi phí thuê nhàxưởng, máy móc tạm để tiếp tục sản xuất kinh doanh trong thời gian sửa chữa, phụchồi cơ sở sản xuất Nói cách khác, tuỳ vào mức độ thiệt hại gây ra mà công việckinh doanh bình thường của người được bảo hiểm sẽ bị ngưng trệ hoặc giảm sút.Chúng ta hãy cùng xem xét ví dụ minh hoạ sau đây:
Hình dưới đây miêu tả tổn thất về doanh thu có thể xảy ra sau một vụ cháy nghiêmtrọng Cần chú ý rằng doanh thu (số tiền doanh nghiệp thu được) sẽ chỉ trở lại bìnhthường sau 9 tháng kể từ khi có vụ cháy xảy ra cho dù công việc xây dựng lại chỉmất 3 tháng Trường hợp này xảy ra do nguyên nhân một số khách hàng không chắcchắn được liệu công ty có tiếp tục kinh doanh nữa hay không và nếu khách hàng cóthể dễ dàng tìm ra những hãng cung cấp thay thế thì thời gian hồi phục kinh doanh
sẽ bị kéo dài Khác hẳn với thiệt hại vật chất, thiệt hại mà nhà kinh doanh phải gánhchịu trong trường hợp bị ngừng trệ kinh doanh là rất trừu tượng và được cụ thể hoávào thời điểm trong tương lai khi mà doanh nghiệp của người được bảo hiểm trở lạitình trạng vốn có như trước khi tổn thất xảy ra Nói tóm lại, đối tượng của bảo hiểmgián đoạn kinh doanh là đối tượng vô hình
Chá y
Trang 9(Nguồn: Hình 4.1 - [17, 112])Trong biểu đồ trên, người ta đã giả định một doanh thu tĩnh song trong thực tế, rấtnhiều ngành nghề biến động theo mùa và tất nhiên cần phải xem xét yếu tố này khigiải quyết bất kỳ khiếu nại nào Vì vậy, trong đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanhthường nêu rõ công thức sẽ được sử dụng khi giải quyết bồi thường tổn thất.
- Đặc điểm về giai đoạn bồi thường:
Một đặc trưng cơ bản của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là người được bảo hiểmđược chọn một "giai đoạn bồi thường" Đó là giai đoạn mà theo tính toán của ngườiđược bảo hiểm sẽ đủ để người đó khôi phục lại kinh doanh, hoàn toàn khôi phục lạikhả năng hoạt động và doanh thu kể cả khi đã xảy ra vụ hoả hoạn nghiêm trọngnhất Người được bảo hiểm sẽ chọn "giai đoạn bồi thường" tối đa, có thể là 12tháng, 18 tháng, , và "giai đoạn bồi thường" sẽ được đưa vào hợp đồng bảo hiểm
"Giai đoạn bồi thường" tối đa phụ thuộc vào các yếu tố sau:
"+Thời gian để sửa chữa, xây dựng lại tài sản bị thiệt hại Thời gian này được tínhbao gồm cả thời gian thiết kế, lên kế hoạch và cả thời gian xin các loại giấy phép + Thời gian thay thế máy móc, nguyên vật liệu Việc đánh giá chính xác khoảngthời gian này là rất quan trọng và phụ thuộc vào loại máy móc, nguyên vật liệu Nếunhư doanh nghiệp sử dụng các máy móc, nguyên vật liệu phải nhập khẩu hoặc loạiđặc biệt thì việc ổn định tình hình kinh doanh trong một thời gian ngắn là hết sứckhó khăn
+ Thời gian cần thiết để khôi phục năng suất và tính hiệu quả kinh doanh trở vềbình thường như trước khi xảy ra tổn thất, bao gồm cả thời gian để giành lại nhữngkhách hàng đã mất." [5, 6]
- Đặc điểm về tổn thất vật chất:
Điều kiện tiên quyết để người được bảo hiểm có quyền đòi bồi thường theo đơn bảohiểm gián đoạn kinh doanh là "tại thời điểm xảy ra tổn thất, các thiệt hại của các tàisản của người được bảo hiểm tại địa điểm được bảo hiểm phải được bảo vệ bởi mộtđơn bảo hiểm thiệt hại vật chất" [2, 1] Điều kiện này được biết đến trong ngành bảo
Trang 10hiểm thế giới như "qui định tổn thất vật chất" (material damage provisio) Qui địnhnày có nghĩa là trước khi giải quyết khiếu nại gián đoạn kinh doanh, phải có mộtkhiếu nại theo đơn thiệt hại vật chất đã được thanh toán bồi thường hay trách nhiệmtheo đơn bảo hiểm đó đã được chấp nhận Vì vậy, thông thường bảo hiểm gián đoạnkinh doanh chỉ là đơn bảo hiểm mở rộng phạm vi bảo hiểm của một đơn bảo hiểmvật chất Rủi ro trong đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, trừ những trường hợploại trừ, phải trùng khớp với rủi ro trong đơn bảo hiểm thiệt hại vật chất.
1.2.2 Nội dung cơ bản trong hợp đồng bảo hiểm nói chung và trong hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh nói riêng
1.2.2.1 Hợp đồng bảo hiểm
Khái niệm hợp đồng bảo hiểm
"Hợp đồng bảo hiểm là một thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảohiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểmphải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảohiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm" [6,16]
Như vậy, đứng trên góc độ pháp lý thì hợp đồng bảo hiểm thực chất là một hợpđồng kinh tế trong đó một bên đồng ý bồi thường, trả tiền bảo hiểm cho bên kia khixảy ra sự kiện bảo hiểm với điều kiện bên kia chấp nhận đóng phí bảo hiểm Theohợp đồng bảo hiểm, mối quan hệ nhất định giữa hai bên ràng buộc với nhau bởi haivấn đề cơ bản: bồi thường và nộp phí bảo hiểm
Điều kiện pháp lý áp dụng trong hợp đồng bảo hiểm
Có hai loại điều kiện được áp dụng cho hợp đồng bảo hiểm, đó là:
Trang 11- Quyền lợi được bảo hiểm: Trong luật bảo hiểm Anh và nhiều nước, trong đó cóViệt Nam có qui định về quyền lợi được bảo hiểm Theo đó, để có đủ năng lực pháp
lý tham gia vào hợp đồng bảo hiểm thì người tham gia bảo hiểm phải là người cóquyền lợi khi đối tượng bảo hiểm đó bị thiệt hại Điều đó có nghĩa là đối tượng bảohiểm, đặc biệt là tài sản phải thuộc quyền sử dụng hay quản lý hợp pháp của các cơquan doanh nghiệp, các cá nhân và tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế trong xãhội và họ chính là người tham gia bảo hiểm
- Tín nhiệm tuyệt đối: Điều kiện "tín nhiệm tuyệt đối" được áp dụng trong quan hệbảo hiểm giữa người bảo hiểm đối với người tham gia bảo hiểm Điều đó có nghĩa
là người tham gia bảo hiểm phải có trách nhiệm kê khai trung thực, đầy đủ và chínhxác giá trị tài sản hoặc là tình trạng sức khoẻ, trong phạm vi kiến thức và sự hiểubiết của họ khi người bảo hiểm yêu cầu Những thông tin này là cơ sở để người bảohiểm có chấp nhận bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm hay không Người tham giabảo hiểm không được thực hiện bất cứ hành vi man trá hay gian dối nào trong thờigian hiệu lực cuả hợp đồng nhằm trục lợi Việc tuân thủ đúng nguyên tắc này đóngvai trò quan trọng trong việc giao dịch bảo hiểm
-Bồi thường: Khi có sự cố rủi ro thuộc trách nhiệm bảo hiểm gây thiệt hại chongười được bảo hiểm, người được bảo hiểm sẽ được bồi thường theo đúng qui địnhcủa hợp đồng Hiện nay có ba hình thức bồi thường được sử dụng:
+ Thanh toán bằng tiền mặt Đây chính là hình thức phổ biến nhất Công ty bảohiểm xác định giá trị tổn thất thực tế bằng tiền và thực hiện bồi thường cho kháchhàng
+ Sửa chữa đối với loại tài sản bị tổn thất còn khả năng sửa chữa
+ Thay thế hay phục hồi, phương pháp này thường được áp dụng trong trường hợptổn thất toàn bộ
Đó là các điều kiện ngầm định được áp dụng trong hợp đồng bảo hiểm Hai điềukiện đầu được coi là hai điều kiện quan trọng phải được thực hiện trước khi hình
Trang 12thành hợp đồng Trong trường hợp những điều kiện này không được tuân thủ, tínhhợp lệ của toàn bộ hợp đồng sẽ không được đảm bảo.
b) Những điều kiện rõ ràng
Cùng với việc thực hiện những điều kiện ngầm định, giữa người bảo hiểm và ngườiđược bảo hiểm cũng có những "điều kiện rõ ràng" được qui định bằng văn bản tronghợp đồng bảo hiểm buộc hai bên cùng phải tôn trọng thực hiện Các điều kiện đó sẽđược xem xét một cách cụ thể trong phần tiếp theo của hợp đồng bảo hiểm
Kết cấu và nội dung của hợp đồng bảo hiểm
* Đơn yêu cầu bảo hiểm:
Đơn yêu cầu bảo hiểm là hình thức phổ biến nhất để công ty bảo hiểm có thể nhậnđược các thông tin liên quan tới rủi ro sẽ được bảo hiểm Đối với hầu hết các loạibảo hiểm, người yêu cầu bảo hiểm sẽ điền vào đơn yêu cầu bảo hiểm và nộp chocông ty bảo hiểm Các đơn này có thể do công ty bảo hiểm gốc hoặc môi giới bảohiểm hay trung gian bảo hiểm cung cấp
Trong hầu hết các đơn bảo hiểm thường có những câu hỏi chung như sau:
Tên, địa chỉ của người yêu cầu bảo hiểm (nếu bảo hiểm liên quan đến cá nhân có thể có câu hỏi liên quan đến nghề nghiệp, tuổi tác)
Thời gian yêu cầu bảo hiểm
Ngành nghề kinh doanh
Cơ sở tính phí bảo hiểm (đồ đạc, nhà cửa, bảng lương, doanh thu, )
Bên cạnh đó cũng có những câu hỏi liên quan đến các rủi ro cụ thể Nói cách khác,một đơn yêu cầu bảo hiểm sẽ chứa đựng các câu hỏi chung và riêng, và tất cả cáccâu hỏi đó đều có giá trị đối với công ty bảo hiểm
Đơn yêu cầu bảo hiểm chính là cơ sở của hợp đồng bảo hiểm và là một phần khôngthể thiếu trong hợp đồng bảo hiểm
* Đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm:
Trang 13Sau khi đơn yêu cầu bảo hiểm được trình bày hợp lý và công ty bảo hiểm chấp nhận đơn đó, công ty bảo hiểm sẽ cấp cho người được bảo hiểm đơn bảo hiểm kèm theo giấy chứng nhận bảo hiểm Đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm là bằng chứng về việc xác lập hợp đồng, trong đó bao gồm mọi chi tiết về việc bảo hiểm Trong đơn bảo hiểm và giấy chứng nhận bảo hiểm phải đề cập được các nội dung sau:
Tên, địa chỉ doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm
hoặc người thụ hưởng
Đối tượng bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản
Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm
Thời hạn bảo hiểm
Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm
Thời hạn, phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường
Các qui định giải quyết tranh chấp
Ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng
Ngoài ra còn có thể có những nội dung khác do các bên thoả thuận
1.2.2.1 Hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh giống như bất kỳ một hợp đồng bảo hiểm nào đều mang đầy đủ các nội dung cũng như đặc điểm của một hợp đồng bảo hiểm như đã đề cập ở phần lý luận trên Tuy nhiên, do tính đặc thù của loại nghiệp vụ bảo hiểm này nên nó cũng có những đặc điểm riêng so với các loại hợp đồng bảo hiểm khác Trong phần lý luận sau, do phạm vi nghiên cứu của đề tài này như đã đề cập ở phần giới thiệu, sẽ chỉ đề cập tới hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy
Một số khái niệm về doanh thu, chi phí cố định, chi phí biến đổi, lợi nhuận thuần,
Trang 14"Doanh thu bán hàng là toàn bộ các khoản doanh thu về tiêu thụ sản phẩm hàng hoádịch vụ" [11, 83] Đây là bộ phận chủ yếu, chiếm tỉ trọng lớn trong tổng doanh thu.Ngoài ra, doanh thu còn từ các hoạt động khác bao gồm các khoản từ hoạt động đầu
tư tài chính (thu từ hoạt động đầu tư, thu về việc mua bán chứng khoán, lãi kí quĩ,hoàn nhập dự phòng giảm giá chứng khoán, cho thuê tài sản, lãi tiền gửi, lãi tiềncho vay ), và từ hoạt động bất thường (thu về nhượng bán thanh lý tài sản cố định,thu từ phạt vi phạm hợp đồng, nợ khó đòi đã đòi được, nợ phải trả không xác địnhđược chủ, thu nhập năm trước bị bỏ sót )
"Chi phí cố định là những chi phí có đặc trưng cơ bản là tổng số của nó không thayđổi khi khối lượng kinh doanh thay đổi" [18,90] Khoản chi phí này là những khoảnchi phí tồn tại ngay cả khi không tiến hành sản xuất kinh doanh, ví dụ như tiền thuênhà xưởng, thuê đất, tài sản cố định,
"Chi phí biến đổi là chi phí biến đổi thuận chiều với sự thay đổi khối lượng kinhdoanh của doanh nghiệp" [18,90], ví dụ như chi phí mua nguyên vật liệu, chi phíthuê nhân công hợp đồng
"Lợi nhuận thuần là khoản lợi nhuận thu được sau khi đã trừ đi tất cả các khoản dựphòng, các chi phí cố định kể cả những chi phí khấu hao, nhưng phải được tínhtrước khi trừ đi các loại thuế tính trên thu nhập" [5, appendix A]
"Lợi nhuận gộp = [Doanh thu + (giá trị hàng tồn kho và hàng hoá đang trong kì sảnxuất ở cuối kỳ - giá trị hàng hoá đang trong kỳ sản xuất đầu kì) - tổng chi phí sảnxuất không được bảo hiểm]" [5, appendix A]
Đối tượng bảo hiểm
Như đã đề cập trong phần đặc điểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, đối tượngbảo hiểm trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là đối tượng vô hình Khác với cácloại nghiệp vụ bảo hiểm thiệt hại vật chất có đối tượng bảo hiểm là hữu hình, đốitượng bảo hiểm trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh do đặc tính trừu tượng nhưvậy đã gây rất nhiều khó khăn cho các nhà bảo hiểm Đây cũng chính là lý do khiếncho một nghiệp vụ bảo hiểm rất quan trọng như bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đã
Trang 15ra đời quá muộn so với các nghiệp vụ khác Theo đơn bảo hiểm qui chuẩn của Anhquốc mà ngày nay rất nhiều quốc gia trên thế giới cũng đang sử dụng thì đối tượngbảo hiểm của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh là "tổn thất mang tính hậu quả do việcngừng trệ hay gián đoạn" [5, 6].
Số tiền bảo hiểm
Khác với số tiền bảo hiểm trong các nghiệp vụ bảo hiểm thiệt hại vật chất được xácđịnh dựa trên giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm của bảo hiểm gián đọan kinh doanhđược xác định dựa trên giá trị lợi nhuận gộp hàng năm của doanh nghiệp tham giabảo hiểm Số tiền bảo hiểm trong loại hình nghiệp vụ này do người được bảo hiểmxác định, được tính từ số liệu kế toán của người được bảo hiểm và phải thể hiệnđược giá trị lợi nhuận gộp ước tính trong tương lai của doanh nghiệp được bảohiểm Để xác định giá trị đó, số liệu kế toán của năm gần nhất sẽ được sử dụng Tuynhiên, thường thì người ta sử dụng số liệu kế toán của hai hoặc ba năm liên tiếpnhằm tránh những biến động bất thường có thể ảnh hưởng tới tính chính xác của sốliệu "Khi thời hạn bồi thường là 12 tháng hoặc thấp hơn, số tiền bảo hiểm phải làgiá trị hàng năm của lợi nhuận gộp Nếu thời hạn bồi thường vượt quá 12 tháng sốtiền bảo hiểm phải là lợi nhuận gộp cho thời hạn bồi thường được chọn" [5, 7] Ví
dụ nếu thời hạn bồi thường là 3 năm thì số tiền bảo hiểm là 3 lần giá trị lợi nhuậngộp hàng năm
Tuy vậy, mục đích của bảo hiểm gián đoạn kinh doanh không những bảo hiểm phầnlợi nhuận bị mất đi so với cùng kỳ năm trước mà còn bồi thường cho thêm cả phầnlợi nhuận họ sẽ thu được theo tỉ lệ tăng doanh thu bình quân năm kế tiếp Để tránh
sự đánh giá thấp của số tiền bảo hiểm, người ta còn phải tính đến hệ số tăng bìnhquân doanh thu của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bằng cách so sánhnhiều năm tài chính dựa trên cơ sở kế toán tính trước khi kí kết hợp đồng gián đoạnkinh doanh Bằng cách đó người ta có thể tính được số tiền bảo hiểm như sau:
Số tiền bảo hiểm = Lợi nhuận
gộp cả năm x
hệ số tăngbình quân x
thời hạn bồi thườngtính bằng tháng
Trang 16(2) trách nhiệm của công ty bảo hiểm, trong mọi trường hợp, sẽ không vượt quá :(i) Tổng số tiền bảo hiểm hay số tiền bảo hiểm tương ứng với mỗi khoảnmục được kê khai trong giấy chứng nhận bảo hiểm
(ii) Bất cứ trách nhiệm được đưa ra trong giấy chứng nhận bảo hiểm hay bất
cứ số tiền bảo hiểm nào được sửa đổi bởi các sửa đổi bổ sung đính kèm
và được ký xác nhận bởi công ty bảo hiểm hay người đại diện cho công
ty bảo hiểm" [2, 1]
Điều khoản loại trừ
"Đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh không bảo hiểm cho các tổn thất do hậu quảcủa:
- Thiệt hại do thiết kế sai, khuyết tật của nguyên vật liệu hay do tay nghề kém; donhững khuyết tật ẩn tì; do sự thoái hoá dần giá trị hoặc do sự biến dạng, hao mòn tựnhiên; do việc ngừng cung cấp điện, nước, khí đốt hay các nguồn nguyên liệu kháchay do sự hư hỏng của hệ thống thải rác; do ăn mòn, gỉ; do sự thay đổi độ ẩm hay
Trang 17khô của thời tiết; do nấm mốc mục nát; do hao hụt bay hơi, do hư hại do tác độngcủa ánh sáng, sâu bọ côn trùng; do các hành động lừa dối không trung thực
- Thiệt hại do những mất mát không giải thích được, những thiếu hụt do lỗi kếtoán, lỗi kiểm kê, quản lý hành chính
- Thiệt hại do đổ vỡ, rạn nứt hay áp suất quá tải của nồi hơi, bình đun bằng hơi,bình hay đường ống dò gỉ; do hư hỏng trục trặc máy móc thiết bị về đo điện hay cơkhí; vỡ, tràn nước, tháo nước hay dò gỉ
- Thiệt hại do sự xói mòn của sông biển; sụt lở đất, lún đất
- Thiệt hại do tài sản bị biến mất, thiếu hụt khi kiểm kê trong quá trình vậnchuyển ngoài khu vực được đề cập hoặc không rõ nguyên nhân
- Thiệt hại do thông tin bị tẩy xoá, mất mát, bóp méo trên hệ thống máy tính hoặccác chương trình phần mềm lưu trữ số liệu khác
- Thiệt hại đối với kính lắp cố định, kính và các đồ dễ vỡ khác, các máy điện toán,các thiết bị xử lý dữ liệu, máy móc thiết bị đang lắp đặt, di chuyển, tài sản đangtrong quá trình kiểm tra, lắp đặt, sửa chữa, xây dựng, xe cơ giới đang lưu hành trênđường
- Thiệt hại do bất kỳ hành động cố ý hay sự cẩu thả cố tình của người được bảohiểm hay bất kỳ ai đại diện cho họ
- Thiệt hại do hậu quả dù trực tiếp hay gián tiếp của chiến tranh, xâm lược, cáchành động thù địch, nội chiến, binh biến, bạo động, hành động khủng bố
- Thiệt hại gây ra do người được bảo hiểm bị tước quyền sở hữu tạm thời hay vĩnhviễn do bị tịch thu tài sản, trưng dụng tài sản theo lệnh của nhà cầm quyền hợppháp
- Thiệt hại trực tiếp hay gián tiếp hoặc phát sinh từ hậu quả hay do ảnh hưởng mộtphần của bất kỳ nguyên liệu vũ khí hạt nhân nào, phóng xạ ion hoá hay do ô nhiễmphóng xạ" [2, 3]
1.2.2.2.6 Phí bảo hiểm
Trang 18Phí bảo hiểm gián đoạn kinh doanh được tính trên cơ sở số tiền bảo hiểm do ngườiđược bảo hiểm chọn (gọi là số tiền bảo hiểm đăng ký) Để đăng ký một hợp đồngbảo hiểm thiệt hại kinh doanh người tham gia bảo hiểm phải thông báo một loạt sốliệu về kế toán, đặc biệt là tài khoản kết quả sản xuất kinh doanh thực hiện một sốnăm trước đó Căn cứ vào tài khoản này cộng thêm với lời khai báo, hai bên thỏathuận với nhau về số tiền bảo hiểm (cụ thể số tiền bảo hiểm ở đây là lợi nhuận gộp).Việc thoả thuận được số tiền bảo hiểm có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho công táctính phí vì thực chất phí bảo hiểm gián đoạn kinh doanh được xác định như sau:
Phí bảo hiểm = số tiền bảo hiểm x tỉ lệ phí bảo hiểm
Tỉ lệ phí bảo hiểm phụ thuộc vào 3 yếu tố cơ bản:
- Xác suất rủi ro của nghiệp vụ bảo hiểm
- Phạm vi bảo hiểm
- Số tiền bồi thường cho một số năm trước đây
Tuy vậy, trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, tỉ lệ phí bảo hiểm được tính dựatrên tỉ lệ phí bảo hiểm chung cho rủi ro hoả hoạn
Việc tính phí bảo hiểm còn phụ thuộc vào yếu tố thời gian, cụ thể là thời hạn bồithường Thời hạn bồi thường càng cao có nghĩa là trách nhiệm bồi thường của nhàbảo hiểm càng lớn, vì thế phí bảo hiểm cũng tăng tương ứng Ví dụ, theo biểu phíBảo Việt Hà Nội hiện đang triển khai thì nếu thời hạn bồi thường là 3 tháng thì tỉ lệphí bảo hiểm là 50% tỉ lệ phí bảo hiểm của bảo hiểm hoả hoạn, nếu 6 tháng là 75%,nếu 12 tháng là 100% Tuy nhiên, thời hạn bồi thường tăng đến một mức nhất địnhthì phí bảo hiểm có xu hướng giảm dần do cơ sở tính phí sẽ thay đổi
Thời hạn và phương thức bồi thường
Bồi thường là nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm Trong bảo hiểm gián đoạn kinhdoanh, rất khó xác định số tiền bồi thường mặc dù đã có công thức xác định cáchgiải quyết tổn thất được ghi trong nội dung đơn bảo hiểm Kế toán của người được
Trang 19bảo hiểm thường tham gia xác định mức lãi kinh doanh của doanh nghiệp sẽ thuđược nếu như vụ hoả hoạn hay một hiểm hoạ nào đó không xảy ra.
Vấn đề bồi thường trong bảo hiểm gián đoạn kinh doanh khác với bồi thường trongthiệt hại vật chất Nếu như mục đích của bảo hiểm bồi thường trong các đơn bảohiểm thiệt hại vật chất là đưa người bảo hiểm trở về vị trí giống như trước khi xảy
ra tổn thất , thì đối với bảo hiểm gián đoạn kinh doanh lại không hoàn toàn như vậy.Chúng ta hãy xem xét một ví dụ ngắn Một nhà sản xuất hàng phục vụ lễ GiángSinh.Và hiện giờ hàng đang trong nhà kho chờ ngày đem bán Một vụ cháy xảy ra ởnhà kho, phá huỷ hầu hết số hàng hoá phục vụ cho Giáng Sinh Như vậy ta sẽ thấyngay có một số nhân tố khiến hầu như không thể đưa người được bảo hiểm trở về vịtrí tài chính giống như trước khi xảy ra tổn thất như nhà sản xuất đã bỏ lỡ thịtrường, mất khách hàng Vì vậy, đối với các đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh,bồi thường có thể được coi là một nỗ lực đưa người bảo hiểm trở về vị trí tài chính
mà lẽ ra người đó sẽ phải có nếu như tổn thất không xảy ra
Để xác định số tiền thiệt hại lợi nhuận gộp, công thức sau thường được sử dụng:
Tỉ lệ lợi nhuận gộp = lợi nhuận được đảm bảo
Tổng giá trị các tài khoản thu nhập liênquan đến hoạt động của doanh nghiệp
Thiệt hại doanh
thu thực tế =
doanh thu lẽ rađược thực hiện -
doanh thu thực tếđược thực hiện
Thiệt hại lợi
nhuận gộp =
thiệt hại doanhthu thực tế x
tỉ lệ lợinhuận gộp
Trang 20Thiệt hại lợi nhuận gộp cho phép ta xác định được số tiền bồi thường tối đa, nhưngphải trừ đi mức miễn thường (thường được tính bằng ngày trong bảo hiểm thiệt hạikinh doanh) "Giả định, mỗi đơn vị doanh thu bao gồm 0,6 đơn vị là chi phí muanguyên vật liệu và các chi phí biến đổi khác, 0,3 đơn vị là chi phi cố định, 0,1 đơn
vị là lợi nhuận ròng Tuy nhiên, khi xảy ra tổn thất làm gián đoạn kinh doanh thìngười được bảo hiểm sẽ không phải gánh chịu tổn thất của cả 1 đơn vị doanh thu đó
mà sự giảm doanh thu sẽ kéo theo việc giảm tương ứng chi phí biến đổi, vì vậyngười bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm đối với 0,6 đơn vị chi phí mua nguyênvật liệu và các chi phí biến đổi khác mà chỉ cần bồi thường 0,4 đơn vị chi phí cốđịnh và lợi nhuận ròng là có thể đưa người được bảo hiểm trở về tình trạng tài chính
mà lẽ ra người đó có nếu như tổn thất không xảy ra" [5, 61] Do đó, số thiệt hại lợinhuận gộp là số tiền bồi thường tối đa mà người được bảo hiểm có thể nhận được.Tuy nhiên trên thực tế, như đã phân tích trong ví dụ trên, thì số tiền bồi thường sẽhiếm khi đạt được bằng số thiệt hại lợi nhuận gộp
Yếu tố thời hạn bồi thường được đưa vào đơn bảo hiểm gián đoạn kinh doanh kháchoàn toàn so với đơn bảo hiểm thiệt hại vật chất, thời hạn bồi thường trong bảohiểm gián đoạn kinh doanh được ghi rõ trong đơn bảo hiểm và phải do người đượcbảo hiểm tự chọn
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM GIÁN ĐOẠN KINH DOANH TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM HÀ NỘI TỪ NĂM 1998 - 2001
2.1 SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM GIÁN ĐOẠN KINH DOANH TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM HÀ NỘI
2.1.1 Giới thiệu chung về Công ty bảo hiểm Hà Nội
Công ty bảo hiểm Hà Nội (gọi tắt là Bảo Việt Hà Nội) được thành lập từ năm 1980theo quyết định số 1125/QĐ-TCCB ngày 17/11/1980 của Bộ Tài chính, và trực
Trang 21thuộc Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam Nhiệm vụ chủ yếu của Bảo Việt Hà Nội là
tổ chức hoạt động kinh doanh bảo hiểm thương mại trên địa bàn thành phố Hà Nội.Trải qua 21 năm hoạt động liên tục, công ty Bảo Việt Hà Nội đã không ngừng lớnmạnh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Từ lúc đầu thành lập chỉ có 10 cán bộ với mộtphòng nhỏ làm trụ sở, đến nay Bảo Việt Hà Nội đã trở thành một đơn vị kinh tếmạnh với đội ngũ hàng trăm cán bộ bảo hiểm, có trụ sở chính khang trang, thành lậpcác văn phòng trực thuộc tại tất cả các quận, huyện trên địa bàn thành phố cùngmạng lưới cộng tác viên, đại lý phủ kín các địa bàn dân cư của thành phố, sẵn sàngđáp ứng mọi nhu cầu của nhân dân, trở thành một đơn vị chủ lực của Tổng công tybảo hiểm Việt Nam Theo cơ cấu tổ chức văn phòng hiện nay, song song vớinhiệm vụ khai thác khách hàng, văn phòng công ty có chức năng quản lý và giámsát hoạt động của các văn phòng địa phương trực thuộc Bởi vậy, ngoài các phòngban phụ trách các vấn đề tổ chức nhân sự, kế toán, , những phòng nghiệp vụ ngoàinhiệm vụ trực tiếp tiến hành kinh doanh các nghiệp vụ trên địa bàn mà công ty phâncấp còn có chức năng giúp đỡ các văn phòng tại các quận, huyện trong việc quan hệvới khách hàng, cân nhắc chấp nhận bảo hiểm, phát hành hợp đồng bảo hiểm, xử lýkhiếu nại, giám định và bồi thường
Cơ cấu tổ chức hiện nay của Bảo Việt Hà Nội được biểu hiện qua sơ đồ sau:
Giám đốc
Phó Giám đốc Phó Giám đốc
Phòng kiểm tra nội bộ
Phòng tổng hợp
Phòng
BH kỹ thuật
Phòng
BH cháy &
rủi ro hỗn hợp
Phòng
BH quốc phòng
Phòng giám định bồi thường
Trang 22Trong vài năm gần đây, kinh tế xã hội của cả nước nói chung và thủ đô nói riêngtiếp tục ổn định và phát triển Đây là yếu tố thuận lợi cho công tác kinh doanh củacác doanh nghiệp bảo hiểm nói chung và của Bảo Việt nói riêng Được sự quan tâmchỉ đạo và ủng hộ của lãnh đạo Tổng công ty, sự hợp tác giúp đỡ thường xuyên củacác phòng ban thuộc Tổng công ty, cán bộ công nhân viên của Bảo Việt Hà Nội đãtừng bước tích luỹ kinh nghiệm trong hoạt động cạnh tranh Hơn nữa, dù trong bất
kỳ hoàn cảnh nào cán bộ công ty cũng luôn đoàn kết nhất trí trên dưới một lònghoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kinh doanh của Tổng công ty và Nhà nước giao cho.Năm nào Bảo Việt Hà Nội cũng hoàn thành vượt mức kế hoạch kinh doanh, đạt tốc
độ tăng trưởng cao về doanh số và tỷ lệ tích luỹ, đóng góp không nhỏ vào thành tíchchung của Tổng công ty và của ngành bảo hiểm nói chung Đó là những dấu hiệuđáng mừng đối với Bảo Việt Hà Nội Bên cạnh đó, hoạt động của Công ty Bảo Việt
Hà Nội cũng gặp nhiều khó khăn do sự cạnh tranh của thị trường bảo hiểm cao hơnnhững năm trước Địa bàn thủ đô là nơi diễn ra sự cạnh tranh quyết liệt không chỉgiữa các công ty bảo hiểm trong nước mà còn với công ty bảo hiểm nước ngoài.Bảo Việt Hà Nội phải cạnh tranh với các công ty khác không những về tỉ lệ phí, chikinh doanh mà còn cả những yếu tố về phục vụ Việc mở rộng hoạt động của cáccông ty bảo hiểm nước ngoài trên thị trường làm cho tính cạnh tranh giữa các công
ty bảo hiểm trong nước vốn đã gay gắt nay càng thêm khốc liệt dẫn đến việc phí bảohiểm có xu hướng giảm, nhất là trong các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản và bảo hiểmtrách nhiệm Doanh thu phí bảo hiểm của các hoạt động này giảm đáng kể do phíbảo hiểm giảm và phải chia xẻ phí do đồng bảo hiểm Hơn nữa, trong năm 2000 và
2001, tốc độ giải ngân các nguồn vốn đầu tư cho các dự án trên địa bàn Hà Nội cònchậm làm ảnh hưởng đến kế hoạch khai thác nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng, lắp đặt
Trang 23Trước điều kiện khó khăn như vậy, công ty đã tổ chức phục vụ tốt khách hàng đểgiữ vững địa bàn và phát triển kinh doanh, đồng thời áp dụng linh hoạt chính sáchcủa Nhà nước, các quy định của Tổng công ty vào hoạt động kinh doanh Một biệnpháp quan trọng Bảo Việt Hà Nội đang thực hiện nhằm cải thiện, nâng cao chấtlượng dịch vụ, đảm bảo khả năng cạnh tranh là thay đổi phương thức hạch toán kinhdoanh, giao khoán cụ thể hoạt động kinh doanh cho từng phòng, và các phòng phải
có nhiệm vụ tương hỗ nhau nhằm thực hiện chỉ tiêu kinh doanh tốt hơn
Với phương châm "phục vụ khách hàng là phục vụ chính mình", "đáp ứng nhữngcái khách hàng cần chứ không phải những gì mình có", Bảo Việt Hà Nội đã khôngngừng đổi mới phong cách làm việc để phục vụ khách hàng ngày một tốt hơn Vìvậy, Bảo Việt Hà Nội vẫn luôn là người bạn đồng hành tin cậy của khách hàng Ngoài ra, nhằm đảm bảo khả năng bồi thường cho khách hàng và năng lực nhận bảohiểm cho các dự án đầu tư lớn, hiện nay Bảo Việt Hà Nội thông qua Tổng công tybảo hiểm Việt Nam đã quan hệ với nhiều công ty tái bảo hiểm, các công ty giámđịnh, điều tra tổn thất có uy tín trên toàn thế giới như Lloyd's, Commercial Union(UK), AIG, CIGNA (Mỹ), Tokyo Marine, Yasuda Mitsui Marine (Nhật), Muniche(Đức), Trong vài năm gần đây, Bảo Việt Hà Nội đã nhận được sự cộng tác, giúp
đỡ tận tình của các công ty này trong việc đánh giá, chấp nhận rủi ro, thanh tra và
Trang 24vụ Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy tuy là một nghiệp vụ mở rộng phạm
vi của bảo hiểm cháy và đóng vai trò không kém phần quan trọng so với bảo hiểmcháy nhưng thực chất nó lại không ra đời vào thời điểm bảo hiểm cháy bắt đầu đượctriển khai Phải cho tới năm 1994, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh mới bắt đầu đượcđưa vào thử nghiệm Từ khi đưa vào triển khai, số đơn bảo hiểm gián đoạn kinhdoanh sau cháy do Bảo Việt Hà Nội kí được với khách hàng vẫn chưa nhiều, chủyếu là với các công ty liên doanh và các công ty 100% vốn nước ngoài Hầu hết cácđơn bảo hiểm được cấp thông qua môi giới Chúng ta có thể xem qua tỉ trọng củadoanh thu bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy tại Bảo Việt Hà Nội thông quabảng sau:
Bảng 1: Tỉ trọng doanh thu bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy tại
Bảo Việt Hà Nội giai đoạn 1998 - 2001
Năm
Doanh thu bảo hiểm gián
đoạn kinh doanh sau
Trang 25Nguồn số liệu: Phòng bảo hiểm cháy và rủi ro hỗn hợp - Bảo Việt Hà Nội.
Số liệu bảng 1 cho thấy tỷ lệ doanh thu bảo hiểm gián đoạn kinh doanh chiếm một
tỉ lệ rất khiêm tốn so với tổng doanh thu của Bảo Việt Hà Nội Tuy nhiên, chúng tacũng nhận thấy rằng doanh thu của nghiệp vụ này ngày càng tăng cả về số tươngđối lẫn số tuyệt đối Trong khi nhiều nghiệp vụ bảo hiểm khác như bảo hiểm tráchnhiệm dân sự xe cơ giới, bảo hiểm xây dựng lắp đặt, đang có xu hướng giảm dầndoanh thu khai thác do phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của các công ty bảohiểm khác thì nghiệp vụ bảo hiểm này lại đang mang lại cho Bảo Việt Hà Nộidoanh thu ngày càng tăng hơn qua các năm triển khai Điều đó chứng tỏ bảo hiểmgián đoạn kinh doanh là một nghiệp vụ đầy tiềm năng, hứa hẹn mang lại nguồn thukhông nhỏ cho Bảo Việt Hà Nội
Hơn thế, với mục tiêu giữ khách hàng, đáp ứng đầy đủ yêu cầu của khách hàngtrong thời buổi cạnh tranh gay gắt như hiện nay, cùng với mục tiêu tăng trưởng vàhiệu quả, ngoài việc củng cố, hoàn thiện, tiếp tục phát triển các nghiệp vụ truyềnthống có doanh thu cao, Bảo Việt Hà Nội đã và đang tìm cách phát triển các nghiệp
vụ khó khai thác như bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy
2.2 MỘT SỐ THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI TIẾN HÀNH TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM GIÁN ĐOẠN KINH DOANH TẠI BẢO VIỆT HÀ NỘI
2.2.1 Những thuận lợi cơ bản
Khởi xướng từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), Việt Nam đãthực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ tập trung bao cấp sang cơ chế thịtrường dưới sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cóthể nói đây là sự "cởi trói" tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi cho các đơn vị phát huytiềm năng, thế mạnh của mình để mở rộng và thúc đẩy sản xuất phát triển Đại hộiĐảng toàn quốc VI được đánh giá là sự kiện làm "hồi sinh" nền kinh tế xã hội ViệtNam, một bước ngoặt của công cuộc đổi mới toàn diện đưa đất nước từ chỗ bế tắcdần dần đi vào thế ổn định và khởi sắc Từ đó đến nay, Việt nam đã đạt được nhiều
Trang 26thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế xã hội như giữ vững nền kinh tế tăngtrưởng và ổn định, khống chế chỉ số lạm phát ở mức vừa phải, tăng đầu tư trongnước và nước ngoài, tăng thu nhập doanh nghiệp, nâng cao đời sống người dân vềkinh tế cũng như về văn hoá xã hội, Điều kiện kinh tế, xã hội càng phát triển,người dân không còn chỉ lo nghĩ đến cái ăn, cái mặc mà họ đã nghĩ xa hơn, đó làlàm sao để có cuộc sống ổn định Đây chính là nền tảng cho ngành bảo hiểm ViệtNam phát triển.
Trong vài năm gần đây, trên thế giới xảy ra không biết bao nhiêu biến động cả vềkinh tế lẫn chính trị, ảnh hưởng đến nền kinh tế của hầu hết các quốc gia, đặc biệt làcác nước phát triển cao như Nhật, Hàn quốc, Thái Lan, Argentina, Đặc biệt vụkhủng bố xảy ra trên nước Mỹ vào ngày 11/9/2001 đã làm cho kinh tế của rất nhiềuquốc gia trên thế giới lao đao và năm 2001 được đánh giá là một năm u tối tronglịch sử kinh tế thế giới Trong bối cảnh như vậy, Việt Nam là một trong số ít quốcgia vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong vài năm qua, năm 2001 tốc độtăng trưởng kinh tế của nước ta là hơn 6% Hơn nữa, đầu năm 2002, Việt Nam đãnhận danh hiệu "Thủ đô Hà Nội - thành phố an ninh nhất thế giới" do UNESCOcông nhận Điều đó khẳng định rằng trong khi nền kinh tế, chính trị thế giới cónhiều biến động phức tạp, rối ren thì Việt Nam vẫn là quốc gia có nền kinh tế, chínhtrị ổn định, tạo môi trường an toàn thu hút đầu tư Tất cả những điều đó đã tạo cơhội thuận lợi cho ngành bảo hiểm nước nhà phát triển, từ việc khai thác tới việc sửdụng tạm thời nguồn vốn nhàn rỗi để đầu tư Đặc biệt, khi đầu tư phát triển thì nhucầu bảo toàn vốn kinh doanh càng được chú trọng và điều đó tạo cơ sở vững chắccho bảo hiểm gián đoạn kinh doanh tồn tại và phát triển
Bên cạnh đó, do thực hiện xoá bỏ nhanh chóng cơ chế tập trung bao cấp, đổi mới cơchế quản lý, thực hiện giao vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước, làm cho việc bảotoàn và phát triển vốn trở nên rất khó khăn và nặng nề Đặc biệt với Thông tư82/TCLN ngày 31/12/1991 hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 332/HĐBT của Bộ Tàichính hướng dẫn "Nhà nước sẽ không cho ghi giảm vốn trong trường hợp tài sản bịtổn thất do những rủi ro mà các công ty bảo hiểm trong nước đã triển khai hoặc
Trang 27những loại hình tương tự" Chính vì vậy, các doanh nghiệp đã thấy được yêu cầucấp thiết phải mua bảo hiểm để tạo nguồn bù đắp cho những thiệt hại có thể xảy ranhằm đảm bảo khả năng ổn định kinh doanh Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh, vớimục tiêu giúp các doanh nghiệp ổn định sản xuất kinh doanh, chắc chắn sẽ nhanhchóng tìm được chỗ đứng của mình nếu công ty bảo hiểm biết khai thác triệt đểnghiệp vụ này trong nền kinh tế cạnh tranh như hiện nay.
Hơn nữa, việc ra đời Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 cùng các Nghị định, Thông tưnhằm cụ thể hoá và hướng dẫn thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm đã tạo cơ sở pháp
lý cho hoạt động bảo hiểm được thực hiện qui củ hơn, tránh được nhiều hiện tượngtiêu cực trong hoạt động bảo hiểm như trước Đặc biệt với việc Bộ Tài chính thôngqua Thông tư số 71/2001/TT-BC ngày 28/8/2001 qui định tỉ lệ chi hoa hồng chotừng nghiệp vụ bảo hiểm chỉ trong hạn mức cho phép đã tránh tình trạng nổi cộmtrong hoạt động bảo hiểm trước đây, đó là hiện tượng trả hoa hồng cao quá mức dẫnđến nguy cơ không đảm bảo hiệu quả kinh doanh của các công ty bảo hiểm Nóicách khác, sự ra đời của Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn đã tạo
ra một môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động bảo hiểm
Ngoài ra, cùng với sự trưởng thành của công ty qua nhiều năm hoạt động trong thịtrường cạnh tranh, đội ngũ cán bộ công nhân viên đã có nhiều cơ hội để tự hoànthiện chuyên môn cũng như phong cách làm việc nhằm đáp ứng xu thế phát triểnchung Bảo Việt Hà Nội trong những năm đổi mới, song song với việc đào tạo lạicán bộ, đã và đang tuyển dụng đội ngũ cán bộ giỏi chuyên môn, nhanh nhạy với cơchế thị trường Chủ trương phát triển nhân tố con người của Bảo Việt Hà Nội có thểđược coi là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn trong tình hình hiện nay giúp chohoạt động kinh doanh bảo hiểm tiến những bước xa hơn
Từ những vấn đề nêu trên có thể thấy rằng thị trường bảo hiểm Việt Nam rất cónhiều tiềm năng phát triển Đây là cơ hội tốt nhất cho công ty Bảo hiểm Hà Nộitriển khai các nghiệp vụ bảo hiểm của mình trên địa bàn thủ đô, một trung tâm kinh
tế quan trọng nhất của đất nước, và các khu vực lân cận Kinh tế và hoạt động kinh
Trang 28doanh càng phát triển sẽ là điều kiện thuận lợi để công ty phát triển các nghiệp vụbảo hiểm chưa mấy phổ biến, trong đó có bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Mặc dù có những thuận lợi như vừa đề cập ở trên, nhưng nhìn chung ngành bảohiểm nước ta cũng đang phải đối mặt với không ít khó khăn
2.2.2 Những khó khăn trước mắt và lâu dài
Kinh tế nước ta tuy có nhiều dấu hiệu đáng mừng trong những năm qua nhưng dođiểm xuất phát của nước ta khi chuyển sang nền kinh tế thị trường là một nướcnghèo, trình độ dân trí không cao, ý thức người dân còn rất kém lại vấp phải nhữngmặt trái của kinh tế thị trường nên đã gặp không ít khó khăn trong quá trình pháttriển kinh tế nói chung và phát triển ngành bảo hiểm nói riêng Việc chuyển đổi cơchế đã làm cho nhiều doanh nghiệp không thích ứng kịp thời với sự thay đổi, lâmvào tình trạng làm ăn thua lỗ, không có hiệu quả, dẫn đến phá sản, tạo gánh nặngcho một nền kinh tế đang yếu kém Hơn thế, khi chuyển sang cơ chế mới, lãnh đạomột số đơn vị, xí nghiệp do mang nặng tư tưởng bao cấp cũ, họ chưa thấy rõ đượctrách nhiệm phải bảo toàn vốn tốt nhất bằng con đường tham gia bảo hiểm Một sốđơn vị kinh doanh khác thì mặc dù đã nhận thức rõ được những khó khăn, phức tạptrong việc bảo toàn đồng vốn kinh doanh của mình sao cho an toàn nhất nhưng họlại không có những hiểu biết nhất định về việc kinh doanh bảo hiểm và họ cảm thấy
bi quan, không tin tưởng vào hoạt động của các công ty bảo hiểm nên chỉ tham giamột cách dè dặt hoặc không dám tham gia bảo hiểm
Mặt khác, về phía công ty bảo hiểm, do bảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy làmột nghiệp vụ mới, công việc xác định chính xác số tiền bảo hiểm, giá trị bảo hiểm,
số tiền thiệt hại về lợi nhuận gộp là rất khó khăn, nên trong quá trình khai thác rấtkhó cho cán bộ bảo hiểm giải thích cho khách hàng hiểu và tin tưởng vào loại hìnhbảo hiểm này Thêm vào đó, tuy công ty bảo hiểm Hà Nội có một đội ngũ cán bộkhá đông đảo nhưng trình độ chuyên môn lại không cao so với các công ty bảohiểm khác Điều này đã được minh chứng rất rõ trong nhiều vụ nhân viên tư vấn saicho khách hàng mua nhầm loại bảo hiểm đã gây khó khăn cho công tác bồi thường
Trang 29khi xảy ra tổn thất, gây nghi ngờ cho khách hàng Đối với bảo hiểm gián đoạn kinhdoanh thì vấn đề còn khó khăn hơn rất nhiều vì tính trừu tượng thể hiện trong loạibảo hiểm này cao hơn rất nhiều so với các loại bảo hiểm khác
Một khó khăn nữa phải kể đến là hoạt động bảo hiểm gián đoạn kinh doanh saucháy ra đời đúng thời kỳ Chính phủ mới ban hành Nghị định 100/CP ngày18/12/1993 và tiếp sau đó là Nghị định 74/CP ngày 14/6/1997 cho phép nhiềudoanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế kể cả doanh nghiệp nước ngoài tham giakinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam, phá vỡ thế độc quyền của Bảo Việt Vì vậy,nghiệp vụ này từ khi mới ra đời đã phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của cáccông ty bảo hiểm trong và ngoài nước Hơn nữa, hầu hết các hợp đồng bảo hiểmgián đoạn kinh doanh mà Bảo Việt Hà Nội kí được từ trước tới nay đều khai thácđược từ đối tác liên quan đến nước ngoài là chủ yếu Các công ty bảo hiểm nướcngoài hoạt động tại Việt Nam đã và đang giành giật số khách hàng này về phía họbằng lợi thế về ngôn ngữ, bề dày kinh nghiệm cũng như khả năng tài chính khổng lồcủa các công ty bảo hiểm đó Điều đó đặt ra thách thức lớn cho Bảo Việt Hà Nộicần phải đổi mới tư duy, cung cách phục vụ khách hàng tốt hơn thì mới có khả năngcạnh tranh trong việc khai thác nghiệp vụ bảo hiểm đầy tiềm năng như nghiệp vụbảo hiểm gián đoạn kinh doanh sau cháy
2.3 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM GIÁN ĐOẠN KINH DOANH TẠI BẢO VIỆT HÀ NỘI
Trong hoạt động kinh doanh hiện nay, công ty Bảo Việt Hà Nội triển khai hoạt độngcủa mình trên tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm theo các khâu truyền thống như sau:
Khâu khai thác
Khâu đề phòng và hạn chế tổn thất
Khâu giám định và bồi thường
Khâu đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh
Cả bốn khâu trên có quan hệ chặt chẽ với nhau và bổ sung cho nhau, chỉ cần mộtkhâu nào đó hoạt động kém hiệu quả sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến cả quá trình