1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học m learning trên các thiết bị di động tại khoa anh đại học sư phạm thành phố hồ chí minh đánh giá việc học tập của sinh viên và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả

53 84 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG Tên đề tài: D ạy học m-learning trên các thiết bị di động tại khoa Anh ĐHSP TP.HCM: Đánh giá việc học tập của sinh viên

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM

ANH ĐHSP TP.HCM: ĐÁNH GIÁ VIỆC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN VÀ ĐỀ

MÃ S Ố: CS.2014.19.92

Ch ủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Ngọc Vũ

TP.HCM Năm 2016

Trang 2

Đơn vị phối hợp chính: Khoa Anh Trường ĐHSP TP.HCM

Trang 3

M ục lục

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP

TRƯỜNG 3

Chương 1: Giới thiệu 7

1 Tính cấp thiết của đề tài 7

2 Mục tiêu của đề tài 8

3 Phương pháp triển nghiên cứu và trình tự tiến hành 9

Chương 2: Tổng quan về dạy học trên các thiết bị di động 10

1 Các hình thức học tập với sự hỗ trợ của CNTT 10

2 Khái niệm học tập di động 11

3 Học tập di động trong quan hệ với các lý thuyết học tập 15

4 Tiềm năng của việc dạy học trên các thiết bị động đối với giáo dục đại học 17

5 Một số hạn chế và thách thức của mô hình học tập di động 18

6 Mức độ sẵn sàng của người học cho mô hình m-learning 20

Chương 3: Giới thiệu hệ thống m-learning tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM 22

1 Khu vực trang chủ 22

2 Hệ thống quản lý học viên 25

3 Các khóa học có thể đăng nhập không cần account 29

a Khóa luyện thi Toefl iBT 29

b Khóa luyện thi trình độ B2 “Ready for FCE” 31

c Khóa học luyện thi trình độ B1 “Ready for PET” 32

d Khóa học “Learn with MOODLE” 34

e Khóa học “Cẩm nang thông tin dành cho sinh viên khoa Anh” 36

4 Các khóa học khác 37

Trang 4

Chương 4: Đánh giá việc học tập của sinh viên và giải pháp nâng cao hiệu quả 39

1 Mức độ sẵn sàng về mặt thiết bị Error! Bookmark not defined

2 Mức độ phù hợp với phong cách học tập của sinh viên Error! Bookmark not defined

3 Mức độ tham gia của người học vào các hoạt động học tập trong hệ thống Error!

Bookmark not defined

4 Đánh giá của người học về kết quả triển khai Error! Bookmark not defined

5 Kiến nghị đối với việc dạy học m-learning theo mô hình tích hợp Error! Bookmark not defined

Danh mục tài liệu tham khảo 46 Appendix: Article on Journal of Education, Ho Chi Minh city University of Education

Error! Bookmark not defined

Trang 5

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

Tên đề tài: D ạy học m-learning trên các thiết bị di động tại khoa Anh ĐHSP TP.HCM: Đánh giá việc học tập của sinh viên và đề xuất giải pháp nâng cao

hi ệu quả

Mã số: CS.2014.19.22

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Ngọc Vũ Tel: 0918025951

E-mail: vunn@hcmup.edu.vn

Cơ quan chủ trì đề tài : Khoa Anh Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM

Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện :

o Khoa Anh Trường ĐHSP TP.HCM

Thời gian thực hiện: 09/2014 – 09/2015

1 Mục tiêu:

Đánh giá thực trạng việc học tập của sinh viên trên hệ thống m-learning theo các phương diện: tính sẵn sàng về mặt thiết bị; thuận lợi và khó khăn về phong học tập của sinh viên; thuận lợi và khó khăn trong việc sử dụng hệ

thống m-learning đối với sinh viên; thái độ của sinh viên đối với m-learning

Dựa trên kết quả đánh giá, đề tài nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao

chất lượng của các khóa học m-learning hiện nay

2 Nội dung chính:

- Nghiên cứu và bước đầu đánh giá các phương pháp giảng dạy có thể sử dụng được trong môi trường dạy học m-learning

- Biên soạn, biên tập và sưu tầm các tư liệu giảng dạy bằng tiếng Anh (có phim

dạy học) liên quan đến các bộ môn “Ngôn ngữ học tri nhận”, “Ngôn ngữ học đối chiếu Anh – Việt”, “Dạy học cơ bản theo chương trình Intel”

- Dạy thử nghiệm các bộ môn “Ngôn ngữ học đối chiếu Anh – Việt”, “Ngôn

ngữ học tri nhận” và “Ứng dụng CNTT trong dạy học ngoại ngữ” thông qua

hệ thống m-learning theo mô hình kết hợp và báo cáo kết quả

- Báo cáo những thuận lợi, khó khăn của việc học tập trên các thiết bị di động

và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả học tập

Trang 6

3 Kết quả chính đạt được (khoa học, ứng dụng, đào tạo, kinh tế-xã hội):

- Về khoa học:

o Dữ liệu khảo sát thu được chứng minh rằng hệ thống mobile learning

hỗ trợ hiệu quả cho người học

o Báo cáo tổng kết của đề tài về vấn đề dạy học di động

- Về ứng dụng:

o Hệ thống mobile learning có giao diện responsive, hỗ trợ hiệu quả các thiết bị như điện thoại di động và máy tính bảng

o Về đào tạo: Đào tạo tổng cộng hơn 200 SV khoa Anh qua việc sử

dụng hệ thống mobilearning trong các khóa học

- Công bố 1 bài báo khoa học:

Nguyen Ngoc Vu (2016) An investigation of Vietnamese students’ learning

styles in online language learning T ạp chí khoa học xã hội và nhân văn ĐHSP TP.HCM, s ố 35, 3-10

Trang 7

1 SUMMARY

Project Title: Evaluation of students’ learning and suggestions for improvement in mobile learning for students at Department of English, HCMC University of Education

Code number: CS.2014.19.22

Coordinator: Nguyen Ngoc Vu

Implementing Institution : Department of English HCMC University of Education Cooperating Institution(s)

o Department of English HCMC University of Education

Duration: from 06/2013 to 12/2014

1 Objectives:

Evaluate the current situation of students’ mobile learning on the following aspects: device readiness, advantages and disadvantages in students’ learning styles; advantages and disadvantages in mobile learning; students’ attitudes towards m-learning Suggestions for improvement of mobile learning is made based on the research findings

2 Main contents:

- Conducting preliminary research on teaching methodologies that can

be used in mlearning environment

- Compile and edit materials in English (including movies) for teaching the course of “English – Vietnamese Contrastive Linguistics”, “Cognitive Linguistics”, “Intel Teach Essentials”, ELT1 & 2

- Teach pilot courses on the mobile learning system including “English – Vietnamese Contrastive Linguistics”, “Cognitive Linguistics” and

“Computer Assisted Language Learning”

- Report major advantages, disadvantages and make suggestions for improvement

Trang 8

- Report on mobile learning issues

- Publish 1 academic report using data collected from the research:

Nguyen Ngoc Vu (2016) An investigation of Vietnamese students’ learning

styles in online language learning T ạp chí khoa học xã hội và nhân văn ĐHSP TP.HCM, số 35, 3-10

Trang 9

Chương 1: Giới thiệu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo báo cáo của International Telecommunications Union (ITU, 2011), toàn

thế giới có 5,9 tỉ thuê bao điện thoại và 79% số người dùng điện thoại có kết nối internet thông qua điện thoại tại các nước đang phát triển vào cuối năm 2011 Xu hướng này cũng thể hiện khá rõ nét tại Việt Nam Báo cáo đầu năm 2014 của tổ

chức “We are the social” cho biết hiện tại số thuê bao điện thoại của Việt Nam là hơn 134 triệu và tỉ lệ người dùng internet đạt 39% dân số Các nghiên cứu từ những năm 2004 (Colley & Stead) tại Hoa Kỳ cũng chỉ ra rằng điện thoại di động là phương tiện liên lạc rất phổ biến cho thanh niên ở độ tuổi từ 16-24 Điện thoại di động cũng tương đối rẻ tiền hơn so với máy tính xách tay Chúng có thể được sử

dụng trong việc học của sinh viên bởi vì đối với sinh viên ngày nay “công nghệ đã

trở nên phổ biến, quen thuộc, rẻ, dễ tiếp cận và xuất hiện ở mọi khoảnh khắc cùng

với một loạt các hoạt động khác trong đời sống xã hội của giới trẻ” (Traxler, 2008, tr.18)

Tổ chức NMC Horizon vào năm 2012 (Johnson và các cộng sự, 2012) đã đánh giá mobile learning là một hiện tượng cần theo dõi sát sao trong giáo dục đại học Ngày càng có nhiều trường đại học cung cấp tài liệu học tập và dịch vụ cho sinh viên thông qua thiết bị di động trong khuôn viên trường Đại học Duke của Hoa Kỳ vào năm 2005 đã trang bị cho mỗi tân sinh viên một máy iPod (Menzies, 2005) Các trường đại học khác của Mỹ như George Fox, Duke (Brookshire, 2007; Raths, 2010)

và Georgia State (Sellers, 2003; Brookshire, 2007), Abilene Christian University đã cung cấp dịch vụ audio podcast để cho sinh viên tiếp cận với các bài giảng được thu

âm từ đầu những năm 2000 Một số trường đại học cũng đã phát triển các apps sử

dụng trên điện thoại để giúp sinh viên tìm thông tin về các khu vực trong khuôn viên trường, lịch của các sự kiện trong trường và các thông tin hỗ trợ công tác quản lý như Đại học Oxford (Mobile Oxford, 2011), Đại học Mở (Kukulska – Hulme, 2007)

ở Vương Quốc Anh và Đại học Curtin Technology (Oliver, 2005), Đại học Queensland (Cobcroft và các cộng sự, 2006) ở Úc Điểm chung ở các trường kể trên

là việc sử dụng điện thoại di động như là một phương tiện truyền tải thông tin và hỗ

trợ, quản lý việc học của các khóa học trong trường

Một số nhà nghiên cứu cho rằng 80% người dùng internet trên toàn cầu sẽ truy

cập internet qua điện thoại di động (Johnson, Adams & Cummins, 2012) Điều này

Trang 10

có nghĩa là điện thoại di động có thể dùng để hỗ trợ rất nhiều hình thức học tập khác nhau, đơn giản nhất là hỗ trợ sinh viên truy cập tài liệu học tập và cao hơn là những ứng dụng trong các khóa học cụ thể Một trong những điểm nhấn đáng chú ý ở báo cáo 2012 của tổ chức Horizon Higher Education Review là sinh viên muốn được

học ở bất kì nơi nào, lúc nào mà họ muốn (Johnson, Adams & Cummins, 2012) Trong khi khá nhiều trường đại học ở các nước đã đi tương đối xa trong việc khai thác thiết bị di động mà người học sở hữu phục vụ việc đào tạo và quản lý thì lĩnh vực này còn khá mới mẻ ở Việt Nam Hầu hết các dự án mobile learning hiện nay ở các trường đại học Việt Nam mới đang ở bước thăm dò, thử nghiệm Trong điều kiện ngân sách dành cho giáo dục đại học ngày càng có những ưu tiên chi mới thì việc tận dụng nguồn lực thiết bị từ sinh viên sẽ giảm đáng kể chi phí đầu tư trang thiết bị, bảo trì thiết bị đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo nếu có cách sử dụng

hiệu quả Chính vì vậy, việc triển khai hệ thống mobile learning thí điểm ở trường ĐHSP TP.HCM là điều cần thiết mặc dù trong điều kiện triển khai hiện tại, đối tượng thụ hưởng mới chỉ là sinh viên khoa tiếng Anh của trường ĐHSP TP.HCM

2 Mục tiêu của đề tài

Đề tài “Dạy học m-learning trên các thiết bị di động tại khoa Anh ĐHSP TP.HCM: Đánh giá việc học tập của sinh viên và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu

quả” hướng đến các mục tiêu chủ yếu sau đây:

a) Phát triển được hệ thống quản lý học tập có giao diện tương tác, hiển

thị tốt các nội dung học tập trên điện thoại di động

b) Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng kết hợp dạy online với

dạy học giáp mặt (face to face)

c) Phát triển các kĩ năng quan trọng cần có của giáo viên tiếng Anh tương lai: kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin, kĩ năng tự học & kĩ năng cộng tác

Ngoài những nhiệm vụ đã đăng kí khi đề xuất nghiên cứu, chúng tôi cũng tiến hành nghiên cứu bước đầu về tính hiệu quả của việc giảng dạy mobile learning theo

mô hình tích hợp so với cách thức giảng dạy truyền thống Một nhiệm vụ khác mà nhóm nghiên cứu đặt ra là tìm hiểu những khó khăn của người học và đề xuất những

giải pháp xây dựng một hệ thống mobile learning thực sự hiệu quả

Trang 11

3 Phương pháp nghiên cứu và trình tự tiến hành

Do đây là đề tài ứng dụng với sản phẩm là một hệ thống mobile learning nên chúng tôi chủ yếu tập trung vào sản phẩm đã đăng kí Để thực hiện được sản phẩm, chúng tôi thực hiện nghiên cứu thứ cấp: tổng hợp các lý thuyết, mô hình dạy học liên quan đến mobile learning

Ngoài nhiệm vụ xây dựng hệ thống mobile learning, chúng tôi cũng đánh giá

hiệu quả của việc dạy học trên hệ thống này thông qua dạy thử nghiệm khóa học mà mình đã xây dựng Việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu nêu ra được thực hiện theo thiết kế nghiên cứu khảo sát triển khai từ chính hệ thống mobile learning này Tuy nhiên, do đây chỉ là phần phụ của đề tài, chúng tôi chỉ báo cáo các dữ liệu khảo sát đáng chú ý ở chương cuối cùng trong báo cáo này Báo cáo này được xây dựng trên

cơ sở kế thừa đề tài nghiên cứu trước đây của tác giả về hệ thống e-learning

Trang 12

Chương 2: Tổng quan về dạy học trên các thiết bị di động

1 Các hình thức học tập với sự hỗ trợ của CNTT

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong giáo dục đại học, nhiệm vụ duy trì sự chú ý

của sinh viên với các hoạt động lên lớp luôn là một thách thức dành cho giảng viên (Cronje 2006; Hirumi 2002; Vrasidas 2000) Chính vì vậy mà các nhà giáo dục luôn tìm cách thiết kế các họat động học tập sao cho có thể thu hút sự hứng thú của người

học đồng thời làm cho họ tích cực, chủ động hơn trong hoạt động học tập của mình Maltby, Gage và Berliner (1995) đã từng đề xuất mười cách giảm sự nhàm chán cho sinh viên và khuyến khích họ tham gia nhiều hơn vào bài giảng, chẳng hạn như đa

dạng hóa các hoạt động học tập, thay đổi cách thức giao tiếp, lồng thêm vào các

hoạt động thể chất, tăng thêm yếu tố hài hước, đặt câu hỏi, tạo điều kiện cho người

học tự nêu câu hỏi, giảm bớt khoảng cách giao tiếp giữa giảng viên với học viên và

sử dụng tài liệu phát thêm

Rất nhiều ý tưởng để khuyến khích người học tham gia vào bài giảng nêu trên có

thể được thực hiện một cách hiệu quả với sự hỗ trợ của một hệ thống dạy học di động Hệ thống phản hồi trong một hệ thống học tập di động có thể dễ dàng cho phép giáo viên quản lý việc tương tác của sinh viên và cung cấp thêm các phản hồi

của mình (Poirier & Feldman 2007) Với sự hỗ trợ của hệ thống học tập di động,

giảng viên cũng có thể dễ dàng vượt qua các trở ngại trong một lớp học đông học viên như điểm danh tự động, phát handouts nhanh chóng và biến lớp đông thành

một ưu thế trong việc kiến tạo tài nguyên học tập dựa trên sự tham gia của người

học

Từ khi internet bắt đầu trở nên phổ biến, các nhà giáo dục đã tìm cách tích hợp

những ưu điểm của nó với việc giảng dạy trong trường đại học và nhiều khái niệm

mới đã ra đời để mô tả việc kết hợp việc giảng dạy truyền thống với một hệ thống

hỗ trợ qua internet như “hybrid learning” (học hỗn hợp), “blended learning” (học

kết hợp) và “flipped classroom” (lớp học đảo ngược) Trước khi trình bày khái niệm

về học tập di động (mobile learning), trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi muốn được làm rõ thêm về ba khái niệm vừa nêu:

a Học hỗn hợp (Hybrid learning)

Theo định nghĩa của Brown (2001), học hỗn hợp là hình thức học mà giảng viên thay thế một số phần của việc học giáp mặt truyền thống bằng các hoạt động

Trang 13

học tập online Hiểu theo nghĩa này, một khóa học hỗn hợp bổ sung, củng cố và tăng cường cho các buổi học giáp mặt (McFarlin 2008)

b Học kết hợp (Blended learning)

Học kết hợp là cách tiếp cận kết hợp môi trường học tập giáp mặt truyền

thống với môi trường học được hỗ trợ mạnh mẽ bởi công nghệ (Rooney 2003) Ở phương pháp học tập này, chúng ta thấy sự xuất hiện của một lý thuyết học tập mới

kết hợp sức mạnh của các hệ thống quản lý học tập với hình thức giảng dạy truyền

thống với mục đích cao nhất là đáp ứng được yêu cầu của người học trong những hoàn cảnh khác nhau (Apsden & Helm 2004)

c Lớp học đảo ngược (Flipped classroom)

Lớp học đảo ngược là hình thức mới nhất của học kết hợp Trong mô hình lớp

học đảo ngược, giảng viên tạo video bài giảng để sinh viên theo dõi ở nhà và thời gian học giáp mặt trực tiếp trong lớp được sử dụng nhiều hơn cho các hoạt động tương tác và thảo luận (Tucker 2012) Với lớp học đảo ngược, giảng viên có thể giải quyết hiệu quả hơn việc giao bài tập về nhà cho sinh viên cũng như giám sát việc tự

học của sinh viên (Berrett 2012)

2 Khái niệm học tập di động

Trong vòng một thập kỉ qua, việc sử dụng kết nối internet không dây và các thiết

bị học tập di động để tạo thêm cơ hội học tập cho sinh viên đã tăng đáng kể và kéo theo đó là những nghiên cứu về tác động của học tập di động (Vavoula, 2005; Buedding & Shroer, 2009) Các loại thiết bị phục vụ học tập di động này đã đẩy

mạnh việc giao tiếp và tương tác giữa sinh viên với giảng viên (Khaddage, Lanham

& Zhow, 2009) Định nghĩa về học tập di động (m-learning) cũng có những thay đổi dựa trên các yếu tố sự di động của người học, thiết bị kết nối và mối quan hệ

giữa m-learning với m-learning

Theo Georgieva, Smrikarov & Georgiev (2005), m-learning chính là việc sử

dụng các thiết bị di động có kết nối không dây để việc học có thể diễn ra ở bất kì lúc nào, bất kì nơi đâu Naismith và các cộng sự (2004) thì lại định nghĩa m-learning theo hướng sử dụng các thiết bị di động như điện thoại thông minh, iPod, máy palmtop, laptop, thậm chí là cả máy ảnh số hay USB trong quá trình dạy và học Keegan (2005) thì lại tập trung vào khía cạnh di động trong định nghĩa về m-learning Các thiết bị có tính di động cao như điện thoại thông minh, thiết bị cầm

Trang 14

tay, máy palmtop được Keegan (2005) xếp vào nhóm thiết bị m-learning Cũng theo Keegan (2005), máy tính xách tay không được tính là thiết bị di động m-learning Trong các nghiên cứu khác, m-learning được xem là sự mở rộng của m-learning

với sự tập trung chủ yếu dành cho việc sử dụng các thiết bị di động Trifonova & Ronchetti (2003) định nghĩa m-learning chính là hình thức m-learning thông qua các thiết bị di động nhỏ gọn trong sinh hoạt hàng ngày Cùng ý kiến như vậy, Pinkwart

và các cộng sự (2003) xem m-learning là bước tiếp theo của m-learning với đặc trưng là sử dụng các thiết bị di động phục vụ cho việc giảng dạy và học tập Như

vậy, học tập di động có thể được định nghĩa là hình thức học tập giao thoa giữa các thiết bị di động với việc học qua web để tạo ra môi trường học tập bất kì khi nào và

bất kì nơi đâu (Khaddage, Lanham & Zhow, 2009) Tuy nhiên, những khác biệt giữa m-learning và m-learning cũng cần được định nghĩa rõ ràng hơn về khía cạnh công nghệ, người học và phương thức giao tiếp Một hình thức học tập khác cũng cần được nhắc đến trong sự so sánh này là học tập từ xa (distant learning) Gerogiev và các cộng sự (2004) cho rằng m-learning là một hình thức của m-learning và m-learning là một hình thức của d-learning như sơ đồ dưới đây thể hiện:

Trang 15

Hình 1: M-learning trong m ối liên quan với m-learning và d-learning (Goergiev và các c ộng sự, 2004)

Một nhà nghiên cứu khác, Peter (2007) lại không đồng tình với việc xếp learning vào làm bộ phận của m-learning Peter (2007) đưa ra một mô hình học tập linh họat “đúng lượng cần dùng, đúng lúc và đúng người” Theo mô hình này thì cả m-learning và m-learning đề là những tập hợp con của mô hình học tập linh hoạt Trong mô hình này, mặc dù có sự giao thoa giữa m-learning và m-learning nhưng m-learning có những đặc điểm riêng và không phải là tập con của m-learning như hình minh họa dưới đây:

Trang 16

m-Hình 2: Mô hình h ọc tập linh hoạt của Peter (2007)

Tổng hợp các phân tích khác nhau từ nhiều nhà nghiên cứu (Attewell, 2005; Laouris & Eteokleous, 2005; Traxler, 2007), chúng ta có thể so sánh sự khác biệt

giữa m-learning và m-learning như sau:

Trang 17

3 Học tập di động trong quan hệ với các lý thuyết học tập

Theo Naismith và các cộng sự (2004), học tập di động là hình thức học linh hoạt

có thể đáp ứng yêu cầu của nhiều mô hình lớp học hay hoạt động học tập được thiết

kế theo những lý thuyết học tập khác nhau Bản chất của học tập di động là khả năng tạo hứng thú cho người học và từ đó tăng cường động cơ học tập bên trong nên

nó có thể được áp dụng trong nhiều kiểu lý thuyết dạy học sau đây:

Kết nối mạng Mạng có dây Mạng không dây

Thiết bị sử dụng Máy tính để bàn và máy tính

xách tay

Điện thoại thông minh, máy tính bảng, các thiết bị có thể đeo được

Khả năng tiếp cận Bất kì lúc nào Bất kì nơi đâu

- Học tập ngoài lớp

- Chú trọng các hoạt động học tập

Đặc điểm giao tiếp

giữa giảng viên và

sinh viên

(asynchronous)

- Có thể có sự ngưng trệ trong 1 thời gian

- Được lên kế hoạch

- Tức thời (synchronous)

- Giao tiếp thực hiện ngay khi cần

- Không được lập kế

hoạch trước Đặc điểm giao tiếp

giữa sinh viên với

- Thực hiện bất cứ khi nào, bất cứ nơi đâu

- Tương tác diễn ra nhiều, chủ yếu là tương tác cá nhân với nhau

Trang 18

của hoạt động học tập theo thuyết hành vi Đặc biệt, hệ thống m-learning có thể đưa cho người học những câu hỏi trắc nghiệm về nội dung bài học, thu thập phản hồi

của người học một cách dễ dàng và nhanh chóng đưa ra các phân tích, phản hồi dựa trên việc gửi tin nhắn hay kết nối mạng không dây (Naismith và các cộng sự, 2004)

b Thuyết học tập kiến tạo

Thuyết học tập kiến tạo chú trọng đến khả năng người học phát triển kiến

thức thông qua việc bản thân họ chủ động kiến tạo những ý tưởng hay khái niệm

mới dựa trên cả kiến thức trước đây lẫn hiện tại Với điện thoại thông minh hiện nay, sinh viên có thể nhanh chóng tạo nội dung học tập, kiến thức và chia sẻ nó với

bạn bè của mình bất kì khi nào, nơi nào mà họ muốn Đặc biệt, một số hệ thống learning còn có thể cho người học tham gia những trò chơi nhập vai để tăng cường hơn nữa khả năng khám phá và tạo ra kiến thức mới ở người học (Corbeil & Valdes-Corbeil, 2007)

m-c Thuyết học tập theo tình huống (situated learning theory)

Các giờ học tập theo tình huống tập trung vào các hoạt động học tập diễn ra trong hoàn cảnh thực tế của tình huống học tập Chính môi trường thực tế này là loại tài nguyên học tập quan trọng nhất cho người học Trong học tập theo tình huống, môi trường học tập hoàn toàn có thể được lập kế hoạch trước bởi giáo viên Ví dụ như giáo viên có thể cho học sinh đi tham quan một bảo tàng, quan sát các loại cây

cỏ hay động vật ở ngoài trời Với sự ra đời của công nghệ thực tế ảo (virtual reality), các hệ thống m-learning hỗ trợ rất đắc lực cho các giờ học tình huống như thế này

Chẳng hạn như khi tham quan một bảo tàng nghệ thuật mà sinh viên không biết một tác phẩm nghệ thuật nào đó thì có thể dùng điện thoại thông minh của mình scan hình ảnh chụp được và sẽ có đầy đủ chi tiết về tác phẩm mình muốn biết

d Thuyết học tập cộng tác (collaborated learning theory)

Trang 19

Điểm nhấn của lý thuyết học tập cộng tác chính là các tương tác xã hội từ phía người học (Naismith và các cộng sự, 2004) Việc phủ sóng truy cập internet không dây rộng rãi ngày nay cho phép người học có thể liên lạc, chia sẻ dữ liệu, tài

liệu, tin nhắn một cách rất dễ dàng Ngoài ra, các hệ thống học tập di động hiện nay cũng đều có nhiều công cụ cho phép người học cộng tác với nhau một cách hiệu quả như wiki, glossary, forum hay workshop Khi internet không dây càng phát triển và thiết bị kết nối di động càng rẻ đi thì lý thuyết học tập cộng tác càng có vị trí quan

trọng trong các hệ thống dạy học di động

e Lý thuyết học tập suốt đời

Thuyết học tập suốt đời chú trọng vào các hoạt động học tập diễn ra bên ngoài

một môi trường học tập mang tính trường lớp truyền thống Học tập suốt đời có thể

diễn ra thông qua những nỗ lực chủ động từ phía người học như đăng kí tham gia khóa học bồi dưỡng nghiệp vụ cần thiết cho bản thân Tuy nhiên, hoạt động học tập

suốt đời đôi khi cũng diễn ra một cách tình cờ thông qua việc xem tivi, đọc báo hay nói chuyện với người khác Với một thiết bị di động lúc nào cũng trong tình trạng

kết nối sẵn sàng thì rõ ràng học tập di động là lựa chọn lý tưởng cho việc đẩy mạnh

học tập suốt đời cho người học

4 Tiềm năng của việc dạy học trên các thiết bị động đối với giáo dục đại học

Theo Cochrane (2010), tiềm năng chính của dạy học trên các thiết bị di động là

nó có thể kết nối các mô hình học tập do giảng viên thiết kế với mô hình học tập người học làm trung tâm nhưng đồng thời cũng tạo cho người học khả năng học theo nhu cầu riêng mà các hình thức giảng dạy truyền thống không thể có được

Khả năng cá thể hóa hoạt động học tập và thích ứng linh hoạt được với nhiều mô hình dạy học khác nhau ở nhiều điều kiện giảng dạy khác nhau chính là lợi điểm chính của việc dạy học trên các thiết bị di động so với các mô hình truyền thống

Có ba lý do chính mà Kukulska-Hulme (2005) cho rằng các trường đại học nên chào đón học tập di động:

- Cung cấp khả năng truy cập đến các nguồn tài nguyên tốt hơn cho người

Trang 20

Trong một nghiên cứu khác, Vavoula (2005) so sánh sinh viên có sử dụng các thiết bị di động với những sinh viên không sử dụng thiết bị di động trong học

tập và phát hiện ra rằng những sinh viên có tham gia các hoạt động học tập trên thiết

bị di động thì tương tác nhiều hơn, có các kết nối tốt hơn và cũng mạnh hơn trong

việc giao tiếp, cộng tác

Khả năng hỗ trợ hiệu quả việc học của sinh viên từ những hệ thống dạy học

di động (m-learning) cũng được khẳng định thêm trong nghiên cứu của Shih & Mills (2007) Các tác giả này kết luận rằng khi sử dụng hệ thống m-learning, mức

độ hứng thú học tập của sinh viên có tăng lên bởi các em đánh giá cao tính linh hoạt

và tiện lợi khi sử dụng điện thoại di động của mình tham gia các hoạt động học tập Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng nhờ có hệ thống m-learning mà sinh viên và giảng viên tương tác nhiều hơn và sinh viên cũng được khuyến khích hợp tác với nhau nhiều hơn Chính vì vậy mà Caudill (2007) cho rằng m-learning không chỉ cho phép người học truy cập nguồn tài nguyên học tập có tính tương tác mà còn giúp họ có

khả năng học tốt hơn thông qua các hoạt động thảo luận và tương tác

Một tiềm năng lớn khác của m-learning trong giáo dục đại học là cách nó kết nối hình thức học tập chính thống trên lớp với các hình thức học tập phi chính thống ngoài lớp học (Duncan-Howell & Lee, 2007) Việc học không chỉ gói gọn ở một không gian hay thời gian cụ thể và giáo dục truyền thống cũng không thể cung cấp người học tất cả những kiến thức và kĩ năng cần thiết (Sharples, Corlett & Westmancott, 2002) Ngoài ra, m-learning cũng gỡ bỏ một số đặc điểm cứng nhắc

của giáo dục truyền thống và điều này làm cho nó trở nên hấp dẫn với người học (Attewell, 2005) Khi xem xét lại các dự án học tập di động ở châu Âu, Kukulska-Hulme và các cộng sự (2009) kết luận rằng việc kết hợp giữa các loại công nghệ di động có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều cho trải nghiệm học tập Nhìn chung, đa số các ý

kiến đều đồng ý rằng việc kết hợp một cách hợp lý giữa trải nghiệm học tập truyền

thống với trải nghiệm học tập di động sẽ mang lại hiệu quả cao cho giáo dục đại

học

Mặc dù các ưu điểm của mô hình học tập di động được thừa nhận rộng rãi trong các nghiên cứu triển khai ở bậc đại học và sau đại học, mô hình học tập m-learning cũng có một số khuyết điểm và hạn chế đã được các nhà nghiên cứu chỉ ra như sau:

Trang 21

- Những hạn chế về tính năng sử dụng của bản thân các thiết bị di động (Hashemi và các cộng sự, 2011; Park, 2011): Bản thân các thiết bị di động thường có những hạn chế như màn hình nhỏ, bộ nhớ kém, tốc độ kết

nối mạng chậm, thời lượng pin sử dụng ngắn và bàn phím rất nhỏ so với các thiết bị như máy tính để bàn Ngoài ra, màn hình của các thiết bị m-learning cũng không có khả năng hiển thị độ phân giải cao nên một số tài nguyên học tập có thể hiển thị rất tốt trên máy tính thông thường nhưng không hiển thị được trên thiết bị m-learning (Barker và các cộng sự, 2005) Một hạn chế cố hữu khác là các thiết bị di động đa số có khả năng

xử lí hạn chế và chúng có nhiều biến thể hệ điều hành khiến cho việc chia

sẻ, trao đổi giữa các thiết bị khác nhau không thuận lợi

- Hạn chế về tâm lý và thói quen sử dụng của người học: Các nghiên cứu

của Park (2011) và Wang, Wu & Wang (2009) chỉ ra rằng sinh viên sẵn sàng sử dụng các thiết bị di động cho nhu cầu giải trí như là nghe nhạc,

nhắn tin cho bạn và sử dụng các mạng xã hội hơn là các mục đích học tập

- Vấn đề an ninh mạng và an toàn: Các thiết bị di động dễ bị gãy, vỡ, hư

hỏng và cũng dễ bị mất trộm hơn máy tính để bàn hay máy tính xách tay Điều này có thể là trở ngại tương đối lớn đối với tầng lớp sinh viên có điều kiện kinh tế khó khăn hiện nay (Barker và các cộng sự, 2005)

- Những hạn chế về mặt sư phạm: Park (2011) nhận xét rằng các hoạt động

học tập m-learning dễ gây mất tập trung cho người học nhiều hơn và điều này có thể cản trở việc học

- Chi phí vận hành: Nhìn chung, chi phí mua sắm các thiết bị m-learning và thiết lập hạ tầng cho việc dạy học m-learning vẫn còn tốn kém Bên cạnh chi phí cho hệ thống kết nối không dây tốc độ cao thì chi phí cho việc sửa

chữa, duy trì thiết bị, tập huấn cho giáo viên và sinh viên là không nhỏ (Barker và các cộng sự, 2005)

Trong một nghiên cứu khác, Yardanova (2007) cũng chỉ ra ba thách thức cơ bản

về mặt kĩ thuật và xã hội khi triển khai m-learning trong giáo dục: khả năng chấp

nhận của người học, các đặc tính kĩ thuật của hệ thống m-learning và các thiết bị kết

nối của sinh viên Để có thể khắc phục được những thách thức trên, Yardanova (2007) cho rằng tài nguyên học tập cần phải được truyền đến các thiết bị kết nối của người học ở dạng các module riêng lẻ và chúng cần phải được sắp xếp theo một cách thật linh hoạt và thân thiện với người dùng Ngoài ra, tác giả cũng cho rằng khả năng bảo mật dữ liệu người dùng và tính riêng tư trong hệ thống m-learning cũng là

Trang 22

yếu tố quan trọng cho việc triển khai và xây dựng một hệ thống học tập di động hiệu

quả

Nhìn chung, sinh viên đại học có khả năng sẵn sàng cho mô hình học tập learning cao hơn hẳn so với học sinh phổ thông do ở ở độ tuổi này, các em sử dụng thiết bị di động cá nhân rất phổ biến và một số lớn cũng đã quen với các hệ thống m-learning được sử dụng ở trường phổ thông Tuy nhiên, m-learning vẫn còn đang ở giai đoạn phát triển sơ khai và để có thể vượt qua những thách thức trong triển khai thì việc trả lời câu hỏi về mức độ sẵn sàng của người học là cần thiết

m-Đã có một số nghiên cứu cách đây khoảng 10 năm về khả năng sẵn sàng của người học cho việc học tập di động Trifonova, Georieva và Ronchetti (2006) nghiên cứu việc sử dụng m-learning ở hai trường đại học tại châu Âu: Đại học Trento, Ý và Đại học Ruse, Bulgaria Tại hai trường này, sinh viên được hỏi về thiết

bị mình đang sử dụng, đánh giá của các em về các hệ thống học tập và những dịch

vụ mà hệ thống học tập di động nên cung cấp Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng thái độ của sinh viên đối với việc sử dụng hệ thống m-learning phụ thuộc nhiều vào cách thức các em đã sử dụng các hệ thống m-learning trước đó Nhìn chung, những sinh viên đã từng sử dụng các công cụ m-learning trước đó thường có mức độ hài lòng cao với các dịch vụ và có thái độ tích cực đối với việc học trong hệ thống m-learning Giá cả của thiết bị và giá của các loại dịch vụ mà sinh viên sử dụng cũng là

những yếu tố quan trọng cho việc chấp nhận sử dụng hệ thống m-learning của sinh viên Ở khía cạnh giới tính, nghiên cứu cũng cho thấy rằng sinh viên nam thích sử

dụng hệ thống m-learning hơn sinh viên nữ; sinh viên nữ chuộng hình thức học tập truyền thống nhiều hơn Trong một nghiên cứu tương tự, Corbeil & Valdes-Corbeil (2007) khảo sát ý kiến của sinh viên và giảng viên về việc sử dụng các thiết bị di động trong hoạt động học tập và giảng dạy Kết quả cho thấy cả giảng viên và sinh viên vẫn chưa hoàn toàn sử dụng các công nghệ di động vào hoạt động học tập và

giảng dạy Họ sử dụng thiết bị di động ở trường nhưng vẫn chủ yếu phục vụ mục đích giải trí Tuy nhiên, một phần lớn sinh viên cho rằng các em đã sẵn sàng cho

học tập di động

Ở góc độ khai thác hệ thống m-learning để cung cấp các dịch vụ có trả phí từ phía người học, Economides & Grousopoulou (2009) tìm hiểu thái độ của sinh viên

cả nam lẫn nữ đối với việc sử dụng thêm các dịch vụ di động Nghiên cứu này cho

thấy quan điểm của sinh viên đối với các dịch vụ mà hệ thống m-learning cung cấp

Trang 23

4.1

4

4.2 3.1

3.1

3.2 0 1 2 3 4 5 Send/receive SMS

Browse websites

Listen to music Check emails

Send/receive phone calls Use learning apps

How often do you use your smartphone/tablet for the following purposes? (1 = rarely; 5 = very often)

và khả năng thanh toán tiền cho các dịch vụ như vậy Kết quả thu được chỉ ra rằng

cả sinh viên nam lẫn nữ đều sẵn sàng trả tiền cho các dịch vụ m-learning mà họ sử

dụng tuy nhiên các sinh viên nữ cho rằng giá cả của các dịch vụ này nên thấp hơn

Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Ngọc Vũ (2016) cũng có nghiên cứu về mức độ sẵn sàng của sinh viên trong một trường đào tạo giáo viên cho việc học tâp di động Kết

quả nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên ở một nước đang phát triển như ở Việt Nam cũng đã sẵn sàng về trang thiết bị phần cứng, kết nối mạng và thói quen học tập

Mặc dù các dịch vụ học tập di động ở Việt Nam còn chưa phát triển nhưng một tỉ lệ khá lớn sinh viên được khảo sát trả lời rằng các em đã từng sử dụng điện thoại thông minh hay máy tính bảng cho các hoạt động học tập ngoại ngữ (67%) Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng thời gian mà sinh viên sử dụng các thiết bị di động

cá nhân của mình vẫn còn khá lớn thể hiện qua biểu đồ sau đây:

Trong nghiên cứu của mình, sau khi được sử dụng hệ thống học tập di động

phục vụ cho việc học, phần lớn sinh viên được khảo sát (80%) cho rằng hệ thống

học tập di động có hiệu quả trong việc hỗ trợ hoạt động học tập của mình (Nguyen Ngoc Vu, 2016)

Hình 3: M ức độ thường xuyên sủ dụng các dịch vụ trên thíết bị

di động của sinh viên (Nguyen Ngoc Vu, 2016)

Trang 24

Chương 3: Giới thiệu hệ thống m-learning tại Trường Đại học

Sư phạm TP.HCM

1 Khu vực trang chủ

Hệ thống m-learning được nhóm chủ nhiệm đề tài xây dựng có giao diện responsive, hiển thị tốt trên nhiều loại thiết bị kết nối khác nhau

Hình 4: H ệ thống m-learning trên màn hình hiển thị các thiết bị khác nhau

Khu vực login được bố trí theo cách giúp cho sinh viên có thể login vào nhanh chóng Sau khi login thành công, profile của người học hiển thị ở ngay phía dưới tên và hình ảnh của mình

Trang 25

Hình 5 : Login box trước khi đăng nhập

Hình 6 : Login box sau khi đăng nhập

Một điểm mới của hệ thống m-learning được nhóm phát triển xây dựng là khả năng sử dụng font awesome để trang trí

Trang 26

Các khóa học tiêu biểu được bố trí theo phong cách ribon để khách tham quan có thể xem khi lướt từ trái qua phải

Footer của trang chủ có 3 block

Ngày đăng: 03/01/2021, 12:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm