1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự tác động của khoa học công nghệ ở việt nam hiện nay

72 149 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 539,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Một trong những mối quan tâm của triết học là các hình thái ý thức xã hội, tức là các hình thái ý thức phản ánh tồn tại xã hội trong từng giai đoạn

Trang 1

MỤC LỤC

Trang Tóm tắt kết quả nghiên cứu……… .3 Phần mở đầu……… 5

Chương 1 Mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo đức… 11 1.1 Một số quan niệm khác nhau về mối quan hệ giữa khoa học – công

nghệ và đạo đức……… 11

1.1.1 Thuyết phản kỹ thuật……… 11 1.1.2 Thuyết kỹ trị……….12

1.2 Quan điểm mác-xít về mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo đức……….14

1.2.1 Khoa học và đạo đức với tính cách là các hình thái ý thức xã hội.…14 1.2.2 Vai trò của khoa học – công nghệ đối với các nấc thang giá trị đạo đức……….19 1.2.3 Vai trò định hướng của các quan niệm đạo đức đối với sự phát triển khoa học – công nghệ………25

Chương 2 Một số vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự tác động của khoa học – công nghệ: Nội dung và giải pháp……… 30 2.1 Nội dung một số vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự tác động của khoa

học – công nghệ……… 30

2.1.1 Sự phát triển của khoa học – công nghệ tạo ra những nguy cơ đe dọa trực tiếp sự sống của con người………30 2.1.2 Sự phát triển của khoa học – công nghệ ảnh hưởng đến lương tâm, đạo lý của con người………35 2.1.3 Sự phát triển của khoa học – công nghệ ảnh hưởng đến nhân cách của

2.2 Một số giải pháp mang tính định hướng trong việc giải quyết mối

quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo đức ở nước ta hiện nay……… 56

Trang 2

2.2.1 Phát triển kinh tế gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi

trường sinh thái……….56

2.2.2 Phát triển khoa học – công nghệ vì mục tiêu con người……….58

2.2.3 Xây dựng một nền tảng đạo đức vững chắc định hướng cho sự phát triển khoa học – công nghệ……… 64

Kết luận……… 68

Danh mục tài liệu tham khảo……… 70

Thuyết minh đề tài……… 73

Trang 3

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

Tên đề tài: Những vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự tác động của khoa học – công

nghệ ở Việt Nam hiện nay

Mã số: CS.2012.19.14

Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Ngọc Khá Tel : 091.802.9.802

E-mail: ngockhaqv@gmail.com

Cơ quan và cá nhân phối hợp: Không

Cơ quan chủ trì đề tài: Khoa Giáo dục Chính trị, trường Đại học Sư phạm TP Hồ

2 Nội dung chính:

- Mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo đức

- Một số vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự tác động của khoa học – công nghệ: Nội dung và giải pháp

3 Kết quả đạt được:

- Báo cáo khoa học

- Đĩa CD về các tư liệu đã khảo sát

- Bài báo khoa học

Trang 4

2 Main contents:

- The relationship between science-technology and moral issues

- Some moral issues coming from the influence science-technology: Problems and solutions

3 Results obtained:

- Science report

- CD of the materials collected

- Journal article

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại đang diễn ra hết sức mạnh mẽ

trên thế giới và tác động sâu sắc đến quá trình phát triển của các nước, nhất là các nước đang và chậm phát triển Nó trở thành nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy sự phát triển của xã hội, đưa nhân loại tiến đần đến một nền văn minh mới Bởi vậy,

để hòa vào dòng chảy chung, các nước chậm phát triển không thể không tiến hành

công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó khoa học – công nghệ có vị trí, vai trò cực

kỳ quan trọng

Một trong những khát vọng lớn nhất của con người là chinh phục tự nhiên, có được cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc Dưới ánh sáng của các thành tựu của khoa học – công nghệ hiện đại, con người đã dần dần thoát khỏi nỗi sợ hãi những tai họa của thiên nhiên Khoa học – công nghệ đã mang lại bao điều kỳ diệu, niềm tin vào sức mạnh của trí tuệ con người và mở ra trước mắt nhân loại chân trời rộng

mở về một tương lai huy hoàng Ngày nay, mỗi khi đứng nhìn những tòa nhà chọc trời giữa thành phố, những cây cầu dài rộng bắc qua sông, những chiếc máy bay kiêu hãnh bay giữa bầu trời trong xanh,…chúng ta thầm cảm ơn những điều kỳ

diệu mà khoa học – công nghệ mang đến cho nhân loại

Lẽ ra, cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học – công nghệ, con người

phải càng ngày càng được sống trong no ấm và hạnh phúc, trong một môi trường lành mạnh và an toàn Thế nhưng, có một nghịch lý đáng buồn là, song song với

những tiến bộ của khoa học – công nghệ, nhân loại lại ngày càng bất an về những

tai họa khủng khiếp do chính những thành tựu của mình mang lại Nhất là, trong

bối cảnh của nền kinh tế thị trường, ngoài sự tác động tích cực của khoa học –

công nghệ thì nó lại làm nảy sinh hậu quả tiêu cực đối với sự phát triển của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực đạo đức Bởi lẽ, bên cạnh những người đang cần mẫn chăm sóc cho vườn ươm hạnh phúc của nhân loại thì không ít kẻ lại áp dụng

những tiến bộ của khoa học – công nghệ để hủy diệt chính loài người Hoặc vì

những lý do cá nhân ích kỷ, trong quá trình nghiên cứu khoa học, có người đã

Trang 6

không ngần ngại xâm phạm đến quyền sống của người khác Hoặc, thậm chí những

tiêu cực được nảy sinh từ chính các thành tựu của khoa học – công nghệ

Sự tác động của khoa học – công nghệ đối với đạo đức mang tính hai mặt

Dựa vào khoa học – công nghệ, một mặt, con người nhận thức, đánh giá và lựa

chọn đúng đắn các giá trị đạo đức, từ đó điều chỉnh các hành vi của mình nhằm

thúc đẩy xã hội phát triển; nhưng mặt khác, con người có thể sử dụng khoa học –

công nghệ vì những lợi ích ích kỷ của mình, làm kìm hãm sự phát triển xã hội Tính chất và mức độ của sự tác động đó như thế nào vừa phụ thuộc vào các yếu tố như chế độ chính trị, cơ sở kinh tế – xã hội, nhu cầu và lợi ích giai cấp, dân tộc,…vừa phụ thuộc vào chính bản thân các thành tựu khoa học – công nghệ

Do vậy, làm rõ mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo đức, để từ đó nêu lên những vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự tác động của khoa học – công nghệ ở Việt Nam hiện nay là hết sức cần thiết cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn

Do đó, tôi chọn đề tài: “Những vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự tác động của khoa học – công nghệ ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu khoa học của

mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Một trong những mối quan tâm của triết học là các hình thái ý thức xã hội, tức

là các hình thái ý thức phản ánh tồn tại xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, bao gồm ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, tôn giáo, khoa học, đạo đức, văn hóa, Trong lịch sử phát triển của triết học, mối quan hệ giữa khoa học với các hình thái ý thức xã hội khác, như đạo đức, văn hóa, tôn giáo, ý thức chính trị và ý thức pháp quyền luôn là một vấn đề nhức nhối, trong đó các hình thái ý thức xã hội kia luôn dẫn đến những bi kịch nan giải cho khoa học

Chính vì thế, vấn đề mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo đức là một trong những vấn đề được giới lý luận và các nhà hoạt động chính trị quan tâm, nghiên cứu Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, khi bàn về mối quan hệ này, cũng như những vấn đề đạo đức

Trang 7

nảy sinh từ sự tác động của khoa học – công nghệ có các công trình nghiên cứu từ những khía cạnh khác nhau

Các công trình của các tác giả như Trần Khánh Dư (2002), Những thành tựu phát minh mới nhất trong khoa học – kỹ thuật thế kỷ XX, Nxb Khoa học – Kỹ thuật, Hà Nội, và Vũ Bội Tuyền (2003), Một số thành tựu khoa học – kỹ thuật nổi bật của thế kỷ XX, Nxb Thanh niên, Hà Nội: Các công trình này chủ yếu chỉ ra vị trí,

vai trò và ý nghĩa khoa học, thực tiễn của những thành tựu nổi bật mới nhất của khoa học – kỹ thuật thế kỷ XX

Tương tự như vậy, Tác phẩm Khoa học cơ bản thế kỷ XX đối với một số vấn đề lớn của triết học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 do Lê Văn Giang biên soạn

đã phân tích những vấn đề triết học của các thành tựu về vật lý học, hóa học, sinh vật học,…;

Tác phẩm của Vũ Cao Đàm (2010), Đạo đức của khoa học, Nxb Khoa học

– Kỹ thuật, Hà nội đã bàn về những vấn đề đạo đức đặt ra từ các phát minh trong vật lý học, đặc biệt là vấn đề sản xuất ra vũ khí nguyên tử của Mỹ;

Tác giả Nguyễn Văn Tuấn với công trình Tạo sinh vô tính và vấn đề sinh đạo đức, Nxb Khoa học – Kỹ thuật, Hà Nội, 2009 đã làm rõ những nội dung cơ

bản của tạo sinh vô tính, từ đó phân tích các vấn đề đạo đức nảy sinh;

Công trình của Đỗ Kiên Cường (2003), Khoa học và tâm linh, Nxb Trẻ,

TP Hồ Chí Minh đã phân tích các vấn đề đạo đức, văn hóa của khoa học, nhất

là vai trò của di truyền học trong nhân học phân tử, mối quan hệ giữa các thành tựu khoa học và quan niệm tôn giáo;

Tác phẩm của Nguyễn Đình Hòa (2009), “Khoa học và đạo đức”, Tạp chí Triết học, số 4 đã bàn về các quan niệm khác nhau về mối quan hệ giữa khoa

học và đạo đức, đặc biệt sự tác động của khoa học đối với đạo đức trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản

Tác giả Nguyễn Văn Việt (2003), “Ảnh hưởng của di truyền học đến bức

tranh giá trị lý tưởng về cuộc sống con người”, Tạp chí triết học, số 3 đã khái quát

những vấn đề triết học đạo đức, văn hóa từ sự phát triển của Di truyền học

Trang 8

Các công trình của các tác giả Đỗ Lan Hiền (2007), “Vấn đề xây dựng đạo

đức trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường”, Tạp chí Triết học, số 2; Trường Lưu (1998), Văn hóa đạo đức và tiến bộ xã hội, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội;

Nguyễn Đình Tường (2010), “Một số biểu hiện của sự biến đổi giá trị đạo đức

trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc phục”, Tạp chí Triết học, số 3; Nguyễn Duy Quý (chủ biên) (2006), Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Chí Mỳ (2004), Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Phan Hồng Sơn (2004), Văn hóa và phát triển: Nhận thức và vận dụng trong thực tiễn,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội: Các công trình này chủ yếu phân tích những khía cạnh đạo đức nảy sinh trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, từ đó nêu lên các giải pháp giải quyết

Các công trình của các tác giả Nguyễn Thanh Thịnh, Đào Duy Tính, Lê Dũng (1999), Quy hoạch phát triển hệ thống nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ ở Việt Nam (Một số vấn đề lý luận và thực tiễn), Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội; Danh Sơn (Chủ biên), Nguyễn Thị Anh Thu, Nguyễn Mạnh Huấn (1999),

Quan hệ giữa phát triển khoa học – công nghệ với phát triển kinh tế – xã hội trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Đỗ Minh Cương (1995), Những vấn đề cơ bản về quản lý khoa học và công nghệ, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội: Các công trình này chủ yếu nghiên cứu về các khía cạnh tổ chức, quản lý lĩnh vực khoa học – công nghệ ở Việt Nam hiện nay

Tác giả Phạm văn Tình (2005), Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội, số 173 đã

cung cấp các thông tin liên quan đến các thành tựu trong vật lý học và công nghệ sinh học, những đánh giá của các học giả về các thành tựu ấy;

Ngoài ra, còn có nhiều bài viết liên quan đến khía cạnh này hay khía cạnh khác của mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo đức

Có thể nói, có nhiều công trình, bài viết liên quan đến mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo đức, khai thác nó ở những góc độ, phương diện khác nhau

Trang 9

Tuy nhiên, từ lập trường mác-xít để làm rõ mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ

và đạo đức, nêu lên những vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự tác động của khoa học – công nghệ, nhìn chung chưa được tìm hiểu một cách thấu đáo

Do vậy, vấn đề này cần phải được khai thác, nghiên cứu ở một tầm lý luận mang tính hệ thống, khoa học, từ đó nêu lên các giải pháp mang tính định hướng trong việc giải quyết mối quan hệ này ở nước ta hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự tác động của khoa học – công nghệ, từ đó nêu lên một số giải pháp mang tính định hướng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo đức ở Việt Nam hiện nay

Để thực hiện được mục đích trên, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ sau: Thứ nhất, phân tích mối quan hệ biện chứng giữa khoa học – công nghệ và đạo đức

Thứ hai, làm rõ một số vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự tác động của khoa học – công nghệ

Thứ ba, nêu lên một số giải pháp trong việc giải quyết mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo đức ở nước ta hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của công trình là Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và Đảng Cộng sản Việt Nam về khoa học – công nghệ và đạo đức

Phương pháp xuyên suốt mà tác giả sử dụng là phương pháp biện chứng duy vật; ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp: thống nhất giữa phân tích và tổng hợp, lịch sử và lôgíc, khái quát hóa, trừu tượng hóa, hệ thống hóa,

5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Thành tựu của khoa học – công nghệ hiện đại hết sức đa dạng, vô cùng phong phú và phức tạp, nhưng lĩnh vực có tác động rất lớn đến đạo đức là Sinh vật học và

Trang 10

Vật lý học Do vậy, đề tài chủ yếu triển khai, phân tích, làm rõ một số vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự tác động của Sinh vật học và Vật lý học

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Về mặt lý luận, công trình góp phần làm rõ và sâu sắc thêm quan điểm triết học mác-xít về mối quan hệ biện chứng giữa khoa học – công nghệ và đạo đức, cũng như những vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự tác động của khoa học – công nghệ

Do vậy, nó có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng trong việc học tập và nghiên cứu triết học nói chung

Về mặt thực tiễn, việc nghiên cứu những vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự tác động của khoa học – công nghệ góp phần chứng minh tính đúng đắn và phù hợp của các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong Chiến lược phát triển khoa học – công nghệ và xây dựng nền tảng đạo đức mới Đồng thời, nó còn

có ý nghĩa khuyến nghị trong việc giải quyết mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo đức ở nước ta hiện nay

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, công trình bao gồm 2 chương và chia thành 4 tiết

Trang 11

Chương 1 Mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo đức

1.1 Một số quan niệm khác nhau về mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo đức

1.1.1 Thuyết phản kỹ thuật

Trong lịch sử tư tưởng triết học tồn tại những ý kiến khác nhau khi bàn về mối

quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo đức Một số nhà triết học tư sản như B

Rátxen, Karnai phủ nhận mối quan hệ này và cho rằng, khoa học – công nghệ không thể giải quyết được vấn đề mà các giá trị đạo đức đặt ra Theo họ, đạo đức

và khoa học – công nghệ không thể dung hòa với nhau Hoặc ý kiến khác thì cho rằng, khoa học – công nghệ hiện đại không đủ khả năng dẫn dắt các lý tưởng và hình thành đạo đức, bởi vì đạo đức luôn phụ thuộc vào sự điều khiển và chi phối của cơ cấu chính trị và bản chất của chế độ xã hội [Xem: 16, tr.25]

Phủ định mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo đức, về thực chất, là

từ bỏ các nguyên tắc đạo đức, không thừa nhận sự phản ánh của các chuẩn mực

đạo đức trong đời sống xã hội Quan điểm đó dẫn tới hai khuynh hướng: một là, cản trở, kìm hãm sự hình thành các giá trị đạo đức mới; hai là, xóa nhòa ranh giới

giữa những mục đích khác nhau của các phát minh khoa học – công nghệ

Sự phát triển mạnh mẽ và tác động to lớn của khoa học – công nghệ đến mọi mặt của đời sống xã hội trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đã dẫn đến những quan điểm trái ngược nhau, mà tiêu biểu là thuyết phản kỹ thuật và thuyết kỹ trị

Thuyết phản kỹ thuật coi khoa học, kỹ thuật và các hoạt động khoa học, kỹ thuật như là những tội ác do con người gây ra cho đồng loại Theo thuyết này, tình trạng suy giảm đạo đức và những vấn đề xã hội bức xúc trong xã hội phương Tây hiện đại, như con người trở nên cô đơn và quan hệ gia đình truyền thống bị rạn nứt, nạn thất nghiệp, nghèo đói, bệnh tật, bạo lực, v.v đều bắt nguồn trực tiếp từ chính

sự phát triển của khoa học, kỹ thuật Họ không thấy nguyên nhân sâu xa dẫn đến trình trạng đó nằm ở bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa Chẳng hạn, họ lên án di truyền học đang cố tình phá hủy môi trường sinh thái, những cấu trúc tạo hóa vốn được tạo ra từ hàng triệu năm trên hành tinh; họ lên án các nhà sinh học và những

Trang 12

người sử dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp, y học đang vi phạm những

giá trị đạo đức truyền thống Bởi vậy, từ chỗ coi khoa học – công nghệ là cội

nguồn của những nỗi bất hạnh, khổ đau của con người, thuyết phản kỹ thuật chủ

trương từ bỏ khoa học – công nghệ Và từ chỗ phủ nhận vai trò của khoa học –

công nghệ đối với sự phát triển xã hội, thuyết phản kỹ thuật đã đồng thời phủ nhận

mặt tích cực trong sự tác động của khoa học – công nghệ đối với sự hình thành

những giá trị đạo đức mới

Ngày nay, những nghiên cứu triết học về khoa học – công nghệ đã cho thấy khoa học – công nghệ giữ một vị trí trọng yếu trong đời sống đạo đức: chính ở trong khoa học – công nghệ mà bản chất đạo đức duy lý của con người được thể hiện ra Vì vậy, việc tách rời khoa học – công nghệ khỏi đạo đức hoặc đề cao, thổi phồng hay hạ thấp vai trò của khoa học – công nghệ sẽ gây nên thiệt hại cho cả khoa học – công nghệ lẫn đạo đức

1.1.2 Thuyết kỹ trị

Trái với thuyết phản kỹ thuật, thuyết kỹ trị lại cường điệu, thổi phồng đến mức tuyệt đối hóa vai trò của khoa học – công nghệ Nó cho rằng, toàn bộ sự phát triển của xã hội, trong đó có đạo đức, hoàn toàn phụ thuộc vào cơ chế của tiến bộ khoa học – công nghệ Thuyết kỹ trị bắt nguồn từ tư tưởng của nhà kinh tế học Mỹ

T B Vêblen (T B Veblen) vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, phát triển mạnh trong những năm 30 của thế kỷ XX Trong những năm 40, nhà xã hội học Mỹ J Bơnơm (J Burnham) đưa ra thuyết “cuộc cách mạng quản lý”, theo đó, chủ nghĩa tư bản sẽ được thay thế bằng “xã hội quản lý”, có nghĩa là việc điều khiển toàn bộ các quá trình kinh tế, chính trị – xã hội sẽ thuộc về những đại diện của một tầng lớp mới không có sở hữu cá nhân – các nhà kỹ thuật Trong những năm 50 của thế kỷ XX, A Bơli (A Berle) đưa ra luận đề về “cuộc cách mạng tư bản chủ nghĩa của thế kỷ XX” Trong những năm 60 – 70, tư tưởng kỹ trị được J Gonbrết (J Galbraith) phát triển trong học thuyết “xã hội học công nghiệp hóa mới” Đặc biệt, trong những năm 80 thế kỷ XX, thuyết kỹ trị lại được bổ sung bằng những luận điểm biện hộ cho kỹ thuật lộ liễu hơn Chẳng hạn, Robert Solow (nhà kinh tế học Mỹ, giải thưởng Nobel

Trang 13

1987) khẳng định yếu tố kỹ thuật trở thành nhân tố quyết định sự tăng trưởng kinh

tế, theo đó R Solow đã lấy nhân tố “vật” làm cơ bản mà xem nhẹ nhân tố “Người” trong sự phát triển xã hội [Xem: 34]

Kỹ trị (technocracy: Cai trị bằng khoa học – kỹ thuật ): Phương pháp cai trị xã hội bằng giới khoa học – kỹ thuật, là một xu hướng mới trong lịch sử quản lý nhà nước Thực chất của kỹ trị là đưa giới trí thức lên nắm quyền và áp dụng tri thức kỹ thuật vào quản lý nhà nước

Các nhà triết học và xã hội học tư sản cho rằng, một nền kỹ trị đúng nghĩa khi

cả ba nhân tố sau đây phải cùng tồn tại:

Thứ nhất, có sự thâm nhập thực sự của giới trí thức vào các cơ cấu cấp cao

của nền hành chính

Thứ hai, có sự lấn át của thể chế kỹ trị khi hoạch định các chính sách phát

triển quốc gia

Thứ ba, sự áp dụng rộng rãi các phương pháp kỹ trị khi hoạch định chính sách

vĩ mô

Dưới góc độ tổ chức, quản lý của các nước phương Tây, hệ thống hành chính

và hệ thống chính trị là hai thực thể tách rời nhau Các quyết sách phát triển quốc gia được tạo ra từ hệ thống chính trị và được thực hiện bởi hệ thống hành chính Nhưng khi bị “kỹ trị hóa”, một số thể chế của hệ thống hành chính trở nên lấn át và đảm đương việc hoạch định chính sách phát triển quốc gia thay cho vai trò của hệ thống chính trị

Chính điều đó đã tạo ra mâu thuẫn giữa các chính sách được tạo ra từ hệ thống chính trị và được thực hiện bởi hệ thống hành chính Nếu các chính sách là sản phẩm của các nhà kỹ trị thì nó phải là sản phẩm của việc tính toán kinh tế và kỹ thuật tối ưu; ngược lại, nếu các chính sách do hệ thống chính trị quyết định thì nó

là sản phẩm của sự mặc cả giữa các thế lực chính trị và xem thường các yêu cầu hiệu quả kinh tế

Tuy nhiên, những quan niệm triết học và xã hội học tư sản về vai trò lãnh đạo của các nhà chuyên môn kỹ thuật đối với đời sống xã hội, về sự tất yếu tập trung

Trang 14

quyền lực chính trị vào tay họ là nhằm mục đích hoàn thiện việc quản lý và để thoát

ra khỏi cuộc khủng hoảng trong xã hội tư bản chủ nghĩa

Với quan điểm đó, thuyết kỹ trị, một mặt, đã góp phần thúc đẩy quá trình nâng cao trình độ của con người; nhưng mặt khác, nó lại làm cho sự phát triển của con

người trở nên méo mó, què quặt, biến họ thành những người máy thuần túy Do vậy, việc xác lập vai trò của khoa học – công nghệ như một hình thức chủ quyền của ý chí con người, tất yếu dẫn đến sự xem thường, hạ thấp và làm nghèo những giá trị tinh thần, thậm chí làm suy thoái những giá trị đạo đức

Trái với quan niệm của các nhà triết học và xã hội học tư sản, triết học xít khẳng định giữa khoa học – công nghệ và đạo đức có mối quan hệ gắn bó, không tách rời nhau, chúng tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, những thành tựu của khoa học – công nghệ đóng vai trò là cơ sở, nền tảng của các nấc thang giá trị đạo đức; ngược lại, những quan niệm đạo đức có vai trò định hướng cho sự phát triển của khoa học – công nghệ

mác-1.2 Quan điểm mác-xít về mối quan hệ giữa khoa học – công nghệ và đạo đức

1.2.1 Khoa học và đạo đức với tính cách là các hình thái ý thức xã hội

 Khái niệm khoa học:

Một trong những mối quan tâm của triết học là các hình thái ý thức xã hội, tức

là các hình thái ý thức phản ánh tồn tại xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, bao gồm ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, tôn giáo, khoa học, đạo đức, văn hóa, Trong lịch sử phát triển của triết học, mối quan hệ giữa khoa học với các hình thái ý thức xã hội khác, như đạo đức, văn hóa, tôn giáo, ý thức chính trị và ý thức pháp quyền luôn là một vấn đề nhức nhối, trong đó các hình thái ý thức xã hội kia luôn dẫn đến những bi kịch nan giải cho khoa học

Theo nghĩa rộng, khoa học (xuất phát từ tiếng Latinh scientia, có nghĩa là tri thức hay hiểu biết), là hệ thống các tri thức phản ánh một cách đúng đắn bản chất

và các quy luật của hiện thực khách quan: quy luật tự nhiên, quy luật xã hội và quy luật tư duy Theo nghĩa hẹp, khoa học là hệ thống các tri thức lý thuyết và thực

Trang 15

nghiệm về giới tự nhiên, xã hội và con người, thu nhận được nhờ các phương pháp quan sát, thực nghiệm và giải thích các sự vật, hiện tượng của thế giới vật chất Khoa học có nguồn gốc từ rất xa trong lịch sử phát triển của nhân loại Gốc rễ của khoa học nằm ở kỹ thuật chế tác các công cụ sản xuất ở thời kỳ cổ đại, khi đó

lý thuyết khoa học là một bộ phận của triết học Do vậy, không phải ngẫu nhiên, triết học thời kỳ cổ đại có khuynh hướng chung là nền triết học tự nhiên, có đối tượng nghiên cứu bao quát mọi lĩnh vực của thế giới

Khoa học hiện đại bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, khởi nguồn từ các công trình của Plank (1990) và A Einstein (1905, 1916) – gắn liền với thuyết

lượng tử và thuyết tương đối – hai cột trụ của vật lý học hiện đại Đồng thời, phải

kể đến: Sự phát triển của toán học (hình học phi Euclide, hình học không giao hoán,…), hóa học (lý thuyết lượng tử của nguyên tử, tổng hợp các nguyên tố, phát hiện các đồng vị phóng xạ,…), sinh học (thuyết tiến hóa cổ điển và hiện đại, xây dựng cấu trúc ADN, sự phát triển của các khoa học về sự sống,…), y học (phát hiện ra penecillin, insulin, tổng hợp nhiều loại thuốc mới, phát triển các kỹ thuật cấy ghép tạng,…) và các chuyên ngành khác

Sự phát triển của xã hội hiện đại, khoa học không tách rời công nghệ, mà

những thành tựu của chúng tạo thành cơ sở lý luận và thực tiễn cho cuộc cách mạng khoa học – công nghệ lần thứ hai vào nửa cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX

Đó là một cuộc cách mạng, mà chỉ trong chưa đầy một thế kỷ đã thúc đẩy xã hội loài người tạo ra một lực lượng sản xuất “nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thời đại trước kia gộp lại” [19, tr.603], như C Mác và Ph

Ăngghen đã nêu trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản

Nội dung của khoa học – công nghệ mang tính khách quan, không phụ thuộc vào bản chất các giai cấp hay các thể chế chính trị – xã hội Nhưng mục đích của việc áp dụng các thành tựu của khoa học – công nghệ là chủ quan, nó gắn liền với lợi ích, hệ tư tưởng của các giai cấp nhất định; gắn liền với bản sắc, truyền thống, phong tục tập quán của các cộng đồng người trong xã hội

Trang 16

 Khái niệm đạo đức:

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, là một bộ phận quan trọng trong kiến trúc thượng tầng của xã hội Về mặt lịch sử, đạo đức xuất hiện cùng với

sự xuất hiện xã hội loài người, nó cung cấp cho con người những chuẩn mực tình cảm tốt đẹp Đạo đức có lợi thế là phản ánh bằng ý nghĩa xã hội cụ thể, do vậy nó

dễ đi vào lòng người

“Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực nhằm hướng dẫn con người tiến tới cái thiện, cái chân, cái mỹ chống lại cái ác, cái giả, cái xấu, Trong mỗi thời đại lịch sử, phù hợp với sự tiến

bộ của xã hội để con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình trong quan hệ giữa con người và con người, giữa con người và xã hội” [25, tr.13]

Đạo đức là sản phẩm của lịch sử xã hội, do cơ sở kinh tế – xã hội sinh ra và quyết định Tương ứng với mỗi hình thái kinh tế – xã hội là một hình thái đạo đức

nhất định Lịch sử nhân loại cũng là lịch sử phát triển của đạo đức, từ đạo đức của

xã hội công xã nguyên thủy đến đạo đức của xã hội chiếm hữu nô lệ, đạo đức phong kiến, đạo đức tư sản và ngày nay là đạo đức xã hội chủ nghĩa Mỗi hệ thống đạo đức ấy đều phản ánh và bảo vệ lợi ích của một giai cấp nhất định trong xã hội, gắn liền với truyền thống, bản sắc của mỗi dân tộc Do vậy, không phải ngẫu nhiên, khi phê phán Đuyrinh về sự thừa nhận có một thứ đạo đức vĩnh cửu cho mọi thời đại, thừa nhận những nguyên tắc đạo đức đứng trên lịch sử và trên cả những

sự khác biệt về tính cách dân tộc, Ph Ăngghen đã khẳng định: “Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ” [20, tr.137], và do vậy “từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác, nhưng quan niệm về thiện và ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường trái ngược hẳn nhau” [20, tr.137]

Các học thuyết đạo đức từ xưa đến nay đều đưa ra những quan điểm, chuẩn mực đạo đức khác nhau trong việc giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích của cá nhân

và lợi ích của xã hội Gbandzeladze viết: “Hệ thống đạo đức chỉ được đặt ra và chủ

Trang 17

yếu được đặt ra trong sự liên hệ giữa lợi ích của cá nhân và lợi ích của xã hội” [13, tr.12]

Không có chuẩn mực, quy tắc đạo đức nào chung cho mọi chế độ xã hội, càng không có một quan điểm, một hành vi đạo đức nào chung cho mọi giai cấp, mọi tầng lớp trong xã hội có phân chia thành giai cấp Bởi vì, những chuẩn mực đạo đức của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc, mỗi giai cấp, tầng lớp được hình thành trên

cơ sở trực tiếp là lợi ích của chính cộng đồng, dân tộc và giai cấp, tầng lớp ấy, những lợi ích này lại bị quy định bởi các điều kiện kinh tế – xã hội nhất định

“Chuẩn mực đạo đức đó là là một hệ chuẩn phổ quát nhất tạo nên một trật tự xã hội

tự giác Trước hết, nó được xác lập bằng sự cam kết giữa người này với người khác trong cộng đồng tạo thành lệ, quy tắc thành chuẩn mực, thành phong tục, tập quán, những điều nên làm và không nên làm được kiểm soát bằng dư luận xã hội Chuẩn mực đạo đức thường được quy định bởi các ứng xử cụ thể, hỗ trợ cho những giá trị

được cộng đồng, nhóm xã hội tin tưởng” [18, tr.341]

Chuẩn mực đạo đức là phương thức thực hiện, là cái cần phải có của đạo đức,

từ đó mới đặt ra cần khẳng định cái gì, cần phủ định cái gì, khuyến khích cái gì, ngăn cản cái gì Việc xác lập các chuẩn mực và quy tắc đạo đức của xã hội thông qua các phạm trù thiện – ác, lương tâm, danh dự, nghĩa vụ, trách nhiệm, Không phải ngẫu nhiên, để xây dựng nền tảng đạo đức trong chế độ xã hội chủ nghĩa, Hồ

Chí Minh đã đưa ra chuẩn mực thiện – ác trong các quan hệ đạo đức Người viết:

“Thiện và ác là hai cái mâu thuẫn luôn luôn đấu tranh gay gắt với nhau Cuộc đấu

tranh ấy phải trường kỳ gian khổ, nhưng cuối cùng thì ác nhất định thất bại, thiện nhất định thắng” [22, tr.136] Người nhấn mạnh: “Thực hành chí công vô tư, cần kiệm, liêm chính, thế là thiện Nếu phạm phải quan liêu, mệnh lệnh, tham ô, lười biếng, thế là ác” [23, tr.226-227]

Sự thống nhất giữa khoa học – công nghệ và đạo đức:

Đạo đức cũng như khoa học – công nghệ đều là sản phẩm của một cơ sở kinh

tế – xã hội nhất định, đều là sự phản ánh tồn tại xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Do đó, giữa đạo đức và khoa học – công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ

Trang 18

với nhau, dưới những hình thức khác nhau và có chức năng chung là điều chỉnh các mối quan hệ xã hội nhằm phát triển xã hội Nhiều khi các quan hệ đạo đức thường ẩn giấu khoa học – công nghệ, ngược lại có những quan điểm khoa học – công nghệ phản ánh những giá trị đạo đức

Sự thống nhất giữa khoa học – công nghệ và đạo đức được thể hiện ở chỗ, mục đích chân chính của khoa học – công nghệ và đạo đức là tạo ra mọi điều kiện

để giúp con người cải biến tự nhiên, cải biến xã hội, cải biến bản thân mình, xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho cá nhân và làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp Chính

vì thế, sự thống nhất giữa khoa học – công nghệ và đạo đức được thể hiện cụ thể thông qua hệ thống các giá trị xã hội

Mặt khác, đạo đức cũng là một trong những quy luật xã hội về mối quan hệ giữa con người với con người, vì vậy bản thân đạo đức là những chân lý khoa học

về cuộc sống của cái thiện và cái ác, cái chính và cái tà, v.v Con người trong quá trình nhận thức những tri thức khoa học để hình thành thế giới quan thì cũng đồng thời hình thành nhân sinh quan Đạo đức là một mặt của nhân sinh quan, biểu hiện

cụ thể bằng thái độ, hành vi, cách ứng xử giữa con người với con người, con người với tự nhiên, với xã hội và với bản thân mình Vì vậy, thế giới quan và nhân sinh quan cũng là hai mặt khoa học và đạo đức (tài và đức) của một cá nhân Tuy nhiên, không phải ở đâu, bất cứ ở một người nào hai mặt đó cũng phát triển song hành

Từ xa xưa đã có rất nhiều quan điểm khẳng định mối quan hệ gắn bó giữa khoa học và đạo đức “Khoa học mà không có lương tâm chỉ là sự phá hoại tâm hồn” (Rabơle) Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nếu khoa học mà không có đạo đức thì trở nên tàn bạo, nhưng có đạo đức mà không có khoa học thì cũng trở thành ngu muội” [22, tr 201]

Cách đánh giá của khoa học – công nghệ là chân lý hay sai lầm, còn cách đánh giá của đạo đức là cái thiện hay cái ác Tính chân lý của cái thiện thường phù hợp với tiến trình và quy luật phát triển của xã hội

Trang 19

Khoa học – công nghệ thường được thực hiện thông qua những con người cụ thể, còn đạo đức được bảo đảm do lương tâm con người, do sự phê phán của dư luận xã hội

Phạm vi đạo đức có nội dung bao quát và rộng hơn khoa học – công nghệ Khoa học – công nghệ điều chỉnh một số mặt của đời sống xã hội, còn đạo đức xâm nhập vào tất cả các hoạt động xã hội, trong mọi quan hệ kể cả đối với chính bản thân mỗi người

Tương quan giữa khoa học – công nghệ và đạo đức là mối tương quan giữa cái chân và cái thiện Cái này làm tiền đề cho cái kia và bổ sung cho nhau cùng phát triển Đạo đức và khoa học – công nghệ giúp cho con người tránh cái xấu, học hỏi hướng tới cái đẹp và làm theo cái đẹp, tiến tới tự giác làm điều tốt Đạo đức và khoa học – công nghệ phù hợp với nhau khi nội dung và ý nghĩa của chúng phù hợp với lợi ích xã hội Khoa học – công nghệ đặt ra cho đạo đức một nhiệm vụ quan trọng là giáo dục và hoàn thiện nhân cách con người; còn đời sống đạo đức là nguồn chất liệu làm nền móng cho sáng tạo khoa học – công nghệ, định hướng cho

sự phát triển của khoa học – công nghệ

1.2.2 Vai trò của khoa học – công nghệ đối với các nấc thang giá trị đạo đức

Giữa khoa học – công nghệ và đạo đức có mối quan hệ biện chứng khăng khít, gắn bó với nhau, không thể tách rời nhau, vì khoa học – công nghệ luôn là cơ sở, nền tảng cho đời sống đạo đức thực sự của con người

Trong quá trình hình thành đạo đức mới luôn luôn gắn liền với những thành tựu của khoa học – công nghệ Tri thức khoa học – công nghệ giúp cho các chủ thể đạo đức nhận thức, lựa chọn, đánh giá đúng đắn các giá trị và điều chỉnh các hành

vi sao cho hợp lý trong đời sống đạo đức Ngược lại, đạo đức có vai trò thúc đẩy quá trình tìm tòi chân lý khoa học để phục vụ cho thực tiễn đời sống của xã hội Mặc dù chân lý khoa học là khách quan, nhưng vấn đề quan trọng là: Con người phát minh sử dụng chân lý đó theo động cơ nào ? Đem lại lợi ích cho ai ? Đem lại

Trang 20

hòa bình, văn minh cho nhân loại hay sản xuất ra vũ khí giết người hàng loạt

?,v.v…

Thực tế đã chứng minh sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại cùng với việc nó đang từng bước trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp không chỉ làm thay đổi căn bản nền sản xuất xã hội, mà còn làm thay đổi chính

vị trí của con người trong quá trình sản xuất Do đó, khoa học – công nghệ cũng tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của đạo đức, làm thay đổi thang giá trị, những nguyên tắc chi phối hoạt động của con người và xã hội

Con người sáng tạo ra khoa học – công nghệ, nhưng một khi đã trở thành thực thể độc lập thì bản thân nó vận động theo các quy luật nội tại Điều này khiến cho con người, trong những chừng mực nhất định, không thể kiểm soát hết được mọi tác động, cũng như không thể dự báo hết được những hậu quả do tiến bộ khoa học – công nghệ đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực đạo đức Trước hết phải nói rằng, khoa học – công nghệ có vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống của con người và xã hội loài người Khoa học và những phát triển công nghệ kèm theo có vai trò then chốt trong nền văn minh đương đại – nền văn minh trí tuệ Để chứng minh cho nhận định đó, có thể đưa ra ba dẫn chứng điển hình Đó là: Đóng góp của thuyết cơ học lượng tử trong nền kinh tế hiện đại; vai trò của toán học và vật lý học đối với triết học, nhất là vấn đề nhận thức luận; và ý nghĩa của di truyền học trong nhân học phân tử

Chẳng hạn, vai trò của di truyền học trong nhân học phân tử: Di truyền học giúp xây dựng ngành nhân học phân tử, một ngành dùng các phân tích phân tử để phân loại và nghiên cứu quá trình tiến hóa của giống loài động vật, đặc biệt để khám phá nguồn gốc và quá trình tiến hóa của loài người

Thuyết Rời khỏi châu Phi về nguồn gốc loài người cho rằng, loài người xuất hiện tại Đông Phi vào khoảng 160.000 – 200.000 năm trước Và cách đây khoảng 50.000 năm, một nhóm người tinh khôn đã vượt biển Đỏ sang Trung Đông để khởi nguồn cho một cuộc hành trình vĩ đại chiếm lĩnh hành tinh Cuộc hành trình đó có thể được vẽ lại với sai số chỉ 2-3 ngàn năm, nhờ kỹ thuật phân tích của ngành nhân

Trang 21

học phân tử Cũng nhờ di truyền học, các nhà nhân học tại Viện nhân học Max Plank, Đức đã phân tích ADN của hóa thạch xương tìm thấy tại Croatia của người Neanderthal, loại người hiện đại đã tuyệt chủng cách đây 28.000 năm, sau khi từng thống trị châu Âu hàng trăm ngàn năm [Xem: 5, tr.51-59]

Khoa học – công nghệ là kết quả của những lao động tìm tòi, sáng tạo và khám phá các quy luật của thế giới khách quan và sự vận dụng các quy luật đó phục vụ đời sống của con người, làm cho con người ngày càng có cuộc sống ấm

no, tự do, hạnh phúc Chính vì vậy, bản thân khoa học – công nghệ đã chứa đựng

những lý tưởng đạo đức hết sức cao cả Thực tế lịch sử đã chứng tỏ rằng, những

thành quả của khoa học –công nghệ đã ngày càng giữ vai trò cơ bản, chủ đạo trong việc nâng cao cuộc sống của con người Cũng nhờ vào những thành tựu vĩ đại mà khoa học – công nghệ mang lại, con người ngày càng vận dụng những quy luật tự nhiên, quy luật xã hội để để chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội nhằm thực hiện những ước mơ, khát vọng, hoài bão, lý tưởng của mình Như vậy, khoa học – công

nghệ chẳng những đã chứa đựng những lý tưởng đạo đức, mà còn là phương thức

để con người chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội nhằm phục vụ đời sống của con

Trang 22

Khoa học – công nghệ đóng vai trò quyết định trong việc phát triển lực lượng sản xuất, hơn thế nữa trong thời đại ngày nay bản thân nó đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là một trong những động lực quyết định sự phát triển của xã hội Nhưng lực lượng sản xuất phát triển sẽ dẫn đến sự thay đổi các quan hệ sản xuất; đến lượt mình, các quan hệ sản xuất thay đổi sẽ làm cho tất cả các quan hệ xã hội phải thay đổi theo, trong đó có các quan hệ đạo đức Tuy nhiên, sự thay đổi đó không phải diễn ra theo một quá trình giản đơn, trực tiếp mà nó diễn ra dưới sự ảnh hưởng của những kết cấu lợi ích của xã hội, đặc biệt là lợi ích giai cấp Chính điều này đã gây nên những cuộc tranh luận kéo dài nhiều thế kỷ và nhiều khi trở nên hết

sức gay gắt xung quanh mối quan hệ giữa tiến bộ khoa học – công nghệ và đạo

đức

Những mâu thuẫn, xung đột giữa tiến bộ khoa học – công nghệ và tiến bộ đạo đức trong xã hội tư bản đang diễn ra ngày càng gay gắt là sự phản ánh những mâu thuẫn ngày sâu sắc giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản

Dưới ngọn cờ của giai cấp tư sản, kể từ khi nhân loại bước vào cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật lần thứ hai, xã hội đã tạo ra một lực lượng sản xuất

“nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thời đại trước kia gộp

lại”[19, tr.603], như C Mác và Ph Ăngghen đã nêu lên trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản Đáng lẽ ra, với một lực lượng sản xuất ở trình độ cao như vậy,

nhân loại sẽ bước vào một cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn Tuy nhiên, dưới chủ nghĩa tư bản cứ một bước tiến của khoa học – công nghệ thì nhân dân lao động lại bị đẩy thêm một bước vào vòng khốn khổ, bất hạnh Vì những lợi ích ích kỷ của mình, giai cấp tư sản đã độc chiếm toàn bộ các thành tựu của khoa học – công nghệ, biến chúng thành những công cụ bóc lột nhân dân lao động, hủy hoại các giá trị đạo đức, phục vụ cho mục đích vì lợi nhuận tối đa của mình Nhưng mặt khác, giai cấp tư sản cũng đang tìm cách lợi dụng những thành quả của khoa học – công nghệ để điều hòa làm giảm bớt những mâu thuẫn xã hội nhằm củng cố địa vị thống trị của mình

Trang 23

C Mác vạch rõ, giai cấp tư sản đã “thẳng tay phá vỡ, không để lại giữa người

và người một mối quan hệ nào khác, ngoài lợi ích trần trụi và lối “tiền trao cháo múc” không tình không nghĩa” [19, tr.600] C Mác đặc biệt nhấn mạnh, giai cấp tư sản đã “biến phẩm giá của con người thành giá trị trao đổi; nó đã đem tự do buôn bán duy nhất và vô sỉ thay cho biết bao quyền tự do đã được ban cho và đã giành được một cách chính đáng” [ 19, tr.600] Đồng thời, C Mác cũng chỉ ra rằng, trong chế độ tư bản chủ nghĩa, cùng với sự trỗi dậy của những thành tựu khoa học – công nghệ thì người ta cũng thấy lộ ra những dấu hiệu của một sự suy sụp về đạo đức, vượt rất xa những suy sụp đã được ghi vào lịch sử ở thời kỳ cuối của đế quốc La

Đặc trưng nổi bật của chủ nghĩa tư bản là chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Quy luật kinh tế cơ bản của nó là quy luật giá trị, quan hệ hàng – tiền Trong xã hội đó, lợi nhuận tối đa trở thành lẽ sống của giai cấp tư sản Với bản chất bóc lột, giai cấp tư sản sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn, kể cả những thủ đoạn phi nhân tính, đẫm máu nhất để giành được lợi nhuận cao nhất Chủ nghĩa tư bản, trong tính cạnh tranh khốc liệt và phân cực tối đa của nó, đã ra sức thúc đẩy tiến bộ khoa học – công nghệ, nhưng khi càng phát triển về mặt kinh

tế thì nó lại càng sa vào tình trạng rối loạn xã hội và khủng hoảng đạo đức

Khắc họa sự tác động tiêu cực của khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong chủ nghĩa tư bản, C Mác cho rằng, thắng lợi của kỹ thuật dường như được mua bằng cái giá là làm mất phẩm chất đạo đức của con người Chủ nghĩa tư bản hiện đại đã dùng các sản phẩm của hệ thống công nghệ mới để làm tha hóa con người nhiều

hơn và tiêu diệt con người nhanh hơn Không phải ngẫu nhiên, ngay trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế – triết học 1844”, C Mác đã khắc họa: “Con người (công nhân) chỉ cảm thấy mình hành động tự do trong khi thực hiện những chức năng động vật của mình – ăn, uống, sinh con đẻ cái, nhiều lắm là trong chuyện ở, chuyện trang sức,v.v., – còn trong những chức năng con người của anh ta thì anh ta cảm thấy mình chỉ còn là con vật Cái có tính súc vật trở thành cái có tính người, còn cái có tính người thì biến thành cái có tính súc vật” [21, tr 51]

Trang 24

Chủ nghĩa tư bản đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh, cùng nền sản xuất nhỏ phân tán được xã hội hóa ngày càng cao, phân công lao động phát triển, năng suất lao động có hiệu quả rõ rệt Ngoài những mặt tích cực đó, giai cấp

tư sản đã để lại cho xã hội không ít những hậu quả tiêu cực: vấn đề công lý và nền đạo đức trong xã hội không được đảm bảo bình thường, con người trở nên ích kỷ, đạo lý trong xã hội ngày càng suy giảm

Sự phát triển vượt bậc của khoa học – công nghệ trong những năm cuối của thiên niên kỷ thứ hai là yếu tố cơ bản, có tính quyết định đối với tiến trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong đó có lĩnh vực đạo đức Tuy nhiên, thực trạng xã hội phương Tây dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại cho thấy, tại sao bước nhảy vọt vĩ đại nhất của loài người hướng về sự thịnh vượng vật chất lại dẫn đến sự đổ vỡ nghiêm trọng về mặt xã hội ? Và tại sao kỷ nguyên vĩ đại nhất về thành tựu khoa học – công nghệ lại làm hư hại những điều kiện sống trên Trái đất ? Khoa học – công nghệ vốn có sức mạnh và hữu ích, song sự phát triển của nó lại đặt ra nhiều vấn đề về mặt đạo đức ?

Một thực tế rõ ràng rằng, nền kinh tế thị trường, không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản, mà là một phương thức thực hiện kinh tế do sự phát triển của nền văn minh nhân loại đưa lại Đặc điểm chung của kinh tế thị trường là vận hành theo nguyên tắc trao đổi hàng hóa và quy luật giá trị Tuy nhiên, trong những chế

độ xã hội khác nhau, mục đích của kinh tế thị trường cũng khác nhau Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mục đích của nhà tư bản, như C Mác đã vạch

ra trong “Tư bản”, là giá trị thặng dư, trong đó mọi quan hệ xã hội đều bị biến thành quan hệ hàng – tiền, đều có thể đem ra mua bán, trao đổi

Do đó, khi sử dụng khoa học – công nghệ với tính cách là một công cụ bóc lột, giai cấp tư sản đã không quan tâm đến những hậu quả về mặt xã hội có thể nảy sinh Có thể nói, chính mâu thuẫn giữa chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa

về tư liệu sản xuất và tính xã hội hóa ngày càng cao của hệ thống khoa học – công nghệ mới – tức lực lượng sản xuất mới, là nguồn gốc dẫn đến các vấn đề đạo đức

xã hội nghiêm trọng

Trang 25

Đạo đức trong xã hội tư bản bao gồm nhiều kiểu đạo đức khác nhau Đạo đức của giai cấp tư sản, đạo đức của giai cấp công nhân, đạo đức của những lực lượng

xã hội khác Các kiểu đạo đức này thường xâm nhập vào nhau, đan xen và không ngừng đấu tranh với nhau, tạo nên con đường phát triển xã hội trên cơ sở khẳng định mặt tích cực, tiến bộ; triệt tiêu mặt tiêu cực, lạc hậu; mở rộng khả năng phát triển đạo đức trong tương lai của một xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa

Khi chủ nghĩa xã hội đã thắng lợi và các giai cấp bóc lột trong xã hội đã bị tiêu diệt thì đạo đức xã hội chủ nghĩa cũng được hình thành và trở nên thống trị Đạo đức xã hội chủ nghĩa là giai đoạn cao trên con đường tiến lên của đạo đức loài người So với đạo đức tiên tiến trước đây, đạo đức xã hội chủ nghĩa là một hình thức đạo đức mới về chất Nó biểu hiện cho phẩm giá và vinh quang của nhân loại

Trong chủ nghĩa xã hội, mục đích của khoa học – công nghệ và đạo đức thống nhất với nhau Khoa học – công nghệ và đạo đức là điều kiện để con người cải biến

xã hội, xây dựng cuộc sống hạnh phúc Như vậy, việc giải quyết cơ bản và toàn diện những xung đột gay gắt giữa tiến bộ khoa học – công nghệ và đạo đức chỉ diễn ra trong điều kiện một xã hội không còn đối kháng giai cấp, không có chế độ người bóc lột người Ở đó, những thành quả của khoa học – công nghệ được sử dụng như một phương thức giải phóng con người, nâng cao các giá trị nhân phẩm, làm cho con người có được cuộc sống ngày càng tự do, hạnh phúc, đồng thời hạn chế những tác động bất lợi mang tính tự phát từ bản thân tiến bộ khoa học – công nghệ Và cũng trong xã hội đó, khoa học – công nghệ thực hiện chức năng giáo dục, trong đó có giáo dục đạo đức, làm cho các lý tưởng, nguyên tắc đạo đức được chuyển tải tới mọi đối tượng một cách sâu sắc

1.2.3 Vai trò định hướng của các quan niệm đạo đức đối với sự phát triển khoa học – công nghệ

Theo quan điểm mác-xít, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, một định chế

xã hội thực hiện các chức năng điều chỉnh hành vi con người Đó là những nguyên tắc, quy phạm, tiêu chuẩn, lý tưởng gắn liền và phù hợp với một hình thái kinh tế –

Trang 26

xã hội nhất định, được hình thành từ những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội Chính vì vậy, đạo đức đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng cho sự phát triển của khoa học – công nghệ, tạo thành một trong những động lực cho sự phát triển của khoa học – công nghệ

Vai trò định hướng của các quan niệm đạo đức đối với sự phát triển của khoa học – công nghệ thể hiện ở những khía cạnh khác nhau, như mục tiêu, nội dung, phương pháp tiến hành hoạt động khoa học – công nghệ

Trước hết, đối với mục tiêu của khoa học – công nghệ:

Chân lý khoa học mang tính khách quan, tuy nhiên do động lực và mục tiêu

nằm trong bản chất của nó, nên chân lý khoa học bao giờ cũng gắn liền với cái thiện Xu hướng chung của sự phát triển khoa học – công nghệ hiện đại là hướng tới phục vụ con người ngày càng tốt hơn, hiệu quả hơn Phục vụ con người, vì con người vừa là mục tiêu, vừa là chuẩn mực đạo đức cao nhất của sự phát triển khoa học – công nghệ

Nhiều phát minh khoa học vĩ đại, nhiều sáng kiến mang ý nghĩa của cả một thời đại đã được sản sinh từ chính những chuẩn mực và lý tưởng đạo đức, từ nhu cầu của cuộc sống, nhu cầu cải thiện đời sống con người, nhu cầu bảo vệ con người trước thiên nhiên khắc nghiệt, trước bệnh dịch thế kỷ, trước những tai họa diễn ra trong đời sống xã hội Nhiều nhà khoa học, nhà bác học, nhà tư tưởng, nhà phát minh sáng chế đã lao động không biết mệt mỏi, sẵn sàng cống hiến trọn đời mình, thậm chí hy sinh bản thân mình cho việc tìm tòi, nghiên cứu, khám phá chỉ với mục đích cao cả là mang lại cho nhân loại những thành tựu khoa học – công nghệ phục vụ đời sống của con người và xã hội loài người

Chẳng hạn, G Brunô với lý tưởng đạo đức cao cả bảo vệ chân lý của khoa học – học thuyết “Nhật tâm” của N Côpécních rằng, trái đất quay xung quanh mặt trời, chống lại chủ nghĩa kinh viện, chống lại lòng tin mù quáng vào các giáo lý của nhà thờ đã bị tòa án giáo hội Rôma kết án bằng hình thức thiêu sống Hay như Menđen phải sống trong cảnh mù lòa ở những năm tháng cuối đời cũng chỉ vì nghiên cứu quy luật di truyền với lý tưởng đạo đức cống hiến trí tuệ của mình cho khoa học,

Trang 27

nhưng không được những người đương thời công nhận Rồi Đácuyn với tinh thần dũng cảm khoa học đã can đảm đưa ra học thuyết tiến hóa, làm cho các tín đồ Thiên chúa giáo phẫn nộ, gây nên “vụ kiện con khỉ” – được xem là “vụ án lớn nhất của thế kỷ XIX”,…

Mục tiêu quan trọng của khoa học – công nghệ là nhằm mở rộng tri thức của con người về các lĩnh vực khác nhau và hoạt động khoa học – công nghệ là hoạt động sáng tạo nhất, mang tính xã hội sâu sắc Do vậy, các chuẩn mực đạo đức khoa học – công nghệ phải là một “thể chế” của bất cứ trung tâm khoa học – công nghệ nào và phải được xem như là quy ước ứng xử và là một mục tiêu xuyên suốt của khoa học – công nghệ Hệ thống chuẩn mực đạo đức khoa học – công nghệ còn là phương tiện để phòng chống các tiêu cực trong hoạt động khoa học – công nghệ Thật vậy, phần lớn những nhân vật gian lận trong hoạt động khoa học – công nghệ thường không quan tâm đến các chuẩn mực đạo đức khoa học – công nghệ Do đó, quán triệt các chuẩn mực đạo đức khoa học – công nghệ là một công việc hết sức cần thiết trong việc xác định mục tiêu của hoạt động khoa học – công nghệ

Thứ hai, đối với nội dung của khoa học – công nghệ:

Thành tựu phát triển khoa học – công nghệ mang lại những kết quả hữu ích, nhưng nó cũng có thể lại mang đến những hậu quả khôn lường, thậm chí có những trường hợp, mức độ nguy hại lại lớn hơn gấp nhiều lần so với cái lợi Để khắc phục tình trạng đó, khoa học – công nghệ phải được phát triển sao cho phù hợp với sự phát triển của xã hội về mặt đạo đức và không được phép tách khỏi những nhu cầu

xã hội của các cộng đồng dân tộc Chỉ có thể làm được điều đó khi có sự định

hướng giá trị của các quan niệm đạo đức Chuẩn mực đạo đức vừa là mục tiêu, vừa

là động lực của sự phát triển khoa học – công nghệ

Chính vì thế, khoa học – công nghệ không được tách rời khỏi đạo đức Khoa học – công nghệ phải phục vụ xã hội và là một bộ phận của xã hội Nếu không được kiểm soát bởi những giá trị đạo đức căn bản, chúng có thể phá hủy sự ổn định

hội, nuốt trôi nền văn minh của chúng ta Do vậy, khoa học – công nghệ không

Trang 28

những phải phục vụ những nhu cầu thực sự của xã hội, mà còn phải nhạy bén với những yêu cầu về luân lý, đạo đức của xã hội

Lịch sử đã cho thấy, những thành tựu khoa học – công nghệ tiêu biểu, bất tử với con người cả về không gian và thời gian là những tác phẩm chứa đựng các giá trị đạo đức cao cả về con người Nó là biểu tượng kiệt xuất về lý tưởng, về lòng nhân ái, về số phận, về sức mạnh tinh thần cũng như phẩm chất của con người và

xã hội loài người trong từng thời đại cụ thể Chính nhân tố đạo đức vừa có giá trị định hướng, vừa là một động lực của sự phát triển khoa học – công nghệ

Cùng với sự phát triển xã hội, khi sự phân công xã hội càng chặt chẽ, khi khả năng và tính tất yếu của sự hợp tác giữa người và người càng lớn thì người ta càng tuân thủ những yêu cầu đạo đức và quy phạm pháp luật nhất định, cần áp dụng các biện pháp không gây tổn hại đối với người khác Vì vậy, C Mác và Ph Ăngghen

đã từng nói rằng, lợi ích được hiểu một cách đúng đắn là toàn bộ cơ sở của đạo đức

Khoa học – công nghệ chân chính phải lấy đạo đức vừa làm điểm xuất phát, vừa làm mục tiêu, vừa làm động lực vì chính đạo đức là nguồn cảm hứng sáng tạo

để khoa học – công nghệ phát triển

Thứ ba, đối với phương pháp tiến hành hoạt động khoa học – công nghệ:

Hoạt động nghiên cứu khoa học – công nghệ do cộng đồng các nhà khoa học – công nghệ thực hiện Cộng đồng các nhà khoa học – công nghệ không thể có được thành tựu nào nếu chỉ thuần túy dựa vào lý thuyết và phương pháp thuần túy khoa học – công nghệ Trong quá trình hoạt động, họ đã thiết lập nên một hệ thống chuẩn mực đạo đức chặt chẽ gắn bó với tính duy lý khoa học Hình thức đạo đức

ấy của cộng đồng các nhà khoa học – công nghệ là biểu hiện mẫu mực của nhân cách khoa học trong xã hội hiện đại Có thể tóm lược chuẩn mực đạo đức khoa học – công nghệ bằng các nguyên tắc cơ bản: Trung thực, khách quan, tự do, công khai, phê phán và trách nhiệm Chính những nguyên tắc ấy có ý nghĩa định hướng quan trọng, những chỉ dẫn rõ ràng đối với việc xác định phương pháp tiến hành hoạt động khoa học – công nghệ, khi nào áp dụng phương phương pháp này hay

Trang 29

phương pháp khác trong hoạt động khoa học – công nghệ Nhờ có tính trung thực mới phát huy được khả năng độc lập, tự giác của nhà khoa học – công nghệ, mới tránh được những gian lận trong nghiên cứu khoa học – công nghệ; nhờ có tính khách quan mới tránh được bệnh chủ quan duy ý chí; nhờ có tự do mới phát huy được năng lực sáng tạo của người nghiên cứu; nhờ có công khai mới phát huy được dân chủ và tinh thần hợp tác trong hoạt động khoa học – công nghệ; nhờ có tính phê phán mới tránh bảo thủ, trì trệ, rập khuôn, giáo điều; nhờ có tinh thần trách nhiệm mới có thể phát huy lòng say mê, tận tụy, làm việc quên mình vì lợi ích của cộng đồng

Với tư cách là phương thức đặc thù điều tiết hành vi của con người trong mọi lĩnh vực hoạt động, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh lợi ích trực tiếp của các giai cấp, dân tộc và thời đại Vì đạo đức bao giờ cũng có mối quan hệ trực tiếp với những lợi ích chung nên khách thể của đạo đức bao gồm những quan

hệ giữa con người với con người trong xã hội, quan hệ giữa con người với những

sự kiện của đời sống xã hội và quan hệ của con người với chính bản thân mình với

tư cách là một thành viên của một đơn vị xã hội nhất định

Ở đây, môi trường xã hội có tác động rất lớn đến hành vi đạo đức cá nhân của những nhà khoa học – công nghệ, nhưng môi trường xã hội chỉ có thể quy định những khả năng khác nhau của hành vi con người, còn việc cá nhân đó lựa chọn khả năng nào, hành vi nào là hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức chủ quan, ý chí cá nhân, như C Mác đã khẳng định, “chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh

và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục”

Tóm lại, quan điểm triết học mác-xít khẳng định giữa khoa học – công nghệ

và đạo đức có mối quan hệ mật thiết, gắn bó, tác động qua lại lẫn nhau Chính quan điểm ấy là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận chỉ đạo nhận thức và thực tiễn của con người Hiểu đúng và vận dụng mối quan hệ này một cách phù hợp chính là

cơ sở của việc hoạch định các chiến lược, sách lược trong quá trình phát triển khoa học – công nghệ và xây dựng một nền tảng đạo đức tốt đẹp

Trang 30

Chương 2 Một số vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự tác động của khoa học – công nghệ: Nội dung và giải pháp

2.1 Nội dung một số vấn đề đạo đức nảy sinh từ sự tác động của khoa học – công nghệ

Sự tác động của khoa học – công nghệ đối với đạo đức mang tính hai mặt

Dựa vào khoa học – công nghệ, một mặt, con người nhận thức, đánh giá và lựa

chọn đúng đắn các giá trị đạo đức, từ đó điều chỉnh các hành vi của mình nhằm

thúc đẩy xã hội phát triển; mặt khác, con người có thể sử dụng khoa học – công

nghệ vì những lợi ích ích kỷ của mình, làm kìm hãm sự phát triển xã hội Tính chất

và mức độ của sự tác động đó như thế nào vừa phụ thuộc vào các yếu tố như chế

độ chính trị, nền tảng kinh tế – xã hội, nhu cầu và lợi ích giai cấp, dân tộc,…vừa phụ thuộc vào chính bản thân các thành tựu khoa học – công nghệ

2.1 1 Sự phát triển của khoa học – công nghệ tạo ra những nguy cơ đe dọa trực tiếp sự sống của con người

Nhờ sự phát triển của khoa học – công nghệ trong nửa cuối thế kỷ XX, con người đã có trong tay những cái cần có để tìm hiểu những bí mật của giới tự nhiên, khai thác tự nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình Những tưởng sự thịnh vượng vật chất sẽ là thiên đường của con người Song, không phải hoàn toàn như vậy Cùng với việc tạo ra một khối lượng của cải to lớn, con người đã tạo nên những nguy cơ đe dọa trực tiếp sự sống của bản thân mình Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại đã gây ra hậu quả nghiêm trọng về môi trường sống Dựa vào các phương tiện kỹ thuật, công nghệ hiện đại, con người đã

áp đặt sự thống trị của mình và vắt kiệt tự nhiên một cách vô trách nhiệm Đó là

khai thác tự nhiên bằng mọi giá, lấy đi mọi cái có thể lấy, con người vô tình đã đối

xử không công bằng, thiếu trách nhiệm đạo đức trước các thế hệ tương lai Đó là những thách thức về năng lượng, về sự thay đổi khí hậu và về vấn đề môi trường nói chung

Trang 31

Chẳng hạn, than đá là một tài nguyên cho năng lượng hữu hạn và chúng ta đã khai thác chúng nhanh hơn quá trình tự nhiên tạo ra chúng, hay sự biến đổi về khí hậu sẽ ảnh hưởng rất lớn nhất đối với sự tồn vong của nhân loại

Hoặc giải quyết vấn đề môi trường và năng lượng bằng công nghệ sinh học có thể kể đến việc dùng các vi sinh vật đã biến đổi để sản xuất khí từ chất thải hữu cơ; các loại cây đã biến đổi gen có khả năng làm thoái hóa sinh vật; các cỗ máy phân

tử dựa trên cây trồng quang hợp prôtein để tạo ra năng lượng từ ánh nắng mặt trời; dùng vi khuẩn phân hủy ô nhiễm môi trường; và cảm biến sinh học để nhanh chóng kiểm soát các môi trường nguy hại Các vấn đề môi trường áp dụng công nghệ sinh học thường bị bỏ qua hoặc thiếu vốn, do vậy sự bền vững của hành tinh đang đối mặt với sự ô nhiễm môi trường gia tăng hết sức nghiêm trọng

Các quan điểm trái ngược nhau xoay quanh các vấn đề: Sự biến đổi di truyền các cây trồng có gây tai hại cho bản thân chúng về lâu dài hay không ? Thực phẩm sản xuất từ cây biến đổi gen có an toàn không, hậu quả sẽ như thế nào đối với con người nếu sử dụng nó lâu dài ? Cây trồng chuyển gen có làm giảm tính đa dạng sinh học, có tiêu diệt các côn trùng có lợi và làm tăng cỏ dại hay không ? Con người có lường hết được hậu quả của việc đưa cây trồng chuyển gen vào môi trường ? Những gen đã chuyển vào cây trồng, có thể chuyển sang người hay các động vật không ? Về mặt đạo đức, việc chủ động biến đổi các sinh vật sống quanh

ta là đúng hay sai ?

Vấn đề đã đạt đến đỉnh điểm khi Tổ chức “Hòa bình xanh” yêu cầu ngừng ngay các nghiên cứu thao tác gen cho đến khi khoa học chứng minh được chắc chắn là nó hoàn toàn vô hại Đặc biệt, năm 2000 Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học đã được 133 nước thông qua và áp dụng cho tất cả các quốc gia trên thế giới

Liên quan đến việc giải quyết vấn đề môi trường, C Mác đã coi môi trường tự nhiên là “thân thể vô cơ” của con người và cách đây trên 100 năm, Ph Ăngghen đã từng cảnh báo: “Tuy vậy chúng ta cũng không nên quá tự hào về những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên Bởi vì cứ mỗi lần ta đạt được một thắng lợi, là

Trang 32

mỗi lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta Thật thế, mỗi thắng lợi, trước hết là đem lại cho chúng ta những kết quả mà chúng ta hằng mong muốn, nhưng đến lượt thứ hai, lượt thứ ba, thì nó lại gây ra những tác dụng hoàn toàn khác hẳn, không lường trước được, những tác dụng thường hay phá hủy tất cả những kết quả đầu tiên đó” [20, tr.654- 655]

Chính vì vậy, con người phải tìm cách sống hài hòa, hòa nhập với chỉnh thể tự nhiên, phải điều khiển có ý thức mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Bởi vì,

“những sự việc đó nhắc nhở chúng ta từng giờ từng phút rằng chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài giới tự nhiên, mà trái lại, bản thân chúng ta, với cả xương thịt, máu mủ và đầu óc chúng ta, là thuộc về giới tự nhiên, chúng ta nằm trong lòng giới tự nhiên, và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với giới tự nhiên là ở chỗ chúng ta , khác với tất cả các sinh vật khác, là chúng ta nhận thức được các quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác” [20, tr.654- 655]

Dựa vào những tri thức mới, con người dần dần nhận ra rằng, không thể nuôi dưỡng mãi trong mình một quyền năng vô hạn trước tự nhiên Điều quan trọng là chính sự phát triển của khoa học – công nghệ hiện đại đã và đang tạo ra những cơ hội cho con người sửa chữa sai lầm Những tri thức khoa học mới về thế giới vật chất đã trở thành cơ sở cho một sự thay đổi có tính bước ngoặt trong nhận thức về mối quan hệ con người – tự nhiên Xuất phát từ cách nhìn tổng thể, hệ thống, dựa

trên những căn cứ khoa học và thực tiễn, một quan hệ mới về chất – chung sống hài hòa , gắn bó máu thịt giữa con người với tự nhiên đang hình thành Đó chính là nền tảng của đạo đức sinh thái

Ngày nay, môi trường tự nhiên thường được gọi là môi trường sinh thái Vấn

đề môi trường sinh thái là một trong những vấn đề toàn cầu cấp bách và khó giải quyết trong thời đại ngày nay Giải quyết vấn đề này thực chất là một yêu cầu có

cơ sở lý luận từ bản thân cơ chế hoạt động của phức hợp hệ thống “xã hội – tự

Trang 33

nhiên”, nhằm đảm bảo tính cân bằng, tính tự tổ chức, tự điều khiển, tự bảo vệ của sinh quyển, bảo đảm tính thống nhất giữa xã hội và tự nhiên

Bởi vậy, trong hoạt động thực tiễn con người phải thực hiện nguyên tắc đồng tiến hóa giữa xã hội và tự nhiên, coi việc quay trở về sống hài hòa với tự nhiên sẽ mang lại một hệ thống các giá trị cho đời sống con người

Cụ thể là, con người phải nâng cao trình độ nhận thức trong việc giải quyết mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên; cần phải thay đổi phương thức hoạt động thực tiễn không chỉ vì lợi ích kinh tế mà còn vì lợi ích tinh thần, không chỉ vì ngày hôm nay mà còn vì các thế hệ mai sau; cần phải nắm vững các quy luật của tự nhiên và vận dụng các quy luật đó một cách phù hợp vào trong hoạt động thực tiễn, trước hết là vào quá trình sản xuất xã hội Điều đó gắn liền với và chỉ có thể thực hiện được thông qua việc khắc phục những tác động tiêu cực của khoa học – công nghệ đối với hệ thống các giá trị đạo đức

Thế kỷ XX, khoa học vật lý đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Bên cạnh việc loài người đã sử dụng năng lượng hạt nhân mà Vật lý học mang lại vì mục đích hòa bình thì các nhà khoa học vật lý đã ứng dụng những thành tựu này để chế tạo

vũ khí mang tính hủy diệt: vũ khí nguyên tử Đa số các nhà khoa học – công nghệ tham gia chế tạo những quả bom nguyên tử đầu tiên đã đề nghị chỉ cho nổ trên những vùng đất không có người với mục đích biểu thị và đe dọa kẻ thù Cho đến phút cuối cùng, nhiều nhà bác học, trong đó có A Einstein, Bo vẫn thuyết phục Tổng thống Mỹ không nên thả bom nguyên tử, vì nó không những độc ác, vô nhân đạo, mà còn gây nên một cuộc chạy đua vũ trang giữa các quốc gia Song các nhà chính trị Mỹ đã quyết định khác, chống lại đề nghị của các nhà khoa học – công nghệ Như vậy, lạm dụng hoặc sử dụng những thành tựu của khoa học – công nghệ hiện đại đã tuột khỏi ý muốn của các nhà khoa học – công nghệ, mà chủ yếu thuộc

về trách nhiệm và lương tâm đạo đức của các nhà chính trị

Sau Mỹ là nhiều nước đã chế tạo được bom nguyên tử và cả bom khinh khí (bom hyđrô) có sức hủy diệt mạnh gấp nhiều lần so với bom nguyên tử; ngoài ra còn có nhiều loại vũ khí giết người hàng loạt khác, như vũ khí hóa học, vũ khí sinh

Trang 34

học,v.v Vậy một câu hỏi đặt ra, liệu các thế lực trên trái đất có sử dụng những thành quả khoa học – công nghệ để tiêu diệt loài người, tiêu diệt chính họ hay không ? Điều đó tùy thuộc vào lương tâm và trách nhiệm đạo đức của bản thân con người Chính Oppenheimer – cha đẻ của bom nguyên tử đã nói: “Mọi người trên trái đất cần phải biết chung sống với nhau, nếu không thì sẽ bị hủy diệt” [Dẫn theo:

7, tr 62] Đặc biệt, suốt cuộc đời của mình, A Einstein luôn trăn trở về vấn đề đạo đức trong việc sử dụng năng lượng hạt nhân

Theo GS Trịnh Xuân Thuận – nhà khoa học Mỹ gốc Việt: “Một số nhà khoa học cho rằng công việc của họ hoàn toàn chỉ là tìm hiểu và khám phá, họ không có trách nhiệm gì về việc sử dụng những phát minh của họ Một lập trường như vậy chỉ là sự nhận thức sai lầm, chủ tâm mù quáng, hay tệ hơn nữa, hoàn toàn bất lương Kiến thức đưa tới quyền lực và quyền lực đòi hỏi một ý niệm về trách nhiệm và một ý tưởng là chúng ta phải chịu trách nhiệm về những hậu quả trực tiếp hay gián tiếp của những hành động của chúng ta” [Dẫn theo: 7, tr 63]

Ông viết tiếp: “Thật không thể tha thứ được cho bất cứ khoa học gia nào biết

rõ là mình đang phát triển những dụng cụ giết người và giết người tập thể Trong cuộc chiến Việt Nam, tôi bị sốc khi biết rằng nhiều khoa học gia Mỹ nổi tiếng, gồm một vài người đã lãnh giải Nobel, là thành viên của “đơn vị Jason” – một ủy ban thành lập bởi Lầu Năm Góc để cố vấn cho quân đội về sự phát triển những vũ khí Tôi cảm thấy ghê tởm và kinh sợ những bộ óc thông thái này hàng tháng họp nhau để đưa ra những vũ khí có thể giết người càng nhiều càng hay” [Dẫn theo: 7,

tr 63]

Như vậy, các thành tựu khoa học – công nghệ có thể là mối đe dọa nguy hiểm

cho toàn thể nhân loại Số phận của nhân loại tùy thuộc vào lương tâm và trách nhiệm đạo đức của các thế lực sở hữu các thành tựu khoa học – công nghệ Khoa học – công nghệ mà không có đạo đức chỉ nói lên sự tàn phá, nó trở thành con quỷ

hà khắc mà chính con người khám phá và tạo ra

Trang 35

2.1.2 Sự phát triển của khoa học – công nghệ ảnh hưởng đến lương tâm, đạo lý của con người

 Trong lĩnh vực sinh học:

Những đầu tư vào khoa học – công nghệ của bất kỳ quốc gia nào đều sẽ mang lại hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, đầu tư và áp dụng các thành tựu khoa học – công nghệ đã nảy sinh hàng loạt các vấn đề xã hội, chính trị, văn hóa và đạo đức

Lĩnh vực gây nên nhiều bàn cãi nhất về vấn đề đạo đức là lĩnh vực công nghệ sinh học, đặc biệt là những ứng dụng của nó vào trong y học Thế kỷ XX được tỏa sáng rực rỡ bằng sự phát triển bùng nổ của các nghiên cứu về công nghệ sinh học với những thành tựu tạo nên những biến đổi sâu sắc trong đời sống xã hội Sự phát triển nhanh chóng cùng với những ứng dụng rộng rãi của công nghệ sinh học khiến người ta nghĩ rằng, thế kỷ XXI là thế kỷ của công nghệ sinh học

Quả thật, công nghệ sinh học đã mở ra nhiều triển vọng trong việc giải quyết hàng loạt vấn đề lớn thuộc các lĩnh vực sản xuất, y học, môi trường, theo hướng tích cực Việc phát hiện ra mật mã của sự sống, đọc và nắm được bản đồ gen người, khiến con người ngày càng hiểu sâu sắc hơn về bản thân mình Kết quả tất yếu của sự hiểu biết đó là bảo đảm chủ yếu cho sự làm chủ bản thân của con người

và góp phần hình thành những tiền đề cho cuộc sống hạnh phúc của xã hội tương lai

Công nghệ sinh học nếu được sử dụng hợp lý sẽ cho chúng ta những hiệu quả thiết thực Nhờ có công nghệ sinh học, chúng ta đã xác định được thành phần của toàn bộ gen con người và nhiều cơ thể khác để tìm cách chăm sóc cho từng cá thể Công nghệ sinh học đã tạo ra những thực phẩm tốt hơn cho sức khỏe; tạo ra giống lúa giàu vitamin A có thể giúp giảm bớt chứng mù lòa; tạo ra những giống cây trồng có thể chống lại được dịch bệnh; tạo ra những hạt nhỏ để phá hủy các tế bào ung thư Ngày nay, với công nghệ thao tác gen, người ta chỉ cần 20 năm để tăng gấp đôi sản lượng lương thực với chất lượng cao hơn rất nhiều

Song, sự phát triển của công nghệ sinh học cũng đặt con người trước hàng loạt những lo âu, dằn vặt Ngoài những vấn đề như an toàn lương thực, thực phẩm,

Trang 36

nhân loại có lương tri đang trăn trở một điều, liệu có xuất hiện những “siêu thị” hay “ngân hàng” chuyên mua bán các “phụ tùng” thuộc cơ thể con người không ? Trong lĩnh vực khoa học – công nghệ đã xuất hiện một vấn đề mới – vấn đề đạo đức sinh học: Làm thế nào để có thể kết hợp giữa tiến bộ khoa học – công nghệ với việc gìn giữ, tôn vinh danh dự và phẩm giá của chính con người ?

Sinh sản vô tính là một trong những phát triển cực kỳ quan trọng trong công nghệ sinh học Kỹ thuật sinh sản vô tính bao gồm ba hình thức, đó là: Tạo sinh

vô tính, tạo phôi vô tính và phương pháp trị liệu bằng tạo sinh vô tính

Thứ nhất, vấn đề tạo sinh vô tính:

Với kỹ thuật tạo sinh vô tính, lần đầu tiên trong lịch sử loài người, chính con người lại đóng vai trò một “Thượng đế” để tạo ra chính mình Tức là, con người có thể được kiến tạo mà không cần đến sự giao hợp giữa nam và nữ, không cần đến tinh trùng của người đàn ông Tạo sinh vô tính là một tiến bộ cho thấy tiềm năng vĩ đại của con người Con người đã tiến gần đến tình thế mà có thể sản xuất, hơn là sản sinh ra con người

Phương pháp tạo sinh vô tính bắt chước quá trình sinh sản tự nhiên và dựa vào

mô hình của sinh học phân tử Theo mô hình này, con người được cấu tạo bởi hàng

tỉ tế bào Mỗi tế bào đều có nhân, trong nhân chứa đựng các chất liệu di truyền, trong đó nhiễm sắc thể quyết định đặc tính di truyền riêng cho mỗi cá thể Mỗi con người có 23 đôi nhiễm sắc thể (22 đôi thường và 1 đôi xác định giới tính) Trong mỗi nhiễm sắc thể có nhiều gen, mỗi gen được cấu tạo bằng một mảng DNA (viết tắt của từ Deoxyribo Nucleic Acid) Mỗi mảng DNA gồm có bốn yếu tố hóa học:

A (adeline), C (cytosine), G (guanine) và T (thymine)

Theo quá trình sinh sản tự nhiên, sự phát triển của một con người bắt đầu bằng chỉ một tế bào Khi một tinh trùng thụ tinh với một trứng và tạo ra một tế bào đơn, sau đó tế bào đơn này thực hiện quá trình phân chia để hình thành nên một cơ thể sống hoàn chỉnh

Tạo sinh vô tính, nói một cách giản đơn, là phương pháp sao y bản chính một động vật đang sống Người ta chiết DNA từ một trứng và thay thế nó bằng DNA từ

Ngày đăng: 03/01/2021, 12:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
20. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập , t.20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
21. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập , t.42, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
22. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập , t.4 , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
23. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
24. Đỗ Mười (1997), Về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Đỗ Mười
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
25. Nguyễn Chí Mỳ (2004), Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Chí Mỳ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
26. Nguyễn Duy Quý (chủ biên) (2006), Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Duy Quý (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
27. Danh Sơn (Chủ biên), Nguyễn Thị Anh Thu, Nguyễn Mạnh Huấn (1999), Quan hệ giữa phát triển khoa học – công nghệ với phát triển kinh tế – xã hội trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa phát triển khoa học – công nghệ với phát triển kinh tế – xã hội trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Việt Nam
Tác giả: Danh Sơn (Chủ biên), Nguyễn Thị Anh Thu, Nguyễn Mạnh Huấn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1999
28. Phan Hồng Sơn (2004), Văn hóa và phát triển: Nhận thức và vận dụng trong thực tiễn , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và phát triển: Nhận thức và vận dụng trong thực tiễn
Tác giả: Phan Hồng Sơn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
29. Nguyễn Thanh Thịnh, Đào Duy Tính, Lê Dũng (1999), Quy hoạch phát triển hệ thống nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ ở Việt Nam (Một số vấn đề lý luận và thực tiễn) , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển hệ thống nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ ở Việt Nam (Một số vấn đề lý luận và thực tiễn)
Tác giả: Nguyễn Thanh Thịnh, Đào Duy Tính, Lê Dũng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
30. Phạm văn Tình (2005), Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội, số 173 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Phạm văn Tình
Năm: 2005
31. Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia (1999), Hỏi và đáp về những vấn đề then chốt của khoa học và công nghệ, Nxb Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi và đáp về những vấn đề then chốt của khoa học và công nghệ
Tác giả: Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 1999
32. Nguyễn Văn Tuấn (2009), Tạo sinh vô tính và vấn đề sinh đạo đức, Nxb Khoa học – Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo sinh vô tính và vấn đề sinh đạo đức
Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn
Nhà XB: Nxb Khoa học – Kỹ thuật
Năm: 2009
33. Vũ Bội Tuyền (2003), Một số thành tựu khoa học – kỹ thuật nổi bật của thế kỷ XX , Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thành tựu khoa học – kỹ thuật nổi bật của thế kỷ XX
Tác giả: Vũ Bội Tuyền
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2003
34. Từ điển Triết học , Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Triết học
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
35. Nguyễn Đình Tường (2010), “ Một số biểu hiện của sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc phục”, Tạp chí Triết học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biểu hiện của sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc phục”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Đình Tường
Năm: 2010
36. Nguyễn Văn Việt (2003), “ Ảnh hưởng của di truyền học đến bức tranh giá trị lý tưởng về cuộc sống con người”, Tạp chí triết học , số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của di truyền học đến bức tranh giá trị lý tưởng về cuộc sống con người”, "Tạp chí triết học
Tác giả: Nguyễn Văn Việt
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w