Với những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Nghiên c ứu thành phần hóa học của cây cỏ sữa lá lớn – Euphorbia hirta L.” nhằm mục đích tách chiết và xác định cấu trúc của một số chất
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Giảng viên: Ths Lê Thị Thu Hương – Chủ nhiệm đề tài
Các sinh viên khoa Hóa ĐHSP TP.HCM gồm có:
1 Ngô Văn Khuê
2 Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
3 Nguyễn Như Ngọc
4 Vũ Hải My
Trang 4Ký hi ệu và
ch ữ viết tắt Ti ếng Anh Ti ếng Việt
NMR Nuclear Magnetic Resonance Phổ cộng hưởng từ hạt nhân
DEPT Distortionless Enhancement
by Polarization Transfer
Phổ DEPT
HMBC Heteronuclear Multiple
Bond correlation
Tương quan H-C qua 2, 3 liên kết
HSQC Heteronuclear Single Quantum
Correlation
Tương quan H-C qua 1 liên kết
dd Double of Doublet Mũi đôi đôi
TLC Thin Layer Chromatography Sắc ký bảng mỏng
Trang 5TÓM T ẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
Tên đề tài: “Nghiên cứu thành phần hóa học của cây cỏ sữa lá lớn Euphorbia
hirta L.”
Mã số: CS.2015.19.18
Chủ nhiệm đề tài: Lê Thị Thu Hương Tel: 0963817468
E-mail: huonghctn@yahoo.com
Cơ quan chủ trì đề tài : Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM
Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện : Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam Ngô Văn Khuê, Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Nguyễn Như Ngọc, Vũ Hải My
Thời gian thực hiện: Tháng 04 năm 2015 đến tháng 04 năm 2016
1 Mục tiêu:
Cô lập 5-7 hợp chất từ cây cỏ sữa lá lớn
Công bố 01 bài báo
Đào tạo 02 sinh viên
2 Nội dung chính:
Đã cô lập và xác định cấu trúc của 6 hợp chất từ cây cỏ sữa lá lớn
3 Kết quả chính đạt được (khoa học, ứng dụng, đào tạo, kinh tế-xã hội):
Công bố 01 bài báo trên Tạp chí Khoa học tự nhiên, Trường Đại học sư phạm Hà Nội,
tập 61, số 9, trang 48-52, năm 2016
04 sinh viên làm khóa luận tốt nghiệp
Trang 6• Viet Nam Academy of Science and Technology
• Ngo Van Khue, Nguyen Thi My Hanh, Vu Hai My, Nguyen Nhu Ngoc
Duration: from April, 2015 to April, 2016
• Six compounds were isolated from Euphorbia hirta L Their structures were
elucidated using one and two dimensional NMR spectroscopic techniques
Trang 7PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ xưa đến nay, việc sử dụng các cây cỏ làm thuốc đóng vai trò hết sức quan
trọng trong đời sống con người Ngày nay với nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, mục tiêu chăm sóc sức khỏe con người ngày càng được nâng cao, chính vì thế, dược tính và hóa tính của nhiều loại thảo mộc đang được nghiên cứu và không ngừng phát triển
Trong đó, cây cỏ sữa lá lớn hiện diện khắp nơi và được sử dụng trong Y học cổ truyền để chữa các bệnh thông thường như: giải nhiệt, hạ sốt, an thần, kháng viêm, chữa
lỵ, hen suyễn, viêm phế quản Ngoài ra, cỏ sữa lá lớn còn chứa chất chống oxy hóa, kháng khuẩn, kháng nấm, lợi tiểu và chống ung thư
Cho đến nay việc nghiên cứu về thành phần hóa học của cây cỏ sữa lá lớn ở các nước trên thế giới rất phổ biến, đặc biệt ở các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn
Độ, Malaysia,… nhưng ở Việt Nam có rất ít công trình nghiên cứu về loài cây này
Với những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Nghiên c ứu thành phần hóa
học của cây cỏ sữa lá lớn – Euphorbia hirta L.” nhằm mục đích tách chiết và xác định
cấu trúc của một số chất có trong cây cỏ sữa lá lớn được thu hái ở tỉnh Đồng Nai
2 Mục tiêu của đề tài
- Thu nhận các mẫu cặn chiết từ cây cỏ sữa lá lớn ở tỉnh Đồng Nai
- Tách chiết và xác định cấu trúc của một số hợp chất thiên nhiên có trong cây cỏ sữa lá
lớn
3 Cách tiếp cận đề tài
- Tổng quan tài liệu về cây cỏ sữa lá lớn
- Thu hái mẫu cây ở tỉnh Đồng Nai
- Tiến hành ngâm chiết bằng dung môi ether dầu hỏa, ethyl acetate, butanol để thu được các cặn chiết khác nhau
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp ngâm chiết bằng dung môi ether dầu hỏa, ethyl acetate, butanol để thu được các cặn chiết khác nhau
Trang 8- Sử dụng phương pháp vật lí hiện đại như phổ hồng ngoại, phổ cộng hưởng từ hạt nhân
để xác định cấu trúc của các chất cô lập được
5 Phạm vi nghiên cứu
- Cô lập các chất có trong cặn chiết ethyl acetate của cây cỏ sữa lá lớn
6 Nội dung nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp sắc kí cột, sắc kí bảng mỏng để cô lập 5-7 hợp chất có trong cây
cỏ sữa lá lớn
- Xác định cấu trúc hóa học của các chất tách được bằng các phương pháp vật lí hiện đại như phổ MS, 1H-NMR, 13C-NMR, HSQC, HMBC
Trang 9PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Mô tả thực vật
Cây cỏ sữa lá lớn hay còn gọi là cỏ sữa lông,
thiên căn thảo, cây mủ, cây vú sữa đất, có tên khoa học
là Euphobia hirta L thuộc họ thầu dầu
Euphorbiaceae.[1,2,3]
Cây có thân bò hoặc hơi đứng, cao khoảng 15-40
cm, cây có nhiều rễ phụ hơi đỏ hoặc tím, toàn cây có
lông vàng và nhựa mủ trắng[2]
Lá màu xanh lẫn màu đỏ mọc đối, cuống ngắn, phiến lá hình mũi mác, dài 1-4
cm, rộng 1-1,5 cm, mép có răng cưa nhỏ Gốc cuống lá có 2 lá kèm nhỏ, hình lông
cứng.[3]
Nhiều cụm hoa màu trắng đỏ nhạt, hình chén nhỏ ở các nách lá
Quả lúc đầu đỏ sau đó xanh rồi chuyển dần sang nâu, rất nhỏ, đường kính
khoảng 1,5 mm, khi già nứt thành 3 mảnh vỏ, có 3 hạt rất nhỏ.[1,3]
1.2 Phân bố và sinh thái
Cây cỏ sữa lá lớn mọc hoang khắp nơi ở Việt Nam, ở những chỗ đất có sỏi đá,
bãi cỏ, đường đi, ở miền Bắc cũng như ở miền Nam Cây còn mọc ở Trung Quốc,
Malaysia[26], Ấn Độ,Australia, châu Phi[23, 28],châu Mỹ
1.3 Tác dụng dược lí
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng Euphorbia hirta L chứa nhiều chất trị rối loạn tiêu
hóa, tiêu chảy[6]
, loét dạ dày, ợ nóng, nôn mửa[5]
, bệnh lỵ[33]
, bệnh cao huyết áp[28]
,
chống ngứa, thông sữa, rối loạn kinh nguyệt, vô sinh và các bệnh hoa liễu[5], cây cũng
được sử dụng trong điều trị các rối loạn phế quản và đường hô hấp bao gồm cả bệnh
Trang 10Cỏ sữa lá lớn có các hoạt tính chống oxy hóa, kháng khuẩn[25], kháng nấm, lợi
tiểu[5], giải lo âu[21], chống viêm và chống ung thư[12, 25]
Ngoài ra người ta còn nghiên cứu tác dụng của cỏ sữa lá lớn trong việc điều trị
bệnh tiểu đường.[24]
1.3.1 Hoạt tính chống oxy hóa
Năm 2011, Abu Arra Basma, Zuraini Zakaria và các cộng sự[5] đã nghiên cứu
về khả năng chống oxi hóa từ các bộ phận khác nhau của cây cỏ sữa lá lớn để tìm kiếm nguồn mới của chất chống oxy hóa an toàn và ít tốn kém Từ các mẫu lá, cành, hoa và
rễ người ta đã tìm ra các hợp chất phenolic và flavonoid có khả năng chống oxy hóa
mạnh
1.3.2 Hoạt tính điều trị bệnh tiểu đường
Năm 2014, Quy Trinh, Ly Le[24]đã có nghiên cứu về hoạt tính sinh học của một
số chất trong cây cỏ sữa lá lớn có tác dụng trị bệnh tiểu đường bằng phương pháp gắn
kết các chất tìm được trong cây cỏ sữa lá lớn với một số protein liên quan tới bệnh tiểu
đường loại 2 Các chất này bao gồm quercetrin, rutin, myricitrin, cyanidin
3,5-O-diglucoside, pelargonium 3,5-diglucose thuộc họ flovonoid và α-amyrine, β-amyrine,
taraxerol thuộc họ terpene Kết quả nghiên cứu cho thấy sự liên kết của các chất trong cây cỏ sữa lá lớn với các protein có khả năng điều trị hiệu quả bệnh tiểu đường
1.3.3 Hoạt tính kháng khuẩn
Năm 1995, K Vijaaya, S Ananthan và các cộng sự[18] đã nghiên cứu tác dụng kháng khuẩn của các hợp chất chiết xuất từ Camellia sinensis L và chiết xuất
methanol của cỏ sữa lá lớn chống lại bệnh lỵ - một loại bệnh do Shigella spp gây nên
Các tác dụng kháng khuẩn của dịch chiết methanol của cỏ sữa lá lớn đã được chứng minh trong phòng thí nghiệm bằng cách sử dụng loài vi khuẩn Shigella Thực nghiệm
cho thấy chiết xuất không gây độc tế bào và có hoạt tính kháng khuẩn
Năm 2013, A Annamalai, V.L.P Christina cùng các cộng sự[6] đã nghiên cứu
về hoạt tính kháng khuẩn của cây cỏ sữa lá lớn bằng việc tổng hợp các hạt nano vàng không độc hại (Au NPs) bằng cách sử dụng các chất chiết từ lá của cây cỏ sữa lá lớn Các Au NPs này có khả năng chống lại các chủng vi khuẩn như Escherchia coli,
Trang 111.3.4 Hoạt tính chống viêm
Năm 1991, khi khảo sát chiết xuất n-hexane của các bộ phận của cây cỏ sữa lá
lớn và thành phần chính của nó (triterpene, amyrin, 24-methylenecycloartenol,
β-sitosterol), M.C Lanhaers và các cộng sự[20] đã đánh giá hiệu quả kháng viêm ở chuột Chiết xuất dung dịch nước đông khô có khả năng giảm đau, hạ sốt và chống viêm Bên
cạnh đó, hoạt động trầm cảm trung ương, thể hiện bởi tác dụng an thần mạnh mẽ kết
hợp với hiệu ứng giải lo âu cũng được tiến hành nghiên cứu
1.3.5 Ho ạt tính chống ung thư
Năm 1995, K Vijaya, S Ananthan và các cộng sự[18] còn nghiên cứu khả năng gây độc của các chất trong các dịch trích khác nhau Các chất chiết xuất này đóng vai trò như một tác nhân kháng khuẩn hiệu quả và không gây độc tế bào Riêng chiết xuất
của cỏ sữa lá lớn lại có hoạt tính gây độc tế bào chọn lọc đối với một số dòng tế bào ung thư Điều đó cho thấy cây cỏ sữa lá lớn rất hữu ích trong điều trị ung thư, khối u
ác tính và ung thư tế bào vảy
1.3.6 Ho ạt tính chống nọc độc của rắn
Năm 2016, Kadiyala Gopi[36]
cho biết quercetin-3-O-rhamnoside từ Euphorbia hirta
có khả năng chống lại nọc độc của rắn
1.4 Thành phần hóa học của cây cỏ sữa lá lớn
1.4.1 Flavonoid
Năm 1972, Blanc P và các cộng sự đã cô lập được euphorbianin (1), quercitol (2), leucocyanidol (3), quercitrin (4).[9]
Năm 1991, Chen L bằng các phương pháp hóa lí và quang phổ, đã phân lập các
hợp chất từ lá của cây cỏ sữa lá lớn là quercitrin (4), myricitrin (5).[11]
Năm 2012, Wu Yi, Qu Wei, Geng Di, Liang Jing-Yu, Luo Yang-Li đã cô lập các
hợp chất là isorhamnetin (6), pinocembrin (7), kaempferol (8), luteolin (9), quercetin
(10).[33]
Năm 2013, Yuya Nomoto, Sachiko Sugimoto, Katsuyoshi Matsunami, Hideaki
Otsuka đã cô lập được hợp chất afzelin (11), isovitexin (12) [34]
Trang 12O OH HO
OH OH
O
O HO
OH HO
OH O
(1) (2)
O OH
OH HO
OH OH
O OH
OH OH
O OH OH
OH
OH
(7) (8)
Trang 13Năm 1978, Elnagar L và các cộng sự đã cô lập được acid shikimic (16) từ cao
ethanol của cây cỏ sữa lá lớn.[15]
Năm 1991, Chen L bằng các phương pháp hóa lí và quang phổ, đã phân lập
hợp chất từ lá của cây cỏ sữa lá lớn là acid gallic (14), acid 3,4-di-O-galloylquinic
(17), 2,4,6-tri-O-galloyl-D-glucose (18), 1,2,3,4,6-penta-O-galloyl- β-D-glucose
(19).[11]
Năm 2012, Wu Yi, Qu Wei, Geng Di, Liang Jing-Yu, Luo Yang-Li đã cô lập 3
hợp chất là scopoletin (20), scoparone (21), isoscopoletin (22).[33]
Năm 2013, Yuya Nomoto, Sachiko Sugimoto, Katsuyoshi Matsunami, Hideaki Otsuka đã cô lập được methyl 3,5-dimethoxy-4-hydroxyphenylpropanoate O-β-D-
OH
(9) (10)
O HO
OCH3O
OH
O OHO OH
CH3HO
OH
O HO
OH O
OH
O HO
HO
OH OH
(11) (12)
Trang 14O O
O
O
HO HO
OH OH
OH OH HO
O HO
(13) (14)
O OH HO
HO
HO HO
HO
O OH
OH OH
OH
O HO
O O OH
O
OH O O
OH HO
HO
O
OH
OH HO
O
OH
OH OH
(17) (18)
O O
O
O OO
O O
O
O O
HO OH OH
OH OH HO
OH OH HO
Trang 151.4.3 Steroid và terpenoid
Năm 1966, Gupta D R và Gard S K đã cô lập từ thân cỏ sữa lá lớn được
taraxerol (25), friedelin (26), β-sitosterol (27).[17]
Năm 1972, Ahmed M Attallad, Harold J Nicholas đã cô lập từ lá và thân cỏ
sữa lá lớn taraxerol (25), taraxerone (28), campesterol (29), stigmasterol (30) [7]
Cùng
năm 1972, Blanc P và các cộng sự đã cô lập camphol (31).[9]
Năm 1980, từ thân cỏ sữa lá lớn, Baslas R K., Agarwai R đã cô lập
cycloartenol (32), euphorbol (33).[8]
Năm 1984, Sofowora và các cộng sự đã cô lập được các hợp chất
24-methylenecycloarternol (34), β-amyrin (35), β-amyrin acetate (36), ingenoltriacetate
(37), tinyaloxin (38).[30]
Năm 1999, Mariano Martinez Vazquez đã cô lập hợp chất 12-O-tetradecanoyl
phorbol acetate (TPA) (39).[19]
Năm 2011, Shijun Yan và các cộng sự đã tìm ra 3 hợp chất
2β,16α,19-trihydroxy-ent-kaurane (40), 2 β,16α-dihydroxy-ent-kaurane (41), ent-kaurane (42).[29]
O O
HO
OH OH
(23) (24)
Trang 16Năm 2013, Consolacion Y Ragasa, Kimberly B Cornelio đã cô lập hydroperoxycycloart-23-en-3β-ol (43), 24-hydroperoxycycloart-25-en-3β-ol (44),
25-cycloartenol (45), lupeol (46), α-amyrin (47), cycloartenol fatty acid ester (48), lupeol fatty acid ester (49), α-amyrin fatty acid ester (50), β-amyrin fatty acid ester (51).[12]
Năm 2013, Yuya Nomoto, Sachiko Sugimoto, Katsuyoshi Matsunami, Hideaki Otsuka đã cô lập được hirtionoside A (52), hirtionoside B (53), hirtionoside C (54), blumenol C glucoside (55), citroside A (56), corchoionoside C (57).[34]
HO
H3C CH3
CH3 CH3H
Trang 17H3C CH3
(34) (35)
Trang 18H H H
CH3
H
(40) (41)
Trang 19H3C OH
OH
CH3H
CH3
H3C
CH3H
CH3
CH3
H2C
(48) (49)
Trang 20OH OH HO
O O
CH3
CH3O
HO
OH OH HO
O O
(52) (53)
CH3
CH3O
HO
OH OH HO
O O
O HO
Trang 21C CH3
CH3O
HOHO
OH
O HO
Năm 2009, Uppuluri V Mallavadhani và Kilambi Narasimhan đã tìm ra 2 đồng
phân anomer: n-butyl-1-O- β-L-rhamnopyranoside (62), n-butyl-1-O- α-L
Trang 22O OH
OH HO
HOHO
OH OH HO
HO
(66) (67)
O
O CH3O
O HO
Trang 23C HƯƠNG 2 THỰC NGHIỆM 2.1 NGUYÊN LIỆU, HÓA CHẤT, THIẾT BỊ
2.1.1 Nguyên liệu
Mẫu cây Euphorbia hirta L được thu hái ở Đồng Nai vào tháng 7 năm 2013,
được định danh bởi TS Phạm Văn Ngọt - Bộ môn Thực vật học - Trường Đại học Sư
phạm Tp Hồ Chí Minh Mẫu cây được phơi khô trong bóng râm, để nơi khô thoáng,
sấy ở 50-550C Sau đó xay thành bột, ngâm trong ethanol để điều chế các cao
+ Máy soi UV
+ Cân điện tử Sartorius Mass 620g
+ Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H-NMR được thực hiện trên máy cộng hưởng từ
hạt nhân Bruker AC.500, tần số cộng hưởng 500MHz
Trang 24− Tất cả phổ được ghi tại phòng phân tích cấu trúc, Viện Hóa Học - Viện Khoa Học
và Công Nghệ Việt Nam, 18 - Hoàng Quốc Việt, quận Cầu Giấy, Hà Nội và phòng Phân Tích Trung Tâm trường đại học Khoa Học Tự Nhiên thành phố Hồ Chí Minh, số 227, Nguyễn Văn Cừ, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh
2.2 CÔ LẬP CÁC HỢP CHẤT HỮU CƠ TRONG CÂY CỎ SỮA LÁ LỚN
12 kg mẫu cây khô (phần trên mặt đất) được ngâm với ethanol 960, dịch chiết được gom lại rồi cô thu hồi dung môi bằng máy cô quay dưới áp suất thấp thu được
635 gam cao thô Cao ethanol thô được chiết lỏng – lỏng lần lượt với ether dầu hoả, ethyl acetate thu được cao ether dầu hoả (60,4 gam), cao ethyl acetate (335,3 gam) Quá trình thực hiện được tóm tắt theo sơ đồ 2.1
Sắc ký cột silica gel phần cao ethyl acetate (335,3 gam) với hệ dung môi ED:EA có độ phân cực tăng dần Dịch từ cột sắc ký được hứng vào các bình tam giác
250 ml Sau đó, cô quay thu hồi dung môi, phần cao thu được đựng vào các hũ bi Dùng sắc ký bảng mỏng để kiểm tra phần cao thu được, những phần giống nhau gom
lại thành một phân đoạn Kết quả thu được 5 phân đoạn kí kiệu là EA1-5, các phân đoạn được trình bày trong bảng 2.1
2.2.1 Sắc ký cột phân đoạn EA.1
Phần cao thu được từ phân đoạn EA.1 tiếp tục sắc ký cột silica gel với hệ dung môi ED:EA tỷ lệ 5:5 Kết quả thu được 3 phân đoạn, các phân đoạn được trình bày trong bảng 2.2
Tiếp tục sắc kí cột với phân đoạn EA.1.1 với hệ dung môi C:M (9:1) thu được 4
mg hợp chất EH5
2.2.2 Sắc ký cột phân đoạn EA.2
Phần cao thu được từ phân đoạn EA.2 (54,5 g) tiếp tục sắc ký cột silica gel với hệ dung môi ED:EA tỷ lệ 3:7 Kết quả thu được 3 phân đoạn, các phân đoạn được trình bày trong bảng 2.3
Tiếp tục sắc kí cột với phân đoạn EA.2.1 với hệ dung môi C:M (8:1) thu được 8
mg hợp chất EH2 và 4 mg hợp chất EH3