thực hiện trọng trách là người đào tạo lực lượng những chủ nhân tương lai cho đất nước, biết làm chủ những kỹ năng công nghệ cao và có khả năng thiết lập những cơ sở hợp tác xã hội như t
Trang 1Cơ quan chủ trì: KHOA TÂM LÝ HỌC
Ch ủ nhiệm đề tài: Th.S Nguyễn Thị Diễm My
Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2016
Trang 3M ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG HỢP TÁC TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề về kỹ năng hợp tác trong học tập 6
1.1.1 Một số nghiên cứu trên thế giới về kỹ năng hợp tác trong học tập 6
1.1.2 Một số nghiên cứu trong nước về kỹ năng hợp tác trong học tập 9
1.2 Lý luận về kỹ năng hợp tác 11
1.2.1 Lý luận về kỹ năng 12
1.2.2 Lý luận về hợp tác 18
1.2.3 Lý luận về kỹ năng hợp tác 19
1.3 Lý luận về hoạt động học tập của sinh viên 22
1.3.1 Hoạt động học tập 22
1.3.2 Hoạt động học tập của sinh viên 23
1.3.3 Đặc điểm tâm lý của sinh viên 25
1.4 Lý luận về kỹ năng hợp tác trong học tập của sinh viên 29
1.4.1 Khái niệm kỹ năng hợp tác trong học tập của sinh viên 29
1.4.2 Biểu hiện kỹ năng hợp tác trong học tập của sinh viên 30
1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng hợp tác trong học tập của sinh viên 38
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 40
Chương 2 THỰC TRẠNG KỸ NĂNG HỢP TÁC TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HCM 42
2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 42
2.1.1 Mục đích nghiên cứu 42
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 42
Trang 42.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng kỹ năng hợp tác trong học tập của sinh viên
trường Đại học Sư phạm TP.HCM 45
2.2.1 Nhận thức của SV về kỹ năng hợp tác trong học tập 45
2.2.2 Thực trạng KNHT trong học tập của SV trường Đại học sư phạm TP.HCM 51
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ thực hiện KNHT trong học tập của SV 71 2.2.4 So sánh KNHT trong học tập của SV dựa trên một số biến số 74
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 88
Trang 6DANH M ỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Cách tính điểm câu B1.1; B2.1; B1.2; B2.2; C 43
Bảng 2.2 Nhận thức của SV về định nghĩa KNHT trong học tập 45
Bảng 2.3 Nhận thức của SV về vai trò của KNHT trong học tập 46
Bảng 2.4 Nhận thức của SV về vai trò của việc rèn luyện KNHT trong học tập 46
Bảng 2.5 Nhận thức của SV về các KN bộ phận của KNHT trong học tập 47
Bảng 2.6 Nhận thức của SV về đối tượng hợp tác trong KNHT trong học tập 48
Bảng 2.7 Định hướng hợp tác giữa SV với GV trong học tập 49
Bảng 2.8 Định hướng hợp tác giữa SV với SV khác trong học tập 49
Bảng 2.9 Tự đánh giá về KNHT trong học tập của SV với giảng viên 51
Bảng 2.10 Đánh giá chung về KNHT trong học tập của SV với giảng viên 51
Bảng 2.11 Đánh giá về KNHT trong học tập của SV với giảng viên theo từng KN bộ phận 52
Bảng 2.12 Biểu hiện KN lắng nghe khi GV giảng bài 53
Bảng 2.13 Biểu hiện KN truyền thông khi trình bày ý kiến, thắc mắc về bài học 55
Bảng 2.14 Biểu hiện KN thảo luận nhóm lớn khi GV tổ chức thảo luận chung toàn lớp 56
Bảng 2.15 Biểu hiện KN giải quyết vấn đề khi GV giao nhiệm vụ học tập 57
Bảng 2.16 Biểu hiện KN quản lý cảm xúc trong quá trình tương tác, thể hiện cảm xúc với GV 59
Bảng 2.17 Biểu hiện KN giải quyết xung đột khi xuất hiện mâu thuẫn giữa SV với GV 60
Bảng 2.18 Tự đánh giá về KNHT trong học tập của SV với SV khác 61
Bảng 2.19 Đánh giá chung về KNHT trong học tập của SV với SV khác 61
Bảng 2.20 Các nhóm biểu hiện KNHT trong học tập của SV với SV khác 62
Bảng 2.21 Biểu hiện KN lắng nghe khi thành viên cùng nhóm trình bày 63
Trang 7Bảng 2.22 Biểu hiện KN truyền thông khi trình bày quan điểm, thông tin 64
Bảng 2.23 Biểu hiện KN thảo luận của SV khi thảo luận cùng các thành viên khác 66
Bảng 2.24 Biểu hiện KN giải quyết vấn đề khi thực hiện nhiệm vụ đã được phân công 67
Bảng 2.25 Biểu hiện KN quản lý cảm xúc trong quá trình tương tác, thể hiện cảm xúc với các thành viên khác 68
Bảng 2.26 Biểu hiện KN giải quyết xung đột khi nhóm hợp tác xuất hiện những xung đột 69
Bảng 2.27 Các yếu tố hưởng đến việc hình thành và rèn luyện KNHT trong học tập của SV 71
Bảng 2.28: So sánh KNHT trong học tập giữa SV với GV theo giới tính 76
Bảng 2.29: So sánh KNHT trong học tập giữa SV với SV theo giới tính 76
Bảng 2.30: So sánh KNHT trong học tập giữa SV với GV theo năm thứ 76
Bảng 2.31: So sánh KNHT trong học tập giữa SV với SV theo năm thứ 77
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế đang đặt
ra cho ngành giáo dục nước ta một nhiệm vụ hết sức nặng nề, đó là đào tạo một lớp người có đủ phẩm chất và năng lực thích ứng với nền kinh tế thị trường, tham gia phát triển kinh tế, văn hoá xã hội một cách bền vững Để đạt được mục tiêu đó, ngành giáo
dục cần phải đổi mới toàn diện, triệt để cả về nội dung, chương trình, phương pháp và hình thức giáo dục đào tạo Vấn đề đổi mới giáo dục đã được đưa vào nghị quyết của các Đại hội Đảng IX, X, XI và được thể chế hoá bằng Luật Giáo dục Đặc biệt, "Nghị quyết 14/2005/NQ-CP về đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020, đã ghi rõ, triển khai đổi mới phương pháp đào tạo theo 3 tiêu chí: Trang bị cách học, phát huy tính chủ động, sáng tạo và sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy
học” Như vậy, mục tiêu đào tạo ở các trường đại học không chỉ là mang lại cho sinh viên kiến thức khoa học và kỹ năng nghề nghiệp, mà quan trọng hơn là trang bị cho họ phương pháp học tập, hình thành khả năng thích ứng xã hội, trở thành người có năng
lực lao động sáng tạo và biết cách học tập thường xuyên, học tập suốt đời
Kỹ năng học tập luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình học tập ở nhà trường, nó quyết định chất lượng học tập của mỗi sinh viên Có rất nhiều kỹ năng học
tập, một trong những kỹ năng học tập mà chúng tôi quan tâm có thể mang lại hiệu quả cao trong học tập đó là kỹ năng hợp tác Bởi, hợp tác là một phẩm chất quý báu của người lao động Đặc biệt, càng quan quan trọng hơn trong xã hội hiện đại, nó là mục tiêu của giáo dục (học để cùng chung sống), giúp mỗi người có thể hòa nhập cộng đồng
xã hội, để tiến bộ, thành đạt trong cuộc sống và nghề nghiệp tương lai
Đối với SVSP, kỹ năng hợp tác trong học tập còn tác động lâu dài tới sự phát triển nghề nghiệp của họ, ảnh hưởng trực tiếp chất lượng giảng dạy ở trường phổ thông nơi họ công tác sau này Bởi, các tác động giá trị xã hội đương đại như kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và thông tin phát triển nhanh chóng, phức tạp đang đòi hỏi một nhu 2
cầu cấp thiết những giáo viên phải có những kỹ năng hợp tác trong học tập và truyền đạt những kỹ năng hợp tác trong học tập Họ phải là người chủ động, tích cực biết thiết
lập các tinh thần hợp tác và các ý tưởng sáng tạo ngay trong nhà trường phổ thông để
Trang 10thực hiện trọng trách là người đào tạo lực lượng những chủ nhân tương lai cho đất nước, biết làm chủ những kỹ năng công nghệ cao và có khả năng thiết lập những cơ sở
hợp tác xã hội như trong sản xuất, dịch vụ, tài chính, kinh doanh…
Ở trường Đại học Sư phạm TP.HCM hiện nay, việc đổi mới phương thức đào
tạo theo hệ thống tín chỉ về nội dung, chương trình dành nhiều thời gian cho SV tự học
và làm việc theo nhóm, SV phải chung sức với nhau hoàn thành các nhiệm vụ học tập Hơn nữa, chuẩn đầu ra mong muốn của các trường ĐHSP trong cả nước được công bố
rộng rãi trên các website ngoài các mục tiêu: kiến thức; kỹ năng; ngoại ngữ; tin học… đều có “kỹ năng làm việc cùng nhau, kỹ năng chia sẻ và hợp tác”
Xuất phát từ những lý do nêu trên, việc nghiên cứu “ Kỹ năng hợp tác trong học
tập của sinh viên trường Đại học sư phạm TP.HCM” góp phần quan trọng trong việc đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường nói riêng và giáo
dục Việt Nam nói chung
2 M ục đích nghiên cứu
Xác định thực trạng kỹ năng hợp tác trong học tập của sinh viên trường Đại học
Sư phạm TP.HCM
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Kỹ năng hợp tác trong học tập của sinh viên trường Đại học sư phạm TP.HCM
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu kỹ năng hợp tác trong học tập của sinh viên trường Đại học sư phạm TP.HCM theo khái niệm xác lập trong cơ sở lý luận
Đề tài cũng chỉ nghiên cứu kỹ năng hợp tác trong học tập của sinh viên với
giảng viên và với sinh viên khác mà không tập trung nghiên cứu kỹ năng hợp tác trong
học tập của sinh viên với các đối tượng khác
4 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài như: kỹ năng, kỹ năng
hợp tác, kỹ năng hợp tác trong học tập
- Khảo sát thực trạng kỹ năng hợp tác trong học tập của sinh viên trường Đại học
sư phạm TP.HCM
Trang 115 Gi ả thuyết nghiên cứu
Phần lớn sinh viên trường Đại học Sư phạm TP.HCM có kỹ năng hợp tác trong
học tập ở mức độ khá tốt với giảng viên nhưng chỉ đạt mức độ khá trung bình khi hợp tác với sinh viên khác
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
6.1 1 Quan điểm hệ thống cấu trúc
Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc để xây dựng cơ sở lý luận như kỹ năng,
kỹ năng hợp tác, kỹ năng hợp tác trong học tập Nghiên cứu đề tài (xây dựng bảng
hỏi, bình luận thực trạng) được tiến hành trên cấu trúc đã được xác lập
6.1.2 Qua n điểm thực tiễn
Kỹ năng hợp tác trong học tập của sinh viên đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các trường sư phạm Việc nghiên cứu về các vấn đề này ở trường Đại học sư phạm TP.HCM - trong sư phạm trọng điểm phía nam hầu như chưa có Vì
vậy, việc khảo sát kỹ năng hợp tác trong học tập của sinh viên trường Đại học sư phạm TP.HCM là đáp ứng với yêu cầu của thực tiễn, để từ kết quả nghiên cứu cung cấp cho các nhà giáo dục các nhà quản lý cách nhìn nhận bao quát nhất góp phần định hướng cho các giải pháp nhằm nâng cao công tác rèn luyện kỹ năng hợp tác trong học tập của sinh viên trường Đại học sư phạm TP.HCM nói riêng và các trường sư phạm khác nói
chung
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, người nghiên cứu sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
6 2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Trang 126 2.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6 2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
a Mục đích
Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài Chúng tôi xây dựng bảng hỏi dành cho sinh viên nhằm khảo sát kỹ năng hợp tác trong học tập của sinh viên trường Đại học sư phạm TP.HCM
b Yêu cầu
Dựa trên cơ sở lý luận của đề tài và các phương pháp luận để xây dựng bảng
hỏi phù hợp với mục đích Bảng hỏi được thử nghiệm trước khi điều tra chính thức trên khách thể chính và khách thể bổ trợ
6.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
a Mục đích
Tiến hành phỏng vấn đối với các sinh viên và giảng viên để làm rõ thêm thực
trạng kỹ năng hợp tác trong học tập của sinh viên trường Đại học Sư phạm TP.HCM
để bổ sung cho kết quả nghiên cứu
b Yêu cầu
Sau khi thu số liệu và xử lý thống kê toán học, người nghiên cứu tiến hành
phỏng vấn 20 sinh viên, 10 giảng viên theo bảng phỏng vấn đã soạn sẵn Phỏng vấn được thu âm, ghi nhận bằng hình ảnh và có chữ ký xác nhận của khách thể
6 2.2.3 Phương pháp quan sát
a Mục đích
Tiến hành quan sát tại một số lớp học và trong không gian trường để làm rõ thêm
thực trạng kỹ năng hợp tác trong học tập của sinh viên trường Đại học sư phạm TP.HCM để bổ sung cho kết quả nghiên cứu
Trang 13Sử dụng phương pháp thống kê toán học nhằm làm rõ hơn giả thuyết nghiên
cứu
6.2.3.2 Yêu c ầu
Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 16.0 để xử lý thống kê như: tính tần số, tỷ
lệ phần trăm, trị số trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm nghiệm T - Test, kiểm nghiệm Chi
- quare, kiểm nghiệm ANOVA, tương quan PEARSON làm cơ sở để bình luận số liệu thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG HỢP TÁC TRONG HỌC TẬP
CỦA SINH VIÊN 1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề về kỹ năng hợp tác trong học tập
Một trong các yếu tố giúp ích cho con người hoạt động hiệu quả chính là KN
Vì thế, KN là vấn đề thu hút được các nhà Tâm lý học quan tâm nghiên cứu
Hợp tác là một trong những KN quan trọng, góp phần giúp cá nhân giải quyết
hiệu quả những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống mà một mình họ khó thực hiện được
Với những đổi mới trong hoạt động học tập gần đây, giáo dục và dạy học theo hướng
lấy người học làm trung tâm thì KN hợp tác trong học tập lại càng trở nên cần thiết đối
với sinh viên Mặc dù các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về KN hợp tác trong học tập còn tương đối ít, nhưng đã có các nhà khoa học nghiên cứu và đề cập đến KN hợp tác dưới nhiều góc độ khác nhau
1.1.1 M ột số nghiên cứu trên thế giới về kỹ năng hợp tác trong học tập
Theo Marco Fabio Quintilian cho rằng người học sẽ rất có lợi nếu nói những điều mình hiểu cho người khác cùng hiểu Đến thế kỷ thứ XVII, Komenxki tin rằng học sinh sẽ học tốt từ việc dạy cho bạn bè và học từ bạn bè của mình [55, tr15]
Năm 1789, linh mục A.Bel cùng với các thầy giáo Đ.Lancasto, Giard đã đưa ra hình thức dạy học tương trợ [28] Đối với hình thức này, học sinh chia ra thành những nhóm nhỏ và các em lớp trên phụ trách việc hướng dẫn Các nhà phê bình đương thời
chỉ trích hệ thống giáo dục này không đảm bảo chất lượng dạy học và giáo dục, không
tạo ra sự phát triển trí tuệ và cá tính của người học Tuy nhiên, nhiều người cũng phải
thừa nhận rằng, hợp tác theo kiểu huấn luyện viên này đã đáp ứng và góp phần giải quyết những khó khăn trong giai đoạn cải cách giáo dục, nhất là tạo nên tính hợp tác
giữa các thành viên
Tiếp theo, học hợp tác được phát triển mạnh mẽ bởi Francis Parker vào cuối thế
kỷ XIX Ông khuyến khích sử dụng những tư tưởng và các thủ tục hợp tác trong hệ
thống các trường Việc làm này đã nhận được nhiều sự ủng hộ và đánh giá rất cao, được ví như “Mặt trời trơ trụi sau mùa đông bắt gặp những cơn mưa mùa xuân và nắng ấm.” [28]
Trang 15Do ảnh hưởng của những tiến bộ khoa học và sự phát triển của tinh thần dân
chủ vào cuối thế kỷ thứ XIX, đầu thế kỷ thứ XX, triết học kinh viện khủng hoảng, bế
tắc dẫn đến sự ra đời của triết học thực dụng Nổi bật lên trong trào lưu tư tưởng dân
chủ và tiến bộ này, là tư tưởng của John Dewey, nhà giáo dục Mỹ Theo ông, quá trình
dạy học hướng vào người học cần đảm bảo cho người học phân tích những kinh nghiệm của mình, khuyến khích người học biết tự chủ động, tự chịu trách nhiệm nhiều hơn thay vì việc xử lý những sự việc, sự kiện theo lời nói của thầy KN hợp tác được tích lũy không phải bằng luyện tập mà bằng hoạt động, học sinh tiến hành để đáp ứng nhu cầu lợi ích của chính những tình thế và những nhiệm vụ của hiện tại được giải quyết chứ không phải thụ động chờ đợi những yêu cầu và những vấn đề của tương lai
[19, tr.7] Từ quan điểm của John Dewey nhận thấy rằng việc giáo dục KN hợp tác cho người học là vấn đề phù hợp với xu thế thời đại, người học phải chủ động trong việc tìm ra kiến thức, kinh nghiệm cho bản thân mà không chờ đợi người thầy truyền thụ
kiến thức rồi tiếp thu một cách thụ động Người học chủ động tham gia vào hoạt động
có những biểu hiện của KN hợp tác với bạn bè
Các đại diện ở Liên xô (cũ) như Amonashvily S A., Ivan I.P., … cho rằng tư tưởng chủ đạo của học tập hợp tác làm cho học sinh thích học, nhận thấy niềm vui trong học tập và tạo không khí học tập thoải mái [40, tr.9]
Theo L.X.Vugotski, “quy luật phát sinh xã hội của các dạng hành vi cấp cao
Bất kỳ chức năng nào trong sự phát triển văn hóa của trẻ đều xuất hiện hai lần ở bình
diện tâm lý; lúc đầu như một phạm trù mang tính tập thể, phạm trù tâm lý bên ngoài;
sau đó như là một phương diện của hành vi cá nhân, phạm trù tâm lý bên trong …” [32] Từ đó có thể hiểu rằng trình độ hiện tại là chức năng tâm lý đã đạt tới trình độ chín muồi mà trẻ có thể tự giải quyết nhiệm vụ mà không cần đến sự giúp đỡ của người khác, còn vùng phát triển gần, các chức năng tâm lý chưa chín, trẻ muốn hoàn thành nhiệm vụ khi có sự hợp tác với bạn bè, sự giúp đỡ của người lớn
Kế đến là công trình nghiên cứu trực tiếp phân tích và phát triển hệ thống lý
luận đã có phạm trù hoạt động trong tâm lý học Xô-Viết chính là Boric Phê-đô-rô-vic Lomov về hoạt động cùng nhau: Trong khi A.N.Leonchev cho rằng chủ thể của hoạt động có thể là một cá nhân độc lập, cũng có thể là một nhóm cá nhân cùng động cơ thì
Trang 16Boric Phedorovic Lomov đề nghị tìm ra sự khác biệt giữa hai loại chủ thể đó Trong
hoạt động cùng nhau giữa các chủ thể nảy sinh nhiều hiện tượng tâm lý mà trong điều
kiện bình thường không có ở các cá nhân So với hoạt động cá nhân thì hoạt động cùng nhau có nhiều đặc trưng sự tác động qua lại về mặt tâm lý, sự hợp tác và thi đua, quan
hệ liên nhân cách, và hoạt động giao tiếp [15, tr.602-607] Điều này có nghĩa là hoạt động cùng nhau giữa các sinh viên, giữa sinh viên với giáo viên phải có sự phối hợp hành động cùng trong một thời gian theo các nguyên tắc như: nối tiếp các hành động
học tập, tiến hành song song các hành động của lớp khi học, có sự liên kết chặt chẽ
giữa các thành viên trong khi học nhóm, để hoàn thành nhiệm vụ học tập
Vào thế kỷ thứ XX, vấn đề hợp tác thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Như nhà giáo dục Pháp- R.Cousinet đã chú ý đến việc hình thành KN hợp tác cho người học bằng các phương pháp, biện pháp dạy học tích hợp Theo ông, giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh được tự do để chọn bạn để học nhóm hay giải tán nhóm Học tập theo nhóm tránh được sự lười biếng vì học sinh sẽ cảm thấy xấu hổ với
bạn khi bỏ dở công việc hay khi không biết làm việc Chính nhờ sự thay đổi này mà người học có những quan điểm, những nhận định xã hội khi nhận xét về bạn mình và được nghe bạn mình nhận xét về những hành động của mình, từ đó người học sẽ tích
lũy thêm các kinh nghiệm xã hội [53]
Theo nghiên cứu của Muzafer Sherif và các cộng sự của ông đã tạo ra sự thù nghịch giữa hai nhóm học sinh tại một trại hè (1961), họ ẩu đả nhau Sau đó ông đã cho hai nhóm tiếp xúc nhau trong các tình huống cần có sự phối hợp lẫn nhau để giải quyết các vấn đề về lợi ích của hai nhóm Sau một loạt các sự kiện, hai nhóm đã hợp tác với nhau để giải quyết một số vấn đề chung, và hai nhóm bớt thù nghịch Theo ông, để giải quyết vấn đề thì tất cả các thành viên phải có ý kiến riêng của họ, một thành viên kém cỏi trong nhóm sẽ ảnh hưởng xấu đến nhóm Vì vậy, các thành viên trong nhóm phải giúp đỡ lẫn nhau để giải quyết nhiệm vụ chung Chính vì thế các thành viên trong nhóm không còn sự đố kỵ nhau [15 , tr.648]
Theo cuốn “Học cùng nhau và học độc lập” của hai tác giả D.Johnson và R.Johnson, những yếu tố cơ bản của học hợp tác bao gồm: sự phụ thuộc tích cực, sự
Trang 17tương tác đối mặt, sự có trách nhiệm cá nhân, sự lĩnh hội và sử dụng các KN nhóm
nhỏ và liên cá nhân, sự nhận xét nhóm [55]
Tính đến năm 1992, nghiên cứu việc giảng dạy và học tập hợp tác đã thực hiện trên 200 trường đại học và cao đẳng Astin đã rút ra kết luận rằng “sự tương tác giữa người học với nhau và giữa người dạy với người học là những cơ sở rõ ràng nhất để có
thể dự đoán được những thay đổi tích cực về quan điểm nhận thức trong sinh viên đại
học và cao đẳng [40, tr.8]
Lý thuyết học tập hợp tác của Kurt Lewin được coi là cơ sở đưa đến hàng loạt
những nghiên cứu và các cuộc tranh luận sau đó Gần nhất là tại hội nghị quốc tế IASCE họp ngày 21-25/4/2004 tại Singapore trong đó học tập hợp tác đã được đưa ra
để thảo luận và xác định KN học tập hợp tác phải được xem là định hướng trong dạy
học [40, tr.7]
Các đại diện ở Trung Quốc như Sheng Qun Li và Zheng Shu Zhen (2006) cho
rằng dạy học hợp tác giúp phát triển KN học tập hợp tác, tạo ra sự bình đẳng, hài hòa trong sự phát triển của học sinh và sinh viên [40, tr.9]
Như vậy, trên thế giới có nhiều nghiên cứu về hợp tác, dạy học hợp tác và học
tập hợp tác Các tác giả đều cho rằng hợp tác là một trong những kỹ năng quan trọng
của con người, đồng thời là kỹ năng không thể thiếu trong quá trình học tập của học sinh, sinh viên Sự hợp tác chỉ được hình thành bằng cách tổ chức nhóm Sự hợp tác
phụ thuộc vào sự tích cực tham gia của các thành viên trong nhóm Mỗi người chỉ có
thể thành công khi mọi người trong nhóm thành công
1.1.2 M ột số nghiên cứu trong nước về kỹ năng hợp tác trong học tập
Hợp tác là hành động diễn ra giữa ít nhất hai người Trong hoạt động học tập
của sinh viên, thì KN hợp tác diễn ra trong mối quan hệ giữa sinh viên với giáo viên,
giữa sinh viên với một hoặc nhiều sinh viên cùng nhóm, giữa các nhóm sinh viên với nhau
Tác giả Nguyễn Thanh Bình, chủ nhiệm đề tài cấp bộ “Cải tiến tổ chức hoạt động giáo dục theo phương thức hợp tác” đã làm rõ khái niệm dạy học hợp tác và vận dụng
mô hình học tập hợp tác ở trường THCS [1]
Trang 18Nghiên cứu “ Một số kết quả về việc áp dụng phương pháp dạy học cộng tác”
của Ngô Thị Thu Dung (2002) dựa trên cách tiếp cận hoạt động, quan sát quá trình học
tập hợp tác nhóm của học sinh tiểu học đã đưa ra 18 KN hợp tác cần rèn luyện [6]
Cuốn “Dạy học hiện đại- lý luận, biện pháp, kỹ thuật” của Đặng Thành Hưng (2002) đã đưa ra khái niệm nhóm hợp tác so sánh với kiểu học tranh đua và học cá nhân, đồng thời chỉ ra tầm quan trọng của KN học tập hợp tác và các nguyên tắc đảm
bảo cho dạy học hợp tác thành công [21]
Trong các bài báo “Hệ thống kỹ năng học tập hiện đại” [22] , “Nhận diện và đánh giá kỹ năng” [23] Đặng Thành Hưng đã chỉ ra hệ thống các KN học tập trong
môi trường hiện đại và tác giả còn cho thấy học tập chính là thiết lập các mối quan hệ tích cực cùng nhau chia sẻ và giải quyết các vấn đề… Đó chính là những KN học tập
hợp tác trong môi trường học tập hiện đại
Tác giả Nguyễn Thị Khánh Chi nghiên cứu về “Thử nghiệm phương pháp hợp tác nhóm nhỏ và đóng vai trong dạy học môn Hóa lớp 10 nâng cao nhằm phát huy tính tích cực của học sinh” đã quan tâm đến vấn đề hợp tác của học sinh trung học phổ thông
Nguyễn Bá Kim (2006) trong “ Phương pháp dạy học môn Toán” nhận định thông qua hoạt động nhóm, học sinh cùng hoàn thành những công việc mà một mình không thể tự hoàn thành được trong một thời gian nhất định Trong học tập hợp tác theo nhóm, học sinh có cơ hội bộc lộ, thể hiện mình về mặt giao tiếp, làm việc hợp tác,
học hỏi lẫn nhau, đem lại bầu không khí đoàn kết, giúp đỡ, tin tưởng lẫn nhau…và có
cơ hội rèn luyện, phát triển những KN đó [26]
Nguyễn Triệu Sơn (2007), “Phát triển khả năng học hợp tác cho sinh viên sư
phạm Toán một số trường đại học miền núi nhằm nâng cao chất lượng đào tạo” đã đề
xuất biện pháp phát triển khả năng học hợp tác cho sinh viên sư phạm Toán một số
trường đại học miền núi [35]
Khóa luận tốt nghiệp đại học của tác giả Lê Thị Ngọc Thương (2008), “Tìm
hiểu mức độ biểu hiện tính tích cực học tập của sinh viên trường Đại học Sư phạm Tp.HCM trong dạy học theo nhóm trong giờ học trên lớp môn giáo dục học” đã tìm
hiểu động cơ, các yếu tố thuộc về người dạy và người học, hay các yếu tố môi trường
Trang 19Thái Duy Tuyên (2008) trong cuốn “Phương pháp dạy học- truyền thống và đổi
mới” cho rằng KN học tập hợp tác là một loại kỹ năng quan trọng đối với con người cũng như học sinh, bởi vì hầu hết các mối quan hệ của con người đều là hợp tác Mọi
kỹ năng có liên quan tới cá nhân, nhóm và tổ chức đều được coi là KN hợp tác [43,
tr.414-438]
Tác giả Nguyễn Hữu Châu cho rằng học tập hợp tác phức tạp hơn học tập cá nhân, các thành viên phải biết đưa ra quyết định, xây dựng lòng tin, giải quyết mâu thuẫn và khẳng định rèn luyện KN học cá nhân, học tranh đua, học tập hợp tác trở thành một mục tiêu kép trong dạy học [3]
Bên cạnh đó, còn có các nghiên cứu liên quan khác như: Trần Thị Thu Mai viết
về “Phương pháp học tập nhóm” trong Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 12, 2000; luận văn thạc sĩ của Lê Tấn Huỳnh Cẩm Giang thực hiện “Khảo sát và đánh giá một số
kỹ năng tương tác trong tổ chức của sinh viên khoa sư phạm trường Đại học Tiền Giang” (2006); luận văn thạc sĩ của Kiều Ngọc Quý về “Tổ chức học hợp tác nhằm nâng cao hiệu quả phương pháp dạy học theo nhóm” (2009); luận văn thạc sĩ của Lê Ngọc Huyền nghiên cứu về “Kỹ năng hoạt động nhóm trong học tập của sinh viên trường Đại học Sài Gòn” (2010)
Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2011) “Thực trạng kỹ năng học tập hợp tác của sinh
viên cao đẳng sư phạm” [16] và Nguyễn Thị Quỳnh Phương (2012) “Rèn luyện kỹ
năng học hợp tác cho sinh viên Đại học Sư phạm trong hoạt động nhóm” [34] đã đi sâu nghiên cứu về dạy học theo nhóm, xác định được hệ thống KN học tập hợp tác cần rèn luyện cho sinh viên và cơ sở khoa học của rèn luyện các kỹ năng đó
Tóm lại, ở Việt Nam chưa có một công trình nghiên cứu đầy đủ và chính thức
về KN hợp tác trong học tập của sinh viên Tuy nhiên, vấn đề hợp tác đã được các tác
giả quan tâm và đề cập đến trong các nghiên cứu khác nhau, mà gần nhất là trong các nghiên cứu về phương pháp dạy- học hợp tác, KN làm việc nhóm Qua đó nhận thấy
rằng, việc nghiên cứu về KN hợp tác trong hoạt động học tập của sinh viên là cần thiết, góp phần vào việc giáo dục và rèn luyện KN cho sinh viên, cũng như đáp ứng xu hướng giáo dục đại học ngày nay
1.2 Lý lu ận về kỹ năng hợp tác
Trang 201.2.1 Lý lu ận về kỹ năng
1.2.1.1 Định nghĩa kỹ năng
Trong lịch sử nghiên cứu các vấn đề về KN, có nhiều tác giả trong và ngoài nước đã đưa ra những quan niệm khác nhau Có hai khuynh hướng cơ bản như sau:
Khuynh hướng thứ nhất: xem xét KN nghiêng về mặt kỹ thuật của thao tác, của
hành động hay hoạt động Đại diện là V.A.Kruchetski, A.V.Petrovki, V.S.Cudin, Trần
Trọng Thủy, Hà Nhật Thăng…
Tác giả V.A.Kruchetski cho rằng: “ KN là phương thức thực hiện hành động đã được con người nắm vững từ trước” [29] Theo ông, KN được hình thành bằng con đường luyện tập, KN tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà trong cả những điều kiện đã thay đổi
Theo tác giả Trần Trọng Thủy, “KN là mặt kỹ thuật của hành động, con người
nắm được các hành động tức là có kỹ thuật hành động, có KN” [ 41]
Khuynh hướng thứ hai: xem xét KN nghiêng về mặt năng lực hành động của
con người Theo đây, KN vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt, sáng tạo và có mục đích Đại diện là Levitov, A.G.Covaliov, K.K.Platonov, G.G.Golubev, X.I.Kixegov, Vũ Dũng, Nguyễn Quang Uẩn, Huỳnh Văn Sơn,…
Levitov quan niệm “KN là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hành động phức tạp bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định.” [ 2] Ông cho rằng, người có KN hành động là người
phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Như vậy, để hình thành KN, con người không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà phải biết vận dụng vào thực tiễn
Theo A.G.Covaliov, “KN là phương thức hành động thích hợp với mục đích và
những điều kiện hành động Còn kết quả hành động phụ thuộc chủ yếu vào năng lực con người, chứ không đơn giản là cứ nắm vững cách thức hành động thì đem lại kết
quả tương ứng.” [31]
K.K.Platonov và G.G.Golubev quan niệm rằng “KN là năng lực của người thực
hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và
Trang 21trong những khoảng thời gian tương ứng” [ 9, tr.41] Theo đó, KN không mâu thuẫn
với vốn tri thức mà Kn được hình thành trên cơ sở của chúng
Theo X.I.Kixegov, “KN là khả năng thực hiện có hiệu quả hệ thống hành động phù hợp với mục đích và điều kiện thực hiện hệ thống này.” [14] Theo ông, các KN bao giờ cũng diễn ra dưới sự kiểm tra của ý thức nhiều hay ít KN đòi hỏi việc sử dụng
những kinh nghiệm đã thu được trước đây và những tri thức nhất định nào đó trong các hành động, mà thiếu những điều này không thể có KN
Từ điển tiếng Việt (1992), định nghĩa “KN là khả năng vận dụng những kiến
thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế.” [36, tr.157]
Theo từ điển Giáo dục học “KN là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy cho dù
đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ.” [17]
Các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn, Trần
Quốc Thành, Trần Thị Quốc Minh quan niệm “KN là một mặt của năng lực của con
người thực hiện một công việc có kết quả.” [4]
Từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng, “KN là năng lực vân dụng có kết quả
những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng.” [ 11]
Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng “KN là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép KN không đơn thuần về mặt kỹ thuật của hành động mà còn là biểu hiện năng lực của con người.” [36, tr.06]
Từ các quan niệm trên cho thấy rằng KN vừa là mặt kỹ thuật của hành động vừa
là biểu hiện năng lực của con người Cơ sở của KN là tri thức, kinh nghiệm có trước
đó Tiêu chuẩn quan trọng để xác định sự hình thành và phát triển KN là tính đúng đắn, linh hoạt, thành thạo, mềm dẻo Và KN được hình thành qua con đường luyện tập
Vậy nhóm tác giả định nghĩa KN như sau: KN là khả năng vận dụng những tri
th ức, kinh nghiệm đã có để thực hiện có kết quả một hành động phù hợp với mục tiêu
đã đặt ra
1.2.1.2 Quá trình hình thành k ỹ năng:
Trang 22- Theo K.K.Platonov và G.G Golubev, KN hình thành qua 5 giai đoạn:
Mức 1: có KN sơ đẳng, hành động được thực hiện theo cách thử và sai, dựa trên
vốn hiểu biết và kinh nghiệm,
Mức 2: biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ
Mức 3: có những KN chung nhưng còn mang tính rời rạc, riêng lẻ
Mức 4: có những KN chuyên biệt để hành động
Mức 5: vận dụng sáng tạo những KN đó trong những tình huống khác nhau [9, tr.51]
- Theo A.V.Petrovxki, quá trình hình thành KN chia làm ba bước:
Bước 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động
Bước 2: Quan sát mẫu và làm thử
Bước 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu, điều kiện hành động nhằm đạt được mục đích đề ra [ 27]
Mục đích là kết quả của hành động, định hướng cho hành động Nếu chỉ dừng
lại ở đây thì chưa có KN chỉ là lý thuyết tri thức về hành động
Giai đoạn làm thử theo mẫu tiến tới hình thành KN, giúp con người đối chiếu
với tri thức, tiến hành thao tác để giảm bớt sai sót trong quá trình hành động đạt kết
quả
Cuối cùng, muốn có KN con người phải luyện tập Giai đoạn này, các tri thức được củng cố nhiều lần, các thao tác được ôn luyện có hệ thống, kết quả hành động đạt được một cách chắc chắn hơn KN chỉ thực sự ổn định khi người ta hành độngcó kết
quả trong những điều kiện khác nhau Việc luyện tập đạt kết quả cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện luyện tập, đặc biệt là sự nỗ lực của cá nhân
-Tác giả Vũ Dũng phân ra nhiều giai đoạn hình thành KN gọi là các pha, các pha này thống nhất, kết hợp với nhau thành những giai đoạn chung [12]
Giai đoạn 1: người học lần đầu quen với vận động và lần đầu lĩnh hội nó Sự
học bắt đầu từ việc phát hiện các thành phần của vận động- tập hợp các thành tố vận động, trình tự thực hiện và các mối liên kết của chúng Việc làm quen này diễn ra trên
cơ sở người học được xem trình diễn lại, thuật lại, giảng lại và quan sát một cách trực quan quá trình thực hiện vận động Pha tiếp theo của giai đoạn thứ nhất đòi hỏi nhiều
Trang 23nổ lực Người học phải lặp lại vận động nhiều lần để nắm được bức tranh bên trong
của vận động Đồng thời học bản mã hóa những tín hiệu từ các mệnh lệnh Việc tích lũy “những từ điển chuyển mã” là một trong những sự kiện quan trọng nhất của giai đoạn này Cần phải lặp lại nhiều lần để người học có thể tìm được “bảng mã” trong bất
kỹ phương án nào của vận động, kể cả khi có sự lệch chuẩn
Giai đoạn 2: giai đoạn tự động hóa vận động Ở đây các thành phần chủ đạo của
vận động được giải phóng từng phần hoặc hoàn toàn “thoát khỏi” sự kiểm soát của ý
thức
Giai đoạn 3: giai đoạn cuối cùng Diễn ra sự rèn luyện KN cho thuần thục nhờ quá trình ổn định hóa và tiêu chuẩn hóa Trong quá trình ổn định hóa, KN đạt được tính bền vững và không bị phá hủy trong bất kỳ tình huống nào Còn trong quá trình tiêu chuẩn hóa, KN cần được định khuôn nhờ lặp đi lặp lại vận động nhiều lần
Người có KN về một hành động nào đó phải: có tri thức về hành động bao gồm tri thức về mục đích hành động, các điều kiện, phương tiện đạt mục đích, các cách
thức thực hiện hành động; tiến hành hành động đúng với yêu cầu của nó; đạt được kết
quả phủ hợp với mục đích đã đề ra; có thể hành động có kết quả trong các điều kiện khác Bên cạnh đó, để hình thành một KN cần có sự rèn luyện, luyện tập lặp lại nhiều
lần một hành động Hành động chỉ trở thành KN khi được sử dụng thường xuyên đến
mức tự động hóa và đạt được tính bền vững của tâm lý
1.2.1.3 Các lo ại KN
Có rất nhiều cách phân loại KN Mỗi cách phân loại tạo nên một hệ thống các
KN khác nhau
Nhóm KN c ốt lõi
Theo tác giả Nguyễn Văn Tuấn, KN cốt lõi là KN có tính chất chung, cơ bản
mà bất cứ ngườ lao động nào cũng phải có trong năng lực thực hiện của mình, nó tập trung vào khả năng áp dụng kiến thức và KN, kỹ xảo một cách tích hợp trong các tình
huống lao động thực tế [ 42]
Tác giả cũng đưa ra hệ thống các KN cốt lõi:
Trang 24Các KN thông tin: đó là khả năng thu thập, phân tích, đánh giá, sàng lọc và lựa
chọn, trình bày thông tin và các ý tưởng dùng cho hàng loạt mục đích kế hoạch khác nhau
Các KN giao tiếp: đó là khả năng gieo tiếp có hiệu quả với những người khác thông qua lời nói, chữ viết, và các phương tiện biểu thị không bằng lời
Các KN lập kế hoạch và tổ chức triển khai các hoạt động: nhóm KN này tập trung vào việc lập kế hoạch, tổ chức và tự quản lý, bao gồm khả năng hoàn thành nhiệm vụ với mức độ độc lập nhất định, việc kiểm tra, theo dõi sự thực hiện của chính mình, đảm bảo sự giao tiếp có hiệu quả , báo cáo và ghi chép về các quá trình và kết
quả đạt được
Các KN hợp tác: Đó là khả năng hợp tác, phối hợp có hiệu quả với các cá nhân riêng lẻ và trong nội bộ nhóm, bao gồm việc đề ra những mục đích chung, sự quyết định về việc phân giao nhiệm vụ, công việc, giám sát được mục đích, yêu cầu, kiểm tra
chất lượng của sản phẩm cuối cùng
Các KN giải quyết vấn đề: tập trung vào việc giải quyết các vấn đề như là một quá trình Trong nghĩa rộng của nó, KN giải quyết vấn đề bao gồm cả việc xác định
bản chất của các vấn đề và đưa ra các chiến lược phù hợp để giải quyết vấn đề
Các KN sử dụng công nghệ: đó là khả năng sử dụng các quá trình, hệ thống công nghệ, trang thiết bị, nguyên vật liệu và khả năng di chuyển kiến thức và KN vào các tình huống mới
KN nh ận thức, trí tuệ, vận động
Tác giả Vũ Dũng chia KN thành 3 loại:
KN nhận thức: Sự phản ánh một cách cảm tính và tự động những thuộc tính và đặc điểm của đối tượng rất quen thuộc đã được tri giác nhiều lần trước đó
KN trí tuệ: Phương thức và phương pháp có tính tự động hóa để giải quyết
những nhiệm vụ trí tuệ mà chủ thể đã gặp trước đó
KN vận động: là khả năng thực hiện những vận động mà không cần đến sự
kiểm soát của ý thức và được hình thành bằng con đường tập luyện KN vận động bao
gồm những KN nhận thức và KN trí tuệ Nó điều khiển 2 KN này dựa trên cơ sở phản
Trang 25ánh có tính tự động hóa các sự vật, điều kiện và trật tự thực hiện các thao tác hành
động hướng tới việc cải tạo hiện thực khách quan [12, tr.401-402]
KN b ậc 1 và bậc 2
Theo các tác giả Bủi Hiển, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn
Tảo, có thể chia KN thành 2 loại [ 17]
KN bậc 1: đây là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với
những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù đó là hành động cụ
thể hay hành động trí tuệ Để hình thành được KN trước hết cần có kiến thức làm cơ
sở cho việc hiểu biết, luyện tập từng thao tác riêng lẻ cho đến khi thực hiện được một hành động theo đúng mục đích, yêu cầu
Có những KN hình thành không cần quan luyện tập, nếu biết tận dụng hiểu biết
và KN tương tự đã có thể chuyển sang thực hiện các hành động mới
KN bậc 2: KN bậc 1 cần được rèn luyện và bổ sung thêm kiến thức để thực hiện
một cách hoàn hảo, các thao tác hoàn toàn tự động hóa, không cần sự xuất hiện của ý
thức Nói cách khác, đó là khả năng thực hiện hành động, hoạt động một cách thành
thạo linh hoạt, sáng tạo phù hợp với những mục tiêu trong các điều kiện khác nhây Để
có được KN bậc 2, cần rèn luyện KN bậc 1 sao cho mỗi lần hành động người ta không
cần bận tâm đến các thao tác nữa mà suy nghĩ tập trung vào việc tùm ra các biện pháp, phương pháp tốt nhất phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện để đạt mục đích KN bậc 2
lấy yếu tố sáng tạo, linh hoạt làm tiêu chí cơ bản, là cơ sở cho mọi hoạt động đạt được
hiệu quả cao Vì vậy khi nói về KN hoạt động, người ta thưởng hiểu đó là KN bậc 2
KN mềm là loại KN mà chúng ta có được từ hoạt động thực tế cuộc sống hoặc
thực tế nghề nghiệp KN mềm là loại KN cực kỹ phong phú và không kém phần quan
trọng như KN cứng KN mềm được đánh giá rất cao trong thời đại ngày nay Tuy
Trang 26nhiên, đây là một khái niệm khá rộng và chưa có một định nghĩa khoa học chính xác
về nó
Các loại KN mềm dựa theo các lĩnh vực tâm lý khá đầy đủ và hệ thống, bao
gồm:
KN nhận thức: KN nhận thức bản thân, KN ra quyết định, KN xây dụng kế
hoạch, KN giải quyết vấn đề, KN tư duy tích cực và tư duy phê phán
KN xã hội: bao gồm KN giao tiếp, KN lắng nghe, KN làm việc nhóm, KN ra quyết định, KN hợp tác, KN xây dựng và duy trì các mối quan hệ liên cá nhân, KN
vận động và gây ảnh hưởng
KN quản lý bản thân: KN chế ngự stress, KN làm chủ cảm xúc, KN nâng cao
nội lực kiểm soát, KN quản lý thời gian
1.2.2 Lý lu ận về hợp tác
C.Mác cho rằng: “hình thức lao động của nhiều người làm việc bên nhau và với nhau trong cùng một quá trình sản xuất hay trong các quá trình sản xuất khác nhau,
nhưng liền với nhau theo kế hoạch gọi là hợp tác” [45]
Các nhà khoa học đã nhận ra rằng, việc tiếp thu khái niệm “hợp tác” của kinh tế
học đã dẫn đến “tương tác xã hội” trong tâm lý học Nghĩa là: sự tác động qua lại ít
nhất của hai cá nhân trong một hoạt động bất kỳ nào đó thuộc một hoạt động trong
cuộc sống diễn ra theo một hệ quy chiếu không gian, thời gian chung [25]
Theo từ điển Tiếng Việt do tác giả Hoàng Phê chủ biên, “ Hợp tác- cùng chung
sức giúp đỡ nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm một mục đích chung” [36, tr.450]
Theo Nguyễn Hữu Châu (2007): “Hợp tác nghĩa là cùng chung sức để đạt được
nh ững mục tiêu chung.” Điều này có nghĩa là mỗi thành viên không chỉ có trách
nhiệm thực hiện các hoạt động của nhóm mà cũng phải có trách nhiệm hợp tác, giúp
đỡ các thành viên trong nhóm hoàn thành các hoạt động được giao [33]
Trong T ừ điển Tâm lý học, tác giả Vũ Dũng định nghĩa như sau: “Hợp tác là hai
hoặc nhiều hơn hai bộ phận trong một nhóm làm việc cùng nhau theo một cách thức sao cho cùng nhau tạo ra một kết quả chung” [12, tr.356]
Trang 27Hợp tác là một yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống lao động của con người;
nó diễn ra thường xuyên trong gia đình, trong xã hội; do vậy “hợp tác mang bản chất sinh học tự nhiên của mỗi con người trong xã hội” [43,tr.410]
Hợp tác là cùng chung sức giúp đỡ nhau trong một công việc, trong một nhiệm
vụ, một lĩnh vực nào đó để nhằm đạt được mục đích hay lợi ích chung của hai hay nhiều cá nhân nào đó [19, tr.21]
Từ những điểm chung của các định nghĩa trên, theo nhóm tác giả, hợp tác là
cùng chung s ức hoàn thành một nhiệm vụ, một công việc, một lĩnh vực nào đó nhằm đạt được mục đích chung của ít nhất hai người trở lên
Qua đó, nhóm tác giả nhận thấy hợp tác có những đặc điểm sau đây:
- Hợp tác chỉ diễn ra giữa ít nhất là hai người
- Khi hợp tác, các thành viên phải có chung mục đích, nếu có nhiều mục đích thì những mục đích đó không mâu thuẫn với nhau
- Chấp nhận sự phân công nhiệm vụ, tuân thủ quy định chung
- Lắng nghe, giúp đỡ và cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ
1.2.3 Lý lu ận về kỹ năng hợp tác
1.2.3 1 Định nghĩa kỹ năng hợp tác
Từ hai khái niệm về KN và hợp tác đã nêu ở trên, nhóm tác giả định nghĩa về
KN hợp tác như sau: KN hợp tác là khả năng vận dụng những tri thức, kinh nghiệm về
h ợp tác (hợp tác là gì, làm thế nào để hợp tác hiệu quả,…) để thực hiện có kết quả một nhi ệm vụ, một hành động phù hợp với mục đích chung của ít nhất hai người trở lên
KN hợp tác là KN quan trọng trong công tác giáo dục và dạy học KN hợp tác giúp các cá nhân có thể hoàn thành những nhiệm vụ, công việc mà một mình khó có
thể làm tốt được Trong quá trình làm việc chung với những người khác, mỗi cá nhân
sẽ bộc lộ những hành vi mang tính xã hội, tăng tính tích cực hành động và có nhiều sự
tiến bộ hơn Biểu hiện của người có KN hợp tác là:
- Thỏa thuận với nhau về nhiệm vụ, công việc, mục đích chung
- Chấp nhận sự phân công nhiệm vụ, tuân thủ quy định chung
- Thể hiện vai trò của bản thân trong nhóm
- Lắng nghe, chia sẻ và giúp đỡ nhau
Trang 28- Hòa đồng, thân thiện, cởi mở
- Có thể giải quyết mâu thuẫn, xung đột để cùng thực hiện công việc chung
- Có thể thiết lập mối quan hệ với các bạn cùng nhóm, nhóm khác
- Hoàn thành nhiệm vụ
1.2.3.2 C ấu trúc kỹ năng hợp tác
Theo L.X.Vugotxky, “ Hành vi con người là sản phẩm của một hệ thống các
mối liên hệ, quan hệ xã hội, các hình thức, hành vi có tính chất tập thể và hợp tác xã
hội” các chức năng tâm lý cấp cao có nguồn gốc xã hội, có tính lịch sử và được hình
thành trong quá trình tương tác xã hội giữa các cá nhân [44] Vì vậy, thông qua hoạt
động học nhóm (từ hai người trở lên), mà ta dễ dàng thấy được những để biểu hiện về
KN hợp tác trong học tập của sinh viên KN hợp tác trong học tập của sinh viên gồm
có các KN bộ phận như sau: KN lắng nghe, KN truyền thông, KN thảo luận, KN giải quyết vấn đề, KN kiềm chế cảm xúc, KN giải quyết xung đột
KN l ắng nghe
Để có thể hợp tác với nhau lâu dài và hiệu quả, các thành viên cần biết lắng nghe người khác và diễn đạt ý kiến của bản thân “KN lắng nghe là khả năng hiểu được nội dung lời nói, nhận biết được tâm trạng, cảm xúc, tình cảm của người nói.” [37]
Khi lắng nghe các thành viên trong nhóm, mỗi cá nhân sẽ thu thập được nhiều thông tin hơn, điều này rất có ích trong việc giải quyết nhiệm vụ chung của nhóm Bởi khi một người được người khác lắng nghe thì họ sẽ có cảm hứng để chia sẻ nhiều hơn
Việc tạo nên bầu không khí giao tiếp tích cực rất có ý nghĩa trong việc kết nối các thành viên với nhau, họ trở nên gắn bó, khắng khít hơn Nhờ đó mà sự hợp tác cũng
diễn ra thuận lợi, dễ dàng hơn
KN truy ền thông
Các thành viên chỉ có thể hợp tác với nhau một cách tích cực khi họ hiểu và có
sự cảm thông với nhau Muốn được vậy, mỗi người cần thực hiện truyền thông với người khác qua nhiều hình thức khác nhau như lời nói, chữ viết và cả ngôn ngữ hình
thể (không lời) Vậy, KN truyền thông là năng lực truyền đạt thông tin hiệu quả của
một cá nhân dựa trên cơ sở vận dụng những tri thức và kinh nghiệm đã có
Trang 29Việc các cá nhân chia sẻ thông tin, ý kiến, quan điểm với nhau một cách rõ ràng
và chân thật giúp họ phát hiện ra những điểm tương đồng để tiến đến sự hợp tác cũng như thấu hiểu nhau nhiều hơn để thông cảm và duy trì mối quan hệ hợp tác này
KN th ảo luận
Để giải quyết các nhiệm vụ nhằm đạt được mục đích chung, các thành viên cần
thảo luận, trao đổi ý kiến và chia sẻ thông tin với nhau Từ đó, tìm ra cách thực hiện
hiệu quả một hành động hoặc đi đến kết luận chung cho một vấn đề nào đó Vậy, KN
thảo luận là khả năng trao đổi ý kiến, chia sẻ thông tin nhằm giải quyết hiệu quả vấn
đề chung trên cơ sở vận dụng những tri thức và kinh nghiệm đã có
Khi thảo luận, các thành viên cần phải suy nghĩ, cố gắng tìm tòi, nghiên cứu và đóng góp ý kiến nhằm giải quyết nhiệm vụ chung Qua đó, nhóm sẽ có cơ hội tìm ra nhiều cách thực hiện nhiệm vụ, chọn ra được kế hoạch hành động tối ưu nhất để nâng cao kết quả hành động, chứng tỏ sự hợp tác thành công
KN gi ải quyết vấn đề
Trong quá trình hợp tác, bên cạnh việc cùng nhau thảo luận, các thành viên còn
phải có KN giải quyết vấn đề “KN giải quyết vấn đề là sự giải quyết có kết quả những
vấn đề nảy sinh trong hoạt động hằng ngày của con người bằng cách tiến hành đúng đắn các thao tác, hành động trên cơ sở vận dụng những tri thức và kinh nghiệm của
chủ thể” [38, tr.276]
Với tư cách là KN bộ phận trong KN hợp tác, KN giải quyết vấn đề giúp cho
mỗi cá nhân có thể để hoàn thành phần công việc được phân công, góp phần thực hiện nhiệm vụ chung của nhóm Qua đó, mỗi cá nhân thể hiện được vai trò, vị trí và đóng góp của bản thân trong nhóm Chất lượng thực hiện công việc được phân công của mỗi
cá nhân có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hợp tác của nhóm
KN qu ản lý cảm xúc
Trong quá trình hợp tác, các cá nhân sẽ bộc lộ những cảm xúc đa dạng nhưng
cần lưu ý đến việc quản lý cảm xúc của bản thân sao cho không làm ảnh hưởng xấu đến mối quan hệ với các thành viên khác, dẫn đến việc giảm hiệu quả trong hợp tác
“KN quản lý cảm xúc là khả năng con người tự nhận biết và tự điều khiển, điều chỉnh
cảm xúc của bản thân.” [38, tr.175]
Trang 30KN quản lý cảm xúc giúp các thành viên giữ được trạng thái cân bằng cần thiết trong qua trình hợp tác Những xúc cảm dương tính, tích cực của một cá nhân có thể ảnh hưởng tích cực đến những người khác Ngược lại, khi cá nhân đó có thể tự giải tỏa
những cảm xúc âm tính, tiêu cực mà không làm tổn hại đến các thành viên khác, đặc
biệt là sự hợp tác với họ
KN gi ải quyết xung đột
Trong quá trình hợp tác, giữa các cá nhân luôn tồn tại những mâu thuẫn Khi
những mâu thuẫn này không thể điều hòa được nữa, xung đột sẽ có thể xảy ra KN giải quyết xung đột là khả năng xác định được nguyên nhân và xử lý xung đột dựa theo các nguyên tắc nhất định
Đây là KN rất cần thiết để gìn giữ mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa các thành viên Bởi nếu các xung đột không được xử lý thỏa đáng sẽ dẫn tới sự phối hợp trong nhóm bị phá vỡ
Như vậy, KN hợp tác sẽ đạt hiệu quả cao nếu các thành viên có được các KN bộ
phận cần thiết như : KN lắng nghe, KN truyền thông, KN thảo luận, KN giải quyết vấn
đề, KN quản lý cảm xúc, KN giải quyết xung đột
1.3 Lý lu ận về hoạt động học tập của sinh viên
1.3.1 Ho ạt động học tập
Hoạt động học tập tạo ra sự biến đổi ngay chính chủ thể của hoạt động là học sinh hay sinh viên Có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động học tập:
Hoạt động học tập theo quan điểm của L.B.Enconhin: việc lĩnh hội tri thức là
nội dung cơ bản của hoạt động học tập, được xác định bởi cấu trúc và mức độ học tập
I.B.Intenxon đã xác định học tập là hoạt động đặc biệt của con người nhằm mục đích nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và hành vi
A.N.Leonchiev, P.La.Ganperin, N.Ph.Taludina cho rằng quá trình học tập xuất phát từ mục đích của hành vi
V.V Đavưđôv quan niệm học tập dựa trên cơ sở nâng cao trình độ tư duy lý
luận
Trang 31Theo A.V.Petrovxki, tâm lý hoạt động học tập là vấn đề phẩm chất tư duy, kết
hợp các loại hoạt động trong việc thực hiện mục đích và nhiệm vụ giảng dạy… [39,
Như vậy, các nhà nghiên cứu chưa có sự thống nhất hoàn toàn về khái niệm
hoạt động học tập, nhưng các quan điểm trên có những điểm chung cơ bản sau: có mục đích, tự giác, có ý thức về động, có quá trình nhận thức, đặc biệt là tư duy diễn ra trong
hoạt động học tập
Biểu hiện bản chất của hoạt động học tập:
Thứ nhất, đối tượng của hoạt động học tập là tri thức và những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng
Thứ hai, hoạt động học tập là hoạt động hướng vào làm thay đổi chính chủ thể
của hoạt động
Thứ ba, hoạt động học tập là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức
Hoạt động này diễn ra dưới sự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn của giáo viên, người
học ý thức, tự giác tích cực để lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
Thứ tư, hoạt động học tập không phải là hoạt động chỉ hướng vào tiếp thu
những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà còn hướng vào tiếp thu những tri thức của bản thân
hoạt động, nói cách khác, là tiếp thu cả phương pháp học, cách học [ 39, tr.119]
1.3.2 Ho ạt động học tập của sinh viên
Hoạt động học tập là hoạt động quan trọng của lứa tuổi thanh niên sinh viên Thông qua hoạt động học tập, sinh viên tiếp thu các tri thức khoa học mang tính chuyên ngành, hình thành những KN, kỹ xảo nghề nghiệp và phát triển nhân cách Môi trường học tập của sinh viên tại trường đại học có một số sự thay đổi lớn Để học tập được trong điều kiện mới, sinh viên phải phát huy vai trò của tự học của bản thân cũng như hợp tác, thảo luận nhóm để giải quyết các vấn đề, các nội dung học tập
Trang 32Hoạt động học tập của sinh viên là một hoạt động nhận thức tích cực, độc đáo
học tập là sự phản ánh thế giới khách quan một cách biện chứng tích cực, có chọn lọc
và sáng tạo, nội dung có tính khách quan còn hình thức mang tính chủ quan
Hoạt động học tập của sinh viên có tính chất độc đáo về mục đích và kết quả Trong lao động sản xuất vật chất nói chung, con người tạo ra sản phẩm phục vụ cuộc
sống Nhưng hoạt động học tập làm thay đổi chính bản thân người học Sinh viên học
tập để tiếp thu các tri thức kho học, hình thành KN, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển
những phẩm chất nghề nghiệp trong tương lai Cái cốt lõi của việc học tập là sinh viên
tự ý thức về việc học tập của họ Họ ý thức về động cơ, mục đích, biện pháp học tập,
họ hiểu sâu sắc rằng mình là chủ thể của việc học tập nên bản thân là người định hướng, tổ chức, họ tự đề ra mục đích học tập, có nhiệm vụ giải quyết các mục đích đó,
tự hoàn thiện các hành động học tập sao cho biết cách học và học có hiệu quả, cũng
như các biện pháp kiểm tra, đánh giá và tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập Vì vậy,
hoạt động học tập của sinh viên còn mang tính độc lập trí tuệ cao
Bản chất của quá trình học tập ở đại học là quá trình nhận thức độc đáo có tính
chất nghiên cứu được tiến hành dưới vai trò tổ chức điều khiển của giảng viên nhằm
thực hiện các nhiệm vụ dạy học ở đại học Mỗi sinh viên phải tự mình chiếm lĩnh hệ
thống tri thức, KN, phải nắm vững những cơ sở kiến thức về nghề nghiệp tương lai và
có tiềm năng thích ứng với những yêu cầu trước mắt và lâu dài do sự phát triển của
thời đại Khi tiến hành hoạt động học tập ở đại học, sinh viên không chỉ có năng lực
nhận thức thông thường mà cần tiến hành hoạt động nhận thức mang tính chất nghiên
cứu trên cơ sở khả năng tư duy độc lập, sáng tạo ở mức độ cao Với sự hướng dẫn của
giảng viên, sinh viên không tiếp thu một cách máy móc những tri thức có sẵn mà có
khả năng tiếp nhận những tri thức với óc phê phán, hoài nghi khoa học, lật ngược vấn
đề, đào sâu và mở rộng Sinh viên bước đầu tham gia tìm kiếm chân lý mới thông qua
Trang 33hoạt động nghiên cứu khoa học được tiến hành ở mức độ từ thấp đến cao tùy theo chương trình bộ môn, từ bài tập nghiên cứu sau mỗi học phần, niên luận, khóa luận,
luận văn Hoạt động này giúp sinh viên từng bước vận dụng những tri thức khoa học, phương pháp luận khoa học, hình thành những phẩm chất, tác phong của nhà nghiên
cứu nhằm góp phần giải quyết những vấn đề do thực tiễn cuộc sống xã hội, nghề nghiệp đề ra
Hoạt động học tập của sinh viên gồm hoạt động trên lớp và cả ngoài lớp Hoạt động trên lớp theo thời khóa biểu nên sinh viên được thông báo trước và có kế hoạch
học tập, còn hoạt động ngoài lớp là sự hoàn thành có logic các giờ học trên lớp Hoạt động ngoài lớp không có sự kiểm soát chặt chẽ của nhà sư phạm nhưng kết quả hoạt động sẽ được họ phân tích, đánh giá qua các bài kiểm tra và thi cử Hoạt động ngoài
lớp thể hiện rõ rệt các sở trường, năng lực tổ chức và sự sáng tạo ở sinh viên
Như vậy, hoạt động học tập của sinh viên là loại lao động trí óc căng thẳng Cường độ hoạt động phụ thuộc vào nội dung, tính chất phức tạp của nhiệm vụ, trình độ tri thức, KN, kỹ xảo, động cơ, tâm thế chung của sinh viên Do đó, trong quá trình
giảng dạy của giảng viên, sinh viên cần được đối xử, động viên một cách có mục đích,nhận được sự chỉ dẫn cần thiết nhưng không bị áp đặt
1.3.3 Đặc điểm tâm lý của sinh viên
Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng Latinh “students”, nghĩa là người làm việc, người tìm kiếm, khai thác tri thức Nó dùng nghĩa tương đương với
“student” trong tiếng Anh, “etudiant” trong tiếng Pháp
Thanh niên sinh viên là thời kì đầu người trưởng thành trẻ tuổi, thuộc độ tuổi từ
18 đến 25 Đây là thời kì thanh niên bước vào học nghề tại các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp hoặc trường dạy nghề Thanh niên sinh viên là những người đạt tới đỉnh điểm của quá trình phát triển cơ thể và sức khỏe
Sinh viên đại diện cho một nhóm xã hội đặc biệt gồm những người đang theo
học tại các trường Đại học, Cao đẳng đang chuẩn bị cho hoạt động sản xuất vật chất hay tinh thần của xã hội Họ trẻ trung, năng động, dễ thích ứng với sự thay đổi của xã
hội Tại thời điểm học tập tại các trường Đại học, Cao đẳng là cơ hội để sinh viên định hình, phát triển và hoàn thiện nhân cách Thanh niên sinh viên có chức năng chủ
Trang 34yếu là bổ sung cho đội ngũ trí thức là tầng lớp có trình độ nghề nghiệp cao trong xã
hội Họ thực hiện tích cực vai trò là nguồn dự trữ để bổ sung cho đội ngũ chuyên gia theo các nhóm nghề khác nhau trong cấu trúc của tầng lớp trí thức
Về thể chất
Ở lứa tuổi sinh viên, sự phát triển cơ thể đã hoàn thành và ổn định sau những
biến đổi sâu sắc của tuổi dậy thì Hệ xương, cơ bắp, hệ tim mạch, hệ thần kinh, trọng lượng não đã phát triển đồng đều và ổn định Nhờ sự phát triển ổn định của các tuyến
nội tiết và tăng trưởng của các hoocmon mà các tố chất về thể lực của sinh viên phát triển mạnh như sức bền bỉ, nhanh nhẹn, dẻo dai, linh hoạt,…
Về nhận thức
Sinh viên nhận thức thông qua việc kế thừa và cập nhật những thành tựu khoa
học đương đại Thông qua hoạt động học tập, năng lực và sở trường của sinh viên ngày càng mở rộng Đặc điểm quá trình nhận thức của sinh viên khác hẳn với các lứa
tuổi học sinh về sự phát triển, về tính chọn lọc cao và tính độc lập sáng tạo
Nội dung và tính chất tri giác phụ thuộc vào sự vật, hiện tượng được tri giác và
phụ thuộc vào kinh nghiệm, xu hướng nhân cách, trạng thái tâm lý của sinh viên Ở
tuổi thanh niên sinh viên, tính chọn lọc trong tri giác rất cao Họ chỉ tri giác những điều có liên quan đến hứng thú nhận thức và có ích cho hoạt động nghề nghiệp Bên
cạnh đó, óc quan sát của họ cũng trở nên nhạy bén, tạo nhiều thuận lợi cho việc định hướng và có được những hành vi phù hợp với môi trường
Ở lứa tuổi này, ghi nhớ có chủ định chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ không chủ định Cùng với sự phát triển của tính mục đích và tính ý nghĩa trong tri giác, tính chủ định trong trí nhớ của thanh niên sinh viên cũng phát triển mạnh và tạo nên tính logic
và hệ thống trong nhận thức Do đó, sinh viên có thể tự giác và chủ động trong mọi
hoạt động Nhờ có trí nhớ, sinh viên tích lũy được khối lượng tri thức , thông tin
khổng lồ cần thiết cho hoạt động của mình
Kramer (1991) cho rằng đặc trưng tư duy của tuổi này vượt khỏi tư duy hình
thức gồm ba giai đoạn: tuyệt đối hóa (18- 22 tuổi); tương đối (cuối tuổi 20- đầu trung niên); biện chứng Vậy, tư duy của thanh niên sinh viên đã và đang ở mức hoàn thiện
nhất
Trang 35Lứa tuổi thanh niên sinh viên có tư duy trừu tượng , tư duy logic phát triển ở trình độ cao cùng với sự phối hợp của nhiều thao tác tư duy Khả năng tư duy cho phép sinh viên lĩnh hội linh hoạt và nhạy bén nhiều vấn đề Thêm vào đó, sinh viên thường muốn tìm hiểu sâu vấn đề thay vì chỉ biết sơ nét vài điều Tu duy ở sinh viên
đi liền với những phẩm chất nhân cách độc lập Tư duy độc lập của sinh viên có
những biểu hiện như tự đặt vấn đề, tự tìm cách giải quyết theo nhiều chiều, nhiều phương thức khác nhau, có ý chí theo đuổi mục đích đến cùng, tự đánh giá kết quả tìm được Nhờ đó mà sinh viên được phát triển khả năng tìm tòi và nghiên cứu Không chỉ vậy, tư duy sáng tạo của sinh viên có tính chất độc đáo, không chịu rập khuôn, thường có tính mới lạ, khác thường để giải quyết những nhiệm vụ quen thuộc
Khả năng phản biện, lật ngược vấn đề của sinh viên thường xuất hiện do sự thôi thúc
của óc hoài nghi khoa học có sự phát triển vượt bậc về chất trong độ tuổi này Ngoài
ra, khả năng tưởng tượng của sinh viên cũng đạt đến trình độ cao
Khả năng chú ý của thanh niên sinh viên phát triển ở trình độ cao giúp cho quá trình phản ánh có hiệu quả hơn Sinh viên có sức tập trung chú ý cao, khối lượng chú
ý lớn và có khả năng chú ý tương đối bền vững và lâu dài hơn so với lứa tuổi học sinh
Vậy, quá trình nhận thức của thanh niên sinh viên có sự phát triển cao và hoàn thiện theo hướng “nghề nghiệp hóa”
Về xúc cảm- tình cảm
Các loại tình cảm cấp cao như: tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm
thẩm mỹ, tình yêu nam nữ phát triển tích cực nhất vào lứa tuổi thanh niên sinh viên Đây là những tình cảm chiếm vị trí quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động của sinh viên trong mọi lĩnh vực đời sống
Thông qua việc khám phá, tìm tòi và tham gia những hoạt động khác nhau mà các loại tình cảm của sinh viên trở nên rõ nét Như trong hoạt động học tập, vẻ đẹp
của sự đa dạng, mới lạ của các lĩnh vực khoa học được sinh viên cảm nhận khi có cơ
hội tiếp cận
Ở lứa tuổi sinh viên, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ sâu sắc hơn các lứa
tuổi trước Khi thích hoặc không thích điều gì họ có khả năng giải thích, phân tích
Trang 36một cách có lý lẽ Đồng thời, họ có quan niệm về cái đẹp của mình theo hướng khá
Hiện nay, cùng với sự phát triển của xã hội, công nghệ thông tin và truyền thông đã góp phần không nhỏ giúp kết nối sinh viên với tri thức và sinh viên với nhau Tuy nhiên, nếu không có ý thức kiểm soát hành vi sử dụng hợp lý thì đời sống tình cảm của sinh viên sẽ chịu ảnh hưởng bởi các tác động tiêu cực nảy sinh từ internet
Về nhân cách
Những đặc điểm đặc trưng nhất cho sự phát triển nhân cách toàn diện và phong phú của sinh viên là: đặc điểm về tự đánh giá, tự ý thức và tự giáo dục Sinh viên đánh giá hình ảnh bản thân mình qua tính chất bề ngoài, hình thức và cả nội dung các
phẩm chất, các giá trị của nhân cách Đồng thời, sinh viên còn tự đối chiếu, so sánh,
học hỏi từ những người xung quanh để điều chỉnh lại mình hướng đến sự hoàn thiện
về nhân cách Tự ý thức giúp sinh viên nhìn vào chính bản thân mình để nhận ra
những khuyết điểm và bổ sung những phẩm chất cần thiết cho phù hợp với yêu cầu
và sự phát triển của xã hội Kết quả của một số nghiên cứu đã chứng minh rằng mức
độ phát triển của những phẩm chất nhân cách có liên quan đến trình độ học lực và
cuộc sống trong tương lai Những thanh niên sinh viên có khả năng tự đánh giá, tự ý
thức một cách tích cực thì cũng sẽ có kế hoạch học tập, rèn luyện hiệu quả để đạt được những thành tựu nhất định Bên cạnh đó, những sinh viên có thành tích tốt trong học tập và nghiên cứu thường chủ động nhìn nhận, đánh giá bản thân để mỗi ngày nhân cách được phát triển tốt hơn Sinh viên chỉ có thể tự giáo dục khi họ hiểu
rõ về chính mình dựa trên kết quả tự đánh giá và tự ý thức Nhờ sự phát triển các đặc
Trang 37điểm tâm lý trên sinh viên có điều kiện đáp ứng yêu cầu học tập và các loại hình hoạt động trong môi trường Đại học, góp phần định hình và hoàn thiện nhân cách
Sự phát triển nổi bật nhất về định hướng giá trị của thanh niên sinh viên là khi
họ đứng trước việc chọn ngành nghề thi vào Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp Cấu trúc của định hướng giá trị gồm ba yếu tố sau: sự nhận thức, thái độ và hành động lựa chọn Bên cạnh đó, định hướng lối sống của sinh viên cũng có những điểm đáng chú ý Để có thể định hướng lối sống cho mình, sinh viên cần có một tầm nhìn bao quát, những trải nghiệm thực tế đa dạng, sâu sắc trước những biến động trên
thế giới về mọi mặt, đặc biệt là sự thay đổi về quan niệm giá trị, về hệ thống giá trị, cũng như thang giá trị Sinh viên định hướng lối sống có nghĩa là họ tự lựa chọn phương thức để thể hiện các đặc điểm nhân cách của bản thân, cũng như con đường
dẫn cá nhân đến với những giá trị xã hội Cụ thể, đó là quá trình sinh viên xuất tâm
những suy nghĩ, thái độ, niềm tin, lý tưởng ra ngoài và để lại dấu ấn trong sản phẩm
của họ Qua đó mà họ sẽ được mọi người nhận xét, đánh giá Bản sắc cá nhân trong
mối quan hệ với định hướng của cộng đồng hoàn toàn được chứa đựng trong định hướng lối sống của mỗi người
Tóm lại, lứa tuổi thanh niên sinh viên có những nét tâm lý điển hình, là thế
mạnh của họ so với các lứa tuổi khác như: có trình độ phát triển nhận thức cao, tư duy nhạy bén, linh hoạt, tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình
cảm trí tuệ phát triển, có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách Tuy nhiên, do kinh nghiệm sống còn hạn chế nên sinh viên cũng còn nhiều khó khăn trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới Những
yếu tố tâm lý này có sự chi phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấn đấu của sinh viên nói chung và thích ứng xã hội nói riêng
1.4 Lý lu ận về kỹ năng hợp tác trong học tập của sinh viên
1.4.1 Khái ni ệm kỹ năng hợp tác trong học tập của sinh viên
Từ kết quả nghiên cứu lý luận về kỹ năng hợp tác và hoạt động học tập của sinh viên , nhóm tác giả xác lập khái niệm “kỹ năng hợp tác trong học tập của sinh viên” như sau:
Trang 38KN h ợp tác trong học tập của sinh viên là khả năng vận dụng những tri thức, kinh nghi ệm của sinh viên về hợp tác (hợp tác là gì, làm thế nào để hợp tác hiệu
qu ả,…) để thực hiện có kết quả một nhiệm vụ, một hành động học tập của ít nhất hai người, nhằm lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp
KN hợp tác là một trong những KN được con người sử dụng trong nhiều hoạt động khác nhau như lao động nghề nghiệp, sinh hoạt hằng ngày, đặc biệt là trong hoạt động học tập Với xu hướng giáo dục hiện đại, KN hợp tác góp phần quan trọng trong
việc nâng cao chất lượng học tập của sinh viên
Nhờ có sự hợp tác với một hay nhiều cá nhân khác mà sinh viên có thể giải quyết được những nhiệm vụ học tập có khối lượng lớn và phức tạp, điều mà nếu chỉ
một mình sinh viên thì khó có thể thực hiện tốt Mặt khác, nếu các cá nhân cùng hợp tác với nhau để thực hiện một nhiệm vụ học tập nhưng kết quả đạt được lại thấp hơn khi thực hiện cá nhân, thì có nghĩa rằng sự hợp tác này đã thất bại Do đó, để sự phối
hợp giữa các cá nhân diễn ra hiệu quả thì mỗi người phải hiểu mình và hiểu người đồng hành với mình, cùng nhau san sẻ công việc, lắng nghe, giúp đỡ và tôn trọng bạn cùng nhóm
Quá trình hình thành và rèn luyện KN hợp tác trong học tập của sinh viên trải qua ba giai đoạn như sau:
- Giai đoạn nhận thức: sinh viên lĩnh hội các kiến thức về KN hợp tác trong
hoạt động học tập
- Giai đoạn quan sát, làm thử: sinh viên thực hiện hành động hợp tác trong học
tập dựa trên kiến thức đã được trang bị và kinh nghiệm vốn có
- Giai đoạn luyện tập: sinh viên hình thành những KN hợp tác riêng biệt trong
học tập, biết vận dụng sáng tạo trong những hoạt động khác
1.4.2 Bi ểu hiện kỹ năng hợp tác trong học tập của sinh viên
KN hợp tác trong học tập của sinh viên biểu hiện qua mức độ nhận thức của sinh viên về KN hợp tác cùng với trình độ thực hiện từng KN bộ phận trong mối quan
hệ với giảng viên và với sinh viên khác
1.4.2.1 Sinh viên nh ận thức rõ ràng, đầy đủ về KN hợp tác trong học tập
-Sinh viên cần hiểu được thế nào là KN hợp tác trong học tập
Trang 39- Nhận biết được tầm quan trọng của KN hợp tác trong học tập
- Xác định đủ các KN bộ phận của KN hợp tác trong học tập
- Sắp xếp đúng trình tự các giai đoạn hình thành KN hợp tác trong học tập
- Sinh viên cần xác định được ít nhất hai nhóm đối tượng sinh viên cần phải hợp tác trong học tập là giảng viên và sinh viên khác
- Sinh viên cần có định hướng hợp tác phù hợp với từng nhóm đối tượng, cụ
thể:
+ Trong m ối quan hệ với giảng viên trong học tập
• Từ mục đích giảng dạy của giảng viên bộ môn, sinh viên xác định mục đích học
tập môn học đó sao cho phù hợp
• Phối hợp thực hiện các nhiệm vụ học tập dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giảng viên bộ môn
• Có ý thức ứng xử lễ độ với giảng viên bộ môn
• Chủ động đóng góp ý kiến, trình bày tâm tư, nguyện vọng học tập với giảng viên bộ môn
+ Trong m ối quan hệ với sinh viên khác trong học tập
• Thỏa thuận với nhau về nhiệm vụ, công việc, mục đích học tập chung
• Chấp nhận sự phân công nhiệm vụ học tập, tuân thủ quy định chung
• Thể hiện vai trò của bản thân trong nhóm học tập
• Lắng nghe, chia sẻ và giúp đỡ nhau
• Hòa đồng, thân thiện, cởi mở
• Có thể giải quyết mâu thuẫn, xung đột để cùng thực hiện nhiệm vụ, hành động
Trang 40a Trong m ối quan hệ với giảng viên trong học tập
Biểu hiện về KN lắng nghe
Khi giảng viên giảng bài, hướng dẫn, sinh viên:
- Không nói chuyện, giữ trật tự
- Mắt nhìn và hướng người về phía giảng viên
- Tư thế thoải mái, không gò bó nhưng vẫn nghiêm túc
- Không ngắt lời giảng viên
- Ghi chú lại các thông tin cơ bản
- Thể hiện sự chú ý bằng ngôn ngữ, phi ngôn ngữ
- Không làm việc riêng
- Có những suy nghĩ, trăn trở về những thông tin đã nghe
- Nhớ được những thông tin giảng viên truyền đạt
Biểu hiện về KN truyền thông
Khi trình bày ý kiến, thắc mắc về bài học, sinh viên:
- Suy nghĩ thận trọng trước khi nêu ý kiến, thắc mắc
- Giơ tay xin phép hoặc nêu ý kiến, thắc mắc sau hiệu lệnh của giảng viên
- Trình bày mạch lạc, súc tích nội dung chính, không dài dòng
- Phát âm rõ ràng, chính xác, với âm lượng vừa phải, hợp lý
- Bày tỏ thái độ mong mỏi câu trả lời và lễ phép
Biểu hiện về KN thảo luận nhóm lớn (toàn lớp):
Khi giảng viên tổ chức thảo luận chung toàn lớp, sinh viên:
- Xác định rõ chủ đề, vấn đề cần bàn luận
- Xác định được mục tiêu thảo luận
- Có tìm hiểu, đọc trước các tài liệu có liên quan
- Ghi chép lại những thông tin đã thu thập được
- Lắng nghe đầy đủ các hướng dẫn của giảng viên và ý kiến của các thành viên khác
- Tôn trọng những ý kiến khác biệt của người khác đối với quan điểm của bản thân
- Phát biểu ý kiến của bản thân khi đến lượt