1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm của sinh viên trường đại học sư phạm thành phố hồ chí minh

132 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ KỸ NĂNG THIẾT LẬP QUAN HỆ VỚI GIÁO VIÊN VÀ HỌC S

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ

KỸ NĂNG THIẾT LẬP QUAN HỆ VỚI GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP SƯ PHẠM CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

MÃ SỐ: CS.2015.19.46

Chủ nhiệm đề tài: PGS TS Trần Thị Thu Mai

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ

KỸ NĂNG THIẾT LẬP QUAN HỆ VỚI GIÁO VIÊN

VÀ HỌC SINH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP

SƯ PHẠM CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Trang 3

Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện:

 Trường Đại học Sư phạm Tp HCM

 Các cá nhân tham gia đề tài:

- ThS Nguyễn Ngọc Duy

- ThS Bùi Thị Hân

- ThS Nguyễn Thị Đào Lưu

- CN Đinh Quang Ngọc

Trang 4

Chúng tôi xin chân thành cám ơn:

- Ban Giám hiệu, Hội đồng Khoa học Trường Đại học Sư phạm Tp HCM

- Lãnh đạo, Hội đồng Khoa học Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Sư phạm Tp HCM

- Phòng Khoa học Công nghệ và Môi trường – Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Tp HCM

- Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Tp HCM đã quan tâm chỉ đạo, giúp

đỡ, tạo điều kiện cho chúng tôi thực hiện đề tài

- Quý Thầy, Cô giáo và sinh viên Trường Đại học Sư phạm Tp HCM đã quan tâm, giúp đỡ, tham gia thực hiện đề tài này

Tp Hồ Chí Minh 08/2016

Chủ nhiệm đề tài

PGS.TS.Trần Thị Thu Mai

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh ĐHSP TPHCM

Độ lệch chuẩn ĐLC

Thực tập sư phạm TTSP

Trang 6

MỤC LỤC

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

5 Giả thuyết nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG THIẾT LẬP QUAN HỆ VỚI GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP SƯ PHẠM CỦA SINH VIÊN 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề về kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm của sinh viên 5

1.1.1 Một số nghiên cứu kỹ năng thiết lập quan hệ trên thế giới 5

1.1.2 Một số nghiên cứu kỹ năng thiết lập quan hệ tại Việt Nam 7

1.2 Lý luận về kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm của SVSP 8

1.2.1 Kỹ năng thiết lập quan hệ xã hội 8

1.2.2 Đặc điểm quá trình thực tập sư phạm của sinh viên sư phạm 16

1.2.3 Khái niệm kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm của sinh viên 24

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng và rèn luyện kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm của sinh viên 29

Tiểu kết Chương 1 36

Chương 2 THỰC TRẠNG KỸ NĂNG THIẾT LẬP QUAN HỆ VỚI GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP SƯ PHẠM 38

2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 38

2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng 45

2.2.1 Kết quả nghiên cứu chung về mức độ và biểu hiện của kỹ năng thiết lập quan hệ với GV và HS của SV trường ĐHSP TPHCM trong quá trình TTSP 45

Trang 7

2.2.2 Thực trạng mức độ sử dụng các hình thức thiết lập quan hệ với GV và HS

của SV trường ĐHSP TPHCM trong quá trình TTSP 61

2.2.3 Thực trạng mức độ khó khăn khi thiết lập quan hệ với GV và HS của SV trường ĐHSP TPHCM trong quá trình TTSP 63

2.2.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng thiết lập quan hệ với GV và HS của SV trường ĐHSP TPHCM trong quá trình TTSP 66

2.2.5 Thực trạng mức độ tham gia các hoạt động nhằm nâng cao kỹ năng thiết lập quan hệ với GV và HS của SV trường ĐHSP TPHCM trong quá trình TTSP 68

2.2.6 Thực trạng mức độ hiệu quả của các hoạt động trường ĐHSP TPHCM đã tổ chức nhằm nâng cao kỹ năng thiết lập quan hệ với GV và HS của SV trong quá trình TTSP 71

Chương 3: BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG THIẾT LẬP QUAN HỆ VỚI GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH CHO SINH VIÊN 75

3.1 Biện pháp rèn luyện kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh cho sinh viên 75

3.2 Khảo sát tính cần thiết và khả thi của một số biện pháp rèn luyện kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh cho sinh viên 82

Tiểu kết Chương 3 89

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC 1

Trang 8

Mẫu 1.10 CS

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

Tên đề tài: Kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Mã số: CS.2015.19.46

Chủ nhiệm đề tài: PGS TS Trần Thị Thu Mai Tel: 0982970369

E-mail: tranthumai@gmail.com

Cơ quan chủ trì đề tài : Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM

Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện :

 Cơ quan :

- Trường Đại học Sư phạm Tp HCM

 Các cá nhân tham gia đề tài:

2.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

2.2 Khảo sát thực trạng kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh của

sinh viên trường ĐHSP TPHCM trong quá trình thực tập sư phạm Phân tích nguyên nhân của thực trạng

Trang 9

2.3 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hình thành kỹ năng thiết lập quan hệ với

giáo viên và học sinh của sinh viên trong quá trình thực tập sư phạm

2.4 Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và

học sinh cho sinh viên Khảo sát tính cần thiết và khả thi của biện pháp đề xuất

3 Kết quả chính đạt được (khoa học, ứng dụng, đào tạo, kinh tế-xã hội):

3.1 Về lý luận

Đề tài đã hệ thống những nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn về kỹ năng thiết lập quan hệ nói chung trên thế giới cũng như Việt Nam Đồng thời cũng đưa ra khái niệm Kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm của SVSP, phân chia kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm của SVSP theo 5 mức độ để nghiên cứu và đánh giá, nêu ra cấu trúc của kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm của SVSP bao gồm sáu kỹ năng thành phần Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thiết lập mối quan hệ giữa giáo sinh với giáo viên và học sinh

3.2 Về thực tiễn

Số sinh viên sư phạm ĐHSP TPHCM của mẫu nghiên cứu có 400 sinh viên Kỹ năng thiết lập quan hệ với GV và HS của SV trường ĐHSP TPHCM trong quá trình thực tập sư phạm đạt được ở mức độ trung bình Kỹ năng phát triển khá đồng đều nhau giữa các SV Các kỹ năng thành phần của kỹ năng thiết lập quan hệ với GV và HS của SV trong quá trình thực tập sư phạm đều ở mức trung bình

Yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến kỹ năng thiết lập quan hệ với GV và HS của SV trong quá trình thực tập sư phạm là yếu tố sự hợp tác của GV và HS; và bầu không khí tâm lý nơi nhà trường thực tập

Trong việc phát triển kỹ năng thiết lập quan hệ với GV và HS cho SV trong quá trình thực tập sư phạm, sinh viên đánh giá các biện pháp sau đây ở mức độ rất cần thiết

và khả thi: tập huấn kỹ năng thiết lập quan hệ với GV và HS cho SV; tham gia nhiều hoạt

Trang 10

động với GV và HS; tăng thời lượng tiếp xúc với GV và HS; và lồng ghép kỹ năng thiết lập quan hệ với GV và HS vào chương trình học trước khi SV đi thực tập

4 Sản phẩm của đề tài:

- 01 Bài báo khoa học đăng trên Tạp chí Khoa học của Trường ĐHSP TPHCM

- Đã hướng dẫn 01 học viên Cao học nghiên cứu đề tài theo hướng nghiên cứu

về kỹ năng giao tiếp

-

SUMMARY

Project Title: Skills of establishing relationships with teachers and pupils in the

process of pedagogical internship of the Ho Chi Minh City University of Pedagogy

students Code number: CS.2015.19.46

Coordinator: Tran Thi Thu Mai Ph D Assoc Prof

Tel: 0982970369

Email: tranthumai@gmail.com

Implementing Institution: Department of Psychology, Ho Chi Minh City University

of Pedagogy

Cooperating Institution(s) and Individual:

- Ho Chi Minh City University of Pedagogy

- Nguyen Ngoc Duy, MA,

- Bui Thi Han, MA

- Nguyen Thi Dao Luu, MA

- Dinh Quang Ngoc, BA

Duration: September 2015 – September 2016

1 Objectives:

- Assess the level of expression of the skills of establishing relationships with teachers and pupils of the Ho Chi Minh City University of Pedagogy students during their process of pedagogical internship

Trang 11

- Propose measures to train the skills of establishing relationships with teachers and pupils for Ho Chi Minh City University of Pedagogy students

2 Main contents:

- Systematize theoretical framework of the research issue

- Survey the reality of Ho Chi Minh City University of Pedagogy students’ skills of establishing relationships with teachers and pupils during their process of pedagogical internship Analyze the causes of the reality

- Identify the factors affecting the formation of the skills of establishing relationships with teachers and pupils of the pedagogical students during their internship

- Propose some measures to train the skills of establishing relationships with teachers and pupils for Ho Chi Minh City University of Pedagogy students, surveying the necessity and the feasibility of the proposed measures

3 Results obtained (science, application, training, economy-society):

3.1 In theory:

- The study has systematized theoretical and reality research on skills of establishing relationships in the world in general as well as in Vietnam It also introduces the concept of skills of establishing relationships with teachers and pupils during the pedagogical internship of Ho Chi Minh City University of Pedagogy students It divides the skills of establishing relationships with teachers and pupils during the internship of Ho Chi Minh City University of Pedagogy students into 5 levels for research and evaluation, pointing out that the structure of skills of establishing relationships with teachers and pupils during the internship of

Ho Chi Minh City University of Pedagogy students includes six componential skills The study also examines the factors that affect the process of establishing the relationships between the pedagogical students and teachers and pupils

3.2 In reality:

- The number of Ho Chi Minh City University of Pedagogy students of the sample

is 400 students The skills of establishing relationships with teachers and pupils of

Trang 12

the pedagogical students during their internship are at the average level This skill

is quite equal between the students The componential skills of the skills of establishing relationships with teachers and pupils of the pedagogical students during their internship are at the average level

- Factors which have the most effect on the skills of establishing relationships with teachers and pupils of the pedagogical students during their pedagogical internship are: the collaboration of teachers and students; and psychological atmosphere at the school where the students have their internship

- In developing the skills of establishing relationships with teachers and pupils for the pedagogical students during their internship, the students consider the following measures to be extremely necessary and feasible: training the skills of establishing relationships with teachers and pupils for the pedagogical students; getting involved in many activities with teachers and pupils; increasing the interaction time with teachers and pupils; and integrating the skills of establishing relationships with teachers and pupils into the curriculum before the students have their pedagogical internship

4 The project’s product:

- 01 scientific article printed in Science Magazine of Ho Chi Minh City University

of Pedagogy

- 01 MA projects of communication skills

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhiều nghiên cứu về tâm lý học sư phạm trước đây đã chứng minh được mối quan hệ của giáo viên và giáo viên, giáo viên và học sinh có vai trò quan trọng trong hoạt động sư phạm của nhà trường, đặc biệt là việc dạy học và giáo dục học sinh Bên cạnh đó, thực tế trong thời gian qua cũng minh chứng rõ ràng là mâu thuẫn trong mối quan hệ của giáo viên với học sinh không chỉ làm ảnh hướng xấu đến kết quả dạy học

và giáo dục mà thậm chí còn dễ dẫn đến các hành vi mang tính bạo lực giữa giáo viên

Trước những thách thức của cuộc sống và những đòi hỏi của công cuộc hội nhập,

kĩ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh là rất cần thiết cho người giáo viên

Vì thế, đây là nội dung cần thiết trong chuẩn đầu ra của sinh viên ngành sư phạm hiện nay

Bên cạnh đó, theo quy chế đào tạo tín chỉ hiện nay, thì sinh viên sư phạm phải có hai đợt thực tập sư phạm với thời lượng lần lượt tương ứng là 2 tín chỉ cho sinh viên năm 3 và 6 tín chỉ đối với sinh viên năm 4, để sinh viên bước đầu tiếp xúc thực tế với môi trường làm việc sau này cũng như thực hành, rèn luyện những kiến thức đã học trên lớp Tuy nhiên, với thời lượng thực tập như thế, sinh viên sư phạm sẽ có những thuận lợi và khó khăn gì trong việc thiết lập mối quan hệ với giáo viên và học sinh? Thực tế kĩ năng thiết lập mối quan hệ với giáo viên và học sinh của sinh viên sư phạm tại trường thực tập ở mức độ nào, biểu hiện ra sao? Và liệu có biện pháp nào để rèn luyện kĩ năng thiết lập mối quan hệ với giáo viên và học sinhcho sinh viên sư phạm

Trang 14

hay không? Việc trả lời những câu hỏi này góp một phần đáng kể trong việc nâng cao chất lượng thực tập của sinh viên sư phạm nói riêng và chất lượng đầu ra của sinh viên

sư phạm nói chung Tuy nhiên, thực tế nghiên cứu vẫn còn rất ít đề tài trong nước nghiên cứu và trả lời thỏa đáng cho vấn đề này Với tất cả những lý do trên mà đề tài

“Kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh của sinh viên trường Đại học

Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình thực tập sư phạm” được xác lập

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh của sinh viên trong quá trình thực tập sư phạm

Khảo sát thực trạng kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh của sinh viên trường ĐHSP TPHCM trong quá trình thực tập sư phạm

Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hình thành kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh của sinh viên trong quá trình thực tập sư phạm

Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh cho sinh viên Khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm của sinh viên trường ĐHSP TPHCM

Khách thể nghiên cứu: Sinh viên trường ĐHSP TPHCM

Trang 15

5 Giả thuyết nghiên cứu

Sinh viên trường ĐHSP TPHCM có kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm ở mức trung bình Kỹ năng này chịu ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Mục đích: Tìm hiểu tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

xung quanh vấn đề kỹ năng thiết lập quan hệ để:

Chỉ ra các khía cạnh đã và chưa đề cập xung quanh vấn đề kỹ năng thiết lập

mối quan hệ, biện pháp rèn luyện kỹ năng thiết lập mối quan hệ

Xác định quan điểm chủ đạo và khái niệm công cụ, khái niệm liên quan trong nghiên cứu thực tiễn

Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài

Cách thức thực hiện: thu thập tài liệu, phân tích tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Xin ý kiến chuyên gia

Xin ý kiến các chuyên gia trong cách thức thực hiện đề tài, xây dựng công cụ nghiên cứu và giải quyết những khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện đề tài

Trang 16

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Tìm hiểu biểu hiện kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm của sinh viên và biện pháp rèn luyện kỹ năng thiết lập quan

hệ với giáo viên và học sinh

7.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Thu thập thông tin chi tiết và thông tin kiểm chứngvề biểu hiện và biện pháp hiệu quả rèn luyện kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm của sinh viên

7.2.4 Phương pháp quan sát

Dự giờ quan sát biểu hiện mức độ kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm của sinh viên

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phần mềm thống kê SPSS 16.0 để xử lý dữ liệu thu được trong quá trình nghiên cứu đề tài

Trang 17

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG THIẾT LẬP QUAN HỆ VỚI GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH TRONG QUÁ

TRÌNH THỰC TẬP SƯ PHẠM CỦA SINH VIÊN

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề về kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên

và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm của sinh viên

1.1.1 Một số nghiên cứu kỹ năng thiết lập quan hệ trên thế giới

Từ lâu vấn đề kỹ năng đã được các nhà tâm lý học và giáo dục học quan tâm nghiên cứu theo các hướng khác nhau Nhìn chung có bốn hướng nghiên cứu chính là: Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ khái quát; Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ cụ thể Nghiên cứu kỹ năng trong mối tương quan với tri thức nghề nghiệp; Nghiên cứu kỹ năng khai thác dưới góc độ kỹ năng bổ trợ cho các kỹ năng chuyên môn hay còn gọi là

kỹ năng sống, kỹ năng mềm

Hướng thứ nhất, nghiên cứu kỹ năng ở mức độ khái quát Đại diện cho hướng nghiên cứu này có P.Ia.Galperin, V.A.Crutexki, P.V.Petropxki,… Trong đó, P.Ia.Galperin chủ yếu đi sâu vào vấn đề hình thành tri thức và kỹ năng theo lý thuyết hình thành hành động trí tuệ theo các giai đoạn [7]

Hướng thứ hai, nghiên cứu kỹ năng ở mức độ cụ thể Các nhà nghiên cứu kỹ năng ở các lĩnh vực hoạt động khác nhau như kỹ năng lao động gắn với những tên tuổi các nhà tâm lý – giáo dục như V.V.Tsebưseva, kỹ năng học tập gắn với G.X.Cochiuc, N.A.Menchinxcaia

Hướng thứ ba là nghiên cứu mối tương quan giữa kiến thức và kỹ năng: Trong nghiên cứu của Ferguson và Womack (1993) với hơn 200 sinh viên tốt nghiệp cho thấy kiến thức môn học giỏi chỉ là cơ sở, là nền tảng, tiền đề quan trọng để tạo ra kết quả học tập tốt, nó phải được kết hợp với kiến thức kỹ năng về nghiệp vụ sư phạm như

kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tổ chức, quản lý, kỹ năng phát triển nhu cầu đa dạng của người học Dự án giáo viên cho thế kỷ mới do tổ chức Carmegic ở Mỹ (2002) đã đưa

ra những khuyến cáo trong công tác đào tạo giáo viên và đề xuất ra các giải pháp đào tạo giáo viên có hiệu quả

Trang 18

Hướng thứ tư nghiên cứu kỹ năng dưới góc độ kỹ năng sống có chủ yếu trong các chương trình hành động của UNESCO (Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc), WHO (Tổ chức Y tế thế giới), UNCEF (Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc) cũng như trong các chương trình hành động của các tổ chức xã hội trong và ngoài nước… ở hướng nghiên cứu này, các tác giả chủ yếu xây dựng hệ thống các kỹ năng của từng loại hoạt động, mô tả chân dung các kỹ năng cụ thể và các điều kiện, quy trình hình thành và phát triển hệ thống các kỹ năng đó…theo hướng nghiên cứu này các quốc gia đã triển khai các chương trình kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống tập trung cho đối tượng sinh viên không chính quy

Bên cạnh kỹ năng, vấn đề giao tiếp cũng được tâm lý học quan tâm nghiên cứu

từ những năm đầu thế kỷ XX Tùy theo cách tiếp cận mà các trường phái tâm lý hoặc các học giả có cái nhìn nhiều chiều về vấn đề này Theo tâm lý học Gestalt thì hiện tượng giao tiếp như một cấu trúc trọn vẹn Họ phân tích giao tiếp thành các yếu tố và đặt chúng trong hệ thống các yếu tố rộng hơn, các quan hệ xã hội Phân tâm học với học giả điển hình là S.Freud thì lại đi sâu nghiên cứu về sự đồng nhất hóa và cho rằng chính cơ chế đồng nhất hóa là yếu tố nền tảng cho hoạt động giao tiếp Tâm lý học Liên Xô cũng có những nghiên cứu về giao tiếp theo hai hướng là những lý luận chung

và các dạng giao tiếp nghề nghiệp, đặc biệt là giao tiếp sư phạm Theo tâm lý học nhân văn thì giao tiếp là con đường để giúp con người thỏa mãn những nhu cầu

Cách riêng, thiết lập mối quan hệ là một khâu quan trọng trong giao tiếp Khi giao tiếp được nghiên cứu thì vấn đề thiết lập mối quan hệ cũng được quan tâm sâu rộng trên nhiều linh vực đặc biệt là trong lĩnh vực đối ngoại, kinh doanh và đời sống hôn nhân gia đình

Hai tác giả Matthew McKay, Patrick Fanning đã có những nghiên cứu về việc thiết lập các mối quan hệ nơi công sở và tóm lược lại qua cuốn sách “Couple Skills: Making Your Relationship Work” với những bí quyết cụ thể cho việc thiết lập và xây dựng các mối quan hệ tích cực nơi làm việc [28]

Tác giả Julia B Colwell trong tác phẩm “The Relationship Skills” thì lại quan tâm nghiên cứu đến tổng thể những mối quan hệ xung quanh một cá nhân và những biện pháp để thiết lập, quản lý các mối quan hệ đó một cách ổn định và tích cực [25]

Trang 19

Trong khi đó tác giả John Gottman trong cuốn sách “The Relationship Cure: A

5 Step Guide to Strengthening Your Marriage, Family, and Friendships” thì lại tập trung về cách vận hành mối quan hệ trong gia đình

Đối với môi trường sư phạm thì có nhiều nghiên cứu về giao tiếp, ứng xử sư phạm, đặc biệt là các nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên Xô Điển hình như nhà tâm lý A.A.Leonchiev đã liệt kê ra các kỹ năng giao tiếp sư phạm như kỹ năng điều khiển hành vi bản thân, kỹ năng quan sát, kỹ năng nhạy cảm xã hội, biết phán đoán nét mặt người khác, kỹ năng đọc, hiểu, biết mô hình hóa nhân cách học sinh, kỹ năng làm gương cho học sinh, kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ, kỹ năng kiến tạo sự tiếp xúc, kỹ năng nhận thức Tuy nhiên việc nghiên cứu chuyên sâu về thiết lập mối quan hệ trong môi trường sưu phạm thì chưa được nghiên cứu nhiều.Các nghiên cứu về mối quan hệ trong trường học thường xoay quanh đến việc phát triển giới tính và nhu cầu thiết lập mối quan hệ của học sinh với nhau như chương trình giáo dục giới tính và các mối quan hệ cho học sinh “Sex and Relationship Education Guidance” của Hoa Kỳ năm

2016

1.1.2 Một số nghiên cứu kỹ năng thiết lập quan hệ tại Việt Nam

Vấn đề kỹ năng giao tiếp nói chung đặc biệt là kỹ năng giao tiếp của sinh viên

sư phạm đã được các học giả Việt Nam quan tâm nghiên cứu trong những thời gian qua với bốn hướng nghiên cứu chính là: Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp của sinh viên dưới góc độ kỹ năng giao tiếp sư phạm và các kỹ năng nghiệp vụ sư phạm của sinh viên; Nghiên cứu kỹ năng của sinh viên dưới góc độ khai thác lối sống của sinh viên

và chỉ ra những nguyên nhân do thiếu hụt kỹ năng sống không được trang bị từ khi còn học ở trường phổ thông; Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp dưới góc độ kỹ năng hoạt động

xã hội; Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp là hệ thống kỹ năng bổ trợ cho các kỹ năng dạy học, giáo dục của người giáo viên đòi hỏi các trường sư phạm cần có nội dung, chương trình giáo dục đối với hệ thống kỹ năng sống

Tuy nhiên, vấn đề mối quan hệđặc biệt là thiết lập mối quan hệở nước ta chưa được nghiên cứu nhiều Các nghiên cứu chỉ mớixoay quanh lĩnh vực đàm phán kinh doanh và mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình Cách riêng thiết lập mối

Trang 20

quan hệ trong môi trường sư phạm đặc biệt là trong quá trình thực tập sư phạm thì còn rất ít

Nhìn chung, hầu hết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đều đã có những ghiên cứu về kỹ năng thiết lập quan hệ nói chung Các nghiên cứu này đều chủ yếu xoáy vào lĩnh vực kinh doanh và gia đình Cũng có một số nghiên cứu về thiết lập mối quan hệ trong môi trường sư phạm Nhưng về thiết lập mối quan hệ với giáo viên

và học sinh trong quá tình thực tập sư phạm của sinh viên thì chưa được quan tâm nghiên cứu cả về chiều sâu và chiều rộng

1.2 Lý luận về kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm của SVSP

1.2.1 Kỹ năng thiết lập quan hệ xã hội

1.2.1.1 Khái niệm kỹ năng

Theo từ điển Tiếng Việt, thì kỹ năng có nghĩa là “thói quen áp dụng vào thực tiễnhững kiến thức đã học hoặc là những kết quả của quá trình luyện tập.”

Trong tiếng Anh, kỹ năng là “skill” và được từ điển Oxford định nghĩa là khả năng tìm ra giải pháp cho một vấn đề nào đó và có được nhờ rèn luyện

Theo từ điển Giáo dục học, thì kỹ năng được định nghĩa là “là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy cho dù dó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ.”

Tác giả Vũ Dũng thì lại đưa ra định nghĩa kỹ năng trong từ điển Tâm lý học là

“năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng”[5]

Khi nghiên cứu về kỹ năng, Tâm lý học có hai quan điểm khác nhau Quan điểm thứ nhất là xem kỹ năng là mặt kỹ thuật của thao tác, hành động và hoạt động Quan điểm thứ hai là xem kỹ năng là biểu hiện của năng lực con người Trong đó, cách xem xét kỹ năng theo hướng thứ hai tức là nghiên về năng lực của con người để thực hiện các công việc có kết quả đã bao hàm cả quan điểm kỹ năng là kỹ thuật hành động trong đó, bởi chỉ khi sự vận dụng tri thức vào thực tiễn một cách thuần thục thì

Trang 21

kết quả công việc mới có chất lượng Trên cơ sở này, chúng ta có thể xác định “kỹ

năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép.Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật của hành động, mà còn là biểu

hiện năng lực của con người.” [13, Tr.104]

Một đặc điểm đặc trưng của kỹ năng là ý thức luôn đóng vai trò tích cực và thường trực Hay nói cách khác là khi thực hiện một kỹ năng bất kỳ, chủ thể luôn dùng

ý thức để nhận biết các thao tác hành vi của mình Và cũng vì điều này mà một kỹ năng luôn có ba mặt của ý thức đó là nhận thức, thái độ và hành vi

Ngoài ra, kỹ năng còn có đặc điểm là có sự thống nhất giữa tính ổn định và linh hoạt Kỹ năng không nhất thiết phải gắn liền với một đối tượng nhất định mà trong những trường hợp khác nhau, chủ thể có thể di chuyển linh hoạt và dễ dàng sang những đối tượng mới Và với đặc điểm này mà có nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu vào việc phân chia các mức độ của kỹ năng

Theo nhà tâm lý học V.P Bexpalko, thì có năm mức độ kỹ năng lần lượt theo thứ bậc từ thấp đến cao là: mức độ kỹ năng ban đầu, mức độ kỹ năng thấp, mức độ kỹ năng trung bình, mức độ kỹ năng cao và mức độ kỹ năng hoàn hảo

Bảng 1.1: Bảng phân chia các mức độ kỹ năng theo quan điểm của K.K Platonow

và G.G Golubev [13, Tr.106]

1 Mức độ ban đầu Các kỹ năng sơ đẳng, hành động được thực hiện theo

cách thử và sai, dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm

2 Mức độ thấp Biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ

3 Mức độ trung

bình

Có những kỹ năng chung nhưng còn mang tính rời rạc, riêng lẻ

4 Mức độ cao Có những kỹ năng chuyên biệt để hành động

5 Mức độ hoàn hảo Vận dụng sáng tạo những kỹ năng trong các tình

huống khác nhau

Trang 22

1.2.1.2 Khái niệm quan hệ xã hội

Trong tiếng Anh, quan hệ xã hội là “Social relation” và theo từ điển Tiếng Việt thì quan hệ xã hội nghĩa là những quan hệ giữa người với người được hình thành trong quá trình hoạt động kinh tế, xã hội, chính trị, pháp luật, tư tưởng, đạo đức, văn hóa, v.v Mọi sự vật và hiện tượng trong xã hội đều có những mối liên hệ với nhau Nhưng không phải mối liên hệ nào cũng là quan hệ xã hội

Quan hệ xã hội khác với quan hệ tình cảm thuần túy còn được gọi là quan hệ sơ cấp, được dùng để chỉ đối lập với quan hệ xã hội - quan hệ thứ cấp Quan hệ tình cảm như quan hệ trong gia đình, họ hàng - thực chất cũng là một loại quan hệ xã hội Về cơ bản, quan hệ tình cảm cũng có cơ chế hình thành giống như các loại quan hệ xã hội khác, tức là cũng phải dựa trên sự tương tác lâu dài, ổn định của các chủ thể hành động [15]

Quan hệ xã hội được hình thành từ tương tác xã hội Những tương tác này không phải là ngẫu nhiên, mà thường phải có mục đích, có hoạch định Những tương tác này phải có xu hướng lặp lại, ổn định và tạo lập ra một mô hình tương tác Nói cách khác, các chủ thể hành động trong mô hình tương tác này phải đạt được một mức

độ tự động hóa nhất định nào đó Hai cá nhân ngẫu nhiên gặp nhau ở sân bay, nhà hàng hoặc rạp hát, v.v dù có chào hỏi, trao đổi, trò chuyện lần đó; nhưng lần gặp sau lại không nhận ra nhau, hoặc không tiếp tục chào hỏi, trao đổi, trò chuyện thì giữa họ chưa thể coi là có mối quan hệ xã hội Trái lại, nếu như ở những lần gặp gỡ sau các cá nhân đó lại tiếp tục sự giao tiếp và phối hợp hành động, thì giữa họ có thể coi là có mối quan hệ xã hội Quan hệ xã hội là quan hệ bền vững, ổn định của các chủ thể hành động Các quan hệ này được hình thành trên những tương tác xã hội ổn định, có tính lặp lại, v.v Các tương tác này còn có thể mang những đặc trưng khác nữa, và qua đó tạo ra các loại quan hệ xã hội khác nhau Điển hình là bốn loại quan hệ xã hội như sau: Quan hệ giữa các tập đoàn lớn, quan hệ giữa các nhóm xã hội nhỏ, quan hệ giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội và quan hệ giữa các cá nhân Trong phạm vi nghiên cứu,

đề tài này chỉ nghiên cứu ở loại mối quan hệ thứ tư là quan hệ giữa các cá nhân với nhau Các nhà xã hội học phương Tây gần như đồng nhất quan hệ xã hội với quan hệ

Trang 23

giữa các cá nhân Thực tế, quan hệ xã hội của các cá nhân chỉ tạo thành một bộ phận khá quan trọng của toàn bộ quan hệ xã hội Và thực chất, mọi quan hệ giữa các cá nhân được thiết lập nhờ những tương tác xã hội có tính chuẩn mực, ổn định, đều là những quan hệ xã hội Tuy vậy, những quan hệ này lại khác biệt nhau rất nhiều nếu xét theo nội dung hoặc tính xã hội của từng loại quan hệ, có những quan hệ mang nhiều tính xã hội trong khi có những loại quan hệ ít mang tính xã hội hơn

Các hình thức quan hệ và tương tác trong xã hội phát triển theo các giai đoạn như sau: trước tiên và cũng là cơ bản nhất là hành vi, tức là chuyển động vật lý khác nhau của cơ thể Sau đó là hành động, tức là những chuyển động với một ý nghĩa và mục đích nhất định Tiếp theo là những hành vi xã hội, hoặc hoạt động xã hội, có đối tượng (trực tiếp hoặc gián tiếp) Tương tác xã hội lần lượt hình thành và làm cơ sở của mối quan hệ xã hội Quá trình hình thành này được minh họa trong bảng dưới đây [17]:

Bảng 1.2: Quá trình hình thành quan hệ xã hội

Chuyển

động

vật lý

Ý nghĩa

Tác động đối với người khác

Chờ đợi phản ứng

Độc đáo/hiếm tương tác

Tương tác

Tình

cờ, không định trước, nhưng lặp lại

Thường xuyên

Tương tác được

mô tả theo tập quán, pháp luật, truyền thống

Đề án của các tương tác xã hội

Hành

vi Có

Hành

động Có Có

Trang 25

Tóm lại, quan hệ xã hội là mối quan hệ giữa con người với con người được hình thành trên những tương tác xã hội ổn định, có tính lặp lại và theo những chuẩn mực nhất định

1.2.1.3 Khái niệm kỹ năng thiết lập quan hệ xã hội

Kỹ năng thiết lập quan hệ xã hội có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của mỗi cá nhân Trong cuộc sống, con người không thể tồn tại khi chỉ có một mình, giao tiếp là một nhu cầu và cũng là phương thức để con người tồn tại và phát triển Và thiết lập mối quan hệ là một khâu quan trọng của giao tiếp Các mối quan hệ được thiết lập và vận hành tốt sẽ đảm bảo cho sự thành công trong công việc cũng như cuộc sống của con người [6, Tr.61]

Trong đời sống thường nhật, kỹ năng thiết lập quan hệ thường được hiểu là nghệ thuật, kỹ thuật làm quen, tạo dựng mối quan hệ với người khác một cách hiệu quả và dễ dàng

Theo một số chuyên gia trong lĩnh vực giao tiếp thì kỹ năng thiết lập quan hệ được hiểu với nhiều góc độ khác nhau khi được người nghiên cứu phỏng vấn Những quan điểm này tùy theo góc độ nhìn nhận và quan điểm cá nhân của các chuyên gia Tuy nhiên có thể hệ thống thành ba nhóm quan điểm chính như sau:

Thứ nhất là theo quan điểm của nhà giáo dục Võ Văn Nam thì kỹ năng thiết lập quan hệ là “chủ thể muốn mở lòng mình và tạo điều kiện cho đối phương tìm hiểu về chủ thể, qua đó tạo được sự thấu hiểu, thấu cảm Hay nói khác đi là bắt được nhịp cầu

để tương tác, tương hỗ nhau để cùng đạt được những mục đích hay nhu cầu nào đó Và cái cầu kia chính là mối quan hệ Để có được kỹ năng thiết lập quan hệ thì chủ thể cần phải có khả năng lắng nghe, khả năng thấu hiểu và khả năng truyền thông

Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng kỹ năng thiết lập quan hệ là năng lực của cá nhân trong việc tạo lập, duy trì và nuôi dưỡng một mối quan hệ tốt đẹp nhằm đạt một mục đích nhất định của chủ thể Đại diện cho quan điểm này là một số giáo viên giảng dạy kỹ năng giao tiếp như Nguyễn Thị Bích Hạnh, Chế Dạ Thảo, Trần Vĩnh Phú,…

Và theo các giáo viên này kỹ năng thiết lập quan hệ được biểu hiện cụ thể qua các khả

Trang 26

năng là: giao tiếp bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ tốt, tạo được không khí thân thiện, tin cậy, sự chân thành với đối tác

Nhóm quan điểm thứ ba thì cho rằng kỹ năng thiết lập quan hệ là khả năng tạo được thiện cảm khi tương tác với người khác qua đó nhanh chóng xây dựng được mối quan hệ và duy trì được mối quan hệ đó lâu dài trong tương lai với đại diện là một số giáo viên giảng dạy giao tiếp như Nguyễn Thị Trang Nhung, Lê Thị Thanh Thủy, Lò Thị Thu Thúy,…Và các giáo viên này cho rằng để có được kỹ năng thiết lập quan hệ thì cần có yếu tố nội lực và ngoại lực Trong đó, nội lực gồm có: sự tự tin, sự chân thành, hiểu biết về đối phương, kỹ năng giao tiếp, Và ngoại lực là: môi trường nhóm, thái độ của đối phương,

Theo Huỳnh Văn Sơn thì kỹ năng thiết lập quan hệ xã hội không hẳn là một sự toan tính, vụ lợi mà nó là sự thân thiện, trân trọng, quan tâm và yêu thương đối tác Và điều quan trọng trong kỹ năng thiết lập quan hệ xã hội là gia tăng sự an toàn và niềm tin lẫn nhau Theo tác giả, để có được kỹ năng thiết lập quan hệ xã hội, thì chủ thể cần

có những kỹ năng thành phần sau: kỹ năng thể hiện cá nhân trong buổi đầu gặp gỡ; kỹ năng quan tâm đến người khác trong giao tiếp và công việc; kỹ năng gây ấn tượng và

mở đầu cuộc giao tiếp; kỹ năng gây hiệu ứng lưu luyến trong trò chuyện và giao tiếp;

kỹ năng mở lời hợp tác dựa trên các ý tưởng, phát kiến; kỹ năng thắt chặt mối quan hệ bằng thủ thuật “tô bóng”, “đặt dấu” trong giao tiếp tích cực

Matt Polo, đưa ra 6 lời khuyên xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng là:

- Lập kế hoạch dự án rõ ràng: bao gồm mục tiêu, sản phẩm mong đợi, thời lượng cho các công việc cụ thể

- Biết giao tiếp thẳng thắn và hiệu quả

- Chia sẻ kiến thức, sự hiểu biết, kỹ năng của bản thân

- Cho họ biết các thông tin về bạn như địa chỉ liên lạc, web riêng,…

- Biết cách quản lý thời gian: Hoàn thành công việc tốt và đúng thời hạn

- Luôn chân thành với người khác và chính bản thân

Bên cạnh đó, Liggy Webb trong cuốn “How To Be Happy” đưa ra 8 lời khuyên

để phát triển mối quan hệ tích cực:

Trang 27

- Chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt

- Lắng nghe một cách hiệu quả

- Chia sẻ với người khác thời gian của mình

- Phát triển kỹ năng giao tiếp

- Biết quản lý các thiết bị di động (khi đang giao tiếp với người khác, tránh để họ phân tâm)

- Học cách phản hồi mang tính xây dựng và nhận thông tin phản hồi

- Có sự tin tưởng lẫn nhau

- Biết đồng cảm với người khác

Axner trong cuốn sách “The community leadership project curriculum” đưa ra

11 cách thức xây dựng mối quan hệ là:

- Xây dựng nhiều mối quan hệ cùng một lúc

- Có thái độ thân thiện và biết kết nối (nụ cười, lời hỏi thăm,…)

- Để mọi người nói về bản thân họ, suy nghĩ của họ

- Kể cho mọi người về mình, điều mình quan tâm, điều mình suy nghĩ, mong muốn thực hiện

- Đến nơi và tham gia các hoạt động của những người mà mình cần xây dựng mối quan hệ

- Chấp nhận người khác với những gì họ đang có

- Giả định người khác cũng muốn tạo mối quan hệ

- Vượt qua nỗi sợ hãi nếu bị từ chối

- Phải biết kiên trì

- Mời mọi người tham gia các hoạt động nhằm đạt mục tiêu chung

- Biết yêu quí người khác

Theo tác giả Robert Epstein (University of California) thì cấu trúc của kỹ năng thiết lập mối quan hệ gồm có 7 kỹ năng cơ bản là:

- Kỹ năng giao tiếp

- Kỹ năng giải quyết xung đột

- Sự hiểu biết về đối tác

- Các kỹ năng trong đời sống hằng ngày

Trang 28

- Hiểu được điểm mạnh và điểm yếu của mình

- Có hiểu biết về các đặc điểm giới tính

- Kỹ năng quản lý cảm xúc

Có thể thực hiện việc nuôi dưỡng – thiết lập quan hệ xã hội bằng các hình thức sau: Nuôi dưỡng mối quan hệ xã hội thông qua hình thức giao tiếp điện thoại; nuôi dưỡng mối quan hệ xã hội thông qua hình thức quà tặng và trò chuyện thân tình; nuôi dưỡng mối quan hệ thông qua hình thức mối quan hệ xã giao; nuôi dưỡng mối quan hệ

xã hội thông qua hành động thăm viếng; nuôi dưỡng mối quan hệ xã hội thông qua hành động trao đổi danh thiếp

Tóm lại, qua những quan điểm trên, ta có thể hiểu: kỹ năng thiết lập quan hệ xã hội là khả năng vận dụng các kỹ thuật giao tiếp dựa trên nền tảng của thiện cảm, niềm tin và sự thấu hiểu về nhau để xác lập, duy trì và phát triển mối quan hệ nhằm đạt được một mục đích nhất định của chủ thể

Kỹ năng thiết lập mối quan hệ, theo chúng tôi bao gồm sáu biểu hiện chính là:

Kỹ năng thể hiện bản thân với đối tượng cần thiết lập mối quan hệ; kỹ năng quan tâm đến đối tượng cần thiết lập mối quan hệ; kỹ năng gây hiệu ứng lưu luyến trong giao tiếp với đối tượng cần thiết lập mối quan hệ; kỹ năng mở lời hợp tác với đối tượng cần thiết lập mối quan hệ; kỹ năng thắt chặt mối quan hệ với đối tượng cần thiết lập mối quan hệ; kỹ năng làm quen với đối tượng cần thiết lập mối quan hệ

1.2.2 Đặc điểm quá trình thực tập sư phạm của sinh viên sư phạm

1.2.2.1 Đặc điểm quá trình thực tập sư phạm của sinh viên trường sư phạm

Theo Nguyễn Đình Chỉnh và Phạm Trung Thanh, thực tập sư phạm là “một công đoạn quan trọng trong quá trình đào tạo người giáo viên, là thời gian người sinh viên được tiếp xúc trực tiếp với thế giới sinh động của hoạt động nghề nghiệp, nhằm giúp sinh viên củng cố, mở rộng, nâng cao…những gì đã được học ở trường đại học” Thực tập sư phạm có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm

Có thể nói một cách khái quát về vai trò của thực tập sư phạm như sau: “Thực tập sư phạm là điều kiện cần thiết để hình thành khuynh hướng nghề nghiệp – sư

Trang 29

phạm, hình thành nhân cách của người giáo viên tương lai, đó cũng là điều kiện để giúp trường sư phạm có khả năng kiểm tra mức độ khuynh hướng nghề nghiệp của sinh viên.” (Điều I Quy chế thực tập sư phạm – Bộ giáo dục và đào tạo, ngày 10/4/1986)

Theo Nguyễn Đình Chỉnh thì thực tập sư phạm phải thực hiện được bốn chức năng chính là: chức năng học tập; chức năng giáo dục; chức năng phát triển giáo dục

và chức năng thăm dò, chẩn đoán

Thực tập sư phạm muốn có hiệu quả thì cần phải đảm bảo các nguyên tắc: tính

hệ thống, liên tục; tính nghề nghiệp; tính vừa sức với sinh viên và tính giáo dục tư tưởng

Theo điều IX của Quy chế thực tập sư phạm của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì thực tập sư phạm có hai hình thức tổ chức chính: hình thức thứ nhất là có trưởng đoàn

là giáo viên và hình thức thứ hai là có trưởng đoàn là sinh viên Mỗi hình thức điều có những ưu nhược điểm riêng và tùy theo đặc thù của từng ngành học mà việc áp dụng hai hình thức này có phần khác biệt Tuy nhiên thông thường thì hình thức thứ nhất sẽ

áp dụng cho thực tập kỳ 1 và hình thức thứ hai áp dụng cho thực tập kỳ 2

Nội dung thực tập mà sinh viên sư phạm cần phải hoàn thành gồm ba phần chủ yếu là: thực tế giáo dục tại trường và địa phương sở tại thực tập; thực tập giáo dục và thực tập giảng dạy Tuy nhiên mức độ yêu cầu giữa ba phần này có nhiều khác biệt giữa thực tập kỳ 1 và thực tập kỳ 2 Ở kỳ 1, sinh viên chủ yếu tìm hiểu thực tế công tác giáo dục tại trường và thực tập giáo dục qua vai trò giáo viên chủ nhiệm Việc thực tập giảng dạy cũng được thực hiện ở mức độ bước đầu làm quen Tuy nhiên sang kỳ 2, thì nội dung thực tập chủ yếu là công tác giảng dạy, thực tập giáo dục chiếm tỉ lệ ít hơn (Điều IV và Điều V, Quy chế thực tập sư phạm – Bộ giáo dục và đào tạo, ngày 10/4/1986)

Đối với bậc đại học, thời điểm thực tập sư phạm kỳ 1 rơi vào năm học thứ ba với thời lượng là 8 tuần Thực tập sư phạm kỳ 2 được tiến hành trong năm học thứ 4

và có thời lượng là 12 tuần

Trang 30

Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả thực tập sư phạm của sinh viên Xét về mặt khách quan thì có các yếu tố như: học sinh, nội dung chương trình giảng dạy ở phổ thông, thái độ của giáo viên hướng dẫn của trường sư phạm và trường phổ thông và các cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy Nếu xét về chủ quan thì có các yếu tố từ phía sinh viên sư phạm như: sự trang bị kiến thức, lòng yêu nghề, sự tự tin

Tóm lại, thực tập sư phạm có nhiều đặc điểm đặc thù so với các dạng thực tập khác Và kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh của sinh viên sẽ diễn ra trong quá trình thực tập nên các thành tố của hoạt động thực tập sư phạm như đã nói ở trên sẽ có ảnh hưởng nhất định đến kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh của sinh viên trong quá trình thực tập

1.2.2.2 Đặc điểm giáo viên tại một số trường trung học phổ thông có sinh viên

sư phạm thực tập

Người giáo viên nói chung và giáo viên THPT nói riêng là một bộ phận của giới trí thức Đây là thành phần đóng vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và phát triển toàn diện đất nước

Cũng là những “kỹ sư tâm hồn” nên người giáo viên phổ thông cũng có những đặc điểm chung như bao giáo viên khác về phẩm chất và năng lực

Về phẩm chất cần có thế giới quan khoa học đúng đắn,luôn say sưa học tập không ngừng nâng cao kiến thức trình độ chuyên môn, lòng thương yêu học sinh, lòng yêu nghề, có phong cách mô phạm, sống khiêm tốn, dản dị chan hòa,gần gũi, sẵn sằng giúp đỡ mọi người, là tấm gương sáng cho học sinh noi theo

Về năng lực thì cần có các yếu tố như: năng lực chuẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tượng, năng lực thiết kế kế hoạch dạy học, tổ chức thực hiện kế hoạch, giám sát đánh giá kết quả của hoạt động và năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn gây ra, nắm vững tri thức khoa học, thường xuyên tư học tự nghiên cứu bắt kịp với yêu cầu đổi mới không ngừng trong nội dung và phương pháp giảng dạy, nắm vững các tư tưởng và thành tựu khoa học tiên tiến Người giáo viên phải có kiến thức và kỹ năng giao tiếp ứng xử sư phạm, kỹ năng tổ chức thực hiện quá trình dạy học linh hoạt, sáng

Trang 31

tạo,kỹ năng nghiên cứu nắm vững đối tượng,nắm vững trình độ phát triển nhân cách

trẻ và kỹ năng đúc kết kinh nghiệm giáo dục của bản thân và đồng nghiệp [10]

Ngoài ra, vì là giáo viên ở trường THPT nên sẽ có những đặc thù như: được đào tào có trình độ bậc đại học trở lên, có sự am hiểu chuyên sâu nhất định về một lĩnh vực nghiên cứu, có khả năng nghiên cứu và hướng dẫn học sinh nghiên cứu những kiến thức khoa học thường thức tương ứng với chuyên môn của mình, có khả năng định hướng nghề nghiệp cho học sinh, có lòng yêu mến và quan tâm đến việc chuẩn bị những hành trang để học sinh bước vào đời

1.2.2.3 Đặc điểm học sinh tại một số trường trung học phổ thông có sinh viên

sư phạm thực tập [9, Tr 116-120]

Theo quy chế thực tập sư phạm thì tùy theo từng ngành học mà sinh viên sư phạm có đối tượng thực tập tương đối đa dạng như: học sinh mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và cả sinh viên trung cấp, cao đẳng,… Tuy nhiên đa số sinh viên sư phạm thực tập ở bậc trung học phổ thông và cũng theo giới hạn nghiên cứu, đề tài chỉ xin được đề cập đến học sinh trung học phổ thông

Ở độ tuổi trung học phổ thông hay gọi cách khác là lứa tuổi đầu thanh niên, học sinh có nhiều bước phát triển về mặt cơ thể lẫn tâm lý

Ở độ tuổi này, cơ thể học sinh phát triển cân đối, khoẻ và đẹp Đa số các em đã qua thời kỳ dậy thì và cơ bản hoàn thiện cơ thể như một người lớn

Ngoài ra, các hoạt động xã hội của thanh niên ở giai đoạn này rất phong phú, phức ạp về nội dung lẫn hình thức Học sinh rất hứng thú mở rộng các mối quan hệ xã hội và giao tiếp sâu rộng nhiều hơn trước Các học sinh ở tuổi đầu thanh niên còn cố gắng giữ vị trí như người lớn, có tính độc lập, tinh thần trách nhiệm hơn thiếu niên Đồng thời, học sinh luôn tìm cho mình một vị trí bình đẳng trong gia đình

Ngoài vị thế xã hội, hoạt động học tập của học sinh trung học phổ thông cũng

có nhiều đặc điểm khác trước: có chiều sâu và mang đậm chất định hướng nghề nghiệp Xu hướng nghề nghiệp cũng là nét cấu tạo tâm lý mới của học sinh lứa tuổi này Nó chi phối đến tự ý thức, đời sống tình cảm và năng lực của học sinh

Trang 32

Bên cạnh đó, đặc điểm nhận thức của học sinh trung học phổ thông cũng có nhiều điểm tiến bộ như: Tính suy luận, hệ thống, thực tiễn và chủ định phát triển mạnh

ở tất cả các quá trình nhận thức (tri giác, ghi nhớ, chú ý,…), phát triển tư duy lý luận,

óc phê phán độc lập Tuy nhiên, một số nhận xét của học sinh tuổi đầu thanh niên còn mang tính chất cảm tính và theo một thái cực

Ngoài ra, đời sống tình cảm của học sinh cũng đạt được những mức trưởng thành nhất định Đời sống cảm xúc của học sinh có tính ổn định và khả năng kiểm soát cảm xúc cũng phát triển tốt hơn trước Học sinh độ tuổi này có trách nhiệm, yêu quý gia đình hơn Việc giao tiếp trong gia đình đối với các em lúc này cần theo nguyên tắc: tình thương, tôn trọng, trách nhiệm, thẳng thắn và thiện chí Đồng thời, học sinh còn

có nhu cầu kết bạn tâm tình, chủ động tìm hiểu và chọn bạn Đặc biệt, ở độ tuổi này tình yêu xuất hiện rõ nét ở học sinh và chi phối khá nhiều đến đời sống và học tập của nam sinh lẫn nữ sinh

Xét về đặc điểm nhân cách thì học sinh lứa tuổi này có những bước phát triển đáng chú ý như sau: Thứ nhất là sự phát triển tự ý thức, học sinh có nhu cầu tìm hiểu

và tự đánh giá, xây dựng hình ảnh bản thân Tuy nhiên, có lúc các em còn đánh giá chưa đúng do thiếu kinh nghiệm, kỹ năng phân tích Bên cạnh đó, học sinh trung học phổ thông có nhu cầu rất lớn về được tôn trọng, bình đẳng, chứng tỏ bản thân Ở lứa tuổi này, việc xây dựng quan điểm sống, xác định thế giới quan, nhân sinh quan rất được các em chú trọng và quan tâm để từng bước xác định cho bản thân

Nhìn chung, học sinh là yếu tố đặc biệt có ảnh hưởng đến thái độ, tình cảm sư phạm của sinh viên thực tập Sự tin tưởng và thái độ tích cực của học sinh có tác dụng

to lớn đối với sinh viên thực tập Những đặc điểm mới về tâm sinh lý đã khiến học sinh trung học phổ thông trở thành mẫu nhân cách có sự độc lập và trưởng thành nhất định Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình giao tiếp giữa sinh viên và học sinh trong lúc thực tập sư phạm

1.2.2.4 Đặc điểm tâm lý của sinh viên sư phạm

Lứa tuổi sinh viên có những nét tâm lý điển hình và đây cũng là thế mạnh của

họ so với các lứa tuổi khác như: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực

Trang 33

và tình cảm trí tuệ phát triển (khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khám phá), có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách Song, do hạn chế của kinh nghiệm sống, sinh viên cũng có hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới Những yếu tố tâm lý này có tác động chi phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấn đấu của sinh viên [23]

Cách riêng, ta thấy SVSP là một nhóm xã hội đặc biệt đang cố gắng học tập, rèn luyện trên giảng đường của các trường Cao đẳng, Đại học Sư phạm để sau khi ra trường có thể thực hiện được sự nghiệp giáo dục và dạy học cho thế hệ sau

Mỗi lứa tuổi, mỗi đối tượng điều có sự khác biệt về đặc điểm tâm lý Và một trong những tác nhân tạo ra sự khác biệt đó chính là hoạt động chủ đạo Cũng như sinh viên các ngành khác, hoạt động chủ đạo của SVSP đó là hoạt động học tập để tiếp thu các kiến thức, kỹ năng nhằm đáp ứng được các yêu cầu của nghề nghiệp sau này Điều này làm cho SVSP không những được trang bị các kiến thức về khoa học giáo dục và dạy học, mà các kỹ năng sư phạm cần thiết như: tổ chức lớp học, soạn bài, thuyết giảng, đo lường, đánh giá,… cũng được hình thành rõ nét ở người SVSP

Bên cạnh đó, sự phát triển và hoàn thiện tự ý thức cũng là nét tâm lý nổi bật của SVSP Với nét tâm lý này, SVSP nhận thức rõ ràng về những năng lực, phẩm chất của mình, mức độ phù hợp của những đặc điểm đó với yêu cầu của nghề nghiệp Qua đó,

họ sẽ xác định rõ ràng mục tiêu học tập, rèn luyện và thể hiện bằng hành động học tập hàng ngày trong giờ lên lớp, thực tập, thực tế nghề nghiệp hay là tham gia nghiên cứu khoa học hàng năm, các cuộc thì giáo án điện tử, giao tiếp ứng xử sư phạm, Nhờ khả năng tự đánh giá phát triển mà SVSP có thể nhìn nhận, xem xét năng lực học tập của mình, kết quả học tập cao hay thấp phụ thuộc vào ý thức, thái độ, vào phương pháp học tập của họ

Với đặc điểm và yêu cầu của nghề giáo là đảm bảo tính mô phạm, làm gương sáng để giáo dục các thế hệ sau, nên thế giới quan khoa học và các phẩm chất đạo đức của SVSP được hình thành và phát triển mạnh mẽ, phù hợp với chuẩn mực xã hội hơn sinh viên các ngành khác [9]

Trang 34

Đồng thời, cũng như những sinh viên khác, SVSP là những trí thức tương lai

Họ cũng sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt Học tập ở đại học là cơ hội tốt để SVSP được trải nghiệm và rèn luyện bản thân Vì thế, SVSP rất thích khám phá, tìm tòi cái mới Đồng thời, họ thích bộc lộ những thế mạnh của bản thân, thích học hỏi, trau dồi, trang bị vốn sống, hiểu biết cho mình, dám đối mặt với thử thách để khẳng định mình

Ngoài ra, SVSP còn có một nét tâm lý nổi bật nữa đó là sự ổn định của đời sống tình cảm từ tình cảm trong các mối quan hệ bạn bè, tình cảm khác giới, đến tình cảm với nghề nghiệp, cuộc sống…Và đặc biệt ở sinh viên sư phạm có hình thành một loại tình cảm mà rất khó bắt gặp ở các sinh viên khác đó là lòng yêu trẻ, yêu sự nghiệp giáo dục Chính những tình cảm này đã góp phần rất lớn trong việc tạo ra động lực bên trong thúc đẩy SVSP chuyên cần học tập, rèn luyện để tiếp thu tri thức và nâng cao tay nghề

Sinh viên là lứa tuổi đạt đến độ phát triển sung mãn của đời người Họ là lớp người giàu nghị lực, giàu ước mơ và hoài bão Tuy nhiên, do quy luật phát triển không đồng đều về mặt tâm lý, do những điều kiện, hoàn cảnh sống và cách thức giáo dục khác nhau, nên không phải bất cứ SVSP nào cũng được phát triển tối ưu Hoặc độ chín muồi trong suy nghĩ và hành động còn hạn chế Điều này phụ thuộc rất nhiều vào tính tích cực hoạt động của bản thân mỗi sinh viên Bên cạnh đó, sự quan tâm đúng mực của gia đình, phương pháp giáo dục phù hợp từ nhà trường sẽ góp phần phát huy ưu điểm và khắc phục những hạn chế về mặt tâm lý của SVSP

Bên cạnh những mặt tích cực trên đây, mặc dù là những người có trình độ nhất định, SVSP không tránh khỏi những hạn chế chung của lứa tuổi thanh niên Đó là sự thiếu chín chắn trong suy nghĩ, hành động, đặc biệt, trong việc tiếp thu, học hỏi những cái mới Ngày nay, trong xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế, trong điều kiện phát triển công nghệ thông tin, nền văn hoá của chúng ta có nhiều điều kiện giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hoá trên thế giới, kể cả văn hoá phương Đông và phương Tây Việc học tập, tiếp thu những tinh hoa, văn hoá của các nền văn hoá khác là cần thiết Tuy nhiên, do đặc điểm nhạy cảm, ham thích những điều mới lạ, kết hợp với sự bồng bột, thiếu kinh nghiệm của thanh niên Làm cho có một bộ phận SVSP dễ dàng tiếp nhận

Trang 35

cả những nét văn hoá không phù hợp với chuẩn mực xã hội, với truyền thống tốt đẹp của dân tộc và không có lợi cho bản thân họ như cổ vũ cho trào lưu quá thoáng trong chuyện tình yêu, tình dục, ý thức cộng đồng còn yếu, quan hệ chưa tốt với môi trường,…

Không những thế, với đặc điểm ngành nghề của mình, SVSP thường có tính cách nhút nhát hơn, ít năng động và hoạt bát hơn so với sinh viên các ngành khác và đây cũng là một yếu điểm khiến SVSP gặp khó khăn trong việc giao tiếp với học sinh

Một số kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng mềm cần thiết cho SVSP:

Dựa trên chuẩn nghề nghiệp của giáo viên, những công đoạn cần thiết của việc dạy học và giáo dục, cùng với những yêu cầu về nghề nghiệp và đòi hỏi trong thực tiễn nghề nghiệp, tác giả Huỳnh Văn Sơn và các cộng sự đã đề cập đến một số kỹ năng liên quan đến nghề dạy học như [13]:

- Kỹ năng tìm hiểu - chẩn đoán

- Kỹ năng lập kế hoạch

- Kỹ năng triển khai kế hoạch như: Kỹ năng giải thích, kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, kỹ năng sử dụng các phương tiện phi ngôn ngữ, kỹ năng chế biến tài liệu, kỹ năng sử dụng thiết bị và phương tiện dạy học - giáo dục,

- Kỹ năng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động

- Kỹ năng tự bồi dưỡng, học tập liên tục

Theo nhóm tác giả thì các kỹ năng này có thể chưa bao quát một cách toàn diện

và đầy đủ những kỹ năng cần có của nghề dạy học và của người giáo viên Tuy nhiên, đây là những kỹ năng cần thiết mang tính cơ bản để thực hiện nhiệm vụ của nghề nghiệp Ngoài ra, có thể đề cập đến khá nhiều kỹ năng khác của người giáo viên trong thực tiễn công việc như: kỹ năng quản lý, kỹ năng làm việc với cộng đồng, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng quản lý cảm xúc, kỹ năng thuyết trình với phương tiện kỹ thuật hiện đại, kỹ năng quản lý hành chánh, kỹ năng thương lượng, kỹ năng thiết lập quan hệ xã hội,

Trang 36

Các kỹ năng trên liên quan trực tiếp đến các thao tác, các yêu cầu kỹ thuật trong dạy học và giáo dục của người giáo viên đối với học sinh Đồng thời đây cũng là những kỹ năng nền tảng, gắn chặt với nhiệm vụ hàng ngày của người giáo viên Đó

có thể được hiểu như “kỹ năng cứng” của nghề nghiệp

Ngoài “phần cứng” là những kỹ năng nghề nghiệp thì người giáo viên còn phaỉ

có những “kỹ năng mềm”, tức là những kỹ năng tạo ra sự thích ứng với môi trường làm việc ở nhà trường phổ thông Đó là những kỹ năng đóng góp hiệu quả đặc biệt tạo ra sự tương tác giữa giáo viên và các đối tượng khác trong quan hệ nghề nghiệp đặc biệt là với học sinh Đồng thời cũng là điều kiện để hỗ trợ giáo viên đạt đến hiệu quả cao của nghề nghiệp nếu phát huy tốt những kỹ năng này

Một số kỹ năng có thể xem như kỹ năng mềm của sinh viên Đại học Sư phạm cũng như của nghề dạy học nói chung xét trong quá trình chuẩn bị và bắt đầu làm nghề Sư phạm như:

- Kỹ năng quản lý thời gian

- Kỹ năng quản lý cảm xúc

- Kỹ năng thiết lập quan hệ xã hội

- Kỹ năng tư duy sáng tạo

- Kỹ năng làm việc nhóm

- Kỹ năng giải quyết vấn đề

- Kỹ năng giao tiếp, đặc biệt là thiết lập mối quan hệ với giáo viên và học sinh

1.2.3 Khái niệm kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm của sinh viên

1.2.3.1 Định nghĩa kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm của sinh viên

Kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm của sinh viên là một trong những “kỹ năng mềm” quan trọng và cần thiết cho SVSP Nó không chỉ đảm bảo cho việc thiết lập các mối quan hệ xã hội trong nghề nghiệp sau này của sinh viên mà còn giúp sinh viên đạt được hiệu quả học tập, giáo

Trang 37

dục và dạy học cao Trong hoạt động sư phạm, thiết lập mối quan hệ cũng có nhiều chức năng khác nhau Nó có thể là phương tiện phục vụ công việc giảng dạy, cũng có thể là điều kiện tâm lý – xã hội đảm bảo quá trình giáo dục Nếu coi hoạt động sư phạm có ba mục đích là: giảng dạy, giáo dục và phát triển thì ta dễ dàng thấy giao tiếp

sư phạm giúp đạt được ba mục đích trên Và thiết lập mối quan hệ là một khâu của giao tiếp và cũng là một trong những mục đích mà giao tiếp sư phạm hướng đến Vậy nên, thiết lập mối quan hệ chiếm vị trí quan trọng trong cấu trúc năng lực của người giáo viên cũng như SVSP [2, Tr.12 – 15]

Qua những tìm hiểu ở trên, chúng ta có thể hiểu kỹ năng thiết lập quan hệ với

giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm của SVSP là khả năng vận

dụng các kỹ thuật giao tiếp dựa trên nền tảng của thiện cảm, niềm tin và sự thấu hiểu

về nhau để xác lập, duy trì và phát triển mối quan hệ với giáo viên và học sinh nhằm đạt được một mục đích nhất định trong quá trình thực tập sư phạm của sinh viên sư phạm

Ngoài ra, dựa theo quan điểm phân chia mức độ kỹ năng của K.K Platonow và G.G Golubev, chúng ta cũng có thể phân kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm của SVSP theo 5 mức độ để nghiên cứu và đanh giá là: mức độ ban đầu, mức độ thấp, mức độ trung bình, mức độ cao và mức độ hoàn hảo [12]

1.2.3.2 Biểu hiện của kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm của sinh viên sư phạm

Biểu hiện của kỹ năng thiết lập quan hệ với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm của SVSP bao gồm sáu kỹ năng thành phần chính là:

- Một là kỹ năng thể hiện bản thân với giáo viên và học sinh cần thiết lập

mối quan hệ trong quá trình thực tập Kỹ năng thể hiện bản thân rất quan trọng

trong quá trình thực tập sư phạm nói chung và trong kỹ năng thiết lập quan hệ nói riêng Kỹ năng thể hiện bản thân là khả năng người sinh viên nhận biết và thể hiện bản thân một cách khéo léo, phù hợp với bối cảnh và đối tượng nhằm xây dựng ấn tượng tích cực, thiện cảm và sự thông hiểu về chính mình cho đối tượng muốn thiết lập mối quan hệ, ở đây là giáo viên hoặc học sinh trong quá trình thực tập sư phạm

Trang 38

Và để có được kỹ năng này, sinh viên cần quan tâm đến việc hiểu biết về chính bản thân mình, có tác phong chỉnh chu và mô phạm, chuẩn bị chu đáo cho những lần tiếp xúc với giáo viên và học sinh, gây được ấn tượng tích cực cho lần gặp gỡ ban đầu, khéo léo chọn lựa những thời điểm và bối cảnh thích hợp để thể hiện chuyên môn, năng khiếu của bản thân, cần có sự tự tin để xây dựng niềm tin nhưng phải tránh thái độ tự cao, không cầu thị, học hỏi,

- Hai là kỹ năng quan tâm đến giáo viên và học sinh cần thiết lập mối

quan hệ trong quá trình thực tập sư phạm Được quan tâm là một nhu cầu cơ bản

mà ai cũng cần có Kỹ năng thể hiện sự quan tâm có vị trí quan trọng trong giao tiếp thường nhật và đặc biệt là trong vấn đề thiết lập mối quan hệ Trong quá trình thực tập sư phạm cũng vậy, các sinh viên cần phải biết cách thể hiện sự quan tâm của mình tới giáo viên và học sinh Quan tâm không chỉ là một phương thế để cải thiện mối quan hệ theo hướng tích cực mà còn là một cách thức để tạo ra những tác động có tính giáo dục đến học sinh Kỹ năng thể hiện sự quan tâm về mặt cơ bản được hiểu là khả năng cảm nhận được nhu cầu của đối tượng sau đó vận dụng ngôn ngữ, phi ngôn ngữ và các phương tiện để đáp ứng ở một mức độ nhất định những nhu cầu đó trên nền tảng của sự tôn trọng đối tượng và làm cho đối tượng cảm nhận được sự sẻ chia, hỗ trợ và yêu thương từ chủ thể Để có kỹ năng thể hiện sự quan tâm với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm, thì SVSP phải chú ý đến việc rèn luyện khả năng cảm nhận nhu cầu, mong muốn, sở thích; khả năng động viên, trò chuyện, thăm hỏi giáo viên và học sinh mình tiếp xúc Ngoài

ra, các kỹ thuật tặng quà, xưng hô bằng tên trong giao tiếp cũng cần được lưu tâm Bên cạnh đó là thái độ tôn trọng, chân thành, tránh sự giả tạo, quan tâm thái quá dẫn đến làm phiền, Những hành vi cụ thể của kỹ năng thể hiện sự quan tâm đến giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm mà SVSP cần có ví dụ như: Gọi điện hỏi thăm, dành thời gian ăn trưa, dành thời gian trò chuyện, chủ động trò chuyện, nhớ những ngày quan trọng, tận dụng các công cụ giao lưu, kết bạn (mạng

xã hội),

- Ba là kỹ năng gây hiệu ứng lưu luyến trong giao tiếp với giáo viên và

học sinh cần thiết lập mối quan hệ Gây hiệu ứng lưu luyến ở đối tượng giao tiếp là

Trang 39

yếu tố rất quan trọng trong việc duy trì và phát triển mối quan hệ Để có thể thiết lập mối quan hệ với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập sư phạm SVSP cần phải có kỹ năng gây hiệu ứng lưu luyến trong giao tiếp với giáo viên và học sinh Một cách đơn giản, ta có thể hiểu đây là khả năng chủ thể vận dụng những phương tiện, phương thức giao tiếp để ghi lại ấn tượng tích cực lâu dài nơi đối tượng về chủ thể Đồng thời khiến đối tượng có nhu cầu, hứng thú được tiếp tục giao tiếp với chủ thể Hay nói khác đi, ở trường hợp là quá trình thực tập sư phạm thì sinh viên phải để lại ấn tượng tốt đẹp và làm nảy sinh mong muốn được tiếp tục giao tiếp với mình nơi giáo viên và học sinh Để có được kỹ năng này sinh viên cần quan tâm đến những vấn đề cụ thể như sau: Chứng tỏ được năng lực của bản thân, biết chia sẻ thông tin, biết cách lắng nghe, biết kể chuyện cách thú vị (được lắng nghe), biết cách đặt câu hỏi, tạo cảm giác an toàn và an tâm khi nói chuyện, thường xuyên củng cố tình cảm, mối quan hệ,…

- Bốn là kỹ năng mở lời hợp tác với giáo viên và học sinh cần thiết lập

mối quan hệ Hợp tác, làm việc chung với người khác là việc rất cần thiết trong

cuộc sống nói chung và trong giáo dục nói riêng Quá trình thực tập sư phạm đòi hỏi người sinh viên cần phải nổ lực để rèn luyện và thực hành những kiến thức đã học ở trường Đồng thời tích cực học hỏi, tiếp thu nhưng kinh nghiệm giáo dục thực tế Tất cả những này tự thân sinh viên không thể thực hiện mà cần phải có giáo viên, ít nhất là giáo viên hướng dẫn và học sinh phối hợp để thực hiện Cách riêng, một mối quan hệ sẽ bền vững và trưởng thành khi nó được phát triển trong những công việc chung của hai chủ thể Do đó, kỹ năng mở lời hợp tác với giáo viên và học sinh rất cần thiết để thiết lập mối quan hệ với hai đối tượng này Kỹ năng này có thể được hiểu là khả năng của sinh viên trong việc trình bày, thuyết phục giáo viên và học sinh hào hứng, tin tưởng để cùng thực hiện các ý tưởng, kế hoạch mà sinh viên đưa ra trong quá trình thực tập sư phạm Kỹ năng có những biệu hiện cụ thể như: Thể hiện sự cởi mở, tự tin, cam kết mang lại lợi ích chung, tôn trọng sự khác biệt trong quan điểm, tính cách, đặc điểm cá nhân, trở thành cầu nối giúp đỡ người khác, tạo cơ hội nói chuyện, hưởng ứng cách khôn khéo khi nói chuyện,…

Trang 40

- Năm là kỹ năng thắt chặt mối quan hệ với giáo viên và học sinh cần thiết

lập mối quan hệ Xác lập được một mối quan hệ đã không dễ nhưng việc duy trì và

phát triển mối quan hệ còn khó hơn nhiều lần Vậy nên để thiết lập mối quan hệ, một thành phần không thể thiếu đó là kỹ năng thắt chắt mối quan hệ Chúng ta có thể hiểu trong quá trình thực tập sư phạm thì đây là khả năng sinh viên sư phạm gìn giữ và làm phát triển mối quan hệ đã có với giáo viên và học sinh theo hướng tích cực và trưởng thành Biểu hiện cụ thể của kỹ năng này là ví dụ như: Biết giữ “chữ tín”, tham gia các câu lạc bộ, sự kiện của trường, giữ gìn các thông tin liên lạc, mở rộng các kênh thông tin, nắm bắt thông tin để phát triển mối quan hệ, chủ động nuôi dưỡng mối quan hệ,…

- Sáu là kỹ năng làm quen với giáo viên và học sinh cần thiết lập mối quan

hệ Đây là kỹ năng thể hiện sinh viên dễ dàng tiếp xúc, dễ dàng bắt đầu câu

chuyện, niềm nở khi giao tiếp với những giáo viên và học sinh chưa quen biết Đồng thời, phải tạo được thiện cảm với giáo viên và học sinh, làm cho các đối tượng dễ chấp nhận và cởi mở trong giao tiếp với sinh viên Để có được kỹ năng này, sinh viên cần phải biết lắng nghe giáo viên và học sinh, biết phân tích giáo viên và học sinh khi giao tiếp, biết cách thu hút sự quan tâm hay khơi dậy nhu cầu hoặc hứng thú của giáo viên và học sinh, biết cách tạo thiện cảm và làm chủ được các kỹ năng phi ngôn ngữ Để việc làm quen với giáo viên và học sinh trở nên dễ dàng hiệu quả, sinh viên có thể tiến hành làm quen theo các bước như sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1: Các bước làm quen

Ngày đăng: 03/01/2021, 12:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w