Tương tự như vậy, trong cuốn “Sử dụng bản đồ và phương tiện kĩ thuật trong dạy học địa lí” của Nguyễn Trọng Phúc và Hoàng Xuân Lĩnh 1997, ngoài những kiến thức khái quát về bản đồ giáo k
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG BẢN ĐỒ THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
MÃ SỐ: CS.2014.19.02
Cơ quan chủ trì: Khoa Địa lí Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Văn Luyện
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 12/2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG BẢN ĐỒ THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Trang 3Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHƯƠNG
1.1.3 Biện pháp phát huy tính tích cực của HS trong quá trình dạy học 11
1.2 BẢN ĐỒ VÀ VAI TRÒ CỦA BẢN ĐỒ TRONG DẠY HỌC
ĐỊA LÍ
13
1.2.2 Vai trò của bản đồ trong dạy học địa lí 13
1.2.3 Các loại bản đồ sử dụng trong dạy học địa lí 15
1.2.4 Sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí 17
1.3 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TRONG DẠY HỌC
ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG THPT
19
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG BẢN ĐỒ THEO HƯỚNG
23
Trang 42.3 HỆ THỐNG BẢN ĐỒ TRONG SÁCH GIÁO KHOA ĐỊA LÍ
THPT
25
2.3.1 Hệ thống bản đồ trong sách giáo khoa Địa lí 10 25 2.3.2 Hệ thống bản đồ trong sách giáo khoa Địa lí 11 26 2.3.3 Hệ thống bản đồ trong sách giáo khoa Địa lí 12 27 2.4 PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG BẢN ĐỒ THEO HƯỚNG PHÁT
HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH
Trang 53
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
Tên đề tài: Phương pháp sử dụng bản đồ theo hướng phát huy tính tích cực của học
sinh trong dạy học địa lí ở trường trung học phổ thông
Mã số: CS.2014.19.02
Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Văn Luyện Tel: 0913601208
E-mail: nvluyensp@yahoo.com
Cơ quan chủ trì đề tài: Khoa Địa lí Trường Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh
Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện :
- Trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong
- Trường THPT Nguyễn Trãi
- Trường THPT Lê Minh Xuân
- ThS Hà Văn Thắng, Khoa Địa lí Trường Đại học Sư phạm TP HCM
Thời gian thực hiện: Từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 6 năm 2015
1 Mục tiêu: Nghiên cứu phương pháp sử dụng bản đồ theo hướng phát huy tính
tích cực của học sinh nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học địa lí ở
trường trung học phổ thông
2 Nội dung chính:
- Khảo sát tình hình sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí ở trường trung học phổ
thông
- Nghiên cứu phương pháp sử dụng bản đồ theo hướng phát huy tính tích cực
của học sinh trong dạy học địa lí ở trường trung học phổ thông
Trang 6Cooperating Institution(s): - Le Hong Phong high school
- Nguyen Trai high school
- Le Minh Xuan high school
1 Objectives: Research into utilizing maps in teaching geography to improve student’s activeness in order to enhance the quality and effectiveness of teaching geography in high school
2 Main contents:
- Survey on the utilizing maps in teaching geography in high school
- Research into utilizing maps to improve student’s activeness in teaching geography in high school
Trang 75
CÁC T Ừ VIẾT TẮT
THPT: trung học phổ thông GV: giáo viên
HS: học sinh TN: thực nghiệm ĐC: đối chứng
Trang 86
M Ở ĐẦU
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Bản đồ một phương tiện không thể thiếu được trong dạy học địa lí, phương pháp bản đồ cũng là phương pháp đặc trưng trong dạy học địa lí, vì vậy vấn đề sử
dụng bản đồ trong dạy học địa lí đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu
Ở trong nước, vấn đề này đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên
cứu tiêu biểu sau đây:
Trong cuốn “Bản đồ học” của Ngô Đạt Tam và những người khác (1983), đã dành một chương trình bày về cách sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí Nội dung của chương này chỉ có tính chất định hướng các nội dung sử dụng bản đồ trong dạy học
Tương tự như vậy, trong cuốn “Sử dụng bản đồ và phương tiện kĩ thuật trong
dạy học địa lí” của Nguyễn Trọng Phúc và Hoàng Xuân Lĩnh (1997), ngoài những
kiến thức khái quát về bản đồ giáo khoa như là một phương tiện dạy học, các tác giả cũng đưa ra các phương pháp sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí và đây cũng chỉ là
những phương pháp có tính chất định hướng tương tự như trong cuốn Bản đồ học
Trong cuốn “Lí luận dạy học địa lí” của Nguyễn Dược và Nguyễn Trọng Phúc (1998) có một mục đề cập đến Phương pháp hướng dẫn HS khai thác bản đồ, trong đó nêu lên vai trò của bản đồ trong dạy học địa lí và đưa ra qui trình tiến hành hướng dẫn
HS khai thác kiến thức trong bản đồ
Trong cuốn “Bản đồ giáo khoa” của Lâm Quang Dốc (2003), ngoài những kiến
thức về bản đồ nói chung và bản đồ giáo khoa nói riêng, có một chương về Sử dụng
mô hình bản đồ Nội dung của chương này cũng chỉ đưa ra những định hướng cho
việc sử dụng bản đồ trong nghiên cứu cũng như dạy học địa lí
Tác giả Lâm Quang Dốc còn có cuốn “Hướng dẫn sử dụng atlat địa lí Việt Nam” (2006), trong đó, ngoài nội dung hướng dẫn sử dụng các trang atlat, tác giả cũng đưa ra một cách khái quát các phương pháp sử dụng và qui trình chung sử dụng
bản đồ trong dạy học địa lí
Khoá luận tốt nghiệp “Phương pháp sử dụng bản đồ giáo khoa trong dạy học địa lí ở trường phổ thông” năm 1999 của SV Nguyễn Đại Hồng Phúc, chủ yếu trình bày khái quát về những kỹ năng khai thác bản đồ cần rèn luyện cho HS trong quá trình
dạy học
Khoá luận tốt nghiệp “Phương pháp sử dụng bản đồ giáo khoa trong dạy học Địa lí 10 nâng cao” năm 2007 của SV Triệu Hoàng Hải, chủ yếu vận dụng Phương pháp hướng dẫn HS khai thác bản đồ trong cuốn Lí luận dạy học địa lí của Nguyễn Dược và Nguyễn Trọng Phúc vào thực tế dạy học Địa lí 10 nâng cao
Trang 97
Ở nước ngoài, mặc dù vấn đề này cũng được đề cập đến trong nhiều công trình nhưng không đi sâu nghiên cứu như những công trình trong nước Sau đây là một vài công trình có liên quan nhiều đến đề tài:
Cuốn “La carte mode d’emploi” của Roger Brunet (Pháp, 1987) là công trình
chủ yếu về phương pháp sử dụng bản đồ Nội dung cuốn này, ngoài những kiến thức khái quát về bản đồ, còn có một phần quan trọng là giới thiệu nhiều thể loại bản đồ phi truyền thống được sử dụng trong nghiên cứu và dạy học địa lí Tuy nhiên đây cũng
chỉ là những giới thiệu rất khái quát, chỉ có tính chất định hướng cách thức sử dụng
Một công trình khác liên quan đến vấn đề này là cuốn “Didactique de la géographie” của Anne Le Roux (Pháp, 2005) Nội dung của cuốn này có một phần đề
cập đến phương pháp sử dụng bản đồ nhận thức (carte mentale) trong dạy học địa lí
Nội dung của phương pháp này là trong quá trình dạy học GV cho HS biểu hiện nhận
thức của mình về địa lí của một khu vực bằng bản đồ qua đó giúp các em tiếp thu
kiến thức sâu sắc và bền vững hơn
Tổng quan tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về vấn đề mà đề tài này đề ra Tuy nhiên, những công trình trên là nguồn tài liệu tham khảo quí báu cho việc xây dựng cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu này
2 Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta đều biết, phát huy tính tích cực của HS trong quà trình dạy học là vấn đề cơ bản trong việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông vì vấn đề này có nhiều ý nghĩa về mặt xã hội, tâm lí học và giáo dục học
Về mặt xã hội, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020 nước ta về cơ bản trở thành nước công nghiệp Nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp này là nguồn nhân lực Điều này đặt lên vai ngành giáo dục một nhiệm vụ nặng nề là phải chăm lo phát triển nguồn lực con người, chuẩn bị lớp lao động có phẩm chất, năng lực phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, phải đào tạo ra những con người năng động, sáng tạo, có khả năng tự mình tiếp thu kiến thức mới, giải quyết được mọi tình huống xảy ra
Về mặt tâm lý học và giáo dục học, vấn đề này có nhiều ý nghĩa to lớn Quá trình đổi mới giáo dục phổ thông đòi hỏi phải hoàn thiện toàn diện quá trình dạy học, phải áp dụng rộng rãi những phương pháp dạy học hiệu quả nhất để tổ chức việc học tập cho HS, nhằm kích thích và phát triển ở các em tính tích cực nhận thức HS không thể hiểu sâu tài liệu học tập và biến nó thành giá trị riêng nếu không hết sức cố gắng
về trí tuệ trong học tập Phát huy tính tích cực của HS không chỉ có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học mà còn có ý nghĩa to lớn về mặt giáo dục
Trang 108
Chúng ta chỉ có thể biến kiến thức thành niềm tin và phát triển ý thức đạo đức của HS khi các em hiểu tài liệu học tập một cách toàn diện, khi những kiến thức mà các em lĩnh hội là kết quả của những cố gắng tư duy tự lực và của những tình cảm tích cực
của các em
Với những ý nghĩa như vậy nên vấn đề phát huy tính tích cực của HS trong quá trình dạy học đã được nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu từ lâu và đến nay vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu nhằm tìm ra những phương pháp và biện pháp hữu hiệu
để phát huy tính tích cực của HS, đó không chỉ là biện pháp nâng cao chất lượng dạy học mà còn là mục tiêu dạy học của nhà trường
Đối với bộ môn Địa lí ở trường phổ thông, do đặc thù của đối tượng nghiên cứu, bản đồ là một phương tiện dạy học giúp cho HS có thể tiếp cận được với các đối tượng, hiện tượng địa lí rất đa dạng, phức tạp, phân bố trong một không gian vô cùng rộng lớn, tại những vùng lãnh thổ xa xôi HS khó có thể đi đến được Vì vậy từ lâu bản đồ đã trở
cung cấp kiến thức địa lí một cách trực quan mà còn giúp rèn luyện các kĩ năng địa lí
và phát triển tư duy địa lí cho học sinh Tuy nhiên, việc sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí ở trường phổ thông hiện nay chỉ mới dùng lại ở mức độ xem bản đồ chỉ là phương tiện trực quan dùng để minh họa cho nội dung bài học, chưa phát huy được tính tích cực của HS nên chưa mang lại hiệu quả cao trong dạy học Vì vậy, nghiên
cứu phương pháp sử dụng bản đồ theo hướng phát huy tính tích cực của HS, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học địa lí ở trường phổ thông là một yêu cầu cần thiết hiện nay
3 Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu phương pháp sử dụng bản đồ theo hướng phát huy tính tích cực
của HS nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học địa lí ở trường THPT
4 Cách ti ếp cận
Nghiên cứu theo hướng tiếp cận hệ thống: nghiên cứu bản đồ trong hệ thống các phương tiện dạy học và nghiên cứu phương pháp sử dụng bản đồ trong hệ thống các phương pháp dạy học địa lí
5 Phương pháp nghiên cứu
Phân tích tổng hợp chính là nhằm phát hiện, khai thác, chọn lọc các khía cạnh khác nhau của tài liệu để phục vụ công tác nghiên cứu
Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nước
về các vấn đề liên quan đến bản đồ, tính tích cực trong dạy học, phương pháp sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí
Trang 119
Đây là một phương pháp phổ biến, ứng dụng trong nghiên cứu nhằm thu thập những thông tin cụ thể, khách quan và xử lí các thông tin đó phục vụ cho mục đích nghiên cứu Phương pháp điều tra khảo sát được tiến hành bằng bảng câu hỏi điều tra Những câu hỏi này được chuyển rộng rãi đến những người có liên quan với đối tượng nghiên cứu
Phương pháp này được sử dụng để điều tra về tình hình sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí ở trường THPT hiện nay nhằm làm cơ sở thực tiễn cho nội dung nghiên cứu của đề tài
Quan sát là phương thức cơ bản để nhận thức thực tế khách quan nhằm phát
hiện vấn đề nghiên cứu, đặt giả thiết, kiểm chứng giả thiết và kết quả nghiên cứu
Phương pháp này được sử dụng trong nghiên cứu đề tài dưới hình thức dự giờ dạy của GV ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng để phân tích về phương pháp, kĩ năng
và hiệu quả sử dụng bản đồ trong giờ học
Thực nghiệm là phương pháp thu thập thông tin được thực hiện bởi những quan sát trong điều kiện có tác động, làm biến đổi đối tượng khảo sát một cách có chủ định
Phương pháp này được sử dụng để kiểm chứng giả thiết đặt ra về hiệu quả của phương pháp sử dụng bản đồ trong dạy học địa lí THPT được đề xuất trong đề tài
6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu phương pháp sử dụng bản đồ trong sách giáo khoa vì loại bản đồ này mặc dù có vai trò rất quan trọng, nhưng ít được quan tâm nghiên cứu
- Công tác thực nghiệm sư phạm tập trung vào Địa lí 11 vì bản đồ trong sách giáo khoa Địa lí 11 phong phú hơn trong sách giáo khoa Địa lí 10 và 12; hơn nữa hiện nay trong dạy học Địa lí 10 và 12, GV thường sử dụng atlat Địa lí tự nhiên đại cương
và atlat Địa lí Việt Nam thay cho bản đồ trong sách giáo khoa
7 Nội dung nghiên cứu
- Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của phương pháp sử dụng bản đồ theo hướng phát huy tính tích cực của HS trong dạy học địa lí ở trường THPT
- Chương 2 Phương pháp sử dụng bản đồ theo hướng phát huy tính tích cực của HS trong dạy học địa lí ở trường THPT
- Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 1210
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG
B ẢN ĐỒ THEO HƯỚNG PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HS
TRONG D ẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG THPT
TRONG QUÁ TRÌNH D ẠY HỌC
1.1.1 Khái niệm tính tích cực - tích cực nhận thức
Theo từ điển tiếng Việt, tích cực cĩ nghĩa là hăng hái, tỏ ra nhiệt tình đối với nhiệm vụ, với cơng việc, ví dụ tích cực học tập, tích cực cơng tác Ngồi ra, tích cực cịn cĩ nghĩa là tỏ ra chủ động, cĩ những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển
Về tính tích cực của HS trong quá trình dạy học cĩ nhiều định nghĩa khác nhau như sau: “Tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể, nghĩa là của người hành động”; “Tích cực là hoạt động cĩ ý chí, là trạng thái hoạt động nhận thức được tăng cường” Những định nghĩa này mặc dù cĩ khác nhau nhưng tựu trung lại đều nêu lên đặc trưng cơ bản của tính tích cực là nĩ được thể hiện trong hoạt động của con người
Trong hoạt động nhận thức, mà học là một hoạt động nhận thức đặc biệt, thì tính tích cực là tính tích cực nhận thức Cũng cĩ nhiều định nghĩa khác nhau về tính tích cực nhận thức: “Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức của
HS, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức”; “Tính tích cực nhận thức là mục đích, phương tiện và kết quả của hoạt động học tập, là phẩm chất của HS Nĩ xuất hiện trong mối liên hệ của HS với nội dung, với quá trình học tập, với sự nổ lực để nắm tri thức, với phương pháp trong một thời gian ngắn nhất, với việc huy động ý chí để đạt được kết quả học tập”;
“Tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thơng qua huy động, sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết những vấn đề học tập – nhận thức Nĩ vừa là điều kiện để đạt được mục đích, vừa là kết quả của hoạt động”; “Tính tích cực nhận thức thể hiện thái độ cải tạo của chủ thể nhận thức đối với đối tượng nhận thức Nghĩa là tài liệu học tập được phản ánh vào não HS và được chế biến đi, được hịa vào vốn kinh nghiệm đã cĩ của chúng và được vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào các tình huống khác nhau nhằm cải tạo hiện thực và cải tạo bản thân mình”…
Các định nghĩa trên đều cĩ một điểm chung là thừa nhận mơ hình tâm lí của tính tích cực nhận thức bao gồm nhận thức, tình cảm và ý chí, trong đĩ chức năng nhận thức đĩng vai trị chủ yếu, các chức năng cịn lại đĩng vai trị hỗ trợ Mơ hình
Trang 1311
này có đặc điểm là luôn luôn biến đổi, tạo ra nhiều dạng khác nhau tùy theo nhiệm vụ nhận thức cụ thể mà HS phải thực hiện Sự biến đổi này chính là đặc trưng của tính tích cực nhận thức của HS Tùy theo việc huy động chủ yếu những chức năng tâm lí nào và mức độ những chức năng tâm lí đó ra sao mà tính tích cực nhận thức được phân ra làm các mức độ khác nhau:
- Tích cực tái hiện, bắt chước: Tính tích cực chủ yếu dựa vào trí nhớ và tư duy tái hiện Xuất hiện do tác động từ bên ngoài, nếu không có những kích thích đó thì không diễn ra hoạt động nhận thức
- Tính tích cực tìm tòi: Được đặc trưng bằng sự bình phẩm, tìm tòi tích cực về mặt nhận thức, óc sáng kiến, khát khao hiểu biết, hứng thú học tập, không bị hạn chế bởi yêu cầu của GV, HS hiểu được vấn đề và tự tìm cách giải quyết vấn đề
- Tính tích cực sáng tạo: Là mức độ cao nhất của tính tích cực, được đặc trưng bằng sự khẳng định con đường riêng của mình, không giống với con đường mà mọi người đã thừa nhận, đã chuẩn hóa, để đạt tới mục đích
1.1.2 Biểu hiện của tính tích cực nhận thức
Tính tích cực nhận thức của HS có những biểu hiện sau đây: có chú ý học tập, hăng hái tham gia vào mọi hình thức hoạt động học tập, hoàn thành những nhiệm vụ được giao, ghi nhớ tốt những điều đã học, hiểu và trình bày lại nội dung bài học bằng ngôn ngữ riêng của mình, biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn, có quyết tâm và hứng thú học tập
Tuy nhiên, cũng cần phải phân biệt tính tích cực và trạng thái hành động bề ngoài vì biểu hiện của tính tích cực và trạng thái hành động bề ngoài có thể giống nhau nhưng khác nhau về bản chất Tính tích cực khi được thể hiện trong hoạt động cải tạo đòi hỏi phải thay đổi mà trước tiên là trong ý thức của chủ thể hành động, còn trạng thái hành động bề ngoài không đòi hỏi một sự cải tạo như vậy Chẳng hạn HS có thể theo yêu cầu của GV chú ý nghe giảng, ghi chép nhưng không tích cực suy nghĩ để cải tạo đối tượng nhận thức Điều này cho thấy bản chất của tính tích cực biểu hiện
chủ yếu ở ý thức của chủ thể hoạt động chứ không chỉ ở biểu hiện bề ngoài Tính tích
cực nhận thức vận dụng đối với HS đòi hỏi phải có các yếu tố như: tính lựa chọn thái
độ đối với đối tượng nhận thức; xác định mục đích, nhiệm vụ cần giải quyết và tiến hành giải quyết vấn đề nhằm nhận thức đối tượng
1.1.3 Biện pháp phát huy tính tích cực của HS trong quá trình dạy học
Quá trình dạy học là quá trình thống nhất giữa hoạt động dạy và hoạt động học, trong đó, hoạt động học là một hoạt động nhận thức nhưng là một hoạt động nhận
thức đặc biệt dưới sự điều khiển của GV Như chúng ta đều biết, nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong óc con người nhưng không phải là sự phản ánh
Trang 1412
đơn giản mà là một hoạt động gồm các quá trình, với những mức độ khác nhau, từ
nhận thức cảm tính đến nhận thức lí tính Vì vậy, bất kì sự nhận thức nào, trong đó có
hoạt động học, cũng đều là quá trình tích cực
Xét về mặt tâm lí giáo dục thì học là hoạt động cải tạo cái bên ngoài hoạt động
thực tiễn, nghĩa là hoạt động của người học không phải bằng sự tiếp nhận những kết
quả có sẵn do GV truyền đạt mà bằng sự hoạt động nhận thức của họ HS là chủ thể
nhận thức Tính chất hành động của các em có ảnh hưởng quyết định tới chất lượng tri
thức mà các em tiếp thu được
Những điều trình bày trên chứng tỏ thực chất của học là hoạt động tích cực, tự
nhận thức và là một quá trình với hệ thống cấu trúc hoàn chỉnh Muốn nắm kiến thức
một cách sâu sắc và vững chắc, HS phải thực hiện một chu trình đầy đủ những hoạt động trí tuệ, bao gồm hoạt động tri giác tài liệu nghiên cứu (trực tiếp và gián tiếp), thông hiểu, ghi nhớ, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và cuối cùng là hoạt động khái quát hóa,
hệ thống hóa kiến thức Nhiệm vụ của GV là tìm mọi phương pháp và biện pháp khác nhau nhằm khơi dậy, phát huy tính tích cực của HS trong quá trình dạy học Đó không
chỉ là biện pháp nâng cao chất lượng dạy học mà còn là mục tiêu của nhà trường
Từ quan niệm học là hoạt động nhận thức tích cực, hoạt động dạy của thầy không còn là sự truyền thụ kiến thức, những sản phẩm có sẵn, mà cần phải tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS, nghĩa là xây dựng qui trình các thao tác chỉ đạo hoạt động nhận thức của HS, hình thành cho HS nhu cầu học tập, tìm tòi kiến thức, kích thích năng lực sáng tạo, năng lực tổ chức lao động trí óc một cách hợp lí, giúp định hướng vào những nguồn thông tin phong phú và đa dạng để khai thác tri thức Phát huy tính tích cực của HS là nhiệm vụ quan trọng của việc dạy học ở trường
phổ thông Cơ sở của việc dạy học không thể chỉ là sự ghi nhớ thông tin mà GV cung
cấp cho HS, mặc dù điều này cũng là một nhiệm vụ quan trọng, mà phải là sự tham gia tích cực của chính HS vào trong quá trình tiếp thu thông tin đó, là sự tư duy độc
lập của các em, là sự hình thành dần dần năng lực độc lập trau dồi tri thức, năng lực tự
học Vì vậy nhiệm vụ chủ yếu của các nhà giáo dục là tìm ra những biện pháp phát huy tính tích cực của HS
Về biện pháp phát huy tính tích cực của HS trong quá trình dạy học, các nhà giáo dục đã đưa ra rất nhiều biện pháp khác nhau như: dạy học nêu vấn đề, tăng cường tính tích cực tư duy của HS khi trình bày kiến thức bằng lời; cải tiến công tác tự học của
HS, tích cực hóa hoạt động trí tuệ của HS khi củng cố và kiểm tra kiến thức; những kích thích bên trong của tính tích cực học tập; việc sử dụng sách giáo khoa trong giờ lên lớp; phương pháp dạy học khám phá và dạy học hợp tác, trong đó hình thức thảo
luận theo nhóm được chú ý nhiều hơn cả; phát huy sáng kiến cá nhân, sức sáng tạo
Trang 1513
sức khám phá cá nhân trong thực tế bao hàm một sự hoạt động qua đó các em học được đôi điều bằng cách khám phá ra nó…Qua đây chúng ta có thể thấy có rất nhiều biện pháp để phát huy tính tích cực của HS Điều này phản ánh tính phức tạp của việc phát huy tính tích cực, nó đòi hỏi sự tác động đồng thời của nhiều biện pháp khác nhau, từ các biện pháp tác động vào ý thức, nhu cầu, động cơ, hứng thú học tập của HS; các biện pháp tác động vào phương pháp dạy học, đến các biện pháp liên quan
đến nội dung, cơ sở vật chất, phương tiện kĩ thuật của việc dạy học
Dưới góc độ phương pháp dạy học, các nhà giáo dục cũng đưa ra nhiều phương pháp khác nhau nhưng tựu trung lại các nhà giáo dục đều có chung một quan điểm là:
Để phát huy tính tích cực của HS trong dạy học cần phải tổ chức các hoạt động, đưa
ĐỊA LÍ
1.2.1 Khái ni ệm bản đồ
Theo K.A Xalisev: “Bản đồ địa lí là sự biểu hiện thu nhỏ, được quy định về
mặt toán học, có tính chất hình ảnh – ký hiệu và được khái quát hóa của bề mặt trái đất lên trên mặt phẳng Những biểu hiện này trình bày sự phân bố tình trạng và những
mối liên hệ của những hiện tượng tự nhiên và xã hội đã được lựa chọn và nêu đặc
trưng phù hợp với mục đích của từng bản đồ cụ thể”
Khái niệm trên đã nêu lên được những đặc điểm cơ bản của bản đồ, phân biệt được bản đồ với các phương tiện tạo hình khác như tấm ảnh vệ tinh hay bức tranh
biểu hiện cùng một khu vực Đồng thời, khái niệm trên cũng nêu lên được nội dung
biểu hiện của các đối tượng, hiện tượng trên bản đồ
1.2.2 Vai trò c ủa bản đồ trong dạy học địa lí
Bản đồ là phương tiện không thể thiếu được trong dạy học địa lí Vì môn Địa lí trong nhà trường chọn lọc và trình bày những tri thức địa lí bằng ngôn ngữ văn học, còn bản đồ phản ánh chúng bằng ngôn ngữ bản đồ Sự phối hợp giữa ngôn ngữ văn
học và ngôn ngữ bản đồ làm cho việc phản ánh thực tế địa lí sinh động hơn, đầy đủ hơn, giúp cho việc nhận thức thực tế địa lí dễ dàng hơn
Trang 16- xã hội, phát triển tư duy logic và óc quan sát
- Bản đồ là mô hình – hình ảnh kí hiệu tổng hợp đặc biệt, nó trình bày những đặc điểm không gian dưới dạng tổng quát, trực quan và dễ hiểu, nó được sử dụng không chỉ như một tài liệu nghiên cứu phân bố không gian, phản ánh tình trạng thực tế
mà còn dự báo cả sự phát triển của các đối tượng, hiện tượng trong tương lai
cứu Trong nghiên cứu địa lí, phương pháp mô hình hóa được coi là phương pháp nghiên cứu cơ bản vì đối tượng nhận thức của địa lí là các đối tượng, hiện tượng muôn hình vạn trạng, phân bố trong một không gian rộng lớn với các mối liên hệ đa dạng,
phức tạp
Dạy học thực chất là quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho HS, nhằm giúp các em thu nhận những tri thức, chân lí đã được tìm ra và đã được thừa nhận Trong quá trình này, mô hình là một phương tiện nhận thức đặc biệt hữu hiệu, về hành động
nhận thức là trực quan, còn về tính chất và mức độ nhận thức là trừu tượng, khái quát Chính vì thế, phương pháp mô hình hóa cũng là phương pháp cơ bản trong quá trình
dạy học
Bản đồ với tư cách “là mô hình ký hiệu hình tượng không gian của các đối tượng và hiện tượng tự nhiên và kinh tế - xã hội” đã trở thành phương tiện không thể thiếu được và phương pháp bản đồ đã trở thành phương pháp đặc trưng trong nghiên
cứu cũng như dạy học địa lí
Trong dạy học địa lí, bản đồ được sử dụng không chỉ là phương tiện trực quan
mà quan trọng hơn, nó là một nguồn tri thức để GV tổ chức các hoạt động dạy học giúp HS tiến hành các thao tác tư duy để lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền
vững, phát huy tính tích cực Bản đồ được GV sử dụng để chuẩn bài giảng, truyền thụ
kiến thức trên lớp, hướng dẫn HS tự học và kiểm tra đánh giá nhận thức của HS
Trang 1715
1.2.3 Các lo ại bản đồ sử dụng trong dạy học địa lí
Có nhiều loại bản đồ được sử dụng trong dạy học địa lí Mỗi loại có chức năng
và đặc điểm riêng nhằm đáp ứng những yêu cầu khác nhau trong quá trình giảng dạy
và học tập của thầy và trò Sau đây là một số loại bản đồ chính được sử dụng ở trường
phổ thông:
1.2.3.1 B ản đồ treo tường
Đây là loại bản đồ giữ vai trò quan trọng trong quá trình dạy học Chức năng chính của nó là dùng để trình bày những kiến thức địa lí tại lớp, làm cho bài giảng trực quan sinh động, giúp HS tiếp thu kiến thức dễ dàng, đầy đủ, cụ thể và thú vị hơn Chính chức năng này đã chi phối đặc điểm của bản đồ Ngoài những đặc điểm của bản
đồ nói chung, bản đồ treo tường còn có những đặc điểm riêng như sau:
- Bản đồ có kích thước lớn, thường từ 0,8m x 1m đến 1,5m x 2m Kích thước này cho phép biểu hiện được các lãnh thổ có kích thước bất kì từ các nước, các khu
vực, các châu lục đến toàn thế giới mà vẫn bảo đảm được tính khoa học và tính nhân
trắc của bản đồ
- Bản đồ treo tường là loại bản đồ dùng để giảng dạy và học tập ở trên lớp, thể
hiện được nội dung địa lí trong các mối quan hệ và cấu trúc không gian, đảm bảo được tính logic khoa học của vấn đề mà GV trình bày Trên bản đồ, lượng thông tin khoa
học tương xứng với tỉ lệ của nó, các đối tượng trên bản đồ được khái quát hóa cao, được cường điệu đến mức cần thiết Nhiều kí hiệu tượng hình, tượng trưng, nhiều màu
sắc đẹp gần gũi với đối tượng đã được sử dụng làm cho bản đồ có tính trực quan cao, gây hứng thú cho việc học tập địa lí Nội dung kiến thức và phương pháp biểu hiện trên bản đồ phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi, với thị lực HS trong khoảng cách từ 3 – 8m để các em ở cuối lớp cũng có thể nhìn rõ được
1.2.3.2 B ản đồ trong sách giáo khoa
Lâu nay, những bản đồ trong sách giáo khoa ít được chú ý Nhiều người cho
rằng những bản đồ này chỉ có tính chất minh họa cho bài viết Thực tế, bản đồ trong sách giáo khoa không phải chỉ có chức năng đơn giản như vậy Cấu trúc của một cuốn sách giáo khoa bao giờ cũng gồm có phần chữ và phần hình, gọi là kênh chữ và kênh hình Kênh hình có khi chỉ là yếu tố minh họa cho kênh chữ, song cũng có khi có giá
trị bổ sung nội dung mà kênh chữ không trình bày được Bản đồ là loại quan trọng
nhất trong kênh hình, nó không chỉ là phương tiện minh họa mà quan trọng hơn nó còn là nguồn tri thức bổ sung cho kênh chữ Bản đồ trong sách giáo khoa có những đặc điểm sau:
- Nội dung của bản đồ bám sát nội dung của bài học Bản đồ nằm xen kẽ với kênh chữ nên HS dễ dàng đối chiếu, so sánh Ngoài ra, bản đồ trong sách giáo khoa
Trang 1816
không những có quan hệ với bài viết mà còn có mối quan hệ giữa chúng với nhau trong từng bài học và trong toàn bộ cuốn sách
- Tuy nhiên, kích thước của bản đồ thường nhỏ do hạn chế về khổ giấy và bố
cục của trang sách nên không thể biểu hiện đầy đủ các yếu tố của bản đồ như các bản
đồ trong tập bản đô vì vậy đã phần nào hạn chế nội dung thể hiện trên bản đồ
1.2.3.3 T ập bản đồ địa lí (Atlat địa lí)
Tập bản đồ địa lí là một tập hợp không chỉ một hệ thống các bản đồ mà còn có
cả các biểu đồ, bảng số liệu, hình ảnh và các hộp thông tin, được sắp xếp một cách logic, có tính thống nhất cao về cơ sở toán học, nội dung và bố cục nhằm phục vụ cho
mục đích dạy học một chương trình địa lí cụ thể Tập bản đồ có những đặc điểm sau:
- Tập bản đồ bảo đảm 3 tính chất cơ bản: Thứ nhất là tính hoàn chỉnh, các bản
đồ trong tập đồ phải nêu được tới mức cần thiết, đầy đủ những nội dung theo chủ đề
và mục đích của tập đồ Thứ hai là tính thống nhất, các bản đồ trong tập đồ phải phù
hợp với nhau về phép chiếu, tỉ lệ, kí hiệu, phương pháp biểu hiện, hướng tổng quát hóa, thời gian Thứ ba là tính hệ thống, các bản đồ phải được sắp xếp một cách hợp logic và có tính liên tục, bản đồ trước phục vụ cho bản đồ sau
- Nội dung phù hợp với chương trình học tập của một khối lớp học cụ thể Hiện nay trong chương trình địa lí THPT đã có 3 tập bản đồ tương ứng với 3 khối lớp 10,
11 và 12
+ Tập bản đồ Địa lí tự nhiên đại cương với các nội dung phong phú, đa dạng
về Bản đồ, Trái Đất trong hệ Mặt trời, Thạch quyển, Khí quyển, Thủy quyển, Thổ nhưỡng quyển và Sinh quyển Tập bản đồ này phục vụ tốt cho việc dạy học phần Địa
lí tự nhiên trong chương trình Địa lí lớp 10
+ Tập bản đồ Thế giới và các châu lục gồm một hệ thống các bản đồ Tự nhiên và Hành chính – chính trị của Thế giới, các châu lục và khu vực Đông Nam Á, kèm theo quốc kì và tóm tắt một số thông tin cơ bản về các quốc gia, một số hình ảnh đặc trưng và hộp thông tin về các số liệu của từng châu lục và khu vực
+ Tập bản đồ Địa lí Việt Nam gồm một hệ thống bản đồ hoàn chỉnh từ bản đồ các thành phần Địa lí tự nhiên (Địa chất, Địa hình, Khí hậu, Thủy văn, Thổ nhưỡng, Sinh vật đến các bản đồ về dân cư, các ngành kinh tế (Nông – Lâm - Ngư nghiệp), 7 vùng kinh tế và 3 vùng kinh tế trọng điểm, kèm theo một số biểu đồ và hình ảnh minh
họa Tập bản đồ này phục vụ đắc lực cho việc dạy học chương trình Địa lí lớp 12
- Các bản đồ trong tập bản đồ thường có kích thước tương đối lớn, sử dụng nhiều màu sắc, hình ảnh.và nội dung được thể hiện trên nhiều trang bản đồ nên rất phong phú, đầy đủ, rõ ràng hơn bản đồ treo tường và bản đồ trong sách giáo khoa Nó được xem như cuốn sách giáo khoa địa lí thứ hai
Trang 19Có thể phân tích tương tự như vậy để nghiên cứu các quy luật hành tinh trong
sự phân bố lục địa và đại dương, địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, thực vật, động vật, dân cư, kinh tế …hay các đặc điểm vùng và ngay cả các đặc điểm địa phương, để xác định mối liên hệ giữa các đối tượng, hiện tượng với nhau Ví dụ như mối liên hệ giữa địa hình, thổ nhưỡng và thực vật hay là giữa các đặc điểm của cảnh quan và đặc điểm
của sự quần cư nông nghiệp …Sự phân tích bằng mắt thường kèm theo sự ước lượng
bằng mắt độ lớn của chiều dài, diện tích, độ cao…và cả sự tương quan giữa chúng
Đồ thị là sự thể hiện các số liệu bằng hình thức đồ họa Phân tích bản đồ bằng
đồ thị là phân tích các cấu trúc khác nhau được thực hiện theo các bản đồ Các loại
biểu đồ, các lát cắt tạo thành một loại hình đặc biệt các mẫu hình ảnh - kí hiệu sinh ra
từ bản đồ Đặc biệt là các lát cắt địa hình, chứng minh dưới hình thức cụ thể cấu trúc
thẳng đứng của các thành phần trong lớp vỏ địa lí, rất thuận tiện để vạch ra những liên quan gắn liền với tính chất vành đai theo độ cao Sự phối hợp giữa các trắc diện cho phép chuyển từ sự phân tích các lát cắt sang sự phân tích không gian
Biểu đồ là sự biểu hiện các mối quan hệ giữa các số liệu bằng đồ thị, là phương
tiện để trực quan hóa các mối quan hệ về số liệu bằng hình vẽ Những số liệu khi được
thể hiện thành biểu đồ bao giờ cũng có tính trực quan làm cho HS tiếp thu kiến thức được dễ dàng và tạo hứng thú trong học tập Phân tích các biểu đồ trên bản đồ sẽ giúp soi sáng và giải thích được nhiều khái niệm và qui luật địa lí, giúp chứng minh có tính thuyết phục nhiều luận điểm, lí thuyết và đây cũng là biện pháp giúp tăng vốn hiểu
biết về thực tiễn của HS
Bản đồ được xây dựng dựa trên một cơ sở toán học nhất định Đây là cơ sở để
tiến hành công việc đo tính trên bản đồ Công việc này bao gồm xác định trên bản đồ các tọa độ địa lí, khoảng cách, chiều dài, độ cao, diện tích, khối lượng, góc và các đặc điểm số lượng không gian khác của các đối tượng biểu hiện trên bản đồ Để có thể tiến hành đo tính trên bản đồ, cần thiết phải có những hiểu biết nhất định về cách xác định
Trang 20Bất cứ bản đồ nào cũng nhằm mục đích ghi lại về mặt không gian và trình bày
sự phân bố của các đối tượng, hiện tượng nhất định trên bề mặt đất Do đó có thể sử
dụng các bản đồ để nghiên cứu những đặc điểm và các qui luật về sự phân bố của các đối tượng, hiện tượng được biểu hiện trên các bản đồ
Sự nghiên cứu trực tiếp các bản đồ về các đặc điểm và các qui luật phân bố của các đối tượng, hiện tượng riêng biệt là ở chỗ vạch ra đặc tính và các đường ranh giới
phổ biến của chúng, các đặc điểm địa phương, các cấu trúc…Các nhân tố tự nhiên cũng như kinh tế - xã hội của nội dung bản đồ cung cấp tài liệu cho việc nghiên cứu
Sự phân tích các bản đồ bằng mắt cũng có thể giúp xác định các qui luật phân
bố cơ bản của các đối tượng, hiện tượng
Sự phân tích bằng đồ thị có thể đưa đến việc chuyển các khái niệm sang cách nhìn khác, làm dễ dàng cho việc thu nhận những đặc trưng số lượng mới và dẫn đến
những kết luận mới
Sự đo tính trên bản đồ cho phép củng cố hay đào sâu thêm những kết luận ban đầu bằng những đặc trưng số lượng
Phân tích trên bản đồ để xác định mối liên hệ không gian và sự phụ thuộc của các đối tượng, hiện tượng là một ưu điểm to lớn của bản đồ không thể có một phương
tiện nào thay thế được
Phạm vi nghiên cứu và kết luận về các mối liên hệ qua lại giữa các đối tượng,
hiện tượng còn được mở rộng hơn khi phân tích cùng một lúc các bản đồ có nội dung khác nhau Để phân tích hai hay nhiều bản đồ cùng một lúc có thể so sánh chúng bằng
mắt với sự định hướng cần thiết Trong những trường hợp phức tạp hơn, các thành
phần so sánh được làm trùng lên nhau hoặc là bằng cách sử dụng sự chuyển về mặt quang học hoặc bằng sự chuyển sơ bộ các thành phần cần thiết sang giấy mờ
Các liên hệ qua lại giữa các thành phần được biểu hiện trên các bản đồ khác nhau cũng có thể xác định được nhờ phân tích đồ thị
Việc sử dụng các bản đồ để tìm ra các liện hệ không gian và để đặc trưng chúng về mặt số lượng cũng dễ dàng khi mà các liên hệ này mang tính chất hàm số
một cách chặt chẽ
Trang 2119
Phân tích sự phát tiển của các đối tượng, hiện tượng trên bản đồ có thể tiến hành theo 2 cách: phân tích trên một bản đồ hoặc phân tích trên nhiều bản đồ
Trên bản đồ luôn sử dụng các phương tiện nhiều vẻ để truyền đạt sự vận động,
để truyền đạt sự thay đổi về mặt không gian của các đối tượng, hiện tượng theo thời gian, để đặc trưng tiến trình của sự phát triển và các nhân tố của nó Do đó có những
khả năng rộng rãi để nghiên cứu theo các bản đồ động lực của các đối tượng, hiện tượng tự nhiên và kinh tế - xã hội
Ngoài ra cũng có thể sử dụng một cách có hiệu quả các bản đồ “tĩnh”, phản ánh tình trạng ở một thời điểm xác định nào đó Sự so sánh các bản đồ cùng loại thuộc về các thời kỳ khác nhau là một trong những phương pháp được sử dụng để nghiên cứu động lực của các đối tượng, hiện tượng
TRƯỜNG THPT
Để tìm hiểu thực trạng sử dụng bản đồ trong dạy học địa li ở trường THPT
nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã tiến hành khảo sát dưới hình thức phiếu thăm dò ý kiến (xem mẫu ở phần phụ lục) tại một số trường trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, gồm 4 trường nội thành: 2 trường THPT là trường Nguyễn Trãi
và trường Trần Khai Nguyên; 2 trường THPT chuyên là trường Lê Hồng Phong và trường Trần Đại Nghĩa và 2 trường ngoại thành là trường THPT Lê Minh Xuân và trường THPT Bình Chánh, với tất cả 32 phiếu khảo sát
Từ kết quả khảo sát chúng tôi rút ra được những nhận xét sau đây:
vai trò rất quan trọng của bản đồ trong dạy học địa lí, nó là phương tiện không thể thiếu được trong quá trình dạy học địa lí
Vai trò của bản đồ Kết quả thăm dò Tỉ lệ (%)
nên hầu hết GV thường xuyên sử dùng bản đồ trong quá trình dạy học của mình, chỉ
có 2 trường hợp (6,2%) ít sử dụng tương ứng với 2 ý kiến cho là bản đồ chỉ có vai trò khá quan trọng
Trang 22không nằm ngoài danh mục các bản đồ chủ yếu được sử dụng ở trường phổ thông hiện nay, trong đó bản đồ trong sách giáo khoa chiếm tỉ lệ nhiều nhất (87,5%), kế đến là
tập bản đồ (81,3%) và bản đồ treo tường (75%) Điều này cho thấy bản đồ trong sách giáo khoa được GV quan tâm sử dụng nhiều hơn vì sự thuận tiện của loại bản đồ này
dạy thể hiện qua tỉ lệ GV sử dụng bản đồ để chuẩn bị bài giảng tương đối thấp (50%) Đối với bất cứ phương tiện dạy học nào cũng đòi hỏi GV phải nghiên cứu để tìm ra phương pháp sử dụng có hiệu quả phương tiện dạy học đó trong dạy học Bản đồ cũng
vậy, việc nghiên cứu sử dụng bản đồ để chuẩn bị bài giảng là rất cần thiết thế nhưng qua khảo sát có thể thấy GV ít quan tâm đến vấn đề này
Mục đích sử dụng Kết quả thăm dò Tỉ lệ (%)
khâu của quá trình dạy học trên lớp, điều này nói lên tầm quan trọng của bản đồ trong
Trang 23Các khâu sử dụng Kết quả thăm dò Tỉ lệ (%)
theo hình thức cả lớp (93,8%), là hình thức dạy học truyền thống, mặc dù hình thức này cũng có tác dụng nhất định nhưng so với các hình thức dạy học khác nó làm hạn
chế nhiều đến việc phát huy tính tích cực của HS
bản đồ ở mức độ thấp của quá trình nhận thức, chỉ dừng lại ở giai đoạn nhận thức cảm tính, chủ yếu hình thành biểu tượng địa lí cho HS
Kiến thức khai thác Kết quả thăm dò Tỉ lệ (%) Xác định vị trí các đối tượng, hiện tượng 31/32 96,9
Phân tích đặc điểm các đối tượng, hiện tượng 25/32 78,1
So sánh các đối tượng, hiện tượng 20/32 62,5
Nhận xét về mối liên hệ của các ĐT, HT 28/32 87,5
dụng nhiều là phương pháp đàm thoại (93,8%) Có thể nói đây là phương pháp dạy
học mang tính chất hoạt động cá nhân nhiều hơn so với các phương pháp dạy học
Trang 2422
khác Điểu này cũng phù hợp với hình thức dạy học mà GV sử dụng nhiều hơn cả là hình thức dạy học cả lớp như đã phân tích ở trên
Phương pháp dạy học Kết quả thăm dò Tỉ lệ (%)
dạy học GV tập trung chủ yếu vào 2 mục tiêu là kiến thức (90,6%) và kĩ năng 87,5%) Đây là 2 mục tiêu không thể thiếu được của quá trình dạy học Tuy nhiên, theo yêu
cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay thì mục tiêu phát triển năng lực thông qua
việc phát huy tính tích cực cho HS trong quá trình dạy học mới là cái đích mà GV cần
phải đạt được
Mục tiêu sư phạm Kết quả thăm dò Tỉ lệ (%)
áp dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau nhằm mang lại hiệu quả cho việc sử
dụng bản đồ trong dạy học Tuy nhiên qua khảo sát cũng cho thấy GV vẫn chưa thoát
ra khỏi phương pháp dạy học truyền thống thể hiện ở việc ít đầu tư cho việc nghiên
cứu bản đồ để chuẩn bị cho bài giảng, khi sử dụng bản đồ trong khâu giảng dạy chủ
yếu dùng dưới hình thức cả lớp bằng các phương pháp dạy học truyền thống, mặc dù cũng đã mang lại hiệu quả nhất định nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học là phải phát huy tính tích cực của HS, giúp HS tự tìm ra kiến
thức thông qua các hoạt động dạy học dưới sự hướng dẫn của GV
Trang 2523
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG BẢN ĐỒ THEO HƯỚNG PHÁT HUY
TÍNH TÍCH C ỰC CỦA HS TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ
để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc
sống lao động”
2.1.2 M ục tiêu chương trình
Chương trình môn Địa lí THPT góp phần vào việc thực hiện mục tiêu chung
của giáo dục THPT, đó là:
- Góp phần hoàn thiện học vấn phổ thông cho HS nhằm đáp ứng mục tiêu giáo
dục và phát triển con người Việt Nam trong thời kì CNH, HĐH đất nước
- Góp phần tạo điều kiện cho HS có thể tiếp tục học lên những bậc cao hơn thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội – nhân văn
- Góp phần củng cố và tiếp tục phát triển một số năng lực chủ yếu của HS đã được hình thành ở bậc trung học cơ sở bao gồm:
+ Năng lực hành động có hiệu quả trên cơ sở những kiến thức, kĩ năng, phẩm
chất đã có trong quá trình học tập, rèn luyện và giao tiếp
+ Năng lực hợp tác, phối hợp hành động trong học tập và đời sống
+ Năng lực sáng tạo, có thể thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống + Năng lực tự khẳng định bản thân
2.1.3 N ội dung chương trình
2.1.3.1 N ội dung chương trình Địa lí 10
a Địa lí tự nhiên: gồm các nội dung:
- Bản đồ
- Vũ trụ - Hệ quả các chuyển động của Trái Đất
- Cấu trúc của Trái Đất – Các quyển của lớp vỏ Địa lí
- Một số qui luật của lớp vỏ Địa lí
b Địa lí kinh tế - xã hội: gồm các nội dung:
- Địa lí dân cư
Trang 2624
- Cơ cấu nền kinh tế
- Địa lí nông nghiệp
- Địa lí công nghiệp
- Địa lí dịch vụ
- Môi trường và sự phát triển bền vững
2.1.3.2 N ội dung chương trình Địa lí 11
b Địa lí khu vực và quốc gia:
- Hợp chúng quốc Hoa Kì
- Liên minh Châu Âu (EU)
- Liên bang Nga
- Nhật Bản
- Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc)
- Khu vực Đông Nam Á
- Ô-xtrây-lia
2.1.3.3 N ội dung chương trình Địa lí 12
a Địa lí tự nhiên: gồm các nội dung:
- Vị trí địa lí và lịch sử phát triển lãnh thổ
- Đặc điểm chung của tự nhiên
- Vấn đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên
b Địa lí dân cư
c Địa lí kinh tế: gồm các nội dung:
- Địa lí các ngành kinh tế:
+ Một số vấn đề phát triển và phân bố nông nghiệp
+ Một số vấn đề phát triển và phân bố công nghiệp
+ Một số vấn đề phát triển và phân bố các ngành dịch vụ
- Địa lí các vùng kinh tế
2.2 ĐẶC ĐIỂM SÁCH GIÁO KHOA ĐỊA LÍ THPT
Sách giáo khoa Địa lí THPT được viết theo hướng “Tích cực hóa hoạt động
học tập của người học” được biểu hiện qua các dấu hiệu sau đây:
- Các kiến thức một phần chuyển sang kênh hình, kênh hình không còn chỉ để minh họa mà đã trở thành một nguồn tri thức, GV dựa vào kênh hình để hướng dẫn
HS khai thác kiến thức của bài học
- Sách giáo khoa có cấu trúc mở, mỗi đơn vị kiến thức không được trình bày đầy đủ, trọn vẹn mà thường để dành một phần cho HS tham gia bổ sung dưới sự
Trang 2725
hướng dẫn của GV thông qua kênh chữ, kênh hình, các câu hỏi giữa bài, các câu hỏi
và bài tập cuối bài
- Nội dung sách giáo khoa được xây dựng dưới hình thức các bài học Nội dung
mỗi bài học được chia thành các đơn vị kiến thức Mỗi đơn vị kiến thức được trình bày phối hợp giữa:
+ Kênh chữ: là những kiến thức cơ bản của nội dung bài học được trình bày
bằng các tiêu đề lớn nhỏ
+ Kênh hình: rất đa dạng, bao gồm các bản đồ, sơ đồ, biểu đồ, tranh ảnh, bảng
số liệu…có vai trò không những là phương tiện trực quan minh họa cho kênh chữ mà còn là nguồn tri thức giúp HS khai thác kiến thức của nội dung bài học
+ Các câu hỏi giữa bài: được thiết kế xen với kênh chữ và kênh hình nhằm định hướng, gợi ý về nội dung và phương pháp dạy học
+ Các câu hỏi và bài tập cuối bài: giúp củng cố kiến thức và rèn luyện kĩ năng cho HS, đồng thời cũng có thể định hướng, gợi ý về nội dung và phương pháp dạy học
2.3 HỆ THỐNG BẢN ĐỒ TRONG SÁCH GIÁO KHOA ĐỊA LÍ THPT
2.3.1 Hệ thống bản đồ trong sách giáo khoa Địa lí 10
Bài 2 Công nghiệp điện Việt Nam
Gió và bão ở Việt Nam
Phân bố dân cư Châu Á
Diện tích và sản lượng lúa Việt Nam năm 2000
Bài 5 Các múi giờ trên Trái Đất
Bài 7 Các mảng kiến tạo lớn của Thạch quyển
Bài 10 Các vành đai động đất, núi lửa và các vùng núi trẻ
Bài 11 Biên độ nhiệt độ năm thay đổi theo vị trí gần hay xa đại dương
Bài 12 Các khu áp cao, áp thấp trong tháng 7
Các khu áp cao, áp thấp trong tháng 1
Bài 13 Phân bố lượng mưa trên thế giới
Bài 14 Các đới khí hậu trên Trái Đất
Bài 16 Các dòng biển trên Trái Đất
Bài 19 Các kiểu thảm thực vật chính trên Trái Đất
Các nhóm đất chính trên Trái Đất
Bài 22 Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên thế giới hàng năm, thời kì 2000-2005 (%) Bài 24 Tỉ lệ dân thành thị trên thế giới, thời kì 2000-2005 (%)
Trang 2826
Bài 25 Phân bố dân cư thế giới, năm 2000
Bài 28 Phân bố các cây lương thực chính trên thế giới
Phân bố các cây công nghiệp chủ yếu trên thế giới
Bài 29 Phân bố đàn gia súc trên thế giới
Bài 32 Trữ lượng dầu mỏ và sản lượng khai thác dầu mỏ trên thế giới, thời kì
2000-2003
Phân bố sản lượng điện năng thế giới, thời kì 2000-2003
Khai thác quặng sắt và sản xuất thép trên thế giới, thời kì 2000-2003 Sản xuất ô tô và máy thu hình trên thế giới năm 2000
Bài 32 Tỉ trọng dịch vụ trong cơ cấu GDP của các nước, năm 2001
Bài 37 Số ô tô bình quân trên 1000 dân, năm 2001
Các luồng vận tải hàng hóa bằng đường biển chủ yếu trên thế giới
Bài 39 Bình quân số máy điện thoại trên 1000 dân, năm 2001
2.3.2 Hệ thống bản đồ trong sách giáo khoa Địa lí 11
Các nước trên thế giới
Bài 1 Phân bố các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới theo mức GDP bình quân
đầu người (USD/người – năm 2004)
Bài 5 Các cảnh quan và khoáng sản chính ở Châu Phi
Các cảnh quan và khoáng sản chính ở Mĩ La tinh
Khu vực Tây Nam Á
Khu vực Trung Á
Bài 6 Địa hình và khoáng sản Hoa Kì
Phân bố dân cư Hoa Kì năm 2004
Phân bố các vùng sản xuất nông nghiệp chính của Hoa Kì
Các trung tâm công nghiệp chính của Hoa Kì
Bài 7 Liên minh Châu Âu năm 2007
Các trung tâm công nghiệp chính của CHLB Đức
Phân bố sản xuất nông nghiệp của CHLB Đức
Bài 8 Địa hình và khoáng sản LB Nga
Phân bố dân cư của LB Nga
Các trung tâm công nghiệp chính của LB Nga
Trang 2927
Phân bố sản xuất nông nghiệp LB Nga
Bài 9 Tự nhiên Nhật Bản
Các trung tâm công nghiệp chính của Nhật Bản
Phân bố sản xuất nông nghiệp của Nhật Bản
Bài 10 Địa hình và khoáng sản Trung Quốc
Phân bố dân cư của Trung Quốc
Các trung tâm công nghiệp chính của Trung Quốc
Phân bố sản xuất nông nghiệp Trung Quốc
Bài 11 Địa hình và khoáng sản Đông Nam Á
Phân bố một số cây trồng chủ yếu của Đông Nam Á
Bài 12 Kinh tế Ô-xtrây-li-a
Phân bố dân cư ở Ô-xtrây-li-a
2.3.3 Hệ thống bản đồ trong sách giáo khoa Địa lí 12
Bản đồ hành chính Việt Nam
Bài 2 Các nước Đông Nam Á
Bài 5 Cấu trúc địa chất
Bài 6 Địa hình
Bài 8 Vùng biển Việt Nam trong Biển Đông
Bài 9 Gió mùa mùa đông ở khu vực Đông Nam Á
Gió mùa mùa hè ở khu vực Đông Nam Á
Khí hậu
Bài 12 Các miền địa lí tự nhiên
Bài 16 Phân bố dân cư
Bài 21 Tỉ lệ hộ nông thôn có thu nhập chủ yếu từ nông, lâm, thủy sản năm 2006 Bài 26 Công nghiệp chung
Bài 27 Công nghiệp năng lượng
Bài 30 Giao thông
Bài 31 Du lịch
Bài 32 Khai thác một số thế mạnh chủ yếu của Trung du và miền núi Bắc Bộ Bài 33 Kinh tế Đồng bằng Sông Hồng
Bài 35 Khai thác một số thế mạnh chủ yếu của vùng Bắc Trung Bộ
Bài 36 Khai thác một số thế mạnh chủ yếu ở Duyên hải Nam Trung Bộ
Trang 3028
Bài 37 Khai thác một số thế mạnh chủ yếu về nông, lâm nghiệp ở Tây Nguyên
Các bậc thang thủy điện ở Tây Nguyên
Bài 39 Khai thác lãnh thổ theo chiều sâu ở Đông Nam Bộ
Bài 41 Các loại đất chính ở Đồng bằng Sông Cửu Long
Bài 43 Các vùng kinh tế trọng điểm
TÍCH C ỰC CỦA HS
Phương pháp sử dụng bản đồ theo hướng phát huy tính tích cực của HS là phương
2.4.1 Những vấn đề về hoạt động dạy học
2.4 1.1 Khái niệm hoạt động dạy học
Hoạt động dạy học là hệ thống những hành động phối hợp, tương tác giữa GV
và HS, trong đó dưới tác động chủ đạo của GV, HS tự giác, tích cực, chủ động lĩnh
hội hệ thống tri thức khoa học, kĩ năng, kĩ xảo, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành thế giới quan khoa học và những phẩm chất của nhân cách
Như vậy chúng ta có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản của hoạt động dạy học như sau: hoạt động dạy học là một hoạt động kép gồm hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS Trong đó người dạy giữ vai trò chủ đạo, dạy hướng đến học, dạy thúc đẩy học và làm cho học thành công; còn học giữ vai trò chủ động, tự giác, tích
cực, độc lập và sáng tạo Hai hoạt động dạy và học tồn tại trong mối quan hệ tương tác
lẫn nhau và cùng hướng về một phía đó là mục tiêu và nhiệm vụ dạy học
2.4.1.2 Cấu trúc của hoạt động dạy học
Dạy của GV và học của HS là hai yếu tố không thể thiếu được trong cấu trúc
của hoạt động dạy học Mối quan hệ giữa GV và HS không phải là quan hệ trực tiếp
mà là quan hệ gián tiếp qua một nhân tố trung gian đó là nội dung dạy học Như vậy
cấu trúc hoạt động dạy học gồm 3 nhân tố: Dạy - Nội dung - Học
Về sau các nhà nghiên cứu nhận ra ảnh hưởng không nhỏ của nhân tố môi trường đến hoạt động dạy học và chất lượng của nó Nhân tố môi trường bao gồm nhiều yếu tố như quan điểm, đường lối giáo dục, tốc độ phát triển của kinh tế, sự quan tâm của gia đình, cơ sở vật chất nhà trường, trình độ của GV và các yếu tố xã hội khác
Như vậy cấu trúc của hoạt động dạy học theo quan điểm hiện tại bao gồm 4 nhân tố: Dạy - Học - Nội dung - Môi trường Mỗi một nhân tố có vai trò nhất định và
giữa chúng có một mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chi phối lẫn nhau nhằm đạt được
mục tiêu và hoàn thành nhiệm vụ của hoạt động dạy học
Trang 3129
2.4.1.3 B ản chất của hoạt động dạy học
Bản chất của hoạt động dạy học là hoat động nhận thức độc đáo của HS dưới
sự tổ chức, hướng dẫn của GV nhằm thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ dạy học
- Học tập của HS là hoạt động nhận thức độc đáo thể hiện ở các dấu hiệu sau:
Học là quá trình HS phản ánh hiện thực khách quan vào trong ý thức cá nhân HS là
của HS phong phú và hoàn thiện hơn
- Tuy nhiên, hoạt động nhận thức của HS không hoàn giống như bản chất của
hoạt động nhận thức khoa học bởi vì nó diễn ra trong môi trường sư phạm, trong đó có
sự hướng dẫn và điều khiển của GV, vì vậy nó đi theo con đường đã được khám phá,
ngắn và ít khó khăn hơn Hoạt động nhận thức của HS không tìm ra cái mới mà nó chỉ tái tạo lại những chân lý mà loài người đã khám phá HS có thể lĩnh hội một lượng
kiến thức lớn trong thời gian ngắn nên dễ quên và cần có quá trình luyện tập, củng cố
để kiến thức được vững chắc
- GV là người định hướng cho hoạt động học tập thông qua việc xác định mục tiêu học tập và chuyển giao mục tiêu đó đến HS GV lựa chọn các tình huống, các phương pháp dạy học phù hợp để hình thành tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cho HS, phát
hiện ra những khó khăn mà HS thường gặp để can thiệp kịp thời GV kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS từ đó có kế hoạch đổi mới phương pháp cũng như qui trình
dạy học phù hợp hơn
2.4.1.4 Nhiệm vụ của hoạt động dạy học
Dựa trên những cơ sở như mục tiêu đào tạo, sự tiến bộ của khoa học - công nghệ, đặc điểm tâm lí của HS và đặc điểm hoạt động dạy học có thể đề ra ba nhiệm vụ sau:
- Tổ chức, hướng dẫn, điều khiển HS lĩnh hội hệ thống tri thức khoa học phổ thông cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn của đất nước về tự nhiên, kinh tế - xã hội, đồng thời rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo tương ứng
- Tổ chức, hướng dẫn, điều khiển HS phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo trên cơ sở nắm vững kiến thức
Trang 3230
- Hình thành thế giới quan khoa học về các hiện tượng tự nhiên và xã hội trên thế giới; hình thành và bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức như lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, năng động, sáng tạo…và phát triển nhân cách nói chung cho HS
2.4.2 Qui trình s ử dụng bản đồ để tổ chức các hoạt động dạy học
Sử dụng bản đồ theo hướng phát huy tính tích cực của HS là nghiên cứu sử dụng bản đồ để thiết kế các hoạt động nhận thức cho HS Để có thể thiết kế được các hoạt động có ý nghĩa, GV cần tiến hành theo các bước sau đây:
Bước 1: Phân tích và đánh giá bản đồ
Đây là việc làm thông thường trước khi sử dụng bản đồ vào một mục đích nào
đó Trên cơ sở hướng sử dụng đã được xác định, GV tiến hành phân tích và đưa ra những chỉ tiêu đánh giá bản đồ
Phân tích bản đồ là phân tích các yếu tố cấu thành bản đồ Để có thể khai thác các kiến thức chứa đựng trong bản đồ một cách hiệu quả cần phải phân tích các yếu tố
cấu thành này vì trong mỗi yếu tố chứa đựng các kiến thức tương ứng có thể khai thác
để phục vụ cho các mục tiêu sư phạm khác nhau của quá trình dạy học Phân tích bất
kì một bản đồ nào ta cũng thấy gồm các yếu tố sau đây:
nhiên và kinh tế - xã hội với những tính chất về sự phân bố, tình trạng, những mối liên
hệ và sự phát triển của chúng được biểu hiện trên bản đồ thông qua một hệ thống các
ký hiệu và các phương pháp biểu hiện bản đồ Nội dung bản đồ gồm:
chất định hướng cho nội dung chính
Để có thể phân tích được nội dung bản đồ cần phải có những kiến thức cơ bản
về bản đồ, đặc biệt là những kiến thức về kí hiệu bản đồ và các phương pháp biểu hiện bản đồ
đồ, gồm: phép chiếu bản đồ, tỉ lệ bản đồ Đây là cơ sở để tiến hành công tác đo tính
trên bản đồ nhằm có được những thông số cần thiết phục vụ cho quá trình dạy học
không được đưa vào bản đồ chính Những thông tin này làm phong phú thêm nội dung bản đồ như: các bản đồ phụ, các biểu đồ, các bảng số liệu…
khác trên bản đồ như: bảng chú giải, thước đo độ dốc, đo góc…, trong đó quan trọng
nhất là bảng chú giải vì nó giải thích ý nghĩa của các kí hiệu được sử dụng trên bản đồ
Trang 3331
Bước 2: Xác định nội dung dạy học
Bản đồ là một nguồn kiến thức phong phú, đa dạng do đó GV cần chọn lọc kiến thức cần thiết và phù hợp với bài học Muốn vậy, GV cần xác định nội dung dạy học Xác định nội dung dạy học là xác định các đơn vị kiến thức cơ bản, các đơn vị kiến thức thành phần và sắp xếp chúng theo một trình tự logic chặt chẽ, phù hợp với logic nội dung khoa học của bài học và đặc điểm lĩnh hội tri thức của HS Việc xác định nội dung dạy học sẽ giúp xác định các kiến thức có thể khai thác từ các yếu tố của bản đồ phục vụ cho việc dạy học các đơn vị kiến thức đã được xác định
Bước 3: Thiết kế các hoạt động dạy học
Mỗi giờ học được thiết kế thành một chuỗi các hoạt động phối hợp của GV và
HS Mỗi hoạt động nhằm đạt được mục tiêu sư phạm nhất định, được giới hạn trong một khoảng thời gian nhất định và được thực hiện thông qua các tác động của GV (hướng dẫn, chỉ đạo) và các thao tác trí tuệ (quan sát, phân tích, tổng hợp…), các thao tác thực hành (phân tích bản đồ, xử lí số liệu, biểu đồ ) của HS Các hoạt động sẽ giúp tích cực hóa quá trình học tập của HS làm cho việc lĩnh hội tri thức của HS bền vững hơn, đồng thời cũng giúp phát triển các năng lực chuyên biệt cho HS
Trang 3432
Bước 1: Phân tích và đánh giá bản đồ
Nội dung của bản đồ Phân bố lượng mưa trên thế giới là lượng mưa trung bình
năm của thế giới được biểu hiện bằng phương pháp bản đồ - mật độ với thang bậc từ dưới 200mm, 201mm – 500mm, 501mm – 1000mm, 1001mm – 2000mm và trên
2000mm
Nội dung của bản đồ Các dòng biển trên thế giới là sự phân bố và hướng di
chuyển của các dòng biển ở các đại dương trên thế giới được biểu hiện bằng phương pháp kí hiệu đường chuyển động với các kí hiệu định hướng là các mũi tên Các mũi
Trang 3533
tên màu xanh thể hiện các dòng biển lạnh và các mũi tên màu đỏ thể hiện các dòng
biển nóng
chiếu đồ của phép chiếu hình trụ đứng với các kinh tuyến và vĩ tuyến là những đường
thẳng song song, thẳng góc nhau và cách nhau 30o Trên bản đồ Các dòng biển trên
các vĩ tuyến đều là những đường cong và cách nhau 40o
giải thích các màu thể hiện lượng mưa trung bình năm Bảng chú giải trên bản đồ Các
Bước 2: Xác định nội dung dạy học
Hai bản đồ này được sử dụng để tổ chức các hoạt động dạy học mục III SỰ PHÂN BỐ LƯỢNG MƯA TRÊN TRÁI ĐẤT với các nội dung:
- Lượng mưa trên Trái Đất phân bố không đều theo vĩ độ
- Lượng mưa trên Trái Đất phân bố không đều do ảnh hưởng của đại dương
Bước 3: Thiết kế các hoạt động dạy học
Có thể sử dụng 2 bản đồ này để tổ chức cho HS hoạt động cặp đôi: 1 HS mở
bản đồ Phân bố lượng mưa trên thế giới và 1 HS mở bản đồ Các dòng biển trên thế
- Lượng mưa trên Trái Đất phân bố không đều theo vĩ độ:
Dựa vào bản đồ Phân bố lượng mưa trên thế giới HS phân tích sự phân bố của
lượng mưa theo các vĩ tuyến sẽ thấy được sự phân bố lượng mưa không đều theo vĩ độ
Cụ thể là các khu vực dọc theo đường xích đạo như phía Trung Mĩ, Bắc Nam Mĩ, vùng Trung Phi, quần đảo Indonesia lượng mưa từ trên 1000mm đến trên 2000mm Các khu vực dọc theo vĩ tuyến 30o Bắc và 30o Nam như Bắc Phi, trung tâm lục địa Úc lượng mưa dưới 200mm Còn các lãnh thổ ở vĩ tuyến 60onhư Hoa Kì, Châu Âu, Trung Quốc lượng mưa từ trên 200mm đến 1000mm
- Lượng mưa phân bố không đều do ảnh hưởng của đại dương:
Dựa vào bản đồ Phân bố lượng mưa trên thế giới và bản đồ Các dòng biển trên
dòng biển nóng và dòng biển lạnh chảy qua sẽ thấy được dọc bờ Đại Tây Dương của Nam Mĩ và Bắc Mĩ có các dòng biển nóng nên ở những nơi này có lượng mưa cao, trái lại dọc bờ Đại Tây Dương của Bắc Phi và Nam Phi có các dòng biển lạnh nên lượng mưa thấp Tình hình tương tự như vậy cũng xảy ra ở hai bờ Thái Bình Dương:
dọc theo bờ Nam Mĩ, Hoa Kì có các dòng biển lạnh nên lượng mưa ít, còn dọc theo bờ Trung Mĩ và Canada có lượng mưa nhiều nhờ có các dòng biển nóng chảy qua
Trang 3634
2.5.1.2 Ví dụ 2: Bài 22 DÂN SỐ VÀ SỰ GIA TĂNG DÂN SỐ
Sử dụng bản đồ Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên thế giới hằng năm, thời kì
2000 – 2005 (%) (trang 85) để tổ chức hoạt động dạy học mục II GIA TĂNG DÂN
SỐ
Bước 1: Phân tích và đánh giá bản đồ
1 Yếu tố nội dung: Nội dung bản đồ này là Tỉ suất gia tăng tự nhiên dân số thế
giới hằng năm được biểu hiện bằng phương pháp bản đồ - mật độ với thang bậc từ
dưới hoặc bằng 0%, 0,1% – 0,9%, 1% – 1,9%, 2% – 2,9% và bằng hoặc trên 3%
trụ đứng giả với các kinh tuyến là những đường cong, vĩ tuyến là những đường thẳng
và cách nhau 40o
nhiên dân số thế giới
Bước 2: Xác định nội dung dạy học
Sử dụng bản đồ này để tổ chức hoạt động dạy học tiểu mục c) Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên trong mục 1 Gia tăng tự nhiên
Bước 3: Thiết kế các hoạt động dạy học
Có thể sử dụng bản đồ này để tổ chức cho HS hoạt động cá nhân để trả lời các
câu hỏi trong sách giáo khoa: Các nước được chia thành mấy nhóm có tỉ suất gia tăng
dân số tự nhiên khác nhau? Tên một vài quốc gia tiêu biểu trong mỗi nhóm?
Phân tích bản đồ HS có thể trả lời như sau: Các nước được chia ra 4 nhóm có tỉ suất gia tăng tự nhiên khác nhau: