Ban Giám hiệu, cán bộ, giáo viên các trường Tiểu học, Mẫu giáo và Phụ huynh học sinh dân tộc Khmer có con chuẩn bị vào lớp 1 tại tỉnh Sóc Trăng, đã quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ, cung cấp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI CẤP BỘ Mã số: B 2007-19-22
Ch ủ nhiệm đề tài : ThS Nguyễn Ngọc Tài
NCV Viện Nghiên cứu Giáo dục
TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 12/ 2009
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI CẤP BỘ Mã số: B 2007-19-22
Chủ nhiệm đề tài : Th.S Nguyễn Ngọc Tài
NCV Vi ện Nghiên cứu Giáo dục
Thành viên đề tài :
TS Trần Thanh Pơn-Hội VHDT TPHCM Kim Sơn-PGĐ Sở GD-ĐT tỉnh Sĩc Trăng ThS Đào Thị Vân Anh-Viện NCGD
Đặng Minh Hải -Vi ện NCGD Trần Lê Khanh-Phịng GD Thành phố Sĩc Trăng
C ơ quan chủ quản : Vụ Khoa học – Cơng nghệ
Bộ Giáo dục – Đào tạo
C ơ quan chủ trì : Trường Đại học Sư phạm TP.HCM
TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 12/ 2009
Trang 3Cơ quan và cá nhân ph ối h ợp th ực hi ện :
Sở GD-ĐT tỉnh Sóc Trăng
Các Phòng Giáo dục của tỉnh Sóc Trăng
Các trường Tiểu học và Mẫu giáo của tỉnh Sóc Trăng
Các cá nhân tham gia đề tài :
TS Trần Thanh Pôn – Hội Văn học Dân tộc T.HCM Th.S Đào Thị Vân Anh – Viện NCGD
CN Đặng Minh Hải – Viện NCGD Ông Kim Sơn – PGĐ Sở GD-ĐT Sóc Trăng Ôâng Trần Lê Khanh –Phòng GD Thành phố Sóc Trăng
Trang 4Ban ch ủ nhi ệm đề tài chân thành c ảm ơn
Vụ Khoa học – Công nghệ (Bộ Giáo dục – Đào tạo)
Ban Giám hiệu, Hội đồng khoa học trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh
Lãnh đạo, Hội đồng khoa học Viện Nghiên cứu Giáo dục
Phòng Nghiên cứu khoa học – Sau đại học trường ĐHSP
TP Hồ Chí Minh
Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Đại học– Viện NCGD
Ban Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Sóc Trăng
Ban Giám hiệu, cán bộ, giáo viên các trường Tiểu học, Mẫu giáo và Phụ huynh học sinh dân tộc Khmer có con chuẩn bị vào lớp 1 tại tỉnh Sóc Trăng, đã quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ, cung cấp tài liệu, tạo điều kiện thuận lợi để chúng tôi thực hiện đề tài này
Tp Hồ Chí Minh 4/2009
Chủ nhiệm đề tài Th.S Nguyễn Ngọc Tài
Trang 5DANH MUÏC VIEÁT TAÉT
Trung học Sư phạm Mầm non THSPMN
Xã hội hóa giáo dục XHHGD
Trang 6
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
Tên đề tài: Công tác chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1
tại Sóc Trăng : Thực trạng và Giải pháp
Mã số: B 2007-19-22
Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Ngọc Tài
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Sư phạm TP HCM
Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện:
1- Trần Thanh Pôn (TS- NCVC về Giáo dục học, Hội Văn học Dân tộc TpHCM-Thành viên Ban Nghiên cứu dân tộc học- Viện Nghiên cứu giáo dục)
2- Đào Thị Vân Anh (Thạc sỹ Tâm lý học- Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu giáo dục Phổ thông -Thành viên Ban Nghiên cứu dân tộc học- Viện Nghiên cứu Giáo dục) 3- Đặng Minh Hải (Cao học Tóan -Thành viên Ban Nghiên cứu dân tộc học- Viện Nghiên cứu giáo dục)
4- Trần Lê Khanh (Cử nhân Sử học- Chuyên viên phòng Giáo dục Thành phố Sóc Trăng)
5- Kim Sơn (Phó Giám Đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Sóc Trăng)
6- Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Sóc Trăng, các trường Tiểu học, Mẫu giáo và một số chùa tại thành phố Sóc Trăng, huyện Vĩnh Xuyên tỉnh Sóc Trăng
Thời gian thực hiện: từ tháng 4/2007 đến 4/2009
tỉnh Sóc Trăng Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng, nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra các giải pháp
để giúp địa phương thực hiện tốt việc chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp một nhằm thực hiện tốt công tác Phổ cập Giáo dục tiểu học đúng độ tuổi cho học sinh dân tộc Khmer tại tỉnh Sóc Trăng nói riêng cũng như vùng Đồng bằng Sông Cửu Long nói
chung
Trang 72.1 Nghiên cứu lý luận, sưu tầm khảo sát tư liệu trong và ngoài nước vế vấn đề giáo dục cho các vùng dân tộc.Vận dụng các nghiên cứu chung để áp dụng cho vùng dân tộc Khmer ĐBSCL
địa phương về Công tác chuẩn bị cho trẻ khmer vào lớp 1
2.3 Đề xuất các giải pháp cho công tác chuẩn bị cho trẻ em Khmer vào lớp 1 tại tỉnh Sóc Trăng
3.1-Thực trạng Công tác chuẩn bị cho trẻ Khmer vào lớp 1 tại tỉnh Sóc Trăng:
đến quyền lợi được đi học Mẫu giáo của học sinh Khmer Cộng đồng người dân tộc Khmer đã tham gia vào công tác chuẩn bị cho trẻ em Khmer vào lớp 1 thông qua việc tổ chức cho trẻ Khmer học tại chùa, cho trẻ Khmer tham gia các lớp Mẫu giáo 36 tuần trước khi vào lớp 1
chất, tài chính rất khó khăn, đa số các trường Mẫu giáo phải ghép với các lớp 1, mạng lưới các trường mẫu giáo phân bố chưa đồng đều nên những gia đình ở vùng sâu, vùng xa khó có thể đưa trẻ đi học Mẫu giáo
Vì học ghép với lớp 1 nên các giáo viên Mẫu giáo gặp rất nhiều khó khăn trong công tác chuyên môn
Các PHHS d ân tộc Khmer có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn nên việc thu học phí
ở Mẫu giáo là một vấn đề khó khăn của ngành Giáo dục Bên cạnh đó PHHS dân tộc Khmer chưa hiểu rõ hết về lợi ích của việc chuẩn bị cho trẻ em Khmer vào lớp 1 nên công tác vận động đưa trẻ đi học mẫu giáo cũng chưa thực hiện tốt
Giáo viên dạy Mẫu giáo là người dân tộc còn quá thiếu do đó việc dạy cho trẻ làm quen với Tiếng Khmer và Tiếng Việt gặp nhiều khó khăn
3.2 Đề xuất một số giải pháp thiết thực và khả thi trong điều kiện học tập hiện nay tại một
số trường Mẫu giáo tại tỉnh Sóc Trăng để nâng cao công tác chuẩn bị cho trẻ Khmer vào lớp 1:
- Chú trọng đến việc nâng cao cơ sở vất chất cho các trường Mẫu giáo, phát huy
và động viên giáo viên trong việc tự chế tạo đồ dùng dạy học cho bậc học Mầm non
- T ận dụng các cơ sở chùa trong địa bàn để dạy trẻ Khmer làm quen với Tiếng Việt và Tiếng Khmer thông qua việc thống nhất chương trình dạy học cũng như việc trang bị các sách vở, thiết bị phục vụ cho việc học tập tại chùa
- Chú trọng công tác đào tạo giáo viên dân tộc Khmer cho bậc học Mầm non, chú
ý đến công tác tạo nguồn từ các trường PTTH Nội trú của tỉnh cùng với ban hành các chính sách ưu đãi cho giáo viên
Trang 8- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về lợi ích của việc chuẩn bị cho trẻ em Khmer vào lớp 1 cho cộng đồng người dân tộc Khmer.Có chính sách miễn giảm học phí cho trẻ Mẫu giáo người dân tộc Khmer
- Đẩy mạnh công tác XHH giáo dục trong toàn tỉnh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục cho tòan dân trong tỉnh nói chung và cho cộng đồng dân tộc Khmer nói riêng
Kết quả nghiên cứu được gửi đến Sở Giáo dục- Đào tạo, các phòng Giáo dục, các trường Tiểu học và Mẫu giáo trong tỉnh Sóc Trăng như một tài liệu, nhằm góp phần cho
việc nâng cao công tác chuẩn bị cho trẻ em Khmer vào lớp 1
SUMMARIZING RESULT OF SCIENTIFIC AND TECHNOLOGICAL
RESEARCH OF MINISTERIAL LEVEL
Trang: Actual State And Solution
Code: B 2007-19-22
The Chief of the subject: MA Nguyen Ngoc Tai
The agency in charge of the subject: HCMC High-School Teachers’ Collage
Agencies and individuals performing the subject:
1- Tran Thanh Pon (Doctor-NCVC regarding pedagogy, HCMC Association of national literature – Member of Board of research on ethnology – Institute of pedagogic research)
2- Dao Thi Van Anh (MSc in psychology – Vice director of Center of Research on general education- – Member of Board of research on ethnology – Institute of pedagogic research)
3- Dang Minh Hai (MSc in mathematics – Member of Board of research on ethnology – Institute of pedagogic research)
4- Tran Le Khanh (Bachelor of history – specialist of Educational Department of Soc Trang city)
5- Kim Son (Vice-Director of the Service of education and training of Soc Trang province)
6- Soc Trang Service of Education and Training, Primary schools, Nursery and some pagoda in Soc Trang city, Vinh Xuyen district, Soc Trang province
Period of performance: from April 2007 to April 2009
1- Objective: to learn about reality of preparation for Khmer children attending 1st
form in Soc Trang province Basing on learning about reality, research group shall put forward solution for enabling the locality to have well preparation for Khmer children attending 1st form in order to perform well task of universalizing
Trang 9education at primary level in accordance with age of Khmer pupil in Soc Trang province in particular and Mekong River Delta in general
2- Main content:
2.1 To study argument, collect and refer to domestic and foreign documents regarding education applied to ethnic areas To adopt general studies to apply them to Khmer areas of Mekong River Delta
2.2 To survey persons to be teachers, education managers, parents of pupil in the locality regarding task of preparation for Khmer children attending 1st form
2.3 To put forward solutions for preparation for Khmer children attending 1st form in Soc Trang province
3 Main result (science, application, training, economic-social aspects…)
3.1 – Reality of preparation for Khmer children attending 1st form in Soc Trang province
- Advantages: the government issues article of law, policy showing interest in right
to attend nursery school of Khmer pupil Khmer people have participated in preparation for Khmer pupil attending 1st form via preparation for Khmer children learning at pagoda, attending nursery school of 36 weeks prior to attending 1stform
- Difficulties: Nursery schools proved to be lack of material facilities, finance, most
of nursery schools have to be joined with 1st form, nursery schools are distributed unequally, so families of remote areas are hard to take their children to attend nursery school
Due to being joined with 1st form, so teachers of nursery school meet with many difficulties in professional works
Parents of Khmer children are of narrow family circumstance, so education branch shall meet with difficulties in collecting tuition Besides, the parents of Khmer children not yet understood benefit of preparation for Khmer children attending 1stform, so movement to take the children to nursery school is not yet performed fully
There is shortage of teachers of nursery school to be ethnic people so teaching Khmer and Vietnamese language to children meets with difficulties
3.2 Putting forward some practical and feasible solutions on present learning condition in some nursery schools in Soc Trang, in order to improve preparation for Khmer children attending 1st form
Trang 10- To attach much importance to improving material facilities in nursery schools, to promote and encourage teachers to make teaching aids by themselves for pre- school level
- To take the best of pagodas in the area to teach Khmer children Vietnamese and Khmer language via uniting teaching program as well as providing book, tools for learning at pagoda
- To attach much importance to training Khmer teachers for pre-school level, to pay attention to creation of human resource from boarding-high school of the province together with issue of incentive given to teachers
- To forward propaganda for the benefit of preparation for Khmer children attending
1st form for Khmer community Issue of policy reducing of tuition in favor of Khmer children of nursery school
- To forward socializing education in whole province to contribute to improvement
of quality of education in while province in general and Khmer community in particular
- Result of study shall be sent to the Service of Education and Training, Department
of Education and Training, primary schools and nursery schools in Soc Trang province as document, with a view to contribute to forward preparation for Khmer children attending 1st form
Trang 11M ục l ục
Tóm tắt kết quả nghiên cứu đề tài KH và CN cấp Bộ 1
Chương II : Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài 13 A- Cơ sở lýluận
I- Một số cơng trình nghiên cứu cĩ liên quan đến đề tài 13 II- Quan điểm khoa học về việc chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông 13 III- Một số vấn đề cơ bản trong hoạt động của HS tiểu học 14 IV- Chuẩn bị cho trẻ một số thói quen trước khi vào lớp 1 16
II- Thống kê số lượng HS dân tộc, GV của bậc học MG và lớp 1 của tỉnh Sóc Trăng 31
I- Kếât quả khảo sát ý kiến của Ban giám hiệu các trường mẫu giáo 38 II- Kết quả khảo sát ý kiến của giáo viên 41 III- Kết quả khảo sát ý kiến của phụ huynh học sinh 50 Chương IV : Đề xuất các giải pháp để phát triển công tác chuẩn bị cho trẻ Khmer vào lớp 1 58
1- Giải pháp 1: Nâng cao đời sống cho người dân tộc Khmer 60 2- Giải pháp 2: Tuyên truyền, huy động trẻ em Khmer đi học mẫu giáo 61
Trang 123- Giải pháp 3: Xây dựng đội ngũ CBQL và GV bậc học mầm non 61 4- Giải pháp 4: Trang bị CSVC, trang thiết bị dạy học cho ngành mầm non 62 5- Giải pháp 5: Đẩy mạnh công tác XHH giáo dục cho ngành mầm non 63
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I- TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Hiện nay việc chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 cịn nhiều bất
cập Điều này dẫn đến tình trạng nhiều học sinh Khmer khơng theo học đúng độ
tuổi Mặc khác,vì khơng tổ chức tốt việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp một nên dẫn đến
tình trạng một số học sinh dân tộc Khmer lưu ban hoặc bỏ học Tất cả những vấn
đề trên làm cho cơng tác phổ cập Giáo dục tiểu học đúng độ tuổi cho học sinh dân
tộc Khmer vùng đồng bằng sơng Cửu Long gặp nhiều khĩ khăn
Trang 13Hiện nay trong và ngoài nước có rất nhiều đề tài liên quan đến giảng dạy ở bậc Tiểu học, Mầm non như việc chăm sóc, giáo dục đạo đức, cho trẻ làm quen với Toán, Tiếng Việt, v.v…Tuy nhiên tình hình giáo dục của ta hiện nay cần có sự đầu
tư thật nhiều ở bậc Mầm non để các em có thể tiếp cận được chương trình đổi mới
ở bậc Tiểu học Chính vì thế, việc chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp 1 là một việc làm không thể thiếu Ở lĩnh vực giáo dục cho học sinh dân tộc tại khu vực ĐBSCL thì vấn đề chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp 1 lại là vấn đề rất cấp thiết Trẻ em Khmer trong độ tuổi Mẫu giáo cần phải được làm quen với Toán và Văn học bên cạnh tiếng Khmer, các em cần được chuẩn bị tâm thế trước khi bước vào lớp 1 Mặc khác, từ phía CBQL, Giáo viên, PHHS tại địa phương cần có những quan niệm, những giải pháp tạo điều kiện thật tốt để thực hiện công tác chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 Chúng ta cần có sự đầu tư, nghiên cứu nghiêm túc để có thể tìm ra giải pháp giúp cho học sinh vùng dân tộc Khmer vào lớp 1 thuận lợi, nhằm thực hiện tốt việc Phổ cập Giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi cho học sinh dân tộc tại địa phương
Qua một số nghiên cứu tình hình trong và ngoài nước về vấn đề giáo dục dân tộc, trước tình hình giáo dục dân tộc hiện nay tại ĐBSCL, nhóm nghiên cứu mạnh dạn đề xuất thực hiện đề tài :“Công tác chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp 1 tại Sóc Trăng : Thực trạng và Giải pháp”
Thông qua đề tài, nhóm nghiên cứu muốn khảo sát những thực tế việc chuẩn
bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp một tại tỉnh Sóc Trăng để từ đó có thể đưa ra
các kiến nghị, giải pháp giúp cho địa phương thực hiện tốt việc chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp một nhằm thực hiện tốt công tác Phổ cập Giáo dục tiểu học đúng độ tuổi cho học sinh dân tộc Khmer tại tỉnh Sóc Trăng nói riêng cũng như
vùng Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung
II- MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI:
- Tìm hiểu thực trạng việc chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp một
tại tỉnh Sóc Trăng
- Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng, nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra các giải pháp để giúp địa phương thực hiện tốt việc chuẩn bị cho trẻ em dân tộc Khmer vào lớp một nhằm thực hiện tốt công tác Phổ cập Giáo dục tiểu học đúng độ tuổi cho học sinh dân tộc Khmer tại tỉnh Sóc Trăng nói riêng cũng như vùng Đồng bằng Sông Cửu
Long nói chung
Trang 14III- CÁCH TIẾP CẬN CỦA ĐỀ TÀI:
Tiến hành công tác Chuẩn bị cho trẻ Khmer vào lớp 1 là một việc làm không đơn giản, với yêu cầu là làm thế nào để vận động được PHHS dân tộc Khmer đưa trẻ đến Mẫu giáo Hiện tại các trẻ em Khmer vào học lớp 1 gặp nhiều khó khăn khi học Tiếng Việt và Tiếng Khmer do đa phần các em chưa có điều kiện học qua các lớp Mẫu giáo Hiệu quả học tập ở lớp 1 của trẻ Khmer không chỉ phụ thuộc vào tác động của ban Giám Hiệu, giáo viên đứng lớp mà phụ thuộc rất nhiều đến công tác chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1
Đề tài đề cập đến sự hiểu biết của PHHS dân tộc Khmer trong việc chuẩn bị cho trẻ Khmer vào lớp một cũng như thực trạng việc dạy trẻ mẫu giáo Khmer tại địa phương
- Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố thuận lợi và khó khăn trong công tác chuẩn bị cho trẻ Khmer vào lớp 1 tại tỉnh Sóc Trăng
- Khách thể nghiên cứu chính : Phụ huynh học sinh dân tộc Khmer có con chuẩn bị vào lớp 1, Ban giám hiệu và giáo viên các trường mẫu giáo có dạy học sinh Khmer trong tình Sóc Trăng
Khách thể nghiên cứu phụ: một số điểm chùa có dạy Mẫu giáo cho học sinh dân tộc Khmer
1- Phương pháp tra cứu tài liệu, nghiên cứu văn bản:
Nghiên cứu các tài liệu về chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về giáo dục Mầm non, đặc biệt là chính sách giáo dục cho vùng dân tộc Khmer ĐBSCL.Nghiên cứu các tài liệu trong và ngòai nước về công tác chuẩn bị cho trẻ
em vào lớp 1
2- Phương pháp quan sát:
Trang 15Đề tài sử dụng phương pháp quan sát có chủ định: xác định rõ mục đích yêu cầu và nhiệm vụ quan sát Có chuẩn bị các mẫu ghi chép cụ thể, chi tiết về phương pháp giảng dạy cho trẻ em Khmer ở Mẫu giáo
4- Phương pháp dùng bảng hỏi:
Chúng tôi đã xây dựng bảng hỏi cho các đối tượng là giáo viên, cán bộ quản
lý giáo dục và phụ huynh học sinh Khmer tại địa phương
- Bộ phiếu MO1 dành cho CBQL phòng Giáo dục Huyện Vĩnh Châu và Thành phố Sóc Trăng , Sở GD&ĐT tỉnh Sóc Trăng, Ban Giám hiệu các trường Mẫu giáo có trẻ Khmer đang học
- Bộ phiếu MO2 dành cho GV ( 193 phiếu ) Khảo sát tại các trường Mẫu giáo của Huyện Vĩnh Châu và Thành phố Sóc Trăng
- Bộ phiếu MO3 dành cho PHHS ( 175 phiếu ) Khảo sát các PHHS có con em
là dân tộc Khmer đang học mẫu giáo
5- Phương pháp xử lý số liệu:
Xử lý số liệu, phân tích và nhận xét về thực trạng công tác chuẩn bị cho trẻ Khmer vào lớp 1 Trên cơ sở phân tích số liệu , nhóm nghiên cứu có cơ sở để đề xuất các giải pháp cụ thể
VI- PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
- Giới hạn về địa bàn: Phiếu khảo sát được thực hiện tại phòng Giáo dục Huyện Vĩnh Châu và Thành phố Sóc Trăng với các trường ở phường 1, 5, 10 và Lai Hòa 5, Lai Hòa 3,Vĩnh Phước 2, Vĩnh Phước 3, Vĩnh Phước 7, Vĩnh Hải 1, Vĩnh Châu 1,Vĩnh Châu 2, Lạc Hòa 2…
Trang 16- Giới hạn về khách thể : Đề tài giới hạn trong phạm vi khảo sát Phụ huynh học sinh dân tộc Khmer có con chuẩn bị vào lớp 1, Ban giám hiệu và giáo viên các trường mẫu giáo có dạy học sinh Khmer trong tình Sóc Trăng
- Giới hạn về nội dung: Nội dung nghiên cứu tập trung vào việc chuẩn bị cho trẻ Khmer 5 tuổi tham gia học Mẫu giáo chuẩn bị vào lớp 1 tại địa phương
VII- NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
- Nghiên cứu lý luận, sưu tầm khảo cứu tư liệu trong và ngoài nước vế vấn
đề giáo dục cho các vùng dân tộc.Vận dụng các nghiên cứu chung để áp dụng cho vùng dân tộc Khmer ĐBSCL
- Triển khai khảo sát tại địa phương với các đối tượng là CBQLGD, Ban Giám Hiệu các trưuờng Mẫu giáo,PHHS dân tộc Khmer có con trong độ tuổi Mẫu giáo và xử lý kết quả về vấn đề chuẩn bị cho trẻ em Khmer vào lớp 1 tại Sóc trăng
- Phân tích nguyên nhân để tìm thấy các mặt mạnh và mặt yếu trong việc tổ chức cho trẻ Khmer vào lớp 1 tại tỉnh Sóc Trăng
- Trên cơ sở các nguyên nhân đề tài đã vạch ra, nhóm nghiên cứu đề xuất các giải pháp cho công tác chuẩn bị cho trẻ em Khmer vào lớp 1
VIII- TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU:
- Từ 7/2007 đến 12/2007 viết thuyết minh và đề cương chi tiết cho đề tài, viết cơ sở lý luận cho đề tài và biên soạn, chỉnh lý các bộ phiếu khảo sát MO1,MO2 và MO3
- Từ 1/2008 đến 6/2008 triển khai khảo sát tại địa phương và xử lý kết quả
về vấn đề chuẩn bị cho trẻ em Khmer vào lớp 1
- Từ 7/2008 đến 1/2009 đề xuất các giải pháp cho công tác chuẩn bị cho trẻ
em Khmer vào lớp 1
- Từ 2/2009 đến 4/2009 viết báo cáo khoa học hoàn chỉnh và chuẩn bị nghiệm thu sản phẩm
Trang 17CHƯƠNG II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
A – CƠ SỞ LÝ LUẬN:
I- Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài:
Trước đây chúng tôi đã thực hiện một số nghiên cứu có liên quan đến vấn đề giáo dục cho cộng đồng dân tộc Khmer như:
1- Thực trạng và giải pháp phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi vùng dân tộc Khmer ĐBSCL-ThS Nguyễn Ngọc Tài ( Đề tài cấp Bộ trọng điểm 2003) Trong
đề tài chúng tôi đã nghiên cứu rất nhiều về thực trạng và đưa ra các giải pháp để có thể thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi vùng dân tộc Khmer ĐBSCL Một trong những giải pháp mà chúng tôi đưa ra là phải huy động trẻ Khmer trong độ tuổi MG phải vào học ở các trường MG, có như vậy thì chúng
ta mới tổ chức tốt việc phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi cho học sinh dân tộc Khmer vùng ĐBSCL Như vậy việc nghiên cứu các giải pháp để thực hiện
Trang 18công tác chuẩn bị cho trẻ Khmer vào lớp 1 là một việc làm rất cần thiềt cho công tác giáo dục vùng dân tộc thiểu số
2- Hoàn thiện lý luận và phương thức tổ chức dạy song ngữ Việt-Khmer bậc tiểu học vùng dân tộc Khmer ĐBSCL -TS Trần Thanh Pôn-( 1999 )
Trong đề tài, tác giả đã đề cập đến vấn đề dạy Tiếng Việt và Tiếng Khmer cho học sinh Khmer ở bậc học Phổ thông Tác giả đã đưa ra các phương án khả thi
để thực hiện tốt việc dạy tiếng thông qua hình thức dạy song ngữ Tuy nhiên đề tài cũng chỉ dừng lại ở bậc học TH, THCS và THPT chứ chưa chú trọng đến dạy chữ Khmer cho trẻ Khmer bậc học MN chuẩn bị vào lớp 1
3- Công tác quản lý tổ chức chỉ đạo của Sở GD-ĐT đến với trường phổ thông vùng dân tộc Khmer ĐBSCL-TS Trần Thanh Pôn ( 1998 )
Trong đề tài tác giả đã nêu lên thực trạng, phân tích nguyên nhân và đề xuất các giải pháp để cho các CBQLGD làm tốt công tác chỉ đạo cho các trường phổ thông có học sinh dân tộc Khmer Qua nội dung nghiên cứu, tác giả đã đề cập rất nhiều đến chỉ đạo quản lý các trường phổ thông, đề tài chưa đề cập đến quản lý tốt các trường tiểu học có lồng ghép với các lớp MG cho học sinh dân tộc Khmer như hiện nay
4- Dự án phát triển giáo dục cho học sinh Tiểu học vùng dân tộc Khmer (KBE PGS.TS Đào Trọng Hùng - (2000)
)-Đây là một dự án lớn, thực hiện trong 8 năm, nhằm trang bị cơ sở vật chất, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dân tộc để chăm sóc trẻ Khmer, thực hiện tốt sự nghiệp giáo dục dân tộc tại vùng ĐBSCL Dự án tập trung ở tầm vĩ mô, chưa thực
sự đi vào lĩnh vực cụ thể như công tác chuẩn bị cho trẻ Khmer 5 tuổi vào lớp 1
Ngoài ra chúng tôi còn nghiên cứu một số đề tài khác có liên quan đến vấn
Trang 19II- Quan điểm khoa học về việc chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông
Đối với các trẻ em 6 tuổi phát triển bình thường thì đây là thời điểm để các
em đến trường phổ thông và được coi là một bước ngoặt quan trọng của cuộc đời Các em được chuyển qua một lối sống mới bao gồm các hoạt động với các mối quan hệ mới của một người học sinh
Khi vào lớp 1, trẻ phải có hoạt động chủ yếu là học tập mang tính chất bắt buộc, có tổ chức chặt chẽ, có mục đích, có kế hoạch
Tại giai đoạn phát triển này cũng như ứng với mỗi giai đoạn phát triển thì yêu cầu về sinh lý, về tâm lý, về xã hội đòi hỏi học sinh phải thích ứng mới học tập được kết quả và cuộc sống vẫn được dễ chịu
Ở tuổi MG nếu trẻ được chăm sóc tốt, được giáo dục để phát triển toàn diện
về cả các mặt thể chất, tâm lý, xã hội thì việc trẻ vào lớp 1 là điều tự nhiên, rất phù hợp với giai đoạn phát triển của trẻ Tuy nhiên trên thực tế nhiều bậc PHHS đã không quan tâm đến vấn đề này, vì thế khi trẻ vào lớp 1 rất bỡ ngỡ, ngơ ngác, nhút nhát với mọi thứ xung quanh làm cho trẻ sợ đi học, mất hứng thú học tập…Kéo theo hệ quả là làm cho GV tiểu học vất vả và kết quả học tập của trẻ bị ảnh hưởng rất lớn…
Đối với học sinh Khmer thì việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 lại gặp nhiều khó khăn hơn vì đa số PHHS chưa biết và chưa có điều kiện để hiểu biết quan tâm con
em mình một cách khoa học Việc đưa trẻ Khmer vào lớp 1 là một vấn đề nan giải của địa phương có dân tộc Khmer nói chung và tỉnh Sóc Trăng nói riêng
Như vậy công tác chuẩn bị cho trẻ Khmer vào lớp 1 phải được đặt ra một cách nghiêm túc, cấp bách mà các nhà QLGD và PHHS Khmer cần quan tâm tạo điều kiện để tất cả trẻ em Khmer trong độ tuổi được học MG để chuẩn bị vào lớp 1
Chúng ta cần xác định các quan điểm khi chuẩn bị cho trẻ Khmer vào lớp 1 là:
- Chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông không phải là làm thay cho giáo dục tiểu học
Chính vì thế ta phải xác định là không phải dạy cho trẻ biết đọc, biết viết, biết làm phép tính, không nên dạy trước những gì mà sau này trẻ sẽ được học ở trường phổ thông Đặc biệt ở trẻ Khmer phải học và nói hai ngôn ngữ Tiếng Việt –
Trang 20Khmer nên chúng ta cần phải có một phương pháp giảng dạy khoa học mới làm cho công tác chuẩn bị cho trẻ Khmer vào lớp 1 đạt kết quả như mong muốn
- Chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông là chuẩn bị toàn diện như: chuẩn bị cho trẻ thích ứng với cuộc sống ở trường phổ thông, chuẩn bị cho trẻ thích ứng với hoạt động học tập như về tâm thế, về hứng thú, hoạt động trí tuệ, thao tác bàn tay,
về việc tự phục vụ trong sinh hoạt hàng ngày, về sức khỏe dinh dưỡng…
- Chúng ta chuẩn bị cho trẻ Khmer vào trường phổ thông khi tiến hành phải thông qua các tổ chức hoạt động cho trẻ như duy trì vai trò chủ đạo của hoạt động vui chơi, thông qua một số hoạt động tạo hình, múa hát, đọc thơ, kể chuyện…cần
tổ chức một số hoạt động có cấu trúc gần giống tiết học ở lớp 1
Hiện nay trên quan điểm chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông theo quan điểm tích hợp chúng ta cũng cần áp dụng cho thực tế tại địa phương Sóc Trăng đối với học sinh dân tộc Khmer
Chúng ta phải kết hợp việc chăm sóc với việc giáo dục trẻ một cách chặt chẽ Giáo dục trẻ toàn diện về thể chất, trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ Cần phải phối hợp, hòa quyện các mặt của nội dung giáo dục không phân chia nội dung giáo dục thành những bộ môn một cách rạch ròi như ở trường phổ thông Chúng ta cần lấy trẻ làm trung tâm, phải biết phát huy tính tích cực của trẻ, biến yêu cầu chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 thành nhu cầu, hứng thú hoạt động của trẻ
III- Một số vấn đề cơ bản trong hoạt động của học sinh tiểu học
Từ mẫu giáo chuyển sang lớp 1, sự phát triển của đứa trẻ chịu sự chi phối của hai thời kỳ phát triển
- Vui chơi tùy hứng
- Hoạt động chủ đạo là vui chơi
- Hình thái tư duy trực quan hình tượng
- Động cơ hoạt động vui chơi nằm ngay
Trang 21Các đặc điểm cơ bản trong hoạt động của học sinh lớp 1, ta cần chú ý đến các
hệ thống thuật ngữ cơ bản sau:
Sự khác biệt giữa 2 thời kỳ phát triển: tuổi Mẫu giáo và học sinh lớp 1 như sau:
- Tư duy trực quan hành động xuất hiện ở trẻ 2-4 tuổi
- Tư duy trực quan hình ảnh, hình tượng xuất hiện ở trẻ 4-6 tuổi
- Tư duy trừu tượng xuất hiện ở trẻ 10-12 tuổi
Trang 22- Học sinh lớp 1 vẫn sử dụng nhiều tư duy trực quan hành động và hình ảnh trong hoạt động học tập
IV- Chuẩn bị cho trẻ một số thói quen trước khi vào lớp 1
Trước khi di học, bé phải tập được các thói quen sau: (Theo Lamchame.com)
- Tập trung chú ý: Ở các trường mẫu giáo, các bé lớn được tập dần để khả
năng tập trung chú ý tăng dần theo thời gian để đến cuối năm, bé có thể tập trung học được trong 40 phút mà không cảm thấy quá gò bó Các cha mẹ cũng thường được các cô giáo nhắc nhở phối hợp chuyện này
- Phân biệt được những "hiệu lệnh" mang tính tập thể của cô giáo: Ở lớp
mẫu giáo, các bé thường được cô nhắc nhở đến tận nơi, đến tên từng bé một, hoặc từng nhóm một Bắt đầu ở lớp một, hiệu lệnh của giáo viên thường được đưa ra cho cả lớp, ví dụ: "Các con lấy vở tập viết ra nào" Vì vậy, vào năm mẫu giáo lớn, cha mẹ nên phối hợp với nhà trường, giải thích cho con hiểu rằng bé sẽ gặp các tình huống như vậy để bé làm quen; rằng lên lớp một, làm anh chị "nhớn" rồi nên không cần chờ nhắc đến tên mình mới làm
- Động tác cơ tay khéo léo: Vào lớp một, bé bắt đầu tập viết, động tác cầm
bút viết có tác động đến các cơ nhỏ ở bàn và ngón tay, nếu bé không quen với các hoạt động tay thì rất chóng mỏi, gây ra chán viết Vì vậy, bắt đầu từ mẫu giáo nhỡ, việc tập cơ tay cho bé là điều cần được chú ý nhiều, cách tốt nhất là tập vẽ, tập nặn, cắt đồ chơi Bắt đầu từ 3 tuổi, bé đã khá thành thạo trong việc cầm nắm Bạn hãy khuyến khích bé làm những việc này đều đặn hằng ngày để bé tập luyện
- Rèn luyện tính kỷ luật: Ở tuổi mẫu giáo, nhiều bé còn được "sống" khá
thoải mái theo nhịp và theo cá tính của bản thân Vào lớp một, bé thường được yêu cầu chấp hành kỷ luật về giờ giấc và các nội quy trường lớp khá nghiêm ngặt Nếu được chuẩn bị, bé sẽ đỡ cảm thấy "khổ sở" và bị gò ép hơn
- Tạo cho trẻ khái niệm về lớp 1 và trường tiểu học: Để làm được việc này,
cha mẹ nên nói dần dần cho con biết những việc con sẽ phải làm, những hoạt động
cơ bản diễn ra tại lớp một Để giúp trẻ có cái nhìn tích cực về lớp một, cha mẹ nên nói cho con những điểm hay khi đi học, ví dụ bé sẽ được coi là người lớn hơn này, được học đọc và học viết này, sẽ biết thêm nhiều điều này…
Trang 23Tuy nhiên, cha mẹ cũng đừng nói quá tốt kẻo bé có thể sẽ thất vọng nếu sự thực không được như vậy Tự trẻ có thể sẽ đặt nhiều câu hỏi cho cha mẹ, ví dụ "cô giáo của con có hiền không", "các bạn sẽ thế nào" Cách tốt nhất là trả lời trẻ bằng những điều thật cụ thể, không nên thêm bớt hoặc nói những gì mà chính bản thân cha mẹ cũng không biết
Tại các nước phát triển, trẻ mẫu giáo lớn thường được dẫn đến làm quen với sinh hoạt của các anh chị lớp một trong khu vực chừng ba, bốn lần để các bé có được một số khái niệm cơ bản về việc học lớp một Tại Việt Nam, việc làm quen mang tính chất có tổ chức như vậy dường như chưa được quan tâm Vì vậy, cha mẹ
có thể tự cho con đến làm quen nếu có thể Thuận tiện nhất là những bé đã có anh, chị học trước rồi Nếu không, cũng nên thỉnh thoảng dẫn bé đến ngôi trường mà bé
sẽ học cho bé quen dần
- Tinh thần và kỹ năng sống trong tập thể: Khi ở trường mẫu giáo, nhiều bé
vẫn còn chưa có tinh thần bạn bè nghĩa hiệp Bé vẫn coi mình là "trung tâm của vũ trụ", đặc biệt là các bé con một hoặc được chiều chuộng quá mức trong gia đình
Bé ở tuổi mẫu giáo có thể chưa cần tham gia vào cuộc sống tập thể mà không cảm thấy bị lạc lõng, cô đơn
Khi lên lớp một, nếu vẫn coi mình là "trung tâm vũ trụ" thì bé có thể bị bạn
bè xa lánh, khó hòa hợp Vì vậy, cần giáo dục con một số đức tính căn bản của một trẻ lớn là biết chia sẻ và sống hòa hợp với bạn bè
- Không nên cho bé học trước chương trình: Việc học trước sẽ làm bé thấy
chán khi đi học chính thức, lại lấy đi mất của bé một phần tuổi thơ Bé sẽ phải bớt phần thời gian để chơi, để khám phá cuộc sống theo đúng tuổi của bé; bạn sẽ bắt bé phải "chín ép" (trừ phi bé có trí tuệ phát triển vượt bậc) Theo bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thì cần phải tôn trọng câu "có thì, có thục" trong việc nuôi dạy trẻ, trước khi quyết định dạy trẻ một điều gì mới
Hầu hết các nhà nghiên cứu giáo dục hiện nay đều cho rằng, khi kết thúc trường mẫu giáo, trẻ có trí tuệ phát triển bình thường chỉ cần thuộc được các mặt chữ cái và các con số là đạt yêu cầu
- Chuẩn bị tâm lý sẵn sang đi học cho trẻ: Khi bước vào lớp 1, trẻ có sự
chin muồi về các phẩm chất và khả năng tâm lý ( tâm lý sẵn sang đi học) sau đây:
Trang 24+ Sự thích thú đến trường, lòng mong muốn trở thành người học sinh, thích
thú học tập, thích tham gia một hoạt động mới mang tính nghiêm chỉnh, được đánh giá bằng điểm hay bằng lời, nhằm thu nhận những hiểu biết mới, những thao tác
mới, những kỹ năng, kỹ xảo và xúc cảm mới
+ Sự phát triển ngôn ngữ đạt đến mức hiểu đúng những lời giảng giải của
giáo viên có phần gần với kinh nghiệm sống hàng ngày của các em nhưng cũng có
phần tương đối khái quát, trừu tượng Mặt khác, các em có khả năng diễn đạt đúng,
rõ ràng và tương đối gãy gọn những ý nghĩ, tình cảm của mình muốn nói ra cho
người khác
+ Có khả năng điều khiển các hoạtt động tâm lý của bản thân, biết tuân theo
nội quy của nhà trường tiểu học và thực hiện những yêu cầu của thầy cô giáo, như
ngồi im chăm chú nghe cô giảng, không tự do chạy nhảy, tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ 30 đến 35 phút…
+ Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vận động của bàn tay để có thể thực
hiện một các gọn gàng, lâu mỏi các thao tác vận động của bàn tay khi tập viết, vẽ
2/ Vùng ven biển Sóc Trăng – Bạc Liêu: Vùng này bao gồm 1 phần tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng và 1 phần trên của tỉnh Bạc Liêu, chủ yếu gồm phần đất đai của tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Bạc Liêu
Trang 253/ Vùng ven biên giới Châu Đốc, Tri Tôn, Hà Tiên: Vùng này còn được gọi là vùng núi Tây Nam, dọc biên giới Campuchia thuộc dãy Thất Sơn và 1 số núi nhỏ khác như núi Sập, núi Ba Thê Vùng Hà Tiên có 1 ít núi đá vôi, chạy dài theo
bờ Vịnh Thái Lan Cư dân Khmer ở vùng này thuộc 2 tỉnh biên giới Tây Nam là
An Giang và Kiên Giang, trước kia sống trong những chiếc nhà sàn nhỏ Phum, Sóc của họ được xây dựng trên những sườn đồi, trên các giồng ven kênh hoặc ven chân núi quanh dãy Thất Sơn Phum, Sóc có dạng dọc, dài hình vành khăn hay hoa cải
Sóc Trăng là một tỉnh nghèo nằm ở hạ lưu sông Cửu Long, diện tích tự nhiên 3.233km2, trong đó có 72 km bờ biển Toàn tỉnh có 08 huyện, 01 thị xã, Với
105 xã, phường, thị trấn Có 54 xã đặc biệt khó khăn Tổng số dân 1.243.982 người, trong đó dân tộc Khmer 358.921 người, chiếm 28,85% ; dân tộc Hoa 72.578 người chiếm tỷ lệ 5,83% Trong đó số HS là người dân tộc Khmer các cấp học là 79.886/270.452 HS chiếm tỷ lệ 29,53 % so với tổng số học sinh trong toàn tỉnh Thu nhập bình quân đầu người khoản 400 USD/năm, hộ nghèo chiếm hơn 19,1% Hầu hết ở tất cả các xã, phường, thị trấn đều có học sinh Khmer Tuy nhiên, số đông học sinh dân tộc Khmer tập trung ở các vùng nông thôn, gọi chung là vùng đồng bào dân tộc
Đa số người dân sống bằng nghề nông, cư trú dọc theo các trục giao thông đường bộ và đường sông Những năm gần đây, ở nông thôn đã có những chuyển biến tích cực về cơ sở hạ tầng, về văn hoá xã hội, về trình độ dân trí, tuy nhiên số
hộ nghèo vẫn còn cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc Khmer sinh sống
Để triển khai công tác Chuẩn bị cho trẻ Khmer vào lớp 1 thì ở các địa bàn dân cư Khmer vùng ĐBSCL, các tỉnh trong vùng đã củng cố và phát huy thành quả của các chính sách Giáo dục dân tộc trong những năm qua; ngành giáo dục phải bảo đảm để mọi HS được phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ
và các kỹ năng cơ bản ; góp phần tích cực nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực người dân tộc Khmer phục vụ công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước ; thực hiện hội nhập với GD khu vực và thế giới
Thực hiện Chuẩn bị cho trẻ Khmer vào lớp 1 là một công tác trọng tâm của ngành GD, là công tác mang tính xã hội sâu sắc, rộng lớn, đặc biệt ở các địa bàn dân cư Khmer vùng ĐBSCL Do đó, công tác này cần phải được cụ thể hóa thành
Trang 26chủ trương, Nghị quyết của các cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân và UBND Ngành GD từ TW đến địa phương phải tích cực chủ động xây dựng kế hoạch cụ thể, khả thi thực hiện chủ trương này Đặc biệt ở các địa phương, cần phối hợp chặt chẽ với Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ, Mặt trận Tổ quốc, Hội khuyến học, Hội cựu chiến binh làm công tác huy động trẻ Khmer vào MG và lớp 1
Một trong những vấn đề cơ bản để nâng cao đời sống của người Khmer vùng ĐBSCL trong công cuộc xây dựng nông thôn mới là nâng cao trình độ dân trí, đẩy mạnh việc cho con em họ được vào MG Người Khmer có trình độ học vấn thấp hơn nhiều so với trình độ chung của cả nước : tỉ lệ người chưa từng đi học là 29,80% so với tỉ lệ của cả nước là 9,97% và người có trình độ học vấn bậc TH là 53,01% (Hội thảo khoa học về " Thực trạng và giải pháp cho việc phát triển GD vùng đồng bào Khmer Nam Bộ ", Đại học KHXH&NV TP.HCM và ĐHSP TP.HCM ngày 25/4/2003)
Cùng với tình trạng đói nghèo thì những khó khăn trong vấn đề GD đã là những thách thức cho sự phát triển kinh tế-xã hội, văn hóa của dân tộc Khmer ĐBSCL Chính vì thế, cần đặt nội dung phát triển GD Khmer, đặc biệt là việc tạo điều kiện cho trẻ Khmer vào học MN chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp 1 trong mối tương quan với vấn đề dân tộc ở ĐBSCL và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Từ đó, tích cực vận động con em người dân tộc Khmer đi học MG song song với việc ban hành quy chế chuyên môn về việc tổ chức dạy-học và tu chỉnh biên soạn sách giáo khoa tiếng Khmer bậc TH
Việc dạy và học tiếng Việt đối với HS Khmer còn gặp nhiều khó khăn Với tập quán trong gia đình và xã hội, người Khmer sử dụng tiếng mẹ đẻ là chính nên khi vào học ở nhà trường phổ thông, hầu hết các em không thể tiếp thu ngay được kiến thức thông qua ngôn ngữ Việt Việc xuất bản bộ sách Ngữ văn Khmer TH và sách công cụ khác phục vụ cho việc dạy và song ngữ, đáp ứng được nhu cầu học chữ Khmer, đã góp phần tích cực vào việc đẩy mạnh tiến bộ của việc huy động trẻ Khmer đến trường, nâng cao hiệu quả đào tạo TH cho HS
Việc giảng dạy tiếng dân tộc và việc đào tạo GV ngữ văn Khmer đã làm tăng hiệu quả đào tạo TH cho HS Khmer Những năm qua, qua thực tiễn GD, việc giảng dạy tiếng dân tộc cùng với việc dạy và học tiếng Việt đối với HS Khmer đã yểm trợ tích cực cho hệ thống GD địa phương huy động trẻ đến trường; hỗ trợ GD
Trang 27công tác duy trì sĩ số, chống lưu ban, bỏ học, nâng cao chất lượng môn tiếng Việt, thực hiện mục tiêu cấp học, củng cố và phát huy kết quả PCGDTH-CMC, đẩy mạnh PCGDTH đúng độ tuổi, huy động đại đa số trẻ em 6 tuổi đi học lớp 1
Việc thực hiện Nghị quyết TW 2 khóa VIII, Nghị quyết TW 7 khóa IX về công tác dân tộc, Chỉ thị 68-CT/TW của Ban Bí thư TW Đảng khóa VI, Chỉ thị số
12 của Bộ Chính trị, chiến lược phát triển GD 2001-2010, Quyết định số 173/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về phát triển kinh tế-xã hội vùng ĐBSCL đã thúc đẩy nhanh hơn tiến độ nâng cao chất lượng giáo dục MN cho HS dân tộc Khmer Tốc độ tăng trưởng số HS ở vùng địa bàn dân cư Khmer năm học
2004 - 2005 so với năm học 2000-2001 cao hơn các địa bàn dân cư người Kinh, Hoa, Chăm ở ĐBSCL Tuy nhiên, cơ sở vật chất, các điều kiện về thiết bị, thư viện, đồ dùng dạy học trong nhà trường MG và TH vùng dân tộc Khmer còn nhiều bất cập Đặc biệt ở các tỉnh Sóc Trăng nói riêng và các tỉnh, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cần Thơ và Vĩnh Long nói chung còn một tỉ lệ khá lớn GV
MN, TH lớn tuổi tuy được đào tạo chuẩn hóa nhưng trình độ còn thấp so với yêu cầu của nhà trường TH hiện nay Điều lo ngại nhất là đa số GV vùng dân tộc chưa tích cực đổi mới phương pháp dạy học HS người Khmer phải chịu áp lực học tập khá căng thẳng Đây là những lý do khiến cho việc Chuẩn bị cho trẻ Khmer vào lớp 1 gặp nhiều khó khăn, không đạt được yêu cầu đề ra
Ngành Giáo dục tỉnh Sóc Trăng cần đưa GD mầm non vào vị trí xứng đáng trong hệ thống GD, xóa xã trắng về GD mầm non, ưu tiên đầu tư phát triển GD mầm non công lập ở địa bàn dân cư Khmer và đưa hầu hết trẻ em, con em đồng bào dân tộc vào lớp mẫu giáo để được chuẩn bị về tiếng Việt trước khi vào lớp một Đặc biệt, cần mở nhiều loại hình trường lớp để thu hút thiếu niên trong độ tuổi đi học đúng độ tuổi vì đại đa số con em người Khmer đều ngụ tại vùng sâu, phương tiện đi lại khó khăn, sống không tập trung, kinh tế tự cấp tự túc Ngoài ra, các trường TH cần mở lớp dạy tiếng Khmer cho các em cùng học song ngữ Việt-Khmer, các lớp ghép, song ngữ nhanh chóng tu chỉnh SGK, SGV Khmer và hỗ trợ tích cực SGK, tập vở, cặp HS, trang thiết bị cho GV và HS
Kết quả triển khai Dự án GD cơ sở cho HS Khmer do Viện Nghiên cứu GD-ĐT phía Nam, Bộ GD-ĐT chủ trì cho thấy trong giai đoạn 1993-2000, Dự án
đã hỗ trợ cho sự nghiệp phát triển GD dân tộc Khmer thông qua các hoạt động đào
Trang 28tạo bồi dưỡng GV, cung cấp đồ dùng học tập cho HS và hỗ trợ tài chính làm VAC
để cải thiện đời sống vật chất cho GV dạy TH Các hoạt động trên đã góp phần tích cực huy động con em dân tộc Khmer trong độ tuổi đến trường, giảm dần tỉ lệ lưu ban, bỏ học
Người Khmer sống trong các phum sóc, lập nghiệp phổ biến ở vùng sâu, trong bưng biền hẻo lánh hoặc cư ngụ trải dài theo các kênh rạch ở các địa bàn
giáp tuyến giữa vùng nước ngọt và mặn Kinh tế khó khăn do các miền đất này thường chỉ làm được một vụ lúa/năm
Về GD, chùa Khmer vừa là nơi thờ cúng, vừa là trung tâm văn hóa, GD của phum, sóc Vì thế, hình thức học tập trong nhà chùa, đặc biệt là việc dạy chữ Khmer đã đóng góp tích cực vào việc học tập của con em dân tộc Khmer ở trường
TH, hạn chế được từng bước HS bỏ học giữa chừng và HS lưu ban, đóng góp tích cực vào việc huy động trẻ em Khmer vào lớp 1
Như thế, ngoài hệ thống trường MN,TH, vai trò của trường "chùa" được coi
là rất quan trọng trong công tác Chuẩn bị cho trẻ Khmer vào lớp 1 và đáp ứng được nguyện vọng của con em nhân dân Khmer là được học hai thứ chữ : chữ phổ thông
và chữ dân tộc Trong tình hình hiện nay, mặc dù Bộ GD-ĐT quy định dạy tiếng Khmer từ lớp 1 đến lớp 3, học mỗi tuần 5 tiết ; lớp 4 và lớp 5 học mỗi tuần 3 tiết nhưng nhiều trường TH không có GV dạy chữ Khmer Do đó, nhiều PHHS người Khmer không động viên con cái đi học đúng độ tuổi.Trình độ tiếng Việt của HS Khmer chưa đạt yêu cầu, ảnh hưởng nhiều đến việc tiếp thu kiến thức các môn học khác Chính lý do này đã khiến việc học tập đúng độ tuổi của HS Khmer và việc huy động HS ra lớp gặp rất nhiều khó khăn
Cho đến nay, mặc dù ngành giáo dục MN trong địa bàn cư dân Khmer đã có những thành tựu đáng kể, song còn gặp rất nhiều khó khăn Việc tuyên truyền chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực GD-ĐT ở vùng dân tộc Khmer chưa được triển khai có hiệu quả nên vẫn còn một số ít đồng bào Khmer chưa thấy được tầm quan trọng của học vấn là điều kiện quyết định để phát triển và thoát nghèo (11,7%) Hơn nữa, về động cơ và thái độ học tập của nhiều HS chưa được xác định đúng đắn và do thiếu nhiều điều kiện về học tập nên dễ bị ảnh hưởng tiêu cực trong xã hội tác động Chính vì thế, việc cho HS Khmer vào các trường MG để thực hiện huy động HS ra lớp đúng độ tuổi và việc duy trì sĩ số gặp
Trang 29nhiều khó khăn Ngoài ra, việc chậm ban hành quy chế chuyên môn về việc tổ chức dạy và học tiếng Khmer xen kẽ với tiếng Việt ở trường MN,TH cũng như việc chậm chỉnh lý SGK tiếng Khmer TH cũng là nguyên nhân làm công tác chuẩn
bị cho trẻ Khmer vào lớp 1 có hiệu quả đào tạo còn thấp nhiều so với mục tiêu đề
ra
Thực hiện Chỉ thị số 39/2007/CT-BGDĐT, ngày 31/7/2007 về nhiệm vụ của toàn ngành GD năm học 2007-2008 và Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục mầm non năm học 2007-2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo
Ngành GDMN của tỉnh Sóc Trăng có những thuận lợi và khó khăn sau:
* Thuận lợi:
- Năm học 2007 – 2008, ngành Giáo dục tỉnh Sóc Trăng tập trung đầu tư cho Giáo dục mầm non: hỗ trợ kinh phí cho các địa phương để đẩy mạnh xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia ở các xã thuộc chương trình 135; Ngân sách huyện chi đầu tư xây dựng CSVC để tách mẫu giáo ra khỏi trường tiểu học để thành lập trường mẫu giáo độc lập; Cấp kinh phí để xây mới, nâng cấp các công trình phụ như hàng rào, sân chơi, nhà vệ sinh…
- Ngành Giáo dục tỉnh Sóc Trăng xây dựng Kế hoạch nâng cao chất lượng đội ngũ giai đoạn 2006-2010, đã tạo điều kiện cho CBQL và giáo viên theo học các lớp bồi dưỡng để nâng cao trình độ quản lý và trình độ nghiệp vụ trên chuẩn
- Các cấp chính quyền địa phương quan tâm và khuyến khích phát triển các nhóm, lớp mầm non ngoài công lập
1- Công tác phát triển số lượng
Trang 30- Tổng số có tất cả 91 trường, trong đó: Trường mầm non: 16 (Công lập: 11; Ngoài công lập: 05); Trường mẫu giáo: 75 (Công lập: 72; Ngoài công lập: 03)
So với năm trước tăng 04 trường do 1 số trường được tách ra từ trường tiểu học, 1 số trường được thành lập mới
Ngoài ra còn có 05 cơ sở, nhóm, lớp tư thục có giấy phép, so với năm học trước tăng 02 cơ sở
Số học sinh nhà trẻ kể trên chưa tính 93 trẻ nhà trẻ đang theo học tại các nhóm trẻ gia đình không chính thức đăng ký với ngành học tại địa phương
b Lớp mẫu giáo: 1221 lớp (chưa kể 51 lớp MG 36 buổi với 1.033 cháu) (Công
lập: 1.131 lớp; Ngoài công lập: 90 lớp), so với cùng kỳ năm trước tăng thêm 43 lớp
Số trẻ mẫu giáo chính quy trong năm học là 32.134 cháu, đạt 60,67% số trẻ trong độ tuổi, chia ra: Công lập: 28.979 cháu (90,2%), ngoài công lập: 3.155 cháu (9,8%), so với đầu năm tăng 663 cháu, so với cùng kỳ năm trước tăng thêm 1.365 cháu, so với chỉ tiêu Bộ và Tỉnh giao đạt 103,6% (chỉ tiêu giao 31.000 cháu)
Số học sinh mẫu giáo chưa tính 1.033 cháu MG 5 tuổi học 36 buổi trong hè
và 57 trẻ mẫu giáo đang theo học tại các lớp mẫu giáo gia đình không chính thức đăng ký với ngành học tại địa phương
Trong đó lớp mẫu giáo 5 tuổi là : 846 lớp, số trẻ mẫu giáo 5 tuổi chính quy
là 16.560 cháu, đạt 82,1% số trẻ trong độ tuổi 5 tuổi, so với năm trước nhiều hơn
814 cháu
Trang 31Tính riêng số cháu mầm non ngoài công lập là 3.603 cháu, đạt 10,82% so với tổng số cháu ra nhà trẻ, mẫu giáo, so với cùng kỳ năm trước nhiều hơn 1.536 cháu, tỷ lệ cao hơn 4,3%
c Số trường mầm non đạt chuẩn:
- Năm 2004: 01 trường; Năm 2007: 01 trường
- Đang làm thủ tục thẩm định ở cấp huyện: 01 trường
Năm 2008, Sở GD-ĐT tiếp tục hỗ trợ 9 tỷ cho 5 huyện (Mỹ Tú: 3 tỷ; Kế Sách: 3 tỷ; Mỹ Xuyên: 1 tỷ; Long Phú: 1 tỷ; Thạnh Trị: 1 tỷ) để xây dựng đầu tư cho trường đạt chuẩn quốc gia
2- Nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ
a Tổ chức ăn bán trú:
Toàn tỉnh hiện có 39 điểm trường, cơ sở có tổ chức cho trẻ ăn bán trú tại đơn
vị (Công lập: 16 trường; Ngoài công lập: 08 trường và 15 cơ sở tư thục, dân lập),
so với cùng kỳ năm trước tăng 10 điểm
- Số trẻ được ăn tại Nhà trẻ là 1019 cháu, tỷ lệ đạt 88,7% so với tổng số trẻ
ra lớp Mẫu giáo được ăn là 5.449 cháu, tỷ lệ đạt 16,9%, so với cùng kỳ năm trước nhiều hơn 736 cháu
b Công tác đảm bảo an toàn, phòng chống dịch bệnh, chăm sóc vệ sinh, dinh dưỡng, giáo dục và bảo vệ môi trường, tỷ lệ suy dinh dưỡng:
Kết quả theo dõi thể lực:
Nhà trẻ: có 1.000 cháu được theo dõi BĐTT, tỷ lệ 87,1% so với cùng kỳ năm trước tăng 3,1%; Mẫu giáo có 28.008 cháu, tỷ lệ 87,1%, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,6%
* Số trẻ suy dinh dưỡng cuối năm học:
Nhà trẻ: 52 cháu, tỷ lệ 5,2%, so với đầu năm giảm 12%, so với cùng kỳ năm trước thấp hơn 2,8%; Mẫu giáo: có 2.231 cháu, tỷ lệ 7,9%, so với đầu năm giảm 5,6%, so với cùng kỳ năm trước giảm 6,3%
Tổng số trẻ suy dinh dưỡng ở trường lớp mầm non là 2.283 cháu, tỷ lệ 7,8%, giảm 8,2% so với đầu năm, so với cùng kỳ năm trước giảm 5,63%
Trang 32Năm học 2007-2008 có thêm 190 CBQL, cấp dưỡng và giáo viên trực tiếp chăm sóc trẻ được cấp giấy chứng nhận bồi dưỡng kiến thức vệ sinh ATTP Trung tâm y tế dự phòng có hướng dẫn cho các trường mầm non bán trú làm thủ tục để xin công nhận đơn vị đạt chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm
Không có xảy ra trường hợp ngộ độc thực phẩm, dịch bệnh và tai nạn thương tích nghiêm trọng cho trẻ ở trường mầm non
c Đánh giá việc tổ chức thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ hiện hành tại địa phương:
Đã và đang thực hiện chương trình chỉnh lý Nhà trẻ theo hướng tích hợp và đổi mới hình thức tổ chức dạy trẻ ở các lớp mẫu giáo
Ban lãnh đạo Sở đã chỉ đạo cho các trường có điều kiện thực hiện đổi mới hình thức tổ chức dạy học cho trẻ mầm non Cuối năm học có: Lớp mẫu giáo 3 tuổi: 02 lớp với 65 cháu tham gia; Lớp mẫu giáo 4 tuổi: 02 lớp với 77 cháu tham gia; Lớp mẫu giáo 5 tuổi: 70 lớp với 2.154 cháu tham gia So với năm học trước tăng 7 lớp
d Các nội dung giáo dục khác:
+ Lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào trong các hoạt động hàng ngày Sở GD&ĐT đã cấp đủ sách và hướng dẫn cách thực hiện nội dung theo chủ điểm ở mỗi tuổi
+ Tiếp tục lồng ghép giáo dục ATGT cho trẻ mầm non Năm 2007, Ban ATGT tỉnh hỗ trợ gần 15 triệu đồng để tổ chức thi ATGT cho trẻ MN cấp tỉnh và
đã tổ chức vào cuối tháng 4/2008 (có 8/9 huyện, thành phố dự thi)
-Việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc có nhiều tiến bộ: học sinh dân tộc được giáo viên quan tâm sử dụng giao tiếp bằng cả 2 thứ tiếng thông qua các hoạt động giáo dục hàng ngày để giúp trẻ nghe, hiểu, nói được tiếng Việt
- Số trường có trang bị máy vi tính cho 35 trường (37 máy); có sử dụng chương trình NUTRIKIDS: 07 trường; Số trường có trang bị máy sử dụng KIDSMART: 05 trường với 09 máy
- Có thu nhận được 13 trẻ khuyết tật vào học Giáo viên tạo điều kiện cho trẻ tham gia các hoạt động như các trẻ khác nhưng có quan tâm đặc biệt đến trẻ hơn
Trang 333- Công tác chỉ đạo thực hiện phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các bậc cha
4- Về đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý
- Tổng số: Cán bộ quản lý, giáo viên: 987 người Trong đó số được biên chế
là 860 người (số giáo viên mới được tuyển biên chế trong năm học này là 76 GV)
Số giáo viên kể trên chưa tính 354 cô hợp đồng hưởng lương quy mô và các cô này đang được đào tạo trung cấp hệ tại chức
- Các chế độ chính sách của GV mầm non được thực hiện đúng theo quy định hiện hành Tuy nhiên, chế độ bồi dưỡng trực thêm ngoài giờ như đón trả trẻ, trực giờ ngủ trưa của cháu, bình quân 3giờ/ngày/cô/lớp bán trú vẫn còn thực hiện ở mức thấp (1 giờ = 1.500đ; bình quân GV được nhận 4.500đ/ngày trực) Vấn đề này
đã có đề nghị về Sở tài chính nâng mức chi trả thêm giờ nhưng chưa được giải quyết
5- Công tác triển khai các Quyết định, Đề án phát triển GDMN của trung ương và địa phương; những văn bản quy phạm pháp luật đối với GDMN Công tác xã hội hóa giáo dục:
- Đã và đang triển khai Quyết định số 149/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển GDMN giai đoạn 2006-2010; Quyết định 161/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển GDMN
- Thực hiện Thông tư 05/2003/TTLT-BGD&ĐT-BTC: mức lương cho giáo viên ngoài công lập bình quân 700.000đ/GV, được tham gia đóng BHYT, BHXH khoảng 50%
Trang 34- Thực hiện Nghị quyết 05/2005/NQ-TTg về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế… chính quyền địa phương và ngành Giáo dục khuyến khích các tổ chức, cá nhân mở trường, cơ sở, nhóm lớp mầm non ngoài công lập Tuy nhiên, hiện nay việc phát triển loại hình này đang gặp khó khăn do việc thực hiện thu thuế môn bài và thuế tháng đối với các cơ sở ngoài công lập trên địa bàn thành phố Sóc Trăng
- Đầu năm học 2007-2008, thành phố Sóc Trăng thực hiện thí điểm việc chuyển đổi 2 trường mầm non công lập sang tư thục Hiện nay, đối với 2 trường này, địa phương vẫn tiếp tục hỗ trợ kinh phí để trả lương từ ngân sách giáo dục
6- Công tác giáo dục dân tộc Sóc Trăng
a Tình hình trường, lớp, học sinh:
Năm học 2007-2008, toàn tỉnh có 6 trường mầm non, 121 trường tiểu học và
101 trường THCS, THPT có học sinh dân tộc Đầu năm học, toàn ngành huy động được 66.834 học sinh dân tộc Khmer ra lớp (chiếm 26,73% tổng số học sinh toàn tỉnh); trong đó có 59 cháu nhà trẻ (chiếm 5,15%), 4.016 học sinh mẫu giáo (chiếm 12,3%), 39.069 học sinh tiểu học (chiếm 33,22%), 18.196 học sinh THCS (chiếm 26,71%), 5.494 học sinh THPT (chiếm 18,05%)
Ngành có 6 trường phổ thông Dân tộc nội trú (1 trường THPT tỉnh và 5 trường THCS cấp huyện) Đang đầu tư xây dựng trường Dân tộc nội trú huyện Kế Sách (dự kiến đưa vào sử dụng đầu năm học 2008-2009); có 1.333 học sinh dân tộc nội trú (tỉnh: 345 học sinh, 5 huyện: 988 học sinh)
Tính đến cuối năm học, tổng số học sinh dân tộc trong toàn tỉnh còn 66.310, giảm 524 học sinh so với đầu năm học, tỷ lệ 0,78% (mầm non giảm 114 cháu, tiểu học giảm 242 học sinh, THCS và THPT giảm 168 học sinh)
Toàn tỉnh có 152 trường có dạy tiếng Khmer và có 1.666 lớp; trong đó, tiểu học có 114 trường, 1.304 lớp; trung học cơ sở có 32 trường, 283 lớp; trung học phổ thông có 06 trường, 79 lớp Số học sinh tham gia học chữ Khmer ở tiểu học là 32.843 (84,1%), THCS là 11.981 (65,8%), THPT là 1.896 (34,5%)
b Tình hình đội ngũ:
Trang 351 Đội ngũ cán bộ quản lý: Có 225 cán bộ quản lý giáo dục (CBQLGD) là
người dân tộc, chiếm 21% số CBQLGD trong toàn tỉnh; trong đó có 23 CBQL đạt trình độ đại học, đạt 10,2%
2 Giáo viên: có 2.461 giáo viên là người dân tộc (461 nữ), chiếm 15,67% số giáo viên các cấp toàn tỉnh; trong đó có 356 giáo viên đạt trình độ cao đẳng và đại học, đạt tỷ lệ 14,46% Số giáo viên được chia theo các cấp học như sau:
- Giảng dạy Mầm non: 352 giáo viên
- Giảng dạy Tiểu học: 1.788 giáo viên, có 243 giáo viên dạy chuyên môn Ngữ văn Khmer và 64 giáo viên dạy xen 2 thứ chữ ở bậc tiểu học
- Giảng dạy Trung học (THCS và THPT): 321 giáo viên, có 40 giáo viên dạy chuyên môn Ngữ văn Khmer (31 GV dạy THCS và 09 giáo viên dạy THPT)
Việc tổ chức dạy học tiếng Khmer trong nhà trường luôn được ngành giáo dục quan tâm thực hiện, đã đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của sư sãi và đồng bào Khmer trong tỉnh Sóc Trăng Đội ngũ giáo viên trẻ, nhiệt tình trong công tác, có trình độ chuyên môn khá vững, thích tham gia học tập để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Tuy nhiên, so với yêu cầu, số giáo viên dạy chuyên Khmer trong toàn tỉnh vẫn còn thiếu nhiều (trên 100 giáo viên), đặc biệt là giáo viên dạy chuyên Khmer đối với mầm non, trung học và tại các Trung tâm học tập cộng đồng xã, phường Trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên không đồng đều và chưa có điều kiện được bồi dưỡng chuyên môn thường xuyên Việc dạy tiếng Khmer chỉ tập trung ở các điểm chính, số học sinh tham gia học tiếng Khmer còn ít so với yêu cầu
c Tình hình thực hiện chương trình và nâng cao chất lượng dạy học
• Dạy tiếng dân tộc
Toàn tỉnh có 46.720 học sinh Khmer tham gia học tiếng Khmer từ cấp tiểu học đến trung học phổ thông Trong đó có 32.843 học sinh tiểu học, 11.981 học sinh THCS, 1.896 học sinh THPT
Sở Giáo dục – Đào tạo có văn bản chỉ đạo các đơn vị, trường, lớp có tổ chức dạy tiếng Khmer như : văn bản số 714/GD/2003 về việc thực hiện chương trình dạy tiếng Khmer ngày 18/8/2003 Đối với môn dạy tiếng Khmer cấp tiểu học 4
Trang 36tiết/tuần từ khối 1 đến khối 5, THCS và THPT 2 tiết/tuần (thực hiện theo công văn
số 42/GD-98 ngày 08/01/1998 của Giáo dục-Đào tạo Sóc Trăng)
Sách giáo khoa môn Khmer ngữ được áp dụng đúng theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học Năm học 2007-2008 thay sách mới quyển 3; các lớp còn lại vẫn sử dụng sách cũ Riêng cấp THCS và THPT sử dụng tài liệu dạy song ngữ và giáo trình tiếng Khmer do Sở GD-ĐT và trường Cao đẳng Sư phạm Sóc Trăng biên soạn
Việc thực hiện chương trình và dạy học theo nội dung sách giáo khoa mới rất thuận lợi và tốt cho cả giáo viên và học sinh Khmer, học sinh ham thích học tập, nội dung vừa sức học của học sinh
Tuy nhiên, chất lượng học tập của các em chưa được đồng đều, còn thiếu đồ dùng dạy học như tranh ảnh…
• Kết quả học lực, hạnh kiểm học sinh dân tộc
- Học sinh học môn tiếng Khmer ngữ được đánh giá bằng điểm số như các
bộ môn khác, điểm kiểm tra thường xuyên 2 lần điểm/tháng Kết quả đánh giá xếp loại học lực học sinh học tiếng Khmer được ghi trong học bạ và gộp lại đánh giá xếp loại cuối năm chung với các môn khác
Trang 37d Tình hình cung cấp, tổ chức sử dụng sách giáo khoa
Trong năm học 2007-2008, Sở Giáo dục – Đào tạo Sóc Trăng tiếp nhận và cấp phát sách giáo khoa cho các đơn vị có tổ chức dạy tiếng Khmer là : 32.992 quyển Cụ thể:
- Vở bài tập tiếng Khmer quyển 1 là: 11.052 quyển
- Vở bài tập tiếng Khmer quyển 2 là: 10.963 quyển
- Sách giáo khoa tiếng Khmer quyển 3 là: 10.549 quyển
- Sách giáo viên tiếng Khmer quyển 3 là: 283 quyển
Ngay từ đầu năm học 2007-2008, Sở Giáo dục – Đào tạo chỉ đạo đến các phòng Giáo dục và Đào tạo huyện và thành phố triển khai thay sách quyển 3 cho các tổ trưởng và giáo viên chuẩn bị dạy tiếng Khmer theo chương trình sách giáo khoa mới, tổng số người dự chuyên đề thay sách quyển 3 là: 358 người
e Về chất lượng và hiệu quả giáo dục dân tộc
Có thể nói, việc dạy tiếng Khmer cho học sinh dân tộc ở các cấp đã ngày càng tốt hơn (năm 2000 chỉ có trên 30% học sinh dân tộc các cấp được học tiếng
mẹ đẻ) Song xét về mặt nhu cầu của xã hội là còn rất thấp, cần được quan tâm nhiều hơn để thực hiện được việc xóa mù chữ Khmer cho 100% học sinh dân tộc cấp tiểu học trong các năm tiếp theo và thực hiện tốt hơn nữa việc dạy tiếng dân tộc đối với cấp THCS, THPT Vấn đề trang thiết bị phục vụ cho việc dạy tiếng dân
Trang 38tộc còn quá thiếu thốn cũng là một trở ngại lớn đến việc cải thiện chất lượng dạy học tiếng dân tộc đối với các trường học và giáo viên
Quan tâm đầu vào đối với con em dân tộc vẫn chưa được các cấp, ngành GD xem xét một cách tích cực, cụ thể: trẻ em dân tộc hầu hết không được chuẩn bị về tiếng Việt trước khi vào lớp 1 nên rất khó khăn trong học tập cùng với đối tượng trẻ em dân tộc được hưởng lợi từ chính sách Nhà nước để an tâm học tập còn quá ít (mới tập trung cho học sinh trường DTNT là chưa đủ mà phải quan tâm đến các đối tượng chính sách…)
f Về đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục
Cán bộ quản lý tại các trường DTNT và các trường tiểu học, THCS, THPT
có học sinh dân tộc học tập đều chưa được học tập, bồi dưỡng về kiến thức quản lý chất lượng về Chương trình, sách Giáo khoa, phương pháp dạy học tiếng dân tộc…do đó còn rất lúng túng trong việc tìm ra các giải pháp để cải thiện chất lượng cho con em người dân tộc
Điểm yếu hiện nay của GD dân tộc là còn thiếu giáo viên dạy tiếng dân tộc tại các trường THCS và PTTH cùng với trên 50% giáo viên là người dân tộc còn
mù chữ dân tộc Ngoài ra, vấn đề nâng cao tay nghề, tập huấn chuyên môn cho giáo viên dạy tiếng dân tộc vẫn chưa được quan tâm thường xuyên nên khâu đúc kết kinh nghiệm để chủ động, tự tin nâng cao chất lượng dạy học của giáo viên dân tộc hiện nay là rất khó khăn
II- Thống kê số lượng học sinh dân tộc, giáo viên của bậc học MG và lớp 1 của tỉnh Sóc Trăng
Chúng tôi đã phối hợp với Sở GD-ĐT Sóc Trăng làm công tác thống kê trên địa bàn tỉnh về số lượng học sinh dân tộc Khmer cũng như số trường, lớp, giáo viên hiện nay ở bậc học MN và lớp 1
Kết quả thống kê như sau:
THỐNG KÊ LỚP - HỌC SINH - GIÁO VIÊN MẪU GIÁO VÀ LỚP 1
TOÀN TỈNH SÓC TRĂNG NĂM HỌC: 2007-2008
TT Nội dung thông tin Chỉ thống kê Mẫu giáo Chỉ thống kê lớp 1
Tổng số học sinh
Trang 39Chia theo dân tộc Kinh 24136 17094
Chia theo thời gian
Trang 40TT Năm học Tổng số HS Trong đó Chia ra theo dân tộc
nhập học lớp 1 Số HS nữ Kinh Hoa Khmer
TT Năm học Tổng số HS Trong đó Chia ra theo dân tộc
nhập học lớp 1 Số HS nữ Kinh Hoa Khmer
3 Số trẻ 6 tuổi trong địa bàn quản lý
TT Năm học Tổng số Trong đó trẻ Trẻ 6 tuổi chia theo dân tộc
Trẻ 6 tuổi 6 tuổi là nữ Kinh Hoa Khmer