Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, việc nghiên cứu, đánh giá vai trò và những đóng góp của các nhà văn Nam bộ, trong đó có Hồ Biểu Chánh - một trong những tác giả đặt nền móng cho v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
HUỲNH THỊ LÀNH
VỊ TRÍ CỦA HỒ BIỂU CHÁNH TRONG VĂN XUÔI QUỐC NGỮ VIỆT NAM
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giới nghiên cứu văn học sử Việt Nam ngày càng có một cái nhìn chính xác hơn về đóng góp của các nhà văn quá cố Thời gian gần đây, nhiều hội nghị khoa học, nhiều công trình nghiên cứu về báo chí, thơ mới, về chữ quốc ngữ được tổ chức đã phần nào phục hồi lại vị trí của họ trong nền văn học nước nhà
1.1 Đầu thế kỷ XX, cùng với sự xuất hiện của chữ quốc ngữ, tiểu thuyết Việt Nam đã bước vào giai đoạn mới, giai đoạn từ chối sáng tác bằng chữ Hán, chữ Nôm
để cho ra đời những tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ với nghệ thuật mới mẻ, hiện đại
Sự thay đổi này bắt nguồn từ những đổi thay trong đời sống xã hội thực dân nửa phong kiến và sự du nhập mạnh mẽ của văn hóa phương Tây Chữ quốc ngữ với ưu điểm là dễ đọc, dễ viết, khả năng diễn đạt tinh tế, sắc sảo đã đáp ứng kịp thời cho việc phổ biến rộng rãi tác phẩm văn học trong nhân dân Mặt khác đại đa số các nhà sáng tác là những trí thức tân học, chịu ảnh hưởng nhiều mặt của văn hóa Pháp, trong đó đáng chú ý là văn chương Pháp ở thế kỷ XIX Về tiểu thuyết họ đã chịu nhiều ảnh hưởng của các tiểu thuyết gia nổi tiếng như Horoné de Balzac, Victor Hugo, Hector Malot, Alexandre Dumas Kết qủa của ảnh hưởng này là sự ra đời hàng loạt các tác phẩm phóng tác ở ba thập kỷ đầu thế kỷ XX của những tiểu thuyết gia Việt Nam, trong đó có Hồ Biểu Chánh và chỉ có Hồ Biểu Chánh là thành công hơn cả Ông là một trong những tác giả đã Việt hóa và phổ biến tác phẩm văn học phương Tây có giá trị đến với người đọc
1.2 So với các thể loại khác như thi ca, truyện ngắn, ký tiểu thuyết có nhiều
ưu điểm hơn trong phản ánh hiện thực, khắc họa tâm lý, tính cách Để đi đến một bước tiến mới, tạo ưu thế nổi trội trong phong cách diễn đạt tiểu thuyết phải dần dần phá vỡ lối cấu trúc cũ của truyện thơ, sự gò bó chật hẹp của tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa Những mục tiêu này đã dẫn đến yêu cầu hiện đại hóa thể loại tiểu thuyết Trong bối cảnh văn hóa ấy nếu ở miền Bắc có các nhà văn như Nguyễn Trọng Thuật,
Trang 3Nguyễn Tử Siêu, Đặng Trần Phất, Hoàng Ngọc Phách thì ở miền Nam có Nguyễn Chánh Sắt, Phú Đức, Bửu Đình, Trần Thiên Trung, Tân Dân Tử và nổi bật là Hồ Biểu Chánh với một ngòi bút đầy sức sống Với khả năng cảm nhận và phản ánh đời sống thực tại, ông đã để lại cho hậu thế 64 cuốn tiểu thuyết
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, việc nghiên cứu, đánh giá vai trò và những đóng góp của các nhà văn Nam bộ, trong đó có Hồ Biểu Chánh - một trong những tác giả đặt nền móng cho văn học miền Nam đã được đặt ra nhằm xây dựng một bức tranh toàn cảnh chính xác về văn học Việt Nam hiện đại Nhà văn Hồ Biểu Chánh đã được giới nghiên cứu đặc biệt chú ý
1.3 Về Hồ Biểu Chánh, đã có nhiều nhà nghiên cứu thẩm định vị trí, công lao của ông Tuy nhiên các công trình nghiên cứu phần lớn mới đánh giá một cách khái quát, chưa làm rõ được những đóng góp cũng như vị trí của ông trong nền văn học Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX Thế nên, nghiên cứu 64 tập tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh (đặc biệt là 18 tác phẩm viết trước năm 1932), nhằm tìm hiểu thành công
và hạn chế của nhà văn này và góp phần vào việc nghiên cứu, đánh giá về vị trí của
Hồ Biểu Chánh trong văn xuôi quốc ngữ Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX nhất là giai đoạn 1900 - 1930
- Sức hấp dẫn của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đối với công chúng Nam bộ
Trang 4- Khẳng định vai trò và vị trí của Hồ Biểu Chánh trong chặng đầu của quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX
3 Lịch sử vấn đề
3.1 Trước năm 1945
Có các công trình nghiên cứu như: Lược khảo về tiến hóa của quốc văn trong
lối viết tiểu thuyết của Trúc Hà (1932) ; Phê bình và cảo luận của Thiếu Sơn (1933) ;
Ba mươi năm văn học của Mộc Khuê (1941) ; Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan
(1942) ; Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm (1944)
Đáng ghi nhận là tác phẩm Phê bình và cảo luận của Thiếu Sơn Đây là công
trình đầu tiên nhìn nhận, đánh giá tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh Theo Thiếu Sơn
“Tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đủ sức hấp dẫn để lôi cuốn độc giả Việt Nam ham đọc truyện Tàu trở về đọc truyện ta để nhớ tới thân phận con người Việt Nam đương sống trong xã hội Việt Nam và đương là nạn nhân của chế độ, một chế độ nửa thực dân, nửa phong kiến mà bọn người được ưu đãi là những ông quận, những ông làng, những ông cử con quan và những ông nhà giàu địa chủ, đặc biệt nhất là tác giả lại về phe những người nghèo hèn, yếu thế, những tá điền và nông dân” [190, 40]
Đến năm 1942, trong Nhà văn hiện đại, Hồ Biểu Chánh được Vũ Ngọc Phan giới thiệu sơ bộ về cuộc đời và một số tác phẩm như Cha con nghĩa nặng, Vì nghĩa vì
tình, Khóc thầm … và ông cũng đã nhận định về giá trị của tiểu thuyết Hồ Biểu
Chánh trong qúa trình phát triển của văn học “Dù sao, nếu đã đọc những tiểu thuyết
của các nhà văn đi tiên phong từ Nguyễn Bá Học trở lại, ai cũng phải nhận rằng từ Hoàng Ngoc Phách và Hồ Biểu Chánh tiểu thuyết nước ta mới bắt đầu đếm bước vững vàng để dần dần đi tới ngày nay là lúc có thể chia ra nhiều ngả, phân ra nhiều loại” [176, 336]
Những nhận định trên đã bước đầu chú trọng tới vai trò và những đóng góp của
Hồ Biểu Chánh trong nền văn học Việt Nam, đặt nền móng cho việc nghiên cứu Hồ Biểu Chánh trong những giai đoạn tiếp theo Tuy nhiên vấn đề chất lượng tác phẩm, vai trò và những cống hiến của Hồ Biểu Chánh trong việc đặt nền móng tiểu thuyết
Trang 5Việt Nam trong các tác phẩm từ năm 1912 - 1932 - thời kỳ bình minh của chữ quốc ngữ và tiểu thuyết - là vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu
3.2 Từ năm 1945 - 1975
Trong giai đoạn này những công trình nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh gồm có:
* Ở miền Bắc do hoàn cảnh đấu tranh chống xâm lược, việc nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh - một tác giả văn xuôi Nam bộ - còn ít ỏi Đáng chú ý có các công trình
Việt Nam văn học sử trích yếu của Nghiêm Toản (1949) ; Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm Lê Quý Đôn (1956, 1957) ; Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam (tập IV) do Nguyễn Đình Chú chủ biên (1962) ; Lược truyện các tác gia Việt Nam
của nhóm Trần Văn Giáp (1972)
Năm 1974 trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Phan Cự Đệ chỉ dành 38 trang
trong chương I phần I của công trình để tập trung vào một số tác phẩm tiêu biểu được sáng tác từ năm 1900 - 1930 của những tác giả ở miền Bắc và một số tác phẩm của
Hồ Biểu Chánh ở miền Nam, nhưng vẫn chưa có đóng góp gì mới so với các công trình nghiên cứu trước đó
Mặt khác việc đánh giá về Hồ Biểu Chánh có những nhận định còn phiến diện, chưa thật thỏa đáng Thậm chí có lúc vì hoàn cảnh chính trị cụ thể, Hồ Biểu Chánh
còn bị xem nhẹ như trong Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam của Khoa Văn
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
* Ở miền Nam có các công trình như: Việt Nam văn học sử giản ước tân biên
của Phạm Thế Ngũ (1965) ; Bảng lược đồ văn học Việt Nam của Thanh Lãng (1967)
; Việt Nam văn học sử của Bùi Đức Tịnh (1967) ; Những bước đầu của báo chí, tiểu
thuyết, thơ mới của Bùi Đức Tịnh (1974) ; Lịch sử tiểu thuyết Việt Nam và hàng ngũ các tiểu thuyết gia Việt Nam qua các thời đại của Lê Huy Oanh (1974) ; Từ truyện đến tiểu thuyết Việt Nam và một quan điểm văn học của Doãn Quốc Sĩ (1974) ; Chân dung Hồ Biểu Chánh của Nguyễn Khuê (1974)
Trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Phạm Thế Ngũ đã dành nguyên một chương lớn bàn về “sự hình thành của tiểu thuyết mới” Có thể nói đây là một
Trang 6công trình nghiên cứu khá toàn diện về tiểu thuyết giai đoạn này Đặc biệt Phạm Thế
Ngũ đã ghi nhận một điều mà trước đó giới nghiên cứu chưa lưu tâm nhìn nhận “Dù
sao ta cũng phải công nhận là ở một phương diện nào, thể tiểu thuyết đã đi bước trước ở miền Nam” [158, 377] Tác giả tập trung phân tích một số tác phẩm của Hồ
Biểu Chánh, sáng tác những năm 20 của thế kỷ XX để thấy rõ những nét đặc trưng tiêu biểu về nội dung lẫn nghệ thuật của nhà tiểu thuyết Nam bộ này Đây là phần nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh sâu sắc hơn hẳn các tác giả trước đó như Vũ Ngọc Phan (1942), Thiếu Sơn (1933), Nghiêm Toản (1949)
Các công trình sau đó của Thanh Lãng (1967), Bùi Đức Tịnh (1974), Lê Huy Oanh (1974)… đã nêu lên vai trò của Hồ Biểu Chánh cùng vài tác giả ở Nam bộ như Nguyễn Chánh Sắt, Phú Đức…, đối với sự phát triển của thể loại tiểu thuyết ở Nam
bộ Những công trình này đã gợi một hướng mới cho việc nghiên cứu tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh ở những giai đoạn tiếp theo
Đáng lưu tâm trong giai đoạn này là công trình Chân dung Hồ Biểu Chánh của
Nguyễn Khuê (1974), tác giả đã tập hợp khá đầy đủ danh mục sáng tác của Hồ Biểu Chánh, giúp người đọc hiểu được cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn này Tác giả đã tập trung nghiên cứu 14/64 tác phẩm của Hồ Biểu Chánh Có thể nói đây là một công trình nghiên cứu vượt trội so với những nhà nghiên cứu trước đó Tuy nhiên công trình này cũng chỉ dừng ở mức độ tổng hợp ý kiến, tư liệu là chính, chưa có sự bình luận kỹ lưỡng của người soạn sách
Như thế, ta nhận thấy giai đoạn này vấn đề tìm hiểu, đánh giá tác phẩm, tác giả
Hồ Biểu Chánh những năm đầu thế kỷ XX vẫn được giới nghiên cứu lưu tâm Nhiều cái mới được phát hiện, song do hoàn cảnh chiến tranh, đất nước bị chia cắt, điều kiện liên lạc khó khăn, sự giao lưu gần như không có, nên vấn đề xác định vai trò, vị trí của Hồ Biểu Chánh trong sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX vẫn chưa được khái quát đầy đủ, các đánh giá nhận định vẫn còn phiến diện
3.3 Từ sau năm 1975 đến nay
Trang 7Đất nước thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu nghiên cứu Cùng với việc tổ chức Hội nghị khoa học về Hồ Biểu Chánh tại Tiền Giang (1988) nhà xuất bản Tổng hợp Tiền Giang đã tái bản một số lượng lớn tác phẩm của Hồ Biểu Chánh Về mặt nghiên cứu, có thể chia ra hai loại:
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu có liên quan đến Hồ Biểu Chánh như:
Những áng văn chương Quốc ngữ đầu tiên - Truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn
Văn Trung (1987) ; Giáo trình văn học sử - Đại học sư phạm Tp Hồ Chí Minh (1988) ; Bình minh của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại của Nguyễn Q Thắng (1990) ;
Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (1988) ; Tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam của Hoàng Nhân - Trần Thanh Đạm (1996) ; Văn học Việt Nam 1900 -
1930 (tái bản) của Lê Chí Dũng, Trần Đình Hượu (1996) ; Luận án “Sự hình thành
và vận động của thể văn xuôi tiếng Việt ở Nam bộ giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1932” của Tôn Thất Dụng (1993) ; Luận án “Quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX” của Cao Xuân Mỹ (2001) ; Luận án
“Đóng góp của văn học Quốc ngữ ở Nam kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và tiến
trình hiện đại hóa của Văn học Việt Nam” của Lê Ngọc Thuý (2002)
Thứ hai, những công trình trực tiếp nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh như “Thế
giới nhân vật trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh trước năm 1932” của Phan Thị
Ngọc Lan (1991); “Những đóng góp của Hồ Biểu Chánh trong lĩnh vực tiểu thuyết
giai đoạn 1912 - 1931” của Trần Xuân Phong (1997); “Anh hưởng của tiểu thuyết Pháp đối với tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh” của Nguyễn Quỳnh Trang (2001); bài
viết của Trần Hữu Tá (tạp chí Kiến thức ngày nay, số 309, 1999) về “Tiểu thuyết
Nam bộ trong chặng đầu của tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam"
Trong đó đáng chú ý là nhận định của nhà văn Hoài Thanh trong Hội thảo khoa
học về Hồ Biểu Chánh tại Tiền Giang năm 1988 “Tiếp thu có chọn lọc những tinh
hoa của văn học phương Tây, Hồ Biểu Chánh đã góp phần khai sáng nền văn học hiện đại và cách tân thể loại tiểu thuyết, Hồ Biểu Chánh đã chọn lọc những tiểu thuyết văn học phương Tây giàu tính hiện thực và nhân bản để phóng tác thành tác phẩm của mình đó là những giọt máu tươi lành, tiếp cho cơ thể của bệnh nhân
Trang 8cùng một nhóm máu, khiến cho cơ thể văn học Việt Nam mau lành mạnh, dần dần trở nên tráng kiện hồng hào tiếp thu kỹ thuật xây dựng tiểu thuyết của phương Tây, Hồ Biểu Chánh đã góp phần cách tân thể loại tiểu thuyết về các mặt xây dựng cốt truyện, tình tiết, bố cục tác phẩm Cỗ xe chở tư tưởng là chữ quốc ngữ trước đó còn nặng nề,
ì ạch đến đây đã được đẩy đi nhẹ nhàng phăng phăng lướt trên những dặm đường văn học mới Đó là công lao của anh phu xe tiền phong Hồ Biểu Chánh” [180, 101]
Nhận định của Nguyễn Huệ Chi trong lời giới thiệu tác phẩm Tiền bạc bạc tiền -“Đặt trong tình hình 30 năm đầu thế kỷ XX, rõ ràng không có một nhà văn nào có
khả năng bao quát hiện thực rộng rãi đến như vậy Đằng sau cái vỏ đạo lý, truyện của Hồ Biểu Chánh, dù không tỉa tót tỉ mỉ nhưng thực đã dựng lên toàn cảnh bức tranh xã hội” và ông nhấn mạnh “ chứng tỏ ngòi bút của Hồ Biểu Chánh bên cạnh những mặt hạn chế tất nhiên khiến ông không thể nào theo kịp bước phát triển của văn học Việt Nam từ sau năm 1932, vẫn có những mặt báo hiệu một sức sống lâu bền, một khả năng hướng tới hiện tại, một tầm nhìn đi trước thời đại Hồ Biểu Chánh trong phong cách của ngòi bút mình, phần nào có sự hòa quyện giữa hai kiểu tư duy nghệ thuật “vừa bình dân, vừa hiện đại” [165, 9]
Các tác giả trong tác phẩm Địa chí văn hóa Thành phố đã khẳng định: “Cái
độc giả miền Nam lúc nào cũng thích thú là văn chương giản dị, tả thực, phản ánh được nhiều đặc điểm xã hội và con người ở miền Nam trong một thời kỳ, thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới Và giá trị của Hồ Biểu Chánh như một nhà tiểu thuyết
và giá trị sự nghiệp văn chương của ông trước hết là ở đó” [77, II, 241]
Trần Hữu Tá nhân đọc lại Cay đắng mùi đời - Nxb Tổng hợp Tiền Giang 1988 cũng đã có nhận định như sau: “vượt qua những bước đầu chập chững nhưng đáng
trân trọng của Nguyễn Trọng Quản với “Thầy Lazarô Phiền”, của Trần Thiên Trung (tức Gilbert Trần Chánh Chiếu) với “Hoàng Tố Oanh hàm oan”, Hồ Biểu Chánh đã góp phần tích cực vào việc chuyển giai đoạn tiểu thuyết nói riêng, cho văn học nói chung”
Nhìn một cách tổng thể, trong giai đoạn này Hồ Biểu Chánh ngày càng được đông đảo các nhà nghiên cứu lưu tâm, các công trình nghiên cứu đều có những nhận
Trang 9định, đánh giá cao vai trò của Hồ Biểu Chánh Đối với các công trình nghiên cứu tổng hợp chỉ lướt qua tác giả Hồ Biểu Chánh với tư cách một tiểu thuyết gia Các công trình nghiên cứu sâu về Hồ Biểu Chánh cũng chỉ nhận định, đánh giá những đóng góp chủ yếu về mặt nghệ thuật của tác giả trong nền văn học Việt Nam, nhưng chưa khẳng định được vai trò, vị trí của ông trong văn xuôi quốc ngữ Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX nhất là giai đoạn 1900 - 1930
* Ở nước ngoài
Tại Mỹ cuối thập niên 80 Giáo sư John C.Schaffer cùng các cộng sự đã có
nhiều bài viết về tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XX, như “Hồ Biểu Chánh and the
early development of the Vietnamese novel” đăng trên tạp chí Vietnam Forum No12
Sumerfall 1989 Đến năm 1993 John C.Schaffer và Thế Uyên đăng tiếp bài “Tiểu
thuyết xuất hiện tại Nam kỳ” (bài này được Như Quỳnh và Thế Uyên dịch đăng trên Tạp chí Văn học số 8/1994), trong đó các tác giả đã nhận định như sau: “Hồ Biểu Chánh, Trần Chánh Chiếu và Trương Duy Toản rất xứng đáng được tuyên dương là những tiểu thuyết gia đầu tiên của Việt Nam Họ đã đi từ thể loại truyện thơ từ chữ nôm sang truyện dài văn xuôi quốc ngữ, thay thế các nhân vật cổ điển bằng những nhân vật hiện đại với đầy đủ những ham mê dục vọng của con người, từ lòng tham tiền bạc, yêu thương và hận thù, cho đến cả vấn đề tình dục nữa Họ cũng từ bỏ lối kể chuyện đường thẳng, thay thế bằng những bút pháp bao gồm nhiều miêu tả cảnh vật
và biến đổi tâm lý của nhân vật” [104, 6]
Nhìn chung, qua lịch sử nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh ta thấy, hơn nửa thế kỷ qua, trên văn đàn Việt Nam Hồ Biểu Chánh luôn được giới nghiên cứu lưu tâm Chứng tỏ Hồ Biểu Chánh xứng đáng là một trong những nhà văn tiêu biểu cho thể loại tiểu thuyết 30 năm đầu thế kỷ XX Vì vậy việc nghiên cứu vị trí của Hồ Biểu Chánh trong văn xuôi quốc ngữ Việt Nam đầu thế kỷ XX là rất cần thiết - đó là nguyện vọng mà Luận án muốn đạt đến
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 104.1 Đối tượng khảo sát của luận án bao gồm 64 cuốn tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, đặc biệt tập trung vào 18 cuốn tiểu thuyết viết trước năm 1932 Đồng thời luận án còn khảo sát những tác phẩm tiểu thuyết văn xuôi sáng tác bằng chữ quốc ngữ ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX đến năm 1932 của những tác giả khác và một số tiểu thuyết dịch của Pháp (thế kỷ XIX) để làm cơ sở so sánh đối chiếu
4.2 Phạm vi nghiên cứu được giới hạn từ 1900 đến 1932, vì sau đó, tiểu thuyết của nhóm Tự lực văn đoàn ra đời, đồng thời sự xuất hiện nhiều tiểu thuyết hiện thực
có giá trị của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao,… đã tạo một sắc diện mới, một bước phát triển mới cho tiểu thuyết văn xuôi Việt Nam, khẳng định sự trưởng thành về chất lượng tiểu thuyết
5 Giới thuyết một số khái niệm
5.1 Khái niệm “Tiểu thuyết”
Trước hết, đây là luận án về văn học sử, do vậy, chúng tôi chỉ dựa vào ý kiến của một số nhà văn, nhà nghiên cứu đi trước để làm cơ sở lý thuyết
Thời sơ khai của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại “Ông cha ta vốn không quen
trình bày các vấn đề một cách trừu tượng; ngay cả với thơ, làm bao nhiêu cũng được, song những lý thuyết về thơ, ở ta xưa nay cũng chả có mấy; nói chi là tiểu thuyết”
[13, 99] Các nhà văn lúc bấy giờ thường nói nhiều về tiểu thuyết, song không có ai nêu rõ hoặc quan tâm đến khái niem thế nào là tiểu thuyết Chỉ khi bắt tay vào sáng tác họ mới cố gắng giải thích để giúp người đọc hiểu rõ dụng tâm của mình và tiếp nhận tác phẩm một cách dễ dàng hơn Thường để giới thiệu tác phẩm của mình thuộc loại gì, các tác giả viết thêm dưới tựa đề: Tả chân tiểu thuyết, Ai tình tiểu thuyết, Trinh thám tiểu thuyết… nhưng họ không quan tâm đến độ dài tác phẩm Các tác
phẩm như Thầy Lazarô Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản dài 32 trang, Hoàng
Tố Oanh hàm oan (1910) của Trần Chánh Chiếu dài 54 trang, Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân (1910) của Trương Duy Toản dài 48 trang, Người đàn bà nguy hiểm
của Nguyễn Văn Kiểm dài 8 trang cũng ghi ở bìa sách là tiểu thuyết Chính vì thế khi
nhận định về tiểu thuyết, Trần Hữu Tá cho rằng “Bước đầu làm quen với thể loại mới
mẻ này trong hoàn cảnh tác giả chưa phải đã có được nội lực sung mãn về nhiều
Trang 11phương diện, tác phẩm của họ chưa dày dặn, dài hơi, kể cũng là điều dễ hiểu” [191,
35]
Năm 1907 - 1908, người đương thời nắm bắt được đặc trưng của thể loại tiểu
thuyết qua cuộc thi tiểu thuyết đầu tiên, khi Ban biên tập Nông cổ mín đàm người tổ chức yêu cầu người viết tiểu thuyết phải “lấy trí riêng của mình mà đặt ra một câu
chuyện tuỳ theo nhân vật, phong tục trong xứ, dường như truyện có thiệt vậy” tức tiểu
thuyết là một câu chuyện do trí tưởng tượng trên cơ sở hiện thực; có độ dài “chừng
50 tờ giấy lớn”; kết cấu “chia làm ba thứ:
- Thứ nhất: gầy đầu, căn ngươn, lý lịch, kiết cấu, vân vân…
- Thứ hai: ân oán, sanh sự, buông lung, trần ai, lưu lạc, vân vân…
- Thứ ba: cha con, vợ chồng hoàn hiệp, ân báo ân, oán báo oán, vân vân…
Về nội dung: “Trong cuộc đời, phải đem hết các việc quan, hôn, tang, tế, thầy thuốc, thầy chùa, thầy pháp, vân vân…tốt khen, xấu chê Phải có can thường, luân lý, nhơn duyên, thiện ác
Không đặng dùng việc dị đoan, hễ chết mà còn muốn sống lại thì nhờ thuốc hay, thầy giỏi, chớ nói đến qủy thần; còn muốn phạt thì đau bịnh mà chết, hoặc lôi
đả, súng xạ, gươm máy, vân vân…” (Nông cổ Mín Đàm số 262 ngày 23/6/1906) có
nghĩa: tác phẩm tiểu thuyết miêu tả đúng thực tế đời thường, không bịa đặt vu vơ, phải có ý nghĩa thiết thực đối với người đọc đương thời
Năm 1921, Phạm Quỳnh trong Khảo về tiểu thuyết đã khái quát về tiểu thuyết như sau “Nay cứ lý hội các tính cách chung của tiểu thuyết đời nay thì có thể giải
nghĩa tiểu thuyết như thế này: Tiểu thuyết là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để
tả tình tự người ta, phong tục xã hội hay là những sự lạ tích kỳ, đủ làm cho người ta đọc có hứng thú” Đây là khái niệm duy nhất về tiểu thuyết trong những năm đầu thế
kỷ XX
Sau đó ít lâu, khi nói về tiểu thuyết, Vũ Bằng cũng đã cắt nghĩa như sau 'Tiểu
thuyết chân chính, theo đúng nghĩa của nó phải là bức chân dung hay một dãy chân
dung" [209, 161]
Trang 12Trên cơ sở tổng hợp các ý niệm, khái niệm về tiểu thuyết nêu trên để phù hợp
với giai đoạn mà đề tài luận án nghiên cứu, chúng tôi quan niệm rằng: Tiểu thuyết là
một tác phẩm tự sự có dung lượng tương đối lớn, có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi không gian và thời gian, có kết cấu, tình tiết phù hợp với nội dung câu
chuyện nhằm gây hứng thú cho người đọc
Từ cơ sở này chúng tôi đã bắt tay vào khảo sát các tác phẩm văn xuôi quốc ngữ của Hồ Biểu Chánh
5.2 Khái niệm hiện đại hóa văn học
Đó là một quá trình chuyển từ văn học trung đại sang văn học hiện đại Khi nền văn học trung đại không còn thích ứng nữa thì việc đổi mới, hiện đại hóa văn học
trở thành một yêu cầu cấp thiết của thời đại Hiện đại hóa “trong chừng mực nhất
định, nó đồng nghĩa với khái niệm phương Tây hóa là quá trình thu nhận những ảnh hưởng của văn học phương Tây để có những đặc điểm của văn học phương Tây”
[217, 40] Hiện đại hóa là làm cho văn học trong đó có tiểu thuyết mới hơn, phát triển theo hướng thoát ra khỏi các khuôn khổ (gò bó) của hệ thống thi pháp văn học trung đại để phù hợp với hệ thống thi pháp hiện đại, đáp ứng kịp thời thị hiếu thẩm mĩ của công chúng lúc bấy giờ
Qúa trình hiện đại hóa không phải hình thành trong một ngày, một tháng hay
một năm mà nó là cả một qúa trình diễn ra liên tục, không ngừng và “… xuất phát từ
nhu cầu thực tại của văn học, từ tác động của hoàn cảnh xã hội, từ đòi hỏi của công chúng và từ kết quả giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, các dân tộc” [217, 40]
Vấn đề hiện đại hóa tiểu thuyết ở nước ta từ cuối thế kỷ XIX đã bắt đầu được đặt ra, đến đầu thập niên 30 của thế kỷ XX là thời điểm kết thúc cho một quá trình tìm tòi, thử bút, bởi vì từ đây, tiểu thuyết đã đi vào con đường phát triển ổn định Đặt
ra vấn đề này để thấy rằng Hồ Biểu Chánh là người đi tiên phong và là ngòi bút chủ lực về tiểu thuyết trong thời kỳ đầu của quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết
6 Phương pháp nghiên cứu
Trang 13Để giải quyết những vấn đề trên, trong luận án chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp sau đây:
6.1 Phương pháp nghiên cứu hệ thống (nghiên cứu văn học với tư cách là một chỉnh thể như một cấu trúc phức hợp những yếu tố có mối liên hệ hữu cơ và tác động lẫn nhau) chẳng hạn như hệ thống đề tài, cảm hứng, hệ thống hình tượng, xung đột, các yếu tố ngôn ngữ, phong cách trong một hoặc một số tác phẩm
Vận dụng phương pháp hệ thống giúp chúng tôi trình bày, lý giải, khái quát, tổng hợp những vấn đề về tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh được thấu đáo, trọn vẹn hơn
6.2 Phương pháp văn học sử: Trên bình diện một thể loại văn học, đặt tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh trong qúa trình phát triển của văn học Việt Nam hiện đại để xem xét sự phát triển toàn cục của nó Vì vậy việc vận dụng phương pháp này là rất cần thiết để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh với tiểu thuyết của những tác gia khác và lý giải những biến chuyển trong quá trình sáng tác của ông
6.3 Phương pháp phân tích đối chiếu: Đây là phương pháp nhằm tìm hiểu, phát hiện những đặc điểm của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, qua đó tìm ra sự đóng góp tích cực của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh trong qúa trình hình thành tiểu thuyết quốc ngữ Việt Nam đầu thế kỷ XX
6.4 Phương pháp thống kê - so sánh:
Phương pháp này sử dụng nhằm khảo sát những yếu tố mà tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh kế thừa tiểu thuyết truyền thống, những yếu tố cách tân để đánh giá vị trí, vai trò của ông trong văn xuôi quốc ngữ Việt Nam đầu thế kỷ XX Đó là mối quan hệ
Trang 14tiếp thu - chuyển biến - sáng tạo giữa thi pháp trung đại và thi pháp hiện đại trong
tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
7 Cấu trúc của luận án
Mở đầu
+ Lý do chọn đề tài
+ Mục đích nghiên cứu
+ Lịch sử vấn đề
+ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Giới thuyết một số khái niệm
+ Phương pháp nghiên cứu
+ Cấu trúc của luận án
Nội dung
Chương 1: Văn xuôi quốc ngữ Việt Nam đầu thế kỷ XX và sự xuất hiện
của nhà văn Hồ Biểu Chánh
Chương 2: Cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
Chương 3: Nghệ thuật tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
Kết luận
Danh mục các bài báo khoa học của nghiên cứu sinh
Thư mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 15CHƯƠNG MỘT
VĂN XUÔI QUỐC NGỮ VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX
VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA NHÀ VĂN HỒ BIỂU CHÁNH
I Những nhân tố tác động đến sự ra đời cuả văn xuôi quốc ngữ Việt Nam đầu thế kỷ XX
1 Những biến động về mặt xã hội
1.1 Sau khi chiếm được Việt Nam, bằng hòa ước Giáp Thân năm 1884, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách cai trị khác nhau đối với 3 miền Bắc - Trung - Nam Mỗi miền có một chính sách luật lệ riêng, trong đó Nam kỳ trở thành xứ thuộc Pháp với nhiều thể chế ưu đãi hơn Bắc kỳ và Trung kỳ Pháp đã tiến hành công cuộc khai thác kinh tế thuộc địa Nam kỳ nhằm tạo nguồn chi trong hoạt động cai trị tại xứ Đông Dương Đó là những điều kiện cho nền kinh tế Nam kỳ phát triển hơn, tạo độ chênh lệch khá lớn với hai miền Bắc và Trung Đồng thời Nam kỳ sớm tiếp thu nền văn hóa phương Tây, số người học tiếng Pháp và đi Pháp du học nhiều ; các yếu tố văn hóa như báo chí, nhà in, nhà xuất bản sớm ra đời, tạo tiền đề cho sự xuất hiện của những tác phẩm tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ đầu tiên Song do hoàn cảnh đất nước
bị chia cắt, mỗi xứ bị cô lập bởi hệ thống cai trị thuộc chính sách phân kỳ của thực dân Pháp, nên đã ảnh hưởng đến sự phát triển và giao lưu văn hóa giữa các miền Sau năm 1920 sự khai thông thương mại được bắt đầu, nhờ đó trí thức các miền có điều kiện tiếp cận, trao đổi về các vấn đề học thuật, các trào lưu tư tưởng, xu hướng văn học bằng những tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp qua các ấn phẩm văn hóa Và từ bối cảnh này, văn học có điều kiện để phát triển hơn trước
1.2 Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Paul Doumer và lần thứ hai của Albert Sarraut đã tạo nhiều nhân tố làm chuyển biến sâu sắc xã hội Việt Nam Nền kinh tế lạc hậu của chế độ phong kiến bị tác động và tạo ra sự bất ổn định, sự phân hóa xã hội Nông dân bị bần cùng, họ bắt đầu từ giã ruộng đồng để lên thành thị kiếm sống Họ trở thành những phu xe, bồi bếp, công nhân, và một số cùng quẫn trở thành lưu manh, gái điếm… hình thành nên tầng lớp dân nghèo thành thị Bên cạnh
Trang 16đó cũng lắm kẻ gặp cơ hội trên thương trường trở thành những ông chủ, tạo nên tầng lớp tư sản Mặt khác việc sửa đổi nội dung thi cử từ năm 1906 đã dần dần làm thay đổi cách học, cách nghĩ cũng như cách sống của giới trí thức Sự giao tiếp văn hóa Đông - Tây đã tạo nên một tầng lớp trí thức mới trong xã hội Việt Nam, đấy là những tiến sĩ, cử nhân tốt nghiệp ở Pháp, những học sinh trung học, sinh viên cao đẳng Họ cùng với công chức của Pháp, của Nam triều (Tham, Phán, Thông ngôn, Ký lục ) trở thành tầng lớp trí thức tân học Tầng lớp thị dân này, hoàn cảnh sống mỗi người mỗi khác, cuộc sống Âu hóa ngày một thay đổi khiến tâm lý, tư tưởng, nhu cầu cũng thay đổi Với điều kiện sống tập trung chứ không phân tán, nhịp sống sôi nổi khẩn trương chứ không bình lặng mộc mạc như ở nông thôn, nguồn thu nhập ổn định đã tạo cho tầng lớp thị dân này có điều kiện để du nhập các hoạt động văn hóa thích hợp với thành thị Sách báo trở thành một nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày Họ đọc để giải trí, để tìm hiểu mua bán, để biết thêm về xã hội xung quanh Đô thị phát triển nảy sinh những vấn đề phức tạp, xu hướng kiếm tìm vật chất trong môi trường
xã hội mới đầy phức tạp dần dần làm phân hóa xã hội truyền thống và nhân cách con người Đạo lý luân thường là những điều cần nhưng không đủ trong đời sống thực tại,
nên “người ta cần tìm hiểu kỹ cuộc sống với cả những tình tiết đầy đủ, những chi tiết
cụ thể; gây được cảm giác, thỏa mãn được sự tò mò Người ta muốn nếm trải cái có thật (hay có thể có thật), chứ không phải được khích lệ bằng những gương trung hiếu, minh họa đạo nghĩa Người ta muốn xúc cảm, muốn mở mang như những con người, những cá nhân- chứ không phải xúc động như khi chiêm ngưỡng tấm gương cao cả của vị thánh xuất chúng” [101, 25] Vì thế “Bên cạnh những nhà nho vẫn tiếp tục làm thơ phú, người nông dân vẫn tiếp tục ca hát dân gian… nền văn học cũ vẫn tồn tại khắp đất nước thì một lớp nhà văn kiểu mới, một nền văn học có tính chất khác trước xuất hiện tạo nên một cảnh tương giao giữa hai nền văn học” [101, 22]
Trên văn đàn lúc bấy giờ xuất hiện những người làm báo, viết văn…và thể văn xuôi, đặc biệt là tiểu thuyết trở nên phù hợp với tâm lý thị hiếu của đông đảo công chúng mới Nó trở thành nhu cầu bức thiết trong đời sống tinh thần của xã hội bấy giờ
“Đọc tiểu thuyết, người ta thấy có cái thú vị nồng nàn là được sống sâu rộng hơn, thấm thía hơn, vì ở đời không một ai được sống với tất cả các giác quan rung động,
Trang 17với tất cả mọi hành vi cùng tư tưởng bồng bột và thâm trầm Chính tiểu thuyết là một loại văn có thể bổ khuyết cho ta về những cái thiếu sót ấy” [176, 162]
Những đòi hỏi trên là cơ sở để tiểu thuyết văn xuôi - thể văn học mới ra đời và phát triển Đồng thời hệ thống giáo dục ở các trường Pháp Việt lúc bấy giờ ngoài việc đào tạo nên lớp công chúng mới, những người quen thưởng thức các thể văn học phương Tây, còn hình thành nên một đội ngũ tác gia mới Họ nhanh chóng thay thế dần đội ngũ các nhà văn cựu học, sáng tạo những tác phẩm văn học đáp ứng nhu cầu của lớp công chúng mới Chính đội ngũ này đã quyết định sự phát triển của nền văn học mới trong đó có tiểu thuyết
2 Những đổi mới về mặt văn hóa
2.1 Chữ quốc ngữ
Nam kỳ trở thành xứ thuộc Pháp, chữ quốc ngữ không chỉ là công cụ truyền đạo của các giáo sĩ phương Tây mà còn là phương tiện lôi kéo người Việt khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa Thực dân Pháp đã dùng chữ quốc ngữ để thay thế dần chữ Hán và chữ Nôm Nhiều biện pháp khuyến khích việc học chữ quốc ngữ như từ năm 1880 các làng xã ở Nam kỳ - xứ thuộc Pháp đều có những trường học dạy chữ
quốc ngữ vì “kể từ ngày 1-1 -1882 không một tuyển dụng nào được thi hành, không
một thang trật nào được cho phép trong ngạch phủ, huyện, tổng đối với bất cứ ai ở trong tình trạng không viết được chữ quốc ngữ” (Nghị định ngày 6 - 4 - 1878) Thực
hiện chính sách này thực dân Pháp nhằm loại trừ những ảnh hưởng sâu sắc của truyền thống Việt Nam, mà giới nho học, trong đó có rất nhiều sĩ phu yêu nước là tầng lớp
có thể tuyên truyền, kêu gọi tập hợp kháng chiến
Với ưu thế dễ đọc dễ viết và vô cùng thiết thực trong đời sống, chữ quốc ngữ
đã hoàn toàn chiếm ưu thế hơn chữ Hán, chữ Nôm và được xem như một biểu tượng của văn minh tiến bộ trên khắp cả ba miền Thấy được lợi ích của thứ văn tự mới này, những nho sĩ từ thái độ không hưởng ứng đã dần dần tích cực cổ động cho việc học chữ quốc ngữ qua các phong trào Minh Tân (Nam bộ), Đông Kinh Nghĩa Thục (Bắc bộ) vào những năm 1907 - 1918, khiến mọi người không ngừng trau dồi chữ quốc ngữ Đi đầu trong phong trào này là các học giả Pétrus Trương Vĩnh Ký, Paulus
Trang 18Huỳnh Tịnh Của, Gilbert Trần Chánh Chiếu và J.B Nguyễn Trọng Quản ở miền Nam và Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học ở miền Bắc
Đi đôi với việc xuất hiện chữ quốc ngữ là sự phát triển mạnh của phong trào phiên âm quốc ngữ và dịch thuật, các tác phẩm văn học cổ được bắt đầu ngay sau khi Pháp chiếm Nam kỳ Trong ba thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XIX và mấy năm đầu của thế kỷ XX, đi tiên phong trong phong trào này là Trương Vĩnh Ký, Trương Minh
Ký, Huỳnh Tịnh Của, Phan Đức Hòa Những tác phẩm phiên âm ra quốc ngữ sớm
nhất trong cả nước của Trương Vĩnh Ký là Kim Vân Kiều truyện (1875), Lục súc
tranh công (1884), Lục Vân Tiên truyện, Phan Trần truyện (1889) ; Phan Đức Hòa có Nhị Độ Mai (1884) ; Nguyễn Hữu Thoại có Văn Doan diễn ca (1903), Trần Sang diễn ca (1905), Chinh phụ ngâm, Bạch Viên Tôn Các, Thoại Khanh Châu Tuấn
(1906) Việc phiên Nôm và xuất bản các truyện Nôm dưới hình thức quốc ngữ còn kéo dài cho đến hai thập niên đầu của thế kỷ XX Nó tồn tại song song với nền biên khảo văn học, ngữ học, dịch thuật và sáng tác bằng chữ quốc ngữ
Sang những năm đầu thế kỷ XX, hình thức nghe thơ, nói thơ đã dần nhường bước cho hình thức đọc vì chữ quốc ngữ đã trở thành phổ biến Việc phiên Nôm và hình thức đọc cũng là một cách trau dồi chữ quốc ngữ hữu hiệu, đưa chữ quốc ngữ đi vào đời sống, làm tiền đề phát triển tiểu thuyết quốc ngữ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX
Dịch thuật cũng là một hoạt động thể hiện ý thức phát triển mối giao lưu giữa
các nền văn hóa Khảo sát các thư mục đã được công bố, tập hợp trong Địa chí văn
hóa thành phố và trong Văn học quốc ngữ ở Nam kỳ của tác giả Bằng Giang chúng
tôi nhận thấy hoạt động dịch thuật khá đa dạng: dịch kinh sách, truyện Tàu, truyện
Pháp Sớm nhất là Đại Nam quốc sử diễn ca của Phạm Đình Toái và Lê Ngô Cát đã
được Trương Vĩnh Ký dịch (1875) Sau năm 1875 Trương Vĩnh Ký tiếp tục dịch
Trung Dung, Đại học (1881), Minh tâm bửu giám (1893), Tứ thư (1889), Tam tự kinh
(1884) Trương Minh Ký dịch Kinh thi đăng trên Gia Định báo, Tiểu học gia ngôn
Trang 19diễn nghĩa (1889), Trị gia cách ngôn (1895), Ca từ diễn nghĩa (kho tàng thơ ca Trung
Hoa) (1896)…
Nhiều dịch giả dịch truyện Tàu Tam quốc chí, Thuỷ hử, Đông Châu liệt
quốc bản dịch Tam quốc chí đầu tiên xuất hiện ở miền Nam đăng trên Nông cổ mín đàm đầu năm 1901…Đặc biệt tuồng San Hậu (tuồng Việt Nam) có đến 8 bản dịch
của 8 tác giả
Những tác phẩm văn học Pháp được dịch và xuất bản xuất hiện sớm nhất ở
Việt Nam như: Truyện Phan sa dịch ra quốc ngữ (1884), trong đó dịch 16 ngụ ngôn của La Fontaine, Têlê mặc phưu lưu ký (1887) của Fénelon khởi đăng trên Gia Định
báo từ năm 1885, Truyện nhi đồng Francinet cũng đăng trên Gia Định báo từ năm
1885, Phú bần diễn ca (1896), Robinson trên hoang đảo (1886) do Trương Minh Ký dịch ; Trần Chánh Chiếu cho công bố bản dịch 2 tác phẩm Tiền căn báo hậu (1907),
Ba chàng ngự lâm (1914); Đỗ Quang Đẩu dịch hơn 30 bài thơ của La Fontaine ;
Nguyễn Ngọc Ấn dịch thơ Pháp đăng trong các báo…
Chữ quốc ngữ và phong trào phiên âm, dịch thuật là cơ sở để hình thành nền văn học mới với những thể loại mới như kịch, ký sự, truyện ngắn, tiểu thuyết đồng thời là phương tiện chuyển tải văn hóa phương Tây đến với Việt Nam và giúp người
Việt Nam hòa nhập được vào văn hóa thế giới “giúp cho nền văn học Việt Nam
thành lập và bình dân hóa một cách mau lẹ không ngờ” [215, 113] Sự phát triển của
chữ quốc ngữ khiến văn xuôi tiếng Việt nhanh chóng đổi mới Đồng thời việc sáng tác văn học bằng chữ quốc ngữ đã làm cho chữ quốc ngữ được trau chuốt, trở thành một công cụ ngôn ngữ có khả năng diễn đạt phong phú, chính xác, tinh tế
2.2 Báo chí
Chữ quốc ngữ phổ biến ở Nam bộ sớm hơn Bắc bộ, phong trào Minh Tân diễn
ra sâu rộng và tác động tích cực đến phần lớn tầng lớp dân chúng Nam bộ Nhiều người biết chữ quốc ngữ nên báo chí Nam bộ phát hành nhiều, tính phổ biến cao, trở thành nhu cầu thiết yếu trong đời sống của người dân Nam bộ Sự ra đời của tờ báo
đầu tiên Gia Định báo ngày 15- 4 -1865 đánh dấu sự mở đầu của báo chí quốc ngữ,
Trang 20mở ra một giai đoạn phát triển mới trong sinh hoạt văn hóa Sau đó là Nông cổ mín
đàm (1901), Lục tỉnh tân văn (1907), Đăng cổ tùng báo (1907), Đại Việt tân báo
(1908), Đông Dương tạp chí (1913), Trung Bắc tân văn (1915), Nam Trung nhật báo
(1917)…cũng lần lượt ra đời ở cả hai miền Nam Bắc Tuy nhiên trong ba thập kỷ đầu thế kỷ XX, nội dung báo chí Nam bộ vẫn pha tạp đủ thứ kinh tế, thương mại, khoa học, tôn giáo không có một tờ báo nào dành tỷ lệ cao cho văn học và càng chưa có
tờ báo nào chuyên về văn học nên đã hạn chế việc nghiên cứu, phê bình và phổ biến
lý luận về phương pháp sáng tác, đặc trưng thể loại, Đây chính là một trong những nguyên nhân làm cho tiểu thuyết Nam bộ sau năm 1930 không phát triển
Trong khi đó, báo chí đến miền Bắc chậm hơn, nhưng chỉ trong 10 năm, nhiều
tờ đã chuyên sâu vào các lĩnh vực văn hóa, văn học Năm 1919 có Học báo, năm
1923 có Vệ nông báo, 1928 có tạp chí Kịch trường, 1929 có Nông công thương báo, năm 1931 có Pháp Việt tạp chí Về văn học, Đông Dương tạp chí và Nam Phong
tạp chí đã thường xuyên đăng tải một số bài viết quan trọng về văn học như Khảo về tiểu thuyết, Lược khảo về sự tiến hóa của quốc văn trong lối viết tiểu thuyết đã cung
cấp một lượng kiến thức quan trọng về lý luận và phê bình văn học
Mặc dù là một hình thức văn hóa ngoại nhập, dù mục đích của báo chí là tuyên truyền, phổ biến văn hóa, giáo dục của chính quyền thực dân thuộc địa, nhưng các trí thức văn nhân đã tận dụng nó để góp sức giữ gìn tinh hoa văn hóa dân tộc cũng như
để đổi mới và xây dựng một nền văn học mới Báo chí đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được trong đời sống của nhiều tầng lớp nhân dân Trên các báo nhiều thể loại văn học mới xuất hiện như: truyện ngắn, tiểu thuyết, phê bình Người viết trau dồi ngòi bút của mình qua các bài viết, bài dịch thuật, phê bình trên báo Họ giao
lưu trao đổi các vấn đề về văn hóa, văn học cũng trên báo Đồng thời “Văn tiểu
thuyết là món ăn thịnh hành nhất đời nay, không những sách xuất bản đã nhiều, mà trên các báo chí, bất kỳ báo nào đều có để riêng một phần cho tiểu thuyết” [80, 116]
Trang 21Báo chí quốc ngữ ra đời và phát triển mạnh mẽ “là nơi xuất phát và nuôi dưỡng
những thể văn, khuynh hướng văn mới, nhất là những thể văn, khuynh hướng văn chương chịu ảnh hưởng Tây phương” [228, 5]
2.3 Nghề in và xuất bản
Cùng với việc ra đời của báo chí quốc ngữ là sự phát triển của nghề in và nghề xuất bản Năm 1862 Impériale - nhà in đầu tiên tại Việt Nam ra đời ở Sài Gòn Sau năm 1870, Sài Gòn có nhiều nhà in, nhà xuất bản mới Trong nước đã xuất hiện những nhà kinh doanh chuyên nghiệp về công việc này Việc in ấn, phát hành phát triển đã nâng cao nhu cầu đọc sách trong công chúng và sách báo có thể phát hành rộng rãi ở mọi nơi cho mọi tầng lớp công chúng khác nhau, nhất là ở Nam bộ Ngoài việc in báo, in tài liệu, các chủ nhà in đã nhanh chóng nắm bắt thị hiếu của người đọc
về những tác phẩm tiểu thuyết được ưa chuộng để đem xuất bản, cùng các truyện thơ,
vè, truyện tranh, các tác phẩm dịch thuật vừa tạo điều kiện cho báo chí và xuất bản phát triển vừa góp phần vào việc phổ biến chữ quốc ngữ; vừa làm phong phú thêm từ ngữ tiếng Việt, vừa cải cách dần văn phong cú pháp Tất cả những hiện tượng trên đã ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của tiểu thuyết hiện đại Các tòa soạn, nhà xuất bản lớn trở thành trung tâm văn hóa, học thuật của các thành phố lớn
2.4 Biên khảo văn học, ngữ học
Có thể nói nền biên khảo bằng chữ quốc ngữ bắt đầu khơi nguồn từ Trương Vĩnh Ký Ông sưu tầm, nghiên cứu văn hóa, văn học Đông Tây nói chung, nhưng chủ yếu là văn hóa, văn học Việt Nam, trong đó mảng văn học dân gian như thơ ca, hò vè, truyện tiếu lâm, truyện cổ tích… được nhà bác học này đặc biệt chú ý Được thực hiện chủ yếu bằng chữ quốc ngữ, chính mảng biên khảo này đã góp phần rất trong việc bảo tồn cũng như phổ biến rộng rãi di sản văn học dân tộc Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của…là những người đóng góp sớm nhất vào thành
Trang 22tựu này Trương Vĩnh Ký có Chuyện đời xưa (tuyển tập cổ tích, ngụ ngôn dân gian Việt Nam, 74 chuyện, 1886), Truyện khôi hài; Huỳnh Tịnh Của có Chuyện giải buồn (cuốn 1 có 61 chuyện, cuốn 2 có 31 chuyện), Tục ngữ, cổ ngữ, Gia ngôn (Maximes et
Proverbes, 1896) là một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Việt Nam theo phương
pháp Tây phương, Ca trù thể cách, Câu hát Annam (1910) Đặc biệt Đại Nam quốc
âm tự vị (1895) là từ điển đầu tiên của nền ngữ học Việt Nam ; Trương Minh Ký có
Ca từ diễn nghĩa (1896), Thi pháp nhập môn (1898); ngoài ra các tác giả như Lê
Quang Chiểu với Quốc âm thi hợp tuyển (1903), Võ Sâm với Thi phú văn tư (1912), Đặng Lễ Nghi với Câu hát (kiêm) kim thời (1915)…
Đây là một nền biên khảo, dịch thuật hiện đại so với văn học Hán Nôm trước
đó Nó vừa thể hiện bản sắc văn học dân tộc, vừa mở đầu một giai đoạn giao lưu văn hóa với thế giới theo một tinh thần mới Với phương tiện là chữ quốc ngữ - một phương thức ký âm ngày càng hoàn thiện đã giúp người Việt Nam nắm bắt cả một gia tài văn hóa quý báu mà trước kia không dễ gì ai cũng tiếp nhận được
Đây là hoạt động văn hóa kết hợp được cả hai yếu tố dân tộc và thời đại, hoàn toàn thực hiện bằng chữ quốc ngữ, không hề cắt đứt người Việt Nam với truyền thống văn học cũ, đem lại cho văn học dân tộc nội dung và hình thức mới mẻ, hiện đại hơn, góp phần tạo tiền đề cho câu văn xuôi quốc ngữ ngày càng phát triển
II Đặc điểm của văn xuôi quốc ngữ Việt Nam đầu thế kỷ XX
1 Sự chuyển biến nội tại của tiểu thuyết truyền thống
Văn học thời trung đại, tuy văn xuôi không nhiều nhưng vẫn có những tiểu
thuyết dưới hình thức văn xuôi chữ Hán như: Nam triều công nghiệp diễn chí - bộ tiểu thuyết chương hồi do Nguyễn Khoa Chiêm sáng tác năm 1719, Thiên Nam liệt
truyện (ra đời khoảng cuối thế kỷ thứ XVIII, chưa rõ tác giả), Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái đầu thế kỷ XIX), Hoàng Việt long hưng chí (Ngô Giáp Đậu –
1904), Trùng Quang tâm sử (Phan Bội Châu) hầu hết đều viết về đề tài lịch sử, nội
dung xoay quanh những vấn đề của cương thường, đạo lý, ca ngợi trung hiếu tiết
Trang 23nghĩa, và nhân vật thường có những nét khuôn sáo về mặt phẩm chất, tính cách, thậm chí kể cả ngoại hình Kết cấu truyện thường đơn giản, có hậu, người lành được hưởng
phước, kẻ ác bị trừng phạt Trong đó nổi bật nhất là Hoàng Lê nhất thống chí, đây là một tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao, giá trị lịch sử sâu sắc Trùng Quang tâm sử
tuy viết theo thi pháp văn học trung đại nhưng nội dung rất tiến bộ, viết về sự nổi dậy của phong trào yêu nước Đây cũng là bộ tiểu thuyết cuối cùng viết bằng chữ Hán Đi sâu phân tích tác phẩm, người đọc sẽ hình dung được một giai đoạn có thật của lịch
Cùng xuất hiện với những tiểu thuyết văn xuôi chữ Hán là những truyện nôm
như: Truyện Kiều (Nguyễn Du), Hoa Tiên (Nguyễn Huy Tự), Nhị Độ Mai, Lục Vân
Tiên (Nguyễn Đình Chiểu), Lâm Tuyền kỳ ngộ, truyện Sãi Vãi (Nguyễn Cư Trinh)
những truyện nôm khuyết danh như Phạm Tải Ngọc Hoa, Quan Âm Thị Kính, Phan
Trần hầu hết các tác phẩm này ra đời từ cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX
Thi pháp của những tác phẩm này dần dần có sự chuyển biến từ ngôn ngữ, cách miêu
tả, “Cái tôi” cá nhân đòi quyền sống, quyền được yêu đã bắt đầu xuất hiện Sự thay
đổi về đề tài từ Đào hoa mộng ký, Điểu thám kỳ án, Trùng Quang tâm sử cũng như
những biến đổi về nghệ thuật trong các truyện thơ nôm cho thấy đã có sự chuyển biến bên trong của thể tiểu thuyết từ cuối thế kỷ XIX Chứng tỏ những yêu cầu cách tân thể loại tiểu thuyết không phải chỉ khi chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết phương Tây mới có Song chính sách “bế quan tỏa cảng” của triều đình nhà Nguyễn đã hạn chế sự giao lưu văn hóa với bên ngoài nên các mầm mống đổi mới ấy không có điều kiện phát triển
Trang 24Khi chữ quốc ngữ bắt đầu phổ biến, các học giả đã nhanh chóng tạo cầu nối giữa văn học cổ với nền văn học chữ quốc ngữ Những tác phẩm văn xuôi quốc ngữ
ra đời mang đậm dấu ấn của tiểu thuyết cổ trong cấu trúc nghệ thuật Đó là những truyện trai anh hùng, gái thuyền quyên với lối kết cấu chương hồi, lối kể theo thứ tự thời gian Chính lối kết thúc có hậu, ân đền, oán trả, ở hiền gặp lành… là bóng dáng
kế thừa tiểu thuyết truyền thống Các tác phẩm Mảnh trăng thu - Bửu Đình, Nghĩa
hiệp kỳ duyên - Nguyễn Chánh Sắt, Kiếp chồng chung - Tuyết Hữu… là những minh
chứng sống đông sự kế thừa tiểu thuyết truyền thống của tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ đầu thế kỷ XX Nền tảng văn hóa dân tộc và bề dày của lịch sử tiểu thuyết cổ điển Việt Nam là chỗ dựa vững chắc cho sự phát triển của tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ
Những biến động xã hội đã tác động đến sự phát triển nội tại khách quan, tất yếu của văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng Nội lực tiềm tàng của nền tiểu thuyết truyền thống khi có những điều kiện cần thiết như báo chí văn học, nhà xuất bản, đội ngũ sáng tác, công chúng văn học, không khí văn học mới đã bắt đầu chuyển biến theo hướng hiện đại hóa
2 Qúa trình hình thành tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ
2.1 Tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ Nam bộ trước năm 1930
Cùng với sự phổ biến chữ quốc ngữ, sự ra đời và phát triển của báo chí đã tạo điều kiện cho những truyện ngắn đơn giản bằng văn xuôi quốc ngữ hình thành Năm
1865, tờ báo đầu tiên ra đời - Gia Định báo đã tạo điều kiện thuận lợi cho giới trí
thức mới tham gia đời sống viết lách Tôn chỉ của tờ báo là muốn có những truyện nôm na để in, về quy cách chỉ cần câu chuyện có mở đầu, có diễn biến, có kết thúc,
có cả những lời nhận định chủ quan của người viết và yêu cầu thiết yếu là phản ánh trung thực sự việc xảy ra Chính tôn chỉ này đã ảnh hưởng nhiều đến tiểu thuyết Nam
bộ thời kỳ đầu
Trang 25Những truyện ngắn giản đơn bằng văn xuôi ra đời còn gồm những truyện kể lưu truyền trong dân gian, những truyện vui, những gương trung hiếu tiết nghĩa… đã
được các nhà văn ghi lại bằng chữ quốc ngữ trong các tập truyện như Chuyện đời xưa (Trương Vĩnh Ký), Chuyện giải buồn (Huỳnh Tịnh Của), Chuyện khôi hài (Trần
Phong Sắc) Loại truyện này lời văn giản dị nôm na, gần gũi với ngôn ngữ đời sống thường ngày Nó không những đã góp phần phổ biến rộng rãi chữ quốc ngữ mà còn giúp độc giả làm quen với cái mới, tạo tiền đề cho sự ra đời của tiểu thuyết
Một dạng truyện nữa là Truyện quảng cáo, một sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa Đây là những câu chuyện hoàn toàn hư cấu, song chúng hấp dẫn người đọc, người nghe nhằm giới thiệu sản phẩm Về sau giới kinh doanh thay đổi bằng cách in
những tiểu thuyết khá hay như Nghĩa hiệp kỳ duyên, Kim thời dị sử, Một cảnh làm
dâu… rồi in luôn phần quảng cáo vào hoặc viết những truyện ngắn rồi đưa vào
truyện một hai chi tiết để quảng cáo như Lưới trời khó lọt, Dưới cội đào… Cách viết
truyện quảng cáo này đã làm thay đổi tư duy sáng tạo, óc tưởng tượng phong phú cho người viết văn, làm tiền đề cho một lớp nhà văn mới phát triển
Song song với sự ra đời của những truyện ngắn giản đơn, trên văn đàn nước ta xuất hiện thể loại truyện thơ Loại truyện này cũng tiếp tục theo nguồn truyền thống của truyện thơ Nôm trước đó, viết theo thể lục bát nhưng đã khác trước Nội dung của những câu chuyện là phản ánh thực tế cuộc sống hàng ngày và được hư cấu thêm để
tăng phần hấp dẫn cho đôc giả Vào thời kỳ này còn có truyện Thơ Sáu Trọng, Thơ
Thầy Thông Chánh, Thơ cậu Hai Miêng loại truyện này ít nhiều gắn bó với sinh
hoạt văn hóa dân gian Bên cạnh đó còn có truyện thơ viết trí thức hơn, thường gọi là
“Lục” hay “Tiểu lục” như truyện U tình lục của Hồ Biểu Chánh Đây là hướng thử
nghiệm trong việc cách tân thể loại truyện thơ bằng văn vần Nhưng sự đổi mới đó vẫn không đáp ứng được nhu cầu ngày càng phát triển của tầng lớp độc giả ở thành thị Đồng thời hình thức văn vần cũng dần dần không còn thích hợp để chuyển tải nội dung phản ánh hiện thực phong phú nữa Trước những yêu cầu đó, truyện viết bằng văn xuôi ra đời
Trang 26Như vậy bắt đầu từ những truyện ngắn giản đơn, những truyện quảng cáo, những tích xưa viết lại cộng với sự đổi mới về nội dung của những truyện thơ truyền thống đã đem đến cho văn học một thể loại mới, đó là tiểu thuyết bằng văn xuôi quốc
ngữ Tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên viết bằng văn xuôi ra đời năm 1887 là Truyện
Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản Tác phẩm có nhiều yếu tố hiện đại Về
mặt ngôn ngữ tác giả đã dùng lời nói thường chứ không dùng văn vần, văn biền ngẫu Kết cấu truyện không theo lối chương hồi, không lời dẫn, kết thúc không có hậu
Nhân vật trong truyện không bộc trực, không “nói phứt cho rồi” như tính cách của
người dân Nam bộ, mà luôn day dứt, dằn vặt giữa các trạng thái yêu thương - oán hận, lầm lạc - hối hận, luôn bị giằng xé giữa luân lý và dục vọng, lương tâm và tội ác,
cao cả và thấp hèn Đề tài cũng hết sức mới là giết người và ghen tuông, “với cốt
truyện và những vấn đề mà Nguyễn Trọng Quản đặt ra, trong điều kiện văn học hiện đại đã phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, các nhà văn có thể xây dựng thành một tiểu thuyết với đầy đủ những đặc trưng thể loại vốn có của nó” [57, 82]
Năm 1912 tiểu thuyết đầu tiên của Hồ Biểu Chánh ra đời là cuốn Ai làm được -
nó đã bắt đầu cách tân theo hướng hiện đại Từ lối kể chuyện theo một trật tự nhất định của tiểu thuyết cổ điển, Hồ Biểu Chánh đã đưa người đọc đi vào lối kết cấu mới,
có sự tổ chức linh hoạt về thời gian, không gian Sau tiểu thuyết Ai làm được là hàng
loạt tiểu thuyết khác ra đời Hồ Biểu Chánh đã từng bước đưa sự kiện, con người vào tiểu thuyết với lối kể chuyện sinh động, giàu kịch tính Ông xây dựng được những nhân vật đại diện cho các tầng lớp nhân dân, địa chủ, lưu manh với lối kể chuyện gián tiếp tự nhiên đã làm cho tiểu thuyết của ông ngày càng gần với tâm lý độc giả bình dân Nam bộ Sự đan kết giữa các chuyện chính, chuyện phụ đã tạo ra những
Trang 27đoạn đối thoại, độc thoại nội tâm khá hấp dẫn làm cho tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
có sức sống trong lòng độc giả Nam bộ hơn nửa thế kỷ qua
2.2 Tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ Bắc bộ trước năm 1930
Nếu khởi đầu ở Nam bộ là ngững truyện ngắn giản đơn, những truyện thơ, thì
ở Bắc bộ là thể văn ký sự Bắt đầu từ thập niên mười của thế kỷ XX, trên văn đàn
miền Bắc nở rộ thể văn ký sự như Pháp du hành trình nhật ký (Nam Phong, 38 kỳ từ
số 58 - 100) của Phạm Quỳnh, Hương sơn hành trình (1914) của Nguyễn Văn Vĩnh,
Hạn mạn du ký (Nam Phong, số 38 - 43), Đi chơi Bắc Ninh (Nam Phong, số 100), Mười ngày ở Huế (Nam Phong, số 10), Giấc mộng con của Tản Đà Sự nở rộ của
thể loại ký và những chất liệu hiện thực trong thể loại này đã làm cơ sở cho tiểu thuyết phát triển
Cùng với thể ký sự, truyện ngắn (đoản thiên tiểu thuyết) cũng là thể văn phát
triển ở miền Bắc, tiêu biểu là những truyện ngắn đăng trên Tạp chí Nam Phong của
Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Vũ Đình Chí, Lê Đức Nhượng…Không phản ánh thời sự, truyện ngắn Bắc bộ là những tác phẩm nghệ thuật thật sự, nội dung phong phú, chủ yếu đề cập đến cuộc sống của những gia đình quan lại ở thành thị, những người thuộc giai cấp phong kiến suy tàn, hoặc những con người sở khanh mới xuất hiện trong xã hội hiện thời…lời văn gọn, rõ, giàu tính nghệ thuật
Qua nghiên cứu, tiểu thuyết văn xuôi đầu tiên ở Bắc bộ là tiểu thuyết lịch sử
Hưng Đạo Vương (1914) của Phan Kế Bính Tiếp theo, có Sóng hồ Ba Bể của Phạm
Bùi Cầm (1916), Nữ quân tử diễn nghĩa của Nguyễn Khắc Hanh (1918) Năm 1920 mới xuất hiện tiểu thuyết tình cảm Một cảnh làm dâu của Ngô Tiếp Đáng chú ý là
1925, hai tác phẩm Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật và Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách đã gây tiếng vang lớn trên văn đàn Nếu Quả dưa đỏ được giải thưởng của Hội Khai trí Tiến Đức thì Tố Tâm “như một quả bom nỗ giữa khung trời tình
cảm” [43, 603] vừa ra đời đã gây một làn sóng dư luận khắp cả nước, “Từ Bắc đến Nam không ai không biết đến Tố Tâm Có nhiều bạn gái thuộc lòng cả quyển sách
Trang 28nữa” [115, 298] Điểm mới của Hoàng Ngọc Phách là tác giả đã “từ chối loại tiểu thuyết truyền thống, soạn một cuốn tiểu thuyết trước hết với mục đích tự nó, một cuốn tiểu thuyết không phải dưới hình thức truyện kể mà đưa đến cho người đọc chân dung của những tâm hồn” [238, 34] miêu tả tình yêu đích thực với sự rung động mãnh liệt
của com tim Có thể nói với những tư liệu hiện có thì giai đoạn này miền Bắc không phải chỉ có một vài tiểu thuyết, nhưng xét về tính hiện đại, theo khuynh hướng lãng
mạn thì không tác phẩm nào hoàn thiện bằng Tố Tâm
Qua phát họa sơ lược diện mạo tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, cho thấy tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ đã dần dần phát triển rộng khắp ở mọi miền đất nước Những tác phẩm mang tính thể nghiệm buổi đầu là nhịp cầu nối hai chặng đường cổ điển và hiện đại
Các nhà văn, từ Nguyễn Trọng Quản đến Trần Chánh Chiếu, Lê Hoằng Mưu,
Hồ Biểu Chánh, Tản Đà, Bửu Đình, Đặng Trần Phất, Hoàng Ngọc Phách, Vũ Đình
Chí… đều có chung một nhiệt huyết là “Gia công bồi bổ cho cái hậu vận quốc văn”
Càng ngày trình độ học vấn và sự hiểu biết của họ càng cao nên chất lượng tiểu thuyết càng phát triển Tuy chưa đậm nét nhưng các tác giả đã thể hiện ít nhiều phong cách độc đáo trong sáng tác, dần dần tạo nên hai khuynh hướng sáng tác khác nhau,
một là loại tiểu thuyết “giảng cho ta cõi đời này ra thế nào” và một loại “làm cho ta
quên cõi đời này đi”
Tuy ra đời sau, nhưng do những cơ sở văn hóa phát triển đều, nên tốc độ phát triển của tiểu thuyết Bắc bộ nhanh hơn nhiều so với Nam bộ Mặt khác độc giả Bắc
bộ chủ yếu là sinh viên, học sinh, tầng lớp tiểu tư sản… có trình độ học vấn tương đối cao, nên các tác gia miền Bắc phải gia công đầu tư nhiều để có những tác phẩm chất lượng phù hợp với độc giả Trong khi đó chủ tâm của các tác giả Nam bộ là phục vụ đông đảo quần chúng, chủ yếu là những người bình dân ham đọc sách, truyện, nên tác giả không cần gọt dũa ngòi bút, tác phẩm không cần có trình độ nghệ thuật cao Đó là những nguyên nhân cơ bản tạo nên hai phong cách, hai giọng điệu khác nhau trong tiểu thuyết hai miền
Trang 293 Sự chuyển hướng trong ý thức sáng tạo
Sau khi xuất hiện tác phẩm tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ đầu tiên Truyện Thầy
Lazarô Phiền (1887) người ta đã nhận định có sự chuyển hướng trong ý thức sáng tạo
thể loại Mở đầu tác phẩm, Nguyễn Trọng Quản xác định “Đã biết rằng xưa nay dân
ta không thiếu chi thơ, văn, phú, truyện nói về những đấng anh hùng hào kiệt, những tay tài cao trí cả rồi đó, mà những đấng ấy thuộc về đời xưa chớ đời nay chẳng còn nữa Bởi đó tôi mới giám bày đặt một truyện đời này là sự thường có trước mắt ta luôn, như vậy thì sẽ có nhiều người sẽ lấy lòng vui mà đọc ; kẻ thì cho quen mặt chữ, người thì cho đặng giải phiền một giây” [229, 38]
Nhà văn Bửu Đình cũng đã từng phát biểu “Tiểu thuyết là một lối trước thuật,
dễ bày vẽ bằng văn chương những nhơn tình thế thái, chỉ rõ những gương chánh đáng, thói gian tà, những đoạn thiết yếu có thể dạy dỗ lòng người nhu nhược ra hùng dũng, vén ngút mây cho dễ thấy trời xanh Những tục lệ hư phong trong xã hội thường thấy trước mắt, thì đều gom nhốt hết vào đó” [8, 1923] và “Tiểu thuyết có thể giúp người ta giải khuây lúc đêm khuya thanh vắng và có thể mở mang trí não Người
ta đọc tiểu thuyết nhiều làm sao cũng rõ thông thế thái nhơn tình” [8, 1925]
Có thể nói, các nhà văn đương thời đều quan niệm tiểu thuyết rất thực tế, gần đời và dùng vào việc đời nên khi viết họ phải thành thực, rõ ràng để phổ cập được đủ các hạng người trong xã hội Chính vì thế, hầu hết các nhà văn trong giai đoạn này đã thiên về xu hướng tả thực, bám sát đời sống thực tại để miêu tả, xây dựng cốt truyện, dựa trên thực tế cuộc sống để giải quyết vấn đề Người đọc có thể qua tiểu thuyết tìm thấy những gì mình đã nếm trải hoặc tìm cho mình một hướng giải quyết những tình huống bất ngờ, phức tạp trong cuộc sống nhiễu nhương mà có lúc họ chưa đủ sức chống chọi
Văn minh phương Tây tràn vào đã làm cho đất nước có nhiều thay đổi, nếp sống truyền thống theo Nho giáo dần dần bị phá vỡ Đồng thời những tác động từ chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp khiến xã hội Việt Nam chuyển dần
từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế hàng hóa tất cả những thực trạng trên
Trang 30là nguồn đề tài vô tận cho các nhà văn đương thời Bằng tấm lòng ưu ái, lo sợ xã hội băng hoại, văn hóa dân tộc bị thui chột, các nhà văn đương thời đã lên án những tác nhân, những mầm mống gieo rắc tai họa, gây bao cảnh lầm than để mọi người biết và
đề phòng Cho nên “đời tư là tiêu điểm để miêu tả cuộc sống một cách tiểu thuyết”
[139, 390]
Nhìn chung các nhà văn đã đi vào miêu tả số phận của những con người bình thường, nhỏ bé trong xã hội với những bi kịch đời tư vì những đẩy đưa của cuộc sống
mà gia đình tan nát Đó là cuộc đời của Lazarô Phiền (Truyện Thầy Lazarô Phiền) vì
ghen tuông thù oán mà phải đau khổ cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay Cuộc đời lận
đận truân chuyên của Ánh Nguyệt (Ngọn cỏ gió đùa - Hồ Biểu Chánh), của Vương Thị Phượng (Mồ cô Phượng - Trứ Giả), của Kim Anh (Kim Anh lệ sử - Trọng Khiêm), cuộc đời long đong đầy nước mắt của Bạch Thuỷ (Cành lê điểm tuyết - Đặng Trần Phất), của Liêm Tử Tâm (Cô Ba Trà - Nguyễn Ý Bửu)….Xoay quanh những
mảnh đời ấy là những vấn đề xã hội đang trong quá trình đô thị hóa, những chính sách về phúc lợi xã hội, về quyền phụ nữ, về tự do hôn nhân, tự do yêu đương
…được đặt ra Đặc biệt những đề tài ảnh hưởng đến đạo đức xã hội như ngoại tình, vấn đề tính dục, giới tính cũng là một trong những đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết thời kỳ này Tình yêu không chỉ được nhìn nhận dưới góc độ tình cảm mà nó còn là
sự đòi hỏi, khao khát về tính dục, đó là sự “tự nhiên” nên việc miêu tả, phản ánh là điều “tự nhiên” - mặc dầu điều đó quả là quá mới so với nhận thức chung của xã hội
đương thời Từ nhận thức đó, những tiểu thuyết Hà Hương phong nguyệt, Người bán
ngọc của Lê Hoằng Mưu miêu tả những cảnh ngoại tình đã bị lên án kịch liệt
Không gian tác phẩm cũng dần dần mở rộng theo sự phát triển của tiểu thuyết
Những tác phẩm ban đầu như Truyện Thầy Lazarô Phiền (1887), Hoàng Tố Oanh
hàm oan (1910), Hà Hương phong nguyệt (1920), Một cảnh làm dâu (1920)…địa bàn
hoạt động của các nhân vật chỉ ở một vài tỉnh thành như Bà Rịa, Vũng Tàu, Sài Gòn,
Vĩnh Long….Đến Nghĩa hiệp kỳ duyên (1920), Cuộc tang thương (1921), Tố Tâm
(1925), tác giả đưa người đọc từ Sài Gòn về Cần Thơ, Bạc Liêu ra tới Hà Nội, qua
tận Nam Vang (Campuchia)… Đến Chúa tàu Kim Quy (1922), Căn duyên tiền định
Trang 31(1926), Châu về hợp phố ( 1930) Một thiên tuyệt bút trường hận (1931)… thì không
gian miêu tả của tiểu thuyết không chỉ ở các tỉnh trong nước mà mở rộng sang Trung Quốc, Thái Lan, Lào… Nét đổi mới nữa so với tiểu thuyết cổ điển là không gian không chỉ được nhắc đến qua địa danh mà nó còn được miêu tả một cách cụ thể, hấp
dẫn, chẳng hạn khi tả cảnh sắc ở Nhật Bản “Khi tàu đến Yokohama, thật là một đại
thương khẩu! Cửa biển này khác hẳn Sài Gòn, Hải Phòng Tàu đậu đông đặc, nào hiệu cờ Hoa - kỳ, hiệu cờ Ang - lê, hiệu cờ Lang - sa, đủ cả tàu các nước chen chúc Các lầu mấy tầng cao chót vót, nào ngựa xe, nào máy móc chạy rần rần, những luồng khói đen bay mịt mịt Người đi đông như ngày hội, cái quang cảnh một xứ phiên hóa văn minh thật đã khác quang cảnh nước mình” (Mài một lưỡi gươm)
Những quang cảnh mới lạ như cảnh toà Đại hình xử án, cảnh pháp trường xử
bắn tội nhân (Dập tắt lửa phiền - Trần Hoàng Nam, Đêm rốt cùng của người tội tử
hình - Lê Hoằng Mưu, Lòng người nham hiểm - Nguyễn Chánh Sắt), cảnh đám cưới
vừa cổ truyền, vừa hiện đại…đều được tiểu thuyết lưu tâm đặc tả
Chính việc phác họa một vài nét về các quốc gia khác, và những chi tiết cụ thể trong từng tác phẩm đã làm tăng tính hiện đại của tiểu thuyết, tạo ấn tượng, kích thích được sự hiếu kỳ, ham hiểu biết của độc giả khiến họ càng yêu thích thể văn học mới này
Nhìn chung, sự chuyển hướng sáng tạo, mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực,
đi vào miêu tả những vấn đề lớn của xã hội đã dần phá vỡ những quy phạm vốn có của văn học trung đại, làm cho thể tiểu thuyết bắt kịp với thị hiếu công chúng, góp phần tạo sự đổi mới cho thể loại tiểu thuyết, giúp nó tiến nhanh trên con đường hiện đại hóa, đi vào quỹ đạo của tiểu thuyết hiện đại
4 Những thành tựu trong sáng tạo nghệ thuật
4.1 Đó là sự thay đổi trong quan niệm về con người trong tiểu thuyết Con người ở đây được miêu tả là những con người bình thường với những mối quan hệ
đời thường.“Tiểu thuyết có tất cả vì cuộc đời có tất cả Nó có cái thiện, cái ác, cái
cao cả, cái anh hùng và thấp hèn, ti tiện, có những nét chính diện, khẳng định và
Trang 32những nét phản diện, phủ định, có những cái nên thơ và những điều trần tục” [130,
77] Đó là những tá điền quanh năm làm lụng vất vả, thiếu trước hụt sau, không đủ
tiền nộp thuế phải đi làm thuê (Năm Vạn - Mạng nhà nghèo của Nguyễn Bửu
Mọc)…Đó là những cường hào ác bá thao túng cuộc sống ở nông thôn, hà hiếp dân lành, không từ một thủ đoạn nào để nặng hầu bao Chúng coi người như cỏ rác, đánh giết người rồi lại cáo gian cho người ở tù, cướp vợ, cướp con gái người ta, sẵn sàng giết cả vợ mình đang mang thai để đi lấy người khác, cha chồng thông dâm với con
dâu… (Cha con Hương chủ Phồn - Mạng nhà nghèo của Nguyễn Bửu Mọc, mẹ con Hai Nghĩa - Con nhà nghèo của Hồ Biểu Chánh….) Đó là những thợ thuyền trong
các xưởng máy, nhà in vì khủng hoảng kinh tế nên phải thất nghiệp; đó là những tên cặp rằn xấu bụng xúc xiểm hãm hại lẫn nhau, bóc lột những người cu ly khốn khó; đến những đứa trẻ bán nhựt trình, chuối nấu, bánh cam, những nghệ sĩ sa cơ đi lưu
diễn rầy đây, mai đó (Dập tắt lửa phiền của Trần Hoàng Nam, Bó hoa lài của Phạm Công Bình…)
Quan niệm mới về con người cụ thể, có cuộc sống đời thường, có đủ “thất tình lục dục” trong tiểu thuyết là sự cách tân tư duy trong văn học bởi tiểu thuyết thời kỳ này đã xa với lối tư duy luôn sùng bái, tôn kính các nhân vật anh hùng kiệt xuất, luôn hướng đến những mẫu mực cổ xưa, mang tính ước lệ trong văn học trung đại Ngay
cả các tiểu thuyết lịch sử, tuy vẫn còn hình ảnh của những con người phi thường nhưng dần dần các nhân vật anh hùng đó cũng được miêu tả dưới góc độ đời thường, của một con người bằng xương bằng thịt, có trái tim biết rung động bởi những cảm
xúc thường tình trong cuộc sống (Hồ Quốc Thanh - Người bán ngọc của Lê Hoằng Mưu, Thân Thanh Tòng - Nặng gánh cang thường của Hồ Biểu Chánh)… Các nhà
văn đã đi vào miêu tả cuộc sống đời thường của những con người có thật, với những đoạn đối thoại, độc thoại nội tâm giàu tính hiện thực Sự quan tâm đến đời tư nhân vật khiến cuộc sống của họ gần gũi với sự thật lịch sử Vì thế nhân vật trong tác phẩm thường rất thực- điều đó đã tạo nên những thay đổi trong nội dung của tiểu thuyết văn xuôi đầu thế kỷ
4.2 Tránh lối mòn trong tiểu thuyết cổ, tiểu thuyết trong giai đoạn này đã chú trọng về mặt chân dung ngoại hình nhân vật, tuy chưa thoát khỏi cách miêu tả ước lệ
Trang 33cổ điển, song nó đã có một sự thay đổi lớn trong cách nhìn Đó phải là những “nhân vật sống”, những người như tất cả mọi người, có một tấm lòng quảng đại nhưng lại
có những điểm yếu hèn, có một khối óc thông minh nhưng lại có thể sa vào tội lỗi ; là những người gần gũi thân thiết mà nhìn vào họ ta như nhìn thấy lòng ta Vì vậy khi xây dựng tính cách nhân vật, đòi hỏi nhà văn phải có vốn sống phong phú, tinh tế, các yếu tố như ngoại hình, ngôn ngữ, hành động, tâm lý… nhân vật đều phải hoà hợp với nhau trong bản thân nhân vật, quan hệ chặt chẽ với tổng thể xung quanh
Bút pháp tả thực phát triển, nhân vật được miêu tả, khắc họa cụ thể, sắc nét Dưới ngòi bút của Hoàng Ngọc Phách, nhân vật Tố Tâm không chỉ xinh đẹp mà còn
chứa đựng một tâm hồn đa cảm “khuôn mặt trái xoan, …cái đường mũi hơi cao cao
mà nhỏ thẳng xuống miệng xinh xinh, viền hai đường môi mỏng và thăm thẳm, tạc ra cái vẻ mặt rất thanh tao tinh xảo, nhưng trên cái gương mặt mơn mởn tơ đào đó có một vẻ buồn cao xa kín đáo bởi ở đôi mắt trong mà lại lờ đờ, tức là thứ mắt của người có tư tưởng mà hay mơ màng những chuyện viển vông Cái gương mặt thiên nhiên đó để trên một tấm thân manh mảnh cao làm cho tôi bấy giờ mới trông thấy thứ đẹp thanh tú tĩnh tạc có cái vẻ thiêng liêng” (Tố Tâm, tr.13)
Tính cách nhân vật tiểu thuyết buổi đầu còn chịu ảnh hưởng của thi pháp truyện thơ và tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa, phần lớn là nhân vật đơn tuyến Hai tuyến nhân vật thiện - ác luôn rạch ròi Các nhân vật được xây dựng hoặc tốt hoặc xấu và tính cách đó ít, thậm chí không biến đổi, mặc cho hoàn cảnh hay điều kiện
sống thay đổi, chẳng hạn Bạch Tuyết (Ai làm được), Chăng Cà Mum ( Nghĩa hiệp kỳ
duyên), Trịnh Thị (Một cảnh làm dâu), cô Lê (Chuyện chị em cô Lê, trò Lý), Lê
Nương (Nho phong) tốt đến mức khiên cưỡng, khó chấp nhận trong cuộc sống đa dạng, phức tạp của thực tại Các nhân vật phản diện như Đào Phi Đáng (Nghĩa hiệp
kỳ duyên), Hà Hương (Hà Hương phong nguyệt), Ac Khanh, Thượng Kim (Kiếp chồng chung)… nếu không có cái chết kết thúc cuộc đời thì cũng khó có thể cải tạo
được sự độc ác của họ Chính vì trung thành với lối xây dựng tính cách nhân vật đơn tuyến nên tiểu thuyết thời kỳ đầu dù hay, sâu sắc nhưng vẫn không đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật tiểu thuyết hiện đại
Trang 34Tính cách nhân vật ở tiểu thuyết Nam bộ thường được thể hiện thông qua tên gọi nhân vật Người đọc thường bắt gặp những tên nhân vật như Trọng Nghĩa, Thủ Nghĩa, Hiếu Liêm, Bác Ai, Quảng Đại… vừa đọc đến tên độc giả đã nắm ngay được tính cách, bản chất của nhân vật Đặc điểm này tiểu thuyết Bắc bộ cũng có nhưng
không đặc trưng, thỉnh thoảng mới xuất hiện một Bạc Sở (Cành lê điểm tuyết) thuộc dòng họ Sở, Ac Khanh, Trực Tính, Thiện Tử (Kiếp chồng chung)
Một số tiểu thuyết khác như Cô Ba Trà (Nguyễn Ý Bửu), Mảnh trăng thu, Một
thiên tuyệt bút trường hận (Bửu Đình), Một tụi chán đời (Nguyễn Văn Lịch, Giọt lệ sông Hương (Tam Lang Vũ Đình Chí)…tính cách nhân vật được xây dựng đa dạng,
phức tạp hơn Nhân vật của tiểu thuyết bây giờ là nhân vật lưỡng phân, nhân vật tâm lý
Tâm lý nhân vật cũng là một đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết thời kỳ này Do tiếp xúc nhiều với kỹ thuật viết phương Tây, các tác giả đã học tập dần cách xây dựng tâm lý nhân vật Mức độ xây dựng tâm lý nhân vật được tập trung vào những
suy nghĩ, tính toán riêng tư, những lời độc thoại nội tâm của nhân vật Từ đó “cái tôi
cá nhân” dần dần được khẳng định như một thành tựu của tiểu thuyết lúc bấy giờ, mà
cái mới đáng ghi nhận là tiểu thuyết Tố Tâm Lần đầu tiên cái tôi cá nhân, cá thể đã
trở thành hình tượng văn học thay cho con người Nho giáo với cái tôi của bổn phận gắn chặt với cộng đồng Thật ra những vấn đề về thân phận con người, những đòi hỏi hạnh phúc tự do … đã thai nghén từ các tác phẩm của Đặng Trần Côn, Nguyễn Du,
Hồ Xuân Hương, Nguyễn Gia Thiều…và ngay cả những tiểu thuyết xuất hiện trước
nó, nhưng phải đến Hoàng Ngọc Phách thì “cái tôi” ấy mới được bộc lộ một cách mạnh mẽ và công khai trong tiểu thuyết
Một số tác giả còn chú ý đến những chuyển biến đổi thay trong tính cách nhân
vật khi hoàn cảnh thay đổi Như nhân vật Quế Hương trong Một thiên tuyệt bút
trường hận của Bửu Đình, nhân vật Hồ Quốc Thanh trong Người bán ngọc của Lê
Hoằng Mưu Đặt nhân vật trong những hoàn cảnh éo le, những va chạm thực tế cuộc sống, sự đổi thay của xã hội đã làm cho nhân vật dần thay đổi, thật sự là những “nhân
Trang 35vật sống” Trong con người họ vừa có cái cao cả, vị tha, nhân ái… nhưng cũng có cái thấp hèn, vị kỷ, nhỏ nhen…Những lúc thời cuộc thay đổi, nhân vật bị đặt vào những tình huống phải cân nhắc, day dứt, đấu tranh chọn lựa giữa cái tốt và cái xấu, cái được cái mất… Lê Hoằng Mưu rất thành công khi thể hiện một cách tinh tế, ý vị về
sự dằn vặt, căm giận, đau khổ và mâu thuẫn trong con người Hồ Quốc Thanh (Người
bán ngọc), một quan đề đốc binh mã đầy dũng khí, một người yêu thương vợ cực kỳ
Bên cạnh Hồ Quốc Thanh, tâm lý nhân vật Tô Thường Hậu - người bán ngọc, nhân vật Trang Tử Minh - vị quan quang minh chính trực - cũng được tác giả miêu tả sâu sắc Tác giả Hoàng Ngọc Phách còn tinh tế trong diễn tả đến cả những biến đổi đa dạng trong tính cách nhân vật do sức mạnh cảm hóa của tình yêu Những biến đối thất thường chợt vui, chợt buồn, những hành vi vừa che giấu vừa bộc lộ tình cảm, những biến đội tính cách, những giằng co xung đột trong tâm lý nhân vật Tố Tâm hoàn toàn là hiện thực của tâm hồn con người vì thế nó kích thích suy nghĩ của độc giả
Trong giai đoạn mở đầu này, một số “nhà văn đã diễn tả đúng và thấu đáo cái
tâm lý uyển chuyển của con người” [115, 298], họ đã tiếp cận với việc xây dựng
nhân vật hiện đại, nên “cuốn truyện kết thúc nhưng nhân vật chính dường như vẫn đi
lại đâu đó trên các đường phố, ngõ hẻm, làng quê” [68, II, 263]
Có thể nói, văn xuôi quốc ngữ đầu thế kỷ XX đã hình thành nghệ thuật xây dựng nhân vật khác với tiểu thuyết cổ điển Đến cuối thập niên hai mươi của thế kỷ
XX thì tiểu thuyết đã thật sự có những nhân vật được xây dựng một cách “hiện đại”,
trong tác phẩm “…có nhiều nhân vật hơn, số phận của họ đan chéo vào nhau, nhà
văn thường đưa người đọc từ thành phố này sang thành phố khác, đôi khi còn sang
cả nước khác nữa, cách kết cấu khiến ta nhớ đến những cảnh nối tiếp nhau trên màn ảnh, những đoạn cận cảnh luân phiên với những cảnh quần chúng” [68, II, 273]
Trang 364.3 Ngôn ngữ trong tiểu thuyết cũng là một trong những yếu tố quan trọng góp phần cho việc hình thành tiểu thuyết thời kỳ này Trước đây văn Nôm ưa chuộng sự thanh cao, thường mô tả tâm trạng, hoàn cảnh của các bậc phong lưu quyền quý, thiên về giãi bày lý tưởng một cách hoa mỹ, cầu kỳ nặng điển cố Trung Quốc thì ngôn ngữ tiểu thuyết quốc ngữ lại quan tâm đến những người Việt Nam bình thường
và những vấn đề đời thường Sự chuyển đổi đó đã diễn ra trong cả một quá trình Khởi đầu là bước chuyển từ biền văn sang câu văn xuôi nghệ thuật: câu văn du dương, trầm bổng, ngân vang, đăng đối Nhiều tác phẩm thỉnh thoảng chen thơ lục
bát, song thất, đường luật như “…chàng vào nằm trên ván nhắm mắt gác tay lên trán
mà thầm than rằng: Người đâu gặp gỡ làm chi, Trăm năm biết có duyên gì hay không? (Cô Ba Trà, tr.40) Một số vẫn dùng nhiều điển cố khiến câu văn kiểu cách
“ chờ cho khói lửa mau tàn thì tôi kíp hồi hương qua cầu ô thước chấp tơ nối chỉ, vui hưởng giàu sang ; Chừng đó nợ râu mày trọn trả thì chí hồ thỉ tứ tương cũng là vẹn mặt” (Tơ hồng cay nghiệt, Phú Đức, tr.31)
Hay: “Viên này được tin lập tức gọi cả lính gác vào, ra lệnh cắm gươm lên
đầu súng và mở cửa khiêng ra để đem đi nhà thương cấp cứu, những phường quỷ quái tinh ma, hại người, người hại có xa đâu mà!” (Kiếp chồng chung, Tuyết Hữu,
tr.43)
Một số tác phẩm như Nghĩa hiệp kỳ duyên, Kiếp chồng chung, Cuộc tang
thương, Người bán ngọc,…tuy vẫn còn dấu vết của văn xuôi biền ngẫu nhưng ảnh
hưởng của câu văn tiếng Pháp đã khá rõ Đến Nho Phong (1926), Cậu Tám Lọ (1932), Hòn máu bỏ rơi (1932),…thì câu văn đã khúc chiếc, rõ ràng, xứng đáng là
câu văn nghệ thuật Càng về sau, khi tiếp xúc với tiểu thuyết phương Tây, trau dồi nhiều trên các trang báo, câu văn trong tiểu thuyết càng được Âu hóa, vốn từ dùng phong phú, có thể miêu tả được vừa tình, vừa cảnh, vừa riêng, vừa chung Từ ý thức thay đổi đề tài, đổi mới nghệ thuật xây dựng nhân vật, các tác giả đã thành công trong việc xây dựng ngôn ngữ tiểu thuyết, mà tiêu biểu là ngôn ngữ nhân vật
Đặc biệt, đây là thời kỳ mà ngôn ngữ tiểu thuyết ở Nam bộ mang đậm tính địa phương Một phần do nó gắn liền với ngôn ngữ của người bình dân Nam bộ, một
Trang 37phần do các tác giả đã đưa vào tiểu thuyết gần như nguyên vẹn ngôn ngữ của đời
sống hàng ngày, chẳng hạn như lời Năm Vạn nói với chàng rể “Đồ khốn kiếp, mầy
đừng có mà con mắt tau, mày đem con tau ra sông rồi mày đạp nhàu xuống nước
Cái bản mặt đản hậu của mày thúi lắm” (Mạng nhà nghèo - Nguyễn Bửu Mọc)
Trong khi đó ngôn ngữ tiểu thuyết ở Bắc bộ văn hoa, cầu kỳ, ví như lời tâm sự
của Nguyệt Đức với ân nhân sau khi được cứu khỏi chết: “Thưa chị, em đội ơn chị to
lắm, biết đời nào trả được, nào em có muốn thế đâu chị tính con vật cũng còn muốn sống thêm một ngày mà hưởng thụ cái sung sướng của đất trời, phương chi là em, nhưng tình thật khổ não quá, lòng thật chua xót nhiều bề, chết từng khúc ruột đi ”
(Kiếp chồng chung - Tuyết Hữu, tr.10)
Sự khác nhau trong ngôn ngữ mỗi miền, mỗi nhân vật, chứng tỏ các nhà văn hiểu biết và từng trải trong cuộc sống nên ngôn ngữ nhân vật cũng như ngôn ngữ dẫn truyện rất phù hợp Việc bước đầu cá thể hóa ngôn ngữ đã đem lại sự thành công cho các tiểu thuyết, góp phần đẩy mạnh quá trình hiện đại hóa thể văn học đang còn non trẻ này, đồng thời tạo sự khác biệt giữa tiểu thuyết ở hai miền Nam, Bắc Hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết Nam bộ chủ yếu là người bình dân, chân chất, mộc mạc nên ngôn ngữ của họ cũng giản dị Ở miền Nam ngay cả những ông, bà Hội đồng…
sử dụng ngôn ngữ cũng không chải chuốt, hoa mĩ như cụ Thượng, ông Nghè trong tiểu thuyết Bắc bộ Có thể khẳng định đây là một thành công lớn của các nhà văn Nam bộ đương thời và còn là sự lựa chọn phù hợp với yêu cầu độc giả và thích hợp với hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ
4.4 Phần lớn các tiểu thuyết trong buổi đầu kết cấu theo trình tự thời gian Đây
là lối kết cấu truyền thống, ưu điểm là khai thác được mạch tự sự của câu chuyện dễ theo dõi, dễ kể lại cho người khác cùng nghe Cả thiên truyện là một hệ thống các sự kiện, lôgíc của câu chuyện chỉ giới hạn trong lôgíc phát triển của sự kiện, sự việc trong đó yếu tố ngẫu nhiên là một yếu tố nghệ thuật thường gặp, nhưng trong giai đoạn đầu nó được sử dụng quá mức nên truyện kém hấp dẫn vì tính không thật
của nó như các tác phẩm Chúa tàu Kim Quy của Hồ Biểu Chánh ; Mạng nhà nghèo
Trang 38của Nguyễn Bửu Mọc ; Một cảnh làm dâu của Ngô Tiếp ; Một tấm lòng vàng đá của Bửu Đình,…
Một số tác phẩm tuy phân thành từng đoạn, từng chương, được đánh số thứ tự
từ 1 đến hết, song mới chỉ dừng ở hình thức, còn nội dung vẫn chưa thay đổi Càng
về sau, các chương, đoạn không chỉ đơn thuần là việc tiếp nối về mặt thời gian trong quá trình hoạt động của nhân vật trung tâm Cùng một lúc nhiều tuyến nhân vật, nhiều sự kiện được triển khai quanh nhân vật trung tâm Mỗi chương, đoạn thể hiện một mặt, một bình diện nào đó của nhân vật trung tâm hoặc miêu tả hoạt động của một nhân vật phụ nào đó nhằm làm nổi bật thêm một số khía cạnh của nhân vật trung tâm Truyện vì thế phong phú đa dạng, tạo cơ sở cho các tình tiết, sự cố diễn ra hợp
lý tránh được việc sử dụng qúa nhiều yếu tố ngẫu nhiên để dẫn câu chuyện theo ý muốn của tác giả
Sự chuyển biến trong kết cấu của tiểu thuyết là cơ sở để khẳng định thể loại này đang chuyển nhanh trên con đường hiện đại hóa Ở mỗi tác phẩm có một mức độ
khác nhau, chẳng hạn ở các tiểu thuyết Cành lê điểm tuyết, Cuộc tang thương, Cô Ba
Trà thời gian chỉ mới đảo ngược, câu chuyện được ghi lại sau khi tác giả được nghe
hoặc chứng kiến sự việc, thì tiểu thuyết Thầy Lazarô Phiền, Đoạn nghĩa cù lao phát
triển lên một bước mới với sự đan cài giữa hiện tại và qúa khứ, giữa nhiều câu chuyện của nhiều nhân vật diễn ra nhiều nơi trong những thời gian khác nhau bổ sung
cho hoạt động và quan hệ của nhân vật chính, “đảo lộn trật tự cốt truyện, đem kết cục
lên trên kể ở đầu câu rồi mới lần trở lại từ đầu câu chuyện và thỉnh thoảng lại đẩy độc giả từ quá khứ trở về hiện tại để lay tỉnh cái ảo ảnh về một mối tình chưa kết thúc”, để tránh sự đơn điệu “ông còn thêm vào nhiều đoạn độc thoại nội tâm qua nhật ký và thư, những đặc tả và đối thoại xen trong trần thuật” [43, 110] Càng về
sau càng xuất hiện nhiều tiểu thuyết mà kết cuộc bỏ ngỏ hoặc không có hậu như:
Cuộc tang thương, Người bán ngọc, Giọt lệ Sông Hương… dạng kết cấu này khiến
tiểu thuyết gần cuộc đời hơn Nó đòi hỏi độc giả một tầm cao về nhận thức cũng như
để lại cho độc giả nhiều dư âm hơn Tuy vậy số tác phẩm này không nhiều, phần lớn các tiểu thuyết gia đều xây dựng kết cục có hậu theo truyền thống
Trang 39Tóm lại: Tiểu thuyết quốc ngữ Việt Nam ra đời như một tất yếu của lịch sử văn học Chứng tỏ nền văn học Việt Nam đã nhanh chóng thay đổi để phù hợp với nhu cầu cuộc sống, phù hợp với quy luật tiến hóa, khẳng định văn học Việt Nam tiến dần trên con đường hiện đại hóa và tiểu thuyết cũng như các thể loại khác trong giai đoạn giao thời chuyển từ nền văn học trung đại sang nền văn học hiện đại Các nhà văn chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp rất lớn Việc học
và hiểu văn chương Pháp đã góp phần đổi mới, hiện đại hóa văn chương Việt Nam nói chung và tiểu thuyết Việt Nam nói riêng Sự ảnh hưởng nhau giữa nền Hán học
và Tây học trong văn học Việt Nam luôn tồn tại song song tạo nên một nét phong cách riêng của tiểu thuyết văn xuôi Việt Nam đầu thế kỷ XX
Tiểu thuyết quốc ngữ Việt Nam hiện đại buổi sơ khai đã có những bước đi phù hợp theo đúng quy luật phát triển chung của thể loại từ đơn giản đến phức tạp, hiện đại dần từ nội dung đến hình thức nghệ thuật Trong chặng đầu phát triển, tiểu thuyết quốc ngữ Việt Nam không có các trường phái khác nhau Các nhà văn Việt Nam không theo hẳn một khuynh hướng nào khi sáng tác Các yếu tố đạo lý, tả thực và lãng mạn thường đan cài vào nhau trong một tác phẩm Và tất nhiên, trong giai đoạn đầu chưa có những tác phẩm “hiện đại” toàn vẹn, song ở mỗi lĩnh vực, mỗi góc độ nghệ thuật, tiểu thuyết thời kỳ đầu đã đạt được những thành tựu đáng kể
Tiểu thuyết không chỉ là một thứ văn giải trí, tiểu thuyết nhằm mở mang kiến thức cho người đọc, mỗi tác phẩm là một bài học được rút ra từ cuộc sống thực tại
Và tiểu thuyết “trong buổi đầu mới gây dựng, cầu lấy cái tốt, cái hay vẫn hiếm lắm
Người viết văn cũng mới học viết, người đọc văn cũng chưa chắc đã sành sỏi, phần nhiều cứ có sách là đọc, không cần cân nhắc câu văn hay dở ra làm sao, miễn hiểu được chuyện là đủ Bởi thế khó nhận ra giá trị của mỗi bộ tiểu thuyết” [80, 116], nên
những tác phẩm chưa đạt thành công lớn bởi lẽ về chủ quan, bản lĩnh nghệ thuật của các tác giả chưa thật “tinh luyện” Mặt khác do trình độ ngôn ngữ, chữ viết cũng như văn học nghệ thuật nói chung còn nhiều hạn chế, trình độ dân trí chưa cao nên văn chương của họ cũng khó đạt đến đỉnh cao nghệ thuật
Trang 40Bắt đầu từ Nguyễn Trọng Quản với Thầy Lazarô Phiền, Hồ Biểu Chánh với
hàng loạt tiểu thuyết mang đậm sắc thái Nam bộ, Tản Đà với những tác phẩm vừa hiện thực vừa lãng mạn, Lê Hoằng Mưu, Phú Đức, Đặng Trần Phất, Bửu Đình, Hoàng Ngọc Phách đội ngũ các tiểu thuyết gia đông đảo đó là những người đi tiên phong tìm những hướng đi cho tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ Những gì họ tìm được
đã tạo tiền đề cho thế hệ các tiểu thuyết gia xuất hiện sau năm 1932 đưa tiểu thuyết Việt Nam đến một bước phát triển rực rỡ trên con đường hiện đại hóa
III Nhà văn Hồ Biểu Chánh qua những chặng đường sáng tác
Hồ Biểu Chánh tên thật là Hồ Văn Trung, ông còn có bút danh là Thứ Tiên Ông sinh ngày 1 - 10 - 1885 (năm Ất Dậu) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông - tỉnh Tiền Giang) Ông qua đời ngày 14 - 11 - 1958 (nhằm ngày 23 - 9 năm Mậu Tuất) tại tư thất ở Phú Nhuận, hưởng thọ 74 tuổi Ông được an táng tại Biểu Chánh An Tức viên ở xã Thông Tây Hội, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định
Hồ Biểu Chánh được sinh ra trong lúc nền văn học Việt Nam đang đi những bước đầu tiên trong quá trình hiện đại hoá văn học Vì vậy sự nghiệp văn chương của ông là những đóng góp rất lớn cho quá trình đổi mới văn học
1 Những đóng góp về phương diện sáng tác
Hồ Biểu Chánh sinh ra và lớn lên giữa lúc xã hội Việt Nam tiếp thu nền văn minh Phương Tây do người Pháp mang lại Ông là trí thức thuộc thế hệ vừa hấp thu nền giáo dục tân học, vừa am tường cổ học truyền thống Cũng như những nhà văn cùng thời, Hồ Biểu Chánh bắt đầu sự nghiệp văn chương bằng hoạt động dịch thuật Giữa lúc ở Nam kỳ người ta đua nhau dịch truyện Tàu, Hồ Biểu Chánh cũng chọn
những truyện hay trong Tình sử, Kim cổ kỳ quan, Kim cổ kỳ văn dịch sang tiếng Việt Kết qủa việc học và tập dịch chữ Hán của ông là cuốn Tân soạn cổ tích ra đời năm
1909 Mặt khác, ông cũng bước đầu quan tâm đến việc dịch tác phẩm văn học Pháp
Bản dịch Lửa ngúng thình lình (dịch, 1922) là thể nghiệm đầu tiên