26 CHƯƠNG 1 VĂN XUÔI KHÁI HƯNG TRONG TỰ LỰC VĂN ĐOÀN VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU TIỂU THUYẾT, TRUYỆN NGẮN CỦA ÔNG TỪ GÓC NHÌN TRẦN THUẬT ..... Luận án này, tuy chỉ nghiên cứu một phương diện tron
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tp.HCM, ngày 28 tháng 2 năm 2016 Tác giả luận án
Nguyễn Đăng Vy
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ, SO SÁNH 6
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
3.1 Về việc đánh giá sự đóng góp của nhóm Tự lực văn đoàn đối với tiến trình phát triển của văn học dân tộc 8
3.2 Việc nghiên cứu, đánh giá văn xuôi nghệ thuật Khái Hưng trong bối cảnh TLVĐ 10
3.2.1 Trước năm 1945 10
3.2.2 Từ năm 1945 đến năm 1985 11
3.2.3 Từ năm 1986 đến năm 2014 14
3.3 Về đặc điểm nổi bật của truyện ngắn, tiểu thuyết Khái Hưng từ góc nhìn trần thuật 21
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 24
5 Phương pháp nghiên cứu 25
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 26
7 Đóng góp mới của đề tài 26
8 Cấu trúc của luận án 26
CHƯƠNG 1 VĂN XUÔI KHÁI HƯNG TRONG TỰ LỰC VĂN ĐOÀN VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU TIỂU THUYẾT, TRUYỆN NGẮN CỦA ÔNG TỪ GÓC NHÌN TRẦN THUẬT 28
Trang 51.1 Nhìn chung về tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng trong bối cảnh văn xuôi Tự
lực văn đoàn 28
1.1.1 Trước tác của Khái Hưng – một sự nghiệp phong phú, đa dạng 28
1.1.2 Những thăng trầm, khác biệt trong tiếp nhận văn chương Tự lực văn đoàn và văn chương của Khái Hưng 36
1.2 Vấn đề nghiên cứu nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng dưới ánh sáng của lý thuyết tự sự học 51
1.2.1 Trần thuật học và việc ứng dụng trần thuật học vào nghiên cứu truyện ngắn, tiểu thuyết hiện đại Việt Nam 51
1.2.2 Giới hạn về thành tựu nghiên cứu nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng và sự cần thiết khơi mở những hướng đi mới 54
1.3 Lý thuyết tự sự học trong nghiên cứu tiểu thuyết và hướng tiếp cận loại hình hóa mô thức trần thuật trong tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng – những ứng dụng và giới hạn 58
1.3.1 Nguyên nhân của sự bất cập trong nghiên cứu loại hình tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 58
1.3.2 Nguyên tắc phân loại của phương pháp nghiên cứu loại hình 61
1.3.3 Loại hình hóa mô thức trần thuật trong nghiên cứu tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng 66
TIỂU KẾT 67
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT, TRUYỆN NGẮN KHÁI HƯNG NHÌN TỪ MÔ THỨC TRẦN THUẬT 69
2.1 Mô thức và mô thức trần thuật trong tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng từ cái nhìn loại hình hóa 69
2.1.1 Nghiên cứu loại hình và loại hình hóa mô thức trần thuật trong tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng 69
2.1.2 Các mô thức trần thuật cơ bản trong tiểu thuyết của Khái Hưng 73
2.1.2.1 Mô thức Tiền luận đề (“Tiểu thuyết tình cảm và lý tưởng”) 76
2.1.2.2 Mô thức Luận đề (“tiểu thuyết tục lụy và hành động”) 78
2.1.2.3 Mô thức Hậu luận đề (“Tiểu thuyết tâm lý”) 83
2.1.3 Các mô thức trần thuật chủ yếu trong truyện ngắn của Khái Hưng 97
Trang 62.1.3.1 Truyện ngắn thiên về khuynh hướng luận đề 97
2.1.3.2 Truyện ngắn thiên về khuynh hướng phân tích xã hội 99
2.1.3.3 Truyện ngắn thiên về khuynh hướng phân tích tâm lý 100
2.1.3.4 Truyện ngắn có khuynh hướng hỗn hợp 101
2.2 Dấu ấn cái tôi tác giả trong tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng qua mô thức trần thuật 102
2.2.1 Người kể chuyện và cái tôi tác giả 102
2.2.1.1 Người kể chuyện 102
2.2.1.2 Cái tôi tác giả 106
2.2.1.3 Hình tượng người kể chuyện và cái tôi tác giả trong tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng 107
2.2.2 Dấu ấn của cái tôi tác giả trong tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng 107
2.2.2.1 Dấu ấn của cái tôi tác giả qua những nhân vật lý tưởng 108
2.2.2.2 Dấu ấn của cái tôi tác giả qua thế giới nghệ thuật quen thuộc 111
2.2.2.3 Dấu ấn của cái tôi tác giả thể hiện qua xu hướng tư tưởng và xu hướng nghệ thuật 118
TIỂU KẾT 121
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT, TRUYỆN NGẮN KHÁI HƯNG NHÌN TỪ PHONG CÁCH KIẾN TẠO DIỄN NGÔN TRẦN THUẬT 123
3.1 Phong cách kiến tạo diễn ngôn theo mô thức trần thuật trong tiểu thuyết, truyện ngắn của Khái Hưng 123
3.1.1 Diễn ngôn trần thuật và việc nghiên cứu diễn ngôn trần thuật trong tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng 123
3.1.1.1 Diễn ngôn trần thuật – “tấm thảm ngôn từ” 123
3.1.1.2 Về việc nghiên cứu diễn ngôn trần thuật trong tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng 125
3.1.2 Mấy đặc điểm nổi bật của diễn ngôn trần thuật trong tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng 125
3.1.2.1 Xu hướng phong cách hóa diễn ngôn của người kể chuyện 127
3.1.2.2 Coi trọng vị thế của đối thoại, độc thoại và phát huy chức năng giao tiếp, trần thuật cho diễn ngôn của nhân vật 131
Trang 73.1.2.3 Tạo tương tác thẩm mĩ và hòa phối tự nhiên giữa các thành phần, đơn vị
diễn ngôn trong cấu trúc trần thuật 144
3.1.2.4 Tiết tấu, nhịp điệu trần thuật linh hoạt, hợp lý trong dòng chảy ngôn từ hay mạch vận động của diễn ngôn 149
3.1.2.5 Tạo độ “căng”, “chùng” tự nhiên, phù hợp với yêu cầu trần thuật 151
3.2 Từ mô thức trần thuật đến cách lựa chọn, tổ chức các lớp diễn ngôn tự sự trong tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng 156
3.2.1 Mô thức trần thuật và việc tổ chức diễn ngôn của người kể chuyện trong tiểu thuyết, truyện ngắn của Khái Hưng 156
3.2.1.1 Lời kể trong diễn ngôn của người kể chuyện 157
3.2.1.2 Lời miêu tả trong diễn ngôn của người kể chuyện 161
3.2.1.3 Lời bình luận, phân tích và trữ tình ngoại đề trong diễn ngôn của người kể chuyện 166
3.2.2 Mô thức trần thuật và việc tổ chức diễn ngôn của nhân vật trong tiểu thuyết, truyện ngắn của Khái Hưng 169
3.2.2.1 Đối thoại và tần suất diễn ngôn đối thoại theo mô thức 169
3.2.2.2 Độc thoại và tần suất diễn ngôn độc thoại theo các mô thức trần thuật 173
3.2.2.3 Những tương tác trong sự điều phối, chia tách diễn ngôn theo chủ ý của tác giả - người kể chuyện 173
TIỂU KẾT 179
KẾT LUẬN 180
DANH MỤC NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 184
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 185
PHỤ LỤC 214
PHỤ LỤC 1: DANH MỤC CÁC TÁC PHẨM TIỂU THUYẾT, TRUYỆN NGẮN, KỊCH, TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI VÀ TÁC PHẨM DỊCH CỦA KHÁI HƯNG 214
PHỤ LỤC 2: TÓM TẮT MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA KHÁI HƯNG 221
PHỤ LỤC 3: HÌNH ẢNH BÌA SÁCH ĐÃ XUẤT BẢN CỦA KHÁI HƯNG 239
(TỪ NĂM 1959 TRỞ VỀ TRƯỚC) 239
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ, SO SÁNH
Bảng 2.1 Lược đồ các mô thức trần thuật trong tiểu thuyết Khái Hưng 87
Bảng 2.2 Tần suất độc thoại, miêu tả và phân tích, tự phân tích tâm lý trong tiểu thuyết của Khái Hưng theo mô thức trần thuật 93
Bảng 2.3 Sơ đồ dịch chuyển điểm nhìn trong Băn khoăn của Khái Hưng 95
Bảng 3.1 Tần suất độc thoại, miêu tả, phân tích tâm lý trong tiểu thuyết 130
Bảng 3.2 Tần suất đối thoại trong Hồn bướm mơ tiên (Khái Hưng) 133
Bảng 3.3 Tần suất đối thoại trong Thừa Tự (Khái Hưng) 134
Bảng 3.4 Tần suất đối thoại trong Băn khoăn (Khái Hưng) 135
Bảng 3.5 Tổng hợp số liệu khảo sát đối thoại, tần suất đối thoại trong tiểu thuyết Khái Hưng (Theo mô thức trần thuật) 136
Bảng 3.6 Tần suất đối thoại trong truyện ngắn Khái Hưng 137
Bảng 3.7 Tần suất đối thoại trong truyện ngắn Nhất Linh 138
Bảng 3.8 Tần suất miêu tả, độc thoại trong Băn khoăn (Khái Hưng) 158
Bảng 3.9 So sánh tần suất đối thoại trong tiểu thuyết 160
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ khi xuất hiện đến nay, sáng tác văn học Tự lực văn đoàn (TLVĐ) trong
đó có sáng tác của Khái Hưng đã thu hút sự quan tâm của giới phê bình và độc giả
Ý kiến về văn xuôi TLVĐ và về Khái Hưng, tùy từng thời điểm, thiên về khen hay chê, phủ nhận hay khẳng định, tất thảy đều cho thấy đánh giá sự nghiệp văn chương của ông không hề đơn giản Thời gian trôi qua, dường như khoảng cách đã đủ để cân nhắc thẩm định đầy đủ hơn, sáng tác của TLVĐ và Khái Hưng là một trong nhiều hiện tượng văn học được nhìn nhận lại trong những năm gần đây Trên tinh
thần đổi mới, giờ đây là lúc cần có sự đánh giá khách quan khoa học để trả lại giá trị đích thực vốn có của các hiện tượng văn học ấy trong đó có sáng tác của Khái Hưng, và TLVĐ
Nghiên cứu sáng tác của ông, các nhà nghiên cứu đã chú ý nhiều đến tiểu thuyết, và gần đây, truyện ngắn Điều đó là đúng và cần thiết, song vẫn chưa đủ Sáng tác của Khái Hưng cùng các văn hữu của ông đã được quan tâm nghiên cứu
gần một thế kỉ qua, đến mức tưởng như mọi chuyện đã cạn kiệt Tuy nhiên, mọi chuyện không đơn giản như vậy Đứng trước một hiện tượng văn học, mỗi thời đại
sẽ có những cách đọc riêng khác, bổ sung vào những cách đọc đã có trước đó, và
nhờ vậy sẽ khám phá thêm những giá trị mới Trên tinh thần đó, đã đến lúc các nhà nghiên cứu cần phải “đọc lại”, “đánh giá lại”, “định vị” tiểu thuyết truyện ngắn của Khái Hưng và văn xuôi TLVĐ theo những hướng tiếp cận hiện đại và thỏa đáng hơn
Một trong những hướng tiếp cận có triển vọng là ứng dụng nghiên cứu loại hình từ lý thuyết tự sự học Theo hướng đó, chúng tôi chọn đề tài: “Tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng từ góc nhìn trần thuật” để thực hiện luận án tiến sĩ Ngữ
văn
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu “Tiểu thuyết truyện ngắn Khái Hưng từ góc nhìn trần thuật”,
luận án hướng tới các mục đích sau:
Trang 10- Định vị tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng trong văn xuôi TLVĐ, tổng thuật về quá trình nghiên cứu văn xuôi Khái Hưng trong TLVĐ, cũng như giới hạn
của việc nghiên cứu ấy Từ đó, đề xuất hướng tiếp cận đặc điểm, phong cách sáng tác văn xuôi tự sự của Khái Hưng theo hướng loại hình hóa mô thức trần thuật
- Mô tả đặc điểm tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng theo thể tài và các mô
thức trần thuật chủ yếu; chỉ ra một số nét phong cách nghệ thuật của ông từ góc nhìn trần thuật (chủ yếu qua cách kiến tạo và tổ chức diễn ngôn trần thuật)
- Khẳng định vị trí, đóng góp của Khái Hưng đối với sự phát triển văn xuôi TLVĐ nói riêng và của văn xuôi Việt Nam hiện đại trước 1945 nói chung
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn xuôi nghệ thuật của Khái Hưng nói riêng và của Tự lực văn đoàn (TLVĐ) nói chung, trong vòng 80 năm qua đã có một bề dày nghiên cứu với nhiều thành tựu Luận án này, tuy chỉ nghiên cứu một phương diện trong tiểu thuyết truyện ngắn Khái Hưng – phương diện trần thuật – nhưng vì xem sáng tác của Khái Hưng là một tiểu hệ thống trong một hệ thống lớn hơn là văn xuôi nghệ thuật TLVĐ, vậy nên, tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề trần thuật trong tiểu thuyết truyện ngắn Khái Hưng không thể không quan tâm đến việc nghiên cứu đánh giá sáng tác của ông trên bình diện thể nghiệm, đóng góp về thể loại, cũng không thể không đặt trong bối cảnh văn xuôi TLVĐ Sau đây là một số vấn đề liên quan
3.1 Về việc đánh giá sự đóng góp của nhóm Tự lực văn đoàn đối với tiến trình phát triển của văn học dân tộc
Đương thời, hoạt động văn học của TLVĐ gây được tiếng vang lớn trong dư luận xã hội và đời sống văn học, tuy vậy đóng góp của TLVĐ vẫn chưa chính thức được giới nghiên cứu phê bình đặt vấn đề đánh giá đầy đủ, nghiêm túc
Cuối thập niên 30 đến đầu thập niên 40, có thể kể đến bài viết về nhà văn TLVĐ của các tác giả: Trương Tửu, Đức Phiên, Trần Thanh Mại, Hà Văn Tiếp, Nguyễn Lương Ngọc, Vũ Ngọc Phan, Trương Chính,…
Sau hòa bình năm 1954 vài năm, vào năm 1957, nhận ra tính chất hạn chế,
chủ quan, thậm chí cực đoan trong cách tiếp cận xã hội học có phần dung tục khi
đánh giá công và tội của bộ phận văn học công khai trước Cách mạng tháng Tám
Trang 111945, trong đó có sáng tác của các nhà văn lãng mạn trong TLVĐ (như Khái Hưng,
Nhất Linh), Trường Chinh đã phát biểu ý kiến gợi nhắc như sau:
“Ngoài một số tác phẩm kể trên (Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, thơ Tố Hữu) các nhà phê bình của ta còn tránh nói đến những tác phẩm lãng mạn, vì chưa biết đánh giá thế nào cho đúng Có khuynh hướng gạt bỏ chung những xu hướng lãng mạn ngày trước, coi tất cả đều là
sa đọa, thoát ly Cần nhận rõ rằng văn nghệ cách mạng của chúng ta là kẻ thừa kế
tất cả những giá trị văn nghệ do các thời trước tạo ra và truyền lại cho đến ngày nay Chúng ta có nhiệm vụ giữ gìn và phát triển tất cả di sản của dân tộc và cũng chỉ có chúng ta mới có thể làm nổi công việc đó (…) Đối với trào lưu văn học lãng mạn, chúng ta không nên mạt sát và vơ đũa cả nắm…” [26]
Ông còn gợi ý trong văn học lãng mạn, bên cạnh những mặt tiêu cực, còn có
“nỗi đau khổ của người dân mất nước, sự quằn quại của tâm hồn bị bóp nghẹt, lòng khao khát một cuộc sống chân thật và tự do (…) Việc uốn nắn lại những thái độ hẹp hòi máy móc đối với những giá trị văn nghệ cũ không những có tác dụng sửa
chữa thái độ bất công đối với nhiều tác phẩm mà còn có tác dụng mở rộng con đường cho sáng tác văn nghệ hiện thời” [26]
Hơn một thập niên sau, khi ở miền Bắc, các sáng tác của Nhất Linh, Khái Hưng và TLVĐ cùng với trào lưu văn học lãng mạn bị xem là chứa nhiều “nọc độc”, “bạc nhược, suy đồi”, thì ở miền Nam, Hiếu Chân, trên Tạp chí Văn số 156, năm 1970, đã khẳng định động cơ yêu nước, ý thức dân tộc của Nhất Linh, Khái Hưng và các cộng sự khi thành lập TLVĐ và điều hành hoạt động của tổ chức này:
“Nhất Linh, Khái Hưng có nhiều mặt đồng điệu và tâm đắc Đi Pháp về, Nhất Linh
gặp Khái Hưng Hai người cùng có một nguyện vọng là làm sao đóng góp vào sự phát triển văn hóa dân tộc Họ muốn bảo vệ di sản văn hóa dân tộc (…) Nhất Linh
và Khái Hưng đều có thể ra làm quan nhưng họ không thích cuộc đời quan trường
Họ thích tự do Họ có hoài bão này từ hồi còn đi học Đó là biểu hiện của lòng yêu nước, và họ đã biểu hiện lòng yêu nước qua hành động của họ Tất nhiên là nó rất hạn chế và không nhất quán” [24]
Trang 12Về vai trò hiện đại hóa văn học của TLVĐ, giáo sư Hoàng Xuân Hãn cũng
đã có lần khẳng định: “Nhóm Tự lực văn đoàn không phải là nhóm duy nhất nhưng
là nhóm quan trọng nhất và là nhóm cải cách đầu tiên của nền văn học hiện đại” [114, tr.74]
Nhìn chung, từ 1954 đến 1975 ý kiến đánh giá về TLVĐ ở miền Nam và
miền Bắc có nhiều điểm khác nhau Ở miền Nam có: Thanh Lãng, Thế Phong, Phạm Thế Ngũ, Doãn Quốc Sỹ, Bùi Xuân Bào, Lê Hữu Mục, Nguyễn Văn Xung, Đặng Tiến, Nguyễn Văn Trung, Dương Nghiễm Mậu, Thế Uyên, Nguyễn Vỹ, Nguyễn Thị Thế, Bằng Phong,… Xu hướng chung là đánh giá cao đóng góp của TLVĐ Ở miền Bắc, có thể kể đến công trình bài viết của các tác giả: Nguyễn Đức Đàn, Vũ Đức Phúc, Nam Mộc, Phan Cự Đệ - Bạch Năng Thi… với nhiều bài viết phê phán TLVĐ khá nặng nề
Sau 1975, nhất là từ 1986 trở đi, việc đánh giá văn đoàn này càng ngày càng
thỏa đáng, đúng mực hơn, kể cả một số nhà phê bình trước đây đã từng đánh giá khắt khe Các nhà nghiên cứu phê bình văn học viết về TLVĐ khá đông đảo: Hoàng Xuân Hãn, Trương Chính, Trần Đình Hượu, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Đăng
Mạnh, Nguyễn Hoành Khung, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Trương Chính, Phong
Lê, Lê Đình Kỵ, Nguyễn Hoành Khung, Trịnh Bá Đĩnh, Vương Trí Nhàn, Trần
Hữu Tá, Nguyễn Trác, Đái Xuân Ninh, Lê Thị Đức Hạnh, Đỗ Đức Hiểu, Lê Thị
Dục Tú, Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Cừ, Nguyễn Văn Xung, Thanh Lãng, Trần Thị Mai Nhi, Nguyễn Hữu Hiếu,… Ở đây, có một sự vận động trong nhận thức đánh giá về văn đoàn
3.2 Việc nghiên cứu, đánh giá văn xuôi nghệ thuật Khái Hưng trong bối cảnh TLVĐ
Trang 13sách của Nhất Linh, Trương Tửu, Đức Phiên, Trần Thanh Mại, Thái Phỉ, Lê Thanh,
Hồng Điều, Cung Giũ Nguyên, Mai Xuân Nhàn, cũng được giới thiệu trên nhiều
tờ báo đương thời: Loa, Sông Hương, Phụ nữ thời đàm, Ngọ báo, Nhật Tân, Ích Hữu,
Sáng tác tiểu thuyết, truyện ngắn của Khái Hưng vào cuối những năm 1930
sớm trở thành đối tượng nghiên cứu trong các công trình của Trương Chính (1939,
Dưới mắt tôi), Vũ Ngọc Phan (1942, Nhà văn hiện đại), Dương Quảng Hàm (1960,
Vi ệt Nam văn học sử giản yếu, Bộ giáo dục quốc gia xuất bản, Hà Nội), Trong các
công trình này, Khái Hưng thường được xem là một tiểu thuyết gia tài hoa, người
mở đầu cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Nhiều danh xưng đáng tự hào được gắn vào tên ông: nhà văn “có một cách tả người, tả cảnh tuy xác thực mà có một vẻ nhẹ nhàng, thanh tú, khiến cho người đọc thấy cảm" [111, tr.447], nhà tiểu thuyết có lối
viết “trẻ trung, vui vẻ, người trong truyện của ông yêu đời, ham sống [31, tr.197]; là người có “thiên bẩm viết tiểu thuyết” hay “người đầu tiên biết viết tiểu thuyết trong lịch sử cực thịnh của văn chương Việt Nam ở giai đoạn đầu” [307, tr.46,47]
3.2.2 Từ năm 1945 đến năm 1985
Do những đặc điểm riêng về bối cảnh văn hóa, xã hội, ở hai miền Nam - Bắc
có cách nghiên cứu, đánh giá tác phẩm TLVĐ với những cái nhìn khác nhau
Ở miền Nam:
Đồng thời với việc tái bản với số lượng lớn, đưa vào chương trình giáo dục phổ thông, đại học, tác phẩm của Khái Hưng được giới phê bình khảo sát, đánh giá khá kĩ lưỡng
Trong nhà trường, rộ lên một phong trào phê bình giáo khoa với các ấn bản
về Khái Hưng và TLVĐ: “Luận đề về Khái Hưng” (Nguyễn Duy Diễn và Bằng Phong”; “Bình giảng về Tự lực văn đoàn” (Nguyễn Văn Xung); “Khảo luận về Khái Hưng” (Lê Hữu Mục); “Luận đề về Khái Hưng” (Nguyễn Bá Lương và Tạ Văn Ru”; “Việt văn giản dị” (Lữ Hồ); Việc nghiên cứu tiểu thuyết Khái Hưng còn được thực hiện dưới dạng các chuyên luận, khảo cứu chuyên sâu hay đề cập đến trong các công trình quan trọng của Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Văn Trung, Thanh Lãng, Thế Phong, Trần Triệu Luật, Nguyễn Văn Xuân, Huỳnh Phan Anh, Tràng
Trang 14Thiên, Võ Hồng, Phạm Thế Ngũ, Dương Nghiễm Mậu, Đặng Phùng Quân, Đào Trương Phúc, Vũ Hạnh,
Đáng chú ý là văn chương Khái Hưng thường được đánh giá cao trong các
bộ lịch sử văn học như “Việt Nam văn học sử giản ước tân biên” (tập 3) của Phạm
Thế Ngũ; “Lược sử văn nghệ Việt Nam - Nhà văn tiền chiến 1932 – 1945”, của Thế Phong,…
Ngày nay, đọc lại những ý kiến trên, bên cạnh phần đúng chúng ta cũng thấy
có phần nào phiến diện, thái quá
Ở miền Bắc:
Các tác phẩm của Khái Hưng và TLVĐ trong một thời gian dài bị cấm lưu hành
Năm 1957, khi “Tiêu Sơn tráng sĩ” được tái bản, một cuộc tranh luận sôi nổi
đã nổ ra với loạt bài của Trương Chính, Vĩnh Mai, Nguyên Hồng, Trần Thanh Mại, Nguyễn Văn Phú, Trần Tín, Lê Long, Trần Chân Dung viết tranh luận (trên Văn nghệ Quân đội, Độc lập, Tổ quốc, Tuần báo Văn)
Cuối những năm 50, đầu những năm 60 thế kỷ trước, tiểu thuyết của Khái Hưng và TLVĐ cũng được đưa vào giáo trình văn học ở miền Bắc, trong “Lược thảo Lịch sử Văn học Việt Nam”, (tập 3, nhóm Lê Quí Đôn, Nxb Xây dựng, 1957),
“Văn học Việt Nam 1930 – 1945” (Bạch Năng Thi - Phan Cự Đệ, Nxb Giáo dục Hà
Nội, 1961), “Sơ thảo lịch sử Văn học Việt Nam 1930 – 1945” (Viện Văn học, NXB Văn hóa, 1964), “Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại (1930 - 1945)” (Vũ Đức Phúc, NXB KHXH, HN, 1971),
Nhìn chung, trong một thời điểm, hoàn cảnh lịch sử nhất định, các nhà nghiên cứu đánh giá TLVĐ có thể đã quá nhấn mạnh đến chức năng giáo dục của văn học, hoặc có thể vì sự vận dụng quan điểm chính trị, quan điểm giai cấp một cách máy móc, giáo điều vào nghiên cứu văn học, nên dẫu không phải tất cả, một số đánh giá có phần quá nghiêm khắc, với nhiều định kiến nặng nề Những đóng góp
của nhà văn không được đánh giá khách quan, những thiếu sót, hạn chế lại bị quá nhấn mạnh Tuy nhiên, văn chương của Khái Hưng nói riêng, văn chương TLVĐ nói chung được ghi nhận bước đầu về tiếng nói chống phong kiến, về những cách
Trang 15tân trong nghệ thuật tiểu thuyết và ngôn ngữ Nhưng nhìn chung, tiểu thuyết của Khái Hưng, cũng như TLVĐ thường được hiểu là: tiêu cực, có hại, bạc nhược, suy
đồi và có tính chất phản động, có nhiều nọc độc Chẳng hạn cuốn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam viết: “Trong những tác phẩm được xuất bản từ 1936 đến 1943,
tuy vẫn có một số yếu tố tốt như chống quan lại phong kiến trong gia đình, phản ánh
sự ti tiện của những con người đặt đồng tiền lên trên hết cả, phê phán một số địa chủ tham lam, ngu dốt, nhưng những mặt tiêu cực trong tư tưởng, tình cảm của
Khái Hưng phát triển mạnh hơn Tiêu Sơn tráng sĩ ( ), ca ngợi bọn người phục vụ
cho một chế độ suy tàn, không hề nghĩ tới nhân dân ( ) Trống Mái tô vẽ lối sống
của tư sản ( ) Chủ nghĩa cải lương phản động biểu hiện rõ rệt nhất trong Gia đình
Ở đây tác giả muốn địa chủ là những người vừa có học, vừa rộng rãi, muốn cải thiện đời sống cho dân nghèo ” [90, tr.87] Ngay cuốn “Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam”, bên cạnh phần đánh giá tương đối khách quan, cũng cho rằng: Chỉ hiềm một điều ông ít chú ý đến xã hội, đến những vấn đề mấu chốt của xã hội, chỉ quanh quẩn với những người trong giai cấp của mình, với một nhân sinh quan đặc tiểu tư sản Cho nên nội dung tư tưởng của ông rất nghèo nàn [88, tr.337]
Thiên hướng xã hội học cực đoan đề cao nội dung hiện thực trong các giáo trình chuyên khảo này là rất rõ
Ở miền Nam 1954 - 1975:
Theo số liệu tổng hợp của Phan Mạnh Hùng, trong bài Thư mục nghiên cứu,
phê bình T ự lực văn đoàn và Thơ mới [138, tr.493], ở miền Nam có khoảng 102 bài
viết, công trình tìm hiểu về văn xuôi TLVĐ, trong đó viết riêng về Nhất Linh: 30 bài, riêng về Khái Hưng: 18 bài
Bàn về Khái Hưng, có các bài nghiên cứu khá công tâm của: Phạm Thế Ngũ,
Trần Cao Sơn, Nguyễn Văn Trung, Lê Hữu Mục, Thanh Lãng, Bàng Bá Lân, Hoàng Trọng Miên, Phạm Văn Diêu, Bằng Phong, Nguyễn Văn Xung, Doãn Quốc Sĩ…
Tiêu biểu, Bằng Phong, trong Luận đề Khái Hưng, (Bằng Phong, Luận đề Khái Hưng, Nxb Á Châu, Sài Gòn, 1958, trang 35), đã viết: “Khuynh hướng xã hội
của Khái Hưng không có tính cách bao quát toàn diện như một tư tưởng xã hội mà
Trang 16chỉ nhắm vào một vài đề mục hệ yếu về phong tục, tập quán của xã hội thời đại mà thôi Ông đã đặt ra những vấn đề trung đại về “gia đình”, về “hôn nhân”, về “thừa
tự”… với tất cả những mâu thuẫn, xung đột thực sự của nó trong xã hội và đưa ra những giải quyết hoàn toàn cá biệt.”
Trong cuốn Văn chương Tự lực văn đoàn, Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Cừ
(giới thiệu và tuyển chọn), 3 tập, Nxb Giáo dục, (1999), Nguyễn Văn Xung đã có những cố gắng sắp xếp, phân chia tiểu thuyết Khái Hưng làm 3 loại: tiểu thuyết lịch
sử: Tiêu Sơn tráng sĩ; tiểu thuyết luận đề: Gia đình, Thoát ly, Thừa tự, Nửa chừng xuân; tiểu thuyết ý tưởng: Đẹp, Trống Mái, Hạnh
Theo một tiêu chí khác với Nguyễn Văn Xung, nhà nghiên cứu Thanh Lãng trong cuốn Văn học Việt Nam, Lê Thị Cẩm Hoa, Tập 1, ĐHTH thành phố HCM,
(1989), trang 707, đã xếp các tác phẩm của Khái Hưng vào những nhóm ý hướng
sau: Ý hướng thơ thi vị: Hồn bướm mơ tiên, Đẹp, Trống Mái; Ý hướng tình cảm: Trống Mái, Thừa tự, Gia đình, Đẹp, Băn khoăn, Hạnh; Ý hướng đấu tranh: Nửa chừng xuân, Thoát ly; Ý hướng lịch sử: Tiêu Sơn tráng sĩ
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục cách nhìn và cách đánh giá như
chặng trước 1954, chỉ khác là các ý kiến phong phú chuyên sâu hơn và tính khác biệt rõ hơn
3.2.3 Từ năm 1986 đến năm 2014
Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), cùng với tiến trình đổi mới của đất nước, sáng tác, xuất bản, lý luận phê bình văn học cũng từng bước có sự đổi mới
Do căn bệnh ấu trĩ khá phổ biến một thời được khắc phục từng bước, do vận dụng
lý luận, quan điểm Mác xít vào nghiên cứu văn học ngày càng nhuần nhuyễn, thông thoáng, chuẩn xác hơn nên việc nghiên cứu TLVĐ nói chung và tiểu thuyết của Khái Hưng nói riêng đã thay đổi rõ rệt Tiểu thuyết của nhà văn này đã được tái bản qua “Tuyển tập văn xuôi lãng mạn Việt Nam”, “Tổng tập văn học Việt Nam” (tập
27 và 28), “Văn chương Tự lực văn đoàn” hoặc tái bản riêng lẻ Và cho đến nay,
hầu như toàn bộ tiểu thuyết của Khái Hưng đã được tái bản Thậm chí, nhiều cuốn được tái bản nhiều lần với số lượng lớn.Trong nhà trường, cùng với văn chương
Trang 17lãng mạn Việt Nam, tiểu thuyết của Khái Hưng cũng được đưa vào giảng dạy Ở khu vực nghiên cứu phê bình, có thể hình dung những sự kiện lớn:
Trước hết, cùng với một số cuộc hội thảo về văn học 1930 - 1945 nói chung,
về văn học lãng mạn và văn chương TLVĐ nói riêng, có ít nhất 04 cuộc hội thảo khoa học quan trọng về TLVĐ (trong đó có 03 hội thảo được tổ chức trong nước và
01 hội thảo tổ chức ở nước ngoài) đã đánh dấu những bước chuyển và thành tựu quan trọng trong nghiên cứu các đối tượng này
Loạt bài tham luận khoa học trong và sau hội thảo về Tự lực văn đoàn tại Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ngày 27-5-1989 (một số tham
luận đăng trên Giáo viên nhân dân, số đặc biệt 27, 28, 29, 30, 31, tháng 7-1989),
“Hội thảo Tự lực văn đoàn” ở Cẩm Giàng (Hải Dương) ngày 9-5-2008, Hội thảo
“Phong trào Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn – 80 năm nhìn lại”, tại Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh vào ngày 20-10-2012 và, “Triển lãm và hội thảo về báo Phong hóa, Ngày nay và Tự lực văn đoàn”, tại tòa soạn nhật báo Người Việt, Little Saigon, Nam California, vào hai ngày 6,7-7-2013 đã mang lại nhiều nội dung luận điểm khoa học có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu TLVĐ nói chung, sáng tác của Khái Hưng nói riêng
Hội thảo khoa học về văn chương Tự lực văn đoàn ngày 27-5-1989, do khoa
Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp phối hợp tổ chức, đã đánh dấu một bước quan trọng trong tiến trình nhìn nhận lại văn chương TLVĐ Các nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Trương Chính, Phong Lê, Lê Đình Kỵ, Nguyễn Hoành Khung, mà trong đó có người đã từng có nhiều bài viết về Văn chương lãng mạn, thì đến nay cũng có sự điều chỉnh và bổ sung nhiều ý kiến mới, với những cách tiếp cận mới Trong cuộc
hội thảo có cả các nhà văn, nhà thơ và rất đáng chú ý là ý kiến đúng đắn, sâu sắc của nhà thơ Huy Cận: “Ta đã có đủ thời gian để đánh giá Tự lực văn đoàn Có thể nói Tự lực văn đoàn đã đóng góp lớn vào văn học sử Việt Nam Họ có hoài bão về văn hoá dân tộc Họ có điều kiện nhưng không thích con đường làm quan, làm giầu
mà đi vào chuyện văn chương Đáng phê phán ở Tự lực văn đoàn cũng như ở Nhất Linh, Khái Hưng là chặng cuối đời Nhưng cũng đừng vì lăng kính đó mà đánh giá
Trang 18sai họ Lúc đầu họ có lòng yêu nước thực sự nhưng vì chọn nhầm đường và cuối cùng là phản động Tự lực văn đoàn đã có đóng góp lớn vào nghệ thuật tiểu thuyết, vào tính hiện đại của tiểu thuyết, đóng góp vào tiếng nói và câu văn của dân tộc với lối văn trong sáng và Việt Nam” [375, tr.61] Nhiều tác giả tập trung khẳng định lại vai trò, vị trí của văn chương TLVĐ trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học dân
tộc những năm ba mươi của thế kỷ trước Đúng như đánh giá của Hà Minh Đức:
“Với tinh thần đổi mới, khoa học và cởi mở, với ý thức công bằng và tránh định
kiến, đứng trên quan điểm lịch sử cuộc hội thảo về Tự lực văn đoàn đã có nhiều ý kiến đánh giá có lý, có tình và thỏa đáng về hiện tượng văn học phong phú và phức
tạp này” [70]
Hội thảo về TLVĐ ở Cẩm Giàng – địa danh từng là cái nôi tuổi ấu thơ êm đềm, tuổi trẻ hăm hở, sôi nổi của anh em nhà Nguyễn Tường – có một số báo cáo khoa học đáng lưu ý, mà điểm nhấn quan trọng trong nội dung hội thảo, đúng như
nhan đề tham luận của Nguyễn Huệ Chi: Thử định vị Tự lực văn đoàn Trên thực tế
kết quả của hội thảo này là đã góp phần đáng kể vào việc không dễ: “định vị” TLVĐ
Hội thảo “Phong trào Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn – 80 năm nhìn lại” được tổ chức tại trường Đại học Sư Phạm TP.HCM, năm 2012, với ấn phẩm
“Nhìn lại Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn” hơn 500 trang, với 51 bài báo khoa học, trong đó có 16 bài bàn riêng về văn xuôi TLVĐ (chưa kể các bài bàn về các vấn đề chung của văn đoàn này) Nội dung các bài báo trong hội thảo này xoay quanh ba nhóm chủ đề: 1) các vấn đề liên quan đến hoạt động, sáng tác văn học chung của nhóm; 2) các vấn đề liên quan đến tác phẩm, tác giả; 3) các vấn đề liên quan đến vị thế và việc tiếp nhận văn chương TLVĐ Kết quả nhiên cứu công bố trong hội thảo này dù từ nhóm nội dung nào cũng đều giúp trực tiếp hay gián tiếp soi sáng việc nghiên cứu thể loại và trần thuật trong sáng tác của Khái Hưng
Hội thảo và triển lãm về báo Phong hóa, Ngày nay và Tự lực văn đoàn, được tổ chức tại Mỹ, năm 2013, với ấn phẩm “Triển lãm và hội thảo về báo Phong hóa, Ngày nay và Tự Lực văn đoàn”, là một dạng sinh hoạt báo chí - khoa học từ góc nhìn nghệ thuật liên ngành, kết hợp truyền thông và khoa học, bao gồm hai nội
Trang 19dung “triển lãm” và “hội thảo” Đáng lưu ý nhất về mảng báo cáo khoa học gồm: chuyên luận đặt vấn đề “đánh giá lại” TLVĐ của Nguyễn Hưng Quốc, chuyên khảo
về Khái Hưng từ góc nhìn nữ quyền luận của Thụy Khuê, bài viết về tiểu thuyết
Bướm trắng (Nhất Linh) của Đặng Tiến
Đồng thời và đồng hành với các hội thảo nói trên là kết quả công bố trong nhiều bài báo, chương sách, những bài giới thiệu các tổng tập, tuyển tập văn xuôi lãng mạn, hay khi tái bản các tác phẩm của Khái Hưng tuy đậm nhạt khác nhau song đều thể hiện được những quan điểm, thái độ, cách tiếp cận đánh giá mới
Hà Minh Đức viết lời “Khái luận” cho Tổng tập văn học Việt Nam (tập 28
A), lời giới thiệu các tác phẩm Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Gia đình, Thừa
tự Ông vừa phân tích rất sâu sắc giá trị hiện thực, giá trị nghệ thuật, vừa chỉ ra
những hạn chế của nhà văn
Phan Cự Đệ ngoài chuyên luận “Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 - 1945)”, còn viết một loạt bài giới thiệu các tác phẩm: Tiêu Sơn tráng sĩ, Trống Mái Gia đình, Thoát ly, Đẹp, Băn khoăn Trong đó, ông đưa ra nhiều ý kiến mới, có sức
thuyết phục Chẳng hạn: "Cuốn tiểu thuyết (Đẹp) đã ca ngợi niềm say mê sáng tạo
của những người nghệ sĩ chân chính" [61, tr.330] Hay: "Không thể xem Băn khoăn
là một cuốn tiểu thuyết lãng mạn ( ) Phần lớn được xây dựng bằng bút pháp hiện
thực" [61, tr.346]
Nguyễn Hoành Khung, Lê Thị Đức Hạnh, Trần Đình Hượu, Trương Chính, Hoàng Xuân Hãn, đã có sự nhìn nhận lại TLVĐ Giá trị hiện thực, giá trị tiến bộ trong tiểu thuyết của Khái Hưng, qua các bài viết nói trên, được đánh giá đúng mức, công bằng hơn, những hạn chế được nhìn nhận, phê phán thấu tình đạt lý hơn Trần Đình Hượu khẳng định: “Sự đóng góp của Tự lực văn đoàn vào sự thắng lợi của văn
học mới (thơ, kịch, tiểu thuyết), trong những năm hai mươi, ba mươi là lớn, chủ động, tích cực Về mặt đó các nhà văn hoạt động độc lập hay các nhóm văn học khác không thành công được như vậy, không cống hiến được nhiều như vậy” [195,
tr.44] Trương Chính cũng đánh giá: "Tự lực văn đoàn có một vai trò rất lớn trong
sự phát triển của văn học ta những năm ba mươi [195, tr.31] Hoàng Xuân Hãn
khẳng định: "nhóm Tự lực văn đoàn không phải là nhóm duy nhất nhưng là nhóm
Trang 20quan trọng nhất và là nhóm cải cách đầu tiên của nền văn học hiện đại" [195, tr.551] Lê Thị Đức Hạnh cũng lưu ý: Cần phải thực sự đổi mới trong cách nhìn
nhận, đánh giá Tự lực văn đoàn, một tổ chức văn học tuy có những mặt hạn chế, lệch lạc, nhưng có nhiều đóng góp quí báu cho nền văn học dân tộc trong những năm 30 của thế kỷ này [195, tr.94]
Ngoài ra, một số luận án, luận văn, tiến sĩ, thạc sĩ, nghiên cứu Văn học lãng mạn và TLVĐ, trong đó có nghiên cứu tiểu thuyết Khái Hưng, của các tác giả Tào
Văn Ân (Tào Văn Ân (2000), Vấn đề chủ nghĩa Lãng mạn trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, Luận án Tiến sĩ ngữ văn, TP HCM.); Trịnh Hồ Khoa (Trịnh
Hồ Khoa (1997), Những đóng góp của Tự lực văn đoàn cho văn xuôi hiện đại Việt Nam , Nxb Văn học, Hà Nội); Dương Thị Hương (Dương Thị Hương (2001), Nghệ thuật miêu tả tâm lý trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội); Nguyễn Thị Tuyến (Nguyễn Thị Tuyến (2004), Mô hình tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sư Phạm Hà
Nội); Ngô Văn Thư (Ngô Văn Thư (2005), Tiểu thuyết của Khái Hưng, Luận án
Tiến sĩ Ngữ Văn, Hà Nội.); v.v Các tác giả luận án này đã cố gắng vận dụng phương pháp tiếp cận mới, nỗ lực khảo sát công phu và kỹ lưỡng các tác phẩm và
đã có những đóng góp đáng kể vào tiến trình nhìn nhận, đánh giá tiểu thuyết của Khái Hưng và TLVĐ
Xét về bối cảnh, có một số lý do lịch sử hiển nhiên khiến nảy sinh sự khác biệt đến mức trái ngược trong các đánh giá giá trị các sáng tác văn xuôi của TLVĐ nói chung, văn xuôi Khái Hưng nói riêng trong giới nghiên cứu văn học ở hai miền Nam - Bắc trước 1975 cũng như giới nghiên cứu ở miền Nam Sự khác biệt đến
mức trái ngược ấy đã được khắc phục kể từ thời đổi mới văn học đến nay để tiệm
cận một cái nhìn khách quan, khoa học xuất phát từ đặc trưng nghệ thuật
Nguyên nhân của của xu hướng tiệm cận – tiệm cận với thực tiễn sáng tác,
và tiệm cận giữa các lập trường, góc nhìn của các nhà nghiên cứu (miền Nam, miền
Bắc, trong nước và ngoài nước) ngày càng rõ, chủ yếu là bởi, thứ nhất, nguyên tắc khoa học: các nghiên cứu, đánh giá trước sau gì rồi cũng phải dựa trên giá trị có
thực và tôn trọng giá trị thực không thể phủ nhận của văn chương Khái Hưng và
Trang 21TLVĐ; thứ hai, những thay đổi điều chỉnh theo hướng tìm về với giá trị đích thực
của tác phẩm văn chương nghệ thuật
Việc đánh giá riêng về truyện ngắn Khái Hưng
Sáng tác truyện ngắn của Khái Hưng, Nhất Linh, do nhiều nguyên nhân, có
số phận khá giống nhau: ít được quan tâm và nghiên cứu muộn hơn nhiều so với
tiểu thuyết của hai tác giả này Trong khi đó, thời gian càng lúc càng cho thấy rõ, giá trị sáng tác truyện ngắn của hai ông – những nhà văn chủ chốt, có công lớn trong việc xây dựng nền văn xuôi nghệ thuật hiện đại Việt Nam – là không thể phủ nhận Vì thế việc đánh giá truyện ngắn của họ thường được đặt trong mối liên hệ so sánh với nhau
Trước hết, có thể thấy rằng có một thái độ thiên lệch ít nhiều mang tính lịch
sử khi đánh giá sự nghiệp văn chương của Khái Hưng cũng như Nhất Linh: tiểu thuyết được coi trọng, truyện ngắn có phần bị coi nhẹ, ngay cả khi sáng tác của nhà văn đã bắt đầu được khôi phục, nghiên cứu và đánh giá lại
Chẳng hạn, khi làm Tổng tập văn học Việt Nam những người tuyển tập chỉ
dè dặt đưa vào vài truyện ngắn như truyện Bóng người trong sương mù (Nhất Linh)
và truyện Người vợ mù (Khái Hưng), song lại rất tự tin, rộng rãi trong việc trích
tuyển tiểu thuyết của hai nhà văn này Thái độ này cũng đã khiến cho những người làm tuyển tập Truyện ngắn Khái Hưng phải cảm thán: “tiếc là lâu nay tiểu thuyết
Khái Hưng vẫn có phần lấn át truyện ngắn của tác giả Trong vòng 25 năm nay mới chỉ thấy có một tập truyện ngắn Khái Hưng in ra ở NXB Hải Phòng (1994) và một
tập truyện thiếu nhi, in ở Nxb Hải Phòng và Kim Đồng (2000)” [106, tr.5]
Như vậy, nếu không tính đến những tập truyện ngắn của hai ông in ở miền Nam trước 1975, thì mãi đến năm 1994, truyện ngắn của Khái Hưng mới được in
lại, còn truyện ngắn của Nhất Linh, thì phải chờ đến năm 2000, đúng thời điểm chuyển giao giữa thế kỷ cũ và thế kỷ mới mới được tuyển in lại Dầu sao, thời gian
gần đây, thái độ coi nhẹ truyện ngắn Nhất Linh, Khái Hưng đã được điều chỉnh đáng kể Bằng chứng là có những bộ sưu tập truyện ngắn Nhất Linh, Khái Hưng ra đời Kèm theo là nhiều bài viết, công trình nghiên cứu Có thể xem đây là những cố
gắng nhằm tạo ra cách nhìn nhận thỏa đáng và khôi phục lại đóng góp thực sự của
Trang 22Nhất Linh, Khái Hưng trong lĩnh vực truyện ngắn Đó là một sự điều chỉnh cần thiết, dù muộn màng thì có vẫn hơn không
Nhìn chung, so với sáng tác truyện ngắn của Nhất Linh, sáng tác truyện ngắn của Khái Hưng được chú ý hơn
Từ giai đoạn 1945 – 1975, Vũ Ngọc Phan đã từng khẳng định Khái Hưng là cây bút văn xuôi TLVĐ đã viết được “những truyện ngắn tuyệt hay” [304]
Cùng với Vũ Ngọc Phan, nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ cũng cho rằng sức
viết của Khái Hưng bộc lộ nhiều qua truyện ngắn và đây là thể loại không thể thiếu trong sự nghiệp văn chương của ông: “Ngoài những truyện dài, Khái Hưng còn viết
rất nhiều truyện ngắn Trên báo Phong hóa rồi Ngày nay những năm đầu, thường
thường tuần nào ông cũng có một truyện (không kể tiểu thuyết dài ngắt kỳ) Đếm tất
cả những truyện này của Khái Hưng trong gần mười năm có thể đi đến vài trăm” [290, tr.476]
Phan Cự Đệ cũng khẳng định: “Nhất Linh cũng có tài viết truyện ngắn” [61, tr.907]
Về vị trí của mảng truyện ngắn trong sự nghiệp văn chương của Khái Hưng,
Lê Dục Tú khẳng định: “Có thể nói truyện ngắn là thể loại đầu tiên Khái Hưng
trình làng trước công chúng Trên báo Phong hóa và Ngày nay những năm đầu hầu
như tuần nào Khái Hưng cũng đăng một truyện ngắn Trong vòng mười năm ông đã đăng đến hàng trăm truyện ngắn Một số truyện ngắn đầu tay của Khái Hưng khi ra đời đã được coi là “món ăn ngon và lạ” cải thiện cho khẩu vị đọc của người dân thị thành Truyện ngắn “Bên dòng Hương giang” được in lần đầu tiên trên báo Phong hóa ngày 31/3/1932 và tập truyện ngắn “Dọc đường gió bụi” ra đời năm 1936 đã
nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt của công chúng” [395]
Hai ý kiến trên (của Phạm Thế Ngũ và Lê Dục Tú) đã gặp nhau ở một điểm quan trọng: Cả Khái Hưng, Nhất Linh đều khởi nghiệp bằng việc viết truyện ngắn
Và trước, trong khi trở thành tác giả của những thiên tiểu thuyết nổi tiếng một thời,
Nhất Linh, Khái Hưng đã và đang là những cây bút viết truyện ngắn có thứ hạng trên văn đàn công khai 1930-1945 Như thế xét từ một góc độ nào đó, với hai ông
Trang 23và độc giả đương thời, viết và đọc truyện ngắn có thể xem là một bước khởi đầu, sự chuẩn bị cho viết một thể loại dài hơi hơn, “nặng ký” – tiểu thuyết
3.3 Về đặc điểm nổi bật của truyện ngắn, tiểu thuyết Khái Hưng từ góc nhìn trần thuật
Vũ Ngọc Phan nhấn mạnh vẻ đẹp giản dị, sức chinh phục độc giả ở kĩ thuật
dựng truyện, hành văn của Khái Hưng Trong Nhà văn hiện đại, ông viết:
“Về truyện ngắn, Khái Hưng viết tuyệt hay Người ta thấy phần nhiều truyện
ngắn của ông lại có vẻ linh hoạt và cảm người đọc hơn cả truyện dài của ông Truyện ngắn của Thạch Lam và Đỗ Đức Thu ngả về mặt sầu cảm và kín đáo bao nhiêu thì truyện ngắn của Khái Hưng vui tươi và rộng mở thế ấy, nhưng không phải cái vui thái quá như những truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đâu Ngay ở những truyện buồn của Khái Hưng, người ta cũng chỉ thấy một thứ buồn man mác, không bao giờ là cái buồn ủ rũ như ở những truyện của Thạch Lam (…) Đọc những truyện
ngắn của Khái Hưng, tôi nhận thấy nghệ thuật của ông là tìm cho ra những ý nghĩ đau đớn hay khoái lạc của mọi việc trên đời, rồi ghi lại bằng những lời văn gọn gàng, sáng suốt, làm cảm người ta bởi những việc mình dàn xếp, mình làm cho khi
nổi khi chìm, chứ không phải cám dỗ người ta bởi những thuyết mà mình tưởng là cao cả” [304, tr.770] Điều này cho thấy Khái Hưng rất coi trọng lối viết, không chú
Trang 24một cách chuyên sâu Điều này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có
lẽ một phần là do truyện ngắn của hai ông bị chìm đi sau tiếng vang tiểu thuyết của
họ
Sau năm 2004, đáng chú ý trước hết là các Lời dẫn, Lời giới thiệu trong các quyển tuyển tập Trong Lời dẫn của nhóm sưu tầm, biên soạn tuyển tập Truyện ngắn Khái Hưng, do Hoàng Bích Hà, Vương Trí Nhàn (sưu tầm, biên soạn) năm
2004, các tác giả khẳng định: “Bên cạnh cây bút tiểu thuyết tài hoa, Khái Hưng (1896-1947) đồng thời còn là một tác giả truyện ngắn dồi dào sức lực, thường xuyên có truyện in Phong hóa, Ngày nay, và ngay từ trước 1945, đã được tập hợp
một phần trong các tập…” [106, tr.5]; truyện ngắn là “một lĩnh vực mà ngòi bút của ông liên tục làm việc và có nhiều thành tựu đáng ghi nhận” [106, tr.5]
Về việc phân loại, tác giả Lời dẫn cũng cho rằng sáng tác truyện ngắn của Khái Hưng “bao gồm truyện sinh hoạt, truyện lịch sử, truyện viết theo lối truyện kể dân gian và truyện viết bằng bút pháp hiện đại” [106, tr.5]
Trong một số bài viết gần đây, như “Chuyên nghiệp hóa sáng tác – một đòi
h ỏi tất yếu của công cuộc hiện đại hóa văn học Việt Nam trước 1945” [353], “Mấy ghi nh ận về tương tác tiểu thuyết truyện ngắn và sự biến đổi nòng cốt của hai thể loại này” [354], Nguyễn Thành Thi cũng đề cập nhiều đến sáng tác của Khái Hưng,
Nhất Linh, đặc biệt là sáng tác truyện ngắn Trong đó có nhiều ý kiến, luận điểm rất đáng chú ý
Theo tác giả này, thế mạnh của truyện ngắn Khái Hưng là “thường chú trọng đặc biệt đến ngôn ngữ đối thoại và luôn có ý thức miêu tả giọng điệu, lời nói của các loại nhân vật, các hạng người trong xã hội”, có “năng lực ngữ cảm và các nhận xét tinh tế ít nhiều mang tính chất “siêu ngôn ngữ” [353] (Trong khi đó, Nhất Linh
lại thích “khám phá, miêu tả tâm lý” và khả năng “lồng vào truyện những ý tưởng luận đề”) Hoặc: Khái Hưng “hay để cho người kể chuyện trong truyện ngắn của ông nhận xét về nhạc tính, âm hưởng riêng trong ngôn ngữ đối thoại của nhân vật Trong truyện Cô hàng nước chẳng hạn, nhân vật xưng tôi tên Ban nhận thấy qua
những mẩu đối thoại của nhân vật “cô hàng nước” “tiếng nói vùng bể rất nặng và
đầy những tiếng thanh ngang, khiến Ban phải mỉm cười” Hơn thế, cũng như nhân
Trang 25vật tôi, “cô hàng nước” nơi thôn dã này còn phân biệt rạch ròi cách dùng từ cô hay
bà trong “cô tú” (bản thân người nữ đã thi đỗ tú tài) với “bà tú” (người phụ nữ là vợ
của người thi đỗ tú tài)” [354, tr.70]
Về mặt loại hình và đặc điểm thể tài của truyện ngắn Khái Hưng, theo tác giả
bài T ự lực văn đoàn – những lằn ranh thể loại văn học [420] đề xuất phân loại tiểu thuyết Khái Hưng (và tiểu thuyết Nhất Linh) thành ba loại hình thể tài: 1) tiểu thuyết ái tình lãng mạn, 2) tiểu thuyết luận đề (thiên về phân tích xã hội, cải cách phong hóa và đời sống dân quê), 3) tiểu thuyết tâm lý (thiên về phân tích tâm lý, thể
hiện trạng thái khủng hoảng, “băn khoăn”) Tuy nhiên, với cái nhìn lịch đại, ông
cũng chỉ ra rằng trong tiểu thuyết ái tình lãng mạn của Khái Hưng, Nhất Linh đã có
yếu tố luận đề, là sự chuẩn bị cho tiểu thuyết luận đề Còn trong tiểu thuyết luận đề
thì càng về sau càng phát triển nghệ thuật phân tích tâm lý Bởi vậy, ông đề xuất
gắn thêm cụm từ “tiền luận đề” để gọi tên loại hình tiểu thuyết ái tình lãng mạn là
“tiểu thuyết ái tình lãng mạn - tiền luận đề”, và thêm cụm từ “hậu luận đề” để gọi tên tiểu thuyết tâm lý là “tiểu thuyết tâm lý - hậu luận đề” Trên cơ sở đó, ông phân
truyện ngắn Khái Hưng thành bốn khuynh hướng thể tài: 1) truyện ngắn thiên về
kh uynh hướng luận đề; 2) truyện ngắn thiên về khuynh hướng phân tích xã hội; 3) truyện ngắn thiên về khuynh hướng phân tích tâm lý và 4) truyện ngắn có khuynh hướng tổng hợp loại hình [420]
Về tính quá trình và sự tương tác thể loại trong sáng tác của Khái Hưng,
Nhất Linh, Nguyễn Thành Thi cho rằng: “hành trình hiện đại hóa, chuyên nghiệp hóa truyện ngắn của Nhất Linh không có đứt đoạn Từ Người quay tơ (1927), qua Anh phải sống (1934), đến Tối tăm (1936), Hai buổi chiều vàng (1937), Mối tình chân (1948-1950) là một hành trình liên tục Hành trình tiểu thuyết của Nhất Linh
từ Nho phong qua Đoạn tuyệt, đến Bướm trắng đã vận động trong sự tương tác với
hành trình liên tục nói trên ở lĩnh vực truyện ngắn” [353, tr.69]
Cũng có thể nói như vậy về quan hệ tương tác giữa tiểu thuyết và truyện
ngắn Khái Hưng Các tập truyện ngắn của ông được in muộn hơn nhưng nhiều truyện ngắn đăng báo Phong hóa sớm hơn so với tiểu thuyết Tuy vậy, việc Đời nay phát hành các tập truyện ngắn Dọc đường gió bụi (1936), Số đào hoa (1937), Tiếng
Trang 26suối reo (1937), Hạnh (1938), Đợi chờ (1939), Đội mũ lệch (1941), Cái ve
(1944),… cũng cho thấy sự nhịp nhàng, đồng hướng với hành trình tiểu thuyết Khái Hưng
Chung quy, từ các công trình, ý kiến đề cập đến truyện ngắn Khái Hưng mà
luận án đã lược thuật trên đây, có thể rút ra mấy điểm quan trọng, rất có ý nghĩa đối
với việc định hướng và tiếp tục nghiên cứu của luận án này:
Thứ nhất: tiểu thuyết, truyện ngắn là hai thể loại sáng tác có giá trị trong
sáng tác văn chương của Khái Hưng và đáng được tiếp tục nghiên cứu một cách đầy
đủ sâu sắc hơn
Th ứ hai: việc sáng tác truyện ngắn của Khái Hưng nhìn chung, khá nhất
quán, tương hợp với lối viết tiểu thuyết của ông (sự gặp gỡ, tương đồng nàycũng tương tự với trường hợp Nhất Linh)
Th ứ ba: nghiên cứu tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng không thể và không
nên tách rời khỏi bối cảnh không khí chung trong sáng tác tiểu thuyết của hai ông, cũng như bối cảnh, không khí sáng tác văn xuôi của TLVĐ
Như vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, khoa học hơn về tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng trên một số bình diện, theo hướng tiếp cận hiện đại, là hết sức cần thiết Trên tinh thần tiếp thu thành quả của người đi trước, tác giả luận án
hy vọng rằng với việc hoàn thành đề tài Tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng từ góc nhìn trần thuật, việc nghiên cứu văn xuôi nghệ thuật của Khái Hưng sẽ được
đẩy xa thêm một bước nữa
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu về “Tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng từ góc nhìn trần thuật”,
luận án hướng đến việc nghiên cứu đặc điểm trần thuật trong tiểu thuyết, truyện
ngắn của Khái Hưng, để thấy được vai trò mở đường và phát triển nghệ thuật tiểu thuyết, truyện ngắn, hiện đại hóa văn xuôi nghệ thuật quốc ngữ Việt Nam của ông
và các tiểu thuyết gia TLVĐ – một vấn đề mà trước đây thường bị bỏ qua hoặc chưa chú ý đúng mức
Trên cơ sở nghiên cứu loại hình, khảo sát, miêu tả các mô thức trần thuật của truyện ngắn Khái Hưng trong bối cảnh văn xuôi nghệ thuật TLVĐ, khẳng định thêm
Trang 27về những giá trị, đóng góp quan trọng khó thay thế của ông trong sáng tác tiểu thuyết và truyện ngắn
Với đối tượng nghiên cứu là tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng trong bối cảnh văn xuôi TLVĐ – được nhìn chủ yếu từ góc nhìn trần thuật – luận án tập trung
khảo sát 14 thiên tiểu thuyết và 67 truyện ngắn của Khái Hưng thời TLVĐ Đây là các tác phẩm đã đăng báo Phong hóa, Ngày nay và sau in thành sách, tái bản
Cũng cần nói thêm rằng: Tiểu thuyết, truyện ngắn của Khái Hưng có môi trường sinh hạ và trưởng thành của mình đó là TLVĐ Vì thế, việc mở rộng so sánh đối chiếu khi cần với văn bản tiểu thuyết, truyện ngắn của Nhất Linh, Hoàng Đạo là
cần thiết Tuy vậy, ngay chỉ với sáng tác của Khái Hưng cũng đã khá đồ sộ, vì thế,
luận án sẽ tập trung một số văn bản tác phẩm theo phương pháp chọn mẫu phân tích
5 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu loại hình: Đây là phương pháp chủ yếu được sử
dụng nhằm xác lập tiêu chí loại hình, phân loại các thể tài và mô thức trần thuật trong tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng từ góc nhìn trần thuật
* Phương pháp hệ thống: Xem sáng tác của Khái Hưng là một hệ thống nhỏ
trong một hệ thống lớn hơn ở nhiều cấp độ, luận án tìm kiếm các tương tác trong hệ
thống và tìm kiếm những phẩm chất hợp trội toát ra từ toàn hệ thống
* Phương pháp so sánh: Luận án kết hợp so sánh đồng đại với so sánh lịch
đại nhằm làm rõ đặc điểm phương thức trần thuật trong tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng
* Phương pháp xã hội học và phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phương
pháp xã hội học giúp người nghiên cứu đặt đối tượng nghiên cứu trong bối cảnh, tâm thức xã hội tác động đến nó để có thêm cơ sở lý giải những ứng xử nghệ thuật của nhà văn Phương pháp liên ngành được sử dụng để có thêm những góc nhìn tham chiếu trong khi nghiên cứu phương thức trần thuật trong sáng tác của Khái Hưng
* Luận án cũng chú trọng đúng mức việc nghiên cứu định lượng bên cạnh nghiên cứu định tính, vì thế sẽ sử dụng rộng rãi thao tác thống kê
Trang 286 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận án cố gắng nghiên cứu một cách có hệ thống những đóng góp cùng hạn
chế của Khái Hưng về tiểu thuyết, truyện ngắn, đặt trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam Tiếp thu ý kiến bàn về trần thuật trong tiểu thuyết, truyện ngắn của Khái Hưng của những người đi trước, từ đó luận án khơi sâu thêm trên phương diện đặc điểm trần thuật
Người viết có ý thức khảo sát một cách nhất quán đặc điểm trần thuật của
tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng Cách xem xét này giúp ta hình dung được toàn
bộ đặc điểm trần thuật trong tiểu thuyết, truyện ngắn của Khái Hưng không phải như một tổng số các đặc điểm rời rạc mà như một chỉnh thể thống nhất các nét độc đáo xuyên suốt nội dung và hình thức các tác phẩm của ông
Bằng việc nghiên cứu đặc điểm trần thuật trong tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng, luận án góp thêm một tiếng nói khẳng định những đóng góp và vị trí của nhà văn trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam hiện đại
7 Đóng góp mới của đề tài
- Định vị tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng trong văn xuôi TLVĐ thông qua
việc xác định vai trò, đóng góp của ông về phương diện thể loại
- Mô tả đặc điểm trần thuật trong tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng theo ba thể tài tiểu thuyết và mô thức trần thuật quan trọng
- Khái quát một số nét độc đáo có giá trị thẩm mĩ trong sáng tác văn xuôi Khái Hưng nói chung, phong cách kiến tạo, tổ chức diễn ngôn trần thuật của ông nói riêng
8 Cấu trúc của luận án
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, nội dung cơ bản của luận án được trình
bày theo ba chương, với các nội dung chủ yếu sau đây:
Chương 1 Văn xuôi Khái Hưng trong Tự lực văn đoàn và việc nghiên cứu tiểu thuyết, truyện ngắn của ông từ góc nhìn trần thuật
Giới thiệu sự nghiệp trước tác của nhà văn Khái Hưng Bên cạnh đó, luận án điểm qua về tình hình nghiên cứu truyện ngắn, tiểu thuyết của ông từ góc nhìn trần thuật
Trang 29Chương 2 Đặc điểm tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng nhìn từ mô thức
tr ần thuật
Từ thực tiễn sáng tác của Khái Hưng, tác giả luận án xác lập các mô thức trần thuật trong tiểu thuyết, truyện ngắn của ông; đồng thời, cũng chỉ ra dấu ấn của cái tôi tác giả qua các mô thức trần thuật ấy
Chương 3 Đặc điểm tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng nhìn từ phong cách kiến tạo diễn ngôn trần thuật
Ở chương này, luận án tập trung mô tả cấu trúc diễn ngôn trần thuật trong tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng Qua đó chỉ ra một số nét phong cách kiến tạo
diễn ngôn của nhà văn qua các mô thức trần thuật
Trang 30CHƯƠNG 1 VĂN XUÔI KHÁI HƯNG TRONG TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU TIỂU THUYẾT, TRUYỆN NGẮN CỦA ÔNG
TỪ GÓC NHÌN TRẦN THUẬT
1.1 Nhìn chung về tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng trong bối cảnh văn xuôi Tự lực văn đoàn
1.1.1 Trước tác của Khái Hưng – một sự nghiệp phong phú, đa dạng
Khái Hưng sinh năm 1896 – một số tài liệu ghi ông sinh năm 1897 – trong
một gia đình quan lại ở xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, Hải Dương, nay thuộc Hải Phòng
Khái Hưng học ở trường Albert Sarraut Sau khi đỗ tú tài I, một thời gian Khái Hưng dạy học ở trường tư thục Thăng Long Trong khoảng thời gian 1930 đến
1932, Nhất Linh từ Pháp về nước và cũng dạy tại trường này Khái Hưng đã quen
Nhất Linh ở đó và họ trở thành một cặp tác giả nổi tiếng Tuy Khái Hưng hơn Nhất Linh 9 tuổi nhưng là người bước vào văn đàn sau nên được gọi Nhị Linh
Khái Hưng, một nhà giáo, nhà văn đã đi vào con đường “tiểu thuyết luận đề”
nhằm khai phá dòng sinh khí mới trong văn học qua lăng kính xã hội, nêu ra thực trạng trong cuộc sống bi đát của xã hội với nhân tình thế thái, với cảnh đời ô trọc, phong tục, tập quán cổ hủ trong thời điểm phong kiến và thực dân xâm phạm nhân
phẩm, phẩm cách, giá trị cao quý đích thực của nhiều tầng lớp nổi trôi, trầm luân trong cuộc sống
Ở Việt Nam, rất nhiều nhà thơ đồng thời là người viết tiểu thuyết, truyện ngắn Thế Lữ chẳng hạn, ông là một nhà thơ, nhưng nói đến sự nghiệp văn chương
của ông không thể không nói đến các tập truyện ngắn, truyện vừa Tuy nhiên, có lẽ
ít có ai gọi Thế Lữ là một tác giả truyện ngắn Đơn giản, vì số lượng lẫn chất lượng tác phẩm truyện ngắn của ông chưa đạt được cái ngưỡng để có thể xem ông như là
một tác giả truyện ngắn
Khái Hưng thì không phải vậy Cả số lượng lẫn chất lượng tiểu thuyết, truyện ngắn trong sự nghiệp văn chương của ông đều cung cấp cho ta những cơ sở đáng tin cậy để xem ông vừa là nhà viết tiểu thuyết, vừa là nhà văn viết truyện ngắn
Trang 31Tuy nhiên, sáng tác của Khái Hưng không chỉ có tiểu thuyết, truyện ngắn, cho dù đó
là hai thể loại sáng giá trong văn nghiệp của ông
Nói chung, các nhà văn TLVĐ thuộc “thế hệ vàng” (Phong Lê), hầu như đều
là những nghệ sĩ - trí thức tài hoa, có sức sáng tạo dồi dào Khái Hưng là một đại
diện xuất sắc cho thế hệ này Trong đó, xét riêng về sáng tạo nghệ thuật, Khái Hưng
là người có sức sáng tạo dồi dào và có thành tựu nổi bật trên nhiều thể loại hơn cả Không kể một đôi lần làm thơ, vẽ tranh, sức sáng tạo chủ yếu của Khái Hưng tập trung vào nghệ thuật ngôn từ Ông đồng thời cũng là người soạn kịch, viết xã luận, chính luận,… với nhiều bút danh Có thể điểm qua các lĩnh vực sáng tác của Khái Hưng với các thể loại như sau
V ề kịch
Độc giả biết đến một kịch tác gia Khái Hưng với các vở: Tục
l ụy (1937), Đồng bệnh (1942), Nhất tiếu và Khúc tiêu ai oán (1946) và một vở kịch
hai cảnh hai hồi viết cho thiếu nhi (Sách Hồng): Cóc tía
Vở Đồng bệnh là một bi hài kịch “đả phá những cái nực cười trong xã hội trưởng giả, gả bán con cái theo nhu cầu quan chức và tiền bạc” (Thụy Khuê) [412]
Hai vở Nhất tiếu và Khúc tiêu ai oán lấy cảm hứng từ lịch sử và tái hiện
nhân vật, sự kiện, tình huống từ pho cổ sử Trung Hoa – Đông Chu liệt quốc – đều là
những tác phẩm mang “nhân sinh quan và sử quan của Khái Hưng” Theo Thụy
Khuê, Nhất tiếu “phỏng theo hồi thứ hai của Đông Chu liệt quốc, truyện U Vương đốt lửa Ly Sơn mua vui cho Bao Tự” Còn Khúc tiêu ai oán thì “viết lại chuyện Ngũ
Tử Tư thời Đông Chu, theo hồi thứ 71, 72 đến 76 trong truyện Đông Chu liệt quốc
Ngũ Sa, thái sư nước Sở có hai con là Ngũ Thượng và Ngũ Tử Tư tức Ngũ Viên Sở Bình Vương hoang dâm vô độ, Ngũ Sa ngăn cản, nhà vua liền bắt giam ông và gài
bẫy cho hai con trai ông về triều để giết luôn cả ba Nhưng chỉ có Ngũ Thượng chịu
về chết với cha Ngũ Tử Tư trốn thoát sang Ngô, phò Công Tử Quang lên ngôi vua,
rồi Tử Tư dẫn quân Ngô về giày xéo nước Sở để báo thù nhà Chí lớn của Tử Tư được Tư Mã Thiên hết sức tán thưởng” [412]
Trang 32Đáng lưu ý hơn là “sử quan” khá hiện đại, đa chiều, đa diện của Khái Hưng
phản chiếu nhân sinh quan của ông trong chặng cuối cuộc đời làm báo viết văn và
hoạt động chính trị - xã hội theo Nhất Linh – thủ lĩnh TLVĐ
Không bằng lòng với lời bình của sử gia về nhân vật lịch sử Ngũ Tử Tư, ông
có ý thay thế một lời bình muốn đóng đinh chân lý của người viết sử bằng các lời bình mang lập trường cá nhân 6 nhân vật: lời của Trịnh Nữ, của Đông Cao Công, của người con gái giặt sa, của Sở Bình Vương, của Ngũ Thượng và, của Ngũ Sa
Bởi vậy, hẳn không phải ngẫu nhiên, có người xem đây là cách tiếp cận lịch sử thể hiện “một cái nhìn đa diện về một sự kiện lịch sử liên hệ đến chân dung một người anh hùng mà sau này chúng ta thấy lại trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp dưới hình thức khác hẳn” (Thụy Khuê) [412] Bối cảnh ra đời của vở kịch khá phức tạp nên thông điệp mà nhà văn gửi gắm cũng mang những hàm ý sâu xa, phản chiếu
những suy tư về lịch sử, về chính trị xã hội, cả những góc khuất trong chính tâm
hồn nhà văn
Khúc tiêu ai oán có thể xem là sáng tác cuối cùng, khép lại đời văn của Khái
Hưng (vở kịch này được viết xong ngày 10/12/1946)
Về truyện thiếu nhi
Sẽ là thiếu sót nếu không nói đến mảng truyện viết cho thiếu nhi của Khái Hưng Theo nhà nghiên cứu Đỗ Quý Toàn, người dành nhiều công sức nghiên cứu
và có nhiều ý kiến tin cậy về mảng sáng tác này, trong bài tham luận, Sách Hồng, Một chủ trương “Xây Dựng” của Tự lực văn đoàn, Chủ Nhật, ngày 05 tháng 4 năm
2015, thì truyện thiếu nhi của Khái Hưng cũng đã từng tạo được ảnh hưởng và sức lan tỏa tương đối lớn trong công chúng tuổi nhỏ đương thời Ông viết:
“Tự lực văn đoàn xuất bản các truyện “Sách Hồng” với cuốn Ông đồ Bể của
Khái Hưng, nhà in ký nộp bản ngày 31 tháng Tám năm 1939 Từ năm 1940 hai tháng in một tập Sách Hồng, mỗi cuốn có đánh số thứ tự, cho đến năm 1945, ngoài
ra còn có thêm Sách Hồng Đặc Biệt không đánh số Lấy tên “Sách Hồng” vì bìa trang trí màu hồng, vẽ bông hoa hồng trên một góc; giống loạt truyện tiếng Pháp
của Nhà Xuất bản Larousse, mang tên “Sách Hồng cho giới trẻ” (Les livres roses
pour la jeunesse, xuất bản từ năm 1909 đến 1939, tổng cộng 719 cuốn)
Trang 33Sách Hồng của Tự lực văn đoàn nhắm vào trẻ em không biết tiếng Pháp hoặc
biết nhưng cha mẹ muốn khuyến khích đọc tiếng Việt Nội dung các cuốn Sách
Hồng mang tính chất giáo dục tương tự Les Livres Roses Cách trình bày bìa, minh
họa bên trong cũng chịu ảnh hưởng của bộ sách Larousse in Sách Hồng thường ghi
do tên nhà xuất bản Đời Nay Sau năm 1952, Nhất Linh tái bản, đề tên nhà xuất bản Phượng Giang Khoảng thập niên 1960 thành viên của gia đình Khái Hưng thành lập nhà xuất bản Văn Nghệ, và cũng cho tái bản Sách Hồng của Khái Hưng với tiêu
đề “Sách - Hồng Khái - Hưng”, thí dụ: Để của bí mật, 1960, bìa màu đỏ cũng vẽ
hoa hồng
Trên trang bìa sau Sách Hồng do nhà xuất bản Phượng Giang ở Saigon ấn hành, do Nhất Linh tự chăm sóc về văn chương và đã khẳng định “Sách Hồng là loại tiểu thuyết lý thú và hữu ích cho Nhi-đồng và Thanh-niên nam nữ Các bậc phụ huynh không phải lo ngại băn khoăn, cứ việc yên tâm mua Sách Hồng đưa ngay cho con em đọc Sách Hồng lại vừa là sách giáo khoa Việt-ngữ, các giáo sư muốn trích dẫn những đoạn văn hợp trình độ học sinh đều cần có đủ bộ
Với số lượng phổ biến cao như vậy, Sách Hồng gây ảnh hưởng trên lối viết,
lối diễn đạt của độc giả nhiều hơn những tác phẩm văn chương của Tự lực văn đoàn Văn chương Sách Hồng rất giản dị, trong sáng như văn đoàn này vẫn chủ trương; các tác giả đều cố gắng đạt tới mức giản dị tối đa.” [422]
Cũng theo Đỗ Quý Toàn, tác phẩm Khái Hưng viết riêng cho thiếu nhi thuộc
tủ Sách hồng, được Đời nay in từ năm 1940 đến 1943, gồm 11 cuốn: 1 Bông cúc huyền, Hà Nội, Đời nay, 1943; 2 Cái ấm đất, Hà Nội, Đời nay, 1940; 3 Cắm trại,
Trang 34Hà Nội, Đời nay, 1941; 4 Cây tre trăm đốt, Hà Nội, Đời nay, 1941; 5 Cóc tía, kịch
hai c ảnh hai hồi, Hà Nội, Đời nay, 1940; 6 Đạo sĩ, Hà Nội, Đời nay, 1944; 7 Để của bí mật, Saigon, Văn Nghệ, 1960 [Hà Nội, Đời nay, 1941.] ; 8 Ông đồ Bể, Hà
Nội, Đời nay, 1939; 9 Quyển sách ước, Saigon, Văn Nghệ, 1960; 10 Thầy đội
nh ất, Saigon, Phượng Giang, 1960; 11 Thế giới tí hon, Hà Nội, Đời nay, 1941
Danh mục trên cho thấy đây là một mảng sáng tác khá phong phú và không kém tâm huyết của Khái Hưng Thậm chí, chỉ với những đóng góp cụ thể như vậy ông đã xứng đáng được xem là một trong những nhà văn hiện đại sớm nhất, thậm chí là nhà tiên phong của văn học thiếu nhi Việt Nam
Vào mấy năm cuối thế kỷ XX, mảng sáng tác này của Khái Hưng lại được tuyển in Cuốn Truyện viết cho thiếu nhi do Vương Trí Nhàn (sưu tầm và biên
soạn), Nxb Hải Phòng, 1998, có in 13 truyện của Khái Hưng Đó là các truyện: Cây
tre trăm đốt, Vợ cóc, Ai mua hành tôi, Véo von tiếng địch, Cái ấm đất, Hoa ăn tết, Con r ắn, Bông hoa thài lài, Quyển sách ước, Thế giới tí hon, Cắm trại, Thời xưa
và Cóc Tía (kịch hai cảnh hai hồi, viết cho thiếu nhi)
Việc tuyển in, phát hành tập sách này, đã phần nào cho thấy, truyện của Khái Hưng viết cho thiếu nhi từ trên dưới 60 năm trước, vẫn còn sức sống đáng trân trọng trong lòng công chúng văn học hôm nay
V ề tiểu thuyết
Các tiểu thuyết Khái Hưng ban đầu đăng báo (Phong hóa: 6 tác phẩm, Ngày Nay: 7 tác phẩm, 1 tác phẩm chỉ in sách), sau được NXB Đời nay xuất bản thành sách, gồm 14 tác phẩm sau:
1 Hồn bướm mơ tiên (1932-1933), đăng Phong hóa 1932-1933, 9 kỳ từ số
20 đến 29 (trừ số 22) từ ngày 4/11/1932 đến ngày 6/11/1933, in sách năm
1933 tại An Nam xuất bản cục
2 Nửa chừng xuân (1933), đăng Phong hóa, 28 kỳ từ ngày 3/3/1933 đến
ngày 8/9/1933, in sách năm 1934 do Trung Bắc tân văn xuất bản
3 Gánh hàng hoa (viết chung với Nhất Linh, 1933), đăng Phong hóa, 28
kỳ: 36 - 63, từ ngày 03/03/1933 đến ngày 08/09/1933, in sách năm 1934
do Đời nay xuất bản, tái bản năm 1940
Trang 354 Đời mưa gió (viết chung với Nhất Linh, 1934), đăng Phong hóa, 22 kỳ:
từ kỳ 89 đến kỳ 112, từ ngày 16/03/1934 đến ngày 24/08/1934, in sách năm 1935 do Đời nay xuất bản
5 Tiêu Sơn tráng sĩ (1934-1936), đăng Phong hóa, 56 kỳ: từ kỳ 129 đến kỳ
184, từ ngày 21/12/1934 đến ngày 24/04/1936, in sách lá mạ do Đời nay
xuất bản năm 1937, tái bản dưới dạng sách thường năm 1940
6 Trống Mái (1936), đăng Phong hóa, 22 kỳ: 152 - 173, từ ngày
06/09/1935 đến ngày 07/02/1936, in sách năm 1936, do Đời nay xuất bản (nguồn website Thư viện Quốc gia)
7 Dưới bóng tre xanh (1935), đăng Ngày nay, 13 kỳ: 01 - 13, từ ngày
30/01/1935 đến ngày ?/1935, chưa in thành sách
8 Những ngày vui (1936), đăng Ngày nay, 14 kỳ: 16 - 29, từ ngày
12/07/1936 đến ngày 11/10/1936, in sách năm 1940, 1941(?) do Đời nay
xuất bản (nguồn website Thư viện Quốc gia)
9 Gia đình (1936 - 1937), đăng Ngày nay, 35 kỳ: 30 - 64, từ ngày
18/10/1936 đến ngày 20/06/1937, in sách năm 1938 do Đời nay xuất bản
10 Thoát ly (1937 - 1938), đăng Ngày nay, 30 kỳ: 77 - 116, từ ngày 19/09/1937 đến ngày 24/04/1938, in sách năm 1938 do Đời nay xuất bản
11 Thừa tự (1938), đăng Ngày nay, 19 kỳ: 116 - 135, từ ngày 26/06/1938
đến ngày 05/11/1938, in sách năm 1940 do Đời nay xuất bản
12 Hạnh (1938 - 1939), đăng Ngày nay, 09 kỳ: 136 - 144, từ ngày
12/11/1938 đến ngày 07/11/1939, in sách năm 1940 do Đời nay xuất bản
13 Đẹp (1939 - 1940), đăng Ngày Nay, 27 kỳ: 169 - 201, từ ngày 08/07/1939
đến ngày 02/03/1940, in sách năm 1941 do Đời nay xuất bản (nguồn website Thư viện Quốc gia)
14 Thanh Đức (Băn khoăn), không đăng báo, chỉ in sách tại Nxb Đời nay
năm 1943
Trong 14 tác phẩm trên có một tác phẩm chưa in sách là truyện Dưới bóng tre xanh
Trang 36Về truyện ngắn:
Các truyện ngắn xuất sắc được in thành tập của Khái Hưng gồm:
1) Anh phải sống (viết chung với Nhất Linh, 1934)
2) Tiếng suối reo (1934)
3) Đợi chờ (1939)
4) Đội mũ lệch (1941)
5) Cái Ve (1944)
6) Hạnh (Thực ra đây là truyện vừa), đăng trên báo Ngày nay, từ số 136
(12/11/1938) đến số 144 (07/1/1939) – Đời nay xuất bản năm 1940
Một số truyện chỉ mới đăng báo:
- Bông cúc vàng (1933) đăng Phong hóa, 06 kỳ: 30 - 35, từ ngày 13/1/1933 đến ngày 29/2/1933
- S ố đào hoa (chuyện một anh chàng xinh trai) (1934), đăng báo Phong hóa,
08 kỳ:110 - 119, từ ngày 10/08/1934 đến ngày 12/10/1934
Điểm qua các lĩnh vực sáng tác của Khái Hưng càng thấy rõ: Khái Hưng là linh hồn nghệ thuật của nhóm văn xuôi TLVĐ, là cây bút sung sức của báo Phong hóa, Ngày nay Sáng tác của Khái Hưng bao gồm nhiều thể loại thuộc cả hai lĩnh vực văn học, báo chí, bao gồm: tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện viết cho thiếu nhi,
kịch, phê bình văn học, xã luận, tiểu phẩm báo chí,… Trong đó đóng góp nổi bật và giá trị hơn cả của ông, trong TLVĐ, dĩ nhiên, là tiểu thuyết và truyện ngắn
Trước nay, nhiều công trình nghiên cứu tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng, thường dựa trên vốn tư liệu, văn bản chưa đầy đủ, lắm khi thiếu chuẩn xác Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi đã tiến hành rà soát, kiểm kê lại toàn bộ tác phẩm văn học
của Khái Hưng, cũng như diễn trình sáng tác của ông trong bối cảnh văn xuôi TLVĐ, được đăng trên báo Phong hóa, Ngày nay Hy vọng rằng khi đã bổ sung nguồn tư liệu gốc và hệ thống văn bản đầy đủ hơn, việc nghiên cứu cũng sẽ hệ
thống, tin cậy; có cơ sở khoa học và thực tiễn hơn Chúng tôi xem các văn bản đăng báo này như tư liệu gốc, khi cần đem đối chiếu với văn bản in sách về sau
Cũng phải nói thêm rằng, sự nghiệp văn chương báo chí của Khái Hưng là cả
một tập hợp tác phẩm sống động ít nhiều mang tính chỉnh thể Vì vậy, muốn miêu
Trang 37tả, đánh giá đúng một bộ phận nào, cần phải xem xét nó trong quan hệ với các bộ
phận khác thuộc hệ thống ấy Về sự cần thiết của việc xem xét quan hệ này, khi
nhận định về sáng tác phong phú của TLVĐ, đã có nhà nghiên cứukhuyến nghị:
“Một văn đoàn có 7 thành viên chính thức, đều sáng tác văn xuôi mà lại chỉ nghiên cứu giới hạn tiểu thuyết của ba tác giả (Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo) thì làm sao đủ tư liệu, căn cứ khái quát về văn xuôi TLVĐ; một văn đoàn nêu rõ định hướng cơ quan ngôn luận của họ là “Tuần báo xã hội, văn chương trào phúng”
mà khi nghiên cứu lại gạt bỏ các sáng tác văn thơ trào phúng, các thể văn “cận văn học”, gạt bỏ tinh thần trào phúng, cây bút trụ cột về trào phúng sang một bên, thì làm sao tránh khỏi những đánh giá giản đơn, phiến diện, vội vàng? Quan điểm của tác giả bài viết này, như đã nói ở phần trên, là phải trả về cho khu vực sáng tác văn chương của TLVĐ đầy đủ, toàn vẹn các sáng tác của họ: thơ trữ tình/truyện ngắn
của Thế Lữ, Xuân Diệu; thơ trào phúng (hiện thực phê phán) của Tú Mỡ; truyện trinh thám/ kinh dị của Thế Lữ; truyện ngắn, tiểu thuyết, tùy bút của Thạch Lam; truyện ngắn/bút kí của Khái Hưng; truyện ngắn du kí của Nhất Linh;…” [356]
Với trường hợp Khái Hưng cũng vậy Cần phải xem sáng tác của ông là một
tiểu hệ thống trong đại hệ thống là văn chương TLVĐ Cần phải nghiên cứu tiểu thuyết, truyện ngắn Khái Hưng trong mối quan hệ tương tác với những bộ phận khác trong toàn bộ sáng tác của Khái Hưng
Vậy nên, khi nghiên cứu văn xuôi nghệ thuật của Khái Hưng, cần đặt trong
sự tham chiếu của toàn hệ thống cũng như trước tác báo chí của ông Chẳng hạn
việc đặt tiểu thuyết, truyện ngắn của ông trong sự tham chiếu của các bài, mục báo
mà ông phụ trách trên Phong hóa, Ngày nay như: “Thế giới cũ, mực Tầu giấy bản”, Phong hóa (số 28 - 33 - 34 - 35), ngày 30 - 11 đến ngày 24 - 12 năm 1932, kí các
bút danh Khái Hưng, Nhị Linh, NL; “Giáo dục trong dân quê, một bản chương trình dự định”, Phong hóa, Số 60, ngày 18 – 10, 1933, kí NL; “Ngó qua chủ nghĩa đại gia đình”, Phong hóa, (số 69), Ngày 20 - 10, 1933, NL; “Ngược dòng và Thoát ly”, Ngày nay, (s ố 91), tháng 12, 1937 kí Khái Hưng; “Khổng giáo”, Phong hóa, (số 100), ngày 1 - 6, 1934, kí NL; “Âu hóa dân quê quan niệm mới”, Phong hóa, (số
107 và 108), ngày 20 và 27 - 7, 1934, kí NL; Văn bác học và văn bình dân, Phong
Trang 38hóa, (số118), ngày 5 - 10, 1934, kí Khái Hưng; “Câu chuyện cuối tuần”, (Ngày nay các số 100, 101, 102, 114, 117, 118, 119, 121, 123, 124), 1936, kí Khái Hưng
Hoặc: “Giới thiệu Vàng và máu của Thế Lữ”, kí Khái Hưng (1934); “Văn chương, phê bình Một mình trong đêm tối”, Ngày nay, (số 89), ngày 12/12/1937, kí Khái Hưng; “Tựa Gió đầu mùa của Thạch Lam”, Ngày nay, 2/12/1937, Khái Hưng, v.v
Độc giả Phong hóa, Ngày nay từng biết đến ông như một cây bút xã luận, chính luận sắc sảo, duyên dáng trên với một số mục bài thu hút được đông đảo công chúng Nhưng nói đến Khái Hưng trước hết là nói đến một tiểu thuyết gia (Vu Gia gọi Khái Hưng – đơn giản mà rất đúng – là “nhà tiểu thuyết”), một “nhà văn hiện đại viết tiểu thuyết và truyện ngắn đầy tài năng”
Có thể thấy, trong chỉ hơn 10 năm cầm bút, Khái Hưng đã để lại một văn nghiệp khá đồ sộ với nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện thiếu nhi, kịch thơ, tạp văn… Là một cây bút chủ chốt của TLVĐ, luôn gương mẫu nỗ lực thực
hiện tôn chỉ của nhóm, theo sát những tiêu chí mà văn đoàn đề ra, nên những đóng góp cũng như những hạn chế của Khái Hưng, đặc biệt là ở thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn, cũng đồng thời phản ánh điểm mạnh và điểm yếu của nhóm văn đoàn
1 Tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài nếu những sách này chỉ có giá trị văn chương thôi: mục đích là để làm giàu thêm văn sản trong nước
2 Soạn hay dịch những cuốn sách có tư tưởng xã hội Chú ý làm cho người
và cho xã h ội ngày một hay hơn lên
3 Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tính cách bình dân và
cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân
Trang 394 Dùng một lối văn giản dị dễ hiểu, ít chữ nho, một lối văn thật có tính cách An Nam
5 Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có giá trị phấn đấu và tin ở sự tiến bộ
6 Ca tụng những nét hay vẻ đẹp của nước nhà mà có tính cách bình dân, khi ến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân Không có tính cách trưởng giả quí phái
7 Trọng tự do cá nhân
8 Làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa
9 Đem phương pháp khoa học thái tây ứng dụng vào văn chương An Nam
10 Theo một trong 9 điều này cũng được miễn là đừng trái ngược với những điều khác
[Báo Phong hóa, số 87, ngày 02/3/1934, trang 2]
Nhìn vào tôn chỉ mục đích trên đây, đồng thời đọc Phong hóa, Ngày nay, quan sát các phong trào hoạt động xã hội mang tinh thần cải cách của TLVĐ, sẽ dễ dàng nhận thấy, hoạt động của TLVĐ không chỉ khuôn hẹp trong sáng tác, truyền
bá văn chương mà còn bao hàm cả các hoạt động nhiều phương diện khác trong
phạm vi văn hóa, xã hội Các hoạt động này đều dựa trên lập trường dân chủ, dân tộc và duy tân Như thế cũng có nghĩa là sáng tác văn chương của TLVĐ cũng
thường xuyên được định hướng theo tinh thần đề cao lập trường dân chủ, dân tộc và duy tân
Nhưng đâu là những đóng góp chủ yếu, những giá trị thực chất, cốt lõi mà TLVĐ đã góp vào văn mạch dân tộc? Trả lời câu hỏi này thực ra không đơn giản bởi nó tùy thuộc vào quan điểm lập trường vào tâm thế xã hội thời điểm đánh giá và thường mang đậm dấu ấn lịch sử
Gần một thế kỷ qua, việc đánh giá TLVĐ, do nhiều nguyên nhân, vẫn có những khác biệt lớn, thậm chí trái ngược không chỉ giữa nhóm nghiên cứu này với nhóm nghiên cứu khác, mà giữa thời điểm trước với thời điểm sau của cùng một nhà nghiên cứu
Không khó để nhận ra sự khác biệt và trái ngược có thật đó Chẳng hạn trong khi ở miền Nam vào thập niên 50, 60 văn chương TLVĐ rất mực được tôn vinh cả
Trang 40trong và ngoài nhà trường thì ở miền Bắc sáng tác của TLVĐ đã bị xếp vào vùng đọc hạn chế, hoặc vùng cấm; trong khi giới phê bình miền Nam say sưa đề cao thì
giới nghiên cứu phê bình miền Bắc lại phê phán khá nặng nề
Ngay ở miền Nam từ giữa thập niên 60 trở đi, khi xuất hiện nhóm Sáng tạo thì sự đánh giá TLVĐ ít nhiều cũng có sự đảo chiều hoặc tạo ra những khác biệt cơ
bản Một bên chủ trương “chôn văn chương tiền chiến” một bên vẫn tích cực bảo
vệ, tôn vinh Ở miền Bắc, đôi khi, cùng một nhà nghiên cứu nhưng ở vào các thời điểm khác nhau việc khen chê TLVĐ cũng khác nhau về mức độ, thậm chí có tình trạng chuyển từ cực nọ sang cực kia
Bởi vì thế, việc đánh giá TLVĐ cho thỏa đáng vẫn là điều chưa hề cũ, cần
phải được tiếp tục một cách khách quan khoa học Có như vậy mới có nền tảng, cơ
sở để đánh giá thỏa đáng đóng góp, hạn chế của các tác giả cụ thể của nhóm, nhất là
những nhà văn như Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo
Tham vọng của TLVĐ – làm một cuộc cách mạng văn hóa xã hội nhằm tạo
ra một thế giới riêng có cuộc sống no đủ, văn minh, tồn tại hợp pháp trong lòng chế
độ thuộc địa dưới sự dẫn dắt của những trí thức Tây học – xét trên bình diện văn hóa, phong tục, họ đã tạo ra một phong trào tiến bộ, có tính dân tộc, có ảnh hưởng
xã hội khá sâu đối với công chúng văn học ở các đô thị nước ta thời bấy giờ
Các hoạt động cải cách văn hóa của TLVĐ được thực hiện thông qua hai hình thức: tuyên truyền (bằng báo chí, văn chương) và hành động (với một số hoạt động cụ thể như làm nhà Ánh sáng, phát chẩn,…)
Theo đó, các thành viên của TLVĐ phải hoạt động tổng hợp, hoạt động liên ngành, kiêm nhiệm: viết văn, làm báo; sáng tác tiểu thuyết, viết xã luận, phê bình;
vẽ tranh, soạn kịch; vừa là nghệ sĩ vừa là nhà hoạt động văn hóa, xã hội; vừa có tư duy nghệ thuật vừa có đầu óc kinh tài; là người sáng tác tự do đồng thời là người biết cộng đồng trách nhiệm; là những thành viên biết tự đặt mình trong khuôn khổ
hoạt động của tập thể nhưng vẫn phát huy được tự do sáng tạo cá nhân và phát huy được sở trường của bản thân Đây chính là lý do khiến tìm hiểu TLVĐ, nhà nghiên
cứu phải duy trì, tôn trọng một nguyên tắc chung: bao giờ cũng phải đặt sáng tác văn học bên cạnh các hoạt động liên ngành khác của nhà văn đồng thời đặt sáng tác