Vài nét về khách thể nghiên cứu thực trạng thói quen sử dụng thông tin của sinh viên tại thư viện trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh ... Cơ sở đề xuất các biện pháp tác động đế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
CỦA SINH VIÊN TẠI THƯ VIỆN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Mã số: CS.2015.19.74
Chủ nhiệm đề tài: TS LÊ QUỲNH CHI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
CỦA SINH VIÊN TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Mã số: CS.20105.19.74
Xác nhận của cơ quan chủ trì Chủ nhiệm đề tài
TS LÊ QUỲNH CHI
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
CỦA SINH VIÊN TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Mã số: CS.20105.19.74 DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
ThS Lê Văn Hiếu Thư viện Trường ĐHSP TP HCM Thành viên Th.S Đặng Hoàng An Khoa Tâm lý học Trường ĐHSP
TP HCM
Thành viên
CN Nguyễn Văn Quang Thư viện Trường ĐHSP TP HCM Thư ký khoa
học
Trang 4M ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÓI QUEN SỬ DỤNG THÔNG TIN TRONG THƯ VIỆN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Một số nghiên cứu về thói quen sử dụng thông tin tại thư viện ở nước ngoài 7
1.1.2 Một số nghiên cứu về thói quen sử dụng thông tin tại thư viện ở Việt Nam 12
1.2 Vai trò của hoạt động thông tin tại thư viện đại học 17
1.3 Lý luận về thói quen sử dụng thông tin tại thư viện đại học 20
1.3.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại và cơ chế hình thành thói quen 20
1.3.2 Khái niệm thông tin, các loại thông tin tại thư viện đại học 24
1.3.3 Khái niệm về thói quen sử dụng thông tin 28
1.4 Thói quen sử dụng thông tin tại thư viện của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 29
1.4.1 Khái niệm thói quen sử dụng thông tin tại thư viện của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 29
1.4.2 Các biểu hiện của thói quen sử dụng thông tin tại thư viện của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 29
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến thói quen sử dụng thông tin tại thư viện của sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THÓI QUEN SỬ DỤNG THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 38
2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng thói quen sử dụng thông tin của sinh viên tại thư viện trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 38
2.1.1 Mục đích nghiên cứu 38
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu thực trạng thói quen sử dụng thông tin của sinh viên tại thư viện trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 38
Trang 52.1.3 Vài nét về khách thể nghiên cứu thực trạng thói quen sử dụng thông tin
của sinh viên tại thư viện trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 42
2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng thói quen sử dụng thông tin của sinh viên tại thư viện trường Đại học Sư phạm TP.HCM 45
2.2.1 Nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm TP.HCM về thói quen sử dụng thông tin tại thư viện 45
2.2.2 Thực trạng thói quen sử dụng thông tin của sinh viên tại thư viện trường Đại học Sư phạm TP.HCM qua một số biểu hiện 47
2.2.3 Kết quả so sánh thói quen sử dụng thông tin của sinh viên tại thư viện trường Đại học Sư phạm TP.HCM theo một số biến số 69
2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thói quen sử dụng thông tin của sinh viên tại thư viện trường Đại học Sư phạm TP.HCM 74
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP TÁC ĐỘNG ĐẾN THÓI QUEN SỬ DỤNG THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM 78
3.1 Cơ sở đề xuất các biện pháp tác động đến thói quen sử dụng thông tin của sinh viên tại thư viện trường Đại học sư phạm TP.HCM 78
3.1.1 Dựa trên cơ sở nghiên cứu lý luận và kế thừa các công trình nghiên cứu cùng hướng về thói quen sử dụng thông tin tại thư viện 78
3.1.2 Dựa trên kết quả nghiên cứu thực trạng thói quen sử dụng thông tin của sinh viên tại thư viện trường Đại học Sư phạm TP.HCM 78
3.1.3 Dựa trên việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thói quen sử dụng thông tin của sinh viên tại thư viện trường Đại học Sư phạm TP.HCM 79
3.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp tác động đến thói quen sử dụng thông tin của sinh viên tại thư viện trường Đại học sư phạm TP.HCM 80
3.2.1 Đảm bảo tính khoa học 80
3.2.2 Đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ 80
3.2.3 Đảm bảo tính thực tiễn, khả thi 80
3.2.4 Đảm bảo tính hiệu quả kinh tế 80
Trang 63.3 Đề xuất một số biện pháp tác động đến thói quen sử dụng thông tin của sinh
viên tại thư viện trường Đại học sư phạm TP.HCM 81
3.3.1 Nhóm biện pháp xuất phát từ thư viện 81
3.3.2 Nhóm biện pháp xuất phát từ nhà trường 91
3.3.3 Nhóm biện pháp xuất phát từ xã hội 95
3.4 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất 97
3.4.1 Tổ chức thực hiện 97
3.4.2 Kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp đã đề xuất 98
3.4.3 Kết quả khảo sát tính khả thi của một số biện pháp được đề xuất 102
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 112
Trang 8DANH M ỤC CÁC BẢNG
B ảng 2.1 Vài nét về khách thể nghiên cứu 42
B ảng 2.2 Nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm TP.HCM về thói quen s ử dụng thông tin tại thư viện 45
B ảng 2.3 Nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm TP.HCM về thói quen s ử dụng thông tin tại thư viện 46
B ảng 2.4 Mục đích sử dụng thông tin của sinh viên tại thư viện trường 47
B ảng 2.5 Tần số sử dụng thông tin của sinh viên tại thư viện trường Đại học
B ảng 2.8 Thói quen sử dụng loại hình thông tin chung của sinh viên tại thư
vi ện trường Đại học Sư phạm TP.HCM 54
B ảng 2.9 Thói quen sử dụng loại hình thông tin cụ thể của sinh viên tại thư
vi ện trường Đại học Sư phạm TP.HCM 55
B ảng 2.10 Thói quen sử dụng ngôn ngữ tài liệu của sinh viên tại thư viện trường Đại học Sư phạm TP.HCM 57
B ảng 2.11 Các bước tiếp cận thông tin của sinh viên tại thư viện trường Đại
Trang 9B ảng 2.16 Thói quen sử dụng thông tin của sinh viên tại thư viện trường Đại
h ọc Sư phạm TP.HCM theo giới tính 69
B ảng 2.17 Thói quen sử dụng thông tin của sinh viên tại thư viện trường Đại
h ọc Sư phạm TP.HCM theo năm học 70
B ảng 2.18 Thói quen sử dụng thông tin của sinh viên tại thư viện trường Đại
h ọc Sư phạm TP.HCM theo học lực 71
B ảng 2.19 Thói quen sử dụng thông tin của sinh viên tại thư viện trường Đại
h ọc Sư phạm TP.HCM theo khối ngành 72
B ảng 2.20 Thói quen sử dụng thông tin của sinh viên tại thư viện trường Đại
h ọc Sư phạm TP.HCM theo Khoa 73
B ảng 2.21 Các yếu tố ảnh hưởng đến thói quen sử dụng thông tin của sinh viên
t ại thư viện trường Đại học Sư phạm TP.HCM 74
B ảng 2.22 Mức độ cần thiết của các biện pháp 98
B ảng 2.23 Mức độ khả thi của các biện pháp 102
Trang 11M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Nền giáo dục Việt Nam đang trong quá trình chấn hưng để nâng cao chất lượng đào tạo Việc đổi mới nội dung chương trình đào tạo, phương thức quản lý đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập đòi hỏi người học phải không
ngừng chủ động, độc lập trong học tập, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào
tạo Tất cả những thực tế nêu trên đòi hỏi phải phát triển hệ thống thư viện đại học.Người dùng tin là một bộ phận quan trọng, không tách rời của hệ thống thông tin,
bởi người dùng tin vừa là đối tượng phục vụ, vừa là người tiêu thụ các sản phẩm và
dịch vụ thông tin, đồng thời họ cũng là người sản sinh ra thông tin mới Trường ĐHSP TP.HCM trong những năm gần đây đang tiến hành hoàn thiện hệ thống thông tin thư viện nhằm phục vụ hiệu quả mục tiêu đào tạo và NCKH chất lượng cao, góp phần đổi mới phương pháp dạy - học Tuy nhiên, thư viện vẫn chưa “hút”
được nhiều SV Có thể dễ dàng quan sát thấy SV chỉ chăm chỉ tới thư viện vào các mùa thi Còn thời điểm khác, những ngày thường, thư viện phần lớn rơi vào tình
cảnh thưa thớt SV Nhiều SV đến thư viện, với mục đích học tập thì ít, chủ yếu
là “say” với sử dụng wifi, internet miễn phí thì nhiều Có rất nhiều nguyên nhân dẫn
tới tình trạng này, trong đó thói quen sử dụng thông tin tại thư viện đóng vai trò rất quan trọng Thói quen sử dụng thông tin tại thư viện một khi được phát triển sẽ có tác động tích cực đến việc hình thành nhân cách, tạo ra môi trường thuận lợi để nâng cao hiểu biết, cập nhật kiến thức thông tin, để học tập tốt hơn
Tác giả Samuel Smiles đã từ nói: “Gieo suy nghĩ, gặt hành động; gieo hành động, gặt thói quen; gieo thói quen, gặt tính cách; gieo tính cách, gặt số phận” Như vậy, thói quen là một trong những yếu tố quyết định sự thành bại của cuộc đời mỗi người Muốn thành công trong công việc, trong cuộc sống con người cần hình thành những thói quen tích cực Càng có nhiều thói quen tốt thì con người càng trở nên mạnh mẽ và có thể chống chọi lại nhiều thử thách cam go trong cuộc sống Đối với
SV - thế hệ trẻ tương lai của đất nước, việc hình thành những thói quen tích cực trong hoạt động học tập và sinh hoạt là vô cùng quan trọng và cần thiết Trong đó, hành động đọc sách, tìm kiếm và sử dụng thông tin tại thư viện của nhà trường là
Trang 12một thói quen rất có lợi cho hoạt động học tập của SV Thói quen này giúp cung cấp cho SV một lượng kiến thức lớn, nhanh chóng, đảm bảo độ tin cậy và tính chính xác cao Với kiến thức có được từ thói quen sử dụng thông tin tại thư viện, SV sẽ vận dụng vào quá trình học tập nhằm chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo hoạt động nghề nghiệp
Nhận thấy việc nghiên cứu thói quen sử dụng thông tin của SV ở trường
ĐHSP TP.HCM hiện nay là rất cần thiết, chúng tôi xác lập đề tài “Thói quen sử
d ụng thông tin của SV tại Thư viện trường ĐHSP TP.HCM”
2 M ục đích nghiên cứu
Xác định thực trạng thói quen sử dụng thông tin tại thư viện của SV trường ĐHSP TP.HCM, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp tác động đến thói quen sử
dụng thông tin của SV tại Thư viện trường ĐHSP TP.HCM
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thói quen sử dụng thông tin tại thư viện của SV trường ĐHSP TP.HCM
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi sau:
- Chỉ tập trung nghiên cứu thói quen dùng tin theo khái niệm xác lập trong cơ
sở lý luận
- Chỉ tập trung nghiên cứu thói quen sử dụng thông tin mà không nghiên cứu
về cơ chế hay quy luật tâm lý chi phối
4 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài như: Thói quen, thói quen sử dụng thông tin, thói quen sử dụng thông tin tại thư viện của SV…
- Khảo sát thực trạng về thói quen sử dụng thông tin tại thư viện của SV trường ĐHSP TP.HCM hiện nay
- Đề xuất một số biện pháp tác động đến thói quen sử dụng thông tin của SV
tại Thư viện trường ĐHSP TP.HCM
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Trang 13Đề tài tiến hành dựa trên cách tiếp cận vấn đề theo hướng tiếp cận biện
chứng, hệ thống - cấu trúc, lịch sử - logic và thực tiễn
5 1.1 Tiếp cận biện chứng
Thói quen dùng tin của bạn đọc trường ĐHSP TP.HCM luôn vận động và phát triển trong mối quan hệ giữa nguồn lực thông tin và đào tạo; thói quen dùng tin gắn với thực tiễn giáo dục tại các khoa trong trường đại học và xã hội; nhu cầu tin và chất lượng phục vụ
5.1.4 Ti ếp cận thực tiễn
Qua khảo sát thực tế, phân tích, đánh giá những kết quả đạt được và những
bất cập, tồn tại trong thói quen sử dụng thông tin tại thư viện của SV trường ĐHSP TP.HCM Dựa vào cơ sở thực đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động phục vụ SV trường ĐHSP TP.HCM
5 2 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, người nghiên cứu sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
5 2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Mục đích: Khái quát hóa, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về thói quen dùng tin của bạn đọc, trên cơ sở đó xây dựng các bản điều tra bằng bảng hỏi
Trang 14- Yêu cầu: Tập hợp các tài liệu khoa học, tham khảo một số công trình nghiên
cứu có liên quan đến đề tài để phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa những nghiên cứu nói trên làm cơ sở lý luận về thói quen dùng tin của bạn đọc
Trang 155 2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5 2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Mục đích: Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài Chúng tôi xây
dựng hai loại phiếu thăm dò ý kiến dành cho SV Trường ĐHSP TP.HCM nhằm thu
thập thông tin về thực trạng thói quen dùng tin của bạn đọc trường ĐHSP TP.HCM
- Yêu cầu: Dựa trên cơ sở lý luận của đề tài và các phương pháp luận để xây
dựng bảng hỏi phù hợp với mục đích nghiên cứu Bảng hỏi được thử nghiệm trước khi điều tra chính thức trên nhóm khách thể được hỏi
5 2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
- Mục đích: Chúng tôi tiến hành phỏng vấn đối với SV để có thể làm rõ thêm
thực trạng thói quen dùng tin của bạn đọc trường ĐHSP TP.HCM
- Yêu cầu: Sau khi thu số liệu và xử lý thống kê toán học, người nghiên cứu
tiến hành phỏng vấn SV dựa theo bảng phỏng vấn đã soạn sẵn
5 2.3 Phương pháp thống kê toán học
- Mục đích: Sử dụng phương pháp thống kê toán học nhằm làm rõ hơn các
giả thuyết nghiên cứu Xử lý số liệu thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng
hỏi chính xác, có độ tin cậy cao, làm cơ sở để phân tích, bình luận Tương quan của các chỉ số có thể giúp người nghiên cứu xác định những vấn đề cần được quan tâm, chú trọng để từ đó có những giải pháp khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế
- Yêu cầu: Các thông tin thu thập từ điều tra thực trạng được xử lý và phân tích trên máy vi tính với phần mềm xử lý thống kê SPSS for Windows 16.0 để tính tần
suất, thứ hạng, tỷ lệ phần trăm, trị số trung bình, độ lệch tiêu chuẩn, kiểm nghiệm T-Test, kiểm nghiệm ANOVA làm cơ sở để bình luận số liệu thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Trang 166 Những đóng góp mới của đề tài
6.1 Ý nghĩa khoa học
Cập nhật các quan điểm lý luận về các khái niệm “thói quen”, “thói quen sử
dụng thông tin”, góp phần vào việc thống nhất các thuật ngữ khoa học này và làm sáng tỏ thêm phần lý luận
6 2 Ý nghĩa thực tiễn
Làm rõ thực trạng thói quen sử dụng thông tin tại thư viện của SV trường ĐHSP TP.HCM Trên cơ sở đó, xây dựng biện pháp tác động đến thói quen sử dụng thông tin của SV tại Thư viện trường ĐHSP TP.HCM
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÓI QUEN SỬ DỤNG THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN
C ỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 M ột số nghiên cứu về thói quen sử dụng thông tin tại thư viện ở nước ngoài
Năm 1994, Ủy ban ASEAN về văn hóa thông tin đã xuất bản quyển Kỷ yếu
hội thảo quốc gia về thúc đẩy các thói quen đọc sách ở Philipines Quyển kỷ yếu
gồm 122 trang Các bài viết trong quyển kỷ yếu có nội dung xoay quanh các vấn đề thúc đẩy thói quen đọc cho người dân Một năm sau đó, Ủy ban ASEAN về văn hóa thông tin tiếp tục tổ chức hội thảo khu vực về thúc đẩy thói quen đọc của thư viện ASEAN tổ chức tại Bandung, Indonesia (1995) Quyển kỷ yếu tại hội thảo lần này
gồm 307 trang, các bài viết trong kỷ yếu khá đa dạng nhưng tựu chung đề cập đến các vấn đề thúc đẩy thói quen đọc tại thư viện với sự đóng góp của các thành viên
Ủy ban ASEAN về văn hóa thông tin và các tác giả Soekarman, Mudjito, Gardjito Như vậy, Ủy ban ASEAN về văn hóa thông tin là một tổ chức có nhận thức từ sớm
về vấn đề thói quen đọc tại thư viện Những nghiên cứu của Ủy ban ASEAN về văn hóa thông tin được xem là viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho các nghiên cứu về thói quen đọc
Năm 1999, trong nghiên cứu của Sangkaeo, tác giả đã mô tả các hoạt động khác nhau mà thư viện ASEAN đã thực hiện để thúc đẩy thói quen đọc bằng cách nâng cao nhận thức trong nhân dân Th ứ nhất, nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố hạn
chế thói quen đọc sách tại thư viện ASEAN (văn hóa, cơ chế quản lý và sự hấp dẫn
của các phương tiện truyền thông điện tử) Th ứ hai, nghiên cứu đặc biệt nhấn mạnh
đến vai trò của các viện, tổ chức trong việc giúp đỡ các thư viện tiến hành các hoạt
động nhằm nâng cao thói quen đọc sách của địa phương khảo sát Th ứ ba là một số
gợi ý về các phương pháp hiệu quả và thành công của các chương trình khuyến khích thói quen đọc sách của thư viện ASEAN đã được thu thập Cũng trong nghiên
cứu này, tác giả Sangkaeo đã đưa ra thuật ngữ “thói quen đọc sách” là dùng để chỉ các hành vi thể hiện “chân dung” của việc đọc sách ở các cá nhân, các loại hình đọc
Trang 18và thị hiếu của người đọc Trong nghiên cứu của mình, Sangkaeo đã nhấn mạnh đọc sách là quan trọng đối với tất cả mọi người và thói quen đọc sách chính là cách để con người chúng ta thích ứng với những kiến thức mới trong một thế giới luôn thay đổi Khả năng đọc sách chính là trung tâm của sự tự học và học tập suốt đời của mỗi con người Tuy nhiên, văn hóa đọc ở tiểu vùng khảo sát là không đáng khích lệ Trên cơ sở này, nghiên cứu của Sangkaeo nêu rõ rằng thói quen văn hóa của người dân Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan là thích lắng nghe và trò chuyện nhiều hơn đọc [27]
Nghiên cứu của Nina Shrestha (2008) về việc sử dụng nguồn lực thư viện một cách hiệu quả của SV Nghiên cứu đã tìm hiểu nhận thức và thói quen tìm kiếm nguồn lực thư viện và các dịch vụ của SV Đại học, sự ảnh hưởng của mạng internet đến thói quen tìm kiếm thông tin của SV Nghiên cứu đã tìm hiểu thói quen tìm
kiếm thông tin của SV ba trường Đại học, Cao đẳng, bao gồm: trường Cao đẳng Thapathali, trường cao đẳng khoa học máy tính quốc gia và Đại học Kathmandu Nghiên cứu cũng cho thấy: Thư viện sách, tạp chí điện tử và internet là NTT được
sử dụng phổ biến nhất trong quá trình làm việc và nghiên cứu của SV Đồng thời,
các hướng dẫn trong việc sử dụng tài nguyên thư viện và các dịch vụ là cần thiết để giúp SV đáp ứng một số yêu cầu thông tin
Một cuộc khảo sát của S Thanuskodi Thư viện thông tin Khoa học Wing, Cục Giáo dục từ xa, Đại học Annamalai, Annamalai Nagar, Tamil Nadu, Ấn Độ (2011)
về thói quen đọc sách tại thư viện và thông tin khoa học của SV trường Đại học Annamalai Các kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng phần lớn SV LIS (79,53%) quan tâm đọc những tài liệu khoa học gắn với chuyên môn ở mức thường xuyên Khoảng một phần ba số SV được khảo sát xác nhận là hiếm khi đọc tiểu thuyết, truyện tranh, tạp chí và các ấn phẩm internet, các ấn phẩm tôn giáo Kết quả còn cho thấy
rằng các SV trả lời có đến gần ½ mẫu (46,19%) không bao giờ đọc các tạp chí khoa
Trang 19cần thiết Thói quen sử dụng thư viện, có nghĩa là sử dụng liên tục và thường xuyên các thông tin, dịch vụ của thư viện nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu trí tuệ của mình Riêng đối với các SV sư phạm sẽ trở thành giáo viên trong tương lai rất cần
có những thói quen đọc sách và phát triển các kỹ năng sử dụng thư viện hiệu quả Tuy nhiên, những chỉ báo nghiên cứu tìm thấy trong các tài liệu cho thấy rằng SV
sư phạm không có thái độ tích cực nhiều cho việc đọc và sử dụng thư viện Nhằm xác định những thói quen của các SV của trường Đại học Gazi khoa giáo dục dạy nghề (GUVEF) Những người tham gia nghiên cứu là SV năm đầu tiên và năm thứ
tư của GUVEF Với mục đích xác định những thói quen sử dụng thư viện của các
SV, một thang “likert” được phát triển bởi các nhà điều tra Bảng câu hỏi bao gồm hai phần Đặc điểm nhân khẩu học có trong phần đầu tiên, và câu hỏi nhằm vào các thói quen sử dụng thư viện trong phần thứ hai Bên cạnh đó, nghiên cứu còn phỏng
vấn các bạn về việc sử dụng thư viện Cách giải thích được thực hiện theo các kết
quả thu được, và khuyến nghị đã được đưa ra cho sự phát triển những thói quen của
SV sư phạm [18]
Bài viết của Isaac Oluwadare Busayo, Thư viện Nimbe Adedipe trường Đại
học Nông nghiệp, ở tiểu bang Ogun, Nigeria (2011) về “Thư viện trường học như
một bước cơ bản cho trẻ em thói quen đọc sách hiệu quả” đăng trên tạp chí Thư
viện Triết học và thực tiễn năm 2011 Trong nghiên cứu này, tác giả đã cho biết thư
viện là ngôi nhà quyền lực của các cơ sở giáo dục mà không nơi nào có được, thói quen đọc sách hình thành tốt nhất ở độ tuổi trẻ tiểu học và được rèn luyện đến suốt
cuộc đời và thói quen đọc đóng một vai trò rất quan trọng trong việc lĩnh hội tri
thức nhân loại Ông còn nhấn mạnh đến việc tăng cường tiếp cận thông tin có liên quan và thúc đẩy một nền văn hóa đọc là điều kiện tiên quyết cho việc tăng cường các kỹ năng đọc, mở rộng giáo dục và cơ hội học tập cho con người.Bài báo chỉ ra thuật ngữ thói quen đọc sách, mục tiêu phục vụ bạn đọc của thư viện trường học,
một số biện pháp để hình thành thói quen đọc sách, sử dụng tài liệu thư viện ngay từ
nhỏ cho học sinh [16]
Tiến sĩ K K Palani (2012), Khoa công vụ Đại học Madras, Tamilnadu, Ấn
Độ Bài viết cho biết thói quen đọc sách là một khía cạnh thiết yếu và quan trọng
Trang 20trong thế giới này Thói quen đọc sách nó định hình tính cách của một cá nhân và
nó giúp họ phát triển các phương pháp tư duy đúng đắn và tạo ra những ý tưởng
mới Hiện nay, do ảnh hưởng của truyền thông đại chúng, người ta có thể không quan tâm nhiều đến việc đọc sách, tạp chí,… Vì vậy, có nhu cầu cấp thiết để phát triển thói quen đọc sách giữa các cá nhân trong xã hội Trong bài báo này, tác giả đã
thảo luận các phương pháp khác nhau và lợi ích trong việc cải thiện các thói quen đọc sách [19]
Cuộc khảo sát của nhóm tác giả Kathryn Zickuhr, Lee Rainie, Kristen Purcell (2013) về những thói quen và sở thích khi nói đến đọc sách thư viện, và công nghệ
của những người trẻ tuổi sống tại Mỹ ở lứa tuổi từ 16 đến 29, cho thấy hầu như tất
cả người Mỹ dưới 30 tuổi đang trực tuyến, và họ có nhiều khả năng để sử dụng máy tính và internet kết nối thư viện Tuy nhiên, ba phần tư (75%) của tuổi trẻ Mỹ nói
rằng họ đã đọc tại thư viện ít nhất một cuốn sách được in ra trong năm qua, so với 64% của người lớn tuổi từ 30 tuổi trở lên Kết quả nghiên cứu còn cho thấy, việc sử
dụng thông tin tại thư viện của những người trẻ tuổi ở Mỹ phản ánh một sự pha trộn
của các dịch vụ truyền thống và công nghệ [20]
Nghiên cứu của nhóm tác giả Onuoha, Uloma Doris; Unegbu, Enyeribe
Vincent và Umahi, Felicia O (2013) về thói quen đọc sách và sử dụng thư viện của
SV khoa Quản lý nguồn lực thông tin (IRM), Đại học Babcock, Nigeria Nghiên cứu được thực hiện trên 184 SV năm thứ 2 và thứ 3, kết quả cho thấy đa số SV tiêu tốn nhiều hơn một tiếng mỗi ngày cho việc đọc sách Mục đích của việc đọc chủ yếu là để giải trí và dạng thông tin đọc chủ yếu là các tờ báo và tạp chí Trong lĩnh vực sử dụng thư viện, đa số SV tìm kiếm các tài liệu đọc tại kệ sách chiếm 82,6
%; 69,6 % SV tham khảo ý kiến nhân viên thư viện và 69,6 % SV sử dụng cơ sở dữ liệu trực tuyến; dịch vụ thư viện được sử dụng ít nhất là sách điện tử chiếm tỉ lệ 39,1 % Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng SV IRM đọc sách với cả mục đích giải trí và giáo dục nhưng hầu hết các hoạt động đọc này lại diễn ra bên ngoài thư viện trường Đại học Với kết quả nghiên cứu có được, nhóm tác giả đã đưa ra 03 kiến nghị cơ bản: (1) SV IRM nên sử dụng thông tin thường xuyên hơn tại thư viện trường Đại học để có được những kinh nghiệm thực tế giá trị; (2) tăng cường việc sử dụng sách
Trang 21điện tử đặc biệt là thông qua internet để SV có cơ hội đọc những cuốn sách có thể không có sẵn trong các cửa hàng sách hoặc thư viện các trường Đại học; (3) Từ thực tế dạng thông tin được sử dụng nhiều nhất tại thư viện là tài liệu đọc, do vậy thư viện nên cung cấp thêm các tài liệu đọc để thu hút SV đến thư viện [25]
Công trình nghiên cứu của Michael Jato, Samuel O Ogunniyi và Peter O Olubiyo (2014) về “Thói quen học tập, sử dụng thư viện trường học và kết quả học
tập của học sinh trong các trường trung học được chọn trong Ondo Tây Local Area Chính phủ Ondo State” Một phát hiện rất hay của nghiên cứu này là đề tài đã chỉ ra
sự kết nối mạnh mẽ giữa việc sử dụng các thông tin tại thư viện trường học và kết quả học tập của học sinh Nghiên cứu này cho thấy trong số những người học sinh không có thói quen thường xuyên đến thư viện là những người có điểm kém trong
thử nghiệm, kiểm tra, và đặc biệt kém ở môn Toán và Anh ngữ Dựa trên những phát hiện, nghiên cứu khuyến cáo rằng học sinh cần có một thời gian cụ thể để sử
dụng thư viện trường học một cách thường xuyên; thư viện trường học nên mở ngoài giờ học để cho phép các học sinh cơ hội học tập sau giờ học, học sinh cần
phải tìm những nơi phù hợp và thoải mái để học bên ngoài lớp học mỗi ngày, và số lượng thời gian được học sinh sử dụng để nghiên cứu phải được tăng lên cả ở trường, thư viện và ở nhà để nâng cao chất lượng học tập [21]
Tác giả Omobolanle Seri Fasola trường Đại học Ajayi Crowther thuộc bang Oyo, Cộng hòa Liên bang Nigeria đã có nghiên cứu về tương quan giữa bộ sưu tập
tại thư viện và mức độ sử dụng thông tin thư viện (8/2015) Trong nghiên cứu, tác
giả đã cho thấy rằng phần lớn các thư viện trường học trong tiểu bang Oyo ở Nigeria có lượng thông tin hay bộ sưu tập tài liệu hạn chế Số liệu thống kê cho biết
phần lớn số học sinh (54,2%) được khảo sát ở các trường phổ thông thuộc bang Oyo
hiếm khi sử dụng thông tin tại thư viện trường học vì nó không đáp ứng được nhu
cầu học tập và xã hội của người học Và kết quả khảo sát cũng cho biết học sinh ở các trường phổ thông thừa nhận rằng không có sử dụng thông tin tại thư viện trường học bởi việc đi đến thư viện là một sự lãng phí về mặt thời gian Kết quả nghiên cứu còn cho thấy có ý nghĩa thống kê về mối quan hệ giữa các bộ sưu tập thông tin tại thư viện và việc sử dụng các thông tin tại thư viện [24]
Trang 22Gần đây nhất (12/2015) Itunu A Bamidele thuộc thư viện Laz Otti Memorial, Đại học Babcock đã nghiên cứu về thói quen sử dụng thư viện của học sinh cấp hai bang Ogun, Nigeria Nghiên cứu được thực hiện trên tổng số 968 khách thể và kết luận rằng thói quen sử dụng thư viện công cộng của học sinh cấp hai ở bang Ogun, Nigeria đạt ở mức thấp (ĐTB = 2.55), thói quen này được biểu hiện cụ thể thông qua các hành vi sử dụng thư viện của học sinh, cụ thể chỉ có 18.8% % học sinh đến thư viện hàng ngày (ĐTB = 2.57, mức thấp) và có đến 30.2% học sinh chỉ đến thư viện khi có nhiệm vụ học tập (ĐTB = 2.01, mức thấp); 25.3% học sinh đến thư viện để đọc báo (ĐTB = 2.21, mức thấp) Các hành động khác như tham khảo ý kiến các nhân viên thư viện trong khi tìm kiếm tài liệu; hỏi các cán bộ thư viện để được giúp đỡ khi cần thiết; tận dụng mục lục thư viện khi tìm kiếm các tài liệu đọc đều được thực hiện ở mức trung bình với tỉ lệ phần trăm dao động từ 15.8 % đến 18.3% Thực trạng này có thể được lí giải do thực tế học sinh không được khuyến khích, giới thiệu đến các thư viện trường học Kết quả nghiên cứu cho thấy, đa số học sinh cho rằng không ai khuyến khích họ sử dụng thư viện chiếm tỉ lệ 58,3 % ;
số khác được khuyến khích bởi bạn bè ( 15,1 % ), giáo viên ( 17,8 % ), nhân viên thư viện ( 4 % ), hiệu trưởng các trường ( 3,6 % ), cha mẹ ( 0,6 % ) và trong quá trình định hướng chương trình ( 0,6 % ) Thực tế là nếu học sinh không được khuyến khích sử dụng thư viện trường học sẽ là một bất lợi và ảnh hưởng lớn đến thói quen sử dụng thư viện của học sinh [17]
Như vậy, có thể nhận thấy vấn đề thói quen dùng tin đã được các nước tiếp
cận dưới nhiều góc nhìn khác nhau Tuy nhiên, các nghiên cứu cụ thể và thực tiễn chưa nhiều mà chủ yếu được nghiên cứu trên bình diện văn hóa Chính vì vậy, các nghiên cứu dưới góc độ hành vi thói quen xã hội là điều thiết yếu và cần thiết để có
những biện pháp giáo dục, tác động vào thói quen dùng tin một cách tích cực hơn
1.1.2 M ột số nghiên cứu về thói quen sử dụng thông tin tại thư viện ở Việt Nam
Bài viết của tác giả Huỳnh Đình Chiến, Huỳnh Thị Xuân Phương, Hoàng
Thị Trung Thu, Trung tâm Học liệu - Đại học Huế (2013) về “Vai trò của thư viện
trong vi ệc đảm bảo chất lượng giáo dục đại học: hướng đến một cách nhìn nhận
Trang 23tích c ực” Trong bài viết này, nhóm tác giả cũng đã đề cập đến vấn đề người dùng
tin hiện nay chủ yếu là sử dụng những nguồn tin từ internet hơn là sử dụng nguồn tin trên thư viện Bài viết còn đưa ra những đề xuất nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của thư viện để đáp ứng nhu cầu bạn đọc
Đề tài “Nghiên cứu nhu cầu thông tin của cán bộ quản lý tại Trường ĐHSP
TP.HCM” của tác giả Lê Văn Hiếu (2010) nghiên cứu nhu cầu tin của cán bộ quản
lý nói riêng và cán bộ, giảng viên, học viên, SV nói chung dựa trên điều kiện hoạt động thông tin thư viện thực tế tại thư viện và đề xuất một số biện pháp nâng cao
chất lượng phục vụ tại Thư viện trường ĐHSP TP.HCM
Nguyễn Thị Bích Hạnh (2005) với nghiên cứu “Tìm hiểu hành vi của bạn
đọc tại thư viện Quốc gia Việt Nam” Công trình nghiên cứu đã cho biết “hành vi
của bạn đọc là phản xạ có điều kiện được hình thành trong quá trình khai thác, tìm
kiếm và sử dụng thông tin, tài liệu” Tác giả đã nghiên cứu những hành vi tích cực
và tiêu cực của bạn đọc, công tác hỗ trợ bạn đọc của thư viện Nghiên cứu cũng đã
chỉ ra những hạn chế trong hoạt động của thư viện làm hình thành những hành vi không tốt của bạn đọc từ đó đề xuất những biện pháp nhằm hình thành và phát triển hành vi tích cực của bạn đọc
Năm 2010 tác giả Lê Thị Thu Hoài nghiên cứu đề tài “Đánh giá hoạt động
khai thác và s ử dụng thư viện nhà trường phục vụ cho việc học tập của SV năm
cu ối, hệ Đại học chính quy, Học viện chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh” Mục đích chính của công trình này là nghiên cứu dịch vụ cung cấp thông tin
tại các Trung tâm Thông tin - Thư viện trường đại học để thấy được giá trị và ý nghĩa mà dịch vụ này mang lại cho bạn đọc, từ đó dề xuất một số giải pháp phát triển dịch vụ này tại các Trung tâm Thông tin – Thư viện đại học Nghiên cứu cũng nêu ra các dịch vụ cung cấp thông tin như: Dịch vụ cho mượn tài liệu; Dịch vụ dịch tài liệu; Dịch vụ cung cấp thông tin tồn tại dưới các dạng nghe nhìn (audio - video)
và vi dạng (micro form); Phổ biến thông tin chọn lọc (cung cấp thông tin có nội dung và hình thức đã được xác định trước) Các dịch vụ phổ biến thông tin hiện đại như: giới thiệu, trưng bày, triển lãm các tài liệu mới, phổ biến tài liệu có chọn lọc (tài liệu được chuyển về dạng vi phim), sử dụng các thiết bị ghi hình hoặc
Trang 24truyền hình để truyền tin… Ngoài ra, nghiên cứu cũng đưa ra các yếu tố môi trường, kinh tế - xã hội tác động đến dịch vụ cung cấp thông tin như: Các văn bản pháp luật
và cơ sở vật chất - kỹ thuật
Cũng trong năm 2010, nhóm tác giả Phạm Thị Ái, Trần Thị Mai, Trần Thị
Bích Phương, Mai Thị Thanh Sương và Phan Thị Tỉnh nghiên cứu đề tài “Thực
tr ạng sử dụng thư viện của SV trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn” Kết
quả nghiên cứu cho thấy, SV sử dụng thông tin tại thư viện với những loại tài liệu khác nhau, trong đó: Giáo trình là tài liệu được sử dụng phổ biến nhất, chiếm 36,5%; tiếp đến là luận văn, luận án, báo cáo khoa học chiếm 17,6%; tài liệu từ điển chiếm 6,8%; cùng chiếm tỉ lệ 10,8% là tài liệu báo, tạp chí và tài liệu điện tử; các
loại sách văn học, kỹ năng sống, giải trí cũng chiếm 17.6% Nghiên cứu về thời gian
SV đến thư viện cho thấy, đa số SV đến thư viện một cách tuỳ hứng, không cố định với 54.8% SV rảnh lúc nào vào thư viện lúc đó, tỉ lệ SV đến thư viện vào buổi sáng nhiều hơn buổi chiều Về mục đích, SV đến thư viện với mục đích chủ yếu là mượn
và đọc sách chiếm 34.9% Bên cạnh đó còn có các mục đích khác như học nhóm chiếm 23.6%, nghỉ ngơi chiếm 20.8%, truy cập internet chiếm 19.8% và ý kiến khác chiếm 0.9% Từ kết quả thực trạng trên, nhóm tác giả đã có những đề xuất nhằm khuyến khích và nâng cao ý thức sử dụng thư viện của SV Đặc biệt là ở góc độ thư
viện, đề tài nhấn mạnh (1) Cần xây dựng môi trường đọc sách thân thiện; Thư viện
phải luôn sạch sẽ thoáng mát, kho tài liệu luôn được sắp xếp ngăn nắp; Tạo điều
kiện cho SV sử dụng tài liệu và các dịch vụ một cách thoải mái mà không bị gò bó
bởi các thủ tục đăng ký rườm rà làm mất thời gian; (2) Phối hợp bổ sung, cập nhật nguồn lực thông tin tư liệu, nhất là nguồn tài liệu điện tử, trao đổi cơ sở dữ liệu thư
mục, cơ sở dữ liệu toàn văn, cơ sở dữ liệu chuyên ngành (3) Ứng dụng CNTT trong các thư viện mang lại kết quả tối ưu trong việc lưu trữ, bảo quản, khai thác và giao lưu thông tin, góp phần nâng cao hiệu quả phục vụ của người dùng tin trong các thư
viện nhà trường hiện nay góp phần thu hút SV đến thư viện
Một nghiên cứu của Thư viện Đại học Quốc gia TP.HCM năm 2011 về
“Th ực trạng sử dụng thư viện trung tâm Đại học Quốc gia TP.HCM” Nghiên cứu
này đã tìm hiểu những lý do SV sử dụng thư viện, kết quả cho thấy: Gần 50% SV sử
Trang 25dụng thư viện với lý do là nguồn tài liệu tại thư viện phong phú, phù hợp với chương trình học; 28.27 % SV đến thư viện với lý do không gian thoải mái, tiện lợi
và rộng rãi cho việc nghiên cứu tài liệu; 20.19% cho rằng lý do khiến họ sử dụng thư viện là vì ở đây mới có những đầu sách mình cần; 6.6% SV đến thư viện để sử
dụng thiết bị đa phương tiện hiện đại Trong nghiên cứu này tác giả cũng tìm hiểu được mục đích sử dụng thư viện của SV chủ yếu là nghiên cứu, đọc tài liệu tại chỗ,
một số SV khác mang về và một bộ phận nhỏ SV nhằm mục đích giải trí và sử dụng thiết bị đa phương tiện Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hầu hết SV đến đây để ngồi đọc sách và truy cập cơ sở dữ liệu hoặc để tìm đầu sách, chứ chưa quan tâm đến việc họp nhóm hoặc tận dụng các dịch vụ tiện ích khác có sẵn tại thư viện Một vài trường hợp cá biệt có SV còn đến thư viện để giải trí thay vì học tập và nghiên cứu
Năm 2012, một khảo sát về nhu cầu bạn đọc sử dụng thư viện của thư viện trường Đại học Ngân hàng TP.HCM Khảo sát được thực hiện trên 755 khách thể,
kết quả cho thấy: (1) Về mức độ sử dụng thư viện trường của bạn đọc: Bạn đọc sử
dụng thư viện hàng tuần, chủ yếu là 1-2 lần/tuần (chiếm 32.80%) tập trung chủ yếu thuộc các chuyên ngành đào tạo như: Quản trị kinh doanh; Ngân hàng quốc tế; CNTT; Tín dụng; Thị trường chứng khoán; kế toán kiểm toán; Ngoại ngữ; Tại chức; Văn bằng 2-liên thông và Sau đại học (2) Về mục đích sử dụng: Đa số bạn đọc sử
dụng thông tin tại thư viện với mục đích học tập, chiếm tỉ lệ 68.64%; các mục đích
sử dụng khác như: NCKH, giải trí,…chiếm tỉ lệ không nhiều (3) Về loại hình thông tin được sử dụng: Bạn đọc chủ yếu đọc các tài liệu in trên giấy (74.26%); tài liệu điện tử, trực tuyến chiếm 24.56%; tài liệu trên CD-ROM chiếm 1.18% (4) Đối với hình thức tra cứu tài liệu: Đa số bạn đọc tra cứu tài liệu trực tiếp trên kệ giá, chiếm 78.66%, ngoài ra bạn đọc cũng có tra cứu tài liệu trên website của thư viện, hỏi trực
tiếp nhân viên thư viện hoặc nhờ bạn bè Cuộc khảo sát đã tìm hiểu một cách khá bài bản về nhu cầu sử dụng thư viện trường của bạn đọc, trên cơ sở đó thư viện trường Đại học Ngân hàng TP.HCM đã xuất một số những biện pháp cụ thể nhằm
cải tiến thư viện nâng cao chất lượng phục vụ
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Kim Dung, về “Nhu cầu thông tin của
SV Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội” (2013) tiến hành khảo sát người
Trang 26dùng tin - SV tại Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nội Kết quả cho thấy, SV ngoài việc sử dụng thư viện nhằm mục đích học tập, NCKH và nâng cao kiến thức, họ còn có nhu cầu giải trí sau những giờ học tập căng thẳng Phần lớn họ có nhu cầu tìm tài liệu theo chuyên ngành học tập của mình, cụ thể: Các sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo, tài liệu nghiên cứu… phục vụ cho mục đích học tập Các báo cáo NCKH, đề tài NCKH, khóa luận tốt nghiệp… cũng là những tài liệu tham khảo phục vụ nhu cầu NCKH Ngoài ra họ còn tìm đọc các tác phẩm văn học nghệ thuật, tài liệu khoa học công nghệ… phục vụ cho mục đích giải trí Đặc biệt họ đến thư viện không chỉ để đọc và mượn sách, báo, tạp chí, khai thác thông tin mà còn để ngồi học Bởi vì bên cạnh nhà trường, thư viện là trường học thứ hai của họ, là môi trường tốt và trong lành để họ thường xuyên lui tới [8]
Trong năm 2014, nhóm tác giả Lương Trần Hà Duy, Nguyễn Thị Hạnh, Phan
Hà Khánh, Lê Thị Phương Thảo, Lê Thị Thuỵ đã nghiên cứu đề tài “Thực trạng
nhu c ầu sử dụng thư viện Học viện Chính sách và Phát triển: khuyến nghị và giải pháp” Đề tài nghiên cứu trên tổng số khách thể là 233 SV, đã tìm ra mối quan hệ chặt chẽ giữa thư viện và SV trong học viện cũng như vai trò của thư viện trong việc phục vụ cho việc học tập của SV Từ đó đề xuất một số phương hướng phát triển để thư viện có thể phục vụ tốt nhất việc học tập của SV trong học viện Đề tài
đã nghiên cứu nhiều mặt xoay quanh vấn đề sử dụng thư viện của SV như: Mức độ thường xuyên sử dụng dịch vụ thư viện của SV; các hình thức tra cứu tài liệu tại thư viện; những khó khăn của SV khi sử dụng thư viện.… Tuy nhiên, theo đánh giá của nhóm tác giả, đề tài vẫn còn nhiều hạn chế như đối tượng nghiên cứu chỉ là nhu cầu của SV (vẫn còn một mảng nghiên cứu để trống về nhu cầu của cán bộ, giảng viên tại Học viện) và phạm vi chỉ nghiên cứu SV khoá 2,3,4 (thiếu SV khoá 1 chưa ra trường, do thời gian này SV đi thực tập, nên khó có thể lấy được ý kiến điều tra)
Gần đây nhất trong năm 2015, bài viết của nhóm tác giả Đinh Huy Tâm, Cao
Thị Thơ, Phạm Thị Giang về “Nâng cao vai trò và nhu cầu sử dụng thư viện của SV
trong địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” Bài viết đã phác thảo được bức tranh tổng
quan về các yếu tố tác động đến nhu cầu sử dụng thư viện của SV đang học tập trong tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cũng như xác định được những yếu tố chủ yếu ảnh
Trang 27hưởng đến nhu cầu sử dụng thư viện của các bạn SV Bài viết cũng đưa ra các giải
pháp nâng cao vai trò và nhu cầu sử dụng thư viện như: (1) Nhà trường cần liên
kết với các trang thư viện trong nước và nước ngoài tạo điều kiện SV, giảng viên
tiếp cận với các bài báo, tạp chí, công trình NCKH có tài khoản đăng nhập miễn phí; (2) Trong phương pháp dạy, người giảng dạy nên kết hợp nhiều phương pháp giảng dạy, đặc biệt là những kiểu dạy học nêu vấn đề, thảo luận nhóm, thông báo, đàm thoại ; giảm tối đa tỉ lệ diễn giảng một chiều tùy vào từng bộ môn Ngoài ra,
giảng viên cần được bồi dưỡng và nâng cao kỹ năng sử dụng các phần mềm, phương tiện giảng dạy hiện đại để kết hợp lại để nâng cao hiệu quả giảng dạy; (3) Đối với thư viện, cần thường xuyên có các buổi nói chuyện chuyên đề, hoặc tập
huấn về nghiệp vụ thư viện thời đại CNTT đối với cán bộ thư viện, các nhà quản lý thư viện nhằm phục vụ tốt hơn đối với người đọc;
Ngoài ra còn có một số nghiên cứu như: Nghiên cứu nhu cầu tin của SV Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội (1997) của tác giả Nguyễn Văn Hành; Nghiên cứu nhu cầu và việc thỏa mãn nhu cầu đọc của cán bộ Viện Xã
hội học (1995) của tác giả Đặng Bảo Khanh; Nghiên cứu nhu cầu tin tại trường Đại
học Cần Thơ (2003) của tác giả Dương Thị Vân; Nghiên cứu hành động: Cách tiếp
cận trong nghiên cứu hành vi thông tin của người dùng tin của tác giả Bùi Hà Phương (2015)…
Những nghiên cứu khác về thói quen được nhiều người quan tâm nghiên cứu nhưng chủ yếu là nghiên cứu về thói quen sử dụng internet ở Việt Nam, thói quen tiêu dùng của người Việt Nam.… Như vậy, có thể thấy rằng vấn đề thói quen nhận được nhiều sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, nhà tâm lý, giáo dục Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi vào nghiên cứu thói quen dùng tin của bạn đọc một cách
cụ thể tại trường ĐHSP TP.HCM
1.2 Vai trò c ủa hoạt động thông tin tại thư viện đại học
Hoạt động thông tin là một trong những hoạt động đặc biệt của con người, nó mang tính tất yếu khách quan, tồn tại và phát triển gắn liền hữu cơ mới mọi thành viên xã hội Loại hoạt động này được hình thành ngay từ khi con người còn nằm trong bào thai của người mẹ và ngày càng phát triển cao, mạnh mẽ trong suốt cuộc
Trang 28đời của con người Nó chỉ thực sự chấm dứt khi con người đã về với “Thế giới vĩnh
hằng”
Theo tổng kết của UNESSCO, có bốn yếu tố quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở bất cứ quốc gia nào, đặc biệt là các nước đang phát triển, đó là: “vật liệu, năng lượng, thông tin và văn hóa của mỗi dân tộc” Trong bốn yếu tố
đó thì “thông tin” được coi là yếu tố quan trọng nhất Sự phát triển và tiến bộ của xã
hội đặt ra những nhu cầu và đòi hỏi mới cho hoạt động thông tin, đồng thời cũng là điều kiện và tiền đề phát triển thông tin Thông tin đã trở thành “tài sản và sức
mạnh” của mỗi quốc gia Thiếu thông tin hoặc thông tin không đầy đủ sẽ không thể giành được thắng lợi trong bất kỳ hoạt động nào
Trong thời đại ngày nay, hoạt động thông tin nói chung và thông tin thư viện nói riêng có một tầm quan trọng đặc biệt và ảnh hưởng sâu sắc tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực giáo dục và đào tạo Việc khai thác hiệu quả thông tin đã trở thành một trong những nhân tố hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của bất kỳ một quốc gia nào Thư viện là cầu nối giữa thông tin và người sử dụng, là một yếu tố căn bản và quan trọng, là thước đo đánh giá vai trò,
chức năng, nhiệm vụ, hiệu quả đào tạo của đại học
Sự liên kết giữa hoạt động nghiên cứu và đào tạo bao gồm việc dạy của giảng viên và việc học của SV đòi hỏi thư viện có khả năng cung cấp thông tin và các dịch
vụ kèm theo ngày càng đa dạng và ở trình độ cao Khả năng cung cấp và quản lí thông tin của thư viện đang luôn được thực tiễn hoạt động tại các trường đại học đòi
hỏi ngày một cao hơn, đa dạng hơn, phức tạp hơn Các cơ quan thông tin thư viện đại học phải thực hiện được nhiệm vụ cơ bản là tổ chức, quản lí, hoặc liên kết để có
thể kiểm soát và khai thác các loại NTT khác nhau, phát hiện các loại hình dịch vụ đến người dùng tin
Đổi mới giáo dục đại học là yêu cầu cấp thiết của nền giáo dục Việt Nam hiện nay, nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của hội nhập
quốc tế, nhất là trong bối cảnh “giáo dục đại học” đang có sự chuyển đổi mạnh mẽ phương thức đào tạo “từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ” Một trong
những biện pháp quan trọng là đổi mới cách dạy và học tại trường đại học, theo
Trang 29hướng tạo cho SV chủ động hơn trong tiếp thu kiến thức, lấy tự học, tự nghiên cứu làm hoạt động quan trọng trong hoạt động học; Giảng viên thay đổi cách dạy, cách chuẩn bị bài giảng.… Phương pháp đào tạo theo tín chỉ đáp ứng được yêu cầu trên
và trở thành nhiệm vụ trọng tâm của các trường đại học nước ta hiện nay Để đào
tạo theo phương thức tín chỉ, mọi hoạt động của trường đại học phải có những thay đổi nhiều mặt, trong đó có hoạt động của thông tin – thư viện Phương thức đào tạo này đòi hỏi người dạy và người học phải được tiếp cận và khai thác thông tin một cách đầy đủ và toàn diện, mức độ tương tác giữa người thầy và người học rất cao
Từ các phân tích trên có thể nhìn nhận hình ảnh và hoạt động thông tin của thư
viện đại học: Là một hệ thống mạng thông tin, là một thư viện điện tử, là một nhà cung cấp các dịch vụ thông tin và nội dung thông tin, là một cổng thông tin
Đối với Trường ĐHSP TP.HCM, là trường đại học sư phạm trọng điểm của cả nước, đóng vai trò nòng cốt, đầu tàu trong hoạt động giảng dạy, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ về lĩnh vực khoa học giáo dục ở phía Nam, hoạt động cung
cấp thông tin tại thư viện đại học có ý nghĩa quan trọng đặc biệt, không chỉ giúp SV
có thể nắm bắt tốt những yêu cầu của việc đổi mới phương pháp học tập, mà còn là
cơ sở giúp SV tham gia NCKH hiệu quả Với tiến trình đổi mới giáo dục đại học
hiện nay, thư viện đang phấn đấu trở thành trung tâm chuyển giao tri thức, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập, góp phần tích cực trong hoạt động đào tạo Hoạt động cung cấp thông tin của thư viện luôn hướng tới sự đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác các thông tin cần thiết cho các nhóm người dùng tin trong trường đại học, giúp cho việc dạy và học đạt hiệu quả, giúp thời gian nghiên cứu được rút ngắn lại, chất và lượng các công trình khoa học, phát minh sáng chế tăng lên
Trong tất cả các yếu tố góp phần làm tăng chất lượng, hiệu quả của hoạt động quản lý và khai thác thông tin thư viện, yếu tố con người là quan trọng nhất và mang tính quyết định Cán bộ thư viện là cầu nối giữa nguồn tài nguyên thông tin
và người dùng tin Chúng ta có thể nói một khiếm khuyết rất quan trọng của thư viện đại học hiện tại là chưa chú trọng đúng mức tới việc hướng dẫn cụ thể SV
Trang 30phương pháp nghiên cứu, tìm tư liệu, cung cấp thông tin thư tịch để SV hứng khởi, ham thích trong công việc nghiên cứu
Với vai trò đóng góp vào sự đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập tại trường, cán bộ thư viện phải chủ động giới thiệu, cung cấp NTT phong phú, đa dạng Đồng thời, cán bộ thư viện phải tạo môi trường thân thiện, thông thoáng, chuyên nghiệp không chỉ bằng khả năng chuyên môn, nghiệp vụ giỏi mà còn bằng khả năng giao tiếp tốt
Các cán bộ thư viện ngày nay không thể chỉ bằng lòng là những người “thủ kho giữ tài liệu” với phương châm “vui vẻ, hòa nhã, nhiệt tình” mà còn phải là những “hoa tiêu” trong “đại dương” thông tin; năng động, thạo nghề, có trình độ ngoại ngữ, tin học để chỉ ra những tài liệu độc giả cần một cách nhanh nhất, chính xác nhất Bên cạnh đó, cán bộ thư viện phải luôn có ý thức trách nhiệm động viên, nuôi dưỡng thói quen và sự hứng thú đọc sách cho SV
1.3 Lý lu ận về thói quen sử dụng thông tin tại thư viện đại học
1.3.1 Khái ni ệm, đặc điểm, phân loại và cơ chế hình thành thói quen
1.3.1.1 Khái ni ệm thói quen
Theo từ điển Oxford “Thói quen là một điều mà chúng ta thường xuyên làm
và gần như làm mà không cần suy nghĩ, đặc biệt là rất khó dừng lại một điều gì đó” (a thing that you do often and almost without thinking, especially something that is hard to stop doing) [23]
Trong từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê biên soạn năm 2011 cho rằng “Thói quen là lối sống, cách sống hay hoạt động do lặp đi lặp lại lâu ngày thành thói quen, khó thay đổi” [7] Ở định nghĩa này, tác giả đã nhấn mạnh đến con đường hình thành nên thói quen là sự lặp đi lặp lại một hành động nào đó trong khoảng thời gian dài và khó thay đổi là đặc điểm của thói quen, một khi hành động trở nên tự động hóa thì con người sẽ hành động mà không cần đến sự tham gia của ý thức
Tác giả Nguyễn Như Ý trong Đại từ điển Tiếng Việt giải thích thói quen rõ ràng hơn như sau: “Thói quen là lối, cách sống hay hành động do lặp đi lặp lại lâu ngày thành nếp, rất khó thay đổi” Bắt buộc làm hoài hoặc thành nếp khó thay đổi nói lên tính cách lâu dài và không tự chủ khi các thói quen đã hình thành [13]
Trang 31Nhà Tâm lý học John F Tristany cho rằng “Thói quen là một loạt những hành
vi thâm căn cố đế do học hỏi mà có và được liên tục củng cố bởi các yếu tố môi trường, cảm xúc và tâm lý Nó dựa trên nguyên tắc khoái lạc của con người là chỉ
muốn có niềm vui và tuyệt đối tránh khó khăn, đau khổ”
Theo từ điển Tâm lý học của Vũ Dũng chủ biên thì “Thói quen là lối, cách
sống hay hoạt động do lặp đi lặp lại lâu ngày đã trở thành thói quen, khó thay đổi” [2] Là hành động được hình thành bằng cách lặp đi, lặp lại nhiều lần, được đặc trưng bởi mức độ thành thạo cao và không cần có sự điều khiển, kiểm soát của ý
thức
Trong tâm lý học quan niệm thói quen “Thói quen là hành động tự động hóa
ổn định trở thành nhu cầu của con người” Ở mỗi chúng ta đều có những thói quen
nhất định, được tạo thành trong quá trình sống của mình: Thói quen tuân thủ chặt
chẽ chế độ lao động và nghỉ ngơi hằng ngày, thói quen dọn dẹp sạch sẽ nơi làm việc sau khi thôi làm việc, thói quen niềm nở với mọi người.…[3]
Tiếp thu những quan điểm khác nhau về thói quen, trong phạm vi nghiên cứu
đề tài theo chúng tôi thói quen là lối sống, cách sống hay hoạt động do lặp đi lặp
l ại lâu, khó thay đổi và liên tục được củng cố bởi các yếu tố môi trường, cảm xúc
và tâm lý Trong định nghĩa chúng tôi chú trọng đến cách thức hình thành, độ lâu
bền của thói quen và những yếu tố chi phối sự hình thành và tồn tại của thói quen
đó
1.3 1.2 Đặc điểm thói quen
Thói quen là hành động tự động hóa ổn định mang tính chất nhu cầu, nếp sống
của con người Dựa trên tính chất ổn định của thói quen người ta có thể đoán biết tính cách của con người cũng như biết được tâm trạng của họ trong từng tình huống
cụ thể (hút thuốc, cắn móng tay, giật kéo tóc, rung đùi, vỗ bàn chân,…)
Thói quen có tính bền vững cao, luôn gắn chặt với hoạt động và hành vi của con người Thói quen thể hiện thường xuyên tính cách con người và quyết định tính
hiệu quả hay không hiệu quả trong mọi hoạt động, tạo nên sức mạnh bên trong mỗi con người
Trang 32Thói quen rất khó thay đổi, khó sửa chữa, nói khác đi thói quen là những hành
vi đã ăn sâu vào nếp sống của con người Một nhà sư phạm vĩ đại từng nói: “ Thói quen cũng giống như dây thừng Hàng ngày chúng bện từng sợi nhỏ và bện càng nhiều thì sợi dây thừng càng khó đứt” Do vậy cá nhân cần hình thành những thói quen tốt, thói quen tích cực ngay từ đầu để tránh mất thời gian và công sức trong quá trình thay đổi, sửa chữa thói quen xấu, tiêu cực và hình thành lại thói quen tốt, tích cực
Thói quen được hình thành bằng nhiều con đường khác nhau: Lặp đi lặp lại các cử động, hành động; Bắt chước; Giáo dục và tự giáo dục Dựa trên cơ sở các con đường hình thành thói quen này và tính chất của từng loại thói quen cụ thể để xây dựng những thói quen tốt, tích cực cũng như hạn chế những thói quen xấu, tiêu
1.3.1.3 Phân lo ại thói quen
Có thể phân loại thói quen như sau: Thói quen nhận cảm, thói quen trí tuệ và thói quen vận động [2]
- Thói quen nhận cảm là sự phản ánh tự động về mặt cảm xúc những tính chất
và đặc điểm của vật thể quen thuộc đã được tri giác trước đó nhiều lần
- Thói quen trí tuệ là cách thức tự động để giải quyết các nhiệm vụ đã gặp từ trước
- Thói quen vận động là tác động tự động lên bề ngoài của vật thể nhờ các chuyển động đã được thực hiện nhiều lần trước đó với mục đích cải tạo lại nó Thói
Trang 33quen vận động bao gồm cả thói quen nhận cảm và thói quen trí tuệ và chủ thể điều
chỉnh chúng trên cơ sở phản ánh vật thể, các điều kiện và thứ tự thực hiện các động tác chuyển động, hướng đến việc cải tạo lại các đối tượng thực tế một cách tự động Đồng thời các nghiên cứu cũng phân biệt ra: Thói quen tự động nguồn gốc - thói quen được hình thành mà không ý thức về các thành phần của nó và thói quen tự động thứ phát - các hành động được hình thành với ý thức trước đó về các thành
phần, chúng dễ dàng được kiểm soát về mặt ý thức và nhanh chóng được hoàn thành và điều chỉnh lại
1.3.1.4 Cơ chế hình thành thói quen
Trong quá trình hình thành thói quen, người ta đã phân thành nhiều thời kỳ riêng biệt được thống nhất ở những giai đoạn chung hơn
Trong giai đoạn thứ nhất, diễn ra sự làm quen và chiếm lĩnh vận động lần đầu tiên Sự học vận động bắt đầu từ việc phát hiện thành phần của nó - tuyển lựa các thành tố, tính liên tục và các tổ hợp của vận động Việc làm quen này diễn ra bằng con đường trình bày, thuật lại, giảng giải và quan sát Ở đây có thể nhìn thấy vận động khá dễ dàng Vì thế thời kỳ tiếp theo của giai đoạn thứ nhất, cũng là thời kỳ
tốn công nhất - sự lặp lại vô hạn để làm rõ bức tranh bên trong của vận động, đồng
thời diễn ra việc học bản mã hóa những tín hiệu xúc cảm thành những mệnh lệnh tác động Việc tích lũy “từ điển chuyển mã” là một trong những sự kiện quan trọng
của giai đoạn này Việc lặp lại nhiều lần là cần thiết bởi cần tìm ra được bản mã hóa cho bất kỳ phương án vận động nào Sự kiện cực kỳ quan trọng cuối cùng để hoàn thành giai đoạn này là những điều chỉnh lần đầu theo các mức độ nằm bên trong Các mức độ làm việc có thể hình dung như hệ thống thứ bậc của các vòng tròn Sơ đồ này tương đối phức tạp, chứa đựng không phải hai mà nhiều thời kỳ hơn
và ở mỗi thời kỳ không phải một mà nhiều vòng tròn
Giai đoạn thứ hai - giai đoạn tự động hóa vận động Ở đây diễn ra sự chuyển giao đầy đủ những thành phần riêng của vận động hoặc toàn bộ vận động nói chung trong sự dẫn dắt của mức độ nền tảng Kết quả là mức độ chủ đạo được giải phóng
từng phần hoặc giải phóng hoàn toàn Ở đây đã diễn ra hai quá trình rất quan trọng
Một là sự phối hợp hoạt động của tất cả các mức độ cấp thấp Hai là tổng hợp
Trang 34những khối vận động đã được chuẩn bị sẵn, được hình thành theo mục đích khác - chính nó giải thích cho những bước đột biến chất lượng đôi khi quan sát thấy khi chiếm lĩnh những vận động mới Theo mức độ tự động hóa, vận động thoát khỏi sự
kiểm soát của ý thức và sự “ rút lui” này có thể cần trợ giúp, đó là ngừng chú ý đến
vận động Đồng thời giúp thúc đẩy nhịp độ vận động, sự lặp lại nhiều lần liên tục,
và hiện thực nhất là đưa một vận động vào nhiệm vụ vận động phức tạp hơn
Giai đoạn thứ 3- giai đoạn cuối cùng diễn ra sự mài bóng thói quen một cách triệt để nhờ sự ổn định và sự chuẩn hóa Khi ổn định, thói quen tìm được độ bền
vững và độ ổn định không thể phá hủy được trong bất kỳ tình huống nào Còn chuẩn hóa là việc tìm được những thói quen khuôn sáo, khi lặp lại vận động nhiều
lần sẽ nhận được một loạt bản sao chép như nhau Tính khuôn mẫu xuất hiện nhờ
việc luyện tập để sử dụng một cách hiệu quả lực tích cực và lực quán tính Điều này đạt được nhờ tìm được quỹ đạo ổn định một cách năng động Quỹ đạo này là đường
thẳng đặc biệt và duy nhất, khi vận động theo nó lực cơ học được phát triển, lực này
tạo điều kiện cho việc tiếp thu vận động theo hướng đã lựa chọn Nhờ các lực này
mà các vận động có tính nhẹ nhàng, tự nhiên và theo khuôn mẫu [1]
1.3.2 Khái ni ệm thông tin, các loại thông tin tại thư viện đại học
1.3.2.1 Khái ni ệm thông tin
Thông tin là một khái niệm rất phổ biến liên quan đến tất cả các hoạt động của con người, trong các quá trình quản lý xã hội, và là khái niệm cơ bản của nhiều ngành khoa học Ở mỗi ngành khoa học cũng như ở các lĩnh vực hoạt động thực
tiễn khác nhau, thông tin được xem xét dưới các góc độ khác nhau, theo các quan
niệm khác nhau Thậm chí ngay trong từ điển cũng không có một định nghĩa thống
nhất Một số từ điển đề cập đến khái niệm thông tin như sau:
Theo từ điển tiếng Việt thông dụng năm 1996 thì “Thông tin là tin tức về các
sự kiện diễn ra trong thế giới xung quanh” [14]
Theo từ điển triết học năm 2001 “Thông tin trước hết là những tin tức, tập hợp
những tài liệu, những sự hiểu biết nào đó Lý thuyết thông tin thường gắn bó chặt
chẽ với phản ánh Đặc tính phản ánh và nhận thức thế giới xung quanh là một khâu
Trang 35trong sự phát triển của những quá trình liên quan với việc truyền và xử lý thông tin” [11]
Theo từ điển giải nghĩa thư viện học năm 1996 “Thông tin là tất cả những ý tưởng, những sự kiện, và những công việc của trí óc tưởng tượng ra, đã được truyền đạt, ghi nhận, ấn loát và phát hành một cách chính thức hay không chính thức dưới
bất kỳ một hình thức nào” [5]
Theo từ điển Random House Dictionary of English language “Thông tin là tri
thức được giao lưu hoặc thu nhận có liên quan đến một sự kiện hoặc hoàn cảnh đặc
biệt” [26]
Theo quan điểm của giáo sư John Ward thì “Thông tin là cái mà con người cần
để họ có thể sử dụng kinh nghiệm và các kỹ năng của họ làm thay đổi kiến thức” Còn theo G.E Nicols cho rằng: “Thông tin là tập hợp các dữ liệu được trình bày theo một cách thức cụ thể và tại một thời điểm thích hợp nhằm cải thiện kiến thức
của người nhận để tăng cường khả năng của họ trong việc đảm nhận một công việc
cụ thể hoặc để ra một quyết định cụ thể”
Các nhà triết học quan niệm thông tin là một phạm trù triết học phản ánh sự
vận động và tương tác của các hiện tượng, sự vật và quá trình tư duy Hay gọn hơn, thông tin là quá trình phản ánh và tiếp nhận phản ánh, biến phản ánh thành hiểu
biết, thành tri thức
Các nhà xã hội hiểu thông tin là sự phản ánh nội dung và hình thức vận động, liên hệ giữa các đối tượng, các yếu tố của hệ thống kinh tế xã hội và giữa hệ thống
đó với môi trường [6]
Tiếp thu những quan điểm khác nhau về thông tin, trong phạm vi nghiên cứu
đề tài theo chúng tôi thông tin là những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm đã
được hình thành trong quá trình hoạt động tri thức, thực tiễn của những đối tượng nhất định, và được kết tinh trong những sản phẩm nhằm giúp con người
gi ải quyết những nhiệm vụ cụ thể trong từng lĩnh vực hoạt động cụ thể
Thông tin có nhiều loại, nhiều dạng khác nhau Xuất phát từ định nghĩa chung
nhất coi thông tin là nội dung của sự phản ánh, người ta chia thông tin thành nhiều
loại: Thông tin vật lý, thông tin sinh học, thông tin đại chúng, thông tin khoa học,…
Trang 36Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, nhóm nghiên cứu chỉ đề cập đến thông tin khoa học
Theo Trần Đình Thắng: Thông tin khoa học là một bộ phận của thông tin xã
hội Nó là nguồn nguyên liệu chính cho hoạt động NCKH - công nghệ Khoa học - công nghệ càng phát triển thì trữ lượng thông tin khoa học càng phong phú, đa dạng
và phức tạp [10]
Phạm Viết Vượng cho rằng: Thông tin khoa học là các tài liệu lý thuyết hoặc
số liệu thực tiễn (đã qua xử lý) cung cấp cho hoạt động NCKH Nhờ có thông tin khoa học mà bộ máy khoa học mới có thể vận hành tạo ra những giá trị mới [12] Theo Đoàn Phan Tân: Thông tin khoa học là một dạng thông tin xã hội được hình thành trong quá trình hoạt động khoa học và dành cho những đối tượng nhất định, nhằm giúp họ giải quyết những nhiệm vụ cụ thể trong từng lĩnh vực hoạt động [9]
Trong quyển Thông tin - Từ lý luận đến thực tiễn, Nguyễn Hữu Hùng quan
niệm:
- Thông tin khoa học là kiến thức được ghi lại và vận động trong các hệ thống liên lạc có giá trị cho các nhóm người dùng tin Trong quá trình này, thông tin có
thể được lưu giữ trong các sản phẩm hoặc hệ thống thông tin, được tổ chức dưới
dạng số, văn bản, âm thanh và hình ảnh nhằm mục đích cung cấp và thỏa mãn nhu
cầu tin của người dùng tin
- Thông tin khoa học là loại thông tin logic được thu thập trong quá trình nhận
thức thế giới, phản ánh đúng đắn những quy luật của thế giới khách quan và được
vận dụng trong thực tiễn xã hội
- Thông tin khoa học là một trong số các dạng thức phổ biến thông tin xã hội - thông tin loài người, lấy hoạt động khoa học vừa là đối tượng phản ánh, vừa là đối tượng phục vụ chính [4]
Tóm lại, với những ý tưởng trên, chúng ta có thể khẳng định: Thông tin khoa
học là một dạng thông tin xã hội, hình thành trong quá trình hoạt động thực tiễn và dành cho những đối tượng nhất định, nhằm giúp con người giải quyết những nhiệm
vụ cụ thể trong từng lĩnh vực hoạt động cụ thể Đối tượng này có thể là nhà lãnh
Trang 37đạo, nhà quản lý, nhà nghiên cứu, kỹ sư, giảng viên, SV, hay các nhà hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh
1.3.2.2 Các lo ại NTT tại thư viện đại học
Việc phân loại NTT có thể được xem xét dưới các góc độ khác nhau: Nội dung, thể loại, đặc tính của vật mang tin…
- Dựa vào hình thức thể hiện thông tin
Căn cứ vào hình thức thể hiện thông tin, người ta chia NTT thành hai loại: NTT truyền thống (còn gọi là NTT tư liệu) và NTT hiện đại (còn gọi là NTT điện tử) Sự khác biệt cơ bản giữa thông tin truyền thống, và thông tin điện tử nằm ở hình thức lưu giữ thông tin và vật mang tin
NTT truyền thống: Bao gồm các thông tin được thể hiện dưới dạng các tài liệu văn bản và các vật mang tin khác mà không cần dùng đến CNTT hoặc các thiết bị tin học được trình bày dưới dạng một bài viết, tài liệu, ấn phẩm, hồ sơ về mọi lĩnh
vực mà người ta có thể đọc được Có thể kể đến như: Các sách, các ấn phẩm định
kỳ
NTT hiện đại: Là các sản phẩm thông tin được thể hiện nhờ vào ứng dụng CNTT như các tài liệu số, CD-ROM, các cơ sở dữ liệu mà NDT có thể tiếp cận thông qua các thiết bị tin học, thông qua mạng Internet Các loại NTT hiện đại chủ yếu có tại thư viện đại học là: Sách, báo, tạp chí điện tử, cơ sở dữ liệu thư mục, tóm tắt, toàn văn, các bộ sưu tập dữ liệu số NTT hiện đại là bộ phận NTT tích cực của thư viện, có nhiều ưu điểm vượt trội so với NTT truyền thống như tốc độ phát và nhận thông tin nhanh, bảo vệ an toàn, và lâu dài tài liệu gốc (điều này đặc biệt có ý nghĩa khi thư viện tiến hành số hóa các tài liệu quý hiếm), dễ dàng truy cập thông tin, và tạo lập các loại sản phẩm thông tin mới, mở rộng đối tượng phục vụ và thúc đẩy việc phối hợp, chia sẻ NTT giữa các thư viện
- Dựa vào nguồn gốc thu thập thông tin
Dựa vào nguồn gốc thu thập thông tin, có thể phân biệt hai loại NTT cơ bản: NTT nội sinh: Là NTT được hình thành từ các hoạt động đào tạo, nghiên cứu
cá nhân, tổ chức trực thuộc Nó bao gồm các giáo trình, các đề cương bài giảng được giáo viên biên soạn, các kết quả nghiên cứu, đề tài, luận văn, luận án, các kỉ
Trang 38yếu hội nghị, hội thảo… được sử dụng chính thức tại trường NTT nội sinh có tính độc đáo, quý hiếm, đáp ứng nhu cầu người sử dụng về nội dung, trình độ, cách thức
tiếp cận, thị hiếu, đồng thời làm tăng giá trị NTT tại thư viện, làm tăng thương hiệu
của nhà trường
NTT ngoại sinh: NTT ngoại sinh là những thông tin đến từ nguồn xuất bản công khai bên ngoài nhà trường (tài liệu truyền thống, điện tử, cơ sở dữ liệu… được mua, thuê hay khai thác miễn phí) NTT ngoại sinh có tính phổ biến, khách quan, có giá trị sử dụng nếu được lựa chọn tốt, và là cơ sở so sánh, đối chiếu để đánh giá NTT nội sinh
NTT nội sinh và NTT ngoại sinh có mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗ lẫn nhau NTT ngoại sinh được bổ sung thường xuyên, đa dạng sẽ là sơ sở để kích thích NTT
nội sinh phát triển Việc có nhiều NTT nội sinh sẽ mở rộng cơ hội trao đổi/mua/thuê thông tin bên ngoài và khối lượng thông tin nội sinh lớn dẫn tới việc chất lượng đào
tạo và NCKH trong trường đại học được nâng lên
1.3.3 Khái ni ệm về thói quen sử dụng thông tin
Thói quen sử dụng thông tin là một trong những thói quen mang ý nghĩa tích
cực, có những tác động mạnh mẽ đến các hoạt động sống của con người, đặc biệt là trong lĩnh vực nghiên cứu
Thói quen sử dụng thông tin là những lối, cách sống, hành động, việc làm của
cá nhân được lặp đi lặp lại lâu ngày trong việc chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm sống đã được kết tinh trong các sản phẩm từ các thế hệ đi trước mà không cần có sự điều khiển, kiểm soát của ý thức
Hiện nay, người sử dụng thông tin có xu hướng thu hẹp phạm vi nội dung thông tin, chỉ sử dụng những thông tin gắn liền với chuyên môn của mình, điều đó giúp cho những hiểu biết chuyên môn sâu sắc hơn Thế nhưng, sẽ rất tốt nếu thói quen sử dụng thông tin được mở rộng hơn đến các phạm vi liên đới, hoặc những
phạm vi tưởng chừng không có gì liên quan đến chuyên môn nhưng thực ra nó có nhiều tác động đến công việc và cuộc sống sau này
Thực tế, tác dụng thói quen sử dụng thông tin không chỉ dừng lại ở chỗ tiếp thu kiến thức mà nó còn là một biện pháp để hoàn thiện mọi mặt của con người Với
Trang 39ý nghĩa này, các loại thông tin thuộc các lĩnh vực khác nhau như: Văn hóa học, văn chương, lịch sử, triết học không chỉ là những loại sách thuần chuyên môn mà đã trở thành sách chung cho mọi người, cho xã hội
1.4 Thói quen s ử dụng thông tin tại thư viện của SV trường ĐHSP TP.HCM 1.4.1 Khái ni ệm thói quen sử dụng thông tin tại thư viện của SV trường ĐHSP TP.HCM
Thói quen sử dụng thông tin tại thư viện có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình học tập, nghiên cứu nói riêng và hoạt động sống của SV nói chung Xã hội luôn vận động và phát triển, yêu cầu của xã hội, của nghề nghiệp tương lai đối với
SV ngày càng cao Vì vậy, thói quen sử dụng thông tin tại thư viện cần được rèn luyện thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình SV học tập ở trường Đại học
Dựa trên cơ sở các khái niệm về thói quen, thông tin, thói quen sử dụng thông tin, tác giả xây dựng khái niệm thói quen sử dụng thông tin tại thư viện của
SV theo hướng nghiên cứu của đề tài như sau: Thói quen sử dụng thông tin tại thư
vi ện của SV là những lối, cách sống, hành động, việc làm của SV được lặp đi lặp lại lâu ngày trong vi ệc chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm sống đã được kết tinh trong các ngu ồn lực thông tin tại thư viện mà không cần có sự điều khiển, kiểm soát c ủa ý thức
1.4.2 Các bi ểu hiện của thói quen sử dụng thông tin tại thư viện của SV trường ĐHSP TP.HCM
Thói quen sử dụng thông tin tại thư viện của SV được thể hiện ở nhiều khía
cạnh khác nhau Trong phạm vi đề tài này, tác giả xác định thói quen sử dụng thông tin tại thư viện của SV trường ĐHSP TP.HCM được biểu hiện thông qua 6 nội dung
+ Loại hình sử dụng thông tin gì là phổ biến và với từng loại hình sử dụng thì mức
độ sử dụng thông tin như thế nào?
Trang 40+ Sử dụng thông tin trên ngôn ngữ nào là chủ yếu và với từng loại ngôn ngữ thì
mức độ sử dụng thông tin như thế nào?
+ Cách tiếp cận thông tin chủ yếu trên thư viện là gì và với từng cách tiếp thì mức
độ sử dụng thông tin như thế nào; cách tra cứu thông tin chủ yếu trên thư viện là gì
và với từng cách tra cứu thì mức độ sử dụng thông tin như thế nào?
+ Cách tìm kiếm thông tin chủ yếu trên thư viện là gì và với từng cách tìm kiếm thì
mức độ sử dụng thông tin như thế nào?
1.4.2.1 M ục đích sử dụng thông tin
Việc xác định mục đích sử dụng thông tin có thể xem là điều kiện đầu tiên,
có ý nghĩa quan trọng và quyết định đến hiệu quả của quá trình sử dụng thông tin
Nếu xác định được mục đích sử dụng thông tin một cách đúng đắn, phù hợp sẽ tạo
ra những tác động tích cực thúc đẩy con người hoàn thành có hiệu quả nhiệm vụ của mình Đối với SV, quá trình sử dụng thông tin tại thư viện có thể hướng đến những
mục đích sau:
- M ục đích học tập
Mục đích học tập được xem là một trong những mục đích cơ bản, quan trọng
của SV khi tham gia sử dụng thông tin tại thư viện Ở trường Đại học, học tập là nhiệm vụ chính trị của SV, do đó SV cần xác định mục đích học tập trong quá trình
sử dụng thông tin tại thư viện
- M ục đích NCKH
Bên cạnh nhiệm vụ học tập, NCKH cũng là một nhiệm vụ khá cần thiết đối
với SV Hoạt động NCKH rèn luyện cho SV khả năng nhạy bén, óc phán đoán, tư duy khoa học và các kỹ năng nghiên cứu của một nhà khoa học tương lai Trong quá trình sử dụng thông tin tại thư viện, SV sử dụng với mục đích NCKH khi làm
tiểu luận, khoá luận, đề tài NCKH SV hoặc xuất phát từ nhu cầu nghiên cứu của bản thân
- M ục đích giải trí
Ngoài mục đích học tập và NCKH, SV sử dụng thông tin thư viện còn với
mục đích giải trí Hiện nay, cơ sở vật chất trang thiết bị đã phần nào đáp ứng được