Đối với bậc đại học, điều 40 của Luật Giáo dục sửa đổi 2010 cũng yêu cầu: “Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG TỰ HỌC NGOÀI LỚP HỌC CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu ngoài nước 6
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu trong nước 8
1.2 Các khái niệm liên quan 11
1.2.1 Kỹ năng 11
1.2.2 Tự học 12
1.3 Kỹ năng tự học ngoài lớp của sinh viên sư phạm 14
1.3.1 Vai trò của kỹ năng tự học ngoài lớp học với sự hình thành nhân cách của sinh viên sư phạm 14
1.3.2 Hệ thống kỹ năng tự học 16
1.3.3 Một số kỹ năng tự học ngoài lớp học của sinh viên sư phạm 17
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng tự học ngoài lớp học cho sinh viên sư phạm 25
1.4.1 Bản thân sinh viên 25
1.4.2 Các yếu tố bên ngoài 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG TỰ HỌC NGOÀI LỚP HỌC CỦA SINH VIÊN CHÍNH QUY SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM 2.1 Mô tả thể thức nghiên cứu 30
2.1.1 Công cụ nghiên cứu 30
Trang 32.1.2 Phương pháp nghiên cứu 33
2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng kỹ năng tự học ngoài lớp học của sinh viên chính quy sư phạm Trường Đại học Sư phạm TP.HCM 38
2.2.1 Thời gian dành cho việc tự học ngoài lớp của sinh viên chính quy sư phạm Trường Đại học Sư phạm TP.HCM 38
2.2.2 Mức độ ảnh hưởng của các kỹ năng tự học ngoài lớp học đối với kết quả học tập của sinh viên chính quy sư phạm Trường Đại học Sư phạm TP.HCM 40
2.2.3 Thực trạng kỹ năng lập kế hoạch tự học ngoài lớp học của sinh viên chính quy sư phạm Trường Đại học Sư phạm TP.HCM 46
2.2.4 Thực trạng kỹ năng đọc sách ngoài lớp học của sinh viên chính quy sư phạm Trường Đại học Sư phạm TP.HCM 48
2.2.5 Thực trạng kỹ năng ghi chép ngoài lớp học của sinh viên chính quy sư phạm Trường Đại học Sư phạm TP.HCM 51
2.2.6 Thực trạng kỹ năng ôn tập ngoài lớp học của sinh viên chính quy sư phạm Trường Đại học Sư phạm TP.HCM 53
2.2.7 Thực trạng kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá của sinh viên chính quy sư phạm Trường Đại học Sư phạm TP.HCM 55
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng kỹ năng tự học ngoài lớp học của sinh viên chính quy sư phạm Trường trường Đại học Sư phạm TP.HCM 57
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO KỸ NĂNG TỰ HỌC NGOÀI LỚP HỌC CHO SINH VIÊN CHÍNH QUY SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM 3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 61
3.1.1 Cơ sở lý luận 61
3.1.2 Cơ sở thực tiễn 63
3.2 Một số biện pháp nâng cao kỹ năng tự học ngoài lớp học cho sinh viên chính quy sư phạm Trường Đại học Sư phạm TP.HCM 67
3.2.1 Nhóm biện pháp đối với sinh viên sư phạm 67
3.2.2 Nhóm biện pháp đối với giảng viên 72
3.2.3 Nhóm biện pháp đối với nhà trường 74
Trang 4KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81
Kết luận 81 Kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Mức độ ảnh hưởng của KN tự học cụ thể ngoài lớp học nói chung đến kết quả học tập của SV chính quy sư phạm Trường ĐHSP TP.HCM
Mức độ ảnh hưởng của KN tự học cụ thể ngoài lớp học nói chung đến kết quả học tập của SV chính quy sư phạm Trường ĐHSP TP.HCM (so sánh điểm trung bình theo khoa)
Thực trạng KN lập kế hoạch tự học ngoài lớp học của
SV chính quy sư phạm Trường ĐHSP TP.HCM Thực trạng KN đọc sách ngoài lớp học của SV chính quy sư phạm Trường ĐHSP TP.HCM
Thực trạng KN ghi chép ngoài lớp học của SV chính quy sư phạm Trường ĐHSP TP.HCM
Thực trạng KN ôn tập ngoài lớp học của SV chính quy
sư phạm Trường ĐHSP TP.HCM Thực trạng KN tự kiểm tra, đánh giá của SV chính quy
sư phạm Trường ĐHSP TP.HCM Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến KN tự học ngoài lớp học của SV chính quy sư phạm Trường ĐHSP TP.HCM
Trang 713
14
Bảng 3.1
Bảng 3.2
Một số biện pháp nâng cao KN tự học theo đánh giá của
SV chính quy sư phạm Trường ĐHSP TP.HCM
Kế hoạch rèn luyện KN tự học
64
68
Trang 8MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Sự phát triển như vũ bão của khoa học trong thế kỷ 20 và 21 đã làm cho tri thức của nhân loại trở nên lỗi thời nhanh hơn Nếu giáo dục chỉ chú trọng vào việc trang bị tri thức cho người học thì rất có thể, sau khi rời khỏi nhà trường, người học
sẽ lúng túng trong cuộc sống xã hội do tri thức họ tích luỹ được cũng đã lạc hậu Vì thế, giáo dục thế kỷ 21 nhấn mạnh đến trách nhiệm của nhà trường trong việc trang
bị những kiến thức nền tảng và quan trọng hơn là những kỹ năng, thái độ đúng đắn
để người học có thể học tập suốt đời
Để phục vụ cho việc học suốt đời, các chuyên gia giáo dục đã rất đề cao vấn
đề tự học Hồ Chí Minh cũng từng khẳng định: “Trong cách học, phải lấy tự học làm cốt” Giáo dục Việt Nam những năm qua cũng chú trọng đến việc rèn luyện khả năng tự học cho học sinh Điều 5 của Luật Giáo dục (2010) cũng đã đề cập đến vấn
đề tự học: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”; “đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, phát triển phong trào tự học, tự đào tạo ”; “tạo ra năng lực tự học sáng tạo của mỗi học sinh” Đối với bậc đại học, điều 40 của Luật Giáo dục sửa đổi 2010 cũng yêu cầu: “Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học,
tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng” [18]
Như vậy, dù ở cấp học, bậc học nào thì nhiệm vụ phát triển năng lực lẫn ý thức tự học cho người học cũng là điều bắt buộc của nhà trường Chủ trương này không chỉ xuất phát từ yêu cầu thực tiễn mà lý luận khoa học cũng khẳng định tính đúng đắn của nó Hoạt động dạy học đòi hỏi phải có sự tương tác, thống nhất biện chứng giữa vai trò chủ đạo của giáo viên với vai trò tích cực, chủ động của học sinh Kết quả dạy học được đánh giá dựa trên sự phát triển về năng lực, phẩm chất
Trang 9của học sinh, mà không phải là của giáo viên Do đó, sự nỗ lực của học sinh mới quyết định trực tiếp hiệu quả của dạy học Đối với bậc đại học, lý luận dạy học đại học chỉ rõ: Bản chất của việc học tập ở đại học của SV là quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu; có nghĩa là SV cần phải tự mình chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện
KN, hình thành thái độ đúng đắn trong suốt thời gian học tập ở đại học Nói cách khác, việc học đại học chủ yếu là tự học.và để có kết quả học tập tốt ở đại học, SV phải có KN tự học
Với sứ mạng là những giáo viên tương lai, SV sư phạm càng phải phát huy tối đa bản chất tự học, không chỉ để hoàn thành nhiệm vụ học tập trên ghế giảng đường mà còn phải tự học trong suốt những năm giảng dạy của cuộc đời Biết cách học vừa là phương tiện để họ tự học, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho mình, vừa là phương tiện để dạy cách học, dạy KN học cho học sinh
để đáp ứng được tinh thần đổi mới giáo dục hiện nay
Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHSP TP HCM) là một trong hai trường sư phạm trọng điểm quốc gia, do đó, trường phải là đầu tàu trong việc đào tạo giáo viên chất lượng cao, đổi mới việc giáo dục- đào tạo, thực hiện những chủ trương mới nhất của Bộ Giáo dục & Đào tạo Việt Nam Từ năm học 2010-
2011, Trường ĐHSP TP HCM đã bắt đầu chuyển sang hình thức đào tạo theo tín chỉ Với hình thức này, SV cần phải tự quản lý hoạt động học tập của mình tốt hơn, đồng thời GV cũng yêu cầu khả năng tự học nhiều hơn của SV để hoàn tất các bài tập theo nhóm, bài tập nghiên cứu cá nhân Tuy nhiên, cho đến nay, hầu hết SV của trường đều gặp nhiều khó khăn với những thay đổi này Vì vậy, đánh giá KN tự học, đặc biệt là KN tự học ngoài lớp học của SV khi học theo học chế tín chỉ để từ
đó có những giải pháp nâng cao KN này cho họ là một việc hết sức cần thiết
Thực chất, từ những năm 70 của thế kỷ 20, khái niệm tự học đã được quan tâm nghiên cứu bài bản Ở Việt Nam, nhiều học giả, nhà nghiên cứu, học viên cao học, SV đã thực hiện những nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau về tự học, trong
đó KN (KN) tự học được chú ý nhiều nhất.Tại Trường ĐHSP TP HCM, một số đề tài nghiên cứu, luận văn, luận án tìm hiểu về KN tự học cũng đã được thực hiện
Trang 10yêu cầu học tập theo học chế tín chỉ thì hoàn toàn chưa có Do vậy, nghiên cứu về vấn đề này sẽ là một đóng góp thiết thực về mặt lý luận lẫn thực tiễn đào tạo cho nhà trường
Từ những lý do trên, nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài “Thực trạng KN tự học ngoài lớp học của SV chính quy sư phạm Trường ĐHSP TP HCM” với mục
tiêu cuối cùng là nâng cao hiệu quả công tác đào tạo của Nhà trường
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu thực trạng KN tự học ngoài lớp học của SV chính quy sư phạm Trường ĐHSP TP HCM, qua đó đề xuất một số biện pháp để nâng cao KN tự học ngoài lớp học cho SV
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động tự học của SV
3.2 Đối tượng nghiên cứu:Thực trạng KN tự học ngoài lớp học của SV chính quy
sư phạm Trường ĐHSP TP HCM
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
SV chính quy sư phạm Trường ĐHSP TP HCM nhận thức đúng đắn về vai trò của KN tự học ngoài lớp học nhưng chưa đầu tư để rèn luyện các KN tự học ngoài lớp học, mức độ thực hiện các KN tự học ngoài lớp học chưa tốt Nguyên nhân của thực trạng chủ yếu là do các yếu tố từ bản thân SV, các yếu tố khác như
GV, chương trình, điều kiện cơ sở vật chất của Nhà trường cũng ảnh hưởng nhưng mức độ ít hơn Để nâng cao KN tự học ngoài lớp học của SV cần tiến hành các biện pháp đồng bộ từ phía Nhà trường, GV, Đoàn thanh niên- Hội SV và bản thân SV
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1 Hệ thống hoá cơ sở lý luận về KN tự học ngoài lớp học dành cho SV
5.2 Khảo sát thực trạng KN tự học ngoài lớp học của SV chính quy sư phạm Trường ĐHSP TP HCM
5.3 Đề xuất một số biện pháp để nâng cao KN tự học ngoài lớp học của SV chính quy sư phạm Trường ĐHSP TP HCM
Trang 116 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
6.1 Về nội dung: chỉ khảo sát thực trạng và đề xuất một số biện pháp (không thử
nghiệm hiệu quả các biện pháp này) để nâng cao KN tự học ngoài lớp học của SV
sư phạm Trường ĐHSP TP HCM Các KN tự học ngoài lớp học được tập trung nghiên cứu là: KN lập kế hoạch tự học, đọc sách ngoài lớp học, ghi chép ngoài lớp học, ôn tập, tự kiểm tra, đánh giá quá trình tự học
6.2 Về đối tượng khảo sát: chỉ khảo sát bằng bảng hỏi trên khoảng 400 SV năm
thứ 2 và năm thứ 3 tại 4 khoa (khoa Địa lý, khoa Hoá học, khoa Tiếng Anh, khoa Tâm lý- Giáo dục) hệ chính quy sư phạm, phỏng vấn 24 SV và 12 GV cũng thuộc 4 khoa trên Trường ĐHSP TP HCM trong năm học 2012- 2013
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1 Phương pháp luận nghiên cứu
- Quan điểm tiếp cận hệ thống – cấu trúc
- Quan điểm tiếp cận thực tiễn
7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
* Phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu để
xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
* Phương pháp điều tra giáo dục: là phương pháp chủ đạo của đề tài
- Mục tiêu điều tra: khảo sát thực trạng KN tự học ngoài lớp học của SV chính quy sư phạm Trường ĐHSP TP HCM
- Đối tượng khảo sát: 400 SV ở 4 khoa (khoa Địa lý, khoa Hoá học, khoa Tiếng Anh, khoa Tâm lý- Giáo dục) đại diện cho 4 khối ngành của ĐHSP TP HCM Mỗi khoa chọn 100 SV trong đó có 50 SV năm 2 và 50 SV năm 3
- Công cụ điều tra: ban đầu, khảo sát các thông tin bằng bảng hỏi mở, từ thông tin bảng hỏi mở, nhóm nghiên cứu sẽ thiết kế bảng hỏi đóng để thu thập các thông tin chính thức, đưa vào kết quả nghiên cứu của đề tài
Trang 12* Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Phỏng vấn trực tiếp các chuyên gia lĩnh vực Giáo dục học để lý giải thực trạng, đưa ra các kiến nghị nhằm tăng cường KN tự học ngoài lớp học cho SV chính quy sư phạm của Trường ĐHSP TP HCM
* Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu thu thập từ phương pháp điều tra Tất cả các số liệu thu thập được đều được xử lý bằng máy tính với phần mềm SPSS 17.0
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG TỰ HỌC
NGOÀI LỚP HỌC CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Tự học luôn là một vấn đề thu hút sự quan tâm, chú ý của các nhà giáo dục trong và ngoài nước, dưới nhiều góc độ khác nhau như: phát huy tính tính cực, tính
tự lập, tự giác và tính sáng tạo của người học
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu ngoài nước
Từ trước công nguyên, các nhà giáo dục nổi tiếng như Khổng Tử (ở phương Đông) và Socrate (ở phương Tây) đã rất đề cao việc tự học Khổng Tử (551-479 TCN) từng đòi hỏi học trò của mình phải tích cực suy nghĩ: “Không giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được thì không bày vẽ cho Vật
có 4 góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba khóc kia thì không dạy nữa” Cách dạy học của ông là cung cấp điều cơ bản và gợi mở để học trò tự mình tìm ra phần lớn tri thức [29]
Trong khi đó, ở Hi Lạp, Socrate đã đưa ra quan niệm rất nổi tiếng: giáo dục phải giúp con người tự khẳng định chính mình Vì thế, trong dạy học, ông đã đề xuất và thực hiện triệt để một phương pháp dạy học rất tiến bộ lúc bấy giờ, đó là hỏi-đáp.Người thầy sẽ đặt những câu hỏi gợi ý để dẫn dắt học trò đến với chân lý [29]
Đến thế kỷ 17, nhà sư phạm vĩ đại J.A Comenski (1592-1670) đã đưa ra rất nhiều tư tưởng giáo dục tiến bộ, tạo nên bước ngoặt lịch sử cho nền giáo dục thế giới, trong đó quan điểm về dạy học trực quan tức phải cho người học tiếp xúc trực tiếp với sự vật, hiện tượng đã tiếp cận rất gần với tư tưởng "lấy người học làm trung tâm" tức yêu cầu dạy học phải phát huy tính tích cực nhận thức của người học dưới
sự hướng dẫn của giáo viên [21] [29]
Trang 14Tiếp nối Comenski, ở thế kỷ 18, 19, nhà giáo dục Pestalozzy (1746- 1827) đã được mệnh danh là người đặt nền móng cho việc tạo ra môi trường tự học cho mọi người Ông chủ trương nhà trường phải áp dụng một hệ thống đặc biệt không chỉ truyền thụ cho học sinh những kiến thức đã được đời trước tích luỹ mà phải giúp các em trở thành những người tự do ý chí, có khả năng hoà nhập xã hội và là những
cá nhân độc lập, tự chủ [21]
Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, bằng những nghiên cứu khoa học, bài bản của mình, nhà giáo dục người Nga A.K Krupskaya (1869- 1939) đã đưa ra nhiều cải cách giáo dục có ý nghĩa quan trọng với nền giáo dục Xô Viết, trong đó, bà kêu gọi mọi người không ngừng học tập qua việc tự giáo dục, luôn làm giàu cả kiến thức chung và kiến thức chuyên môn trong suốt cuộc đời Trong nhiều bài báo, Krupskaya đã trình bày về nội dung, hình thức và các phương pháp hoặc sự hỗ trợ nhiều mặt dành cho người tự học [21] [29]
Cùng giai đoạn với Krupskaya, nhà giáo dục Nhật Bản Tsunesaburo Makiguchi (1871- 1944) cũng cổ vũ mạnh mẽ cho việc tự học thông qua nhấn mạnh việc giáo dục sự sáng tạo cho con người Ông khẳng định truyền đạt tri thức không phải và không bao giờ là mục đích của giáo dục Giáo dục chính là quá trình hướng dẫn việc học tập cho người học và kết quả giáo dục phụ thuộc vào sự nỗ lực của người học Chính vì thế, ông tập trung vào việc đào tạo những giáo viên có thể làm những người hướng dẫn có hiệu quả cho học sinh khi học tập chứ không phải là người truyền thụ những mảng tri thức chết.[19]
Từ những nền tảng nghiên cứu này, các nhà giáo dục học thế kỷ 20 đã không ngừng nghiên cứu và bổ sung những lý thuyết mới mẻ, cụ thể hơn về vai trò của tự học và cách thức hình thành KN tự học cho người học Những nghiên cứu về KN tự học của SV cũng lần lượt được công bố
Hai nhà nghiên cứu A.A Gorosepki và M.T Lubinsia đã trình bày đầy đủ lý luận về cách thức tổ chức hoạt động tự học cho SV qua tác phẩm “Tổ chức công việc tự học của SV đại học” [3] Tác giả R Retske trong cuốn sách “Học tập hợp lý” cũng nhấn mạnh đến việc phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu của SV [23]
Trang 15Tác giả N A Rubaskin với tác phẩm "Tự học như thế nào" thì đi sâu vào việc hướng dẫn phương pháp đọc sách [25]
Đặc biệt nhà tâm lý học Mỹ Carl Roger đã cho ra đời cuốn "Phương pháp dạy và học hiệu quả" trong đó trình bày chi tiết, tỷ mỷ với dẫn chứng minh hoạ và thực nghiệm về các phương pháp dạy học để hình thành KN tự học cho SV như: cung cấp tài liệu, dùng bảng giao ước, chia nhóm dạy học, hướng dẫn cho người học cách nghiên cứu tài liệu, tự xem xét nguồn tài liệu, tự hoạch định mục tiêu, tự đánh giá việc học của mình [24]
Hàng loạt các nghiên cứu khác cũng đồng tình với quan điểm của Carl Roger Năm 1980, A.A Sappington cùng các cộng sự của mình đã công bố kết quả nghiên cứu việc hình thành các KN tự học như đọc, ghi chép tóm tắt, ôn tập, đặt câu hỏi cho 19 SV tại một đại học ở Birmingham (Anh quốc) Kết quả, sau khoá học, các SV này đạt kết quả cao hơn hẳn so với các SV không được đào tạo KN tự học [40] Năm 1996, J Hattie, J Biggs, N Purdie tiếp tục công bố kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên 51 SV sau khi được đào tạo về các KN tự giải quyết nhiệm vụ học tập, KN quản lý việc tự học, KN tự hình thành động cơ học tập và KN tự nhận diện bản thân Hiệu quả của khoá đào tạo rất rõ ràng với kết quả học tập của SV [41]
Cùng với xu thế phát triển hiện đại, các nhà giáo dục học ở các nước phát triển đã đi sâu nghiên cứu và tối ưu hóa việc học, hình thành và phát triển năng lực
tự học để người học có thể học thường xuyên, học suốt đời.Trong quá trình học tập, người học không những chỉ lĩnh hội các kiến thức đã được khoa học khám phá mà còn tìm ra những tri thức mới Vì vậy hoạt động nhận thức của người học được diễn
ra trong điều kiện: có người dạy chỉ đạo, có tài liệu, các phương tiện kỹ thuật dạy học, khả năng tự học của cá nhân người học, trong đó khả năng tự học của người học là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình nhận thức
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, tự học đã trải qua một giai đoạn phát triển nghiên cứu lâu dài
cả về lý luận và thực tiễn Mặc dù đi sau so với giáo dục thế giới, nhưng những thành quả nghiên cứu về hoạt động tự học nói chung và tự học dành cho SV cũng
Trang 16Từ những năm 1960, nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê đã xuất bản cuốn sách
"Tự học để thành công" (sau đổi tựa thành “Tự học, một nhu cầu của thời đại”) bàn luận sâu sắc, thấu đáo về ý nghĩa của việc tự học và làm thế nào để tự học tốt, đồng thời khẳng định không tự học thì con người không thể thành công [16]
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn là một trong những nhà nghiên cứu về tự học tích cực nhất Hàng loạt cuốn sách, công trình nghiên cứu của ông đã ra đời để thuyết phục giáo viên ở các cấp học, bậc học thay đổi cách dạy của mình nhằm phát triển khả năng tự học cho học sinh ở mức độ tối đa Ông phân tích sâu sắc bản chất
tự học, xây dựng khái niệm tự học chuẩn xác, đưa ra mô hình dạy- tự học tiến bộ với những hướng dẫn chi tiết cho giáo viên thực hiện mô hình nay [32] [33] [34]
Đi sâu hơn vào bản chất của vấn đề tự học trên cơ sở tâm lý học và giáo dục học, đã có các nghiên cứu của tác giả Thái Duy Tuyên với “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh”, tác giả Nguyễn Kỳ với việc nghiên cứu “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học”, tác giả Đặng Vũ Hoạt với nghiên cứu “Một số nét về thực trạng, phương pháp dạy học đại học” [9] [13] [37]
Các tác giả Việt Nam cũng khẳng định, giáo dục phổ thông cũng cần phải rèn luyện khả năng tự học cho học sinh, tạo điều kiện cho việc học tập mang tính nghiên cứu và đòi hỏi tự học cao ở đại học Trong chương “Một số hình thức tổ chức dạy học ở đại học”, tác giả Đinh Bá Lãm đã đề xuất một số biện pháp sư phạm
để GV nâng cao chất lượng tự học cho SV là: hướng dẫn phương pháp tự học, hình thành thói quen đọc sách, có kế hoạch kiểm tra việc tự học của SV [14] Tác giả Trịnh Quang Từ sau đề tài nghiên cứu sinh về tự học cũng xuất bản sách về phương pháp tự học, trong đó trình bày cụ thể các KN tự học cơ bản như: KN xây dựng kế hoạch tự học, nghe và ghi chép bài giảng, đọc tài liệu và ghi, đọc sách, thi cử và kiểm tra [35] [36]
Tập trung vào vấn đề tự học của SV sư phạm, một số nghiên cứu của các tác giả cũng rất có giá trị về mặt lý luận lẫn thực tiễn Đi đầu là tác giả Hà Thị Đức với nghiên cứu “Về hoạt động tự học của SV sư phạm” đã khái quát nên bức tranh về thực trạng tự học của SV sư phạm [2] Tác giả Trần Minh Hằng thì thì tìm hiểu các
KN tự học chủ yếu của SV Cao đẳng sư phạm theo ba nhóm: KN định hướng vấn
Trang 17đề (xác định vấn đề, lập kế hoạch ), KN thực hiện kế hoạch (xác định tư liệu, đọc, thực hành, luyện tập ), KN kiểm tra, đánh giá [5] Tác giả Trần Thị Minh Hằng với
đề tài "Tự học và yếu tố tâm lý cơ bản trong tự học của SV sư phạm" thì đã dày công tập hợp cơ sở lý luận về tự học, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành KN tự học của SV sư phạm và mô tả cụ thể cách tiến hành các KN tự học cơ bản như: xây dựng kế hoạch tự học, đọc sách kèm theo ghi chép, tự kiểm tra- đánh giá [6]
Khi giáo dục đại học Việt Nam chuyển mình, việc triển khai hình thức đào tạo tín chỉ thay cho niên chế đã mở ra một loạt các nghiên cứu nhằm thúc đẩy mạnh
mẽ hoạt động học tập của SV đáp ứng sự thay đổi đó
Với mục đích định hướng hoạt động học tập và đưa ra các biện pháp tự học cho SV theo học chế tín chỉ, đã có rất nhiều nghiên cứu từ các nhà giáo dục ở các trường đại học trong cả nước Điển hình như tác giả Nguyễn Thị Xuân Thuỷ với nghiên cứu “Rèn luyện KN tự học tập cho SV đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ” [30], tác giả Hoàng Thảo Nguyên, Nguyễn Thị Phương Thanh với "Rèn luyện KN tự học cho SV trong đào tạo theo học chế tín chỉ" [20] đều làm rõ sự khác biệt của đào tạo tín chỉ so với niên chế và những yêu cầu thay đổi trong dạy và học
ở hình thức đào tạo mới này Các tác giả chủ trương rèn các KN tự học cho SV trước khi đến lớp, trong khi học tại lớp và sau khi rời lớp học
Tác giả Vũ Thị Liên, Hoàng Thị Thuận với "Biện pháp hình thành KN tự học môn sinh thái học nông nghiệp cho SV khối cao đẳng ngành sư phạm Công nghệ- Kinh tế Gia đình theo học chế tín chỉ tại trường Cao đẳng Sơn La" cũng đưa ra 3 nhóm KN tự học: lập kế hoạch tự học, thực hiện kế hoạch, tự kiểm tra- đánh giá; sau đó đề xuất một số biện pháp hình thành các KN này cho SV như: hướng dẫn SV lập kế hoạch, xây dựng bài tập tự học, kiểm tra việc tự học, hướng dẫn nghiên cứu khoa học cho SV [17]
Hầu hết các nghiên cứu đều khẳng định tự học có một ý nghĩa và vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người, là nhân tố quan trọng nâng cao chất lượng dạy và học, là yếu tố cơ bản để con người lĩnh hội
Trang 18Như vậy, vấn đề về KN tự học đã được đông đảo các nhà giáo dục nghiên cứu quan tâm dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau, phục vụ cho nhiều đối tượng khác nhau Việc rèn luyện KN tự học cho SV cao đẳng, đại học được chú trọng nhiều hơn do đây là yêu cầu bắt buộc ở bậc học này Ngoài ra, riêng ngành sư phạm với đặc trưng nghề nghiệp sẽ trở thành giáo viên tương lai- những người đóng góp trực tiếp vào công cuộc đổi mới giáo dục theo tinh thần tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh thì yêu cầu này càng trở nên khắt khe hơn nữa Do đó, việc nghiên cứu thực trạng KN tự học, đặc biệt là tự học ngoài lớp học của SV ngành sư phạm là một vấn đề cấp thiết khi các trường sư phạm đang bước đầu triển khai hệ thống đào tạo theo tín chỉ
1.2 CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.2.1 Kỹ năng
Có nhiều quan niệm khác nhau về KN:
- Theo từ điển tiếng Việt: KN là khả năng vận dụng những kiến thức trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế [28]
- Theo Từ điển Nghề nghiệp của Bộ Lao động Mỹ, KN được định nghĩa như là khả năng thực hiện thành thạo một hành động KN có thể đạt được thông qua giáo dục, thông qua trải nghiệm công việc và đào tạo nghề, hoặc có thể là kết quả của khả năng mà con người có được qua nhiều năm
- Một số tác giả quan niệm KN là khả năng của con người thực hiện có kết quả hành động tương ứng với các mục đích, điều kiện trong đó hành động xảy ra KN mang tính khái quát được sử dụng trong các tình huống khác nhau (A Danhilov, M.N Xkakkin, B.P Exipov, Nguyễn Văn Hoan)
- N.D.Levitov lại xem xét KN hành động gắn liền với kết quả hành động Theo ông, người có KN hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả.Ông nhấn mạnh muốn hình htành KN, con người phải nắm vững lí thuyết về hành động, vừa phải biết vận dụng
lí thuyết đó vào thực tế
Trang 19- K.K Platonov và G.G Golubev khi bàn về KN cũng chú ý tới mặt kết quả của hành động Họ cho rằng KN là một mặt tạo nên năng lực của con người khi thực hiện một công việc có kết quả trong những điều kiện mới, trong một khoảng thời gian tương ứng.Trong cấu trúc của KN không chỉ có tri thức, kĩ xảo mà còn có cả tư duy sáng tạo nữa [3]
Từ các quan niệm trên cho thấy có hai loại quan niệm về KN:
1) Xem xét KN nghiêng về mặt kĩ thuật của hành động, coi KN như một phương tiện
thực hiện hành động mà con người đã nắm vững Theo quan niệm này người có KN
là người nắm vững tri thức về hành động và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu của nó
2) Xem xét KN nghiêng về năng lực của con người, là biểu hiện của năng lực con
người chứ không đơn thuần là mặt kĩ thuật của hành động Loại quan niệm này chú
ý tới kết quả của hành động.Coi KN là năng lực thực hiện một công việc có kết quả với chất lượng cần thiết trong một thời gian nhất định, trong những điều kiện, tình huống mới [12]
Quan niệm về KN rất đa dạng Tuy nhiên, về cơ bản các định nghĩa không có
sự mâu thuẫn, trái ngược nhau Các tác giả tuỳ theo cách nhìn chủ quan của mình
mà nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác
Từ những quan niệm trên có thể hiểu: KN là sự thực hiện thành thạo và có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với ngữ cảnh và điều kiện cụ thể
1.2.2 Tự học
Theo Từ điển Giáo dục học “Tự học là quá trình tự mình lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện KN thực hành không có sự hướng dẫn của giáo viên và sự quản lý trực tiếp của cơ sở giáo dục đào tạo” [7]
N.A Rubakin trong cuốn “Tự học như thế nào”khẳng định “Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời, đó là phương pháp tự học” Ông cho rằng tự học không chỉ là xem sách mà còn phải so sánh những điều được viết
Trang 20Trong tập bài giảng chuyên đề “Dạy tự học cho SV trong các nhà trường
trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học”, Thái Duy Tuyên viết: Tự học là
hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, người học phải sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động
cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học [38]
Tác giả Nguyễn Kỳ cũng bàn về khái niệm tự học: Tự học là hoạt động trong
đó người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là người học tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp… [13]
Nhìn chung các tác giả đều quan niệm tự học là sự nỗ lực của mỗi cá nhân nhằm đạt đến mục đích nào đó trên con đường chiếm lĩnh tri thức của nhân loại Sự
nỗ lực đó bao gồm cả tư duy trí tuệ, động cơ tâm lý, ý thức, thái độ, tình cảm Tự học là quá trình mà trong đó chủ thể người học với sự độc lập, tích cực và tự giác ở mức độ cao tự biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng các thao tác trí tuệ hoặc các hoạt động khác cùng với nghị lực và sự say mê học hỏi của bản thân
Từ những định nghĩa như trên về tự học chúng ta đều nhận thấy điểm chung của tự học là sự tự giác, chủ động và độc lập của người học trong quá trĩnh lĩnh hội tri thức Bản chất của tự học là quá trình chủ thể người học cá nhân hóa việc học nhằm thỏa mãn các nhu cầu học tập, tự giác tiến hành các hành động học tập như: phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát, giao tiếp, thực hành, kiểm tra, đánh giá… để thực hiện có hiệu quả mục đích và nhiệm vụ học tập đề ra Tự học của SV đại học mang đầy đủ các đặc điểm của tự học nói chung nhưng cũng phản ánh đặc trưng riêng của hoạt động học tập ở đại học là tính tự chủ cao và tính nghiên cứu vừa sức
Có hai dạng tự học của sinh viên:
Trang 21Dạng 1: Tự học có hướng dẫn trực tiếp của GV (chủ yếu ở trên lớp), GV sẽ giao các nhiệm vụ tự học, yêu cầu và hướng dẫn HS cách tự học để hoàn thành các nhiệm vụ
Dạng 2: Tự học không có hướng dẫn trực tiếp của GV (chủ yếu diễn ra ở ngoài lớp học), GV có thể giao nhiệm vụ hoặc có thể chính SV tự thiết kế các nhiệm vụ học tập cho chính mình và sau đó SV tự tìm tòi các phương pháp để hoàn thành
Kết hợp các khái niệm về KN và tự học trên, nhóm nghiên cứu đã đưa ra khái niệm KN tự học như sau:
KN tự học là khả năng thực hiện thành thục và có kết quả các thao tác, hành động tự học trên cơ sở vận dụng những tri thức tích luỹ được về hoạt động
và KN tự học
Với khái niệm này, nhóm nghiên cứu nhấn mạnh để có KN tự học tốt đòi hỏi người học phải sở hữu cả tri thức về KN tự học, không chỉ là sự thành thục mang tính máy móc các thao tác, kỹ thuật tự học, đồng thời cũng khẳng định KN tự học hoàn toàn có thể rèn luyện được
Các KN tự học ngoài lớp học trong đề tài nghiên cứu này phản ánh mức
độ 2 của tự học, và được hiểu là các KN tự học mà SV tự giác, chủ động thực hiện để hoàn tất các nhiệm vụ học tập ngoài lớp học
1.3 KỸ NĂNG TỰ HỌC NGOÀI LỚP HỌC CỦA SV SƯ PHẠM
1.3.1 Vai trò của KN tự học ngoài lớp học với sự hình thành nhân cách của SV
sư phạm
Trong vấn đề giáo dục nói chung và việc học nói riêng thì tự học có một vai trò hết sức quan trọng Tự học giúp người học hiểu sâu, mở rộng, củng cố và ghi nhớ bài học một cách vững chắc nhờ vào khả năng tự phân tích, tổng hợp tài liệu, từ đó có khả năng vận dụng các tri thức đã học vào việc giải quyết những nhiệm vụ học tập mới Đồng thời, tự học giúp người học hình thành được tính tích cực, độc lập tự giác trong học tập cũng như nề nếp làm việc khoa học Từ đó quyết
Trang 22định sự phát triển các phẩm chất nhân cách và quyết định chất lượng học tập của
SV
Do phương pháp học tập ở đại học khác cơ bản so với phương pháp học ở phổ thông, ở đại học không có sự kiểm tra hàng ngày của giáo viên nên việc học tập của SV phần lớn là tự học Đó là hoạt động diễn ra liên tục, trong một phạm vi lớn nhằm lĩnh hội rất nhiều tri thức Có thể nói: Bản chất của công việc tự học của SV đại học là quá trình nhận thức một cách tự giác, tích cực, tự lực không có sự tham gia hướng dẫn trực tiếp của giáo viên nhằm đạt được mục đích, nhiệm vụ dạy học Nói khác đi, việc tự học ngoài lớp học đóng vai trò trọng yếu ở đại học [2] [10]
Bên cạnh đó, tự học còn giữ vai trò lớn lao trong việc nâng cao khả năng hiểu biết và tiếp thu tri thức mới của SV, nhiều nhà giáo dục nổi tiếng đã nêu lên sự cấp thiết phải khéo léo tổ chức việc tự học cho SV Tự học với sự nỗ lực, tư duy sáng tạo đã tạo điều kiện cho việc tìm hiểu tri thức một cách sâu sắc, hiểu rõ bản chất của chân lý.Trong quá trình tự học, SV sẽ gặp nhiều vấn đề mới và việc đi tìm giải đáp cho những vấn đề ấy là cách tốt nhất để kích thích hoạt động trí tuệ cho SV.Nếu thiếu đi sự nỗ lực tự học của bản thân SV thì kết quả không thể cao cho dù
có điều kiện ngoại cảnh thuận lợi đến mấy (thầy giỏi, tài liệu hay) Theo Aditxterrec: "Chỉ có truyền thụ tài liệu của giáo viên mà thôi thì dù có nghệ thuật đến đâu chăng nữa cũng không đảm bảo được việc lĩnh hội tri thức của học sinh Nắm vững kiến thức thực sự lĩnh hội chân lý, cái đó học sinh phải tự mình làm lấy bằng trí tuệ của bản thân"
Không chỉ có vậy, tự học còn có vai trò to lớn trong việc giáo dục, hình thành nhân cách cho sinh viên Việc tự học rèn luyện cho SV thói quen độc lập suy nghĩ, độc lập giải quyết vấn đề khó khăn trong nghề nghiệp, trong cuộc sống, giúp cho họ tự tin hơn trong việc lựa chọn cuộc sống cho mình Hơn thế, tự học thúc đẩy
SV lòng ham học, ham hiểu biết, khát khao vươn tới những đỉnh cao của khoa học, sống có hoài bão, ước mơ Qua đó có thể nói rằng tự học của SV không chỉ là một nhân tố quan trọng trong lĩnh hội tri thức mà còn có ý nghĩa to lớn trong việc hình thành nhân cách SV [16]
Trang 23Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để khẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp con người thích ứng với mọi biến cố của sự phát triển kinh tế - xã hội Bằng con đường tự học mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức
to lớn từ môi trường nghề nghiệp Do đó, việc tự học không nên chỉ giới hạn trong các giờ học trên lớp, với sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều
đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao [32] [33] [34]
Đối với SV sư phạm, việc định hình phương pháp tự học mang một ý nghĩa rất quan trọng bởi kết quả học tập chưa phải là đích cuối cùng, kiến thức và các kĩ năng đạt được trong quá trình tự học sẽ là hành trang cho SV trong suốt cuộc đời giảng dạy [2]
Học sinh ở các trường phổ thông ngày nay rất nhanh nhạy trong việc cập nhật thông tin, đòi hỏi giáo viên phải không ngừng trau dồi kiến thức của mình mới đáp ứng được yêu cầu nghề nghiệp Do đó, SV sư phạm đang trong giai đoạn học tập để trở thành giáo viên thì việc tự tích góp kiến thức cho bản thân thông qua tự học là một việc làm tất yếu
Tự học không chỉ dừng lại sau khi hoàn tất quá trình học tập ở trường đại học mà còn phải là một kĩ năng thường trực đối với một người giáo viên Từ đó giáo viên mới có ý thức hình thành kĩ năng tự học cho học sinh của mình để các em sớm có được một phương pháp học tập hiệu quả
1.3.2 Hệ thống KN tự học
Theo các nghiên cứu trước đây, KN tự học được hình thành từ nhiều con đường, nhiều kĩ năng nhỏ lẻ khác nhau Cách phân chia và gọi tên các KN tự học cũng chưa thực sự thống nhất
Trang 24Theo các tác giả Nguyễn Quang Uẩn - Trần Quốc, KN tự học có thể được phân thành 4 nhóm, đó là nhóm KN định hướng, nhóm KN thiết kế (lập kế hoạch), nhóm KN thực hiện kế hoạch và nhóm KN kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm [39]
Theo tác giả Vũ Trọng Rỹ thì cho rằng KN tự học của học sinh nói chung và
SV nói riêng gồm 4 nhóm: KN nhận thức, KN thực hành, KN tổ chức, KN kiểm tra đánh giá [26]
Tác giả Nguyễn Thị Thu Ba thì phân loại tự học bao gồm các nhóm KN cơ bản sau: KN định hướng; KN lập kế hoạch học tập; KN thực hiện kế hoạch; KN tự kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm [1]
Tác giả Nguyễn Thị Xuân Thuỷ trong bài viết “Rèn luyện KN tự học cho SV đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ", các KN tự học cần thiết cho SV là:
KN xây dựng kế hoạch tự học; KN đọc giáo trình, tài liệu tham khảo; KN chọn lọc,
sử dụng vốn kiến thức cũ để học kiến thức mới [30]
Tác giả Trần Thị Minh Hằng cũng phân chia các KN tự học thành 3 nhóm: nhóm
KN định hướng, nhóm KN thực hiện kế hoạc tự học, nhóm KN tự kiểm tra- đánh giá [6]
Trong đề tài này, nhóm nghiên cứu tán thành cách phân loại của tác giả Trần Thị Minh Hằng và lựa chọn các KN tự học ngoài lớp học cụ thể gồm: KN lập kế hoạch tự học; KN đọc sách; KN ghi chép; KN ôn tập và KN tự kiểm tra, đánh giá hoạt động
tự học
1.3.3 Một số KN tự học ngoài lớp học của SVsư phạm
1.3.1.1 KN lập kế hoạch tự học
Tự học là một quá trình khó và cũng không quá khó.Khó vì phải luôn tự giác
để đảm bảo tiến độ tự học được duy trì, được lặp đi lặp lại liên tục để tạo thành một thói quen Không quá khó nếu như bản thân có ý chí, nhu cầu tự học cao kèm theo
KN lập kế hoạch và KN quản lý thời gian hiệu quả
Đối với bất kì ai muốn việc học thật sự có hiệu quả thì mục đích, nhiệm vụ
và kế hoạch học tập phải được xây dựng cụ thể, rõ ràng Trong đó kế hoạch phải được xác định với tính hướng đích cao, tức là kế hoạch ngắn hạn, dài hơi hoặc thậm chí kế hoạch của từng môn, từng phần phải được tạo lập thật rõ ràng, nhất quán cho
Trang 25từng thời điểm từng giai đoạn cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình Vấn đề kế tiếp là phải chọn đúng trọng tâm, cái gì là cốt lõi, là quan trọng để
ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó.Nếu việc học dàn trải thiếu tập trung thì chắc chắn hiệu quả sẽ không cao Sau khi đã xác định được trọng tâm, phải sắp xếp các phần việc một cách hợp lí logic về cả nội dung lẫn thời gian, đặc biệt cần tập trung hoàn thành dứt điểm từng phần, từng hạng mục theo thứ tự được thể hiện chi tiết trong kế hoạch Điều đó sẽ giúp quá trình tiến hành việc học được trôi chảy thuận lợi
Việc lập kế hoạch rõ ràng, cụ thể cái gì cần được học trước, cái gì sẽ được học sau, làm như thế không những sẽ giúp quản lí và tiết kiệm được thời gian mà còn giúp chúng ta hệ thống lại những kiến thức đã học một cách khoa học
Kế hoạch tự học của SV phải thực tế và linh hoạt, không thể lập một kế hoạch mà trong đó mỗi công việc đều quy định thời gian cụ thể chi tiết Vì như vậy, chúng ta có thể gặp những tình huống bất ngờ và kế hoạch bị phá vỡ Do đó, kế hoạch học tập của SV không phải là cứng nhắc, mà là một kim chỉ nam, một phương hướng có thể điều chỉnh khi điều kiện thay đổi để SV hành động nhằm sử dụng quỹ thời gian một cách hợp lý và hiệu quả, sao cho kế hoạch đó phải ở trong tầm với, phù hợp với điều kiện của mình, có như vậy các em mới làm chủ được quỹ thời gian, không bị động trước nhiều nguồn tư liệu cần phải đọc và các công việc phải hoàn thành theo yêu cầu và sự hướng dẫn của GV
KN này cần tuân thủ các nguyên tắc sau: Đảm bảo thời gian tự học tương xứng với lượng thông tin của môn học; xen kẽ hợp lý giữa các hình thức tự học, giữa các môn học, giữa giờ tự học, giờ nghỉ ngơi; thực hiện nghiêm túc kế hoạch tự học như biết cách làm việc độc lập, biết tự ôn tập, kiểm tra
Trước hết cần xác định xem học cái gì, học trong bao lâu và học bao nhiêu (bao nhiêu chương, bao nhiêu trang, bao nhiêu vấn đề… chẳng hạn, đây là một việc không quá khó) Sắp xếp thời gian tự học, đề ra thời gian học từng thứ và phải tuân thủ đúng theo lịch thời gian đó Hãy học những vấn đề khó trước, nếu không thì hãy bắt đầu với việc học những phần mà cảm thấy dễ và thú vị
Trang 26Nên ấn định cho mình một khoảng thời gian làm việc cụ thể, ví dụ thời gian học hiệu quả thường khoảng 45 phút sau đó hãy nghỉ ngơi thư giãn một chút Việc xác định thời gian này ngay từ đầu sẽ giúp chúng ta tránh được sự lo lắng, sợ hãi một cách bản năng về những khó khăn, nản chí có thể xảy ra trong quá trình học Bản thân chúng ta sẽ cảm thấy nặng nề khi không xác định được mình sẽ tự học trong bao lâu? Ít quá thì sợ không hiệu quả, mà nhiều quá sẽ mệt mỏi Việc ấn định thời gian sẽ giúp ta làm việc có hiệu quả và tăng năng suất hơn
Nếu chúng ta thành công trong mục tiêu đặt ra chẳng hạn như học xong hai phần của một chương trong sách theo đúng tiến độ thời gian, chúng ta có thể tự thưởng cho mình một phần thưởng nho nhỏ nào đó, ví dụ như cho phép mình chơi game để thư giãn Một số người có thể xem đây là vô lý, vì chúng ta đang tập trung thiết lập giới hạn thời gian tự học cho mình, nếu cho phép vui chơi thì rất có thể sẽ
dễ dàng vi phạm những quy định ấy Nhưng bằng cách thiết lập những giới hạn về hành vi của mình, chúng ta đang thực sự tự tuân theo kỷ luật, đó sẽ là một KN hữu ích để có thể tự học trong suốt cuộc đời
Nhiều SV đã cố gắng để thời gian tự học trở nên thường xuyên một cách nhiều nhất có thể, tuy nhiên tần số không quan trọng bằng cách tự học một cách thực sự Chi tiêu 30 hoặc 60 phút mỗi ngày để tự học có hiệu quả thì chúng ta dễ dàng thẩm thấu kiến thức hơn rất nhiều
Xác định thời điểm học cũng rất quan trọng Khả năng lao động trí óc của con người tăng dần từ sáng sớm tới gần trưa, sau đó giảm dần - sau bữa ăn trưa nên
có ngủ trưa chút ít từ 20-30 phút để thư giãn cũng là điều nên làm Hiệu suất học buổi trưa cao hơn buổi sáng, đặc biệt đối với những môn học khó.Buổi chiều có hơi giảm vào giờ ăn tối Sau đó, dường như có một chu kỳ mới và khả năng trí óc lại tăng dần cho tới khoảng 21 giờ, sau đó lại giảm Không nên thức sau 22 giờ - vì đầu
óc sau một ngày làm việc dường như đã bão hòa, không còn tiếp thu thêm được nữa Lúc rời bàn học, có thể lật qua, lướt mau những dòng đầu của các bài đã ôn để xác định mình đã học được tới đâu, đồng thời gửi tất cả vào tiềm thức bộ nhớ trước khi đưa não vào giấc ngủ
Trang 27Một trong những lí do khiến SV dễ chán nản, không còn hứng thú với việc tự học là không hoàn thành tốt lịch trình đã đề ra Nhiều lần như thế dễ làm họ cảm thấy mất dần niềm tin vào chính mình và ngày càng buông thả, bỏ bê chuyện tự học
Đã có khẳng định rằng nếu bỏ ra một giờ để lập kế hoạch chúng ta sẽ tiết kiệm được ba giờ khi thực hiện nó Bởi khi thời gian học tập cũng như thời gian tự học của mình được lên kế hoạch thì chúng ta sẽ thấy nó trở nên ít rắc rối trong thời gian dài
1.3.1.2 KN đọc sách
Trong quá trình tự học của SV, đọc sách được coi là khâu quan trọng đầu tiên giúp SV tiếp thu tri thức và phát triển phương pháp tự học hiệu quả Đọc sách cũng cần xác định mục tiêu cho chính mình như đọc sách gì?liên quan đến chuyên ngành của mình như thế nào? mục đích của việc đọc sách này là gì? chúng có giúp giải quyết vấn đề mình đang tìm kiếm hay không? Tự đặt câu hỏi và xác định mục tiêu sẽ giúp SV hạn chế được vấn đề lan man, tăng sự tập trung cho học tập
KN đọc sách bao gồm nhiều thao tác:
+ Thao tác tra cứu tài liệu: để tìm được tài liệu như mong muốn, SV phải biết cách tra cứu tài liệu ở thư viện, nhà sách lẫn các kho tài liệu trực tuyến Có nhiều cách tra cứu như: tra cứu theo từ khoá, theo tên tác giả, theo tên sách SV thành thạo thao tác này sẽ tiết kiệm được lượng thời gian đáng kể khi đọc sách và đọc được những tài liệu sát với mục tiêu đọc của mình nhất
+ Thao tác chọn sách: Nguồn tài liệu in và tài liệu kỹ thuật số hiện nay rất dồi dào, chứa đựng những thông tin phong phú, với nhiều quan điểm khác nhau thậm chí trái chiều Việc lựa chọn được nguồn tài liệu khoa học, đánh tin cậy và chính xác nhất là điều SV nên lưu ý Vì thế, trước khi chính thức đọc một cuốn sách, một tập tài liệu, SV cần hiểu biết rõ các nhà xuất bản uy tín, các tác giả là chuyên gia đầu ngành, có những nghiên cứu giá trị, thời điểm xuất bản, số lần tái bản để đảm bảo thông tin có sự cập nhật,
+ Thao tác đọc sách:
Trang 28- Đọc lướt: Trước khi bắt tay vào việc học, SV cần đọc lướt qua hướng dẫn, tài liệu
GV cung cấp cho mình, tạp chí chuyên ngành… SV có thể lật nhanh từng trang, hoặc mở ngẫu nhiên một số trang nào đó để định hình cho mình cách bố cục, trình bày, mục lục, hình minh họa vị trí các phần tóm tắt, kết luận…
- Đọc có suy nghĩ: Khi đọc sách cần phải tập trung tư tưởng, chỗ chưa thông, chưa nắm vững cần phải ngưng để đọc chậm, đọc kĩ, ôn lại Đọc sách để hiểu những điều tác giả nói và cả những điều tác giả không nói, mà người đọc tự suy nghĩ, mở rộng đến những điều liên quan mà sách không đề cập đến
- Đọc có hệ thống: Khi đọc bất kì cuốn sách nào, SV nên đọc lướt nhanh toàn bộ phần tổng quát của sách để nắm sơ bộ nội dung cuốn sách Sau đó, tuỳ vào mục đích đọc mà đọc kĩ một lần hay nhiều lần Cuối cùng là cần rèn luyện cách đọc nhanh để tập trung được sự chú ý, sự suy nghĩ diễn ra liên tục và dễ dàng xác lập được mối quan hệ giữa các đoạn với nhau khiến ta dễ nắm được nội dung tài liệu
- Đọc có chọn lọc: Đọc có chọn lọc là đọc để tìm những điểm cốt lõi, chọn ý tưởng hay nhất, đúng nhất và có ích cho việc học sẽ rèn được tư duy phê phán, làm tiền đề cho năng lực giải quyết vấn đề sau này
- Đọc có ghi nhớ: Đọc sách là học tập tích cực nên cần kèm theo việc ghi chép để nhớ lâu Đọc sách hoặc tài liệu giáo khoa cần ghi các dàn ý và diễn tiến nội dung Các ý chính cần ghi chép cẩn thận, gạch chân hoặc tô màu vì đó là ý cơ bản mà từ
đó có thể suy luận ra các ý khác liên quan Những phần chưa hiểu hoặc chưa nắm vững cũng cần đánh dấu để tiếp tục suy nghĩ, tìm người giải đáp
Mỗi cách đọc sách trên đây có thể đáp ứng cho những mục đích đọc và loại sách khác nhau.Với các loại sách khoa học và kĩ thuật; đọc với mục đích học tập nghiên cứu phải đọc một cách chủ động, nghiền ngẫm sâu sắc, đi sâu vào nội dung từng vấn đề, trong sách Đọc sách khoa học nhằm mục đích học tập, nghiên cứu vì vậy, để thẩm thấu sách, chúng ta không chỉ đọc một lần, mà có khi phải đọc nhiều lần mới đạt được mục đích đã đề ra, V.I Lênin đã khuyên “Sau lần đọc đầu tiên phải ghi lại những chỗ chưa hiểu hoặc chưa rõ ràng để trở lại đọc lần thứ hai, lần thứ ba, thứ tư ”
Trang 29Để đọc sách hiệu quả, SV phải tổ chức việc đọc sách của mình với các điều kiện thuận lợi nhất như: bàn ghế ngồi đọc, vở ghi chép, không gian yên tĩnh, mát
mẻ, cách ly với các yếu tố gây nhiễu như truyền hình, điện thoại, máy tính cá nhân (nếu không cần thiết)
1.3.1.3 KN ghi chép ngoài lớp học
KN ghi chép ngoài lớp học gắn bó chặt chẽ với KN đọc sách vì nếu đọc mà không ghi chép thì gần như các thông tin đã học sẽ dần biến mất khỏi trí não Việc ghi chép giúp chúng ta nhớ lại thông tin tốt hơn Trí óc sẽ lưu giữ tất cả những gì nhìn thấy, nghe thấy và cảm thấy Bộ nhớ của con người hoàn thiện như một chiếc máy vi tính Thủ thuật ghi chép nhanh không giúp SV nhớ được các sự kiện, mà việc này được thực hiện hoàn toàn tự động song nó giúp gọi ra các sự kiện đã được lưu giữ trong bộ nhớ Hầu hết chúng ta đều nhớ rất tốt khi chúng ta ghi lại các sự kiện Nếu không ghi chép và xem xét sự kiện thì con người chỉ có khả năng nhớ một phần rất nhỏ những gì nghe hoặc đọc được cách đó một ngày Ghi chép hiệu quả sẽ tiết kiệm thời gian do người học có thể sắp xếp thông tin và nhớ lại chúng khi cần Vậy SV nên ghi chép những gì? Cần ghi bao nhiêu, dưới hình thức nào? Nên ghi chép dưới dạng phác thảo truyền thống, dưới dạng bản tóm tắt hay ghi lại dưới dạng một loạt các lời phát biểu? Dạng nào giúp SV ghi chép tốt nhất?
Mục đích ghi chép cơ bản của SV là tóm tắt được những điểm quan trọng trong cuốn sách, báo cáo, bài giảng… Ghi chép hiệu quả sẽ giúp SV nhớ được chi tiết về những điểm quan trọng đó, hiểu được những khái niệm cơ bản và thấy được mối liên hệ giữa chúng Nghiên cứu về cách bộ não lưu giữ và nhớ lại thông tin đã
mở ra những phương pháp ghi chép giúp con người có khả năng tổ chức tốt hơn, tăng sự hiểu biết, nhớ lâu, và có sự hiểu biết sâu sắc hơn như sau
Ghi chép nhanh mà vẫn đầy đủ ý: Ý là nội dung cốt lõi của tài liệu vì vậy cần kết hợp với suy nghĩ của bản thân để viết ý chính và diễn đạt bằng câu văn của mình, không cần thiết phải chép nguyên câu của tác giả SV có thể lưu giữ và thể hiện nội dung cốt lõi của tài liệu thông qua một loạt các ký hiệu, biểu tượng, từ khóa, hình vẽ một cách nhanh nhất có thể Những ký hiệu này sẽ giúp SV nhớ
Trang 30và logic của các ý, chúng ta cần chú ý phải ghi được các từ bản lề (liên từ chỉ quan
hệ nhân quả, đối lập, song song, thời gian ) Cần chú ý nhấn mạnh với các từ
“cho nên”, “vì vậy” và “chủ yếu”, “điều quan trọng”…
Ghi chép để dễ nhìn và nhớ: SV có thể ghi chép vào những quyển vở mà mình yêu thích, vì chắc rằng nó sẽ được cầm nhiều lần, cảm giác thích thú ban đầu
sẽ gây hưng phấn cho người học
Ghi trực tiếp trên sách: Khi cần thiết SV nên ghi trực tiếp lên đó, nếu khoảng trống không đủ có thể ghi vào một tờ giấy nhỏ dán lên nơi cần ghi chú Nếu ghi kỹ, những nội dung này sẽ giúp SV tiết kiệm được thời gian vì không cần phải xem lại toàn bộ nội dung của trang sách, và khi đọc lại chúng ta biết chắc rằng nó sẽ gợi nhớ đến mục nào, phần nào trong bài
Ghi thành dàn bài: Đọc kỹ nội dung của bài học, chia thành những phần chính, trong phần chính chia thành những mục nhỏ được sắp xếp theo một trật tự phù hợp, dễ nhớ, dễ liên tưởng Ghi chép theo cách này đòi hỏi SV phải suy nghĩ theo lối phân tích, đây là yếu tố giúp SV dễ thuộc bài, dễ ôn tập và nhớ lâu.Có thể
tổ chức việc ghi chép này thành các dạng sơ đồ, hình vẽ khác nhau cho hấp dẫn, kích thích thị giác, hiệu quả ghi nhớ sẽ tốt hơn [34]
1.3.1.4 KN ôn tập
KN ôn bài là hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc chiếm lĩnh kiến thức bài giảng của GV Đó là hoạt động tái hiện bài giảng như xem lại bài ghi, mối quan hệ giữa các đoạn rời rạc, bổ sung bài ghi bằng những thông tin nghiên cứu được ở các tài liệu khác, nhận diện cấu trúc từng phần và toàn bài Ban đầu, việc tái hiện bài giảng của SV dựa vào những biểu tượng, khái niệm, phán đoán được ghi nhận từ bài giảng của GV; sau đó, từ hoạt động tái nhận bài giảng, SV dựng lại bài giảng của GV bằng ngôn ngữ của chính mình, đó là những mối liên hệ logic có thể
có cả kiến thức cũ và mới Từ đó hoàn chỉnh việc tổ chức tư liệu học và đưa vào bộ nhớ
Nếu trong quá trình ôn tập, bản thân cảm thấy quên kiến thức thì SV nên dành nhiều thời gian hơn cho việc sắp xếp tổ chức sự liên hệ giữa các phần và các
Trang 31khái niệm, lập đề cương và tập viết dàn bài SV dành một khoảng thời gian ngắn hơn cho việc học thuộc tạm thời, ôn tập và tự kiểm tra Nguyên tắc của ôn tập hiệu quả là phải để cho đầu óc thư giãn, rồi tự kiến thức sẽ trở về Nếu muốn ôn lại bài thì hãy ôn lại sau đó 10 phút, rồi 1 ngày, 1 tuần và một tháng Trong quá trình học, nếu SV cảm thấy mệt mỏi hay buồn chán nên đổi sang một môn học khác, hoạt động khác hoặc thay đổi môi trường học
Khi ôn tập có thể kết hợp với việc vận dụng các kiến thức lý thuyết đã ôn để giải quyết các bài tập, điều này có tác dụng trong việc hình thành KN vận dụng tương ứng với những tri thức đã học Từ việc tự học bài, trả lời câu hỏi, làm bài tập của GV, SV có thể tự thiết kế những loại bài tập thực hành, bài tập củng cố đơn vị kiến thức đến bài tập hệ thống hóa bài học, chương học, cũng như những bài tập vận dụng kiến thức vào cuộc sống
1.3.1.5 KN tự kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học
Các nhà giáo dục đã khẳng định, kiểm tra, đánh giá trong học tập là quá trình thu thập và xử lý thông tin về tình hình lĩnh hội kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng đạo dức, hình thành KN, kỹ xảo của người học so với mục tiêu, yêu cầu học tập Sự hiểu biết về các nguyên nhân và ảnh hưởng của tình hình học tập của SV giúp GV có những biện pháp sư phạm thích hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy học và giúp SV ngày càng tiến bộ hơn [27]
Vì vậy, có thể hiểu rằng tự kiểm tra đánh giá trong quá trình học tập, đặc biệt trong quá trình tự học là biện pháp giúp SV hình thành KN, kỹ xảo từ đó nhận biết
rõ ưu khuyết điểm của bản thân nhất là phương pháp học tập để tìm cách khắc phục
Về mặt nhận thức, tự kiểm tra đánh giá tạo nên mối liên hệ ngược trong, giúp SV có
cơ sở thực tế với độ tin cậy cao để tự đánh giá kết quả học tập của mình cũng như khắc phục các sai lầm, thiếu sót Nó góp phần củng cố vững chắc các kiến thức đã lĩnh hội của SV Đặc biệt, khi tự kiểm tra, đánh giá SV sẽ tự khẳng định được mình,
tự mình đề xuất được biện pháp thỏa đáng để điều khiển và thúc đẩy hoạt động học tập của bản thân vận động đi lên
Tự kiểm tra đánh giá góp phần hình thành các KN và thói quen trong học tập
Trang 32động thực tiễn, thực tập… Việc tự kiểm tra, đánh giá nhìn nhận kết quả học tập qua quá trình tự học có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức: dùng các thang đo mức độ đáp ứng yêu cầu của GV, bản thân tự đánh giá, sự đánh giá nhận xét của tập thể thông qua thảo luận, tự đối chiếu so sánh với mục tiêu đặt ra ban đầu… Tất cả các hình thức này đều mang một ý nghĩa tích cực, cần được quan tâm thực hiện thường xuyên Thông qua nó người học tự đối thoại để thẩm định mình, hiểu được cái gì làm được, điều gì chưa thỏa mãn nhu cầu học tập nghiên cứu để từ đó có hướng khắc phục hay phát huy, góp phần rèn luyện các thao tác dư duy nhanh, sâu, độc lập, sáng tạo
Để có KN tự kiểm tra, đánh giá SV cần:
-‐ Xác định được mục tiêu, nội dung bài học
-‐ Xác định các nội dung liên quan trong các tài liệu tham khảo
-‐ Tái hiện những kiến thức liên quan đã được nghe giảng
-‐ Xây dựng dàn ý bài học (hoặc bài thuyết trình)
-‐ Làm bài tập theo yêu cầu
-‐ Dự kiến các câu hỏi và trả lời
-‐ Trình bày trước nhóm (lớp), trao đổi thảo luận với bạn bè
-‐ Kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung những nội dung chưa chuẩn
1.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TỰ HỌC NGOÀI LỚP HỌC CHO SV SƯ PHẠM
1.4.1 Bản thân SV
Tự học là quá trình nỗ lực của bản thân người học không chỉ trên giảng đường mà còn cả ngoài giờ lên lớp, là thời điểm để SV hệ thống lại và đi sâu nghiên cứu những tri thức đã lĩnh hội Đây là thời gian học không có giáo viên nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc tự học Vì vậy việc nỗ lực và chủ động tự học ngoài giờ lên lớp là điều rất cần thiết và mang tính quyết định trong việc tự học của SV
Nghiên cứu tâm lý học sư phạm kết hợp với kinh nghiệm học tập cho thấy, người học tự giác học tập và học có hiệu quả khi bản thân nhận thức đúng đắn bản
Trang 33chất, vai trò của tự học, có kiến thức về các phương pháp học, có nhu cầu, động cơ
tự học đúng đắn, thấy hứng thú tìm tòi, học hỏi và họ có khả năng vượt qua những khó khăn trở ngại để tự học thành công [6] Nếu người học thiếu các yếu tố nội lực trên thì việc tự học sẽ trở nên rất khó khăn [34]
Khi theo học chế tín chỉ, SV cần có một chiến lược để tiếp cận kiến thức từ
GV Hiện nay, phần lớn SV than phiền thời lượng học tập ở lớp quá ít so với khối lượng kiến thức vì vậy GV không thể chuyển tải hết kiến thức cho mình SV cần hiểu rằng, chính họ phải chủ động tự tìm hiểu tất cả [17] [30] GV sẽ hướng dẫn, giải đáp những chỗ khúc mắc của người học mà thôi Nếu mỗi lần gặp GV trên lớp
mà SV đặt được nhiều câu hỏi, có nghĩa là SV đang sử dụng hiệu quả khoảng thời gian đó Một số SV có khuynh hướng tập trung vào các tài liệu văn bản mà không quan tâm những gì GVchỉ dẫn Nếu SV chỉ viết ra được một khía cạnh của bài học thì chắc chắn SV đó chỉ hiểu được 50% bài giảng
Tập trung nghe giảng, đào sâu suy nghĩ, mạnh dạn và hăng hái phát biểu bài
ở lớp chính là người có ý thức tự học tốt, bởi vì chúng ta thường nhớ rất nhanh và rất bền điều mà ta hiểu Tích cực trong những bài tập nhóm tại lớp; kết hợp với việc
sử dụng các thao tác tư duy và ghi chép bài trên lớp; tự ghi những ý cơ bản, có chọn lọc, ghi nhanh, tạo những chữ viết tắt cho riêng mình và tránh thay đổi nó; phối hợp nhiều màu mực trong cách ghi bài để thể hiện một dàn bài hiệu quả Phần kiến thức chưa rõ, chưa hiểu mạnh dạn hỏi GV và bạn bè ngay trong giờ học Cuối mỗi giờ học, SV nên đọc lại nội dung bài ghi nhằm tóm lược lại những vấn đề vừa được học… Những KN như thế sẽ giúp ích rất nhiều cho SV trong việc tự học tại nhà
Khi tự học, mỗi SV hoàn toàn có điều kiện để tự nghiền ngẫm những vấn đề nảy sinh trong học tập theo một phong cách riêng với những yêu cầu và điều kiện thích hợp Điều đó không chỉ giúp bản thân SV nắm được vấn đề một cách chắc chắn và bền vững; chủ động bồi dưỡng phương pháp học tập và kĩ năng vận dụng tri thức mà còn là dịp tốt để rèn luyện ý chí và năng lực hoạt động độc lập sáng tạo
Đó là những phẩm chất mà chỉ có chính bản thân SV tự rèn luyện kiên trì mới có được, không một ai có thể cung cấp hay làm thay cho mình Thực tế cũng đã chứng
Trang 34minh, mỗi thành công của SV trên con đường học tập nghiên cứu không bao giờ là kết quả của lối học tập thụ động, đối phó, chờ thời
1.4.2 Các yếu tố bên ngoài
1.4.2.1 Giảng viên
Tự học của SV là một mặt hoạt động trong quá trình dạy học, nó không thể tách rời với hoạt động của GV, vì vậy tự học chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi nó được diễn ra trong mối quan hệ biện chứng thống nhất với hoạt động dạy của thầy Giờ dạy học được đánh giá là tích cực khi GV giảng dạy trên cơ sở sự chuẩn bị chủ động của SV, tương tác giữa SV với nhau và tương tác giữa thầy và trò Việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực sẽ giúp GV thực hiện được điều này [3]
Việc đặt ra các yêu cầu tự học cho SV cũng là cách GV kích thích hoạt động
tự học cho SV Chẳng hạn, khi dạy học bài mới, GV tổ chức cho SV báo cáo kết quả tự học bằng việc thuyết trình trước lớp Có thể nâng dần yêu cầu thuyết trình để nâng dần trình độ, KN học tập của SV từ: không đọc trước tài liệu đến có đọc trước nhưng không có hướng dẫn; có đọc trước theo hướng dẫn của GV; có đọc trước theo hướng dẫn của GV và chuẩn bị trình bày trước lớp bằng lời; trình bày phối hợp ghi bảng cho đến mức phối hợp trình bày qua phương tiện hiện đại như máy chiếu với chương trình power point, làm chủ các slide hoặc các phương tiện chuyên ngành khác
Ngoài ra, kết quả tự học của SV cần được thể hiện, được bạn và thầy nhận xét, góp ý, đánh giá.Vì vậy, GV giao nhiệm vụ tự học nhưng phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của SV, để kịp thời hỗ trợ SV cũng như giám sát việc tự học của SV
Với sự hỗ trợ tự học từ GV, SV sẽ tiến bộ lên rất nhiều Họ có KN đọc - hiểu tài liệu chuyên ngành; họ nắm được phương pháp nghiên cứu chuyên ngành với sự
hỗ trợ của thầy; có KN làm việc nhóm; có KN về công nghệ thông tin, internet; họ
có phẩm chất cần cù, nghiêm túc, không ỷ lại, trông chờ, chủ động, tích cực và sáng tạo từ đó, bồi dưỡng sự tự tin, ý chí quyết tâm, tính kiên trì vượt khó, tính trung thực, tinh thần tập thể giúp đỡ nhau trong học tập
Trang 35Như vậy hướng dẫn SV tự học ở nhà chu đáo, tổ chức các hoạt động tự kiểm tra, đánh giá giữa SV với nhau trong từng học phần, môn học trên lớp là biện pháp hữu hiệu mà GV có thể phát huy vai trò chủ động của SV
1.4.2.2 Nhà trường và chương trình đào tạo
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn từng vạch ra các bình diện trợ giúp cho người tự học, trong đó giáo sư có đề cập đến mô hình giáo dục của nhà trường Nếu mô hình
đó khuyến khích và tạo điều kiện cho việc tự học của người học thì người học sẽ được nâng đỡ nhiều hơn Ông khẳng định: việc quản lý tự học chặt chẽ của nhà trường không giới hạn mà ngược lại sẽ giúp người học tự học tốt hơn Ngoài ra, nhà trường cần hỗ trợ người học về mặt nhận thức, cảm xúc, động cơ, xây dựng nguồn học liệu, mở rộng các kênh trao đổi giữa GV-SV và kênh để SV tiếp cận nguồn học liệu [34]
Tuy nhiên, hiện nay, vấn đề tự học của SV vẫn chưa được các trường cao đẳng, đại học quan tâm đúng mức Quan điểm nhấn mạnh khả năng tự học và tạo điều kiện tự học cho SV vẫn chưa được chú trọng, thể hiện qua việc xây dựng chương trình, chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra, đánh giá, đầu tư cơ sở vật chất, thư viện còn nhiều hạn chế
Một dẫn chứng dễ thấy là chương trình đào tạo của các trường các kiến thức chuyên môn, nghề nghiệp ôm đồm, nặng nề với rất nhiều môn học khác nhau.Thời gian học tập trên lớp nhiều khiến thời gian tự học ngoài lớp của SV giảm sút.Một
GV phải đảm nhận nhiều môn, nhiều lớp Chính do áp lực của khối lượng công việc luôn quá tải đó nên GV chỉ lo thực hiện chức năng của mình mà ít quan tâm đến rèn luyện KN toàn diện cho SV trong đó có KN tự học
Chương trình một học phần riêng về KN tự học hoặc các khoá học ngắn hạn, bồi dưỡng chuyên đề về KN tự học sẽ trang bị cho SV hiểu biết đúng đắn về các
KN tự học, chắc chắn sẽ giúp ích nhiều cho SV trong việc phát triển KN tự học hiệu quả
Trang 36Vì vậy, một trường đại học hiện đại cần đưa KN tự học vào mục tiêu đào tạo, bởi lẽ, nó không chỉ cần thiết cho SV khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà cả khi ra trường hòa nhập với xã hội, trong suốt cuộc đời
1.4.2.3 Tài liệu và các cơ sở vật chất khác
Tự học phải gắn liền với sách, giáo trình, tài liệu tham khảo…Sách được xem là người thầy thứ hai, sau GV của SV Nguồn tài liệu càng phong phú, dồi dào, càng giúp ích cho SV tích luỹ kiến thức đa chiều, sâu sắc hơn [34]
Hiện nay, SV có thể tìm thấy nguồn tài liệu trong thư viện trường, thư viện tỉnh, thành phố, nhà sách, kho tài liệu trực tuyến, các website của các tạp chí khoa học, tổ chức giáo dục Tuy nhiên, nguồn tài liệu chủ yếu vẫn đến từ thư viện trường Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu tự học, nghiên cứu của SV ở bậc đại học, các trường cần đầu tư vào việc mua các tài liệu in (sách, tạp chí, báo khoa học ) mới nhất, với số lượng nhiều, đủ đáp ứng nhu cầu tham khảo của SV Ngoài ra, hệ thống thư viện phải có đủ chỗ ngồi, thoáng mát, yên tĩnh, với hệ thống tra cứu tiện lợi mới giúp SV tự học tốt
Bên cạnh thư viện, các khu tự học với bàn ghế, hệ thống chiếu sáng đầy đủ cũng là điều kiện hỗ trợ tốt cho hoạt động tự học của SV
Tóm lại, lý luận cho thấy vấn đề tự học là đặc biệt quan trọng trong giáo dục.Ở đại học, muốn hoạt động học tập có hiệu quả nhất thiết SV phải chủ động
tự giác học tập bất cứ lúc nào có thể bằng chính nội lực của bản thân vì đây mới chính là nhân tố quyết định cho sự phát triển cá nhân Ngoài ra, để hình thành
KN tự học cho SV, rất cần tới vai trò của GV, nhà trường với tư cách là những ngoại lực trong việc trang bị cho SV một hệ thống tri thức, kĩ năng, thái độ cùng với phương pháp tự học cụ thể, khoa học cũng như hỗ trợ các điều kiện thuận lợi
để hoạt động tự học tự đào tạo của SV đi vào chiều sâu và thực chất
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KỸ NĂNG TỰ HỌC NGOÀI LỚP HỌC CỦA
SV CHÍNH QUY SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐHSP TP HCM 2.1 MÔ TẢ THỂ THỨC NGHIÊN CỨU
2.1.1 Công cụ nghiên cứu
2.1.1.1 Bảng câu hỏi điều tra
! Bảng câu hỏi mở
Ở giai đoạn 1: Với mục tiêu thu thập các ý kiến ban đầu để thiết kế bảng câu hỏi khảo sát ý kiến chính thức về thực trạng KN tự học ngoài lớp học của SV Trường ĐHSP TP HCM, công cụ khảo sát ý kiến ở giai đoạn 1 được thiết kế dưới dạng bảng hỏi mở Cấu trúc bao gồm:
Phần 1: Thông tin về người trả lời phiếu, bao gồm: giới tính, năm thứ đang học, khoa, học lực
Phần 2: 6 câu hỏi mở (không có gợi ý đáp án) để tìm hiểu ý kiến của SV về vấn đề
KN tự học ngoài lớp học như: thời gian tự học ngoài lớp học mỗi ngày, mức độ ảnh hưởng của KN tự học ngoài lớp học đến kết quả học tập, các KN tự học ngoài lớp học mà SV cho rằng quan trọng nhất, các thao tác cụ thể trong các KN mà SV đã liệt kê, các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành KN tự học ngoài lớp học của SV, các biện pháp mà Nhà trường, Khoa, Đoàn- Hội, GV, và SV có thể thực hiện để nâng cao KN tự học ngoài lớp học cho SV
! Bảng câu hỏi đóng
Sau khi thu các phiếu trả lời bảng câu hỏi mở trên, nhóm nghiên cứu đã tổng hợp các ý kiến, tham khảo các cơ sở lý luận có liên quan và soạn thảo bảng câu hỏi đóng để thu thập ý kiến chính thức của SV về thực trạng, cũng như những nguyên nhân, biện pháp để nâng cao KN tự học ngoài lớp học cho SV Trường ĐHSP TP HCM Cấu trúc bảng câu hỏi đóng bao gồm:
Phần 1: Thông tin về người trả lời phiếu, bao gồm: giới tính, năm thứ đang học,
Trang 38Phần 2: 9 câu hỏi đóng với nhiều mục (item) trả lời và thang đo thái độ Nội dung các câu hỏi tương tự như bảng câu hỏi mở, bao gồm:
Câu 1: Mức độ ảnh hưởng của các KN tự học ngoài lớp học đến kết quả học tập của
Các thang đo thái độ được sử dụng trong bảng câu hỏi gồm:
Thang đo 1: Rất ít/Ít/ Vừa phải/ Nhiều/ Rất nhiều
Thang đo 2: Không bao giờ/ Ít khi/ Thỉnh thoảng/ Thường xuyên/ Rất thường xuyên Thang đo 3: Rất không cần thiết/ Không cần thiết/ Có cũng được, không cũng được/ Cần thiết/ Rất cần thiết
Bảng hỏi đóng trên được triển khai thử nghiệm, đo độ tin cậy của các câu hỏi, sau đó chỉnh sửa Bảng hỏi chính thức không thay đổi về cấu trúc, nội dung câu hỏi, chỉ thay đổi ở số lượng và cách phát biểu các mục trả lời trong các câu hỏi (tham khảo bảng hỏi chính thức ở phụ lục)
2.1.1.2 Bảng câu hỏi phỏng vấn GV và SV
Mục tiêu của phỏng vấn là để đối chiếu, lý giải thêm về thực trạng, cũng như những nguyên nhân, biện pháp để nâng cao KN tự học ngoài lớp học cho SV Trường ĐHSP TP HCM
Bảng câu hỏi phỏng vấn dành cho cả GV và SV được soạn thảo với nội dung tương tự nhau, đều bao gồm 5 câu (tham khảo bảng câu hỏi phỏng vấn ở phụ lục)
Trang 39Câu 1: Thời gian mỗi ngày mà mỗi SV tại khoa mà SV đang theo học/ khoa GV đang giảng dạy chính nên dành cho việc tự học ngoài lớp học, lý do đưa ra con số
Câu 5: Các biện pháp mà Nhà trường, Khoa, Đoàn- Hội, GV, và SV có thể thực hiện để nâng cao KN tự học ngoài lớp học cho SV, mô tả rõ các biện pháp đó
2.1.1.3 Bảng câu hỏi phỏng vấn chuyên gia
Mục tiêu của xin ý kiến chuyên gia là để đối chiếu, lý giải thêm về thực trạng, nguyên nhân, dặc biệt là đưa ra các biện pháp để nâng cao KN tự học ngoài lớp học cho SV Trường ĐHSP TP HCM
Hình thức xin ý kiến chuyên gia cũng là phỏng vấn Bảng câu hỏi phỏng vấn chuyên gia gồm 4 câu:
Câu 1: Đánh giá chung của chuyên gia về thực trạng KN tự học ngoài lớp học của
SV Trường ĐHSP TP HCM hiện nay
Câu 2: Theo chuyên gia, KN nào nên rèn luyện cho SV Trường ĐHSP TP HCM trước tiên
Câu 3: Nhận định của chuyên gia về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành KN tự học ngoài lớp học của SV, lý giải cụ thể
Câu 4: Các biện pháp mà Nhà trường, Khoa, Đoàn- Hội, GV, và SV có thể thực hiện để nâng cao KN tự học ngoài lớp học cho SV, mô tả rõ các biện pháp đó
Trang 402.1.2 Phương pháp nghiên cứu
2.1.3.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
! Mẫu khảo sát bằng bảng hỏi
Nhóm nghiên cứu tiến hành chọn 4 khoa: Địa lý (sau đây gọi tắt là khoa Địa, đại diện cho khối Xã hội), khoa Tiếng Anh (sau đây gọi tắt là khoa Anh, đại diện cho khối Ngoại ngữ), khoa Hoá học (sau đây gọi tắt là khoa Hoá, đại diện cho khối
Tự nhiên), khoa Tâm lý- Giáo dục (sau đây viết tắt là khoa TLGD, đại diện cho khối Giáo dục Đặc thù)
Ở giai đoạn 1: Nhóm nghiên cứu phát bảng câu hỏi mở cho 5 SV chính quy
sư phạm năm thứ 2, 5 SV năm thứ 3 mỗi khoa Tổng số phiếu thu được là 40 phiếu
Ở giai đoạn 2: Bảng hỏi đóng thử nghiệm được khảo sát trên 40 SV chính quy sư phạm (mỗi khoa 10 SV, chia đều năm thứ 2 và năm thứ 3) Khi khảo sát bằng bảng hỏi đóng chính thức: mỗi khoa, nhóm nghiên cứu cũng chọn SV năm thứ
2 và năm thứ 3; ở mỗi năm thứ, chọn tiếp một lớp và khảo sát toàn bộ SV lớp đó Tổng cộng, nhóm nghiên cứu phát ra 400 phiếu, kết quả thu về là 386 phiếu, số phiếu trả lời đầy đủ, trung thực là 369 phiếu (đạt tỷ lệ 92.3%) Thành phần mẫu khảo sát bằng bảng hỏi đóng chính thứcnhư bảng 2.1
Bảng 2.1 Mô tả mẫu khảo sát bằng bảng hỏi