BÁO CÁO TỔNG KẾT VẬN DỤNG MÔ HÌNH BLENDED-LEARNING TRONG DẠY HỌC HỌC PHẦN “TIN HỌC ỨNG DỤNG TRONG HÓA HỌC” THÔNG QUA HỆ THỐNG QUẢN LÝ HỌC TẬP MOODLE... ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP T
Trang 1BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
VẬN DỤNG MÔ HÌNH BLENDED-LEARNING TRONG DẠY HỌC HỌC PHẦN “TIN HỌC ỨNG DỤNG TRONG HÓA HỌC” THÔNG QUA HỆ THỐNG QUẢN LÝ HỌC TẬP MOODLE
MÃ SỐ: CS.2015.19.21
Cơ quan chủ trì: Khoa Hóa học
Chủ nhiệm đề tài: Thái Hoài Minh
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 12/2016
Trang 2BÁO CÁO TỔNG KẾT
VẬN DỤNG MÔ HÌNH BLENDED-LEARNING TRONG DẠY HỌC HỌC PHẦN “TIN HỌC ỨNG DỤNG TRONG HÓA HỌC” THÔNG QUA HỆ THỐNG QUẢN LÝ HỌC TẬP MOODLE
Trang 3VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH
I Những người tham gia thực hiện đề tài
1 Thái Hoài Minh, Khoa Hóa học, trường ĐHSP.TPHCM – Chủ nhiệm đề tài
2 Phan Đồng Châu Thủy, Khoa Hóa học, trường ĐHSP.TPHCM – Thư kí khoa học
II Đơn vị phối hợp chính
Khoa Hóa, trường Đại học Sư phạm TP HCM
Trang 4Tóm tắt kết quả nghiên cứu
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ của đề tài 2
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa học 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Ở nước ngoài 4
1.1.2 Trong nước 6
1.2 Tổng quan về Blended-learning 7
1.2.1 Hình thức dạy học trực tuyến e-learning 7
1.2.2 Ưu điểm và hạn chế của E-learning 8
1.2.3 Học kết hợp – Blended learning 11
1.3 Tổng quan về hệ thống quản lý học tập Moodle 15
1.3.1 Khái niệm hệ thống quản lý học tập 15
1.3.2 Giới thiệu về hệ thống quản lý học tập Moodle 15
1.3.3 Một số tính năng của hệ thống quản lý học tập Moodle 17
1.4 Một số vấn đề về tự học và tự học có hướng dẫn theo mođun 24
1.4.1 Một số khái niệm liên quan 24
1.4.2 Phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun 26
1.4.3 Biên soạn nội dung tự học theo tiếp cận môđun 28
1.5 Thực trạng việc dạy học học phần “Tin học ứng dụng trong hóa học” tại trường ĐHSP.TP HCM 30
1.5.1 Mục đích điều tra 30
1.5.2 Phương pháp điều tra 30
1.5.3 Đối tượng và thời điểm điều tra 31
1.5.4 Kết quả điều tra 31
Chương 2 VẬN DỤNG MÔ HÌNH BLENDED LEARNING TRONG DẠY HỌC HỌC PHẦN “TIN HỌC ỨNG DỤNG TRONG HÓA HỌC” 36
2.1 Giới thiệu học phần “Tin học ứng dụng trong hóa học” 36
2.1.1 Vị trí của học phần trong chương trình đào tạo cử nhân Sư phạm Hóa học 36
2.1.2 Mục tiêu học phần 36
Trang 52.2 Xác định mô hình Blended learning sử dụng trong học phần “Ứng dụng ICT
trong dạy học hóa học” 38
2.3 Xây dựng nội dung tài liệu tự học có hướng dẫn hỗ trợ dạy học theo mô hình BL 40
2.3.1 Nguyên tắc xây dựng tài liệu tự học có hướng dẫn 40
2.3.2 Cấu trúc của tài liệu tự học có hướng dẫn dùng trong học phần “Tin học ứng dụng trong hóa học” 41
2.3.3 Giới thiệu nội dung của tài liệu tự học có hướng dẫn dùng trong học phần “Tin học ứng dụng trong hóa học” 42
2.4 Sử dụng Moodle để xây dựng khóa học theo cách tiếp cận Blended-learning
52 2.4.1 Cấu trúc khóa học 52
2.4.2 Quy trình xây dựng khóa học trên hệ thống Moodle 53
2.5 Sử dụng khóa học “Tin học ứng dụng trong hóa học” theo mô hình Blended-learning 57
2.5.1 Quy trình sử dụng khóa học “Tin học ứng dụng trong hóa học” trên Moodle 57
2.5.2 Kế hoạch bài dạy minh họa 58
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66
3.1 Mục đích thực nghiệm 66
3.2 Đối tượng thực nghiệm 66
3.3 Tiến trình thực nghiệm 67
3.4 Kết quả thực nghiệm 67
3.4.1 Đánh giá thông qua quan sát lớp học của GV 68
3.4.2 Đánh giá thông qua khảo sát SV 70
3.4.3 Đánh giá thông qua chất lượng hồ sơ bài dạy của SV 76
3.4.4 Đánh giá dựa trên điểm của SV 76
3.4.5 Nhận xét chung 79
KẾT LUẬN 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
Tên đề tài: VẬN DỤNG MÔ HÌNH BLENDED-LEARNING TRONG DẠY HỌC HỌC PHẦN “TIN HỌC ỨNG DỤNG TRONG HÓA HỌC” THÔNG QUA
HỆ THỐNG QUẢN LÝ HỌC TẬP MOODLE
Mã số: CS2015.19.21
Chủ nhiệm đề tài: Thái Hoài Minh Tel: 0906 422 317
Email: minhth@hcmup.edu.vn
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Sư phạm TP.HCM
Thời gian thực hiện: Từ 09/2015 đến 12/2016
1 Mục tiêu
Thiết kế và sử dụng khóa học theo mô hình Blended-Learning dùng trong dạy học học phần “Tin học ứng dụng trong hóa học” tại khoa Hóa, trường Đại học Sư phạm TP.HCM
2 Nội dung chính
- Nghiên cứu một số nội dung làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho đề tài:
+ Lý luận về e-elearning và Blended learning trong dạy học
+ Lý luận về tự học có hướng dẫn theo mođun
+ Tổng quan về hệ thống quản lý học tập Moodle
- Thiết kế khóa học theo mô hình Blended-Learning dùng trong dạy học học phần
“Tin học ứng dụng trong hóa học” tại khoa Hóa, trường Đại học Sư phạm TP.HCM
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá khóa học đã thiết kế
3 Kết quả chính đạt được
- Nghiên cứu một số nội dung làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho đề tài
- Nghiên cứu và đề xuất mô hình Blended learning áp dụng trong học phần “Tin học ứng dụng trong hóa học”
- Xây dựng khóa học trên hệ thống LMS Moodle cho 3 mođun thuộc học phần
- Thực nghiệm sư phạm 3 mođun trên 2 cặp lớp trong học phần “Tin học ứng dụng trong hóa học” Kết quả thực nghiệm cho thấy tính hiệu quả và khả thi của mô hình Blended learning với sự hỗ trợ của LMS Moodle ở trường ĐHSP TP.HCM
- Đào tạo được 2 SV thực nghiên cứu trong lĩnh vực đề tài:
Trang 7TẬP MOODLE HỖ TRỢ TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN THEO MÔĐUN HỌC PHẦN “TIN HỌC ỨNG DỤNG TRONG HÓA HỌC
+ SV Lê Thị Thu Sang (K36B) – Tên đề tài: XÂY DỰNG E-BOOK “ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỂ THIẾT KẾ TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC”
- Công bố 1 bài báo liên quan
Thái Hoài Minh, Đặng Thị Oanh, Vận dụng mô hình Blended learning trong học phần “Ứng dụng ICT trong dạy học hóa học” Hội thảo khoa học quốc tế “Phát triển
đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông” Đại học Sư phạm
Hà Nội 9/12/2016
Trang 8Project Title: Apply Blended learning model in teaching the course “Apply ICT in
Chemistry” with the support of LMS Moodle
Code number: CS2015.19.21
Coordinator: Thai Hoai Minh
Implementing Institution: HCMC University of Pedagogy
Duration: from 10/2015 to 12/2016
1 Objectives
Building Blended learning course “Apply ICT in chemistry” on LMS Moodle, using for lecturers and students of Chemistry Department at HCMC University of Pedagogy
2 Main contents
- Study basis theoretical and practical related topics of:
+ Blended learning: Definition, levels and effectiveness
+ Self-study in modules
+ LMS Moodle: Why and How?
- Design Blended learning course on LMS Moodle
- Do pedagogical experiment to evaluate the Blended learning course
3 Results obtained
- Study basis theoretical and practical related topics
- Design Blended learning course on LMS Moodle Build teaching and learning materials for 3 modules in the course “Apply ICT in Chemistry”
- Doing pedagogical experiment with 3 modules on 2 pairs of classes "Applied ICT
in chemistry" The experimental results show the effectiveness and feasibility of the Blended learning course at HCMC University of Pedagogy
- Guide 2 students do research on the related topic:
1 Vu Van Long (K37A) – Topic: Using Moodle to support students to self-study the course “Apply ICT in Chemistry” in modules
2 Nguyen Thi Thu Sang (K36B) – Topic: Designing e-book: Apply ICT to design games using for teaching chemistry
3 Publish a paper
Trang 9course “Applying ICT in teaching chemistry” using LMS Moodle Paper
presented at the international conference “Develop teacher's professional to meet
the requirements of Vietnam Education Innovation” Hanoi
Trang 10BL : Blended learning – học kết hợp
Trang 11Bảng 1.1 So sánh tính năng của Moodle với WebCT và Blackboard 16
Bảng 1.2 Thống kê một số dữ liệu về Moodle trên thế giới ngày 20/9/2016 17
Bảng 1.3 Các môđun tạo ra các tài nguyên tĩnh 20
Bảng 1.4 Các môđun tạo ra các tài nguyên tương tác với hệ thống 21
Bảng 1.5 Các môđun tạo ra các tài nguyên tương tác với người khác 22
Bảng 1.6 Cấu trúc nội dung tài liệu tự học có hướng dẫn của một môđun 28
Bảng 1.7 Ứng dụng các môđun của Moodle để thiết kế tài liệu THM 29
Bảng 1.8 Bảng mô tả mẫu khảo sát thực trạng 31
Bảng 2.1 Các thành tố kết hợp trong khóa học Tin học ứng dụng trong hóa học 39 Bảng 2.2 Các tài nguyên và hoạt động được sử dụng để xây dựng khóa học 56
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát SV về khóa học áp dụng theo mô hình BL 70
Bảng 4.2 Kết quả học tập của lớp đối chứng và thực nghiệm 77
Bảng 4.3 Tỉ lệ phần trăm số SV đạt điểm xi trở xuống 78
Bảng 4.4 Tổng hợp các tham số đặc trưng 79
Trang 12Hình 1.1 Cấu trúc của môđun dạy học 25
Hình 1.2 Sơ đồ cấu trúc của hệ ra môđun 26
Hình 1.3 Sơ đồ phương pháp tự học có hướng dẫn theo mođun 27
Hình 1.4 Kết quả điều tra về phương pháp học tập của SV 31
Hình 1.5 Biểu đồ về máy tính SV sử dụng 32
Hình 1.6 Biểu đồ về sử dụng máy tính có kết nối Internet 32
Hình 1.7 Thời gian làm việc, học tập, giải trí trên máy tính trong một ngày của SV 33
Hình 1.8 Biểu đồ về thời gian đã tiếp xúc với máy vi tính và sử dụng các phần mềm ứng dụng cho việc học tập, giải trí 33
Hình 1.9 Biểu đồ về điểm kết thúc học phần Tin học đại cương 33
Hình 1.10 Biểu đồ những khó khăn của SV khi tham gia học phần 34
Hình 2.1 Các mức độ của mô hình học kết hợp 39
Hình 2.2 Sơ đồ cấu trúc khóa học Tin học ứng dụng trong hóa học 53
Hình 2.3 Quy trình xây dựng khóa học trên trang Chemlearning.hcmup.edu.vn 53 Hình 2.4 Thiết lập các thông số cho khóa học 54
Hình 2.5 Diễn đàn “Trao đổi, thảo luận” 55
Hình 2.6 Inforgraphic 4 bước hướng dẫn tự học theo mô hình BL 56
Hình 2.7 Quy trình tổ chức dạy học học phần “Ứng dụng ICT trong dạy học Hóa học” theo mô hình BL 57
Hình 2.8 Tiến độ học tập trong mođun 6 của Khóa K36, học kì 2, năm học 2014-2015 tại trường ĐHSP.TPHCM 60
Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn các khó khăn SV gặp phải khi tham gia khóa học 73
Hình 3.8 Đồ thị đường lũy tích điểm của SV ở lớp TN1 và ĐC1 78
Hình 3.9 Đồ thị đường lũy tích điểm của SV ở lớp TN2 và ĐC2 78
Trang 130 MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Với nhiều ưu điểm nổi bật, E- learning là giải pháp hữu hiệu cho nhu cầu "Học mọi nơi, học mọi lúc, học mọi thứ, học mềm dẻo, học một cách mở và học suốt đời" của mọi người và trở thành một xu hướng quan trọng trong giáo dục và đào tạo hiện nay Tuy nhiên việc triển khai học qua mạng hiện nay còn gặp nhiều khó khăn do yếu
tố khách quan như điều kiện cơ sở vật chất và chủ quan như trình độ và kỹ năng khai thác, sử dụng Khái niệm “Blednded learning” (BL) hay "Học kết hợp” dùng để chỉ các mô hình học kết hợp giữa hình thức lớp học truyền thống và các giải pháp E – learning Trong mô hình này, người học tham gia vào quá trình học tập bằng các học giáp mặt trên lớp (nhóm, cá nhân, seminar, hội thảo); học hợp tác qua mạng máy tính (chat, blog, online, forum) và tự học (trực tuyến/ngoại tuyến, độc lập về không gian) Với mỗi nội dung, người học được học bằng phương pháp tốt nhất, phương tiện tốt nhất, hình thức phù hợp nhất và khả năng đạt hiệu quả cao nhất Học kết hợp được đánh giá là một giải pháp tốt cho giáo dục và đào tạo hiện nay Nghiên cứu của Osguthope & Graham (2003) đã chỉ ra sáu lí do để chọn thiết kế hoặc sử dụng một
hệ thống học kết hợp là: (1) tính phong phú của sư phạm (2) tiếp cận với sự hiểu biết (3) sự tương tác xã hội (4) hướng tới cá nhân (5) chi phí hiệu quả (6) dễ dàng sửa đổi Kết quả nghiên cứu của Graham, Allen & Ure (2003) cũng cho thấy, đa số người dân chọn BL vì ba lí do chính (1) hoàn thiện tính sư phạm (2) tăng tính truy cập và sự linh hoạt (3) tăng hiệu quả chi phí
Học phần “Tin học ứng dụng trong hóa học” (THUDH) có đặc điểm đòi hỏi cao việc tự học, tự nghiên cứu, thực hành ở người học Một khi sinh viên (SV) không mất quá nhiều thời gian tìm hiểu và sử dụng phần mềm tại lớp, các em sẽ có cơ hội để rèn luyện nhiều về nghiệp vụ sư phạm, nghĩa là chú trọng hơn vào yếu tố phương pháp (sử dụng phần mềm hiệu quả trong dạy học hóa học (DHHH)) bên cạnh yếu tố công nghệ (sử dụng phần mềm)
Trang 14Mô hình BL là một giải pháp có thể áp dụng khi triển khai học phần “Tin học ứng dụng trong hóa học” Trong mô hình này, người học được hỗ trợ về tài nguyên, công cụ, môi trường học tập để học tập thông qua mạng internet, từ đó nâng cao các
kĩ năng sử dụng máy tính và internet trong dạy học Đồng thời, SV sẽ được tiếp xúc với một mô hình ví dụ cụ thể về việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) trong dạy học mà các em có thể áp dụng vào việc dạy học của mình trong tương lai Mặt khác, mô hình có thể là tiền đề để xây dựng các khóa học bồi dưỡng năng lực ứng dụng ICT trong DHHH theo hướng đào tạo từ xa
Từ những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài “VẬN DỤNG MÔ HÌNH BLENDED-LEARNING TRONG DẠY HỌC HỌC PHẦN “TIN HỌC ỨNG DỤNG TRONG HÓA HỌC” THÔNG QUA HỆ THỐNG QUẢN LÝ
3 Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu một số nội dung làm cơ sở lý luận cho đề tài:
+ Lý luận về mô hình BL và hệ thống quản lý học tập Moodle;
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Việc xây dựng và thử nghiệm mô hình Blended learning
(BL) dùng trong học phần “Tin học ứng dụng trong hóa học” tại khoa Hóa, trường Đại học Sư phạm TP.HCM
Trang 15- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học học phần “Tin học ứng dụng trong
hóa học” tại khoa Hóa, trường Đại học Sư phạm TP.HCM
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Học phần “Tin học ứng dụng trong hóa học” tại khoa Hóa, trường Đại học Sư phạm TP.HCM
- Thời gian: Năm học 2014-2015 và 2015-2016
6 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và thiết kế được mô hình BL mang tính khoa học, khả thi sẽ nâng cao hiệu quả dạy học học phần “Tin học ứng dụng trong Hóa học”, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo Cử nhân Sư phạm hóa học tại trường ĐHSP TP.HCM theo học chế tín chỉ
7 Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
+ Đọc và nghiên cứu tài liệu
+ Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát các nguồn tài liệu để xây dựng
cơ sở lí thuyết và nội dung của đề tài
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp điều tra bằng phiếu khảo sát
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Các phương pháp toán học
Phương pháp toán học thống kê: lập bảng số liệu, xây dựng đồ thị và tính các tham số đặc trưng
Trang 16Và điều đó đã được chứng minh qua sự thành công của các hệ thống thống giáo dục hiện đại có sử dụng phương pháp e-learning của nhiều quốc gia như Mỹ, Anh, Nhật… Gắn với sự phát triển của công nghệ thông tin (CNTT) và phương pháp giáo dục đào tạo, quá trình phát triển của e-learning có thể chia ra thành 4 thời kỳ như sau:
- Trước năm 1983: thời kì này máy tính chưa được sử dụng rộng rãi, phương
pháp giáo dục “Lấy giáo viên (GV) làm trung tâm” là phương pháp phổ biến nhất trong các trường đại học
- Giai đoạn 1984 – 1993: sự ra đời của hệ điều hành Windows 3.1, máy tính
Macintosh, phần mềm trình diễn Powerpoint, cùng các công cụ đa phương tiện khác
đã mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên đa phương tiện Những công cụ này cho phép tạo ra những bài giảng có tích hợp âm thanh và hình ảnh dựa trên công nghệ Computer Base Training (CBT) Bài học được phân phối qua đĩa CD-ROM hoặc đĩa mềm Vào bất kì thời gian nào, ở đâu, người học đều có thể mua và tự học Tuy nhiên, sự hướng dẫn của GV rất hạn chế
- Giai đoạn 1993–1999: khi công nghệ web được phát minh, các nhà cung cấp
dịch vụ giáo dục đào tạo bắt đầu nghiên cứu cách thức cải tiến phương pháp giáo dục bằng công nghệ này Các chương trình: Email, Web, trình duyệt, Media player,
kỹ thuật truyền Audio/Video tốc độ thấp cùng với ngôn ngữ hỗ trợ Web như HTML,
Trang 17JAVA bắt đầu trở nên thông dụng và đã làm thay đổi bộ mặt của đào tạo bằng đa phương tiện
- Giai đoạn 2000 – đến nay: các công nghệ tiên tiến bao gồm JAVA và các ứng
dụng mạng IP, công nghệ truy cập mạng và băng thông Internet rộng, các công nghệ thiết kế web tiên tiến đã trở thành một cuộc cách mạng trong giáo dục và đào tạo Ngày nay thông qua web, GV có thể hướng dẫn trực tuyến (hình ảnh, âm thanh, các công cụ trình diễn) tới mọi người học Càng ngày công nghệ web càng chứng tỏ có khả năng mang lại hiệu quả cao trong giáo dục đào tạo, cho phép đa dạng hóa các môi trường học tập Điều này đã tạo ra một cuộc cách mạng trong đào tạo với giá thành rẻ, chất lượng cao và hiệu quả Đó chính là kỷ nguyên của e-learning
Học kết hợp "Blended Learning - BL" là một thuật ngữ được sử dụng nhiều trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Học kết hợp xuất phát từ nghĩa của từ "Blend" tức là "pha trộn”
Theo Alvarez [15], học kết hợp là "Sự kết hợp của các phương tiện truyền thông trong đào tạo như công nghệ, các hoạt động, và các loại sự kiện nhằm tạo ra một chương trình đào tạo tối ưu cho một đối tượng cụ thể" Tác giả Victoria L Tinio [22] cho rằng "Học kết hợp (BL) là thuật ngữ dùng để chỉ các mô hình học kết hợp giữa hình thức lớp học truyền thống và các giải pháp E - learning"
Học kết hợp được đánh giá là một giải pháp tốt cho giáo dục và đào tạo hiện nay Nghiên cứu của Osguthope & Graham [24] đã chỉ ra sáu lí do để chọn thiết kế hoặc sử dụng một hệ thống học kết hợp là: (1) tính phong phú của sư phạm (2) tiếp cận với sự hiểu biết (3) sự tương tác xã hội (4) hướng tới cá nhân (5) chi phí hiệu quả (6) dễ dàng sửa đổi Kết quả nghiên cứu của Graham, Allen & Ure [19] cũng cho thấy, đa số người dân chọn BL vì ba lí do chính (1) hoàn thiện tính sư phạm (2) tăng tính truy cập và sự linh hoạt (3) hiệu quả trong việc tiết kiệm chi phí dạy học Trong báo cáo tổng hợp của Means [23] về định hướng dạy học theo mô hình Blended cũng
đã khẳng định nhìn chung những SV có tham gia học trực tuyến biểu hiện năng lực thực hiện tốt hơn những SV chỉ học giáp mặt trên lớp truyền thống
Trang 18Tuy nhiên, để mô hình học kết hợp được thực hiện một cách hiệu quả, cần chú
ý đến các yếu tố ảnh hưởng như điều kiện cơ sở vật chất, người dạy, người học và quan trọng nhất là nhân tố về phương pháp dạy học [26]
1.1.2 Trong nước
Vào khoảng năm 2002 trở về trước, các tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về eLearning
ở Việt Nam không nhiều Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu eLearning ở Việt Nam đã được nhiều đơn vị quan tâm hơn Gần đây các hội nghị, hội thảo về công nghệ thông tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề e-Learning và khả năng
áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như: Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo ĐHQGHN năm 2000, Hội nghị giáo dục đại học năm 2001 và gần đây là Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 2/2003, Hội thảo khoa học quốc gia lần II về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 9/2004, và hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai e-Learning” do Viện Công nghệ Thông tin (ĐHQGHN) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về e-Learning đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam Các trường đại học ở Việt Nam cũng bước đầu nghiên cứu và triển khai eLearning Một số đơn vị đã bước đầu triển khai các phần mềm hỗ trợ đào tạo và cho các kết quả khả quan: Đại học Công nghệ - ĐHQGHN, Viện CNTT - ĐHQGHN, Đại học Bách Khoa Hà Nội, ĐHQG TP HCM, Học viện Bưu chính Viễn thông, Đại học
Sư phạm Hà Nội Gần đây nhất, Cục Công nghệ thông tin Bộ Giáo dục & Đào tạo đã triển khai cổng e-Learning nhằm cung cấp một cách có hệ thống các thông tin eLearning trên thế giới và ở ViệtNam Bên cạnh đó, một số công ty phần mềm ở Việt Nam đã tung ra thị trường một số sản phẩm hỗ trợ đào tạo đào tạo Tuy các sản phẩm này chưa phải là sản phẩm lớn, được đóng gói hoàn chỉnh nhưng đã bước đầu góp phần thúc đẩy sự phát triển e-Learning ở Việt Nam Việt Nam đã gia nhập mạng e-Learning Châu Á (Asia E-Learning Network AEN, www.asia-elearning.net) với sự tham gia của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Khoa học - Công nghệ, trường Đại học Bách Khoa, Bộ Bưu chính Viễ thông Điều này cho thấy tình hình nghiên cứu và ứng
Trang 19dụng loại hình đào tạo này đang được quan tâm ở Việt Nam Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực e-Learning ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu còn nhiều việc phải làm mới tiến kịp các nước
Ở Việt Nam, BL còn là một khái niệm mới mẻ Tác giả Nguyễn Văn Hiền [5] có đưa ra một khái niệm tương tự là "Học tập hỗn hợp" để chỉ hình thức kết hợp giữa cách học truyền thống với học tập có sự hỗ trợ của công nghệ, học tập qua mạng Tác giả Nguyễn Danh Nam [10] cũng đưa ra nhận định: Sự kết hợp giữa e - learning với lớp học truyền thống trở thành một giải pháp tốt, nó tạo thành một mô hình đào tạo gọi là "Blended Learning"
Tại Việt Nam, mô hình BL đã được triển khai và ứng dụng chủ yếu trong quá trình dạy học ngoại ngữ Ngoài ra, một số tác giả cũng đã nghiên cứu ứng dụng mô hình này trong dạy học một số nội dung sinh học [7], vật lý [3] và rèn luyện kĩ năng công nghệ thông tin cho sinh viên sư phạm sinh học [6] Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mô hình BL mang lại hiệu quả tốt, phù hợp với trình độ người học và điều kiện cơ sở vật chất hiện nay
Trang 20- Quá trình học tập được truyền tải hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử Việc truyền tải quá trình dạy học được thực hiện qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet,
TV, video tape, các hệ thống giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính (CBT) (Sun Microsystems, Inc)
- Việc truyền tải các hoạt động, quá trình, và sự kiện đào tạo và học tập thông qua các phương tiện điện tử như Internet, intranet, extranet, CD-ROM, video tape, DVD, TV, các thiết bị cá nhân (E - learningsite)
- "Việc sử dụng công nghệ để tạo ra, đưa các dữ liệu có giá trị, thông tin, học tập và kiến thức với mục đích nâng cao hoạt động của tổ chức và phát triển khả năng
cá nhân." (Định nghĩa của Lance Dublin, hướng tới E-learning trong doanh nghiệp)
1.2.1.2 Những đặc điểm cơ bản của E-leaning
Hình thức học này có những điểm khác biệt so với các hình thức tổ chức dạy học khác
- Dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông: Công nghệ mạng, kĩ thuật
đồ họa, kĩ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán…
- Hiệu quả của E - learning cao hơn so với cách học truyền thống do E –
learning có tính tương tác cao dựa trên multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng
và sở thích của từng người
- E - learning đang và đã trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức
và đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của nhiều nước trên thế giới với rất nhiều
tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực E - learning ra đời
1.2.2 Ưu điểm và hạn chế của E-learning
Theo Phạm Xuân Quế [11], E - learning có một số ưu điểm cũng như hạn chế
so với học tập tại các lớp học truyền thống ở nhiều góc độ khác nhau
- Ưu điểm
Trang 21+ E-learning làm biến đổi cách học cũng như vai trò của người học, người
học đóng vai trò trung tâm và chủ động của quá trình đào tạo, có thể học mọi lúc, mọi nơi nhờ có phương tiện trợ giúp việc học
+ Người học có thể học theo thời gian biểu cá nhân, với nhịp độ tuỳ theo khả
năng và có thể chọn các nội dung học, do đó nó sẽ mở rộng đối tượng đào tạo
rất nhiều Tuy không thể hoàn toàn thay thế được phương thức đào tạo truyền thống, E-learning cho phép giải quyết một vấn đề nan giải trong lĩnh vực giáo dục thế giới đó là nhu cầu đào tạo của người lao động và học sinh tăng lên quá tải so với khả năng của các cơ sở đào tạo
+ E-learning sẽ có sức lôi cuốn rất nhiều người học kể cả những người
trước đây chưa bao giờ bị hấp dẫn bởi lối giáo dục kiểu cũ và rất phù hợp với hoàn cảnh của những người đang đi làm nhưng vẫn muốn nâng cao trình độ + Các chương trình đào tạo từ xa trên thế giới hiện nay đã đạt đến trình độ
phong phú về giao diện, sử dụng rất nhiều hiệu ứng đa phương tiện như âm thanh, hình ảnh, hình ảnh động ba chiều, kỹ xảo hoạt hình có độ tương tác cao giữa người sử dụng và chương trình, đàm thoại trực tiếp qua mạng Điều
này đem đến cho học viên sự thú vị, say mê trong quá trình tiếp thu kiến thức cũng như hiệu quả trong học tập
+ E-learning cho phép học viên làm chủ hoàn toàn quá trình học của bản thân, từ thời gian, lượng kiến thức cần học cũng như thứ tự học các bài, đặc
biệt là cho phép tra cứu trực tuyến những kiến thức có liên quan đến bài học một cách tức thời, duyệt lại những phần đã học một cách nhanh chóng, tự do trao đổi với những người cùng học hoặc GV ngay trong quá trình học, những điều mà theo cách học truyền thống là không thể hoặc đòi hỏi chi phí quá cao
Trang 22môn, sư phạm, tâm lí học, lí luận dạy học của các tập thể tác giả xây dựng chương trình cũng như phụ thuộc vào sự hỗ trợ của các thành tựu công nghệ thông tin và chuyên gia lập trình trong việc thực hiện các ý tưởng của các tác giả chương trình
+ Quá trình học tập E - learning nói chung là cô lập với xã hội thực Các
cá nhân tiến hành học tập thông qua các phương tiện truyền thông nên những
sự khích lệ ở bên ngoài như áp lực cạnh tranh, năng suất, … hầu như không có
+ Phá bỏ sự chú ý cổ điển: Người học thay vì tập trung giải quyết các tài liệu
học tập được chuẩn bị một cách hệ thống, E - learning dễ làm người học phân tán do khả năng truy cập không tuyến tính vào các thông tin được trình bày trên mạng một cách đa dạng và hấp dẫn
+ Những câu hỏi tức thời phát sinh trong khi học không được trả lời ngay
Giao tiếp giữa GV và người học không trực tiếp mà phải thông qua mạng Vì vậy, việc trả lời các câu hỏi phát sinh, việc làm mẫu, bắt chước cũng như trao đổi, thảo luận không thể thực hiện một cách dễ dàng như trong lớp học truyền thống Việc giao tiếp này đòi hỏi phải có kế hoạch chặt chẽ về nội dung cũng như thời gian
+ Người học phải có kiến thức cơ bản về sử dụng máy vi tính và giao tiếp với mạng Internet Máy vi tính và mạng Internet đã tạo ra một kỷ nguyên mới
giúp đem kiến thức của nhân loại đến cho tất cả mọi người và nó cũng là điều kiện kiên quyết cần có để tiến hành hình thức học E - learning Có nghĩa khi một người học không biết về cách sử dụng máy vi tính, cách thức giao tiếp với mạng Internet hoặc người học đang ở nơi chưa có máy vi tính hoặc hệ thống Internet thì cơ hội tiếp xúc với các kiến thức có trong lớp học trực tuyến là bằng không
+ Để xây dựng một lớp học theo hình thức E - learning cần tốn rất nhiều thời gian và công sức Xây dựng lớp học theo hình thức E - learning không chỉ cần
có sự hỗ trợ tích cực từ khoa học công nghệ hiện đại mà còn cần rất nhiều thời gian và công sức của GV Kiến thức của loài người đang từng ngày thay đổi, để
Trang 23các thông tin trên lớp học phù hợp với sự phát triển của nhân loại thì các nội dung trên lớp học này cũng luôn cần được bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện liên tục Thêm vào đó, do lớp học lúc này lại còn đóng vai trò là công cụ để GV theo dõi, kiểm soát việc học tập của từng học viên nên GV luôn phải cập nhật những thông tin có trên lớp học nhằm có những biện pháp động viên phù hợp cho các đối tượng học viên khác nhau
+ Không thể đưa vào các môn học đòi hỏi dạy kĩ năng như hát, múa, nhạc, họa… (dù dùng video cũng có hạn chế) Dù có được tích hợp nhiều ứng
dụng hiện đại đến đâu chăng nữa thì lớp học tổ chức theo hình thức E - learning cũng khó có thể thay thế GV thật
+ Vấn đề kiểm soát lớp học sẽ đặt nặng trên vai GV Nếu tổ chức một lớp
học hoàn toàn trên mạng Internet thì vấn đề quản lý học viên, việc truy cập, sử dụng các thông tin của các học viên sẽ đặt nặng lên vai GV Với lớp học 100%
ảo thì GV khó mà có được những thông tin chính xác về học viên của mình, những biện pháp tác động trở lại nhằm thúc đẩy việc học của họ cũng hoàn toàn kém hiệu quả nếu người học không có ý thức học tập tốt Bên cạnh đó vẫn còn khá nhiều vấn đề xung quanh hình thức học E - learning chưa được nghiên cứu đầy đủ nên việc vận dụng hình thức học này cũng cần có sự lựa chọn, cân nhắc
1.2.3 Học kết hợp – Blended learning
1.2.3.1 Khái niệm học kết hợp
Học kết hợp - Blended Learning (BL) xuất phát từ nghĩa của từ “Blend” tức là
“pha trộn” để chỉ một hình thức tổ chức dạy học hết sức linh hoạt, là sự kết hợp “hữu cơ” của nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau Đây là một hình thức học khá phổ biến trên thế giới CJ Bonk và CR Graham trong cuốn sách Sổ tay về Blended learning: Xu thế toàn cầu, thiết kế cá nhân đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về học kết hợp [16]
BL là sự pha trộn của công nghệ đa phương tiện, CD, streaming, các lớp học ảo, voicemail, email và các cuộc gọi hội nghị, hoạt ảnh trực tuyến và truyền hình (Thorne, 2003)
Trang 24BL có nghĩa là việc đào tạo có người hướng dẫn một cách truyền thống được bổ sung bởi các định dạng điện tử khác BL sử dụng nhiều hình thức khác nhau của E - learning (Bersin, 2004)
BL bao gồm việc sử dụng kết hợp phương thức truyền tải học tập đồng bộ và không đồng bộ để đáp ứng mục tiêu người học BL là sự kết hợp của mặt đối mặt và các yếu tố kỹ thuật số (Carliner, & Shank, 2008)
BL kết hợp nhiều hoạt động khác nhau như cuộc họp mặt đối mặt, các modules học tập dựa trên Internet, và cộng đồng học tập ảo (Link, & Wagner, 2009)
BL là sự tích hợp của học tập mặt đối mặt và học tập trực tuyến giúp nâng cao kinh nghiệm học tập và mở rộng việc học tập thông qua các phát minh của công nghệ thông tin và truyền thông Tăng cường sự tham gia hoạt động của học sinh thông qua các hoạt động trực tuyến và nâng cao hiệu quả đào tạo bằng cách giảm thời gian thuyết trình [27]
Một câu hỏi thường xuyên được đặt ra khi nghe nói về BL là: “Cái gì được kết hợp?” Ba định nghĩa được nhắc đến nhiều nhất trong các bài viết của Graham, Allen
ta cái nhìn chính xác hơn về lịch sử xuất hiện, đó là cơ sở nền tảng cho BL, là sự kết hợp giữa môi trường học tập truyền thống và môi trường học tập trực tuyến đang ngày càng bùng nổ với sự hỗ trợ mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông đang ngày càng phát triển
Trang 25Như vậy, BL là hệ thống kết hợp việc hướng dẫn mặt đối mặt với sự hướng dẫn thông qua máy tính [24]
Định nghĩa trên phản ánh ý tưởng rằng BL là sự kết hợp giảng dạy từ hai mô hình lịch sử riêng biệt của việc dạy và học: Hệ thống học mặt đối mặt truyền thống (học tập trung) và hệ thống học tập phân tán Nó cũng nhấn mạnh vai trò trung tâm của các công nghệ dựa trên máy tính trong học tập tổng hợp Như chúng ta đã biết, hình thức tổ chức dạy học có sự hỗ trợ của ICT đã được triển khai rộng rãi ở nước ta và chúng ta thường quen với một khái niệm là dạy học tích hợp ICT Qua phân tích khái niệm, chúng tôi nhận thấy, học kết hợp và học tích hợp ICT có những điểm giống nhau và khác nhau Về bản chất, cả hai đều là hình thức tổ chức dạy học có sử dụng ICT Tuy nhiên, hai hình thức này lại khác nhau về mức độ và phương pháp Trong dạy học tích hợp, vai trò của ICT chỉ là phương tiện và công cụ hỗ trợ cho phương pháp dạy học trên lớp (chẳng hạn phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn để có
sử dụng ICT trong việc làm xuất hiện vấn đề hoặc kiểm chứng giả thuyết…) Còn trong học kết hợp, ICT chính là môi trường mà người học truy cập vào để tiếp cận tri thức Xét về chức năng, trong dạy học truyền thống, chức năng của ICT với các thành phần khác chỉ là thứ yếu; Còn trong học kết hợp, ICT có vai trò ngang hàng với các thành phần khác trong quá trình dạy học
1.2.3.2 Các phương án dạy học kết hợp
Trên thế giới, BL khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đặc biệt
là đào tạo nghề qua mạng, BL được coi là phương án tối ưu nhất hiện nay khi mà giáo dục điện tử hay E – learning không thể thay thế được những hình thức học trên lớp Việc học kết hợp được thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau Theo một số nghiên cứu được công bố đã đưa ra bốn mức độ của sự kết hợp là kết hợp ở mức độ hoạt động (Activity level); Kết hợp ở mức độ khóa học (Courrse level); Kết hợp ở mức độ chương trình (Program level) và kết hợp ở mức độ thể chế (Institutional level) [16] Cách phân chia này dựa chủ yếu trên nội dung học Theo chúng tôi còn có những kiểu kết hợp khác nữa, thể hiện trong sơ đồ:
Trang 26Sự kết hợp còn được thể hiện trong một khâu hoặc giữa các khâu của quá trình dạy học nhằm tận dụng ưu điểm trong quá trình thực hiện các mục tiêu dạy học, hoặc kết hợp giữa các phương pháp dạy học khác nhau nhằm tận dụng lợi thế từ sự hỗ trợ của công nghệ Có thể thấy, trong học kết hợp, người dạy và người học được lựa chọn phương án làm việc thuận lợi nhất cho mình trong điều kiện cho phép
1.2.3.3 Đặc điểm của dạy học kết hợp
Học kết hợp là một hình thức tổ chức dạy học hết sức linh hoạt, áp dụng những phương pháp dạy học tiên tiến và sử dụng hiệu quả những tiện ích mà công nghệ đem lại Xét về mặt bản chất của hình thức tổ chức dạy học, Phạm Xuân Lam [7] cho rằng học kết hợp có những đặc điểm sau:
- Linh hoạt về không gian và thời gian diễn ra các hoạt động dạy và học, sao cho phù hợp với từng nội dung, khả năng tổ chức vì việc học vừa diễn ra trên lớp vừa diễn ra thông qua mạng máy tính Thời gian học được thay đổi cho phù hợp với khả năng học của cá nhân học sinh
- Áp dụng phương pháp dạy học tiên tiến hiện nay, phù hợp với nội dung dạy, tương thích với từng đối tượng học và khả năng học của học sinh
Trang 27- Tối ưu hóa việc sử dụng phương tiện Trong học kết hợp, ngoài những phương tiện ICT sử dụng để hỗ trợ trong dạy học truyền thống còn có sự nâng cao và khai thác tối ưu những tiện ích từ các phương tiện hiện đại khác trong đó có máy tính và Internet
- Hợp lý hóa các nội dung học Theo đó, cấu trúc nội dung chương trình được phân chia và bố trí một cách phù hợp hơn Điều này khá phù hợp với hình thức đào tạo tín chỉ ở các trường Đại học, Cao đẳng hiện nay
- Hoạt động của GV có mối liên hệ chặt chẽ và thống nhất với các GV khác và nhà kỹ thuật trong việc thiết kế các nội dung, đưa ra các chỉ dẫn cho người tham gia vào khóa học
- Hoạt động của học sinh là hoạt động tự học có hướng dẫn, với vai trò chủ đạo của mình, học sinh tích cực tham gia vào hoạt động trên lớp “thật” và trên lớp học
“ảo” Ngoài kiến thức về chuyên môn, học sinh còn trao dồi được kỹ năng tiếp cận
và làm chủ công nghệ
1.3 Tổng quan về hệ thống quản lý học tập Moodle
1.3.1 Khái niệm hệ thống quản lý học tập
Hệ thống quản lý học tập (Learning Mangement System - LMS, hay còn gọi là Course Management System – CMS) là các ứng dụng web, nghĩa là chúng chạy trên một máy chủ (server) và được truy cập bằng cách sử dụng trình duyệt web Máy chủ thường được đặt ở văn phòng, trường đại học hay bất kỳ nơi nào trên thế giới GV và học viên có thể truy cập vào hệ thống từ bất kỳ ở đâu có kết nối Internet
LMS cung cấp cho GV các công cụ để tạo một khóa học trên trang web và điều khiển truy cập, chỉ cho phép những học viên được tham gia vào khóa học mới có thể xem được nội dung Ngoài ra, LMS còn cung cấp cách để tải tài liệu lên web và chia
sẻ chúng một cách dễ dàng, quản lý các phiên thảo luận trực tuyến và chat, đưa ra các bài thi, bài kiểm tra và các khảo sát, đánh giá chung, thu thập và xem các bài tập, theo dõi điểm số học tập, … [12]
1.3.2 Giới thiệu về hệ thống quản lý học tập Moodle
Trang 28Moodle là một hệ thống quản lý học tập (LMS) trực tuyến (hoặc VLE – Virtual Learning Enviroment) mã nguồn mở (do đó miễn phí và có thể chỉnh sửa được mã nguồn), cho phép tạo các khóa học trên mạng Internet hay các trang web học tập trực tuyến
Moodle (viết tắt của Modular Object-Oriented Dynamic Learning Enviroment) được sáng lập năm 1999 bởi Martin Dougiamas, người tiếp tục điều hành và phát triển chính của dự án Do không hài lòng với hệ thống LMS thương mại WebCT trong trường học Curtin của Úc, Martin đã quyết định xây dựng một hệ thống LMS mã nguồn mở hướng tới giáo dục và người dùng hơn Từ đó đến nay, Moodle đã có những phát triển vượt bậc và thu hút sự quan tâm lớn của hầu hết các quốc gia trên thế giới [30]
Hiện nay có rất nhiều hệ thống LMS được sử dụng rộng rãi trên thế giới như Blackboard & WebCT, Dokeos, LRN, ILIAS, Atutor, Sakai, Moodle… trong đó Sakai, LRN, ILIAS, Atutor, Dokeos và Moodle là phần mềm mã nguồn mở, còn WebCT và Blackboard là phần mềm thương mại
Moodle không những đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cơ bản về chức năng của một LMS điển hình mà còn là một phần mềm mã nguồn mở với nhiều ưu điểm vượt trội khác so với các phần mềm thương mại Dưới đây là bảng so sánh một số tính năng giữa Moodle với các hệ thống thương mại [21]
LMS Moodle được đánh giá rất cao và có số lượng người sử dụng nhiều nhất Hiện nay đã có trên 10 000 site trên thế giới đã dùng Moodle tại 160 quốc gia và đã
Bảng 1.1 So sánh tính năng của Moodle với WebCT và Blackboard
Trang 29được dịch ra 75 ngôn ngữ khác nhau Có trên 100 nghìn người đã đăng kí tham gia cộng đồng Moodle Tính đến tháng 5 năm 2015, Moodle đã có tới 53,637 trang web
đã đăng ký và 71,093,507 người dùng trong 7,785,211 khóa học [30]
Bảng 1.2 Thống kê một số dữ liệu về Moodle trên thế giới ngày 20/9/2016
Lượt bài viết trên diễn đàn 185,032,602
Moodle nổi bật là thiết kế dựa trên môđun, hướng phục vụ cho giáo dục và giao diện trực quan rất dễ sử dụng Hơn nữa, Moodle phù hợp với nhiều cấp học và hình thức đào tạo: phổ thông, đại học/cao đẳng, không chính quy, trong các tổ chức/công ty Cộng đồng Moodle Việt Nam được thành lập vào tháng 3 năm 2005 với mục đích xây dựng phiên bản Tiếng Việt và hỗ trợ triển khai Moodle trong nước
Từ đó đến nay, nhiều trường đại học, công ty, tổ chức, cá nhân đã dùng Moodle
Trong đó nổi bật là 2 website đào tạo trực tuyến được đánh giá rất cao: hocmai.vn và bea.vn Có thể nói Moodle là một LMS thông dụng nhất ở Việt Nam
1.3.3 Một số tính năng của hệ thống quản lý học tập Moodle
1.3.3.1 Chức năng thiết kế tổng thể
- Moodle có thể giúp xây dựng một mạng xã hội các lực lượng giáo dục
- Thích hợp với 100% các lớp học trực tuyến cũng như hỗ trợ cho các lớp học truyền thống, xây dựng các khóa học với hình thức kết hợp
- Cách sử dụng đơn giản; cấu trúc mềm dẻo, hiệu quả; giao diện thân thiện, dễ dùng; dễ cài đặt và cấu hình
- Danh sách các khóa học được trình bày đầy đủ các chi tiết, có thể cho phép khách truy cập vào hoặc đòi mật khẩu truy cập
Trang 30- Các khóa học được đưa vào một danh mục và có thể tìm kiếm dễ dàng - một hệ thống sử dụng Moodle có thể hỗ trợ hàng nghìn khóa học
- Tính bảo mật cao Các biểu mẫu nhập dữ liệu (form) được kiểm tra các giá trị hợp lệ; các cookies, các mật mã được mã hoá…
- Hỗ trợ tất cả các định dạng tập tin Các văn bản, các trang web (các tài nguyên, các thông báo diễn đàn,…) có thể được soạn thảo trên ngôn ngữ web HTML bằng cách sử dụng trình soạn thảo WYSIWYG được nhúng trong Moodle
- Đưa thêm các môđun vào cấu trúc của hệ thống, tăng chức năng cho hệ thống
- Đưa thêm các gói ngôn ngữ vào hệ thống, cho phép hiển thị đa ngôn ngữ
- Mã nguồn được viết bằng PHP dễ hiểu, có thể thay đổi và phân phối theo bản quyền GPL
- Các quyền của người dùng được qui định tùy theo hệ thống Admin có thể phân quyền cho người dùng tùy theo chức năng của họ (quản trị, người tạo khóa học,
GV, học viên,…)
Trang 31- Các người dùng có một hồ sơ trực tuyến (profile) bao gồm ảnh, thông tin cá nhân, các bài viết, các khóa học tham gia trong hệ thống,… và có thể thiết lập cho phép người khác xem hay không
- Mỗi người dùng có thể tự chọn ngôn ngữ để hiển thị trong giao diện của hệ thống (English, French, German, Spanish, Việt Nam…)
GV dễ dàng quản lý các hoạt động này trong khóa học
- Điểm của HS có thể xem được và tải xuống máy tính
- Các hoạt động của người dùng được theo dõi cách đầy đủ (lần truy cập cuối cùng, số lần đọc tài liệu,…)
- Cho phép người dùng đánh giá các bài viết gửi lên diễn đàn, các bài tập,…
- Ghi lại các theo dõi người dùng một cách đầy đủ, các báo cáo có thể xem hoặc lưu lại và tải về máy
- Chức năng tích hợp mail: Các bản sao của các bài viết trên diễn đàn, thông tin phản hồi của GV, các tin nhắn,… được gửi tới hộp thư của thành viên
- Các khóa học có thể được đóng gói thành một tập tin nén (*.zip) bằng cách sử dụng chức năng sao lưu Các khóa học này có thể được phục hồi trên bất kỳ hệ thống sử dụng Moodle nào
1.3.3.5 Các môđun tạo ra các tài nguyên tĩnh
Các tài nguyên tĩnh trong Moodle là các tài nguyên mà người dùng có thể đọc nhưng không thể tương tác với tài liệu Moodle cung cấp 7 tài nguyên tĩnh sau:
Trang 32Bảng 1.3 Các môđun tạo ra các tài nguyên tĩnh
Sách (Book)
Cho phép tạo ra một nguồn tài nguyên gồm nhiều trang như một cuốn sách Tài nguyên này có thể chứa các tập tin media cũng như các văn bản
Tập tin (File)
Cho phép GV tải lên các tập tin từ máy tính Các tập tin này có thể được hiển thị trong giao diện trang hoặc bắt buộc tải về để xem
Thư mục (Folder)
Cho phép hiển thị một số tập tin liên quan trong một thư mục duy nhất Có thể tải lên một thư mục sẵn từ máy tính hoặc tải lên các tập tin vào thư mục trống
Nhãn (Label)
Cho phép thêm văn bản (text) hoặc đa phương tiện (multimedia) cho trang chính của khóa học Nhãn thường được dùng tạo banner cho khóa học, tiêu đề cho một nhóm tài nguyên và hoạt động, hoặc cung cấp các chỉ dẫn nhanh cho trang chính của khóa học
Trang web (Page)
Cho phép tạo ra một trang web có thể hiển thị ở bất
kỳ một trình duyệt nào Trong một trang web có thể chứa văn bản, hình ảnh, âm thanh, phim, các liên kết và các đoạn mã nhúng HTLM
Gói nội dung IMS
Là một tài nguyên được đóng gói với những đặc tính được mô tả trước, nhàm giúp nó có thể tái sử dụng
ở một hệ thống khác mà không cần phải chuyển đổi qua một định dạng khác
Liên kết đến trang web
khác (URL)
Cho phép tạo các liên kết đến các trang web khác nhanh chóng
Các thành phần này được tạo bằng môđun tài nguyên (Resource) Đây là công
cụ chính yếu giúp đưa nội dung vào bên trong khóa học
1.3.3.6 Các môđun tạo ra các tài nguyên tương tác với hệ thống
Trang 33Các tài nguyên tương tác trong moodle là các tài nguyên mà người dùng có thể tương tác với tài liệu, xây dựng tài liệu (trả lời câu hỏi, nhập văn, tải tập tin lên,…)
kỳ định dạng nào ( MS Office, PDF, ảnh, ) theo thời gian
GV quy định Các thành viên trong lớp học có thể truy cập vào để cho điểm và ghi chú
Lựa chọn
(Choice)
GV có thể tạo một câu hỏi và một số các lựa chọn cho học viên, các kết quả được gửi lên để học viên xem Sử dụng môđun này để thực hiện các cuộc điều tra nhanh chóng về vấn đề đang quan tâm
Bài thi
(Quiz)
- Tạo các bài kiểm tra với tất cả các dạng câu hỏi quen thuộc: đúng - sai, đa lựa chọn, câu trả lời ngắn, câu hỏi phù hợp, câu hỏi số,…
- Các câu hỏi có thể lấy từ ngân hàng câu hỏi (do GV lập) hoặc tự tạo trực tiếp Các câu hỏi có thể có hình ảnh
và định dạng HTML
- Các bài thi được tự động tính điểm
- GV có thể thiết lập các tính năng sau:
Trang 34+ Thời gian làm bài
+ Số lượt thử (1 lần hoặc nhiều lần)
+ Thay đổi thứ tự các đáp án (câu hỏi trắc nghiệm) trong câu hỏi
+ SV có thể thấy đáp án, các phản hồi, điểm … sau khi nộp bài hay không?
Điều tra, khảo
sát (Survey)
Môđun này giúp đỡ GV làm cho các lớp học trên mạng thêm hiệu quả, bằng cách cung cấp một tập các câu hỏi điều tra
Cơ sở dữ liệu
(Database)
Môđun này cung cấp công cụ cho việc phát triển cơ sở
dữ liệu trong khóa học GV có thể dùng môđun này để tạo
ra từ điển, biên mục, phân loại, đăng ký, mục lục, bản đồ hoặc bất cứ nơi nào mà học viên có thể điền vào mẫu để thêm dữ liệu
1.3.3.7 Các môđun tạo ra các tài nguyên tương tác với người khác
Các tài nguyên này giúp HS và GV có thể tương tác với nhau, trao đổi, thảo luận và góp ý Có 5 loại:
Bảng 1.5 Các môđun tạo ra các tài nguyên tương tác với người khác
Trang 35Môđun
diễn đàn
(Forum)
- Cho phép tạo các cuộc thảo luận được phân chia theo chủ
đề để trao đổi, chia sẻ, thắc mắc, thảo luận Sự tham gia trong các diễn đàn là một phần của việc học tập, giúp các học viên xác định và phát triển sự hiểu biết về vấn đề quan tâm
- Có nhiều kiểu diễn đàn khác nhau, ví dụ diễn đàn chỉ dành cho GV, các tin tức khóa học, diễn dàn dành cho tất cả mọi người, điễn đàn chỉ cho thảo luận một chủ đề,…
- Các cuộc thảo luận không đúng nơi có thể dễ dàng được di chuyển tới diễn đàn khác
- Có thể đánh giá bài viết của thành viên trong diễn đàn
Môđun
wiki
Giúp xây dựng và quản lý các trang thông tin do nhiều thành viên cùng hợp tác phát triển Đặc điểm nổi bật của wiki là thông tin không được xây dựng một cách tập trung theo nguyên tắc phân quyền mà theo nguyên tắc phân tán: ai cũng có thể chỉnh sửa, thêm mới, bổ sung thông tin lên các trang tin Ở Moodle, lịch sử các chỉnh sửa và các các phiên bản thông tin đó được lưu giữ lại Căn cứ vào điều này, GV có thể đánh giá trình độ của thành viên dựa vào việc tham gia bổ sung và chỉnh sửa một wiki
Ngoài các chức năng chính trên, vì xây dựng theo nguyên tắc môđun nên ta
dễ dàng thêm một môđun chức năng mới bằng cách tìm trên cộng đồng Moodle hoặc
tự xây dựng theo chuẩn Moodle hay cũng có thể đặt hàng các cá nhân khác xây dựng
Trang 361.4 Một số vấn đề về tự học và tự học có hướng dẫn theo mođun
1.4.1 Một số khái niệm liên quan
1.4.1.1 Khái niệm tự học
Theo Bùi Hiền [4], tự học là “quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV và sự quản lý trực tiếp của cơ sở giáo dục, đào tạo.”
Trịnh Văn Biều [1] cho rằng, tự học có thể diễn ra theo ba kiểu:
- Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu, vận
dụng các kiến thức trong đó
- Tự học có hướng dẫn: Có GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc
bằng các phương tiện thông tin khác
- Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và giáp mặt với thầy một số tiết
trong ngày, trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải, sau đó về nhà tự học
1.4.1.2 Khái niệm môđun dạy học
Môđun dạy học là đơn vị chương trình dạy học tương đối độc lập, được cấu trúc một cách đặc biệt nhằm phục vụ cho người học và chứa đựng cả mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy học và hệ thống công cụ đánh giá kết quả lĩnh hội, gắn bó chặt chẽ với nhau thành một hệ toàn vẹn [2]
Những đặc trưng cơ bản của môđun dạy học
- Là một đơn vị học trình độc lập, chứa đựng cả mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học và bao gồm một tập hợp những tình huống dạy học được lắp đặt theo lôgic nhất định Nó là tài liệu tự học có hướng dẫn
- Lôgic của môđun bao gồm cả những mệnh lệnh hướng dẫn người học, để
họ tự lực thực hiện trên con đường tiến tới chiếm lĩnh hoàn toàn nội dung môđun Vì thế môđun chứa đựng những con đường lĩnh hội khác nhau, thích hợp với kiểu dạy học cá thể hoá, với những trình độ khác nhau
- Môđun dạy học bao gồm nhiều loại test kiểm tra (sơ bộ ban đầu để kiểm tra kiến thức điều kiện, test trung gian và test kết thúc.v.v ) Nhờ cách này HS có thể
tự kiểm tra (liên hệ nghịch trong) và người dạy có thể biết được trình độ tiến triển của
sự lĩnh hội (liên hệ nghịch ngoài)
Trang 37- Tiếp cận này cho phép HS tiến lên theo nhịp độ thích hợp với năng lực riêng (có thể nhanh hay chậm) Chỉ khi nào xong môđun trước, mới được phép học môđun sau Và do đó tiếp cận này thích hợp với hệ đánh giá theo tín chỉ, rất mềm dẻo
- Tiếp cận môđun còn cho phép phân hoá - chuyên biệt hoá mục tiêu đào tạo Tùy theo cách "lắp ráp" các môđun lại với nhau và với các môđun phụ đạo hoặc nâng cao, ta có thể thiết kế được nhanh chóng những chương trình môn học có trình độ đa dạng về cùng một đề tài Đó là những chương trình huấn luyện môđun hoá
Cấu trúc của môđun dạy học
Môđun dạy học bao gồm ba phần: Hệ vào, thân của môđun và hệ ra [2]
- Hệ vào của môđun bao gồm:
+ Tên hay tiêu đề của môđun
+ Giới thiệu vị trí, tầm quan trọng và lợi ích của việc học theo môđun + Nêu rõ các kiến thức, kĩ năng cần có trước
+ Mục tiêu của môđun
+ Kiểm tra đầu vào môđun
- Thân của môđun: Bao gồm các tiểu môđun chứa đựng đầy đủ nội dung dạy
học được trình bày theo một cấu trúc rõ ràng kèm theo những hướng dẫn cần thiết về phương pháp học tập giúp cho người học tự lực chiếm lĩnh được nội dung và hình thành được phương pháp tự học
+ Cấu trúc của mỗi môđun:
• Phần mở đầu (giống hệ vào của môđun)
• Phần nội dung và phương pháp học tập: thông qua các tình huống
sẽ dẫn người học tới việc nắm vững các mục tiêu
• Một test trung gian cho phép HS đánh giá được những mục tiêu nào đã đạt và nếu cần có thể dẫn HS đến những môđun phụ đạo
- Hệ ra của môđun bao gồm:
Hình 1.1 Cấu trúc của môđun dạy học
Trang 38+ Một tổng kết chung
+ Test kết thúc: Nhằm kiểm tra mục tiêu toàn bộ của môđun
+ Một hệ thống phân nhánh dẫn tới:
• hoặc đến đơn vị phụ đạo
• hoặc vào đơn vị đào sâu thêm hiểu biết
• hoặc gợi ý chọn môđun tiếp theo
Hình 1.2 Sơ đồ cấu trúc của hệ ra môđun
1.4.2 Phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun
Nội dung của phương pháp này là thông qua các môđun dạy học mà HS được dẫn dắt từng bước để đạt tới mục tiêu dạy học Đặc biệt, nhờ nội dung dạy học được phân nhỏ ra từng phần, nhờ hệ thống mục tiêu chuyên biệt và hệ thống test, HS có thể tự học theo nhịp độ riêng của mình và cũng tự kiểm tra được mức độ nắm bắt kiến thức,
kĩ năng, thái độ trong từng môđun
Trang 39Phương pháp tự học có hướng dẫn theo mođun (THM) đảm bảo tuân theo những nguyên tắc cơ bản của quá trình dạy học sau đây:
- Nguyên tắc cá thể hóa trong học tập
- Nguyên tắc đảm bảo hình thành kĩ năng tự học từ thấp đến cao
- Nguyên tắc GV thu thập thông tin về kết quả học tập của HS sau quá trình tự học, giúp đỡ khi cần thiết và điều chỉnh nhịp độ học tập
- Trong phương pháp THM thì GV và HS thực hiện các hoạt động:
- GV biên soạn tài liệu THM, hướng dẫn HS cách sử dụng tài liệu, giúp đỡ HS khi cần thiết như giải đáp thắc mắc, sửa chữa sai sót, động viên họ học tập thông qua các giờ lên lớp hoặc trao đổi trực tiếp Sau mỗi môđun, GV phải đánh giá kết quả học tập của HS
- HS theo hướng dẫn trong tài liệu mà tự lực lĩnh hội kiến thức, hình thành các
kĩ năng, kĩ xảo, phương pháp và kế hoạch tự học
Tiến trình thực hiện phương pháp THM được thể hiện trong sơ đồ dưới đây
Hình 1.3 Sơ đồ phương pháp tự học có hướng dẫn theo mođun
Trang 40Ưu điểm và hạn chế của phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun
* Ưu điểm:
- Giúp HS học tập ở lớp và ở nhà hiệu quả
- Tạo điều kiện cho HS học tập với nhịp độ cá nhân, luyện tập việc tự đánh giá kết quả học tập, học tập theo cách giải quyết vấn đề, do đó nâng cao được chất lượng dạy học thực tế
- Tránh được sự tùy tiện của GV trong quá trình dạy học
- Dễ dàng cập nhật các thông tin mới
- Cho phép sử dụng đội ngũ cán bộ giảng dạy, theo dõi kèm cặp một cách tối
ưu
- Đảm bảo tính thiết thực của nội dung dạy học
- Độ bền kiến thức được nâng cao do người học tự chiếm lĩnh và rèn luyện thói quen tự học, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời
* Nhược điểm:
- Việc thiết kế tài liệu THM khá công phu và tốn kém
- HS phải có động cơ học tập tốt, có năng lực học tập nhất định
- Có thể nảy sinh tâm lý buồn chán do tính đơn điệu của việc tự học [1, 2]
1.4.3 Biên soạn nội dung tự học theo tiếp cận môđun
1.4.3.1 Thế nào là tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
Tài liệu tự học có hướng dẫn theo mođun là tài liệu được biên soạn theo những đặc trưng và cấu trúc của một môđun Tài liệu có thể phân chia thành nhiều loại: theo nội dung lý thuyết hoặc theo nội dung bài tập
1.4.3.2 Cấu trúc nội dung tài liệu tự học có hướng dẫn của một môđun
Bảng 1.6 Cấu trúc nội dung tài liệu tự học có hướng dẫn của một môđun
A Tên môđun
B Mục tiêu của môđun
Bao gồm những yêu cầu, mục đích mà HS phải nắm được sau mỗi môđun và phương pháp học tập dành cho HS Mục tiêu của tài liệu biên soạn theo tiếp cận môđun khác một cách căn bản so với tài liệu biên soạn theo kiểu truyền thống vì nó chứa đựng đồng thời cả nội
dung và PPDH
C Tài liệu tham khảo
Những tài liệu, sách, báo, video, trang web … liên quan đến nội dung của môđun HS sẽ tự tham khảo, tự đọc, tự nghiên cứu những
tài liệu trong phần này để nắm bắt kiến thức