1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Việt nam tiếp nhận viện trợ quân sự của liên xô và trung quốc trong kháng chiến chống mĩ cứu nước (1954 1975) danh mục các công trình tác giả liên quan đến

275 104 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 275
Dung lượng 21,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viện trợ quân sự của Liên Xô, Trung Quốc cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, nhưng họ mới chỉ dừng lại ở việc thống kê những c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

-

NGUYỄN THỊ HƯƠNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SỬ HỌC

Tp HCM –2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

-

NGUYỄN THỊ HƯƠNG

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Mã số: 62 22 03 13

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SỬ HỌC

1 TS Lê Huỳnh Hoa

2 PGS.TS Nguyễn Thị Phương Chi

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN - 4

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT - 5

MỞ ĐẦU - 6

1 Lý do chọn đề tài - 6

2 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án - 7

2.1 Mục đích 7

2.2 Nhiệm vụ 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - 8

3.1 Đối tượng nghiên cứu 8

3.2 Phạm vi nghiên cứu 8

3.3 Một số khái niệm 9

4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu - 12

4.1 Cơ sở lý luận 12

4.2 Phương pháp nghiên cứu 13

4.3 Nguồn tài liệu 13

5 Đóng góp khoa học của luận án - 14

6 Bố cục của luận án - 14

Chương 1 - 15

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI - 15

1.1 Những công trình viết về bối cảnh lịch sử, đường lối quân sự, chính sách đối ngoại của Việt Nam trong kháng chiên chống Mĩ cứu nước (1954 – 1975) - 15

1.2 Những công trình nghiên cứu về Việt Nam tiếp nhận viện trợ của Liên Xô trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 – 1975) - 16

1.3 Những công trình nghiên cứu về Việt Nam tiếp nhận viện trợ quân sự của Trung Quốc trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 – 1975) - 20

1.4 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến viện trợ quân sự của Liên Xô – Trung Quốc cho Việt Nam trong những năm 1954 – 1975 - 25

1.5 Những công trình tác giả nước ngoài nghiên cứu về viện trợ của Liên Xô – Trung Quốc cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 – 1975) - 32

1.6 Kết luận về tình hình nghiên cứu đề tài và nhiệm vụ của luận án - 35

1.6.1 Những nội dung tác giả luận án kế thừa 35

1.6.2 Những nội dung luận án cần giải quyết 36

Trang 4

Chương 2 - 37

CƠ SỞ TIẾP NHẬN VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CỦA VIỆT NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ CỨU NƯỚC (1954 – 1975) - 37

2.1 Bối cảnh quốc tế và tình hình, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trước âm mưu thủ đoạn của Mĩ trong chiến lược toàn cầu - 37

2.1.1 Bối cảnh quốc tế 37

2.1.2 Tình hình trong nước, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trước âm mưu thủ đoạn của Mĩ trong chiến lược toàn cầu 40

2.2 Liên Xô và Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1950 – 1954) - 43

2.2.1 Từ thiết lập quan hệ ngoại giao đến viện trợ quân sự 43

2.2.2 Việt Nam tiếp nhận viện trợ quân sự của Liên Xô - Trung Quốc trong giai đoạn cuối kháng chiến chống Pháp (1950 – 1954) 45

2.3 Chính sách đối ngoại của Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước - 48

2.3.1 Chính sách đối ngoại của Việt Nam để đoàn kết và tranh thủ sự hậu thuẫn quốc tế (1954 – 1975) 48

2.3.2 Quan hệ ngoại giao của Việt Nam với Liên Xô và Trung Quốc trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 – 1975) 57

2.4 Việt Nam là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa - 65

2.5 Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân Việt Nam ngày càng phát triển vững chắc - 69

Tiểu kết chương 2 - 75

Chương 3 - 77

VI ỆT NAM TIẾP NHẬN VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CỦA LIÊN XÔ - 77

(1954 – 1975) - 77

3.1 Tiếp nhận nguồn viện trợ vũ khí, khí tài - 77

3.1.1 Từng bước theo nhu cầu (1954 – 1964) 77

3.1.2 Tăng nhanh chủng loại và số lượng (1965 – 1972) 81

3.1.3 Tập trung cho chiến trường miền Nam (1973 – 1975) 95

3.2 Tiếp nhận viện trợ khác về quân sự - 100

3.2.1 Về quân y, quân trang, quân dụng 100

3.2.2 Về xây dựng các xưởng, nhà máy quốc phòng 101

3.2.3 Về xây dựng các công trình quốc phòng 104

3.3 Tiếp nhận giúp đỡ về cố vấn quân sự và đào tạo - 106

3.3.1 Trên lĩnh vực tham mưu tác chiến 106

3.3.2 Trên lĩnh vực đào tạo huấn luyện 109

Tiểu kết chương 3 - 120

Trang 5

Chương 4 - 122

VIỆT NAM TIẾP NHẬN VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CỦA TRUNG QUỐC - 122

(1954 – 1975) - 122

4.1 Tiếp nhận nguồn viện trợ vũ khí, khí tài - 122

4.1.1 Từng bước theo nhu cầu (1954 – 1964) 122

4.1.2 Phù hợp, kịp thời về số lượng và chủng loại (1965 – 1972) 127

4.1.3 Giảm dần theo thay đổi chính sách (1973 – 1975) 144

4.2 Tiếp nhận viện trợ về quân trang, quân dụng và quân y - 148

4.3.1 Về quân trang, quân dụng 148

4.3.3 Về quân y 156

4.3 Các nguồn viện trợ khác về quân sự - 159

4.3.1 Về xây dựng các nhà máy quốc phòng 159

4.3.2 Về xây dựng các công trình quốc phòng 161

4.3.3 Về giúp đỡ chuyên gia quân sự 166

Tiểu kết chương 4 - 168

KẾT LUẬN - 170

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ - 181

TÀI LIỆU THAM KHẢO - 183

PHỤ LỤC - 204

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Luận án tiến sĩ này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các trích dẫn,

số liệu sử dụng trong luận án đảm bảo trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những đánh giá, nhận định, kết luận khoa học do cá nhân tôi nghiên cứu trên cơ sở nguồn tư liệu xác thực

Ngày tháng năm 2017

Tác giả

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước có vai trò và vị trí rất quan trọng trong lịch sử dân tộc Việt Nam, không chỉ thực hiện thống nhất đất nước mà còn góp phần quan trọng làm thất bại âm mưu bành trướng Thế giới của chủ nghĩa

đế quốc Thất bại ở Việt Nam đã làm phá sản âm mưu ngăn chặn chủ nghĩa

cộng sản xuống Đông Nam Á của đế quốc Mĩ

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ là thắng lợi của nhiều nhân tố trong đó đường lối chính trị, quân sự của Đảng là yếu tố quyết định tạo nên sức

mạnh tổng hợp để đánh thắng giặc Mĩ xâm lược

Đường lối kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện dựa vào sức mình

là chính, đã khơi dậy sức mạnh dân tộc và truyền thống yêu nước từ ngàn đời

của dân tộc Việt Nam Sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước anh em, trước hết là phong trào cộng sản đã đóng vai trò rất lớn trong sự nghiệp kháng chiến chống xâm lược của dân tộc ta Trong số các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ cho Việt Nam kháng chiến chống Mĩ, luận án tập trung đi sâu nghiên cứu tiếp nhận viện

trợ của Liên Xô, Trung Quốc Bởi đây là những nước lớn đã giúp đỡ Việt Nam

từ trong kháng chiến chống Pháp đến chống Mĩ và đồng thời là hai nước này

viện trợ chủ yếu về quân sự cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ Viện

trợ quân sự của Liên Xô, Trung Quốc cho Việt Nam trong kháng chiến chống

Mĩ được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, nhưng họ mới chỉ

dừng lại ở việc thống kê những con số chung về các chủng loại vũ khí, khí tài cũng như số lượng chuyên gia quân sự Liên Xô sang làm việc tại Việt Nam mà chưa đi sâu tìm hiểu chủng loại, số lượng vũ khí của Liên Xô, Trung Quốc viện

trợ cho Việt Nam theo từng năm cũng như chưa phân tích thành phần chuyên môn của chuyên gia quân sự Đặt ra nhiệm vụ cho tác giả luận án cần nghiên

cứu, làm rõ các vấn đề đặt ra như trên

Sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ rất toàn diện và giúp đỡ về quân sự là khá phong phú, dồi dào Song điều quan trọng chính ở sự tiếp nhận viện trợ ấy của Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ

Trang 9

Quá trình tiếp nhận viện trợ quân sự của Liên Xô, Trung Quốc là quá trình thực hiện đường lối, chính sách ngoại giao đúng đắn, khôn khéo tài tình

của Đảng, Chính phủ Việt Nam Quá trình sử dụng có hiệu quả nguồn viện trợ quân sự của Liên Xô, Trung Quốc trong các giai đoạn thực tiễn của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ có ý nghĩa rất quan trọng

Trên thực tế, hiệu quả tiếp nhận viện trợ quân sự và những bài học quý báu của quá trình ấy đã góp phần trực tiếp trong chiến tranh chống Mĩ và nhất là trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc sau chiến tranh Song do nhiều lý

do, những tác động của quá trình viện trợ quân sự của Liên Xô, Trung Quốc trong kháng chiến chống Mĩ vẫn chưa được công bố rộng rãi, thậm chí còn chưa được nghiên cứu đầy đủ và toàn diện

Ngày nay trong công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng và Chính phủ Việt Nam đang tiếp tục khơi dậy sức mạnh dân tộc

của truyền thống và hiện đại Những động thái chính trị và quan hệ quốc tế hiện nay của Trung Quốc và Nga đòi hỏi phải minh định những đóng góp của họ trong quá khứ đối với dân tộc Việt Nam Những vấn đề về tiếp nhận viện trợ quân sự của Liên Xô – Trung Quốc cũng như bài học về ngoại giao trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nước là rất quan trọng, đặc biệt bài học về xử lí quan hệ

với các nước lớn cần nghiên cứu vận dụng trong bối cảnh Việt Nam đang hội

nhập sâu hiện nay Đó là lý do khoa học và thực tiễn để tác giả chọn vấn đề

mình

2 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Làm rõ nhu cầu viện trợ của các chiến trường, đặc biệt khi Mĩ đưa quân

viễn chinh vào miền Nam và tăng cường đánh phá ở hai miền Nam - Bắc để

thấy được tác dụng và ý nghĩa lớn lao sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em cho cách mạng Việt Nam

Nghiên cứu tiếp nhận viện trợ quân sự của Liên Xô và Trung Quốc cho

Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ

Trang 10

Phân tích và làm rõ ý nghĩa tác dụng của viện trợ quân sự bao gồm: Vũ khí, khí tài, quân trang, quân dụng và chuyên gia quân sự của hai nước Liên Xô, Trung Quốc cho Việt Nam

Làm rõ đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc tranh thủ các yếu tố quốc tế cho cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước

2.2 Nhiệm vụ

Thông qua bối cảnh lịch sử trong nước và trên thế giới giai đoạn 1954 –

1975, tác giả sẽ nêu lên nhiệm vụ, đường lối quân sự của cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước

Trên cơ sở tư liệu, tác giả luận án sẽ phân tích, trình bày có hệ thống toàn

diện về viện trợ quân sự của Liên Xô và Trung Quốc cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nước

Thống kê các loại mặt hàng viện trợ quân sự gồm: Số lượng và chủng

loại vũ khí theo từng năm của Liên Xô và Trung Quốc cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nước

Rút ra một số nhận xét, đánh giá về vai trò viện trợ quân sự của Liên Xô

và Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Mĩ lúc bấy giờ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Việt Nam tiếp nhận viện trợ quân sự của Liên Xô và Trung Quốc trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước Đây là hai nước đứng đầu hệ thống XHCN và viện trợ nhiều nhất cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ (1954 – 1975), cụ thể:

- Nghiên cứu những cơ sở của việc Việt Nam tiếp nhận viện trợ quân sự

của Liên Xô – Trung Quốc cho cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước

- Nghiên cứu Việt Nam tiếp nhận khối lượng viện trợ quân sự bao gồm:

Vũ khí, khí tài, quân trang, quân dụng, quân y và sự giúp đỡ cố vấn quân sự

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu trong khuôn khổ Việt Nam tiếp nhận viện trợ quân sự của Liên Xô và Trung Quốc đóng vai trò trực tiếp vào những thắng lợi quân sự trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước Nội dung luận án tập trung chủ yếu vào khối lượng Việt Nam tiếp nhận viện trợ quân sự

Trang 11

Tuy nhiên, trên cơ sở tư liệu khai thác được, tác giả chưa thể tách bạch rõ ràng

phần viện trợ của Liên Xô và phần viện trợ của Trung Quốc qua con đường Trung Quốc Đồng thời chưa phân tích được hiệu quả sử dụng viện trợ quân sự của từng nước, cũng chưa thể làm rõ phương tiện, cách tổ chức tiếp nhận, phân phối sử dụng nguồn viện trợ quân sự trên đất nước Việt Nam

Phạm vi thời gian: Trong thời gian kháng chiến chống Mĩ cứu nước từ năm 1954 đến năm 1975, trong đó chủ yếu là thời gian từ sau Đồng Khởi (1960) đến khi kết thúc chiến tranh (1975)

Phạm vi không gian: Thực tế không gian tiếp nhận diễn ra trên nhiều quốc gia nhưng do điều kiện tư liệu nên luận án chỉ tập trung không gian trên lãnh thổ Việt Nam với không gian chiến trường miền Nam và không gian hậu phương miền Bắc

3.3 Một số khái niệm

Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 – 1975), Việt Nam đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của các nước tiến bộ trên thế giới Trong đó, tiêu biểu nhất là sự ủng hộ của phe xã hội chủ nghĩa mà đứng đầu là hai nước Liên

Xô và Trung Quốc Họ đã giúp đỡ mọi mặt cho cuộc kháng chiến, nhưng viện trợ quan trọng, góp phần không nhỏ tới thắng lợi của chiến tranh chính là viện trợ quân sự (gồm: Vũ khí, khí tài, quân trang, quân dụng, quân y và chuyên gia quân sự) Để đi sâu nghiên cứu về viện trợ quân sự, những khái niệm, thuật ngữ liên quan chiến tranh, vũ khí, cần được xác định phục vụ chuyên môn cho vấn

đề nghiên cứu Về cơ bản, cần tìm hiểu các khái niệm sau.

Tiếp nhận: Được hiểu là nhận sự trợ giúp, giúp đỡ của các tổ chức, các

nhân hay một quốc gia nào đó cho cá nhân hoặc quốc gia trong hoàn cảnh khó khăn Trong kháng chiến chống Mĩ, Liên Xô, Trung Quốc viện trợ quân sự cho Việt Nam, nguồn viện trợ quân sự ấy được bạn chuyển tới Việt Nam bằng nhiều loại hình, cách thức Việt Nam tiếp nhận cũng bằng nhiều cách thức

Tiếp nhận qua đường biên giới đối với hàng quân sự được vận chuyển liên vận Tiếp nhận từ cảng quốc tế đối với hàng quân sự vận chuyển theo đường biển Tiếp nhận trên đất nước Việt Nam với một số viện trợ là hàng hóa, tiền bạc… qua con đường hàng không Tiếp nhận từ nước bạn đối với những chuyên gia quân sự bằng nhiều hình thức khác nhau như đào tạo, hướng dẫn, huấn luyện…

Trang 12

Viện trợ quân sự: Được định nghĩa “Là hành động giúp đỡ các nước

(liên minh các nước) cho nhà nước hoặc tổ chức chính trị, quân sự,… của một nước khác về mặt quân sự nhằm những mục đích nhất định Được thực hiện bằng nhiều hình thức và mục đích khác nhau: cung cấp tiền, vũ khí, khí tài, đồ dùng quân sự; cử cố vấn, chuyên gia quân sự; huấn luyện, đào tạo cán bộ, nhân viên kỹ thuật quân sự; đưa lực lượng tham gia chiến đấu hoặc các hoạt động

quân sự khác…” [24; tr 1170]

Vũ khí: “Là phương tiện kỹ thuật hoặc tổ hợp các phương tiện kỹ thuật

dùng tiêu diệt đối phương trong đấu tranh vũ trang Vũ khí thường gồm: phần trực tiếp diệt mục tiêu (gươm, giáo, tên, bom, đạn…), phương tiện đưa chúng tới mục tiêu (cung, nỏ, súng, pháo, tên lửa…) Những vũ khí phức tạp hơn còn

có khí tài, thiết bị bổ trợ, đảm bảo, điều khiển và dẫn đường Đối với vũ khí hiện đại, ba phần trên được kết hợp chặt chẽ với nhau trong một hệ thống, gọi là

tổ hợp trang bị; theo mức độ sát thương, có: vũ khí thông thường, vũ khí hủy diệt lớn; theo đối tượng trang bị, có: vũ khí hàng không, vũ khí hải quân, vũ khí pháo binh, vũ khí bộ binh…; theo quy mô, nhiệm vụ phải giải quyết, có: vũ khí chiến lược, vũ khí chiến dịch – chiến thuật, vũ khí chiến thuật; theo công dụng, có: vũ khí phòng không, vũ khí chống tăng, vũ khí chống ngầm…; theo số người sử dụng, có: vũ khí cá nhân, vũ khí tập thể; theo nguồn năng lượng và dạng tác động, có: vũ khí lạnh, hỏa khí, vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa học, vũ khí sinh học; theo khả năng động cơ, có: vũ khí cố định, vũ khí tự hành, vũ khí xe kéo, vũ khí mang vác…; theo mức độ tự động hóa quá trình bắn, có: vũ khí tự động, vũ khí bán tự động, vũ khí không tự động… Mỗi loại vũ khí xuất hiện đều

dẫn đến sự thay đổi trong nghệ thuật quân sự” [24; tr 1170]

Khí tài: Là cách gọi chung chỉ “những công cụ, thiết bị máy móc dùng trong quân sự (để chỉ huy bộ đội, điều khiển phương tiện chiến đấu…) nhưng không có tác dụng trực tiếp tiêu diệt đối phương Khí tài được sử dụng độc lập hoặc ghép với phương tiện khác thành tổ hợp (hệ thống) khí tài Theo công dụng, có: khí tài đo đạc, khí tài kiểm tra, khí tài điều chỉnh, khí tài tính toán, khí tài quan sát và trinh sát, khí tài nhìn đêm, khí tài ngắm… Theo nguyên lí hoạt động, có: khí tài cơ khí, khí tài quang học, khí tài điện tử, khí tài quang – điện

tử, khí tài cơ điện, khí tài điện tử, khí tài hồng ngoại, khí tài thủy âm… Theo chế độ làm việc, có: khí tài tự động, khí tài bán tự động, khí tài không tự động;

Trang 13

Theo mức độ cơ động, có: khí tài cố định, khí tài có xe chở, khí tài mang vác Theo lĩnh vực sử dụng, có: khí tài khí tài không quân, khí tài phòng không, khí tài chỉ huy bắn pháo binh, khí tài điều khiển phóng ngư lôi, khí tài trinh sát hóa

học, khí tài trinh sát phóng xạ, khí tài công binh, khí tài thông tin…” [24; tr

1170]

Chiến trường: Được hiểu theo hai cách: “Một là, chiến trường gọi

chung là nơi tác chiến Theo môi trường tác chiến có: chiến trường mặt đất, chiến trường mặt nước, chiến trường trên không, chiến trường vũ trụ; Hai là, chiến trường được hiểu là vùng đất, vùng biển và vùng trời trên chúng, nơi có thể hoặc đang diễn ra cuộc chiến tranh hoặc các hoạt động tác chiến chiến lược Theo quy mô và vai trò, vị trí có: chiến trường chiến tranh và chiến trường tác chiến; theo môi trường có: chiến trường chiến trường trên bộ (lục địa), chiến trường trên đại dương (biển); theo vị trí địa dư có: chiến trường trong nước, chiến trường ngoài nước Ranh giới chiến trường do ban lãnh đạo chính trị - quân sự của quốc gia (liên minh các quốc gia) xác định Trong luật pháp quốc

tế, chiến trường được xác định là vùng đất, vùng biển và vùng trời của các quốc gia tham chiến cùng với vùng biển cả và vùng trời trên nó, mà ở đó các quốc gia tham chiến đang và sẽ có thể tiến hành chiến tranh hoặc các hoạt động tác chiến chiến lược Theo luật pháp quốc tế, chiến trường không được gồm vùng đất, vùng trời và vùng biển của các quốc gia trung lập Trong kháng chiến chống Mĩ

ở Việt Nam hình thành các chiến trường: chiến trường A (miền Bắc Việt Nam,

từ vĩ tuyến 17 ra phía Bắc), chiến trường B (miền Nam Việt Nam, từ vĩ tuyến 17 vào Nam) [24; tr 239]

Chiến trường B: “Là chiến trường miền Nam Việt Nam trong kháng

chiến chống Mĩ (1954 – 1975) Lúc đầu là tên gọi quy ước trong kế hoạch chỉ đạo tác chiến và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ở Nam Việt Nam (cũng quy ước: “A” là Bắc Việt Nam, “C” là Lào, “Đ” sau đó đổi thành “K” là Campuchia), được Bộ Chính trị và Quân ủy trung ương Đảng Lao động Việt Nam thông qua năm 1961, phân chia thành B1 và B2 B1 gồm các tỉnh: Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc (thuộc Liên khu 5) Tổ chức quân

sự trên chiến trường là Quân khu 5, cơ quan chỉ huy là Bộ Tư lệnh Quân khu 5 (tư lệnh kiêm chính ủy: Nguyễn Đôn) B2 gồm các tỉnh Nam Bộ và 5 tỉnh của

Trang 14

Liên khu 5 ở cực Nam Trung Bộ: Ninh Thuận, Bình Thuận, Quảng Đức, Tuyên Đức, Lâm Đồng Tổ chức quân sự trên chiến trường B2 là Quân khu 6 (cực Nam Trung Bộ), Quân khu 7 (Đông Nam Bộ) Quân khu 8 (Trung Nam Bộ), Quân khu 9 (Tây Nam Bộ) và Quân khu Sài Gòn – Gia Định; cơ quan chỉ huy chiến trường là ban quân sự (sau đổi thành Bộ chỉ huy Miền), trưởng ban: Trần Lương (tức Trần Nam Trung), phó trưởng ban: Trần Văn Quang Tháng 5/1964, thành lập B3 (Mặt trận Tây Nguyên) gồm 3 tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc (tách ra từ B1), tư lệnh: Nguyễn Chánh, chính ủy: Đoàn Khuê Tháng 4/1966, thành lập B4 (Quân khu Trị -Thiên) gồm hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên (tách

ra từ B1), tư lệnh kiêm chính ủy: Lê Chưởng; B1 còn lại 6 tỉnh ven biển miền Trung: Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa Tháng 6/1966 thành lập B5 (Mặt trận đường 9 – Bắc Quảng Trị), tư lệnh Vũ Nam Long, chính ủy: Nguyễn Xuân Hoàng” [24; tr 239]

Chuyên gia quân sự: “Quân nhân của một nước được cử sang nước

khác làm việc trong các ngành chuyên môn khoa học – kỹ thuật quân sự cụ thể (hướng dẫn khai thác sử dụng trang bị, vũ khí và phương tiện kỹ thuật chiến đấu của nước ngoài, nghiên cứu khoa học, kỹ thuật quân sự, xây dựng công trình quân sự, huấn luyện chiến đấu…) theo Hiệp định hoặc văn bản thỏa thuận khác giữa hai bên” [24; tr 258]

Cố vấn quân sự: Quân nhân (thường là sĩ quan) của một nước, được cử

sang nước khác theo hiệp định hoặc văn bản thỏa thuận khác về hợp tác quân sự hai bên, có chức năng nhiệm vụ và quyền hạn nhất định trong việc giúp giải quyết những vấn đề chung về xây dựng quân đội (cải tiến cơ cấu tổ chức biên chế quân đội, đài tạo, bồi dưỡng cán bộ quân sự, soạn thảo văn kiện quân sự…); cũng có thể tham gia tổ chức và chỉ huy tác chiến (theo thỏa thuận riêng) Tính chất hoạt động của cố vấn quân sự phụ thuộc và chế độ chính trị - xã hội của nước cử và nhận cố vấn quân sự” [24; tr 264]

4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu

Quá trình nghiên cứu, thực hiện luận án, tác giả vận dụng trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tranh thủ sự viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nước của Việt Nam Tư tưởng, quan

Trang 15

điểm chính sách đối ngoại linh hoạt, mềm dẻo, tranh thủ sự viện trợ của nước ngoài nhưng vẫn giữ được đường lối độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam Dựa trên cơ sở đường lối quân sự, đường lối kháng chiến của Đảng để nghiên cứu các nội dung liên quan tới đề tài như: Cơ sở tiếp nhận viện trợ quân sự của Việt Nam và Việt Nam tiếp nhận viện trợ quân sự của Liên Xô, Trung Quốc trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 - 1975)

Nghiên cứu đề tài này, luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử để dựng lại các sự kiện lịch sử và phương pháp logic để đúc kết, rút ra những đánh giá, nhận định Bên cạnh đó tác giả còn sử dụng một số phương pháp như: Thống kê, so sánh, đối chiếu, phương pháp phân tích, xác minh nguồn tư liệu,

để bổ sung vào những mảng trống mà các tư liệu thành văn chưa phản ánh được đầy đủ đồng thời hiểu sâu hơn về nguồn viện trợ quân sự mà Liên Xô, Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam nhằm giải quyết những vấn đề mà luận án đặt ra

Đây là đề tài liên quan đến vấn đề quân sự trong chiến tranh nên tác giả cũng vận dụng dụng cách tiếp cận về quân sự và nghệ thuật quân sự Ngoài ra

đề tài cũng sử dụng phương pháp tiếp cận của khoa học ngoại giao về quan hệ quốc tế Đề tài còn sử dụng phương pháp chuyên gia, tham khảo những ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực quân sự và các chuyên gia nghiên cứu về chiến tranh cách mạng để hiểu rõ hơn về viện trợ quân sự Tác giả đã khai thác tối đa tất cả những phương pháp nêu trên phục vụ cho luận án

Nguồn tài liệu được tác giả chủ yếu sử dụng trong luận án gồm những nguồn sau đây:

- Tài liệu kinh điển và lí luận về ngoại giao – quan hệ quốc tế

- Các văn kiện đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam

- Các văn kiện đối ngoại, văn kiện ngoại giao của Liên Xô – Trung Quốc

- Nguồn tài liệu lưu trữ của các bên liên quan (Việt Nam – Liên Xô – Trung Quốc) Hiện đang lưu trữ ở Bộ ngoại giao, Học viện Ngoại giao, Trung tâm Lưu trữ quốc gia 3, Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

- Các sách, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến luận

án

Trang 16

- Các công trình nghiên cứu không chuyên liên quan

5 Đóng góp khoa học của luận án

- Luận án nêu được một cách hệ thống sự giúp đỡ toàn diện, kịp thời của Liên Xô và Trung Quốc đã đáp ứng được nhu cầu trực tiếp của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của dân tộc Việt Nam

- Phân tích và làm rõ sự tiếp nhận về quân sự một cách có hiệu quả phù hợp với chính sách đường lối ngoại giao độc lập của Việt Nam

- Làm rõ việc tiếp nhận viện trợ quân sự không chỉ về vật chất, vũ khí, khí tài, quân trang, quân dụng cho cuộc chiến tranh mà còn tiếp nhận về sự giúp

đỡ chuyên gia quân sự không những đáp ứng được nhu cầu trong kháng chiến chống Mĩ mà còn đáp ứng của cả thời kỳ đất nước hòa bình

- Làm rõ sự linh hoạt, khéo léo về nghệ thuật ngoại giao trong vận động các nước anh em viện trợ quân sự cho Việt Nam

- Phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Việt Nam thời hiện đại

6 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận án kết cấu gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài

Chương 2: Cơ sở tiếp nhận viện trợ quân sự của Việt Nam kháng chiến chống

Mĩ cứu nước (1954 – 1975)

Chương 3: Việt Nam tiếp nhận viện trợ quân sự của Liên Xô (1954 – 1975) Chương 4: Việt Nam tiếp nhận viện trợ quân sự của Trung Quốc (1954 – 1975)

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1 Những công trình viết về bối cảnh lịch sử, đường lối quân sự, chính sách đối ngoại của Việt Nam trong kháng chiên chống Mĩ cứu nước (1954 – 1975)

Nhóm công trình này có nhiều tác phẩm đề cập nhiều lĩnh vực, tuy nhiên, theo phạm vi nghiên cứu của luận án thì có một số tác phẩm đề cập đến đường lối đối ngoại của Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ, bối cảnh lịch sử của cuộc kháng chiến Có thể kể đến những công trình, bài viết tiêu biểu như sau:

- Nguyễn Đình Bin (chủ biên), Ngoại giao Việt Nam (1945 – 2000), Nhà

xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005 Nội dung cuốn sách phác họa những nét chính của hoạt động ngoại giao Việt Nam trong 55 năm từ 1945 đến 2000

Đó là nền ngoại giao của thời đại Hồ Chí Minh, với tính chất dân tộc và cách mạng, kế thừa truyền thống ngoại giao của ông cha, đồng thời mang dấu ấn và đặc trưng của thời đại mới Trải qua những chặng đường lịch sử, ngoại giao Việt Nam từng bước được xây dựng, phát triển và trưởng thành vững chắc, trở thành một binh chủng hợp thành của cách mạng, một vũ khí sắc bén, tin cậy của Đảng và nhân dân Thông qua đường lối ngoại giao này, Việt Nam có thể đưa ra những sách lược và chiến lược phù hợp với từng giai đoạn Kêu gọi sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, các lực lượng tiến bộ trên thế giới và quan trọng hơn đã tranh thủ được sự ủng hộ tối đa của Liên Xô, Trung Quốc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra ác liệt Sách có nêu lên được một số hoạt động, những cam kết mà Liên Xô, Trung Quốc hứa sẽ ủng hộ cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam

- Tác giả Nguyễn Mạnh Hà với “Hồ Chí Minh vun đắp quan hệ Việt –

nêu khát quát về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ và những năm tháng Bác sống và làm việc cùng với các nhà cách mạng Trung Quốc nên giữa Bác với một số nhà lãnh đạo Trung Quốc rất thân tình, vừa là đồng chí, vừa là anh em Tác giả nhấn mạnh ở điểm, đối với Trung Quốc, Bác Hồ không chỉ là người đặt nền móng cho quan hệ Việt – Trung mà Người luôn coi trọng việc củng cố, giữ gìn việc phát triển quan hệ giữa hai nước Trong kháng chiến

Trang 18

chống Mĩ, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc có nhiều bước thăng trầm do mâu thuẫn Xô – Trung đã ảnh hưởng tới phong trào cách mạng thế giới Tuy nhiên, bằng ngoại giao nghệ thuật cân bằng quan hệ, Người đã từng bước tháo gỡ những vướng mắc và vun đắp tình đoàn kết Việt – Xô – Trung Người tăng cường các chuyến viếng thăm ngoại giao tới Trung Quốc, nhằm thắt chặt quan

hệ giữa hai nước và tìm tiếng nói chung, tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam Nhờ ngoại giao khôn khéo, linh hoạt, mềm dẻo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung Quốc đã viện trợ toàn diện cho Việt Nam kháng chiến chống Mĩ, là một trong những yếu tố góp phần vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc

- Viện lịch sử quân sự Việt Nam năm 2013 đã hoàn thành công trình Lịch

sử kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 – 1975), tập 1, 2 Nhà xuất bản Chính

trị Quốc gia, Hà Nội Ở tập 1, cuốn sách đã trình bày khá chi tiết về nguồn gốc chiến tranh Việt – Mĩ Những âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mĩ từ việc viện trợ cho Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam những năm

1950 – 1954 đến chỗ thay thế Pháp ở miền Nam Việt Nam Tập 2, cuốn sách trình bày các sự kiện lịch sử từ sau Hiệp định Gieneva đến cao trào đồng khởi của nhân dân miền Nam năm 1960 Đây là giai đoạn lịch sử có tính chất bước ngoặt của dân tộc Việt Nam, cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục đấu tranh để thống nhất Tổ quốc

Trên cơ sở các công trình viết về bối cảnh kháng chiến, đường lối quân

sự, chính sách đối ngoại của Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước Tác giả kế thừa kết quả nghiên cứu trên, áp dụng những vấn đề cần thiết, phục

vụ cho luận án của mình

1.2 Những công trình nghiên cứu về Việt Nam tiếp nhận viện trợ của Liên

Xô trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 – 1975)

Nghiên cứu về Việt Nam tiếp nhận viện trợ quân sự của Liên Xô trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954 – 1975) là đề tài được nhiều tác giả trong nước chú trọng Mỗi tác giả nghiên cứu, tìm hiểu ở những vấn đề khác nhau của mối quan hệ Việt Nam - Liên Xô, cũng như nguồn viện trợ hai nước này cho Việt Nam Có thể kể một số công trình tiêu biểu như sau:

Trang 19

- Trịnh Vương Hồng, tác giả bài viết“Sự giúp đỡ nhiệt tình, to lớn, hiệu

quả của Liên Xô với hai cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam (1945 -

được Học viện quan hệ quốc tế Hà Nội ấn hành năm 2000 Bài viết tập trung khái quát những nét cơ bản nhất sự giúp đỡ về quân sự, quân trang quân dụng và ủng

hộ về mặt chính trị của Chính phủ và nhân dân Liên Xô cho nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp – Mĩ Tuy nhiên, tác giả chỉ đưa ra những con số chung về các nguồn viện trợ, không nêu chi tiết nguồn viện trợ quân sự cụ thể của từng năm Bài viết không nói tới sự giúp đỡ về cố vấn và chuyên gia quân

sự của Liên Xô cho Việt Nam trong những năm tháng chống Mĩ

- Đỗ Thanh Bình tác giả bài biết “Sự ủng hộ của Liên Xô đối với cuộc

kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân Việt Nam”, in trong Chính sách đối ngoại của Việt Nam, được Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội ấn hành

năm 2001 Trong công trình này, tác giả đã viết khá chi tiết về quan hệ Việt – Xô trong những năm 1954 – 1975 Trong suốt những năm tháng Việt Nam kháng chiến chống Mĩ, cứu nước, nhân dân Liên Xô đã hết lòng ủng hộ Việt Nam Chính phủ và nhân dân Liên Xô không chỉ ủng hộ về chính trị mà còn giúp đỡ về kinh tế, vũ khí khí tài, quân trang quân dụng, giúp đỡ cố vấn và đào tạo chuyên gia quân sự cho Việt Nam Điều đặc biệt là các chuyên gia Liên Xô bên cạnh làm nhiệm vụ về mặt chuyên môn, họ còn cùng bộ đội Việt Nam đánh Mĩ Bên cạnh

sự ủng hộ của Đảng và Chính phủ Xô-viết, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức chính trị của nhân dân đã phát động những phong trào, có những hành động ủng

hộ thiết thực cuộc kháng chiến chống Mĩ của Việt Nam Họ đã tổ chức phong trào quyên góp, ủng hộ Việt Nam dưới mọi hình thức như phong trào “góp một ngày công”, “quyên góp tiền”, “tình nguyện hiến máu”… Số tiền góp được dùng

để mua các mặt hàng như gạo, thuốc men, xe cấp cứu và các hàng hóa khác rồi chuyển đến Việt Nam bằng đường thủy Có một số vấn đề được tác giả nhấn mạnh đó là Việt Nam nhận được sự ủng hộ của Liên Xô nhiều nhất vào năm 1967 – 1968, năm 1972 tuy viện trợ kinh tế giảm nhưng viện trợ vũ khí được tăng lên gấp đôi Tuy nhiên hạng mục các loại vũ khí hàng năm đưa vào Việt Nam hay số lượng cụ thể chuyên gia sang Việt Nam làm việc cũng như học sinh quân sự Việt Nam sang Liên Xô học tập vẫn chưa được làm sáng rõ, tác giả chỉ đề cập những con số chung

Trang 20

- Vũ Thị Hồng Chuyên, “Quan hệ Liên Xô – Việt Nam thời kỳ 1950 –

dung của luận văn viết về mối quan hệ toàn diện trên tất cả các lĩnh vực giữa Liên Xô và Việt Nam như: Kinh tế - thương mại, chính trị, quân sự, hợp tác giáo dục Trong suốt 25 năm hợp tác Xô – Việt, tác giả đã trình bày nội dung theo các giai đoạn cụ thể như giai đoạn 1950 – 1954; 1955 – 1964; 1965 – 1975

Ở từng giai đoạn, tác giả luận văn cũng đã đề cập những bước thăng trầm trong quan hệ Xô – Việt và những hợp tác tốt đẹp giữa hai nước Riêng phần hợp tác trong lĩnh vực quân sự, tác giả có điểm qua sự giúp đỡ ban đầu của Liên Xô cho Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp Nhưng lại không trình bày về sự giúp

đỡ của Liên Xô giai đoạn 1955 – 1964, những năm 1965 – 1975 tác giả có trình bày một số nội dung liên quan đến nguồn viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam Ví dụ, tác giả điểm qua một số ý chính như Liên Xô đã gửi sang một số loại vũ khí như súng, xe tăng để hỗ trợ cho chiến dịch trong hai mùa khô 1965 –

1966 và 1966 – 1967, ngoài ra tác giả có nhấn mạnh một số vấn đề và lí giải tại sao những năm 1969 – 1972 Liên Xô giảm viện trợ quân sự cho Việt Nam Nội dung luận văn đề cập không nhiều tới việc Liên Xô đào tạo chuyên gia quân sự cho Việt Nam trong năm 1966 và đưa chuyên gia sang giúp Việt Nam năm

1965, những năm tiếp theo chưa được tác giả đề cập trong luận văn Trong lĩnh vực hợp tác giáo dục, nội dung luận văn dừng lại ở việc Liên Xô giúp Việt Nam đào tạo cán bộ và học sinh phục vụ cho việc xây dựng và kiến thiết đất nước Như vậy, trong lĩnh vực quân sự, tác giả chưa có điều kiện đi sâu tìm hiểu những vấn đề có liên quan như: trong những năm tháng chống Mĩ, Liên Xô viện trợ quân sự cho Việt Nam như thế nào, giai đoạn nào viện trợ nhiều nhất, những

vũ khí nào của Liên Xô đưa sang giúp Việt Nam Trong vấn đề đào tạo cố vấn

và chuyên gia quân sự, nước bạn giúp đỡ bao nhiêu chuyên gia cho Việt Nam và bao nhiêu học sinh quân sự của Việt Nam được đưa sang bạn học, đào tạo về ngành nào trong quân sự Đó cũng là vấn đề tác giả luận án cần đi sâu nghiên cứu

Chính trị Quốc gia Hà Nội ấn hành năm 2005 Cuốn sách tập hợp những Hồi ký của chuyên gia quân sự về lĩnh vực phòng không, các cố vấn quân sự, cố vấn chính trị và dân sự Liên Xô đã từng công tác tại Việt Nam trong những năm

Trang 21

chiến tranh; những người bằng lao động quả cảm của mình đã góp phần làm nên những thắng lợi cho nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống đế quốc

Mỹ xâm lược và thống nhất đất nước đang đến gần Công trình có thể được chọn lọc, sử dụng số liệu về viện trợ trong lĩnh vực phòng không, cố vấn quân

sự, bổ sung vào luận án Tuy nhiên, tác phẩm chỉ đi sâu vào nguồn viện trợ quân

sự trên lĩnh vực phòng không, các nguồn viện trợ khác không được nhắc tới

- Tác giả Nguyễn Thị Mai Hoa trong bài “Sự giúp đỡ về quân sự của

Liên Xô cho Việt Nam trong những năm chống chiến tranh phá hoại (1965 –

yêu cầu cần viện trợ của cuộc kháng chiến và quyết định tăng cường viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam Tác giả đã nêu khái quát số liệu viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam theo từng năm với một số mặt hàng như: Tên lửa, đạn, pháo, súng phòng không, máy bay và một số khí tài khác… Liên Xô nhận đào tạo cán bộ quân sự bậc cao cho Việt Nam đồng thời gửi chuyên gia quân sự sang giúp Việt Nam Tác giả có nhắc tới con đường vận chuyển vũ khí từ Liên

Xô sang Việt Nam bằng đường biển và đường sắt qua Trung Quốc Hơn nữa, tác giả còn điểm qua mặt trái của quá trình viện trợ Tuy nhiên, bài viết chủ yếu nêu những số liệu chung về viện trợ qua các năm, qua chiến tranh phá hoại của

đế quốc Mĩ mà chưa nêu cụ thể số lượng, danh mục mặt hàng viện trợ theo từng năm Đối với việc giúp đỡ về cố vấn và đào tạo chuyên gia quân sự cho Việt Nam, tác giả chưa đi sâu về phân tích thành phần, số lượng chuyên gia sang Việt Nam theo từng năm hoặc chưa làm rõ được hàng năm Việt Nam gửi bao nhiêu cán bộ quân sự sang Liên Xô học tập Tác giả nêu lên được những con đường vận chuyển hàng viện trợ về Việt Nam nhưng chưa nêu được những nơi tiếp nhận nguồn viện trợ đó Sau bài viết này, năm 2013, tác giả Nguyễn Thị

Mai Hoa đã cho xuất bản cuốn “Các nước xã hội chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam

kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954 – 1975)”, được Nhà xuất bản Chính trị

quốc gia Hà Nội ấn hành năm 2013 Cuốn sách không chỉ thể hiện sự dày công của tác giả trong việc nghiên cứu toàn diện sự giúp đỡ về kinh tế, chính trị, quân

sự của các nước xã hội chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam trong kháng chiến chống

Mĩ, qua đó cung cấp những tư liệu có giá trị, bổ ích về nguồn viện trợ của nước ngoài cho Việt Nam Tuy nhiên, trong vấn đề liên quan đến đề tài luận án là viện trợ về quân sự của Liên Xô – Trung Quốc cho Việt Nam, tác giả Nguyễn

Trang 22

Thị Mai Hoa mới nêu lên những số liệu chung về viện trợ qua các năm, qua các chiến lược chiến tranh mà chưa nêu cụ thể số lượng, danh mục mặt hàng của từng năm viện trợ Việc giúp đỡ về cố vấn và đào tạo chuyên gia quân sự cho Việt Nam cũng vậy, tác giả cũng chưa phân tích sâu về thành phần, số lượng chuyên gia sang Việt Nam theo từng năm hoặc chưa làm rõ được hàng năm Việt Nam gửi bao nhiêu học sinh quân sự sang Liên Xô học tập

Như vậy, tất cả các công trình và bài viết nêu trên đều tập trung nghiên cứu những khía cạnh khác nhau về viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ Tuy nhiên khi viết về viện trợ quân sự của Liên

Xô một cách có hệ thống là điều mà các tác giả trên chưa làm rõ Điều này đặt

ra nhiệm vụ nghiên cứu của luận án này

1.3 Những công trình nghiên cứu về Việt Nam tiếp nhận viện trợ quân sự của Trung Quốc trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 – 1975)

Nghiên cứu về Việt Nam tiếp nhận viện trợ quân sự của Trung Quốc trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954 – 1975), có thể kể một số công trình tiêu biểu như sau:

- Tác giả Nguyễn Mai Hoa“Quan hệ Trung Quốc– Việt Nam giai đoạn

Nội dung của Luận văn chủ yếu đề cập mối quan hệ toàn diện trên tất cả các lĩnh vực giữa Trung Quốc – Việt Nam như: Kinh tế - thương mại, chính trị, quân sự, hợp tác giáo dục Bên cạnh việc nêu khái quát quan hệ Trung Quốc – Việt Nam trước khi hai nước đặt quan hệ ngoại giao tác giả đã chỉ ra sự giúp đỡ

về mọi mặt của nước bạn cho ta những năm 1950 – 1954 là toàn diện Trong kháng chiến chống Mĩ, ở hai giai đoạn từ 1955 – 1964 và từ 1965 – 1975 tác giả nêu rõ quan hệ Trung Quốc – Việt Nam trên các lĩnh vực: Kinh tế - thương mại, chính trị, quân sự, hợp tác giáo dục của từng giai đoạn Riêng lĩnh vực quân sự, luận văn có điểm qua sự giúp đỡ của quân chí nguyện Trung Quốc sang giúp Việt Nam làm đường và xây dựng các nhà máy công nghiệp quốc phòng, xây dựng các công trình bố phòng Tác giả đã khái quát sự giúp đỡ về vũ khí và quân trang, quân dụng của Trung Quốc cho Việt Nam trong những năm tháng chống Mĩ Do phạm vi nội dung của luận văn là quan hệ Trung - Việt nên vấn

đề nêu trên chưa phải là trọng tâm của luận văn Vì vậy, để làm rõ số lượng,

Trang 23

chủng loại các vũ khí, khí tài và chuyên gia quân sự phục vụ tại Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ là nhiệm vụ mà tác giả luận án cần làm rõ

- Đại tá Hoàng Minh Phương là tác giả của tập tư liệu “Quan hệ Việt –

Trung trong kháng chiến chống Mĩ” với độ dày 20 trang, lưu tại phòng Thông

tin tư liệu, Viện lịch sử quân sự Việt Nam Nội dung của tư liệu là lời kể của tác giả - người trực tiếp chứng kiến các sự kiện diễn ra trong kháng chiến chống Mĩ Chức vụ của người cung cấp thời điểm diễn ra sự kiện là Trưởng phòng Ngoại

vụ - Bộ Quốc phòng Ông đã kể lại toàn bộ quan hệ Việt – Trung từ sau Hiệp định Gieneva tới kết thúc cuộc kháng chiến chống Mĩ Sau khi miền Bắc được hòa bình, đường lối chiến lược của Trung Quốc là muốn Việt Nam tập trung lực lượng xây dựng miền Bắc từng bước tiến lên CNXH, còn miền Nam thì trường

kỳ mai phục Họ muốn một miền Bắc Việt Nam thành một vùng đệm giữa biên cương phía Nam của Trung Quốc với hệ thống các nước thuộc phe đế quốc bắt đầu từ vĩ tuyến 17 trở về phía Nam Do đó, năm 1955 khi đồng chí Võ Nguyên Giáp sang Bắc Kinh gặp đồng chí Bành Đức Hoài là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đặt vấn đề Trung Quốc giúp Việt Nam 3 việc: Mong Trung Quốc giúp hệ thống binh xưởng của Việt Nam để xây dựng nền công nghiệp quốc phòng; Đề nghị Trung Quốc giúp đào tạo lực lượng không quân, trước hết là xây dựng một trung đoàn không quân tiêm kích; giúp Việt Nam xây dựng một sân bay quân sự cấp 1, địa điểm được khảo sát là Hà Nội Tuy nhiên 3 đề nghị nêu trên đều bị bác bỏ, phía Trung Quốc không muốn Việt Nam chuẩn bị cơ sở để tiến lên đấu tranh vũ trang ở miền Nam

Năm 1962, phong trào đấu tranh vũ trang ở miền Nam phát triển, từ khởi nghĩa quần chúng tiến hành chiến tranh cách mạng Chủ trương của Việt Nam là thực hiện tác chiến của các binh chủng nên Việt Nam đề nghị Trung Quốc viện trợ thêm một số vũ khí, trang bị mạnh hơn để có thể đánh những đòn quyết định vào năm 1965 ở miền Nam để chuyển biến cục diện chiến tranh Trung Quốc lúc bấy giờ cũng muốn hợp tác vì họ thấy Liên Xô hình thành chủ nghĩa xét lại nên họ muốn trở thành trung tâm của cách mạng thế giới, chuyển trung tâm từ Moscow sang Bắc Kinh Tháng 2/1965, khi Mĩ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, đồng chí Lê Duẩn sang Trung Quốc xin chi viện máy bay Mig-17 nhưng Trung Quốc từ chối và yêu cầu Việt Nam sang nhờ Liên Xô, họ chỉ có thể giúp Việt Nam vũ khí bộ binh, pháo Để đưa được hàng viện trợ của Liên

Trang 24

Xô tới Việt Nam phải qua lãnh thổ Trung Quốc Bộ Chính trị Việt Nam đã xin ý kiến Trung Quốc đồng ý để nhân viên Liên Xô áp tải hàng hóa đi qua đất Trung Quốc Nhưng Trung Quốc đã không đồng ý và yêu cầu Liên Xô vận chuyển bằng đường biển, đi qua eo biển Đài Loan vào cảng Hải Phòng Cuối cùng sau thời gian bàn bạc, Việt Nam đưa ra ý kiến cử cán bộ, nhân viên sang ga địa đầu giữa biên giới Liên Xô và Trung Quốc để thay Liên Xô áp tải hàng viện trợ quân sự Liên Xô quá cảnh qua Trung Quốc, không để người Liên Xô đi qua đất nước Trung Quốc và đã được nước bạn đồng ý Như vậy, ta nhận hàng viện trợ Liên Xô bằng cách Liên Xô đưa hàng tới hai ga địa đầu: Ga phía đông là ga Gia-bai-can, bên phía Trung Quốc là ga Mãn Châu Lý

Năm 1968, khi Việt Nam mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm Mậu Thân, Johnson chấp nhận mở cuộc đàm phán Hội nghị 4 bên ở Paris Việt Nam chủ trương “vừa đánh vừa đàm” Thế nhưng thái độ của Trung Quốc rất lạnh nhạt với chủ trương đàm phán hòa bình của Việt Nam Họ không muốn Việt Nam trực tiếp đàm phán với Mĩ mà họ muốn phải thông qua họ Nếu để Việt Nam và Mĩ tự đàm phán rồi mặc cả với nhau thì Trung Quốc không có lợi Năm 1971, lúc bấy giờ Mĩ chủ trương rút quân về nước, Mĩ thấy khả năng thắng được Việt Nam là không cao nên đã đề nghị Trung Quốc bằng cách phái Kissinger sang Trung Quốc để dọn đường, ra “Thông cáo Thượng Hải” năm

1972, Mĩ đồng ý chấp nhận cho Trung Quốc vào Liên hợp quốc và giải quyết vấn đề Đài Loan Vì vậy, ông Chu Ân Lai đã sang Việt Nam và khuyên Việt Nam nên mở lối thoát danh dự cho Mĩ, chấp nhận đàm phán với Mĩ qua trung gian Trung Quốc Mặt khác để hạn chế Việt Nam đánh Mĩ, Trung Quốc bắt đầu đình chỉ viện trợ vũ khí quân sự cho Việt Nam vào năm 1971 Thông qua lời kể của nhân chứng cho chúng ta thấy được quan hệ Việt – Trung trong những năm tháng chống Mĩ có nhiều bước thăng trầm và phức tạp Nhờ sự linh hoạt, khéo léo và duy trì đường lối độc lập tự chủ, quân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi và đưa đất nước hòa bình thống nhất như ngày hôm nay

- Tác giả Nguyễn Văn Quyền có hai bài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu

Trung Quốc vào năm 2008 và 2009, “Tìm hiểu sự giúp đỡ của Trung Quốc cho

Việt Nam trong những năm đầu kháng chiến chống Mĩ cứu nước 1954 - 1964”,

Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 8 năm 2008 và “Sự giúp đỡ của Trung

Quốc đối với Việt Nam những năm 1965 - 1968”, Tạp chí Nghiên cứu Trung

Trang 25

Quốc, số 7 năm 2009 Trong bài thứ nhất, tác giả đã khát quát về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc từ khi Việt Nam đặt quan hệ ngoại giao (1950) đến năm

1954 và sự giúp đỡ của Trung Quốc cho Việt Nam trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp Bước sang những năm đầu chống Mĩ, Trung Quốc tiếp tục giúp đỡ Việt Nam trên các mặt: Giáo dục, viện trợ kinh tế - quân

sự Viết về sự giúp đỡ quân sự của Trung Quốc cho Việt Nam trong những năm

1954 – 1975, tác giả có đề cập tới một số mặt hàng như: Súng các loại, đạn dược, xe các loại, quân trang, quân dụng Đặc biệt số lượng mặt hàng viện trợ này được quy ra tấn theo từng năm, giúp người đọc có thể thấy được viện trợ của Trung Quốc theo từng năm tăng, giảm như thế nào? Tuy nhiên, bài viết vẫn chưa cung cấp số liệu viện trợ vũ khí, khí tài, quân trang, quân dụng theo từng năm Tác giả nêu chung chung sự giúp đỡ về quân sự của Trung Quốc cho Việt Nam những năm 1954 – 1964 Trong bài thứ hai tác giả đã nêu lên sự giúp đỡ của Trung Quốc cho Việt Nam trong những năm kháng chiến chống “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mĩ Trung Quốc đã giúp đỡ toàn diện cho Việt Nam trên các mặt chính trị, quân sự, xây dựng các nhà máy quốc phòng và công trình

bố phòng Tác giả có nêu rõ các loại vũ khí mà nước bạn đã viện trợ trong những năm 1965 – 1975 như: Súng các loại, pháo các loại, máy bay, xe tăng và các khí tài khác Bài viết có nói tới việc Trung Quốc đã có một số động thái gây khó khăn cho viện vận chuyển vũ khí của nước ngoài ủng hộ Việt Nam khi đi qua lãnh thổ Trung Quốc Tuy nhiên số liệu trong bài viết chưa nêu cụ thể theo từng năm Tác giả chỉ nêu khát quát về viện trợ quân trang, quân dụng của nước này cho Việt Nam trong khi đây là nước ủng hộ mặt hàng này cho Việt Nam chiếm số lượng nhiều nhất so với tất cả các nước ủng hộ Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ

- Tác giả Nguyễn Phương Hoa có bài, “Sự ủng hộ và giúp đỡ của Trung

Quốc đối với Việt Nam trong giai đoạn 1955 – 1975”, đăng trên Tạp chí Nghiên

cứu Đông Nam Á, số 2 năm 2010 Bài viết đã nêu khát quát về bối cảnh của cuộc kháng chiến chống Mĩ và sự ủng hộ về mọi mặt của Trung Quốc với cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam Sự giúp đỡ của Trung Quốc trên các mặt chính trị, kinh tế, ủng hộ về khoa học giáo dục và viện trợ quân sự Ở mỗi phần của quá trình viện trợ, tác giả chưa nêu được những con số cụ thể của từng mặt hàng Trong sự ủng hộ về khoa học giáo dục, bài viết có đề cập tới việc Trung

Trang 26

Quốc cử chuyên gia sang giúp Việt Nam tập trung vào thời kỳ miền Bắc chưa

có chiến tranh (1955 – 1965) nhưng chủ yếu là những chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế (công nghiệp – nông nghiệp) không có chuyên gia quân sự Trong lĩnh vực đào tạo, Trung Quốc nhận đào tạo học sinh cho Việt Nam chủ yếu là sinh viên thuộc khối ngành kinh tế, khoa học – giáo dục và kỹ thuật, tác giả có nhắc tới nước bạn đào tạo sinh viên quân sự nhưng không có số liệu cụ thể về vấn đề này Về việc viện trợ quân sự, tác giả chỉ đưa ra số liệu tổng quát cho cả cuộc kháng chiến chống Mĩ, mà chưa nêu được danh mục hàng viện trợ cụ thể theo từng năm Tuy nhiên, tác giả đã đưa ra được bảng số liệu viện trợ quân sự của các nước cho Việt Nam trong giai đoạn 1955 – 1975, nhằm so sánh nguồn viện trợ của Trung Quốc so với các nước khác Bài viết còn nhắc tới một số hành động của Trung Quốc đã gây trở ngại cho cuộc kháng chiến của quân dân ta như khi đế quốc Mĩ có ý định mở rộng chiến tranh, tháng 1 – 1965, qua thông điệp của Mao Trạch Đông với nhà báo E Snow về việc Trung Quốc không can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến tranh Việt Nam, Mĩ đã yên tâm mở rộng chiến tranh với hành động táo tợn hơn Trung Quốc muốn dùng Việt Nam để tăng tầm ảnh hưởng của mình, đối trọng với Liên Xô, giữ thế chủ động trong đàm phán với

Mĩ về vấn đề Đài Loan

- Tác giả Nguyễn Phương Hoa có bài “Quan hệ Trung – Việt trong thời

kỳ chiến tranh lạnh (1950 – 1975)”, đăng trong Tạp chí Nghiên cứu Trung

Quốc, số 3 năm 2011 Bài viết nêu về quan hệ Việt – Trung trong hai cuộc

kháng chiến chống Pháp – Mĩ của dân tộc Việt Nam Trong suốt 25 năm, quan

hệ hai nước có những bước thăng trầm Những năm 1950 – 1964, về cơ bản quan hệ Việt – Trung vẫn tốt đẹp, khi đế quốc Mĩ nhảy vào xâm lược miền Nam, Trung Quốc ủng hộ chính trị, kinh tế, quân sự cho Việt Nam Tác giả có nhấn mạnh trong tất cả các nước viện trợ cho Việt Nam chống Mĩ, Trung Quốc

là nước duy nhất viện trợ bằng ngoại tệ Nội dung bài viết nêu rõ trong giai đoạn

1965 – 1975, do ảnh hưởng của mâu thuẫn Xô – Trung nên quan hệ Việt – Trung phát triển theo chiều hướng xấu đi, giữa hai nước xuất hiện những nghi ngờ, thiếu tin tưởng Cũng từ đó Trung Quốc giảm viện trợ cho Việt Nam, từ năm 1965 – 1968, viện trợ Trung Quốc cho Việt Nam giảm đi khoảng 40% so với thời kỳ trước đó Tác giả đã chỉ ra quan hệ của hai nước Việt Nam – Trung Quốc có nhiều thay đổi là do nước bạn điều chỉnh theo bối cảnh quốc tế Sự

Trang 27

điều chỉnh này có ảnh hưởng tới nguồn viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước Bên canh đó, tác giả đã nêu lên tác động về mặt chính trị ảnh hưởng tới nguồn viện trợ cho Việt Nam Tuy nhiên, trong bài viết này tác giả cũng không nêu rõ số liệu cụ thể về viện trợ quân sự

mà Trung Quốc đã ủng hộ Việt Nam trong giai đoạn 1955 – 1975

Có thể nói, các công trình và bài viết nêu trên của các tác giả ít nhiều đề cập đến sự ủng hộ của Trung Quốc cho cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân Việt Nam ở những vấn đề khác nhau Nhưng đến nay chưa có công trình nào nêu chi tiết và hệ thống về các mặt hàng viện trợ quân sự, số liệu của từng hạng mục viện trợ theo các năm Số lượng chuyên gia, bộ đội tình nguyên Trung Quốc sang làm việc tại Việt Nam cũng như nước bạn xây dựng các nhà máy quốc phòng cho Việt Nam Vì vậy, đặt ra nhiệm vụ của luận án sẽ phải làm rõ những vấn đề còn thiếu nêu trên

1 4 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến viện trợ quân sự của Liên

Xô – Trung Quốc cho Việt Nam trong những năm 1954 – 1975

Tuy không nghiên cứu trực tiếp về viện trợ của Liên Xô hay viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ nhưng những công trình dưới đây đều đề cập tới viện trợ của các nước XHCN nói riêng, Liên Xô – Trung Quốc nói chung

- Tác giả Nguyễn Văn Quyền có bài “Tìm hiểu sự giúp đỡ của các nước

xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam giai đoạn 1954 – 1964”, đăng trên Tạp chí Lịch

sử quân sự, số 10 năm 2008 Bài viết nêu lên bối cảnh của cuộc kháng chiến chống Mĩ, quá trình thiết lập mối quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa từ năm 1954 – 1964 và sự giúp đỡ của các nước này cho Việt Nam trong giai đoạn trên Trong 10 năm đầu của cuộc kháng chiến, các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ toàn diện với Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự Trong lĩnh vực kinh tế, các nước xã hội chủ nghĩa giúp Việt Nam chủ yếu là máy móc, thiết bị nhằm khôi phục và phát triển 25 xí nghiệp, khôi phục hệ thống đường sắt, bến tàu, tu sửa cầu đường… Trong lĩnh vực chính trị là những lời lên án chiến tranh xâm lược của đế quốc Mĩ và tuyên

bố ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta Về quân sự, viện trợ của các nước

xã hội chủ nghĩa trong 10 năm đầu vẫn chưa nhiều, một số mặt hàng như: Hàng

kỹ thuật, hàng quân trang, quân dụng Các nước xã hội chủ nghĩa còn cử

Trang 28

chuyên gia sang giúp Việt Nam xây dựng các công trình quốc phòng, dân sinh Tuy nhiên, số liệu viện trợ trong bài viết là số liệu chung của các nước xã hội chủ nghĩa, của cả giai đoạn 1954 – 1964 mà chưa nêu cụ thể viện trợ theo từng nước, từng năm Tác giả có nhấn mạnh Liên Xô – Trung Quốc là hai nước viện trợ nhiều nhất và đưa ra con số viện trợ chung của cả giai đoạn Do đó, việc phân biệt nước nào, mặt hàng nào viện trợ nhiều nhất cho Việt Nam trong những năm trên là việc tác giả luận án cần làm rõ

- Nguyễn Văn Quyền, “Sự lãnh đạo của Đảng về tranh thủ sự giúp đỡ

của các nước xã hội chủ nghĩa trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước từ năm 1954 đến 1968”, Luận văn thạc sĩ Lịch sử tại Học viện Chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh năm 2009 Nội dung luận văn chủ yếu trình bày về sự lãnh đạo tài tình của đảng trong việc đặt quan hệ ngoại giao với nước ngoài trong những năm tháng chống Mĩ Đảng đã tranh thủ được sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa cho cuộc kháng chiến chống Mĩ Sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam là toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa – giáo dục và quân sự

Trong lĩnh vực giáo dục, luận văn có nhấn mạnh hợp tác giáo dục giữa Việt Nam với Liên Xô và Trung Quốc trong việc hai nước này đào tạo chuyên gia kỹ thuật, chuyên gia quân sự cho Việt Nam với mục đích phục vụ cuộc kháng chiến chống Mĩ Trong vấn đề viện trợ quân sự, tác giả làm rõ những mặt hàng mà các nước xã hội chủ nghĩa ủng hộ gồm súng, đạn, pháo, xe tăng, máy bay và các công trình thiết bị toàn bộ Tác giả còn nhấn mạnh giai đoạn nào Việt Nam nhận được sự giúp đỡ nhiều nhất của các nước Nước nào viện trợ nhiều nhất cho Việt Nam trong thời gian trên Tuy nhiên, do nội dung của luận văn là

sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam nên việc từng nước viện trợ quân sự cho Việt Nam cũng như số liệu về các mặt hàng trong viện trợ quân sự được tác giả nêu lên một cách tổng hợp của cả giai đoạn mà chưa phân tích theo từng năm, mặc dù tác giả có nhấn mạnh những năm 1965 – 1968, Việt Nam nhận được nhiều nhất từ các nước xã hội chủ nghĩa và Liên Xô – Trung Quốc là hai nước đi đầu trong nguồn viện trợ này

- Bài viết“Viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam

trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954 – 1975)” in trong - Đại thắng mùa xuân 1975 sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thời đại Hồ Chí Minh của

Trang 29

tác giả Nguyễn Văn Quyền, được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân Hà Nội ấn hành năm 2011 Viết về sự giúp đỡ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam trong kháng chiến, những số liệu trong bài viết là con số chung của các nước anh em và chưa nêu cụ thể theo từng nước Trong bài tác giả đã nhấn mạnh vai trò, tác dụng của nguồn viện trợ đối với cuộc kháng chiến của Việt Nam như tăng cường trang bị, các loại vũ khí hiện đại cho bộ đội địa phương,

bộ đội chủ lực Việt Nam ở hai miền Nam – Bắc bao gồm: Súng các loại, pháo

và cối mặt đất, xe tăng và xe bọc thép, súng máy cao xạ, tên lửa và máy bay Tất cả những loại vũ khí này đã giúp quân và dân hai miền Nam – Bắc đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của Mĩ, giành nhiều thắng lợi vẻ vang Tuy nhiên, như trên đã nêu, số liệu trong bài viết là những con số chung mà các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ cho Việt Nam trong 21 năm Khiến cho người đọc chưa thể biết cụ thể được từng năm hay từng giai đoạn các nước bạn ủng hộ Việt Nam như thế nào?

- Tác giả Trần Tiến Hoạt có bài“Tiếp nhận và sử dụng nguồn chi viện lớn

của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp chống

Mĩ, cứu nước” – in trong cuốn Đại thắng mùa xuân năm 1975 bản lĩnh và trí tuệ

Việt Nam, do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân Hà Nội ấn hành năm 2011 Bài viết nêu lên chủ trương, đường lối của cách mạng Việt Nam trong việc tranh thủ

sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em cho cuộc kháng chiến chống

Mĩ Phương châm của Việt Nam hiện nay là: “Tự lực cánh sinh là chính, việc các nước bạn giúp ta là phụ Các nước bạn giúp ta cũng như thêm vốn cho ta… Song nhân dân và cán bộ ta tuyệt đối chớ vì bạn ta giúp nhiều mà đâm ra ỷ lại” (trang 312) Tác giả nêu tổng số hàng viện trợ quân sự của Liên Xô – Trung Quốc ủng hộ Việt Nam những năm 1955 – 1975 và sự thông minh, linh hoạt của quân và dân ta trong việc sử dụng các loại vũ khí này nhằm chống trả lại các đợt tấn công bằng máy bay B52, F4C… của Mĩ trên bầu trời Việt Nam Tuy nhiên,

ở phần viện trợ quân sự, tác giả dừng lại ở tổng số liệu viện trợ trong 20 năm là bao nhiêu tấn, quy đổi ra rúp là bao nhiêu? mà chưa nêu rõ viện trợ cụ thể từng năm, từng giai đoạn và mặt hàng cụ thể

- Tác giả Đặng Phong năm 2011 đã cho ấn hành cuốn “5 đường mòn Hồ

Chí Minh trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nước, đó là những con đường

Trang 30

huyết mạch, quyết định đến cuộc sống còn của cuộc kháng chiến như: Đường trường sơn, đường ống xăng dầu, đường vận chuyển quá cảnh, đường Hồ Chí Minh trên biển, binh chủng tiền và những con đường chuyển ngân Những con đường này có những công việc đặc thù riêng nhưng chung quy lại là vận chuyển hàng hóa, thuốc men, lương thực của các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ cho Việt Nam trong chống Mĩ Với đường Hồ Chí Minh trên biển, con đường vận tải quan trọng bằng đường thủy, thông qua sách người đọc có thể biết được một số cửa biển và một số nơi giao nhận vũ khí của Việt Nam cho kháng chiến Trong kháng chiến chống Mĩ, Trung Quốc là nước duy nhất viện trợ bằng ngoại tệ cho Việt Nam Việt Nam sẽ giải ngân số lượng ngoại tệ này như thế nào, cuốn sách đã nêu lên những hình thức chuyển ngân Tác giả cung cấp cho người đọc con đường vận tải, những cửa biển, những nhà ga mà Việt Nam nhận và giao vũ khí, lương thực của các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ cho kháng chiến Tuy nhiên, do nội dung sách chủ yếu viết về những đường mòn Hồ Chí Minh nên hầu như ít có số liệu viện trợ của các nước cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ

- Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hoa có bài “Góp phần tìm hiểu về sự ủng

hộ, giúp đỡ của các nước châu Âu đối với Việt Nam năm 1966 qua báo Nghệ

hợp các bài báo viết về sự ủng hộ của các nước châu Âu cho Việt Nam trong chống Mĩ Cụ thể là giúp đỡ Việt Nam vào năm 1966 khi Mĩ đang thực hiện cuộc khiến tranh cục bộ, bài viết không chỉ nêu lên chủ trương của Đảng về tăng cường sự ủng hộ và tăng cường sự đoàn kết quốc tế chống Mĩ, tác giả còn khảo cứu các bài viết về sự giúp đỡ của châu Âu đối với Việt Nam năm 1966 trên báo Nghệ An Nội dung bài viết gồm hai phần Phần thứ nhất là ủng hộ về mặt tinh thần được đăng trên các báo của Tây Đức, Liên Xô, Hungari Đó là, nhân dân yêu chuộng hòa bình của các nước châu Âu đã kịch liệt lên án, phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ đối với Việt Nam, đồng thời nêu lên thực trạng bế tắc, bị động về chiến lược của các thế lực hiếu chiến Hoa Kỳ khi thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” Phần thứ hai, chính phủ, nhân dân một số nước châu Âu đã lên tiếng ủng hộ, giúp đỡ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam với nhiều hình thức: bằng những lời tuyên bố, những cuộc mít

Trang 31

tinh, biểu tình, quyên góp vật chất… diễn ra liên tục mạnh mẽ mà trước hết là nhân dân các nước Liên Xô, Đông Âu

Ở phần này, trước hết tác giả nhấn mạnh sự ủng hộ về tinh thần của nhân dân Liên Xô được đăng trên báo Nghệ An các số 504; 505; 511; 521… và ủng

hộ vật chất cụ thể thuốc men, dụng cụ y tế, xe cứu thương, phương tiện giao thông Sau đó là ủng hộ của các nước Cộng hòa Dân chủ Đức, nhân dân Hungari, Chính phủ Tiệp Khắc, nhân dân Ba Lan, Rumani, Pháp, Rôma… Do đặc thù của bài viết là tập hợp sự ủng hộ của các nước thông qua báo Nghệ An nên có một số hạn chế vì các Hiệp định viện trợ hoặc nguồn viện trợ của nước ngoài cho Việt Nam chỉ được tiết lộ phần nào Mặt khác sự giúp đỡ về quân sự của Liên Xô cho Việt Nam năm 1966 rất lớn nhưng thông qua những bài báo tập hợp ở trên thì nguồn viện trợ của Liên Xô rất hạn chế Tuy nhiên, thông qua việc bài viết, giúp người đọc có cái nhìn toàn diện hơn về sự ủng hộ của thế

giới cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước

- Bài viết “Tác động của nhân tố Mĩ đối với quan hệ Việt – Trung”, của

tác giả Nguyễn Phương Hoa đăng trong Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 7 năm 2013 Bài viết có nội dung chủ yếu về những tính toán của Mĩ - Trung đã tác động tới cuộc kháng chiến chống Mĩ của Việt Nam Những năm 1969 –

1972, lợi dụng mâu thuẫn Xô – Trung vẫn diễn ra quyết liệt Mĩ đã đẩy mạnh quan hệ với Trung Quốc, vì muốn giải quyết vấn đề Đài Loan và có ghế ở Liên Hợp quốc, Trung Quốc đã xích gần hơn với Mĩ Sự kiện này gây không ít khó khăn cho cuộc kháng chiến chống Mĩ của Việt Nam trong khi Trung Quốc là một trong những nước viện trợ cho Việt Nam nhiều nhất Vì thế những năm

1969 – 1972, viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam giảm hẳn, năm 1969 xuống 40%, năm 1970 xuống hơn 50% so với năm 1968 Đó cũng là giải thích nguyên nhân tại sao viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam có lúc tăng giảm Tuy nhiên tác giả bài biết không nói về số liệu viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam trong những năm Trung – Mĩ xích lại gần nhau Người đọc chỉ biết được con số chung chung mà không có con số cụ thể nên rất khó hình dung được viện trợ quân sự của Trung Quốc cho Việt Nam giảm như thế nào?

- Tác giả Phạm Quang Minh với công trình Quan hệ tam giác Việt Nam –

Trang 32

phẩm viết mối quan hệ tay ba giữa các nước Việt Nam – Liên Xô – Trung Quốc trong cuộc trong cuộc kháng chiến chống Mĩ Quan hệ giữa Việt Nam – Liên Xô; Việt Nam – Trung Quốc có những bước thăng trầm Nếu như những năm

1954 – 1964, Trung Quốc đóng vai trò quan trọng hơn đối với Việt Nam so với Liên Xô thì trong giai đoạn tiếp theo từ năm 1965 – 1972, khi Mĩ đưa quân trực tiếp tham chiến và mở rộng ra miền Bắc, có thay đổi trong bộ máy lãnh đạo Liên Xô, vai trò của Trung Quốc đối với Việt Nam không còn được như giai đoạn đầu Từ năm 1973 – 1975, quan hệ Việt – Xô – Trung đã có những thay đổi so với hai giai đoạn trước Trong khi quan hệ Việt – Xô tiếp tục được tăng cường, chặt chẽ thì quan hệ Việt – Trung bắt đầu rạn nứt và xung đột Mối quan

hệ tam giác trên đã tác động rất lớn tới cuộc chiến của Việt Nam khi mà hai nước này viện trợ chủ yếu cho Việt Nam kháng chiến chống Mĩ Tác phẩm có

đề cập đến viện trợ chung của Liên Xô – Trung Quốc cho Việt Nam qua các thời kỳ nhưng không đi cụ thể theo các năm và từng loại mặt hàng viện trợ Trên cơ sở nghiên cứu của tác giả, dựa trên mối quan hệ thăng trầm của Việt –

Xô – Trung trong kháng chiến chống Mĩ, tác giả luận án sẽ làm rõ hơn nguồn viện trợ quân sự của Liên Xô, Trung Quốc tăng giảm theo mối quan hệ nêu trên

- Tác giả Hồ Khang năm 2016 đã cho ấn hành cuốn Kháng chiến chống

Mỹ, cứu nước (1954 – 1975) một số vấn đề quân sự - ngoại giao, Nhà xuất bản

Quân đội nhân dân, Hà Nội Công trình là sự dày công nghiên cứu của tác giả về lĩnh vực quân sự, ngoại giao của Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ Bên cạnh tóm lược về bối cảnh lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mĩ, tác giả tập trung viết về mặt trận ngoại giao của Việt Nam ở những khía cạnh như: Tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, sách lược “đánh – đàm” và liên minh chiến đấu ba nước Đông Dương Trong phần đề cập đến Việt Nam tranh thủ sự giúp đỡ của Liên

Xô, Trung Quốc và các nước XHCN Tác giả trình bày khá chi tiết sự ủng hộ về chính trị, về kinh tế của Liên Xô, Trung Quốc cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ Hai nước Xô – Trung đã cử những chuyên gia giỏi có chuyên môn cao thuộc những lĩnh vực kinh tế, khoa học trực tiếp sang Việt Nam giúp đỡ xây dựng, phát triển các lĩnh vực kinh tế - văn hóa trọng yếu góp phần không nhỏ trong công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và kháng chiến ở miền Nam Một

số vấn đề về quân sự, trước hết tác giả tập khái quát chung các loại vũ khí của Liên Xô – Trung Quốc cho Việt Nam Ngoài một số vũ khí thông thường, Liên

Trang 33

Xô viện trợ cho Việt Nam những vũ khí hiện đại như: Máy bay, xe tăng, xe bọc thép, tên lửa, pháo phòng không Tác giả nhấn mạnh từ những năm 1965, Liên

Xô đẩy mạnh viện trợ cho Việt Nam, Việt Nam nhận viện trợ nhiều nhất vào hai năm 1965, 1967 Tuy nhiên, tác giả chỉ đưa tổng số liệu qua các giai đoạn chiến tranh chứ không đi vào cụ thể từng năm và số lượng mặt hàng Liên Xô viện trợ theo từng năm cho Việt Nam Trong phần giúp đỡ về chuyên gia quân sự cho Việt Nam, tác giả nêu rõ thành phần chuyên gia quân sự Liên Xô sang giúp Việt Nam trong lĩnh vực phòng không nhưng không đi chi tiết số lượng chuyên gia sang Việt Nam theo các năm

Riêng với sự giúp đỡ về quân sự của Trung Quốc, tác giả nêu tổng kết số lượng viện trợ theo giai đoạn 1954 – 1964 và 1965 – 1975, cho người đọc biết được con số chung của nguồn viện trợ quân sự Tóm lại, công trình là nguồn tư liệu quý báu giúp tác giả luận án tham khảo, khai thác những tư liệu cần thiết phụ vụ cho công trình nghiên cứu của mình Do giới hạn phạm vi nghiên cứu của công trình tập trung về một số vấn đề quân sự - ngoại giao trong kháng chiến chống Mĩ, cứu nước của dân tộc Việt Nam nên việc làm rõ số lượng các loại vũ khí, khí tài, số lượng và thành phân chuyên gia quân sự của hai nước Liên Xô – Trung Quốc ủng hộ Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước

là nhiệm vụ của tác giả luận án

- Tác giả Nguyễn Văn Quyền “Việt Nam tranh thủ nguồn viện trợ quân

sự của các nước xã hội chủ nghĩa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Nam Luận án viết về đường lối, chính sách ngoại giao của Nhà nước Việt Nam trong việc kêu gọi sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa cho cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân Việt Nam Qua đó luận án nêu bật được sự giúp

đỡ về quân sự của các nước XHCN cho Việt Nam bao gồm vũ khí, khí tài, quân trang, quân dụng Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của luận án là các nước XHCN nên tác giả trình bày sự giúp đỡ chung, không nghiên cứu chi tiết cụ thể của từng nước Đối với Liên Xô, Trung Quốc là hai nước viện trợ chủ yếu cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ nhưng tác giả chỉ nghiên cứu ở mức khái quát theo giai đoạn, không nêu sự giúp đỡ về quân sự chi tiết theo từng năm Ở mức độ tìm hiểu, nghiên cứu tác giả kế thừa từ công trình luận án về cách tiếp

Trang 34

cận đối tượng nghiên cứu cũng như kết quả chung viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc theo các giai đoạn cụ thể

Như vậy, tất cả những công trình nêu trên phần nào đó đều đề cập đến viện trợ Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ Đó là sự ủng hộ về chính trị của các nước dân chủ, những lực lượng tiến bộ trên thế giới và ủng hộ về kinh tế, quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em Tuy nhiên, trong bài viết, các tác giả chỉ nêu con số chung trong viện trợ quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam, chưa nêu

rõ viện trợ cụ thể các mặt hàng của Liên Xô và Trung Quốc Đó chính là nhiệm

vụ cho tác giả luận án với đề tài“Việt Nam tiếp nhận viện trợ quân sự của Liên

làm rõ những vấn đề nêu trên

1.5 Những công trình tác giả nước ngoài nghiên cứu về viện trợ của Liên

Xô – Trung Quốc cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 – 1975)

Nghiên cứu về viện trợ quân sự của Liên Xô, Trung Quốc cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954 – 1975) là đề tài được nhiều tác giả ngoài nước quan tâm Mỗi tác giả nghiên cứu ở những vấn đề khác nhau của mối quan hệ Việt Nam, Liên Xô, Trung Quốc cũng như nguồn viện trợ hai nước này cho Việt Nam Tựu chung lại có một số công trình tiêu biểu như sau:

- Tác giả Lý Kiện, người Trung Quốc, năm 1992 đã cho xuất bản cuốn

Sự thật về sáu cuộc chiến tranh chống xâm lược của nước Trung Hoa mới, Nhà

xuất bản Phát thanh và truyền hình Trung Quốc Sách phản ánh toàn cảnh 6 cuộc chiến tranh chống xâm lược do quân đội Trung Quốc tiến hành sau khi dựng nước (chống Mĩ giúp Triều, phản kích tự vệ chống Ấn Độ, giúp Việt Nam chống Pháp và chống Mĩ…) Trước hành động xâm lược Việt Nam của đế quốc

Mĩ, theo lời kêu gọi của Chính phủ Việt Nam, Chính phủ và quân đội Trung Quốc đã cử đội quân chí nguyện gồm pháo binh, bộ đội công trình, bộ đội đường sắt, thông tin, hải quân, không quân, vận tải hậu cần, giúp nhân dân Việt Nam chống xâm lược Mĩ Bộ đội công trình Trung Quốc đã giúp Việt Nam xây dựng công sự phòng ngự trên các đảo phía Bắc, Hải Phòng, Hòn Gai – các thành phố ven biển và châu thổ sông Hồng, xây dựng và cứu chữa 7 trục đường

Trang 35

bộ trải dài trên miền Bắc và sân bay Yên Bái… đồng thời, bộ đội cao xạ và các đơn vị phòng không thuộc các chi đội công trình Trung Quốc đã chiến đấu quên mình bắn rơi nhiều máy bay Mĩ xâm lược Tác phẩm cho thấy toàn cảnh lực lượng bộ đội tình nguyện Trung Quốc giúp đỡ Việt Nam xây dựng các công trình bố phòng, các tuyến đường phục vụ kháng chiến nhưng chưa nêu được sự giúp đỡ của Chính phủ Trung Quốc ở nguồn vũ khí, khí tài, quân trang quân dụng cho Việt Nam

- Tác giả Ilyav.Gaiduk, người Nga là tác giả cuốn Liên bang Xô Viết và

chiến tranh Việt Nam, được Nhà xuất bản Công an nhân dân Hà Nội ấn hành

năm 1998 Sách nói về nguồn viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ, đặc biệt nhấn mạnh sự giúp đỡ về các mặt quân sự, đào tạo cố vấn và chuyên gia quân sự cho Việt Nam thời kì 1965 - 1975 Tác giả còn chỉ ra mặt trái của nguồn viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam, xem chiến trường Việt Nam là nơi thử nghiệm các loại vũ khí hiện đại của Liên Xô Nội dung cuốn sách đã giúp người đọc kế thừa được những số liệu về nguồn viện trợ quân sự,

cố vấn và đào tạo chuyên gia quân sự cho Việt Nam Tuy nhiên, tác giả cuốn sách chưa phân tích rõ các mặt hàng quân sự theo từng năm và theo chủng loại Nên khó có thể biết được nước bạn viện trợ bao nhiêu cho Việt Nam và giai đoạn nào Việt Nam nhận được nhiều nhất viện trợ của Liên Xô

- Qiang Zhai, người Trung Quốc là tác giả cuốn China and Vietnam

University of Carolina Press, 2000 Tác giả chủ yếu tập trung về vấn đề Trung Quốc và cuộc chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1950 – 1975 Tác phẩm cung cấp những kiến thức về đồng minh xã hội chủ nghĩa (Trung Quốc) ủng hộ Việt Nam trong kháng chiến, ủng hộ về vật chất, tinh thần, kinh tế, quân sự và những tính toán của Trung Quốc trong việc ủng hộ Việt Nam chống đế quốc Mĩ Mâu thuẫn

Xô – Trung đã ảnh hướng tới cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam

- Tác giả John Prados, người Mĩ có bài“Quan hệ Việt – Trung – Xô sau

ngày Mĩ đổ quân vào miền Nam và ném bom hủy diệt miền Bắc”, đăng trong

Tạp chí Xưa và Nay, số 241 năm 2005 Góc nhìn từ phía bên kia của tác giả khi viết về mối quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mĩ Năm 1965 khi Mĩ tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đổ bộ quân đội viễn chinh và tăng cường bắn phá miền Bắc Việt Nam, hơn

Trang 36

lúc nào hết Việt Nam rất cần sự viện trợ của nước ngoài và Liên Xô – Trung Quốc là hai nước ủng hộ nhiều nhất cho Việt Nam Tác giả bài viết nêu lên vấn

đề trong lúc hai nước Xô – Trung đang mâu thuẫn với nhau nhưng đều tham gia ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt Nam Thực chất ủng hộ Việt Nam chống Mĩ một mặt vì tinh thần quốc tế vô sản, mặt khác cả Xô – Trung đều muốn tranh giành ảnh hưởng của mình ở Việt Nam nói riêng và các quốc gia đang gương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc nói chung Vì thế những năm 1965 – 1968, Việt Nam đã nhận được rất nhiều nguồn viện trợ từ Liên Xô và Trung Quốc từ những loại vũ khí thông thường như: Pháo, súng, đạn dược, quân trang, quân dụng đến những vũ khí hiện đại như máy bay Mig, tên lửa, xe bọc thép Từ những bộ đội tình nguyện của Trung Quốc sang làm đường và xây dựng các công trình quốc phòng, bố phòng đến những chuyên gia về máy bay, tên lửa của Liên Xô Tiếc rằng các số liệu về nguồn viện trợ của hai nước Xô – Trung cho Việt Nam số lượng là bao nhiêu, tăng giảm giữa các năm ra sao thì không nhiều, thậm chí là rất ít

- Mari Olsen, người Mĩ tác giả cuốn “Soviet – Vietnam relations and the

Quốc 1949 – 1964, thay đổi các liên minh), tác phẩm được tập đoàn Routledge xuất bản lần đầu vào năm 2006 tại New York Cuốn sách có nội dung chủ yếu

về quan hệ của các nước lớn với Việt Nam nói riêng và các nước trên bán đảo Đông Dương nói chung Trong đó tập trung vào chiến tranh Việt Nam, từ vấn

đề trong Hội nghị Gieneva tới cuộc kháng chiến chống Mĩ Hai nước Liên Xô

và Trung Quốc rất quan tâm tới Việt Nam, nhiều cuộc gặp gỡ, tiếp xúc đã diễn

ra Cả hai nước Xô – Trung đều muốn giành một vị trí, vai trò của mình trong phong trào cộng sản quốc tế nên đã ủng hộ cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân Việt Nam

Tất cả những công trình và bài viết nêu trên đều đề cập đến một số vấn

đề về viện trợ quân sự của Liên Xô – Trung Quốc cho Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ Tuy nhiên chưa có công trình nào nêu chi tiết được nguồn viện trợ quân sự của hai nước trên, các số liệu chỉ nêu ở những mức độ khát quát, chưa đi chi tiết nguồn viện trợ của nước bạn theo từng năm

Trang 37

1.6 Kết luận về tình hình nghiên cứu đề tài và nhiệm vụ của luận án

Quan hệ Việt Nam với Liên Xô, Việt Nam với Trung Quốc là mảng đề tài phong phú, được sự quan tâm của nhiều tác giả trong và ngoài nước từ trước cho tới nay Mỗi tác giả trình bày những nghiên cứu khác nhau trong vấn đề này như: Nghiên cứu về quan hệ giữa ba nước Việt – Trung – Xô giai đoạn 1954 - 1975; Nghiên cứu về viện trợ của hai nước này cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước cũng như những chiến lược riêng của hai nước khi tham gia ủng hộ Việt Nam chống Mĩ

Có một số tác giả đi sâu, giải quyết một số vấn đề của viện trợ quân sự như tác giả Nguyễn Thị Mai Hoa, Nguyễn Phương Hoa, Đỗ Thanh Bình, Trịnh Vương Hồng, Nguyễn Văn Quyền… và một số tác giả nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam

Nhìn chung những bài viết liên quan trực tiếp tới đề tài hay có liên quan đều nghiên cứu các vấn đề về quân sự trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 – 1975) Trên cơ sở tham khảo các bài viết, tác giả quyết định đi sâu, tìm hiểu về tiếp nhận viện trợ quân sự của Việt Nam khi được Liên Xô, Trung Quốc viện trợ trong kháng chiến chống Mĩ

Nội dung của các bài viết, công trình đều chỉ rõ bối cảnh, nguồn gốc mà

Mĩ gây ra cuộc chiến tranh Việt Nam, đường lối quân sự, sách lược của Việt Nam thay đổi theo bối cảnh mới của tình hình thế giới và trong nước lúc bấy giờ

Hầu hết các công trình đều có đề cập đến viện trợ về quân sự của Liên

Xô – Trung Quốc cho Việt Nam trong chống Mĩ Thậm chí một số tác giả còn nêu rõ một số loại vũ khí, khí tài mà hai nước Xô – Trung giúp đỡ Việt Nam

Một số tác giả đã giải thích được vì sao viện trợ quân sự của Liên Xô, Trung Quốc cho Việt Nam trong những năm 1954 – 1975 có những lúc tăng giảm

Một số công trình có đề cập tới mặt trái của quá trình viện trợ của nước ngoài cho Việt Nam Vì mâu thuẫn Xô – Trung, với tư tưởng của nước lớn nên

cả hai nước Liên Xô và Trung Quốc đều muốn nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế, muốn lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc nên họ đều ủng hộ Việt Nam

Trang 38

Một số bài viết nêu lên được những khó khăn của Trung Quốc gây ra cho Việt Nam khi hàng viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa đi qua nước này Chính phủ Trung Quốc yêu cầu các nước viện trợ phải trực tiếp làm thủ tục cho từng chuyến hàng

Trên cơ sở kế thừa những nội dung có liên quan ít nhiều đến luận án, trong các công trình nêu trên, tác giả nhận thấy, hầu hết các công trình chủ yếu đưa ra con số tổng quát mà rất thiếu số liệu cụ thể về số lượng vũ khí, khí tài, quân trang, quân dụng của Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ Việt Nam trong chống Mĩ theo từng năm Chưa có công trình, bài viết nào viết rõ số lượng và chuyên môn cụ thể của các chuyên gia Liên Xô làm việc tại Việt Nam

Các công trình, bài viết chưa làm rõ được trong những năm chống Mĩ, cứu nước, thời gian nào Việt Nam cần vũ khí nhất, những chiến dịch nào Việt Nam sử dụng vũ khí viện trợ phát huy tác dụng nhất

Tất cả các công trình nêu trên còn thiếu vắng vấn đề không kém phần quan trọng, đó là để hàng viện trợ về tới chiến trường, Việt Nam đã phải vận chuyển như thế nào? Những nhà ga, bến cảng nơi tập kết nằm ở đâu? Vận chuyển vào chiến trường miền Nam bằng con đường và phương tiện gì?

Trên cơ sở đó, tác giả luận án cần giải quyết các vấn đề sau:

- Cơ sở của viện trợ quân sự và tiếp nhận viện trợ quân sự ở Việt Nam trong chiến tranh

- Hoạt động tiếp nhận viện trợ quân sự của Liên Xô qua các giai đoạn kháng chiến

- Hoạt động tiếp nhận viện trợ quân sự của Trung Quốc qua các giai đoạn kháng chiến

- Thống kê số lượng từng loại vũ khí, khí tài, quân trang, quân dụng theo từng năm mà Liên Xô và Trung Quốc đã giúp Việt Nam Làm rõ số lượng, chuyên môn của chuyên gia quân sự Liên Xô sang Việt Nam làm việc trong những năm tháng chống Mĩ

- Hệ quả tiếp nhận viện trợ quân sự của Liên Xô, Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước của Việt Nam

Trang 39

Chương 2

CƠ SỞ TIẾP NHẬN VIỆN TRỢ QUÂN SỰ CỦA VIỆT NAM TRONG

KHÁNG CHIẾN CHỐNG MĨ CỨU NƯỚC (1954 – 1975)

2.1 Bối cảnh quốc tế và tình hình, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trước âm mưu thủ đoạn của Mĩ trong chiến lược toàn cầu

2.1.1 Bối cảnh quốc tế

Sau một thời gian tiến hành chiến tranh lạnh và chạy đua vũ trang, hai khối quân sự NATO và Vácsava bắt đầu chững lại, thay vào đó là thời kỳ hoà hoãn tạm thời giữa hai cường quốc Mĩ và Liên Xô Sự hoà hoãn “Xô - Mĩ” đã tác động sâu sắc đến nội bộ hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Mâu thuẫn Liên Xô - Trung Quốc từ chỗ ngấm ngầm đi đến bộc lộ công khai từ năm

1956 Từ sự rạn nứt Xô – Trung dẫn đến nhiều sự bất đồng trong nội bộ các nước XHCN khác và đó cũng chính là nguyên nhân làm suy yếu hệ thống XHCN

Sự chia rẽ trong nội bộ phe XHCN chẳng những làm suy yếu lực lượng cách mạng thế giới mà còn làm phức tạp hoá tình hình quan hệ quốc tế, gây bất lợi cho phong trào giải phóng dân tộc và phong trào đấu tranh vì hoà bình hữu nghị giữa các dân tộc Mâu thuẫn Xô - Trung đã được đế quốc Mĩ tập trung khai thác nhằm phá hoại phong trào cộng sản quốc tế và trên cơ sở khoét sâu ngăn cách Liên Xô và Trung Quốc, Mĩ hy vọng sẽ hạn chế sự giúp đỡ của các nước này đối với Việt Nam - một nước đang đối đầu với Mĩ

Do đó, Việt Nam trở thành điểm nóng của thế giới, nơi tập trung những mâu thuẫn của hai hệ thống (CNTB và CNXH); đồng thời vị trí, vai trò của Việt Nam có ảnh hưởng đến quyền lợi với ba cường quốc: Liên Xô - Trung Quốc và

Mĩ Có một điều, dù không muốn đối đầu trực tiếp với Mĩ nhưng cả Liên Xô và Trung Quốc đều muốn lôi kéo lực lượng trong phe XHCN và Phong trào không liên kết về phía mình Do đó, Liên Xô và Trung Quốc không thể không ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam - một nước đang giương cao ngọn cờ chống xâm lược, đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc và có nhiều uy tín với các quốc gia mới trỗi dậy Trong quan hệ với Mĩ, Việt Nam chính là nhân tố quan trọng mà hai nước Liên Xô, Trung Quốc đều muốn nắm lấy “làm đối trọng” trong các cuộc thương

Trang 40

thuyết bí mật Trong khi đó, cuộc kháng chiến chống Mĩ xâm lược, bên cạnh sự đồng lòng của toàn dân thì sự giúp đỡ của các nước trong phe XHCN cho Việt Nam có ý nghĩa vô cùng quan trọng

Vấn đề Việt Nam trong tầm nhìn chiến lược giữa Liên Xô, Trung Quốc,

Mĩ cũng có sự toan tính riêng của mỗi nước

Liên Xô là nước đứng đầu phe XHCN, sau khi Stalin mất, N.Khơrútsốp lên thay, đường lối chiến lược của Liên Xô đã có sự thay đổi lớn theo hướng hoà hoãn phương Tây, ép một số Đảng cộng sản đi theo hướng của mình dẫn đến

sự bất đồng trong nội bộ các nước anh em Thực hiện xu hướng hoà hoãn, chủ trương của Liên Xô là tránh đụng chạm đến những nơi có mặt của người Mĩ Mặt khác, Liên Xô còn lo ngại Việt Nam sẽ theo Trung Quốc chống lại mình

Do đó, trong những năm 1954 - 1960, vấn đề Việt Nam ít được Liên Xô chú ý

Đối với Trung Quốc, vị trí của Việt Nam ngay từ đầu đã được xác định là một mắt xích trọng yếu của Bắc Kinh Mặc dù là một nước lớn nhưng Trung Quốc thực sự yếu thế trước hai cường quốc Liên Xô và Mĩ Để khẳng định vị thế của mình, một mặt Trung Quốc tích cực tham gia vào các diễn đàn chính trị quốc tế nhằm mở rộng phạm vi ảnh hưởng và tập trung vào phát triển kinh tế

Vì thế, đường lối chiến lược của Trung Quốc là tập hợp quanh mình các quốc gia mới giành được độc lập, nhất là các nước Á, Phi, Mĩ Latinh Trong quá trình tập hợp lực lượng, Trung Quốc chủ trương ủng hộ Việt Nam, lấy vấn đề ủng hộ Việt Nam làm khẩu hiệu thu phục nhân tâm Bởi “Việt Nam hiện là nước đi đầu trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Giúp Việt Nam, mặc nhiên Trung Quốc nhận được thiện cảm của các quốc gia mới trỗi dậy” [73; tr.31]

Với tính toán đó, Trung Quốc không chỉ muốn thiết lập đồng minh chiến lược chống lại Liên Xô mà còn trở thành lực lượng đối đầu với Mĩ Vì Trung Quốc muốn tạo ra khu đệm an toàn, đẩy chiến tranh ra xa biên giới

Chính từ sự tính toán riêng của mỗi nước, âm mưu muốn thâu tóm ảnh hưởng của phong trào giải phóng dân tộc về phía mình, và vì thế, dù ít hay nhiều cả Liên Xô và Trung Quốc đều tranh thủ ủng hộ Việt Nam, lôi kéo Việt Nam đứng về phía họ Đường lối chiến lược của hai nước Xô - Trung đã đặt Việt Nam vào tình thế phải chịu sức ép lớn Trong điều kiện vừa yếu về thực lực lại vừa có nhu cầu thân thiện với các nước đồng minh chủ chốt, và để có thể nhận được sự viện trợ toàn diện của cả Liên Xô và Trung Quốc, Việt Nam cần

Ngày đăng: 03/01/2021, 09:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alêchxâyxêrôp (1985), Việt Nam trong lòng Xô Viết chúng tôi , Nxb Thông tấn xã Nôvôxti, Matxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam trong lòng Xô Viết chúng tôi
Tác giả: Alêchxâyxêrôp
Nhà XB: Nxb Thông tấn xã Nôvôxti
Năm: 1985
2. Allen Hassan (2007), “Không thể chuộc lỗi”, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Không thể chuộc lỗi”
Tác giả: Allen Hassan
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2007
3. Vũ Tang Bồng (chủ biên) (2014), Vũ khí Việt Nam trong chiến tranh giải phóng , Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ khí Việt Nam trong chiến tranh giải phóng
Tác giả: Vũ Tang Bồng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2014
4. Mai Văn Bộ (1985), Tấn công ngoại giao và tiếp xúc bí mật , Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tấn công ngoại giao và tiếp xúc bí mật
Tác giả: Mai Văn Bộ
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1985
5. Nguyễn Đình Bin (chủ biên) (2005), Ngoại giao Việt Nam (1945 – 2000) , Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Việt Nam (1945 – 2000)
Tác giả: Nguyễn Đình Bin (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
6. Đỗ Thanh Bình (2001), “Sự ủng hộ của Liên Xô đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam”, in trong Chính sách đối ngoại của Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sự ủng hộ của Liên Xô đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam”," in trong "Chính sách đối ngoại của Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2001
7. Ban Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ chính trị (2005), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Pháp Xâm lược, thắng lợi và bài học, Nxb Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Pháp Xâm lược, thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ chính trị
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2005
8. Ban tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975: Thắng lợi và bài học , Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975: Thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
9. Ban tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (2000), Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975: Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị Quốc gi a, Hà Nội. 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975: Thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
10. Bộ Chính trị, Biên bản họp Bộ Chính trị (12-1965 và 1-1966), ĐVBQ.173, Cục lưu trữ Trung ương Đảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên bản họp Bộ Chính trị (12-1965 và 1-1966)
11. Bộ Ngoại giao, Phòng Lưu trữ, “Đấu tranh ngoại giao và vận động trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước”, kí hiệu TK/HC 90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đấu tranh ngoại giao và vận động trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước”
12. Bộ Quốc phòng (1994), Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 – 1954, tập 1,2, Nxb Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 – 1954
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1994
13. Bộ Quốc phòng (1997), Biên niên sự kiện lịch sử quân giới Việt Nam (1954 – 1975), Nxb Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên niên sự kiện lịch sử quân giới Việt Nam (1954 – 1975)
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1997
14. Bộ Quốc phòng, Tổng Cục Hậu cần (2001), Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975)
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Tổng Cục Hậu cần
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2001
15. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2013), Lịch sử hậu cần - kỹ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1964), tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử hậu cần - kỹ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1964)
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2013
16. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2013), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975), tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975)
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2013
17. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2013), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975), tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975)
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2013
18. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2013), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975), tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975)
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2013
19. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2013 ), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975), tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
20. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2013), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975), tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975), tập 5
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w