1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Qua nghiên cứu các bài diển ca a, b, c, d, xác định người dịch các bài diễn ca chinh phụ ngâm luận án phó tiến sĩ khoa học chuyên ngành văn học việt nam

250 48 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 250
Dung lượng 7,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1926, ông Phan Huy Chiêm, một người con cháu họ Phan ở Sơn Tây, có gửi cho cộng tác viên của tạp chí Nam phong là ông Đông châu Nguyễn Hữu Tiến một bức thư kèm theo một ít tư liệu, n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

… …

NGUYỄN VĂN DƯƠNG

QUA NGHIÊN CỨU CÁC BÀI DIỄN CA A,B,C,D, XÁC ĐỊNH NGƯỜI DỊCH CÁC BÀI DIỄN CA

CHINH PHỤ NGÂM

LUẬN ÁN PHÓ TIẾN SĨ KHOA HỌC

TP HCM - 1990

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC I LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG DẪN NHẬP 4

I Diễn biến của thể văn song thất lục bát 117

II Định thời điểm các bài diễn ca qua hai đặc tính cổ của thể song thất lục bát.

137

CHƯƠNG IV : XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM CÁC BÀI DIỄN CA A, B, C, D QUA NGHIÊN CỨU VĂN PHONG TRONG CÁC BÀI ẤY 143

Trang 4

I Về mặt từ pháp 143

Trang 5

đã không hưởng ứng chủ trương mới mẻ của học giả họ Hoàng

Mục đích của chúng tôi khi cho xuất bản sách Thử giải quyết vấn đề diễn giả Chinh phụ ngâm năm 1964, là bênh vực công trình khảo đính và hiệu đính hết sức có giá trị của ông Hoàng Xuân Hãn trong sách Chinh phụ ngâm bị khảo, theo ý chúng tôi Có điều may mắn và thuận lợi, là sau khi sách xuất bản, vấn đề

đã được chúng tôi đem ra giảng dạy khá tường tận tại hai Trường Đại học Văn khoa và Đại học Sư phạm Huế trong khoảng mười năm, cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng ; vì vậy, sách đã gây được một số ảnh hưởng nhất định trong giới sinh viên nói riêng, và trong học giới miền Nam nói chung, trong thời gian nói trên

Cũng trong năm 1964, tại Hà Nội, ông Lại Ngọc Cang cho xuất bản sách Chinh phụ ngâm; trong phân 'Khảo luận' của sách này, ông Lại Ngọc Cang đã dành trên năm mươi trang để xác nhận thuyết của Hoàng Xuân Hãn trong sách Chinh phụ ngâm bị khảo Những luận điểm của ông Lại Ngọc Cang khá sâu sắc

và xác đáng, nhưng có lẽ vì được trình bày hơi ngắn gọn, lại ra đời trong hoàn cảnh chiến tranh chống Mĩ ác liệt, cho nên sách không gây được sự chú ý lớn lao trong học giới

Theo sự hiểu biết của chúng tôi, thì, đối với học giới hiện nay, vấn đề người dịch Chinh phụ ngâm vẫn hầu như là một vấn đề hoàn toàn mới mẻ, và, từ

Trang 6

năm 1964 cho đến nay, vẫn không thiếu gì những người đứng ra bài bác thuyết Hoàng Xuân Hãn, bênh vực tục truyền, cho rằng Đoàn Thị Điểm mới là người

đã diễn ca bài Chinh phụ ngâm hiện hành

Chúng tôi thiết nghĩ sở dĩ tục truyền vẫn còn đứng vững, ấy là vì vấn đề thì hết sức phức tạp, nhưng sử sách lại mập mờ, tư liệu để tìm hiểu về vấn đề lại vô cùng hiếm hoi, cho nên trừ phi người thật chuyên môn, ít ai có điều kiện nắm đủ mọi chi tiềt của vấn đề để xét đoán một cách sâu sắc, thỏa đáng

Lần này chúng tôi lại may mắn có dịp đem đề tài mình ấp ủ bấy lâu ra trình bày trước Hội đồng chấm luận án Nhà nước Sự đóng góp của chúng tôi trong Luận án này, là lần đầu tiên đưa ra những nhận xét và giải thích hợp lí về thư mục, cũng là lần đầu tiên triệt để dùng phương pháp thống kê nêu bật những bằng chứng về văn thể, văn phong, ngôn ngữ và văn tự để xác định người dịch các bài diễn ca Chinh phụ ngâm Mặc dầu đã đầu tư nghiên cứu và suy nghĩ thêm nhiều, chúng tôi nghĩ rằng nhũng kết luận nêu lên ở đây chưa thể được xem là chân lí vĩnh cửu, mà chỉ có thể xem là những giải đáp thích đáng nhất với những tư liệu hiện có Chúng tôi hi vọng công trình nhỏ này của chúng tôi sẽ thúc đẩy người khác suy nghĩ và viết về vần đề nhiều hơn

Nhân dịp Luận án hoàn thành, chúng tôi trân trọng cảm ơn các vị trong Ban Giám hiệu, trong Ban Chủ nhiệm khoa Ngữ Văn và trong Ban Phụ trách phòng Nghiên cứu khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phò Hổ Chí Minh đã hằng quan tâm giúp đỡ về vật chất, cũng như khuyến khích về tinh thần Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn Giáo sư Lê Trí Viễn, Giáo sư Trần Thanh Đạm, Phó tiến sĩ Mai Quốc Liên, bạn Phan Thanh Lương đã đọc và đóng góp cho bản luận án này nhiều ý kiến quý báu ; xin chân thành cảm ơn Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, quý Ông Hoàng Xuân Bình và Bà Thu Trang đã giúp đỡ, cung cầp cho chúng tôi những văn bản về Chinh phụ ngâm tôi cần thiết ; xin chân thành cảm

ơn Phó tiến sĩ Trần Xuân Ngọc Lan và bạn Trần Hoàng đã sốt sắng cho chúng tôi mượn những tư liệu văn học và ngôn ngữ học quý báu Cuối cùng, chúng tôi

Trang 7

trìu mến biết ơn người bạn đời của chúng tôi là Phan Thị Ngọc Quế một mình quán xuyến mọi việc trong nhà và biết ơn năm con Xuân Thủy, Bích Thủy, Phương Thủy, Việt Thủy và Nhược Thủy phải chịu thiếu thốn trăm bề, để chúng tôi được yên tâm ngồi viết Luận án trong năm học 1989-1990

TP Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 8 năm 1990

NGUYỄN VĂN DƯƠNG

Trang 8

CHƯƠNG DẪN NHẬP

I Lịch sử vấn đề

II Mục đích, đặc điểm, phạm vi của luận án

III Phương pháp nghiên cứu, tư liệu nghiên cứu

IV Giải quyết một số nghi vấn có liên quan đến vấn đề

1 Giai đoạn 1926-1953 Trước năm 1926, học giới chỉ biết một bài diễn ca

Chinh phụ ngâm, tức là bài diễn ca hiện hành, và tên một người dịch là Đoàn Thị Điểm Đó là theo tục truyền từ trước, và theo sự ghi chép trên một bản Nôm Chinh phụ ngâm được khắc in vào đầu thế kỉ thứ XX (2)

Năm 1926, ông Phan Huy Chiêm, một người con cháu họ Phan ở Sơn Tây,

có gửi cho cộng tác viên của tạp chí Nam phong là ông Đông châu Nguyễn Hữu Tiến một bức thư kèm theo một ít tư liệu, nói rằng theo sự ghi chép trong gia phả họ Phan, cùng lời các phụ lão trong họ Phan truyền lại, thì bài Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn là ‘do cụ Phan Huy Ích dịch ra văn Nôm, hiện nhà họ Phan còn giữ được bản chính, vừa chữ vừa Nôm’ Ông Phan Huy Chiêm còn

1 Lịch sử vấn đề từ năm 1926 đến 1964 đã được chúng tôi trình bày và thảo luận tương đối kĩ càng trong sách Thử giải quyết vấn đề diễn giả Chinh phụ ngâm (viềt tắt a Thử giải quyết … ), Nhà xuất bản đại học Huế, 1964, tr 17-132 Ở đây, chúng tôi chỉ tóm tắt những nét chính, rút từ sách trên

2 Đó là bản Long hòa, do Vũ Hoạt Khắc in năm 1902

Trang 9

đưa ra một bằng chứng nữa, là bài thơ ‘Ngẫu thuật’ do Phan Huy Ích làm, sau khi dịch xong khúc Chinh phụ ngâm ra bài mới (3) Ông Đông châu công bố lời yêu cầu đính chính ấy trên tạp chí Nam phong, nhưng vì lời văn viết vắn tắt, thờ

ơ, lại đăng chìm trong mục Văn uyển, cho nên bài báo của ông Đông châu ít được ai chú ý (4)

Mãi gần hai mươi năm sau, năm 1943, ông Hoàng Thúc Trâm mới viết một bài khảo cứu nhỏ đăng trên tạp chí Tri tân, băn khoăn chẳng biết Đoàn Thị Điểm hay Phan Huy Ích, ai là người đã dịch bài Chinh phụ ngâm nổi tiếng Trong bài khảo cứu này, ông Hoàng Thúc Trâm đã tra cứu trong sách Lịch triều hiến chương (là sách có viết về nguyên tác Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn) và sách Tang thương ngẫu lục (là sách có chép truyện Đoàn Thị Điểm và truyện Đặng Trần Côn), để chẳng thấy một chút ghi chép gì cho ta biết Đoàn Thị Điểm

đã dịch Chinh phụ ngâm Nhưng, tôn trọng sự truyền văn và ý kiến chung của

dư luận, ông Hoàng Thúc Trâm không vội vàng chấp nhận Phan Huy Ích là dịch giả bài Chinh phụ ngâm theo như lời đòi hỏi của ông Phan Huy Chiêm, mà chỉ

đề nghị đề chữ ‘khuyết danh’ trên bài dịch Chinh phụ ngâm hiện hành (5) Đó là một cách giải quyết thận trọng và khách quan

Qua năm 1944, ông Trúc khê Ngô Văn Triện, nhân đọc được cuốn Đoàn thị thực lục, tức là cuốn gia phả của nhà họ Đoàn ở làng Giai - phạm, tỉnh Hưng - yên, đẫ viết bài ‘những tài liệu mới về nữ sĩ Đoàn Thị Điểm’ (6) Qua bài báo, ta biềt được những sự kiện xác thực về dòng dõi bà Đoàn, cùng những chi tiết li kì

về sự kén chồng giữ giá của bà, về đời sống tần tảo một tay bà nuôi mẹ già cùng

6 Đăng trên nguyệt san Tiểu thuyết thứ bảy, số 4 (tháng 7-1944, Hà-nội), tr 30-48

Trang 10

gia đình chị dâu góa bụa, về cuộc hôn nhân thị đẹp nhưng quá ngắn ngủi của bà vói ông Nguyễn Kiều, và cuối cùng về cái chết của bà vào lúc bốn mươi bốn tuổi, để nhiều thương tiếc cho đức lang quân Trong phần ‘Phục lục’ của bài báo, ông Trúc khê đã nêu lên ba lẽ đáng ngờ để nghĩ rằng ‘bản dịch Chinh phụ ngâm

có thể không phải của bà Đoàn Thị Điểm’ (7)

Ý kiến có phần cực đoan của ông Trúc khê có lẽ không được nhiều người hưởng ứng Cho nên, qua năm 1950, trong sách Quốc văn đời Tây-sơn, khi nghiên cứu về Phan Huy Ích, ông Hoàng Thúc Trâm đã đột ngột trở lại chấp nhận tục truyền ; ông viết : 'Bản dịch Chinh phụ ngâm được truyền tụng bấy nay, bây giờ nếu chưa đủ chứng cớ bảo là của người khác, thì ta hãy cứ cho Đoàn Thị Điểm là dịch giả như đời vẫn thừơng truyền ! còn dịch phẩm Chinh phụ ngâm của Phan Huy Ích là một bản dịch khác , ít ai biết đến, nên bấy nay không thấy truyền tụng ở đời.' (8) Thật ra, ý kiến của ông Hoàng Thúc Trâm vẫn có chỗ chưa được xác đáng ; vì để tránh hồ đồ, ông Hoàng Thúc Trâm cần tìm cho được bài diễn ca của nhà họ Phan, chỉ rõ bài diễn ca ấy khác với bài hiện hành như thế nào, thì mới có thể qua quyềt như vậy được

Thái độ của ông Hoàng Thúc Trâm chắc đã làm nhiều nguời phấn khởi Năm 1951, ông Thuần phong Ngô Văn Phát cho ra đời sách Chinh phụ ngâm khúc giảng luận, dùng lối ‘sưu tầm gián tiếp' để mong giải quyết vấn đề Lập luận của ông như sau : Hai bài văn có chịu ảnh hưởng rõ ràng của bài diễn ca Chinh phụ ngâm là bài hát nói 'Gánh gạo đưa chồng’ của Nguyễn Công Trứ

7 Ba lẽ đáng ngờ ấy có thể tóm tắt như sau :a) Cháu rể của Đoàn Thị Điểm, người viết Đoàn thị thực lục, không nói gì đến việc bà Đoàn dịch Chinh phụ ngâm; b) Trong bài văn tế vợ, Nguyễn Kiều tuy có ghi các tác phẩm chữ Hán của Đoàn Thị Điểm, nhưng cũng không đề cập đến việc bà dịch Chinh phụ ngâm; c) Đối với Đoàn Thị Điểm, thì Đặng Trần Côn là người ít tuổi, học sau Gia phả cho biết Đoàn Thị Điểm mất lúc 44 tuổi Lại theo Tang thương ngẫu lục, khoảng năm về già Đặng Trần Côn mới viết Chinh phụ ngâm Nếu đúng như vậy, thì khi Chinh phụ ngâm ra đời, Đoàn Thị Điểm

đã tạ thế rồi Xem thêm Thử giải quyết … Sđđ., tr 33-39

8 Quốc văn đời Tây-sơn, Sài-gòn, Vĩnh-bảo, 1950, tr 99-101 Xem thêm Thử giải quyết …, Sđđ., tr 39-43

Trang 11

(1778-1858) và bài 'Ai tư vãn' của Lê Ngọc Hân (1770-1799) Vì lòng tự trọng, hai nhà văn nổi tiếng này, nếu đã chịu ảnh huởng phải là người sống cách xa họ

là Đoàn Thị Điểm (1705-1748) chứ không thể là người đồng thời với họ là Phan Huy Ích (1750-1822) Do đó, bài dịch Chinh phụ ngâm được truyền tụng bấy nay phải là của Đoàn Thị Điểm (9)

Lối sưu tầm của ông Thuần phong (nên gọi là 'trực tiếp’ thì đúng hơn) đã đánh dấu một bước tiến trong việc giải quyết vấn đề Việc tra cứu không đem đến một kết quả cụ thể nào của hai ông Hoàng Thúc Trâm và Trúc khê khiến ta nghĩ đến những lời bàn luận luống công của các nhà bác học nước Đức về lịch

sử và nguồn gốc chiếc răng vàng trong sách Histoire des Oracles (Lịch sử sấm ngôn) của Fontenelle (10) Khi dẫn dắt độc giả tìm mối tương quan giữa bài Chinh phụ ngâm với vài tác phẩm trong thế kỉ thứ XVIII, tức là ông Thuần phong đã băn khoăn phần nào đến đối tượng chính là nội dung và hình thức của bài diễn ca, vì nghiên cứu bản thân các văn bản, ta có thể tìm thấy sự thật chắc chắn hơn là chỉ trông cậy vào sự ghi chép có thể sai lầm trong các sử sách

Tuy nhiên, ta không đồng ý với những kết luận mà ông Thuần phong đưa

ra, vì ông đẫ nghiên cứu trong điều kiện thiếu những tư liệu cơ bản và thiếu một phương pháp thẩm định tư liệu chặt chẽ Như ở đoạn nhận xét về ý kiến bênh vực tục truyền của ông Hoàng Thúc Trâm trên đây, ta thấy vấn đề người dịch Chinh phụ ngâm vẫn chưa được giải quyết, nếu ta chưa nghiên cứu được những

tư liệu trọng yếu, cơ bản, là bài diễn ca của nhà họ phan, cùng những bài diễn ca

Trang 12

trước, mà Phan Huy Ích có đề cập trong bài thơ ngẫu thuật Ngoài ra, căn cứ vào lòng tự trọng của nhà văn để định thời điểm ra đời của các tác phẩm văn học trong lối sưu tầm của ông Thuần phong lại là một tiêu chuẩn sai lầm, nếu không nói là phản khoa học

Trong giai đoạn thứ nhất trên đây, ta nhận thấy mấy tác giả đã nối tiếp nhau nghiên cứu làm thành sự diễn tiến hợp lí

Sau khi ông Đông châu nêu lên sự đòi hỏi của con cháu nhà họ Phan, thì Hoàng Thúc Trâm là người đầu tiên tra cứu sử sách để nhận rằng sự đòi hỏi ấy

là chính đáng Để bổ túc cho sự nghiên cứu có phần sơ lược của ông Hoàng Thúc Trâm, ông Trúc khê đã tìm tòi kĩ lưỡng về thân thế nữ sĩ Đoàn Thị Điểm,

đề nghị rằng bài dịch Chinh phụ ngâm không phải là của bà Đoàn Như để trả lời cho ông Trúc khê, ông Hoàng Thúc Trâm quay sang nghiên cứu Phan Huy Ích - trừ bài diễn ca Chinh phụ ngâm của nhà họ Phan - để trở lại chấp nhận tục truyền, và để bênh vực tục truyền, ông Thuần phong đã góp thêm lối 'sưu tầm gián tiếp'

Điều cần lưu ý là trong giai đoạn này, cho tới trước năm 1953, mặc dầu biết thêm tên một người dịch là Phan Huy Ích, nhưng học giới cũng chỉ biết có một bài diễn ca Chinh phụ ngâm tức là bài diễn ca hiện hành Vì thiếu những tư liệu

cơ bản, trọng yếu là những bài diễn ca khác, cho nên ta mới hiểu tại sao khuynh hướng bênh vực tục truyền là khuynh hướng chủ đạo trong giai đoạn này

2 Giai đoạn 1953-1990 Giai đoạn này mang tính chất tranh luận thực sự

Nó kéo dài gần bốn mươi năm, kể từ năm 1953 là năm ông Hoàng Xuân Hãn xuất bản sách Chinh phụ ngâm bị khảo (11) tung ra những tư liệu mới quyết đoán Phan Huy Ích là người đã diễn ca bài Chinh phụ ngâm hiện hành, cho đến năm

11 Xem Hoàng Xuân Hãn, Chinh phụ ngâm bị khảo, Paris, Nhà xuất bản Minh Tân,

1954, 342 trang

Trang 13

1987 ông Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải Chinh phụ ngâm khúc (12) coi công trình của ông Hoàng Xuân Hãn và công trình những người bênh vực thuyết của ông Hoàng Xuân Hãn là những sự thầt bại hoàn toàn

Gọi là 'tư liệu mới' ; vì ngoài bài diễn ca Chinh phụ ngâm hiện hành (ông Hoàng Xuân Hãn gọi tắt là bài A) mà ai cũng biết, ông Hoàng Xuân Hãn đã tìm được và công bố trước công luận những tư liệu trọng yếu và cơ bản mà chúng tôi vừa đề cập ở cuối đoạn trước : ấy là bài diễn ca của nhà họ Phan (ông gọi là bản Phan huy) và ba bài diễn ca khác mà ông đoán là của Đoàn Thị Điểm (bài B), của Nguyễn Khản (bài C) và của một dịch giả vô danh (bài D) Ngoài những

tư liệu mà chúng ta mong đợi, ông Hoàng Xuân Hãn còn tìm được những tư liệu quý báu khác, rất cần cho việc hiệu đính khúc Chinh phụ ngâm chữ Hán cũng như bài diễn ca hiện hành : ấy là bài Chinh phụ ngâm chữ Hán của Hồng liệt bá viết để chọi lại bài Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và nhiều bản in khác nhau về bài diễn ca Chinh phụ ngâm hiện hành

Về những bằng chứng cho sự đoán định người dịch Chinh phụ ngâm, ông Hoàng Xuân Hãn chỉ viết vắn tắt như sau :

'Hiện nay tôi đa tìm thấy bốn bài diễn ca Chinh phụ ngâm : bài đã được khắc bằng nôm và in bằng chữ la-tinh (mà tôi sẽ gọi là bài A) và ba bài khác chưa từng thấy khắc hay in Tôi sẽ gọi các bài này bằng bài B, C, D

'Bài A- Bài A là bài đã được đem in ra chữ la-tinh và được liệt vào chương trình văn học Từ trước đã chính thức nhận đó là diễn phẩm của Đoàn Thị Điểm, nhưng thật ra thì là của Phan Huy Ích

'Người đính chính việc này là một người họ Phan, ông Phan Huy Chiêm

Từ năm 1926, ông Huy Chiêm đã gửi thư cho báo Nam phong, nói rằng bản Chinh phụ ngâm là 'cụ Phan Huy Ích dịch ra văn nôm, hiện nhà họ Phan còn giữ

12 Xem Nguyễn Thạch Giang, Chinh phụ ngâm khúc, trong Những khúc ngâm chọn lọc, tập I, Hà-nội, Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1987, tr 19-

106

Trang 14

được bản chính, vừa chữ vừa nôm' Nhưng từ đó, mặc dầu những nhà khảo cứu yêu cầu, ông Huy Chiêm chưa từng xuất bản bài diễn ca ấy Ấy vì lẽ ông Huy Chiêm nghĩ rằng bản diễn ca của cụ tổ mình chính là bản đã in bán khắp nơi, mà

có lẽ có câu không hay bằng nữa Mùa hè năm nay, tôi đã được ông Huy Chiêm nhờ người họ gửi cho một bản Nhưng chỉ là một bản đã phiên am ra chữ la-tinh Hình như bản chữ nho và chữ nôm nay chưa tìm lại được

'Tuy bản phiên âm kia sai lầm nhiều lắm, nhưng có những chứng làm ta tin chắc rằng đó là do một bản riêng của họ Phan mà phiên ra : chứng chắc chắn nhất là tuy bản ấy phần lớn giống bản thường ta biết, nhưng cố một số về hoàn toàn khác hẳn Như trong chương IV và phân hiệu đính, tôi sẽ nêu dần ra, các vế khác ấy là nguyên văn của Phan Huy Ích khởi thảo

'Vả chăng trong gia phổ họ Phan, có chép rằng : 'Ông lại từng diễn Chinh phụ ngâm khúc Nay, từ các bậc danh nhân, văn sĩ, cho đến trai gái thôn quê, ai

mà không đọc.' Bài diễn ca được phổ truyền như vậy hẳn là bài A

'Bài thơ Huy Ích làm ra sau khi diễn ca xong, mà tôi đã nói đến trên kia, càng làm thêm vững thuyết ấy Bình phẩm nguyên Hán văn và các diễn phẩm của những người trước ông và của ông, ông nói :

‘Lấy vần và luật, làm sao diễn hết được tinh túy của mạch văn,

‘Nếu theo từng thiên, từng chương, mà tìm âm thanh cho êm ái

'Trong khi thong thả, ta phiên dịch thành khúc mới,

'Ta tự tin rằng đã vạch rõ được lòng tác giả.’

Nếu ta so sánh bài A với các bài kia, thì ta sẽ thấy rằng bài A là bản dịch không câu nệ về nghĩa đen, về thứ tự các vế, nhưng gọn gàng, trôi chảy và êm ái

Trang 15

nhất Nay còn có nhiều bản khác nhau, mà các bản ấy lại có thoại (13) khác nhau

'Bài B - Bài này còn chép trong bản Nôm Viết cũ, nhưng chưa từng được xuất bản Trong bản Viết cũ ấy, trước bài B, có đề hai chữ 'Nữ giới' Ý muốn nói

đó là đàn bà diễn ca Văn dịch sát nghĩa hơn bài A ; lại không bỏ vế, bỏ chữ như bài A Có nhiều tiếng cổ, thấy trong văn Lê Những lẽ ấy và các lẽ đã bày tỏ ở mục 'Diễn giải trên, khiến ta tin rằng bài B này là của Đoàn Thị Điểm.’ (14)

Ta phải nhận rằng khi tập trung biết bao công sức, trí tuệ để đối chiếu, suy nghĩ, tìm tòi hầu phiên âm, hiệu đính, chú giải hết sức chu đáo các văn bản Nôm

A, B, C (trong đó có các bản Trường thịnh, Long hòa, Bác cổ, Phan huy ), ông Hoàng Xuân Hãn đã thấy rõ hơn ai hết ai là dịch giả các bài A và B Nhưng

để chứng minh một cách rạch ròi, thấu đáo cho những điều ‘thấy’ trên đây, thì vấn đề lại không đơn giản, lại cần đến nhiều tìm tòi, suy nghĩ tiếp theo

Vì vậy, ta không lấy làm lạ mà nhận thấy rằng trong khoảng mười năm sau khi sách Bị khảo ra đời, hầu hết các nhà nghiên cứu về Chinh phụ ngâm vẫn tin theo tục truyền Ở miền Nam, ít nhất cũng có chừng mươi tác giả công nhiên

trong các sách Sơ thảo lịch sử văn học Việt-nam, Lược thảo lịch sử văn học Việt-nam, trong sách Chinh phụ ngâm của các ông Hoàng Ngọc Phách, Lê Thước, Vũ Đình Liên xuất bản năm 1957, trong các giáo trình giảng dạy ở các Trường Đại học Tổng hợp, Đại học Sư phạm thuộc các năm học từ 1961 đến

13 Tôi dùng chữ thoại để trỏ một trong những cách chép một chuyện gì, một ý gì Đó là theo chữ Nhật (Chú thích của Hoàng Xuân Hãn) Xem Bị khảo Sđđ., Tựa, tr 8, chú thích số 13

14 Xem Hoàng Xuân Hãn, Chinh phụ ngâm bị khảo, Sđđ., tr 26-27 Sau đây sẽ viết tắt

là Bị khảo

15 Xem Thử giải quyết , Sđđ., tr 77-83

Trang 16

1963, người ta vẫn hoặc ‘treo’ lại hẳn vấn đề người dịch Chinh phụ ngâm, hoặc vẫn ‘tạm nhận’ Đoàn Thị Điểm là dịch giả bài diễn ca hiện hành (16)

Người kịch liệt phản đối chủ trương của ông Hoàng Xuân Hãn là ông Biệt lam Trần Huy Bá, một nhân viên của Viện Bác cổ ở Hà-nội Trên tạp chí Tầm nguyên, ông Biệt lam bài bác những ý kiến của ông Hoàng Xuân Hãn, mà ông cho là sậu đoán, tức là quyết đoán một cách vội vàng Ông không chấp nhận ý nghĩa hai chữ 'Nữ giới' 女戒 là 'ý nói đàn bà diễn ca', theo cách hiểu của ông Hoàng Xuân Hãn Ông Biệt lam lại đối chiếu một số từ ngữ và thành ngữ trong vài bài văn tế của Phan Huy Ích với bài diễn ca B để cho rằng Phan Huy Ích là dịch giả bài B Cuối cùng, ông lại so sánh những chỗ giống nhau giưa hai bài diễn ca A và B để cho rằng Phan Huy Ích là người nhuận sắc bài diễn ca của Đoàn Thị Điểm Nhìn chung, tuy nhận định của ông Biệt lam về ý nghĩa hai chữ

‘Nữ giới’ là xác đáng, nhưng những chứng minh của ông cho rằng phan Huy Ích

là dịch giả bài B hay là người nhuận sắc bài diễn ca của Đoàn Thị Điểm thì lại là những nhận định không đứng sự thật và thiếu căn cứ hợp lí (17)

Năm 1963, trong sách Việt-nam văn học sử giản ước tân biên, ông Phạm Thế Ngũ góp thêm một 'luận cứ về thư tịch và thời gian' để đánh đổ thuyết Hoàng Xuân Hãn Nhưng thật ra, 'luận cứ' kia chỉ là sự xuyên tạc và bịa đặt liều lĩnh, chẳng có một chút giá trị khảo chứng gì (18)

Tuy nhiên, đến năm 1964, ngoài Bắc và trong Nam đều có người viết sách bênh vực thuyết Hoàng Xuân Hãn Trong sách Chinh phụ ngâm xuất bản tại Hà-nội, ông Lại Ngọc Cang đã dành 52 trang trong phần ‘Khảo luận’ ở đầu sách để xét vấn đề dịch giả Chinh phụ ngâm Trong chín luận điểm được nêu để chứng minh bài diễn ca hiện hành là của Phan Huy Ích, thì các điểm liên quan đến thể

16 Xem Lại Ngọc Cang, Chinh phụ ngâm, Hà-nội, Nhà xuất bản Văn học, 1964, tr 26

17 Xem Biệt lam, ‘Cái nghi án văn chương Tác giả là ai?’, Tàm nguyên tạp chí, tập thứ I (Hà-nội, tháng 5-1954), tr 7-18 Xem thêm Thử giải quyết , Sđđ., tr 97-110

18 Xem Phạm Thế Ngũ, Việt-nam văn học sử giản ước tân biên, tập II, Sài-gòn, Quốc học tùng thư, 1963, tr 156; xem thêm Thử giải quyết Sđđ., tr 122-131

Trang 17

loại, cú pháp, thi pháp và văn phong là gồm nhiều nhận xét đúng đắn và sâu sắc Nói chung, ông Lại Ngọc Cang đã nhìn thấy và đã giải quyết vấn đề một cách toàn diện và thấu đáo, nhưng vì hơi ôm đồm, muốn giải quyết một vần đề lớn trong một số trang hạn chế, nên vẫn chưa thuyết phục được nhiều người (19) Sách Thử giải quyết vấn đề diễn giả Chinh phụ ngâm của chúng tôi, cũng xuất bản trong năm 1964, là một sách chuyên khảo về đề tài người dịch Chinh phụ ngâm Theo chúng tôi, vấn đề then chốt đã được ông Hoàng Xuân Hãn giải quyết một cách cơ bản trong sách Bị khảo Vào thời điểm năm 1964 và ngay cả hiện nay, sách Bị khảo của ông Hoàng Xuân Hãn vẫn là một công trình khảo đính và hiệu đính có giá trị rất cao, chưa có sách nào viết về Chinh phụ ngâm có thể sánh được (20) Vì vậy, khi viết sách, trước hết chúng tôi thấy có trách nhiệm bênh vực công trình của ông Hoàng Xuân Hãn trong sách Bị khảo đã bị học giới phủ nhận một cách oan uổng (21) Ngoài ra, khi viết sách Thử giải quyết , chúng tôi không chỉ giới hạn trong việc chứng minh dịch phẩm Chinh phụ ngâm

19 Xem Lại Ngọc Cang, Chinh phụ ngâm, Sđđ., tr 19-70, ông Hoàng Xuân Hãn có nhận xét về sách này nhữ sau: ‘Đại lược thì ông Cang đã lấy lại phần lớn sách tôi (tức sách Bị khảo, N.V.D.) bàn tán rộng và thêm phần phán đoán bình phẩm về nội dung (quan điểm chính trị hiện thời) chỉ trích một phần nào đó và cho in lại các thoại kia nữa (tức các bài B, C, D, - N.V.D.) Riêng bản dịch nghĩa, ông ấy dịch lại Ông có sửa lại một số chữ trong các thoại, cũng có chữ chữa phải lẽ, nhưng có nhiều chữ ông không thông.' (Thư viết từ Paris, đề ngày ‘cuối tháng tư 19605’)

20 Ông Lại Ngọc Cang đã cố gắng viết sách Chinh phu ngâm với ý đồ thay thế sách Bị khảo ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đó là việc làm đáng khuyến khích Tuy nhiên, vì ông Cang chỉ dùng những tư liệu hạng nhì và lấy lại phần lớn sách I Bị khảo làm sách mình, nhiều chỗ không nêu xuất xứ, cho nên giá trị khoa học không có gì đáng kể, theo ý chúng tôi

21 Ngay cả ông Lại Ngọc Cang, tuy tán đồng thuyết của ông Hoàng Xuân Hãn, cũng đã

vô tình hay cố ý đánh giá sai lạc những đóng góp của Hoàng Xuân Hãn trong sách Bị khảo Ví dụ : Để chứng minh bài diễn ca B là của Đoàn Thị Điểm, ngoài việc căn cứ vào hai chữ 'Nữ giới', ông Hoàng Xuân Hãn còn căn cứ vào lối văn dịch sát nghĩa, không bỏ vế, bỏ chữ như bài A, vào nhiều tiếng cổ thấy trong văn đời Lê và vào những

lẽ đã bày tỏ ở mục diễn giả Thế mà khi giới thiệu việc chứng minh kia, ông Cang chỉ nêu ra chứng cứ duy nhất là hai chữ ‘Nữ giới’, để tiếp đó chỉ trích ông Hoàng Xuân Hãn, coi đó là 'sự sơ xuất đáng tiếc'

Trang 18

hiện hành là của Đoàn Thị Điểm hay của Phan Huy Ích, mà còn có tham vọng giải quyết vấn đề khảo đính và hiệu đính nối chung, trong tình hình học vấn của nước ta hồi bấy giờ (22)

Năm 1972, ông Nguyễn Văn Xuân, giáo sư thỉnh giảng, phụ trách môn văn học trình diễn tại Trường Đại học Văn khoa Huế, cho xuất bản sách Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc, trong đó ông công bố một bản Chinh phụ ngâm chữ Hán và chữ Nôm khá đặc biệt, mang tên như trên, do ông phát hiện được từ tủ sách một bà chúa ở tại Huế Bản Tân khúc này tuy là một bản chép tay, nhưng cách trình bày giống hệt một bản khắc in, lại có đặc điểm là lấy bản chữ Nôm làm chính, bản chữ Hán làm phụ Về nội dung, bản này còn có những điểm rất đáng cho ta lưu ý : a) Trang bìa ghi tên tác phẩm là Tân san Chinh phụ ngâm

22 Sách Thử giải quyết (Nhà xuất bản Đại học Huế, 1964) dày 518 trang khổ 15,5 x 23,5 gồm 7 chương, chia làm ba phẩm Trong 'Phân thứ nhầt' (chương I và II), chúng tôi trình bày và thảo luận tỉ mỉ trên 20 điểm nghi vấn do những nhà khảo cứu nêu ra từ năm 1926 đền 1964, chủ yều là để vạch ra những chỗ sai lầm hay chưa được thích đáng của những người bênh vực tục truyền trước và sau Hoàng Xuân Hãn 'Phần thứ hai' gồm ba chương tiếp Trong Chương III, chúng tôi căn cứ vào kinh nghiệm học hỏi mấy nghìn năm của người Trung-quốc và vào kết quả nghiên cứu của một số học giả gần đây như Lương Khai Siêu, Phùng Hữu Lan, Hồ Thích, Bernhard Karlgren để nêu ra phương pháp và ví dụ về việc khảo đính những tác phẩm cổ, hầu làm cơ sở lí luận cho việc giải quyết vấn đề người dịch Chinh phụ ngâm của chúng tôi Trong chương IV, chúng tôi thống kê chừng 20 tư liệu gốc về sử sách (gia phả, sử, địa phương chí ) và chừng 20 văn bản gốc về tác phẩm Chinh phụ ngâm (chư Hán, chữ Nôm) để chứng tỏ ông Hoàng Xuân Hãn đã lục lọi tư liệu khắp nơi trong nước cũng như trên thế giới, cung cấp cho chúng ta biết bao nhiêu chi tiết cụ thể về tác giả, về dịch giả và về văn bản, những chi tiết ấy kết hợp với nhau một cách chặt chẽ và hợp lí, khiến cho vấn đề dịch giả trở thành một vấn đề khảo chứng cụ thể, có tính chất sử học

và văn bản học, không ở trong phạm vi mơ hồ của tục truyền nữa Trong chương V, chúng tôi định thời điểm trước sau của các bài diễn ca A, B, C, D (cụ thể bài B là bài đầu tiên, bài A là bài sau cùng) qua nghiên cứu thể văn song thất lục bát và nghệ thuật diễn ca trong các bài ấy, nghĩ rằng chỉ cần chứng minh bằng bốn bản thống kê cũng đã nói lên tính hiển nhiên của thuyết Hoàng Xuân Hãn Trong 'Phần phụ lục', chúng tôi bàn về vấn đề hiệu đính nói chung và về việc hiệu đính Chinh phụ ngâm có tính khoa học và chính xác cao của Hoàng Xuân Hãn nói riêng (phục lục 1), cuối cùng cho in lại bài Chinh phụ ngâm của Phan Huy Ích, do Hoàng Xuân Hãn hiệu đính (Phụ lục II)

Trang 19

diễn âm từ khúc, ghi năm khác là Gia-long thứ mười bốn (ất dậu, 1815), nhà tàng bản là Chính trực đường ; b) Bài 'Nguyên tự' chữ Hán ở đầu tập (bị mất một hay hai trang sau, chỉ còn hai trang trước), chắc là do Phan Huy Ích viết, nói ông đã dịch bản Tân khúc vào dịp đầu xuân năm giáp tí (tức năm 1804) tại Bắc thành (tức Hà-nội) gồm 204 liên (tức 408 câu) ; c) Bản chữ Nôm Tân khúc phần lớn giống hệt bản đã phiên âm ra chữ quốc ngữ của nhà họ Phan (kể cả mười ba câu khác với bản thông thường) mà ông Phan Huy Chiêm đã gửi sang

điểm trên đây càng làm vững thêm thuyết của ông Hoàng Xuân Hãn

Mặc dầu có những công trình dài hơi và phát hiện quan trọng trên đây để hoặc bênh vực, hoặc củng cố thêm thuyết Hoàng Xuân Hãn, nhưng trong vòng vài chục năm nay, ngoài ông Nguyễn Lộc tỏ ý tán đồng (24), phần đông học giới

23 Xem Nguyễn Văn Xuân, Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc: (viết tắt : Tân khúc), Sài-gòn Lá Bối, 1972 Sách dày 208 trang, thêm Phụ lục 30 trang nguyên bản chữ Hán và chữ Nôm in offeet Sách ông Nguyễn Văn Xuân tuy công bố được một phát hiện quan trọng, nhưng phần phiên âm bản Nôm ra chữ quốc ngữ có nhiều chỗ sai do không chuyên về chữ Nôm và phần khảo luận có nhiều ý kiến không được xác đáng lắm, cho nên vẫn chưa thuyết phục hẳn người đọc, không những vậy lại làm cái cớ cho ông Lê Hưu Mục bịa đặt nhiều chuyện lôi thôi về hiệu đính trong sách Bị khảo để thóa

mạ ông Hoàng Xuân Hãn

24 Ông Nguyễn Lộc viết : Đoàn Thị Điểm, người đầu tiên diễn Nôm Chinh phụ ngâm vào giữa thế kỉ XVIII, Phan Huy Ích diễn Nôm vào đầu thế kỉ XIX, cách nhau khoảng sáu chục năm Với một thời gian dài như thế, nhất là trong giai đoạn này, cố cơ sở để nghiên cứu sự thay đổi của các yếu tố về nghệ thuật như ngôn ngữ, thể thơ, v.v

Chúng tôi táu thành phương pháp xác minh này, và có thiên hướng tán thành quan điểm của các ông Hoàng Xuân Hãn, Lại Ngọc Cang cho bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành là của phan Huy Ích và Bản B là của Đoàn Thị Điểm, bởi vìnhìn chung ngôn ngữ của bản dịch hiện hành rất giống với ngôn ngữ của nhiều tác phẩm Nôm trong giai đoạn nửa đầu thế kỉ XIX, còn bản B thì ngôn ngữ rõ ràng cổ hơn nhiều Tuy vậy cũng cần phải chứng minh lại một số vấn đề của Lại Ngọc Cang đặt ra cho khách quan và triệt để hơn Công việc ấy đòi hỏi sự hỗ trợ của bộ môn ngôn ngữ học,

và việc nghiên cứu thi pháp cổ mà hiện nay chúng ta chưa có điều kiện làm được; (Lịch sử văn học Việt-nam nửa cuối thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX, tập I, Nhà xuất bản Đại học và THCN, Hà-nội, 1976, tr 205-206

Trang 20

vẫn im lìm (25), không những thế, còn có người đứng ra bài bác (26) Rất gần đây, tuy các tác giả sách Văn học lớp 10 đã có khuynh hướng chấp nhận thuyết mới (27), nhưng về mặt nghiên cứu khoa học, vấn đề người dịch Chinh phụ ngâm vẫn cần phải được giải quyết dứt khoát và thấu đáo

II Mục đích, đặc điểm, phạm vi của luận án

1 Mục đích của Luận án Mục đích của chúng tôi khi viết Luận án này là

khẳng định thêm lần nữa thuyết Hoàng Xuân Hãn về người dịch Chinh phụ ngâm trong sách Bị khảo là đúng đắn, là có giá trị, đáng cho học giới tìm hiểu và ủng hộ

Ngoài việc chứng minh bài diễn ca hiện hành là của Phan Huy Ích, trong Luận án này, chúng tôi còn có mục đích nhấn mạnh đến một phương pháp nghiên cứu văn bản chưa được học giới lưu ý đến nhiều : ấy là dùng phương pháp thống kê để nghiên cứu văn bản, cụ thể là qua phép thống kê, chúng tôi lượng hóa những dữ kiện về các mặt văn thể, văn phong… sau đó đem đối chiếu,

so sánh các dữ kiện ấy để xác định thời điểm xuất hiện của các văn bản

2 Đặc điểm của Luận án Vấn đề người dịch Chinh phụ ngâm theo hướng

cớ lợi cho Phan Huy Ích, là một vấn đề phức tạp, đã được xem xét, giải quyết qua một quá trình lâu dài, nhưng vẫn chưa thuyết phục được dư luận đông đảo Muốn sự giải quyết được trọn vẹn, chúngtôi thiết tưởng Luận án phải đạt được

ba đặc điểm hay đặc tính sau: tính toàn diện, tính phân minh, tính khoa học

25 Xem Đặng Thanh Lê, 'Chinh phụ ngâm', trong Lịch sử văn học Việt-nam, tập III, Hà-nội, Nhà xb Giáo dục, in lần 4, 1976, tr 40

26 Xem trường hợp hai ông Lê Hữu Mục và Nguyễn Thạch Giang ở các trang 140, 158

và trang 160, 161 trong Luận án này

27 'Bản dịch hay nhất hiệu đang được lưu hành lâu nay người ta tưởng là bản của bà Đoàn Thị Điểm, nhưng với những tư liệu đã được phát hiện, thì bản ấy có nhiều khả năng là bản của Phan Huy Ích chứ không phải của Đoàn Thị Điểm ( ) Phan Huy Ích ( ) rút được kinh nghiệm của những người đã dịch Chinh phụ ngâm trước ông và kế thừa được những thành tựu của họ, nên bản dịch của ông thành công hơn cả.’ (Văn học lớp 10, tập 1, TP Hồ Chí Minh, Nhà Xb Giáo dục, 1990, tr 115)

Trang 21

a) Toàn diện: Vì vấn đề hết sức phức tạp, ta phải xem xét vấn đề đủ các mặt, càng nhiều càng tốt Tựu trưng, có thể kể các mặt chính sau đây :

- Sử sách : Các sử sách xưa, các công trình nghiên cứu gần đây cho ta biết gì về tác giả và về những dịch giả Chinh phụ ngâm ? Bản thân tác giả hoặc các dịch giả đã nói gì về tác phẩm của mình, về dịch phạm của mình và của người khác ?

- Thư mục : Tác phẩm Chinh phụ ngâm chữ Hán của Đặng Trần Côn và những dịch phẩm của Đoàn Thị Điểm, của Phan Huy Ích đã được phổ biến, lưu truyền như thề nào ? đã được các nhà nghiên cứu thu thập ra sao ? Tìm sự liên

hệ sản sinh giữa các bản cũ cũng có thể giúp xác định thời điểm xuất hiện của các bài diễn ca

- Văn bản : Nghiên cứu văn thể, ngôn ngữ, văn tự, văn phong trong các bài diễn ca A, B, C, D cũng có thể giúp ta xác định một cách chắc chắn thời điểm ra đời của các bài dịch Nghiên cứu văn bản không chỉ giới hạn trong phạm

vi các bài dịch, mà còn có thế nới rộng ra các văn bản khác của các dịch giả hoặc của những người đương thời

b) Phân minh : Giải quyết vấn đề người dịch Chinh phụ ngâm là cả một quá trình kéo dài trên nửa thế kỉ nay, trong đó có sự đóng góp công lao và trí tuệ của nhiều người Vì lẽ công bằng, đối với mọi chi tiết, mọi ý kiến trong Luận án, chúng tôi không để nhập nhằng, mà nêu rạch ròi đâu là sự đóng góp của những người đi trước, đâu là sự đóng góp của bản thân Vì lẽ công bằng, chúng tôi sẵn sàng nêu ưu điểm của những người chủ trương không giống chúng tôi và công nhận khuyết điểm của những người cùng quan điểm với chứng tôi Cuối cùng, vì

lẽ công bằng, đối với ý kiến của những người đi trước, chúng tôi thấy có bổn phận phải đề cao những người đã đóng góp nhiều công lao, trí tuệ, và trái lại, vạch rõ chỗ gian dối của những người không có thiện chí

c) Khoa học : Người có tinh thần khoa học là người tôn trọng sự thật khách quan, biết suy nghĩ trên những sự kiện và tư liệu cụ thể, biết làm việc theo

Trang 22

những phương pháp chính xác Người bị thành kiến che lấp thường hoặc phủ nhận suông sự thật vì lười biếng không chịu suy nghĩ, hoặc che giấu sự thật, hoặc bóp méo sự thật cho hợp với ý kiến chủ quan của mình Để hướng đến sự thật, để tôn trọng và bảo vệ sự thật, trong Luận án này, chúng tôi triệt để tránh lối tư duy và việc làm lệch lạc của những người bị thành kiến che lấp

3 Phạm vi của luận án Tính toàn diện thúc đẩy chúng tôi phải viết nhiều

Nhưng tính phân minh buộc chúng tôi giới hạn sự nghiên cứu của chúng tôi trong một phạm vi thỏa đáng :

a) Trong luận án này, chúng tôi không thảo luận về những ý kiến, những nghi vấn được nêu lên bởi các nhà nghiên cứu về vấn đề người dịch Chinh phụ ngâm trong vòng năm mươi năm qua Phần lớn những ý kiến, những nghi vấn ấy

đã được chúng tôi thảo luận trong sách Thử giải quyết Nay chỉ xin tóm tắt một

ít điều – đồng thời có bổ sung, căn cứ trên những tư liệu mới, cách nhìn mới - trong đoạn V của Chương Dẫn nhập này

b) Chúng tôi giới hạn phạm vi của luận án trong việc tìm hiểu về sử sách và thư mục liên quan đến các bản nguyên tác chữ Hán và các bản dịch chữ Nôm Chinh phụ ngâm, cũng như trong việc nghiên cứu văn thể, văn phong, văn tự trong bốn bài dịch A, B, C, D để định thời điểm xuất hiện của các bài dịch ấy, chủ yếu là để xác định bài diễn ca B là bài đầu tiên, bài diễn ca A là bài sau cùng c) Cuối cùng, chúng tôi giới hạn việc nghiên cứu trên những tư liệu hiện có trong tầm tay, không có tham vọng thu thập mọi tư liệu biết được, nghe được để nghiên cứu một cách tường tận mọi khía cạnh của vấn đề (28)

28 Ví dụ : Chúng tôi không so sánh văn phong trong thơ văn chữ Nôm của Phan Huy Ích với văn phong trong bài dịch Chinh phụ ngâm hiện hành, một phần vì chúng tôi không có đủ tác phẩm của Phan Huy Ích để nghiên cứu, phần khác vì việc này đã được ông Lại Ngọc Cang thực hiện tương đối thỏa đáng trong sách Chinh phụ ngâm của ông Nay lược trích sự phân tích của ông Cang như sau :

‘Điểm đặc sắc là trong các bài văn tế, bao giờ Phan Huy Ích cũng sử dựng một lối văn đối chỉnh đến từng lời, từng ý ở hai vế, với một bút pháp bóng bảy, giàu mĩ từ

Trang 23

III Phương pháp nghiên cứu, tư liệu nghiên cứu

Theo ý chúng tôi, muôn thành tựu trong bất kì lãnh vực nào, nhà nghiên cứu cũng phải hội đủ bốn điều kiện cơ bản sau đây :

- thái độ trung thực,

- kiến thức chắc chắn,

- phương pháp thích hợp,

- tư liệu đầy đủ

Hai điều kiện trên thuộc phạm vi đạo đức và tri thức, thiếu hai điều kiện ấy, nhà nghiên cứu chỉ đưa ra những kết quả hoặc lừa dối, hoặc non nớt Hai điều kiện sau thuộc phạm vi chuyên môn, thiếu hai điều kiện ấy, nhà nghiên cứu chỉ đưa ra những công trình hoặc chưa hoàn chỉnh, hoặc chưa đạt tiêu chuẩn Ở đây, chúng tôi chỉ xin nói đến phương pháp nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu liên quan đến luận án của chúng tôi

1 Phương pháp nghiên cứu Chúng tôi xin đề cập tới phương pháp lịch sử

và phương pháp thống kê là hai phương pháp chủ yếu được chúng tôi dùng trong luận án

và bài văn bao giờ cũng phong phú về âm điệu du dương, trầm bổng ( ) Điều rất đáng chú ý là tuy mắc nhược điểm là hay dùng từ ngữ Hán văn, nhưng văn Phan Huy Ích luôn luôn có nhạc tính dồi dào, đó là vì ông rất giỏi dùng hư từ làm tiếng nói Bởi thế, câu văn có lúc khá dài mà giọng văn bao giờ cũng rất êm Về thơ Đường luật, những điểm đặc sắc ấy vẫn thường thấy có Lời thơ thường chải chuốt, đối chỉnh ; ý tứ bóng bảy, hàm súc, tình cảm dồi dào, nhã đạm ; âm điệu phong phú, có dư ba.’ (Chinh phụ ngâm, Sđđ., tr 60, 62)

Từ phân tích trên, ông Lại Ngọc Cang nhận thấy trong bài dịch Chinh phụ ngâm hiện hành có những đặc điểm tương tự : dùng hư tự làm tiếng nói, đối rất chỉnh, dùng nhiều từ kép, nhiều mĩ từ ‘ghép tiếng đôi’ Cuối cùng, ông đi đến kết luận: ‘Phan Huy Ích có tài thơ văn quốc âm, nắm được vững vàng những kĩ xảo đặc biệt của văn học cổ điển, đem đối chiếu với bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành, ta thấy rõ ông có đủ khả năng để ta tin rằng ông là dịch giả bản đó.' (Nđđ., 63-65)

Trang 24

a) phương pháp lịch sử Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, mọi sự vật của thế giới khách quan đều có quá trình lịch sử cụ thể của nó, tức là có quá trình vận động và phát triển, diễn ra trong một thời gian và không gian nhất định Khi xét một vấn đề phức tạp gồm nhiều thành phần, nhiều sự kiện, nếu ta tách riêng một thành phần, một sự kiện mà xét, thì ta chỉ xét một mặt, không xét mọi mặt của vấn đề Trái lại, nếu ta xem xét mọi thành phần, mọi sự kiện trong cái toàn thể của vấn đề, trong cả quá trình vận động và phát triển của nó, thì ta mới có thể biết được vấn đề trong mọi khía cạnh phức tạp của nó Trong trường hợp trước, ta giải quyết theo lối tư duy siêu hình ; trong trường hợp sau, ta dùng phương pháp lịch sử của tư duy biện chứng

Vấn đề người dịch Chinh phụ ngâm, trong sự vận động và phát triển của

nó, không chỉ dừng ở sự kiện duy nhất là bài diễn ca hiện hành và dừng ở tên người diễn ca đầu tiên là Đoàn Thị Điểm Phan Huy Ích cho ta biết trước ông đã

có nhiều người diễn ca Chinh phụ ngâm và trong khi thong thả, ông có dịch thành khúc mới Nay ông Hoàng Xuân Hãn đã cung cấp cho học giới ba bài diễn

ca khác ngoài bài diễn ca hiện hành và họ tên hai dịch giả khác ngoài Đoàn Thị Điểm Nếu các bài diễn ca B, C, D không phải là vật ngụy tạo, thì vấn đề hoài nghi hay bênh vực tục truyền xét ra không còn nữa Đành rằng sự tranh chấp về quyền làm người diễn ca bài A (tức bài diễn ca hiện hành) vẫn là trọng tâm của vấn đề, nhưng sự tranh chấp ấy phải được giải quyết trong phạm vi rộng lớn hơn, toàn diện hơn, ấy là xác định một cách hợp lí người dịch cho cả bốn bài diễn ca, hay ít ra cho bài đầu tiên và bài cuối cùng

Đoàn Thị Điểm diễn ca đầu tiên, Phan Huy Ích diễn ca sau cùng, các bài diễn ca A, B, C, D ; đó là những sự kiện khách quan và những tư liệu cụ thể, nói cách khác là những dữ kiện của vấn đề, ta không thể phủ nhận được Nếu xác định được bài B là bài diễn ca đầu tiên và bài A là bài diễn ca sau cùng, thì thuyết của Hoàng Xuân Hãn có thể thành lập được

Trang 25

Trên đây là phương hướng và cách giải quyết đúng đắn vấn đề người dịch Chinh phụ ngâm, hợp với phương pháp lịch sử Phủ nhận các dữ kiện trên đây, hoặc chỉ nghiên cứu một mặt nhỏ của các dữ kiện trên đây để mong gỉai quyết vấn đề, ấy là rơi vào lối tư duy siêu hình, hoặc là thiếu những điều kiện cơ bản của nhà nghiên cứu (29)

b) Phương pháp thống kê Muốn xem xét một văn bản là thật hay giả, là cũ hay mới, là trước hay sau một văn bản khác, thường ta không thể chỉ căn cứ vào

sự ghi chép trong các sử sách Bởi vì có trường hợp sử sách ghi chép sai, hoặc

có trường hợp chẳng được ghi chép trong bất cứ sử sách nào Khoa văn bản học gần đây đã phát hiện rằng chính bản thân các văn bản là nơi chứa đựng những chứng cứ tốt nhất, đáng tin nhất giúp ta xác định sự chân ngụy của văn bản hay thời điểm ra đời của văn bản Những chứng cứ tìm thấy từ những sự kiện lịch sử,

từ văn tự ngôn ngữ, từ văn thể, từ tư tưởng trong bản thân các văn bản, được gọi

là nội chứng ; còn những chứng cứ, do từ các văn bản khác mà tìm thấy, nên gọi

là bàng chứng (30)

Muốn tìm ra những nội chứng và bàng chứng cần thiết, công tác chủ yếu là phân tích và so sánh các văn bản Để cho công tác so sánh được dễ dàng và có hiệu qua, các nhà văn bản học gần đây thường dùng phương pháp thống kê, vì chỉ qua kết quả thổng kê, kết luận mới đạt được tính chính xác cao, độ tin cao (31)

Trang 26

Từ bài diễn ca đầu tiên của Đoàn Thị Điểm đến bài diễn ca sau cùng của Phan Huy Ích, là một khoảng thời gian dài chừng sáu mươi năm Nếu chịu khó phân tích, so sánh, ta sẽ tìm thấy những dấu vết vận động và phát triển của văn thể, văn phong, văn tự ngôn ngữ trong các bài diễn ca Các dấu vết, đặc điểm trong văn thể, văn tự và ngôn ngữ của các bài diễn ca sẽ nổi bật rõ ràng, cụ thể, sau những kết quả thống kê chính xác Mặt khác, ta phải nhận rằng sự phát triển trong văn phong của các bài diễn ca trước hết là sự phát triển về chất Tuy nhiên, nếu biết lượng hóa một số khía cạnh, thì văn phong cũng là đối tượng của những thống kê chính xác

2 Tư liệu nghiên cứu, vì luận án này là sự nối tiếp và bổ sung sách Thử giải quyết vấn đề diễn giả Chinh phụ ngâm, cho nên trước hết chúng tôi giới thiệu những tư liệu và cách xử lí những tư liệu ấy để viết thành sách Thử giải quyết , sau đó chúng tôi giới thiệu những tư liệu bổ sung để hoàn thành luận án a) Để viết Phần thứ nhất ‘Nhìn lại quá khứ’ của sách Thử giải quyết (gồm chương I và II), chúng tôi tham khảo 23 tư liệu tiếng Việt của 22 nhà nghiên cứu, hoặc đăng trên báo chí (như Nam phong, Tri tân, Tiểu thuyết thứ bảy, Bách khoa, Văn hóa nguyệt san ) hoặc viết trên các sách giáo khoa, từ năm 1926 đến năm 1963 Chúng tôi trình bày sự diễn tiến của vấn đề trong vòng

40 năm, lấy Hoàng Xuân Hãn và sách Bị khảo làm trung tâm, trích dẫn đầy đủ ý kiến của năm tác giả trước và năm tác giả sau Hoàng Xuân Hãn để phân tích, thảo luận Qua xem xét tỉ mỉ những chi tiết khúc mắc, nêu rõ ưu khuyết điểm của mỗi tác giả, thậm chí vạch ra những chỗ bịa đặt, xuyên tạc sự thật chúng

trong ba sách trên để làm tiêu chuẩn so sánh Sự so sánh của Karlgren thuần túy dựa vào kết quả thống kê về cách sủ dụng bảy loại trợ từ nói trên Kết luận của Karlgren

là : ngư pháp của Tả truyện rất không giống với ngữ pháp của Luận ngữ và Mạnh tử ;

do đó, Tả truyện không phai do Khổng tử làm ra, cũng không phải do đệ tử Khổng môn làm ra, cũng không phải do người mà Tư-mã Thiên gọi là ‘Lỗ quân tử’ làm ra, vì ngôn ngữ của sách ấy không phải là Lỗ ngữ (Xem Hồ Thích, 'Tả truyện chân ngụy khảo đích đề yếu dữ phê bình' trong Hồ Thích văn tồn, tập III, tr 173-195 ; hay Thử giải quyết , Sđđ tr 152-157.)

Trang 27

tôi có nêu rõ sự vận động và phát triển của vấn đề, cùng phương hướng phải giải quyết vấn đề

b) Để viết chương III 'Phương pháp và ví dụ về việc khảo đính những tác phẩm cổ' (là chương đầu thuộc Phần thứ hai 'Thử giải quyết vấn đề'), chúng tôi dùng 29 tư liệu phần lớn viết bằng chữ Hán (32) của 17 nhà nghiên cứu Trung-quốc hiện đại bàn về kinh nghiệm và phương pháp nghiên cứu cổ tịch ở Trung-hoa, từ cái học huấn hỗ đời Hán, qua ngành 'phác học' đời Thanh, đến khoa khảo chứng cổ tịch hiện đại với đông đảo học giả nghi cổ Qua các tư liệu chữ Hán, chúng tôi nêu ba ví dụ khảo đính hiện đại, như Lao tử là tác phẩm thời Chiến quốc, Tả truyện không phải là tác phẩm của người nước Lỗ, 25 thiên Sở từ không phải tất cả là của Khuất Nguyên, để chứng tỏ 'với sự tham chiếu các ngành học mới, với những phát hiện quan trọng của khoa khảo cổ học, phương pháp nghiên cứu cổ tịch ở Trung-hoa cũng đã được thay đổi cho hợp với những điều kiện mới’ (33)

c) Để viết các chương IV và V, ngoài những tư liệu được dẫn trong sách Bị khảo, chúng tôi dùng 21 tư liệu chủ yều bằng tiếng Việt của 18 tác giả (34) Về chương IV 'Kiểm điểm và nhận xét những tài liệu dùng trong sách Chinh phụ ngâm bị khao', chúng tôi kiểm điểm trên 30 tư liệu quý và hiếm (như các gia phả

họ Đoàn, họ Phan huy, họ Nguyễn ở làng Tiên-điền , Lê sử tục biên, Sứ hoa tùng vịnh , các văn bản xưa về nguyên tác Chinh phụ ngâm và các bài dịch ) được dùng để, viết sách Bị khảo, từ đó xác định một số chi tiết trọng yếu liên quan đến tác giả và dịch giả, như năm sinh và mất của Đặng Trần Côn, năm mất của Đoàn Thị Điểm, thời điểm Đặng Trần Côn soạn Chinh phụ ngâm, thời điểm Đoàn Thị Điểm diễn ca Chinh phụ ngâm cũng như liên quan đến những dịch phẩm, như giá trị bằng chứng của các bài diễn ca B, C, D) Trong chương này,

32 Có hai tư liệu tiếng Pháp

33 Xem Thử giải quyết … , Sđđ., tr 164

34 Có ba tư liệu tiếng Pháp

Trang 28

chúng tôi có nêu thêm hai tư liệu xác nhận Nguyễn Khản đã từng diễn ca Chinh phụ ngâm

Về chương V 'Thử định thời đại các bài diễn ca Chinh phụ ngâm', để nghiên cứu sự diễn biến của thể văn song thất lục bát, chúng tôi trích dẫn 11 văn bản viết bằng thể song thất từ đời Lê đến thế kỉ thứ XX; chúng tôi đã phát hiện hai đặc tính cổ của thể song thất lục bát, căn cứ vào đó, chúng tôi xác định bài B

là bài diễn ca đầu tiên, bài A là bài diễn ca sau cùng Khi xét nghệ thuật diễn ca (văn phong) trong các bài A, B, C, D, chúng tôi chỉ dùng những tư liệu đã công

bố trong sách Bi khảo ; kết quả nghiên cứu của chúng tôi về mặt văn phong cũng xác định bài B là bài diễn ca đầu tiên, bài A là bài diễn ca sau cùng

d) Để viết chương Phụ lục I 'Vấn đề hiệu đính Chinh phụ ngâm', chúng tôi dùng 27 tư liệu của trên 20 tác giả, trong đó có 6 tư liệu viết bằng tiếng Anh, tiếng Pháp và chữ Hán, những tư liệu này chủ yếu bàn về phương pháp hiệu đính nói chung Những tư liệu kia gồm một số công trình hiệu đính cổ văn của nước ta trước Hoàng Xuân Hãn, một số văn bản nôm như Sãi vãi, Cung oán ngâm, Chinh phụ ngâm , một số từ điển có chứa chữ Nôm và một số bài viết

về chữ Nôm và chữ quốc ngữ trong hai thế kỉ thứ XVII và XVIII Phân tích, so sánh các lối hiệu đính, chúng tôi muốn chứng tỏ phương pháp hiệu đính của ông Hoàng Xuân Hãn trong sách Bị khảo là đúng đắn, hợp với phương pháp khoa học, công trình hiệu đính trong Chinh phụ ngâm bị khảo là một công trình rất có giá trị đáng làm mẫu mực cho việc hiệu đính cổ văn của nước ta

Trên đây là một trăm tư liệu được chúng tôi dùng để viết sách Thử giải quyết vấn đề diễn giả Chinh phụ ngâm của chúng tôi Sau đây là những tư liệu

bổ sung chủ yếu

đ) Năm 1972, kèm theo sách Chinh phụ ngâm diễn âm tản khúc của Phan Huy Ích, ông Nguyễn Văn Xuân công bố 500 bản Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc chữ Hán và chữ Nôm in offset ; tuy chỉ là một bản sao đời Thành thái, nhưng bản này có thể thay thế phần nào bản chữ Hán và chữ Nôm của nhà họ

Trang 29

Phan nay đã thất lạc Năm 1981, từ Paris, bà Thu Trang chuyển cho chúng tôi

Xuân Hãn, tập này chép bài nguyên tác chữ Hán, hai bài diễn ca chữ Nôm B, C

và hai bài phỏng dịch chữ Nôm E, F; theo ông Hoàng Xuân Hãn, đây là một bản sưu tập Chinh phụ ngâm khi bài A chưa có Tháng 11 năm 1989, qua ông Hoàng Xuân Bình, chúng tôi nhận được từ paris một bản 'ảnh sao' bản Trường thịnh của ông Hoàng Xuân Hãn ; đây là bản của thư viện riêng, không đề năm khắc, không đề tên nhà tàng bản, và không đề tên tác giả, được khắc in vào cuối thế kỉ thứ XIX Trên đây là ba văn bản hết sức trọng yếu về Chinh phụ ngâm, nhờ đó chúng tôi mới có thể nghiên cứu về hai mặt thư mục và chữ Nôm trong các bài diễn ca, làm thành nội dung hai chương mà chúng tôi bổ sung vào luận án

Những công trình nghiên cứu gần đây về chữ Nôm và phần nào về tiếng cổ của các học giả Đào Duy Anh, Nguyễn Tài Cẩn, Trần Xuân Ngọc Lan, Nguyễn Ngọc San … cũng là những tư liệu trọng yếu giúp chúng tôi dễ dàng khai thác các văn bản Nôm trên đây

IV Giải quyết một số nghi vấn có liên quan đến vấn đề

Trong sách Thử giải quyết chúng tôi đã xem xét, thảo luận trên hai mươi

ý kiến và nghi vấn lớn nhỏ đã được các nhà nghiên cứu nêu ra Có tìm hiểu và giải tỏa mọi điều thắc mắc, nhiều khi chỉ là những chi tiết tế nhị, ta mới có thể nắm vững vấn đề, thấy rõ phương hướng và cách giải quyết Hiện nay thì một số

ý kiến và nghi vấn đã bị thời gian đào thải ; một số khác sẽ được chúng tôi xét ở các chương chính của luận án Ở đây, chúng tôi xin tóm tắt những nhận định của chúng tôi liên quan đến năm nghi vấn sau:

-Đoàn Thị Điểm có diễn ca Chinh phụ ngâm chăng ?

-Giá trị hai chữ 'nữ giới' trước bài B ;

35 Ông Hoàng Xuân Hãn đã dùng từ 'ảnh sao' để dịch từ pho-tocopy của tiếng Anh

Trang 30

- Thử tìm lí do khiến ông Phan Huy Chiêm không công bố bài diễn ca của nhà họ Phan ;

- Phan Huy Ích phải chăng là người nhuận sắc bài diễn ca của Đoàn Thị Điểm ?

- Sự đáng tin của các bài diễn ca B, C, D và bản Tân khúc

1 Đoàn Thị Điểm có diễn ca Chinh phụ ngâm chăng? Trong phần phụ

lục bài ‘Những tài liệu mới về nữ sĩ Đoàn Thị Điểm’ đã nói ở trước, ông Trúc khê có nêu ra ba lẽ đáng ngờ để nghi rằng Đoàn Thị Điểm chưa hề diễn ca Chinh phụ ngâm Ý kiến của ông Trúc khê xét ra chưa được thỏa đáng, chúng tôi xin đưa ra những nhận định như sau :

a) Về lẽ thứ nhất, ông Trúc khê bảo rằng người chép Đoàn thị thực lục (gia phả họ Đoàn) là cháu rể bà Đoàn, sinh rất gần đời bà, vậy nếu bà Đoàn có diễn

ca Chinh phụ ngâm, thì người ấy phải biết, mà đã biết thì phải ghi vào gia phả

Đoàn Thị Điểm nếu có diễn ca Chinh phụ ngâm, thì phải diễn trong thời gian chồng bà là Nguyễn Kiều đi sứ Thanh (1745-1745) hoặc sau đó một vài năm, trước khi theo chồng vào trấn tại Nghệ-an rồi mất ở đây năm 1748 Nói về di cảo bà Đoàn, gia phả có ghi: ‘Nay đi cảo chỉ có nhà quan thượng thư Nguyễn Nghiễm ở Tiên-điền là tốt hơn cả.' (37) Người cháu rể biết được bài diễn ca của

bà Đoàn là trong trường hợp bài ấy nổi tiếng, diễn ca xong thì được truyền tụng ngay Nay diễn ca xong được vài năm thì bà Đoàn mất, rồi di cảo được giữ ở làng Tiên-điền, gia dĩ lại không được hay cho lắm, thì thiết tưởng cháu gọi bà Đoàn bằng cô là ông Đoàn Doãn Y chưa chắc đã biết, huống nữa là con rể ông Doãn Y Như vậy, lẽ này không thể bác được tục truyền Đoàn Thị Điểm diễn ca Chinh phụ ngâm

36 Hoàng Xuân Hãn, Bị khảo, Sđđ., tr.16

37 Nđđ., tr 41

Trang 31

b) Về lẽ thứ hai, ông Trúc khê bảo rằng trong bài văn tế vợ, Nguyễn Kiều

có lược kê thơ văn của bà Đoàn, nhưng tuyệt nhiên không thấy nói gì đến bài Chinh phụ ngâm chữ Nôm Như vậy, bà Đoàn không phải là người diễn khúc ngâm đó

Ta biết, theo Đoàn thị thực lục, thì trứ tác chữ Hán của Đoàn Thị Điểm gồm có năm chuyện là ‘Hải khẩu linh từ’, 'Vân cát thần nữ', 'An ấp liệt nữ', 'Yến oanh đối thoại' và ‘Mai huyễn’ ; ông Hoàng Xuân Hãn còn kể thêm hai chuyện nữa là 'Hoàng sơn tiên cục' và 'Nghĩa khuyển thập miêu' (38) Thế mà trong bài văn tế, Nguyễn Kiều chỉ kể bốn chuyện đầu (39) Ấy là vì những cớ về nội dung (chỉ kể những chuyện có tính chất đạo đức, giáo huấn) và hình thức (hai vế của câu văn biền ngẫu phai đối cho cân), khiến cho Nguyễn Kiều chỉ kể được bốn chuyện mà thôi Vậy ta không thể chỉ căn cứ vào bài văn tế để bảo bà Đoàn không diễn ca Chinh phụ ngâm cũng như không viết chuyện 'Mai huyễn' và hai chuyện kia

c) Về lẽ thứ ba, ông Trúc khê lại dựa vào một câu trong sách Tang thương ngẫu lục chép rằng 'khoảng năm về già Đặng Trần Côn làm ra khúc Chinh phụ ngâm', mà cho rằng nếu qua lời ấy là đúng, thì khi khúc Chinh phụ ngâm chữ Hán ra đời, bà Đoàn đã tạ thế rồi

Ông Hoàng Thúc Trâm đã căn cứ vào sách Tang thưang ngẫu lục mà phổng đoán khúc Chinh phụ ngâm được Đặng Trần Côn soạn vào thời chúa Trịnh

chương chép : ‘Chinh phụ ngâm là bởi hương cống Đặng Trần Côn soạn, nhân đầu đời Cảnh hưng (1740-1786), việc binh nổi dấy, người ta đi đánh phải lìa nhà, ông cảm thời thế mà làm ra.' Ông Hoàng Xuân Hãn đã căn cứ vào ghi chép trên

mà phỏng định khúc Chinh phụ ngâm chữ Hán được soạn vào khoảng năm

38 Bị khảo, Sđđ., tr 42, chú thích số 49

39 Tiểu thuyết thứ bảy, Sđđ., tr 47 ; hoặc Thử giải quyết … Sđđ., tr 34

40 Tri tân, số 113, Sđđ., tr 14

Trang 32

1741-1742 (41) Nếu dựa vào sách mà xét, thì ta nên tin vào Lịch triều hiến chương là loại tín sử có tra cứu chặt chẽ, hơn là tin vào Tang thương ngẫu lục là loại truyền kì, dã sử Ông Hoàng Xuân Hãn tìm được bài diễn ca đầu tiên là bài

B có thể văn thuộc giữa thế kỉ thứ XVIII trở về trước, chứng tỏ sự ghi chép trong Lịch triều hiến chương là đúng, do đó, khi Đặng Trần Côn soạn xong Chinh phụ ngâm, Đoàn Thị Điểm vẫn còn sống

Nói tóm lại, ý kiến của ông Trúc khê chưa đánh đổ được tục truyền Đoàn Thị Điểm có diễn ca Chinh phụ ngâm (42)

41Bị khảo, Sđđ., tr 16

42 Trong bài 'Bà Điểm nào trong hai bà Điểm tương truyền có tham gia dịch một bản Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ?’ đăng trên tạp chí Văn học số 6 (Hà-nội, tháng 11-12/1977), tr 95-101, ông Bùi Văn Nguyên có đưa ra một bà Nguyễn Thị Điểm người tỉnh Hải-dương, lớn tuổi và sống lâu hơn bà Đoàn Thị Điểm, có người anh là Nguyễn Trác Luân (sinh năm 1699), có tài văn thơ, thường xướng họa với anh Do có

sự trùng lặp về giai thoại giữa hai bà (giai thoại về 'lưỡng điểm', 'song luân’ ) cho nên ông Bùi Văn Nguyên cho rằng giai thoại chê Đặng Trần Côn là 'sơ học tiểu sinh' nên dành cho bà Nguyễn Thị Điểm Ngoài ra, vì bà Nguyễn sống lâu, lại là người đồng thời với Phan Huy Ích, cho nên 'nếu quả có hai bà Điểm tham gia dịch Chinh phụ ngâm theo tục truyền, thì ngoài Đoàn Thị Điểm, cần tìm sang hướng khác là hướng Nguyễn Thị Điểm'

Tại sao ông Bùi Văn Nguyên muốn chuyển tục truyền diễn ca Chinh phụ ngâm

từ Đoàn Thị Điểm sang Nguyễn Thị Điểm ? Theo ý chúng tôi, ấy là vì Đoàn Thị Điểm mất sớm (bà sinh năm 1705 mất năm 1748), cho nên nếu chấp nhận bà Đoàn có diễn

ca Chinh phụ ngâm, thi bài diễn ca của bà phải là bài đầu tiên, tức là bài B, trong đó có nhiều tiếng cổ (điều này ông Bùi Văn Nguyên cũng xác nhận) Nay nếu chuyển sang bảo rằng bà Nguyễn Thị Điểm diễn ca Chinh phụ ngâm lúc về già, thì bài diễn ca của

bà Nguyễn cũng có thể là bài sau cùng, tức là bài hiện hành, bài A, chứ không riêng gì Phan Huy Ích

Trong bài báo vừa nói, ông Bùi Văn Nguyên có bảo rằng ông Hoàng Xuân Hãn

đi 'lái vấn đề Đoàn Thị Điểm dịch Chinh phụ ngâm sang bài B ( ) để được rảnh rang với Phan Huy Ích và bản dịch lưu hành hiện nay', (tr 100) Nay để phá thuyết Hoàng Xuân Hãn, ông Bùi lại lái vấn đề dịch Chinh phụ ngâm từ Đoàn Thị Điểm sang Nguyễn Thị Điểm Chúng tôi nghĩ rằng nhà nghiên cứu khoa học chân chính không cần đến những thủ thuật tầm thường như ông Bùi Văn Nguyên muốn nói Như trong luận án sẽ chứng minh, thuyết Hoàng Xuân Hãn được xây dựng trên những dữ kiện

Trang 33

2 Giá trị hai chữ 'Nữ giới' Nhận xét về bài diễn ca B, ông Hoàng Xuân

Trong bài báo 'Cái nghi án văn chương, Tác giả là ai ?' đã đề cập trên đây, ông Biệt-lam không chấp nhận giá trị bằng chứng của hai chữ 'Nữ giới' Ông viết:

‘Bản Viết cũ mà ông lượm được, thấy có đề chữ 女戒 ‘Nữ giới’, ông đã vội tin là 女界 'Nữ giới', mà giới là 'cõi' ra giới là 'răn', mà người viết bản ấy đã lầm, ông liền gán ngay bản ấy là của Đoàn Thị Điểm Biết đâu, một nhà nho nào đó, thấy bản Hán văn hay thì đã chép ra để ngâm vịnh, rồi nhân tiện lại chép luôn một bản diễn Nôm nữa vào sau nhưng chú ý không muốn cho con gái hoặc cháu gái mình xem, sợ dễ gieo mối sầu cảm vào đầu óc phụ nữ, có hại về tinh thần, nên mới viết chữ 女戒 là 'Răn con gái' không được ngó tới mà thôi, vả lại, chữ 'Nữ giới' dùng để chỉ phái phụ nữ, mãi sau hồi Nhật-bản duy tân, mới phát khởi

văn bản học khách quan có thật ; còn sự suy diễn của ông Bùi Văn Nguyên chỉ dựa vào tưởng tượng là chính, cho nên có nhiều sơ hở, không thể chấp nhận được

Sau đây là mấy chỗ không vững trong hướng giải quyết của ông Bùi : a) Không thể gượng ép gán cho Nguyễn Thị Điểm (sinh khoảng 1700, theo ông Bùi) là người đồng thời với Phan Huy Ích (1750-1822); b) Muốn cho Nguyễn Thị Điểm là người diễn ca bài sau cùng, thì phai kéo dài tuổi thọ của bà ấy sau năm 1804 (là năm Huy Ích diễn ca bài mới) tức là bảo rằng bà Nguyễn Thị Điểm diễn ca Chinh phụ ngâm khi bà

đã trên 100 tuổi! c) Bài diễn ca B có cách gieo vần cổ, chứng tỏ là một văn bản từ giữa thế kỉ thứ XVIII trở về trước ; ta không thể gán bài ấy cho Nguyễn Khản, (1734-1786) hay Phan Huy Ích Nếu bài ấy không phải là của Đoàn Thị Điểm, thì là của ai ?

43 Bị khảo, Sđđ., tr 27, 28

Trang 34

ra danh từ ấy, chứ hồi Hậu Lê ta đã có dùng tới đâu mà ông vội sậu đoán như thế ?' (44)

Mặc dầu ông Lê Ngọc Trụ tìm thấy trong từ điển chữ 戒 Giới cũng có nghĩa là 'cõi' (45), nhưng chúng tôi nhận thấy ý kiến của ông Biệt lam là xác đáng, khi cho rằng hai chữ 'Nữ giới' 女界là danh từ mới, được du nhập từ tiếng Nhật trong thời gian gần đây Vậy ta không thể đồng ý với ông Hoàng Xuân Hãn mà nhận rằng 'Nữ giới' 女戒 là 'ý muốn nói đó là đàn bà diễn ca' (46)

Tuy nhiên, không phải vì thế mà ta có thể bảo những nhận định của ông Hoàng Xuân Hãn về người diễn ca bài B là sai Vì, như lời trích dẫn trên đây, để khẳng định người diễn ca, ngoài việc căn cứ vào hai chữ 'Nữ giới', ồng Hoàng Xuân Hãn còn căn cứ vào lối dịch, căn cứ vào tiếng cổ trong bài B, cùng những

lẽ nói ở phần 'Diễn giả', vậy hai chữ 'Nữ giới' không phải là bằng chứng độc nhất và quyết định trong việc xác định người diễn ca bài B

3 Thử tìm lí do khiến ông Huy Chiêm không công bố bài diễn ca của nhà họ Phan Nhiều người đã băn khoăn không hiểu vì sao ông Phan Huy

Chiêm không công bố cho dư luận rõ bản Chinh phụ ngâm của nhà họ Phan

44 Tầm nguyên tạp chí, tập thứ 1 (Hà-nội, tháng 5-1954), tr 7, 8

45 Trong bài 'Chung quanh bài Thống nhất thoại', ông Lê Ngọc Trụ tìm thấy chữ 'Giới'

戒 ở nghĩa thứ bảy trong từ điển Từ hải và ở nghĩa thứ năm trong Hán Việt tự điển của Thiều Chửu đều có nghĩa là 'cõi' như chữ 'Giới' 界 (Bách khoa tạp chí, số 7, Sài-gòn, tháng 12-1959, tr 59)

46Dẫu không đồng ý với ông Hoàng Xuân Hãn về cách hiểu hai chữ 'Nữ giới' 女戒là nói 'đàn bà diễn ca', nhưng chúng tôi thấy cách hiểu của ông Biệt lam là 'Răn con gái' cũng không thỏa đáng, vì chúng tôi chưa hề thấy ở đâu hai chữ ấy có nghĩa như thế Vậy

thì, tại sao trong bản Viết cũ, ở cuối bài Hán văn và ở trước bài B lại có hai chữ 'Nữ giới' 女戒 ? Rồi lại ở cuối bài B và ở trước bài C lại có hai chữ 'Hữu thể' 右体 ? Mấy chữ ấy có nghĩa gì và muốn nói lên điều gì ? Đối với chúng tôi, mấy chữ ấy đang còn

là một ẩn số, tuy đã suy nghĩ nhiều, nhưng chúng tôi vẫn chưa tìm được lời giải thỏa đáng

Trang 35

Người thì yêu cầu nhẹ nhàng, người thì chất vấn gắt gao (47) Về một phương diện, lời chất vấn sẽ khó giải quyết, vì ông Hoàng Xuân Hãn cho biết là 'hình như bản chữ nho và chữ nôm nay chưa tìm lại được' (48)

Ta biết rằng lời yêu cầu đầu tiên là của ông Hoa bằng, năm 1943, trên tạp chí Tri tân Lời yêu cầu ấy quá cách xa bức thư đầu tiên của ông Huy Chiêm gửi cho tạp chí Nam phong, sợ rằng ông Huy Chiêm cũng không tìm đọc được ngay Sau đây là những năm chiến tranh loạn lạc, tài liệu mất mát là sự thường, vậy tưởng cũng chẳng có điều gì bí ẩn khiến cho ông Huy Chiêm không công bố được bản Chinh phụ ngâm vừa chữ vừa nôm của nhà ông

Ta hãy trở lại vấn đề vào hồi năm 1926 Trong sách Bị khảo, ông Hoàng Xuân Hãn đã gián tiếp trả lời cho nghi vấn trên như sau : ‘ mặc dầu những nhà khảo cứu yêu cầu, ông Huy Chiêm chưa từng xuất bản bài diễn ấy Ấy vì lẽ ông Huy Chiêm nghĩ rằng bài diễn ca của cụ tổ mình đã in bán khắp nơi mà có lẽ có câu không hay bằng nữa.' (49)

47 Năm 1943, ông Hoa bằng viết : 'Chúng tôi rất mong các ông lệnh diêu họ Phan nên công bố bản dịch của ông Phan Huy Ích ra để gỡ cho xong một mối ngờ lớn về văn học này.' ('Dịch phẩm Chinh phụ ngâm phải chăng của bà Đòan Thị Điểm', tạp chí Tri tân, Bđđ., tr 15) Năm 1951, ông Thuần phong than thở : 'Nhưng tiếc thay, ông Huy Chiêm không biết vì lẽ nào mà không chịu trình ra tòa án dư luận một bằng chứng xác thực để đánh đổ mối hoài nghi và để giành về một món gia tài quý báu ?’ (Chinh phụ ngâm khúc giảng luận, Sđđ., tr 10) Năm 1954, ông Biệt tam cũng nêu mối nghi vấn ấy với ông Hoàng Xuân Hãn: 'Ông mới nhận được bản sao gần đây bằng tiếng la-tinh của người nhà họ Phan đưa cho, ông đã vội tin ngay là bản của Phan Huy Ích đã diễn nôm, vậy sao ông không hãy cố đợi cho đến khi nào mượn được nguyên bản bằng chữ Nôm

để mà khảo sát, thì mới chính xác hơn và tường tận hơn ? Bản chính ấy nếu không được công bố, biết đâu không có điều gì bí ẩn ở trong mà người họ Phan không chịu phô ra cho rõ ? …’ ('Cái nghi án văn chương ', Tạp chí Tầm nguyên, Bđđ., tr 7)

48 Bị khảo, Bđd., tr 26 Năm 1961, ông Lại Ngọc Cang có về điều tra bản dịch của nhà

họ Phan ở Sơn-tây, cũng cho biết bản chữ Nôm và chữ Hán 'nay đã thất lạc' (Chinh phụ ngâm, Sđđ., tr 51

49 Bị khảo Sđđ., tr 26

Trang 36

Theo ý chúng tôi, có lẽ còn có hai lí do nữa khiến ông Huy Chiêm không

có dịp công bố bài Chinh phụ ngâm của dòng họ mình : a) Thứ nhất là vì bài báo

ác nghiệt của ông Đông châu Sau khi giới thiệu mấy tư liệu của ông Huy Chiêm gửi đến, trong đó có bài thơ 'ngẫu thuật' của Phan Huy Ích, ông Đông châu viết : 'Xem như bài thơ trên đó truyền lại, thì đủ chứng rằng Chinh phụ ngâm khúc bấy lâu nay ta vẫn truyền lại là bà Đoàn Thị Điểm diễn nôm, dễ thường không phải, mà chính là của cụ Phan Huy Ích diễn ra đó chăng ? Nếu quả thật thế thì ta nên chính đính lại.' (50) Cuối bài báo, ông chỉ ước mong lục đăng mấy chục bài thơ, phú và văn tế, văn hịch của Phan Huy Ích mà thôi Trước sự đón tiếp ít nhiệt tình của ông Đông châu, chắc ông Huy Chiêm cũng chẳng thấy hứng thú gì để xuất bản cuốn Chinh phụ ngâm của nhà mình, hầu mong chứng minh một vấn đề chẳng được ai chú ý tới

b) còn một lí do quan trọng nữa là tình hình học văn hồi bấy giờ không đòi hỏi sự giải quyết dứt khoát vấn đề Ta biết sự học ở các trường tiểu và trung học của nước ta thời bấy giờ là để phát huy nền văn hóa Pháp, môn Việt văn chỉ học một vài giờ cho có lệ, trong chương trình Việt văn bậc trung học năm 1932 tuy

có ghi Cung oán ngâm khúc, nhưng lại không ghi Chinh phụ ngâm Trong hoàn cảnh bất lợi cho sự học văn như vậy, tưởng rằng ông Huy Chiêm không có đủ hăng hái như chúng ta ngày nay, cố tìm cách công bố hoặc xuất bản cuốn Chinh phụ ngâm để gây thành cuộc tranh luận

Nói tóm lại, việc ông Huy Chiêm không công bố bản Chinh phụ ngâm của nhà họ Phan là một việc chẳng cos gì lạ Có đáng lấy làm lạ chăng, là trước Hoàng Xuân Hãn, khi bản Chinh phụ ngâm của nhà họ Phan chưa bị thất lạc, các nhà nghiên cứu như Hoàng Thúc Trâm, Thuần phong chẳng chịu tìm hỏi ông Huy Chiêm để xem mặt mũi bản Chinh phụ ngâm ấy ra làm sao ? Và có đáng lấy làm lạ chăng là người ta đã viết nhiều về vấn đề người dịch Chinh phụ

50 'Phan Dụ am tiên sinh văn tập', trong mục 'Văn uyển’, tạp chí Nam phong, tập XVIII, số 106 (Hà-nội, tháng 6-1926), tr 495

Trang 37

ngâm, nhưng thử hỏi hiện nay có mấy người thực sự muốn tìm hiểu vấn đề một cách tường tận, thấu đáo, để đưa ra một ý kiến dứt khoát, công bằng, khách quan

Dẫu thế nào mặc lòng, ta cũng không thể chấp nhận rằng Phan Huy Ích là người nhuận sắc bài diễn ca của Đoàn Thị Điểm

a) Trước hết, ta không thể bảo Phan Huy Ích đã nhuận sắc bài A thành bài

B Ta đồng ý với ông Biệt lam là có sự 'bắt chước' giữa hai bài diễn ca A và B Nhưng nếu so sánh văn phong trong hai bài, thì ta phải thấy rằng bài A phải được hoàn thành sau bài B

Thử lấy ví dụ đoạn ‘Trách lỗi ngày hẹn’ (xem phần trích ở chương III trong luận án này) Ta biết rằng cái hay trong nguyên tác Hán văn, ngoài những hình tượng đẹp đẽ, còn do ở sự khéo sắp đặt đoạn văn thành hai tiết trùng điệp, hô ứng nhau, gây nên những tình ý thiết tha, dồi dào Để diễn 12 câu nguyên tác ấy, người diễn bài B tuy biết dùng lời văn bay bướm, nhưng lại thật thà diễn thành

12 câu song thất lục bát chưa thuần, cho nên không thực hiện lại được sự đối chọi trong nguyên văn Người diễn bài A đã thấy rõ ưu điểm của nguyên tác và khuyết điểm của bài B, cho nên ngoài sự cố diễn hết ý tứ của nguyên văn, còn khôn ngoan dịch gộp 12 câu Hán văn thành hai chu kì bốn câu song thất lục bát, nhờ thế đã thực hiện được sự trùng chương điêp cú như trong nguyên tác

51 'Cái nghi án văn chương, Tác giả là ai ?', Bđđ., tạp chí Tầm nguyên, tr 15

Trang 38

Nếu bảo rằng Phan Huy Ích đã nhuận sắc bài A thành bài B, thì chẳng hóa

ra có sự thoái hóa trong nghệ thuật diễn ca hay sao ? Nhận xét vừa rồi còn cho ta thấy Phan Huy Ích không thể là người diễn ca bài B, như ông Biệt lam muốn chứng minh ở một đoạn trước đó trong bài báo

b) Ta cũng không thể bảo rằng Phan Huy Ích đã nhuận sắc bài B thành bài

A Ta công nhận với ông Biệt lam rằng khi diễn ca bài A, Phan Huy Ích đã từng tham khảo kĩ càng bài B

Trong bài thơ ‘ngẫu thuật’, Phan Huy Ích có viết : ‘Đã nhiều kẻ trau giồi lời mà diễn âm.’ Câu này cho thấy Phan Huy Ích đã từng biết tới nhiều bài diễn

ca Chinh phụ ngâm trước ông, không riêng gì chỉ một bài B Như se chứng minh trong chương III của luận án này, ta thấy rằng, ngoài bài diễn ca B, Phan Huy Ích còn chịu ảnh hưởng của hai bài diễn ca C và D Do đó, ta không thể bảo rằng Phan Huy Ích đã nhuận sắc bài B thành bài A, vì, để cho công bằng, ta còn phải bảo ông đã nhuận sắc cả bài C và bài D

Nói về bài diễn ca của mình, Phan Huy Ích viết : 'Trong khi thong thả, ta phiên dịch thành khúc mới.' Phan Huy Ích đã tự nói chính ông đã phiên dịch thành khúc mới, không hề nói gì tới việc nhuận sắc, nhuận chính, vậy ta không

có lí do gì để bảo rằng ông đã nhuận sắc bài B thành bài A

5 Sự đáng tin của các bài diễn ca B, C, D và bản Tân Khúc Về mặt lí

thuyết, thì việc giả mạo các văn bản Chinh phụ ngâm chỉ có thể quan niệm sau năm 1926, tức là sau khi ông Phan Huy Chiêm công bố bài thơ ‘ngẫu thuật’, trong đó Phan Huy Ích cho biết có nhiều người diễn ca Chinh phụ ngâm trước ông, rồi sau đó ông Hoàng Xuân Hãn công bố các bài diễn ca B, C, D và Ông Nguyễn Văn Xuân xuất bản tập Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc

Trên thực tế, thì chưa có ai hoài nghi về các văn bản vừa nói và cũng chưa thấy ai phát hiện điều gì đáng nghi trong các văn bản ấy Nay chúng tôi xin nêu tóm tắt sự đáng tin của các bài diễn ca B, C, D và bản Tân khúc như sau :

Trang 39

Hai bài diễn ca B và C có những đặc điểm khiến ta không thể hoài nghi tính chân thực của chúng, vì : a) cấu trúc văn bản và một vài chi tiết như thoại

văn bản thế kỉ thứ XVIII, người của thế kỉ thứ XX không thể tưởng tượng ra được (52) ; b) riêng thể văn song thất lục bát trong bài B là thể song thất cổ, chứng tỏ bài B là một văn bản ra đời từ giữa thế kỉ thứ XVIII trở về trước, người thời nay không thể bịa ra được (53) ; c) tập Viết cũ gồm năm văn bản là bài nguyên tác Hán văn, hai bài diễn ca B, C và hai bài phỏng dịch E, F ; trừ bài E, bốn bài kia đều do một tuồng chữ giống nhau chép Ta không thể nghĩ rằng một người có thể làm giả cả bốn bài ; nếu không hoài nghi bài Hán văn và bài F, thì

ta cũng không có lí do để hoài nghi hai bài B và C

Bài diễn ca D tuy được ông Hoàng Xuân Hãn chép theo một bản viết bằng chữ quốc ngữ do người khác đã phiên âm từ một bản Nôm, nhưng cũng là một văn bản đáng tin, một phần vì nó có cấu trúc văn bản giống các bài B, C, phần khác vì nó bị mất chữ mất câu rất nhiều (54), nếu do người gần đây làm giả, thì tất không để mất, thiếu như vậy

Cuối cùng, theo chúng tôi, bản Tân khúc cũng là văn bản, đáng tin, vì các lí

do sau : a) bản Tân khúc được chép hết sức công phu, nghiêm chỉnh, lại có cách trình bày độc đáo, đặc biệt đề cao văn bản Nôm, khác xa cách trình bày trong các bản Chinh phụ ngâm thông thường (55) ; b) bản Tân khúc có tờ bìa chép năm

52 Xem đoạn 'Bằng chứng về thư mục' trong chương I của luận án này

53 Xem đoạn 'Xám định thời điểm ra đời của các bài diễn ca qua hai đặc tính cổ của thể song thất lục bát' trong chương II của luận án này

54 Toàn bài D có 8 câu mất và sót (mỗi câu mất hoặc sót từ 1 đền 3 chữ) và sót, mất, thiếu chừng 30 câu

55 Trong các bản Trường thịnh, mỗi trang chia làm hai tầng bằng nhau : trên là phần chữ Hán, dưới là phần chữ Nôm, mỗi tầng có 10 hàng, mỗi hàng 8 chữ ; các câu thơ Hán cũng như Nôm chép liền nhau, không qua dòng, như một dãy văn xuôi Trong bản Long hòa, mỗi trang chia làm ba tầng bằng nhau : trên là phần chú thích, giữa là phần chữ Hán, dưới là phân chữ Nôm ; tầng chú thích thì hàng 10 ; tầng Hán, Nôm thì hàng

8, mỗi hàng 6 chữ, các câu thơ Hán, Nôm cũng chép liền nhau như văn xuôi

Trang 40

khác là Gia long thứ 14 (1815), nhưng trong văn bản lại viết húy chữ Thì (tên vua Tự đức), chữ Điều (tên vua Dục đức) và chữ Chân (tên mẹ vua Đồng khánh) ?) (56) ; những chi tiết trên đây chứng tỏ bản Tân khúc là bản sao vào thời Thành thái từ một bản cũ, chứ không phải là giả mạo, vì người ta không thể giả mạo một cách lộ liễu như vậy ; c) bản Tân khúc, ngoài 17 câu khác bản thông thường giống như bản Phan huy mà ông Hoàng Xuân Hãn đã công bố, còn có 5 câu vừa khác bản thông thường lại vừa khác bản Phan huy (57) ; sự kiện này chứng tỏ bản Tân khúc không phải giả mạo, vì người giả mạo không cần gây ra những rắc rối không cần thiết

V Thành phần của luận án

Theo sự hiểu biết và kinh nghiệm của chúng tôi, vấn đề phức tạp và gai góc

là vấn đề người dịch Chinh phụ ngâm, muốn được giải quyết một cách đúng đắn, trọn vẹn phải được thực hiện với hai điều kiện : thứ nhất là vấn đề phải được trình bày và giải quyết một cách tương đối rộng rãi và đầy đủ như chúng tôi đã làm trong 318 trang sách Thử giải quyết vấn đề diễn giả Chinh phụ ngâm; thứ nhì là vấn đề phải được minh họa cụ thể, sống động bằng cách nghiền ngẫm 330 trang Chinh phụ ngâm bị khảo của ông Hoàng Xuân Hãn Sách Bị khảo là tự thân những sự kiện cụ thể và phong phú của vấn đề : có tiếp xúc với các chi tiết

Riêng bản Tân khúc thì mỗi trang chia làm ba tầng bằng nhau : tầng trên là phần chữ Hán, hai tầng dưới là phần chữ Nôm Trong phần chữ Nôm mỗi trang gồm 8 hàng, đặc biệt mỗi hàng gồm 2 câu thơ chép rời nhau : bắt đầu thì hàng thứ nhất gồm hai câu thất, một câu ở tầng trên, một câu ở tầng dưới; tiếp theo, hàng thứ hai gồm câu lục ở tầng trên, câu bát ở tầng dưới ; tiếp nữa hàng thứ ba lại gồm hai câu, thất như ở hàng thứ nhất, các câu kể từ trên xuống và từ trái sang Điều đáng lưu ý nữa, là trong bản này phần chữ Hán là phụ, phải viết tương ứng với những câu chữ Nôm, do đó chữ viết phải nhỏ bằng 1/4 chữ Nôm, mỗi trang phải gồm 16 hàng, mỗi hàng có 12 chữ, những câu thơ chép nối nhau như văn xuôi, nhưng phải sang hàng khi viết hai câu thơ Nôm tương ứng (Xem ảnh đính kèm)

56 (3) Xem Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc, Sđđ., tr II

57 5 câu ấy là : câu 203, 204, 219, 350, 351 Riêng câu 351 thì không giống hai bản Ph,

Tt, mà lại giống bản Lh

Ngày đăng: 03/01/2021, 09:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w