1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu và đề xuất mô hình ứng dụng các kỹ thuật chỉnh sửa hình ảnh nhằm nâng cao chất lượng nghệ thuật hình ảnh - ứng dụng cho phim truyền hình tại Đài THVN

132 75 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 32,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với phương pháp chỉnh màu sơ cấp,thứ cấp, ý tưởng của đạo diễn kết hợp với tư duy logic của người chỉnh màu, để có một sự sáng tạo cũng như truyền tải nội dung một câu chuyện trongp

Trang 1

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH ẢNH 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU 10

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 12

LỜI NÓI ĐẦU 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUY TRÌNH SẢN XUẤT PHIM TRUYỀN HÌNH, NHU CẦU CHỈNH MÀU NGHỆ THUẬT TRONG GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN HIỆN NAY 16

1.1 Tổng quan về quy trình sản xuất phim truyền hình 16

1.1.1 Phát triển kịch bản 17

1.1.2 Tiền sản xuất (Sản xuất tiền kỳ) 18

1.1.3 Sản xuất 20

1.1.4 Hậu kỳ 21

1.1.5 Phát sóng 22

1.2 Khảo sát hiện trạng ứng dụng kỹ thuật chỉnh màu cho phim ở trong nước.22 1.2.1 Nhận xét chung 22

1.2.2 Hiện trạng chung nhu cầu chỉnh màu trong nước 23

1.3 Phân tích và đánh giá tầm quan trọng của chỉnh màu nghệ thuật trong phim 26

1.3.1 Màu sắc là cung bậc cảm xúc của bộ phim 26

1.3.2 Màu sắc là phương tiện thể hiện tính nghệ thuật 27

1.4 Các yêu cầu về chỉnh màu cho một tác phẩm 30

1.4.1 Yêu cầu về kỹ thuật 30

1.4.2 Yêu cầu về nghệ thuật 32

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MÀU SẮC CHO PHIM VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGHỆ THUẬT HÌNH ẢNH CHO PHIM TRUYỀN HÌNH 34

2.1 Cơ sở lý thuyết màu sắc và sự cảm nhận của mắt người 34

Trang 2

2.1.1 Khái niệm về màu sắc 34

2.1.2 Các yếu tố cơ bản của màu sắc 35

2.1.3 Màu sơ cấp, thứ cấp và cao cấp 36

2.1.4 Các loại màu khác 38

2.1.5 Sự cảm nhận màu sắc của con người 40

2.2 Không gian màu cho phim 41

2.3 Một số phần mềm chỉnh màu 49

2.4 Một số khái niệm mã hóa tuyến tính, Gamma và logarit trong truyền hình 50

2.4.1 Đáp tuyến tuyến tính 50

2.4.2 Đồ thị biểu diễn quan hệ cường độ sáng gamma trong phim và Video 56

2.4.2.1 Đồ thị Gamma là gì? 56

2.4.2.3 Khái niệm kiểm soát phần cong gần điểm bão hòa trên của đồ thị gamma (Knee control) 58

2.4.2.4 Khái niệm kéo giãn vùng đen/ hiệu ứng gamma vùng đen (Black gamma) 60

2.4.3 Mã hóa Log Encoding 61

2.5 Một số phương pháp chỉnh màu nghệ thuật cho phim truyền hình 64

2.5.1 Phương pháp chỉnh màu sơ cấp 64

2.5.1.1 Quy tắc của dải màu 64

2.5.1.2 Cân bằng màu sắc 68

2.5.2 Phương pháp chỉnh màu thứ cấp 73

2.5.2.1 Khái niệm 73

2.5.2.2 Các phương pháp trong chỉnh màu thứ cấp 74

2.5.3 Chỉnh màu thứ cấp tạo nâng cao hiệu quả hình ảnh 83

2.5.3.1 Thêm ánh sáng cho khuôn mặt / Adding Light to Face 84

2.5.3.2 Vùng tối được sâu hơn 84

2.5.3.3 Tạo chiều sâu / Creating Depth 85

2.5.3.4 Vector màu với kỹ xảo tạo xóa rác (Garbage Matte) 87

Trang 3

2.5.4 Sáng tạo trong nghệ thuật chỉnh màu 88

2.5.4.1 Biểu đồ màu 89

2.5.4.2 Năm cách phối màu phổ biến trong phim 89

CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG QUY TRÌNH KỸ THUẬT HIỆU CHỈNH MÀU SẮC CHO PHIM TRUYỀN HÌNH 93

3.1 Thiết lập quy trình cho sản xuất tiền kỳ 93

3.1.1 Quy trình tiền kỳ của một số hãng sản xuất Camera 94

3.1.2 Các nhiệm vụ cụ thể của một kỹ thuật viên hình ảnh số (DIT) 96

3.1.3 Xây dựng quy trình làm việc cụ thể đối với DIT 99

3.2 Quy trình kỹ thuật trong giai đoạn hậu kỳ phim 102

3.2.1 Thiết lập môi trường chỉnh màu cho phim 102

3.2.2 Hiểu về màn hiển thị màu chuẩn trong quản lý màu sắc 105

3.2.3 Sơ đồ khối quy trình sản xuất hậu kỳ cho phim 107

3.3 Đề xuất quy trình chỉnh màu chung cho bốn thể loại phim truyền hình 4K 108

3.3.1 Sơ đồ khối chung quy trình chỉnh màu cho phim 4K 108

3.3.2 Chuẩn 6 bước an toàn cho hình ảnh phát sóng tại Đài THVN 110

3.3.3 Hệ thống chỉnh màu phim 4K 112

3.3.4 Chỉnh màu cho phim truyền hình ở Việt Nam 113

3.3.4.1 Các bước chỉnh màu phim giải trí 113

3.3.4.2 Các bước chỉnh màu phim chính luận 120

3.3.4.3 Các bước chỉnh màu phim hình sự 122

3.3.4.4 Các bước chỉnh màu phim lịch sử 128

KẾT LUẬN 132

TÀI LIỆU THAM KHẢO 134

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 9

ARC ArriRAW Converter

List

Trang 10

LỜI NÓI ĐẦU

Trong những năm gần đây, phim truyền hình Việt Nam đang từng bướcchiếm lĩnh màn ảnh nhỏ trong nước Nhiều tác phẩm chất lượng đã đượcgiới thiệu đến công chúng yêu phim và được khán giả đón nhận rộng rãi.Phim truyền hình Việt Nam đã bao quát nhiều lĩnh vực, đề tài, cố gắng đisâu, phản ánh hiện thực cuộc sống bằng những thủ pháp điện ảnh cùng dàndiễn viên có nghề, lột tả được tính cách của nhân vật Tuy nhiên, việc ứngdụng các kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng hình ảnh ví dụ như điều chỉnhmàu sắc, ánh sáng … cho phim truyền hình tại Việt Nam vẫn chưa nhậnđược sự quan tâm đúng mức Hiện tại hầu hết các phim mới chỉ dừng lại ởcân chỉnh màu sắc giữa các cảnh là chính, hiếm phim nào áp dụng được việc

sử dụng các kỹ thuật đặc biệt màu sắc để kể chuyện Đây là vấn đề liên quanđến cả công tác tổ chức sản xuất lẫn người chỉnh màu bởi rõ ràng phải cómột cảnh quay chất lượng, người chỉnh màu mới có thể tạo ra một sản phẩmchất lượng

Với sự phát triển nhanh chóng của các thiết bị ghi hình hiện đại có độphân giải cao, đi kèm với đó là một hệ thống hậu kỳ đủ mạnh để xử lý tất cảcác vấn đề đặt ra trong quá trình ghi hình tiền kỳ, Đài Truyền hình Việt Namđang thay đổi nhanh chóng về phương thức sản xuất, đưa công nghệ sản

Trang 11

xuất phim truyền hình với độ phân giải cao (HD, 4K,…) nhằm đáp ứng đượcnhu cầu sản xuất, không chỉ trong nước mà còn hợp tác sản xuất phim vớicác đối tác trong khu vực và trên thế giới.

Với sự chuyển biến tích cực trong vấn đề nội dung, đặc biệt là phát triểnnội dung số trên đa nền tảng thiết bị, nghiên cứu của đề tài nhằm mục đíchđầu tư thích đáng cho chất lượng nghệ thuật của phim, làm tăng tính hấp dẫncho người xem, tạo cảm xúc chân thật nhất đối với nội dung của một bộphim Nó là một trong những yếu tố chính quyết định thành công của một dự

án nghệ thuật

Đề tài nghiên cứu cũng xây dựng được các quy trình hiệu chỉnh màutrong công đoạn tiền kỳ, hậu kỳ Cùng với phương pháp chỉnh màu sơ cấp,thứ cấp, ý tưởng của đạo diễn kết hợp với tư duy logic của người chỉnh màu,

để có một sự sáng tạo cũng như truyền tải nội dung một câu chuyện trongphim bằng ngôn ngữ màu sắc, khiến chúng trở thành một công cụ tuyệt vời

để dẫn dắt câu chuyện, gây mạch cảm xúc và tạo nên sự hài hòa trong khungcảnh

Nghệ thuật là không có giới hạn, trong đề tài cũng đưa ra quy trìnhchỉnh màu chung nhất cho một số thể loại phim truyền hình 4K ở ĐàiTHVN, nhằm nâng cao chất lượng nghệ thuật đáp ứng nhu cầu thị hiếu ngàycàng cao của khán giả, trong giai đoạn bùng nổ phát triển ngành giải trí hiệnnay

Trang 12

Chương 1 Tổng quan về quy trình sản xuất phim truyền hình, nhu cầu chỉnh màu nghệ thuật trong giai đoạn phát triển hiện nay

1.1 Tổng quan về quy trình sản xuất phim truyền hình

Phim truyền hình là một thể loại phim được sản xuất để phát sóng trên hệthống truyền hình Phim truyền hình được sản xuất với chuẩn riêng và phụthuộc vào hệ thống truyền hình của từng quốc gia mà có những định dạng vàkhung hình khác nhau Trước đây phim truyền hình thường được sản xuấtdưới hai định dạng là NTSC và DV PAL và những năm gần đây hệ thốngtruyền hình bắt đầu phát triển sản xuất và phát sóng phim truyền hình vớichuẩn hình ảnh độ phân giải cao mà ta quen gọi là HD (High – Definition)

Trang 13

và đến ngày nay bắt đầu phát triển lên sản xuất phim truyền hình với chuẩn4K

Quy trình sản xuất phim truyền hình và phim Điện ảnh không có nhiềukhác biệt về mặt tiền kỳ, cũng bao gồm các nhân sự cơ bản cần có của mộtđoàn phim Nhưng ở khía cạnh hậu kỳ thì phim truyền hình có quy trìnhnhanh gọn và chi phí thấp hơn so với hậu kỳ phim Điện ảnh

Do vai trò ảnh hưởng của truyền hình trong đời sống của chúng ta ngàynay rất lớn, khán giả không bị hạn chế bởi không gian và thời gian, nênphim trruyền hình khi được phát sóng đã được đón nhận một cách rộng rãi Nếu phim điện ảnh tồn tại dựa vào nguồn thu của phòng vé thì phimtruyền hình tồn tại nhờ vào nguồn thu quảng cáo của các doanh nghiệp vàmột phần từ kế hoạch đầu tư từ các Đài truyền hình Nguồn thu cao hay thấpdựa vào chỉ số Rating (một đơn vị tính dựa trên sự theo dõi của khán giả),cũng như thời điểm phát sóng của bộ phim mà có các giá thành khác nhaucho một đơn vị quảng cáo Trên thực tế đôi khi một bộ phim truyền hình cóthể có chỉ số Rating thấp nhưng nguồn thu quảng cáo lại cao hoặc ngược lại Thông thường những bộ phim trước đây mỗi Đài truyền hình đều có mộtxưởng phim sản xuất khép kín Nhưng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽcủa xã hội truyền hình đã phủ sóng với tần suất 24/365, nên khả năng tựcung cấp không đủ đáp ứng nhu cầu khán giả nữa Chính vì thế các doanhnghiệp phim tư nhân bên ngoài có cơ hội tiếp cận và sản xuất theo đơn đặthàng của các nhà Đài Doanh nghiệp bỏ vốn sản xuất và bán lại cho các Đàitruyền hình tùy theo tỷ lệ ăn chia

Thị trường phim truyền hình đang trở thành một mảnh đất cạnh tranh đầykhốc liệt , việc xuất hiện các sản phẩm giải trí cao cấp đến từ các nước pháttriển nó đã trở thành một thách thức lớn cho chúng ta Chỉ cso sự thay đổitích cực về quan niệm và tư duy sản xuất mới có thể giúp các nhà làm phimtồn tại và như thế thì khán giả truyền hình sẽ là những người được hưởng lợiđầu tiên

Trang 14

Quá trình làm phim (Filmmaking) là tổng hợp các công đoạn để tạo nên

một bộ phim, từ giai đoạn xây dựng ý tưởng, cốt truyện cho đến giai đoạnthực hiện ý tưởng và cuối cùng là quá trình phân phối phim đến khán giả.Quá trình làm một bộ phim thường kéo dài khoảng vài tháng đến vài nămtùy thuộc độ dài, mức độ phức tạp của ý tưởng cho tác phẩm và có sự thamgia của một đội ngũ các nhà biên kịch, biên tập, nghệ sĩ, kĩ thuật viên vànhững người liên quan Một bộ phim thường được hình thành qua 5 côngđoạn chính: Phát triển kịch bản, Tiền sản xuất, Sản xuất, Hậu kỳ, Phát sóng

Hình 1.1: Sơ đồ khối quy trình sản xuất phim truyền hình

(đề cương) để chuẩn bị cho việc viết kịch bản gốc chứa các chi tiết chính của

phim, nhịp điệu, định hình các nhân vật, một phần thoại và các chỉ dẫn cầnthiết cho đạo diễn Kịch bản này thường có chứa những phác họa để đạodiễn có thể hình dung được bối cảnh của những đoạn phim quan trọng

Trang 15

Trong thời gian tiếp theo, kịch bản phim được xây dựng hoàn chỉnh, rõràng về cấu trúc của truyện phim, tính cách hành động của các nhân vật,toàn bộ các đoạn thoại và phong cách chung của toàn bộ phim Các nhà sảnxuất và phân phối phim cũng sẽ kiểm soát quá trình này để xác định rõ thểloại phim, đối tượng khán giả mà phim hướng tới cũng như đảm bảo thànhcông về doanh thu cho bộ phim bằng cách tránh lập lại những ý tưởng đã cóhoặc sai lầm trong các bộ phim trước đó Vì lý do này nên quá trình viếtkịch bản tốn khá nhiều thời gian và đôi khi phải viết đi viết lại để phù hợpvới tinh thần của cốt truyện.

1.1.2 Tiền sản xuất (Sản xuất tiền kỳ)

Trong quá trình này, các yếu tố cần thiết để hiện thực hóa kịch bản đượclên kế hoạch và xây dựng Sau khi kịch bản hoàn thành, hãng sản xuất sẽđưa ra một ngân quỹ nhất định cho nhà sản xuất để xây dựng đội ngũ làmphim và biến kịch bản thành một bộ phim hoàn chỉnh Ngân quỹ và đội ngũlàm phim tùy thuộc vào độ phức tạp của kịch bản và kỳ vọng thương mại

của hãng sản xuất, với các bộ phim bom tấn (blockbuster) của Hollywood,

khoản ngân sách này có thể lên tới hàng trăm triệu USD với đội ngũ làmphim rất đông đảo, còn với những tác phẩm của những nhà sản xuất độc lập,đội ngũ này có sẽ ít đi nhiều

Các vị trí chính trong đội ngũ làm phim giai đoạn tiền kỳ là:

người chịu trách nhiệm về diễn xuất và các yếu tố sáng tạo khác của bộ phim

Trợ lý đạo diễn (Assistant director - AD): Phụ giúp đạo diễn trong

việc sắp xếp và quản lý lịch quay, tính hợp lý của quá trình sản xuất và các nhiệm vụ khác

Phụ trách casting (casting director): Tìm kiếm các diễn viên thích hợp

với các nhân vật trong phim Việc lựa chọn thường diễn ra với các buổi

Trang 16

diễn thử (audition) và việc casting được đặc biệt chú trọng với các vai

chính ảnh hưởng tới toàn bộ phim Các vai chính đôi khi được lựa chọn dựa vào mức độ nổi tiếng của các ngôi sao điện ảnh, ngôi sao điện ảnh càng nổi tiếng thì bộ phim càng có khả năng thu hút khán giả Vì thế hiệnnay đôi khi quyền lực của các siêu sao lớn tới mức chính họ cũng có quyền lựa chọn các diễn viên thích hợp với mình hoặc đôi khi là thay đổikịch bản cho phù hợp cách diễn của mình ví dụ như Tom Cruise, Tom Hanks và rất nhiều siêu sao khác

là họa sĩ bối cảnh của đoàn Có trách nhiệm tìm kiếm và quản lý các địa điểm thực hiện các cảnh quay, làm nhiệm vụ phục dựng bối cảnh cho phù hợp với các cảnh quay được miêu tả trong kịch bản phim Các nội cảnh được thực hiện trong các studio hay các bối cảnh trong nhà, quán cafe, rạp hát , nhưng với các ngoại cảnh, phụ trách trường quay phải cótrách nhiệm lựa chọn địa điểm quay thích hợp và chuẩn bị để việc quay phim diễn ra thuận lợi nhất

làm phim và lịch sản xuất

đảm nhiệm việc quay các cảnh phim Thường có một người quay chính

và một hoặc hai phụ tá Phụ trách quay phim phải phối hợp chặt chẽ với

phụ trách âm thanh (director of audiography - DOA) dưới sự chỉ đạo

chung của đạo diễn để các cảnh phim diễn ra đồng bộ về hình và tiếng theo đúng ý tưởng kịch bản, là người chịu trách nhiệm chính về chất lượng của hình ảnh

quá trình thực hiện các cảnh quay

Phụ trách nghệ thuật (art director): Quản lý các mặt nghệ thuật đặc

thù của phim như trang phục, hóa trang, kiểu tóc, tạo hình cho nhân vật

Trang 17

trong phim Phụ trách nghệ thuật cũng phải hợp tác với phụ trách thiết kế

(production designer), hay còn gọi là họa sĩ, người chịu trách nhiệm xây

dựng bối cảnh cho các cảnh quay

ngoài những phần thu trực tiếp từ trường quay và kết hợp hai loại âm thanh này cho phù hợp với các cảnh quay đã thực hiện

Nhà soạn nhạc: Soạn nhạc nền và các bài hát chủ đề (original

soundtrack) cho phim.

phim, vị trí này đặc biệt quan trọng trong các phim ca nhạc Một số phimthì vị trí biên đạo lại được giao cho các chỉ đạo võ thuật, những người phụ trách xây dựng các trường đoạn chiến đấu cho phim

1.1.3 Sản xuất

Đây là quá trình trực tiếp quay và tạo ra các cảnh phim Đội ngũ làm

phim sẽ có thêm các vị trí mới như giám sát kịch bản (script supervisor), biên tập viên hình ảnh (picture editor) và âm thanh (sound editor).

Trong sản xuất phim rất cần 1 công cụ, đó là máy quay phim

Một buổi quay thông thường sẽ được bắt đầu theo lịch quay do trợ lý đạodiễn sắp xếp Bối cảnh phim sẽ được chuẩn bị theo kịch bản, sắp đặt ánhsáng và bộ phận thu tiếng trực tiếp cũng phải sẵn sàng cho việc bấm máy.Trong khi đó các diễn viên sẽ được hóa trang, trang điểm và kiểm tra lạiphần thoại của mỗi người Trước khi quay, họ sẽ nhẩm lại một lần nữa vớiđạo diễn và được đạo diễn phác thảo qua cách diễn trong cảnh quay đó

Cảnh quay được bắt đầu khi đạo diễn hô "diễn" (action) và bảng clapperboard dập xuống báo hiệu, trên clapperboard có ghi số hiệu cảnh phim, số lần thực hiện cảnh (take) đó, ngày tháng, tên phim và đạo

diễn Bảng này có vai trò quan trọng trong việc xác định sự đồng bộ củahình ảnh và âm thanh, đặc biệt là các âm thanh tạo thêm bên ngoài Cảnh

Trang 18

quay kết thúc khi đạo diễn hô "cắt" (cut) Đạo diễn sẽ là người quyết định

cảnh đó có phải quay lại hay không, thường thì một cảnh quay phải thựchiện nhiều lần để đạo diễn có thể lựa chọn được cảnh tốt nhất

Nếu phim được quay bằng phim ảnh (photographic film) thông thường,

thì các đoạn phim âm bản sẽ được gửi về phòng in tráng để sau đó các đoạn

phim dương bản (dailies) được gửi lại cho đạo diễn để kiểm tra chất lượng

quay Trong thời gian gần đây, với các bộ phim sử dụng kỹ thuật số thì đạo

diễn có thể xem trực tiếp dailies ngay trên máy tính mà không mất thời gian

tráng rửa phim

1.1.4 Hậu kỳ

Sau khi công đoạn quay hoàn tất, các cảnh quay sẽ được dựng, sắp xếp

thành một bộ phim hoàn chỉnh bởi những người dựng phim (Editor) Đầu

tiên các kỹ thuật viên này sẽ lựa chọn các cảnh quay tốt nhất, sau đó cắt và

chỉnh sửa (trimming) sao cho chúng có thể tiếp nối nhau một cách trơn tru

để tạo thành bộ phim Trimming được thực hiện cực kì tỉ mỉ, đôi khi tới từng khuôn hình ( frame ) hoặc từng giây vì nó quyết định chất lượng của bộ

phim Bộ phim sẽ được chiếu thử cho đạo diễn và nhà sản xuất kiểm tra, nó

được coi là hoàn chỉnh (locked) chỉ khi những người này thực sự hài lòng.

Các biên tập viên âm thanh là những người chịu trách nhiệm giai đoạntiếp theo của quá trình hậu kỳ Âm thanh, bao gồm âm thanh thu ngoàitrường quay, các hiệu ứng âm thanh, âm thanh nền, nhạc phim, thoại sẽđược lồng sao cho khớp với phần hình ảnh

1.1.5 Phát sóng

Đây là công đoạn cuối cùng của quá trình làm phim sau khi hoàn thànhđược đưa tới bộ phận duyệt phim (OTK), duyệt kỹ thuật và nội dung Saukhi duyệt nếu có vấn đề gì cần chỉnh sửa thì sẽ quay lại từ khâu hậu kỳ hìnhảnh và âm thanh, sau đó sẽ được đưa lại bộ phận duyệt lại lần nữa nếu đảm

Trang 19

bảo tốt về kỹ thuật và nội dung thì sẽ được xếp lịch phát sóng Để quảng bá,

các đoạn phim quảng cáo (trailer) được tung ra trước khi phim hoàn thành,

chúng được chiếu vào nhiều khung giờ trên các kênh sóng để quảng bá vàcòn đưa lên Internet thông qua các trang web chính thức của phim (Fanspage) hoặc các trang chia sẻ phim như Youtube Ngoài ra trước khi lên sóng

sẽ có một buổi họp báo để giới thiệu ra đông đảo các trang báo Hiện nayngoài các bộ phim được sản xuất trong nước còn có những dự án phim hợptác sản xuất với nước ngoài

1.2 Khảo sát hiện trạng ứng dụng kỹ thuật chỉnh màu cho phim ở trong nước

1.2.1 Nhận xét chung

Truyền hình Việt Nam trong những năm gần đây dòng phim giải trí vàphim xã hội hóa phát triển mạnh trên sóng truyền hình Tuy nhiên dòngphim xã hội hóa sau thời gian có biểu hiện chững lại về chất lượng nghệthuật Khán giả không còn háo hức đón xem phim Việt – có rất nhiềunguyên nhân dẫn đến sự sa sút, nhưng có một điều không thể phủ nhận chất

lượng hình ảnh nhàm chán không taọ ra dấu ấn riêng hay tính hấp dẫn trong

hình ảnh

Rất nhiều các công ty tư nhân lớn hay nhỏ ở phía Nam như: BHD, HDtechnologie, Truyền thông Quốc tế, BS group, Galaxy cinema hay cáccông ty truyền thông ở Hà nội như Công ty nghe nhìn Hà Nội, cũng đã ýthức được sản phẩm trước khi đến tay khách hàng phải hiệu chỉnh lại màusắc để nâng cao chất lượng

Các công ty này thường hiệu chỉnh trực tiếp trên hệ thống dựng hìnhbằng các chức năng có sẵn trên phần mềm dựng với tính chất ưu việt vềchỉnh màu không cao, chưa có hệ thống chỉnh màu riêng biệt để hiệu chỉnhmàu cho phim

Trang 20

Một số công ty như: BHD, Galaxy cinema cũng đã có những bước đầu tư

hệ thống chỉnh màu cho phim nhưng còn ở mức khiêm tốn Đây là một trongnhững hạn chế trong khâu sản xuất hậu kỳ của phim Việt

1.2.2 Hiện trạng chung nhu cầu chỉnh màu trong nước

Khởi đầu phim điện ảnh hay phim truyền hình thường sử dụng công cụ

có sẵn trên máy dựng để có thể tùy chỉnh sao cho cân bằng màu cảnh trướccảnh sau, hoặc làm sai màu trong những cảnh phục hiện quá khứ, hồi tưởng,rồi chuyển cảnh mờ chồng , xuống tối… Cách làm này chỉ tạo ra sự an toàncần thiết cho phim, nó không thể đánh thức cảm xúc của người xem Khôngthể trách những người làm phim vì trước đây công nghệ thu hình và thuthanh của Việt nam còn lạc hậu Nhưng người quay phim khi cân bằng sáng(WB) không chuẩn xác cũng có thể gây nên sai lệch màu

Những người làm phim thế hệ đi trước hay hiện nay đều ý thức chỉnh màu sắc được hoàn mỹ nhất và màu sắc được coi là phương tiện không thể thiếu được của những người sáng tạo phim, vấn đề nó được khai thác đến đâu Màu sắc không chỉ thể hiện rõ chủ đề, nội dung mà còn để làm các cảnh quay, bối cảnh khác nhau rồi đạo cụ khác nhau, phục trang khác nhau,… được kết hợp lại tạo ra bức tranh đẹp trong phim.

Phương pháp để tạo ra cảnh quay có màu sắc hài hòa, các màu gần nhau trong bảng vòng tròn màu Các màu đối nghịch nhau trong bảng màu sẽ tạo nên những màu xung đột, tương phản.

Ứng dụng hiệu chỉnh màu sắc cho phim đã mở ra thời kỳ mới, bước pháttriển mới cho những người làm phim vì họ có công cụ mới hiệu quả trongsáng tạo Nghệ thuật Hiệu chỉnh màu sắc cho phim không đơn thuần cânbằng màu sắc cho cảnh quay mà nó còn giúp đạo diễn, quay phim thể hiện

rõ ý đồ kịch bản, cảnh phim cảm xúc hơn và nó tác động đến người xem rõràng, ấn tượng hơn Những ứng dụng chỉnh màu có sẵn trong phần mềm

Trang 21

dựng phim được gọi là color plugin, chúng chỉ có thể chỉnh những thứ rất cơbản ví dụ:

- Độ sáng tối, tương phản (Brightness & Contrast)

- Chỉnh màu theo tone (Color Corrector)

Các công cụ này được tích hợp sẵn trong phần mềm Adobe Premierenhưng chúng rất hạn chế và không chuyên nghiệp, vì chúng không thể canthiệp sâu để chỉnh được theo ý muốn của những người làm phim(đạo diễn vàDOP) Đây chính là mặt hạn chế Tuy nhiên phần mềm này có thể chỉnhnhanh và can thiệp được ngay trên bàn dựng mà không cần phải cài phầnmềm riêng biệt (nếu nhu cầu tinh chỉnh màu phim không quá cầu kỳ) Hiệnnay những bản update của Premiere đã có thêm rất nhiều plugin dùng đểchỉnh màu được gọi là (LUT) Những LUT này được lập trình sẵn nhữngtone màu mà người kỹ thuật chỉ việc nhấn nút add vào video là chúng ta cóngay những tone màu đặc biệt mà không cần tinh chỉnh nhiều thao tác

Thực tế người làm phim trong điều kiện ở Việt Nam rất vất vả để khốngchế mật độ sáng, chẳng hạn cảnh quay kết hợp nội ngoại, trong nhà ngoàisân độ tương phản rất gắt chênh lệch 5,6 khẩu độ (F) là chuyện bình thườngvới khí hậu mùa hè-miền Bắc Người làm phim phải dùng nhiều biện phápthô sơ để giảm cường độ sáng, nhưng giới hạn của cách làm này là khôngđược quay cảnh rộng, màu sắc sẽ bị hiện tương bạc màu Miền bắc trongnăm có bốn mùa khác nhau, nếu có một phim nào đó quay từ mùa nọ sangmùa kia thì làm sao quay tông phim đều nhau đó là một sự thách thức lớnvới những người làm phim, chưa kể phục trang cảnh trước mùa hè cảnh sau

là mùa đông, điều này vẫn xảy ra trong các phim truyện truyền hình

Chỉnh sửa màu cho phim được coi nhu cầu cấp thiết, phim nào cũng cầnphải chỉnh sửa Người chỉnh sửa màu (Colorist) với công cụ là những phầnmềm chỉnh sửa màu cao cấp làm cho công việc này nâng lên tầm cao mới đó

là nghệ thuật chỉnh sửa màu cho phim Chẳng hạn họ có thay đổi nhiệt độmàu để cho hình ảnh được bão hòa màu sắc hoặc hình ảnh có độ tương phản

Trang 22

để tạo kịch tính hơn cho những phim Cảnh sát hình sự, Tâm lý xã hội, chiếntranh…

Các cơ sở dựng phim chuyên nghiệp trong Nam hay ngoài Bắc hay càiphần mềm chỉnh màu Davinci Resolve để tạo ra những sản phẩm: phimtruyền hình, phim quảng cáo, phim điện ảnh Thật sự đã rút ngắn thời gian,tiền bạc so với những công cụ trước đây như công nghệ in tráng telecine từphim nhựa ra để chỉnh màu, thậm chí phải đem những thước phim ra nướcngoài để chỉnh (rất mất thời gian và tốn kém tiền bạc) Nhưng để sử dụngđược phần mềm Davinci Resolve đòi hỏi người kỹ thuật phải am hiểu nhữngkiến thức cơ bản về nhiệt độ màu, về tone màu (gam nóng, gam lạnh) Đặcbiệt phần mềm rất mạnh về chỉnh màu khoanh vùng (ví dụ: chúng ta có thểchỉnh màu cho riêng vùng mặt, chỉnh riêng cùng hậu cảnh, nâng hạ ánh sángcũng như thay đổi màu sắc v.v)

Và để cho phần mềm chỉnh màu tạo ra những sản phẩm ưng ý thì mặtkhác chất lượng quay video cũng phải đạt được độ phân giải tối thiểu từ 2Ktrở lên Chúng ta không thể áp đặt cho video độ phân giải thấp mà có thểchỉnh màu đẹp được

“Màu sắc là yếu tố cơ sở của thiết kế và kể chuyện bằng hình ảnh Cácnhà làm phim sử dụng màu sắc để sắp đặt trong câu chuyện của họ , âm điệucủa họ và truyền đạt vào chủ đề của phim… hiệu chỉnh màu sắc chính làcông việc nghệ thuật” Công nghệ số ra đời đã giúp cho chúng ta thưởngthức những bộ phim truyền hình mang màu sắc rất điện ảnh nó giúp chúng tathu hẹp ranh giới giữa phim điện ảnh và phim truyền hình Trong nước tahiện nay cũng đã có rất nhiều sản phẩm phim truyền hình, phim TVC doanhnghiệp đang dần dần áp dụng công nghệ chỉnh màu giống như trên thế giới Truyền hình không chỉ có âm thanh và hình ảnh mà cả màu sắc cũng làcông cụ truyền tải thông tin và nội dung chương trình Thông qua màu sắcchúng ta có thể mô tả các đối tượng cần thể hiện, diễn tả những suy nghĩ củatác giả nhằm gây cảm xúc cho người xem nó mô tả bản chất con người và

Trang 23

sự vật vượt xa bề ngoài hiện diện con người và sự vật mà chúng ta nhìn thấybằng mắt thường Không còn nghi ngờ gì khi nói màu sắc đóng vai trò rấtquan trọng đối với sản phẩm truyền hình

Qua đây chúng ta có thể thấy: Chỉnh sửa màu (Color grading) cho phimđược coi như nhu cầu cấp thiết, phim nào cũng cần phải chỉnh sửa, nhữngphần mềm chỉnh sửa màu cao cấp làm cho công việc này nâng lên tầm caomới đó chính là nghệ thuật chỉnh sửa màu cho phim

1.3 Phân tích và đánh giá tầm quan trọng của chỉnh màu nghệ thuật trong phim

1.3.1 Màu sắc là cung bậc cảm xúc của bộ phim

Màu sắc có thể xem như một cảm giác gây ấn tượng ngay ban đầu khikhán giả tiếp xúc với những khuôn hình của bộ phim hay một tác phẩm nghenhìn Để thưởng thức một tác phẩm phim ảnh, tùy thẩm mỹ, trình độ hay sựthấu hiểu… mỗi khán giả sẽ cảm nhận bộ phim theo cách khác nhau, tiếpnhận những cảm xúc khác nhau Nhưng có những ấn tượng rất quan trọngngay lập tức dẫn dắt và lôi cuốn khán giả xem một tác phẩm điện ảnh: Đó làmàu sắc của hình ảnh Khi kết hợp những hiệu quả hình ảnh, âm thanh, màusắc hình ảnh tạo ra những cung bậc cảm xúc rất mạnh mẽ cho người xem Theo một cách hiểu nào đó, tất cả những gì thuộc về điệnảnh đều là hiệu quả đặc biệt Các hình ảnh chuyển động tạo

ra một ấn tượng về giác quan: nó làm mạch đập nhanh hơn,khuấy động trái tim và truyền cảm hứng cho trí óc

Cảm xúc khám phá các yếu tố giác quan để tạo nên mộttrải nghiệm của các hình ảnh động Nó được chia ra làm 5phần: Ánh sáng và đổ bóng, Màu sắc và trừu tượng, Âmthanh và Hình ảnh, Thời gian và Chuyển động, và cuối cùng

là sự tương tác Mỗi phần này đều bao gồm sự kết hợp củacác trải nghiệm tự thân và làm khán giả đắm chìm trong các

Trang 24

trải nghiệm này Mỗi giác quan, theo cách của riêng nó,mang laị cho chúng ta những xúc cảm riêng biệt Chỉ duynhất hình ảnh chuyển động (điện ảnh) là có khả năng tổnghoà tất cả các giác quan này trong một trải nghiệm đầy mathuật.

1.3.2 Màu sắc là phương tiện thể hiện tính nghệ thuật

Trong quá trình phát triển lịch sử điện ảnh, từ khi côngnghệ kỹ thuật còn hạn chế, các đạo diễn đã rất chú ý việcnắm bắt thành thạo kỹ thuật tạo dựng màu sắc cho hìnhảnh, cho bộ phim Nhiều tác phẩm điện ảnh đã được đạodiễn sử dụng ý đồ nghệ thuật qua phần màu sắc hình ảnh

Hình 1.2: Bộ phim Vertigo

Trong bộ phim Vertigo (sản xuất năm 1955) - Hình 1.2,đạo diễn tài năng Alfred Hitchcock sử dụng các thiết bị nhântạo như màn chiếu, kỹ xảo hoạt hình và màu sắc để làm nổibật cảm giác như trong một giấc mơ Phim sử dụng 2 màuchủ đạo (đỏ và xanh lá) để thể hiện các trạng thái tâm lý củanhân vật chính Scottie, khi mà sự ám ảnh của anh ta vớibóng ma Madeleine vượt ra khỏi tầm kiểm soát

Trang 25

Năm 1977, Đạo diễn Dario Argento thực hiện phimSuspiria Đây là bộ phim được đánh giá cao nhất của ông.Một chiếc kính vạn hoa lộng lẫy với sự kết hợp của màu sắc,

âm thanh và chuyển động - Hình 1.3:

Hình 1.3: Bộ phim Suspiria

Đạo diễn đã sử dụng các sắc thái hơi rợ của màu đỏ, xanh

lá cây, vàng và xanh dương, được tạo nên bởi thủ pháp cổđiển Technicolor 3 dải Được hỗ trợ bởi gel màu và hiệu ứngánh sáng, bộ phim gây cảm giác về một cơn ác mộng kinhhoàng

Petert Greenaway là một nhà đạo diễn thích dẫn dắt khángiả vào những trò chơi của mình Trong phim “Đầu bếp, kẻtrộm, người vợ và người tình của cô ta” sản xuất 1989, ôngchia các bối cảnh khác nhau của nhà hàng thành nhữngmảng màu biệt lập như đen, xanh lá cây, đỏ và trắng, trùngvới màu trang phục của diễn viên trong mỗi bối cảnh Mụcđích cuối cùng của việc này là mang đến cho những phânđoạn này một cảm giác như xem những bức tranh cổ điển:

Trang 26

Hình 1.4: Bộ phim Đầu bếp, kẻ trộm, người vợ và người tình của cô ta

Năm 2000, Đạo diễn Joel Coen thực hiện phim: Hỡi ngườianh em, anh ở đâu? - Hình 1.5 Đây là một tác phẩm thiên tàicủa anh em nhà Coen về thời kỳ suy thoái Một bộ phim hàilấy bối cảnh của một mùa hè oi ả vùng Mississippi Bộ phimđược quay trong mùa mưa, tông nâu vàng cổ điển được tạo

ta chủ yếu bằng việc chỉnh màu Màu xanh rực rữ của cây lá

bị dìm xuống cho phù hợp với tông màu chủ đạo của cảphim

Hình 1.5: Bộ phim Hỡi người anh em, anh ở đâu?

Đây là phim điện ảnh đầu tiên được số hoá, chỉnh màu rồilại chuyển lên phim nhựa để trình chiếu

Trang 27

Vì vậy, có thể đánh giá: màu sắc là một thành phần quan trọng khôngkém các thành phần khác như lời thoại, cốt truyện, âm nhạc…trong một bộphim Đối với các đạo diễn, màu sắc là công cụ vô cùng hiệu quả để tạo ra

sự khác biệt trong các cảnh quay, thu hút người xem Thậm chí, sử dụngmàu sắc còn là phương cách để đạo diễn kể câu chuyện phim theo ý đồ sángtạo của mình Có rất nhiều những cảnh quay mà khi thực hiện, nếu xemthoáng qua cứ nghĩ là sự vô tình, nhưng thực chất lại nằm trong ý đồ kểchuyện bằng hình ảnh của đạo diễn, là phương tiện thể hiện tính nghệ thuật.Nếu trước kia, việc chủ động sử dụng màu sắc chủ yếu chỉ được thực hiện ởkhâu tiền kỳ, thông qua lựa chọn màu sắc ở bối cảnh, đạo cụ, phục trang,ánh sáng, sử dụng filter thì hiện nay, với sự phát triển của công nghệ số,thông qua kỹ thuật chỉnh màu (color correction), việc lựa chọn, điều chỉnhmàu sắc đã trở nên linh động hơn và được thực hiện ở giai đoạn làm hậu kỳ Với các bộ phim, sản phẩm truyền hình có yêu cầu cao về mặt hình ảnh,chỉnh màu hiện nay đã trở thành kỹ thuật gần như bắt buộc và là một trongnhững công đoạn quan trọng nhất để cho ra sản phẩm cuối cùng phát sóng

1.4 Các yêu cầu về chỉnh màu cho một tác phẩm

Việc chỉnh màu cần đáp ứng 2 yêu cầu về kỹ thuật và nghệ thuật trongmột tác phẩm:

1.4.1 Yêu cầu về kỹ thuật

Khắc phục những lỗi liên quan đến chênh lệch ánh sáng, mật độ tone

màu, nhiệt độ màu Đạo diễn sẽ cần đến kỹ thuật chỉnh màu để khắcphục những cảnh quay bị chênh lệch màu sắc, ví dụ như do 2 máyquay không cùng loại, hoặc bị sai lệch nhau khi cân bằng trắng, hoặc

bị thay đổi ánh sáng đột ngột do thời tiết, thay đổi nhiệt độ màu…Đâyđều là những cảnh quay đạt chất lượng ở hiện trường và đạo diễn chỉbiết được lỗi khi trở về phòng dựng hậu kỳ Khi đó, việc chỉnh sửa kỹthuật qua công việc chỉnh màu được áp dụng như một cách để khắc

Trang 28

phục, sửa lỗi Đây cũng chính là mục đích ban đầu của ứng dụngchỉnh màu.

Giảm phụ thuộc vào yếu tố khách quan để tạo ra hiệu quả hình ảnh

chất lượng Việc quay phim ở bối cảnh thực tế, ngoại cảnh thường bịphụ thuộc nhiều vào yếu tố ánh sáng, thời tiết Đôi khi, yếu tố thờigian thay đổi làm nhiệt độ màu thay đổi dẫn đến việc cảnh quay phảidừng lại Áp dụng công nghệ chỉnh màu có thể giảm thiểu tối đa ảnhhưởng của những yếu tố này đến cảnh quay Vì vậy, đạo diễn sẽ cónhiều thời gian hơn cho việc sáng tác của mình Ví dụ, để quay mộtcảnh vào thời điểm hoàng hôn, một đạo diễn thường chỉ có thời gian

từ 30’đến 45’, và nếu muốn quay thêm hoặc quay lại, tất cả sẽ phảiđợi vào ngày hôm sau Tuy nhiên, với công nghệ chỉnh màu, bằng khảnăng điều chỉnh về mật độ ánh sáng, sự chênh lệch nhiệt độ màu…,đạo diễn thậm chí có thể quay từ khi trời vẫn còn sáng cho đến khitrời tối xuống Tương tự, đạo diễn cũng có thể nhờ chỉnh màu tạo rahiệu quả ngày/đêm, âm u/nắng cho một cảnh quay bất kỳ, miễn là có

sự trao đổi, bàn bạc kỹ lưỡng với quay phim và người kỹ thuật chỉnhmàu Đôi khi việc sử dụng hiệu quả chỉnh màu còn làm tiết kiệm chiphí sản xuất, hiệu quả năng xuất lao động tại hiện trường

Nâng cao chất lượng hình ảnh: Khi quay tiền kỳ, nhiều yếu tố tác

động dẫn đến hình ảnh quay phim chưa được như mong đợi Vì dụ:khoảng sáng trên mặt diễn viên chưa đạt yêu cầu, hậu cảnh bị đổ bóngquá sẫm màu, tone màu chưa đạt như mong đợi Hay đơn giản là xử lýphần hóa trang cho diễn viên chưa kỹ lưỡng… Việc ứng dụng chỉnhmàu sẽ góp phần thay đổi điều chỉnh một số hiệu quả hình ảnh, xóa

mờ hay làm đậm thêm một số vị trí trong khuôn hình, nâng sang, giảmsáng…

Cùng với những thiết bị máy quay hiện đại như camera 4K đang sử dụnghiện nay cho hoạt động sản xuất phim, việc chỉnh màu đã phát huy hiệu quả

Trang 29

và đem lại chất lượng hình ảnh rất thẩm mỹ, góp phần thu hút khán giả xemcác tác phẩm truyền hình.

1.4.2 Yêu cầu về nghệ thuật

 Màu sắc tạo cảm xúc

Màu sắc rất quan trọng bởi vì giống như ánh sáng, nó ảnhhưởng đến tâm trạng và cảm giác của cách: chúng ta diễngiải hình ảnh như thế nào Ngay khi điện ảnh chưa pháttriển, chủ yếu chỉ làm phim đen trắng Các hình ảnh trìnhchiếu cho khán giả chỉ có 2 màu đen- trắng thì việc xử lýhình ảnh tạo ra các gam màu đậm-nhạt, sáng – tối cũng rấtđược chú trọng để gây hiệu ứng thị giác cho người xem Sau

đó, với mục đích đem đến màu sắc kỳ ảo và gây ấn tượngmạnh cho cảm xúc người xem, các nhà làm phim bắt đầumày mò việc tạo ra các màu sắc trong phim ảnh Arthur vàCorinne Cantril là 2 nhà làm phim tiên phong của Úc Họđược biết đến với những bộ phim "tách màu" Họ quay mộtcảnh phim bằng 3 máy quay khác nhau trên phim đen trắngnhưng với 3 loại filter màu Sau đó khi in tráng, họ kết hợp 3tấm phim âm bản lại để tạo ra sự giao thoa của màu sắc đầykịch tính, gần giống với sự rực rỡ của loại phim Technicolorsau này

Tạo dựng ý đồ nghệ thuật qua Vòng tròn màu sắc

Trên bảng màu vòng tròn sử dụng cho phần đồ họa có rấtnhiều gam màu từ đậm đến nhạt Dựa trên những ấn tượngmặc định trong nghệ thuật, đạo diễn lựa chọn các tone màucho những cảnh quay Hầu hết, các đạo diễn khi làm phim,luôn sử dụng các màu sắc khác nhau để thể hiện cảm xúc vàtạo ra các sắc thái tâm lý Màu vàng là sự nóng nực, cô đơn

Trang 30

và khô khan Nó là màu của những tay súng viễn Tây, những

kẻ ngoài vòng pháp luật và những kẻ nổi loạn lang bạt Màuxanh dương là sự đắm chìm, tĩnh lặng và sự thoả mãn Nó làmàu của không gian vũ trụ, của đại dương và của rìa bóngtối Nó là màu của sự đau khổ và u sầu Đỏ là màu của dụcvọng, đam mê Nó dụ dỗ và mê hoặc Đỏ là màu của đam

mê, chiến tranh và nỗi kinh hoàng Xanh lá cây là màu củanhững thế giới bên ngoài thế giới Nó là màu của những vùngđất xa xăm hoặc là những thế giới kỳ ảo với những nhân vậtchỉ xuất hiện trong tưởng tượng

Sức mạnh của Màu sắc

Con người cần có màu sắc để tồn tại, cũng cần thiết như cácyếu tố nước và lửa vậy Màu sắc có những tác động mạnh

mẽ lên con người cả về mặt thể chất lẫn tâm lý, đem lại sự

trừu tượng rất đặc biệt trong ngôn ngữ điện ảnh Màu hồng

có thể làm dịu những cơn giận dữ, màu đỏ tàm tăng nhịptim, Màu sắc có thể biểu đạt những ý nghĩa văn hoá khácnhau: ở Úc, màu đỏ tượng trưng cho các mối nguy hiểm,trong khi tại Trung quốc, Việt Nam lại là sự phồn vinh, thịnhvượng may mắn

Các nhà làm phim sử dụng màu sắc để khơi gợi các cảm xúckhác nhau, các trường đoạn nhuốm màu xanh dương, đỏ haynâu vàng mang lại những hiệu quả khác nhau Thế nhưngmỗi chúng ta lại bị ảnh hưởng bởi màu sắc theo một cách

khác nhau Sự ảnh hưởng không đoán định trước được của

màu sắc mang lại tính trừu tượng cho điện ảnh Các yếu tốnhư hình ảnh, nhịp điệu, các đường cắt hay chuyển động tạo

ra các cảm giác có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau Như

Trang 31

vậy, mỗi màu sắc và cách sử dụng màu sắc đều có thể truyền tải những ýnghĩa khác nhau Chính vì vậy nên công nghệ chỉnh màu trở nên cực kỳquan trọng đối với nhà làm phim để có thể chủ động kể chuyện bằng màusắc theo cách mình muốn Từ việc ban đầu chỉ là công cụ khắc phục nhữnglỗi về ánh sáng, đến việc giúp đạo diễn giảm phụ thuộc vào yếu tố kháchquan, chỉnh màu sau này trở thành một công cụ quan trọng để nhà làm phimsáng tạo, tạo ra những hiệu ứng nhất định cho 1 cảnh hoặc toàn bộ phim.Nhà làm phim có thể sử dụng màu sắc khác để phân biệt giữa những cảnhhiện tại và những cảnh quá khứ, hồi tưởng, hoặc giữa cảnh thực và cảnhtrong mơ… Nhà làm phim còn sử dụng màu sắc để nói lên tinh thần chủ đạocủa bộ phim, ví dụ phim chủ đề tình yêu, tuổi trẻ…thì màu sắc tươi sáng,rực rỡ, phim chủ đề hình sự, hành động có thể có màu sắc lạnh và hơi u ám,các bộ phim thần tượng thì các nhân vật phải lung linh, mịn màng…

Đối với đạo diễn, chỉnh màu đang ngày càng có vai trò quan trọng Nó làgiai đoạn cuối cùng để hoàn tất sản phẩm master theo mong muốn của đạodiễn Tuy nhiên, để chỉnh màu đạt được tác dụng tối đa, đạo diễn cần thảoluận kỹ với từng bộ phận trong đoàn phim như DOP, quay phim, mỹ thuật,

kỹ thuật chỉnh màu để tất cả đều biết được ý định của đạo diễn Khi làmphim, đạo diễn đã sử dụng màu sắc để chuyển tải ý đồ nghệthuật, đem đến những hiệu quả về mặt thị giác rất mạnh quacác khuôn hình Vì vậy mà người xem bị tác động, dẫn dụcảm xúc

Trang 32

Chương 2 Cơ sở lý thuyết về màu sắc cho phim và một số phương pháp nâng cao chất lượng nghệ thuật hình ảnh cho phim truyền hình

2.1 Cơ sở lý thuyết màu sắc và sự cảm nhận của mắt người

2.1.1 Khái niệm về màu sắc

Chúng ta đã từng nghe đến câu nói “Ở đâu có sự xuất hiện ánh sáng thì ở

đó có màu sắc”, điều đó cho thấy màu sắc được xem là “con đẻ” của ánhsáng Hay nói cách khác, màu sắc chính là ánh sáng Ánh sáng hằng ngày

mà chúng ta nhìn thấy bằng mắt thường đó chính là loại ánh sáng trắng đượctổng hợp bởi vô số ánh sáng đơn sắc Khi ánh sáng trắng phản chiếu lên bềmặt các vật thể giúp tạo ra màu sắc và thông qua đó chúng ta có thể phânbiệt được sắc màu của các vật thể này Màu của vật thể mà ta cảm nhậnđược là sự cộng hưởng của màu ánh sáng với màu gốc của vật thể, kết hợpvới màu của những vật thể khác ở xung quanh và màu của bầu khí quyểnbao bọc quanh nó

2.1.2 Các yếu tố cơ bản của màu sắc

 Hue ( vùng màu sắc)

Màu sắc chính là yếu tố quan trọng đầu tiên được đề cập đến Dựa vàovòng tuần hoàn màu sắc chúng ta có thể xác định và chọn được màu sắc(tông màu) cần sử dụng một cách phù hợp trong công việc

Hình 2.1: Ba yếu tố cơ bản của màu sắc Hue – Saturation – Value (HSV)

Trang 33

Saturation / Intensity (Độ bão hòa màu)

Bản thân chữ Saturation có nghĩa là độ bão hòa màu (độ no) Độ bão hòamàu chính là sự sáng chói (Luminosity) hay cường độ (Intensity) hoặc đượcxem là vẻ tươi sáng hay u trầm của màu sắc Chúng ta cũng có thể hiểu là độmạnh hoặc yếu của một màu nào đó Ví dụ như cùng là màu đỏ nhưng sẽbao gồm: đỏ hoe, đỏ lòm, đỏ rực, đỏ chót, đỏ chói,… Chỉ số Saturation đượcthể hiện từ -100 đến +100

Value /Lightness/ Brightness (Độ sáng)

Độ sáng thể hiện sự sáng hoặc tối của màu sắc Cách phối hợp yếu tốValue / Lightness / Brightness trong màu sắc như sau: muốn màu sáng hơnthì tăng thêm màu trắng, muốn màu tối hơn thì tăng thêm màu đen Chỉ sốValue / Lightness / Brightness cũng được thể hiện từ -100 đến +100

Hình 2.2: Các thông số Hue/Saturation/Lightness trong Photoshop

Tổng hợp cả 3 yếu tố trên người ta còn gọi là hệ màu hoặc cách gọi đúnghơn là không gian màu HSV hoặc HSL, HSB là ký tự viết tắt của Hue,Saturation, Value / Lightness / Brightness

2.1.3 Màu sơ cấp, thứ cấp và cao cấp

Màu sơ cấp (Primary color)

Trang 34

Còn gọi là màu chính, màu cơ bản hay màu bậc nhất Từ màu sơ cấpchúng ta có thể pha ra các màu khác Tất nhiên là ngoại trừ màu đen và màutrắng, bởi không màu nào có thể pha trộn ra nó Nhóm màu sơ cấp bao gồm

3 màu: Vàng – Đỏ – Lam

Hình 2.3: Màu sơ cấp gồm 3 màu: Vàng – Đỏ – Lam

Màu thứ cấp (Sencondary color)

Còn gọi là màu phụ, màu bổ túc hay màu bậc hai Nhóm màu thứ cấp baogồm: Tím – Lục – Cam Cách thức pha trộn để có 3 màu này như sau (lưu ý:phải pha với tỷ lệ bằng nhau):

- Tím = Lam + Đỏ

- Lục = Lam + Vàng

- Cam = Vàng + Đỏ

Hình 2.4: Màu thứ cấp gồm 3 màu: Tím – Lục – Cam

Màu cao cấp (Tertiary color)

Còn gọi là màu bậc ba Gồm các màu: Cam Vàng – Cam Đỏ – Tím Lam– Tím Đỏ – Lục Lam – Lục Vàng Được pha với tỷ lệ bằng nhau giữa màu

Trang 35

sơ cấp với màu thứ cấp đứng cạnh nhau trên vòng tuần hoàn màu sắc Vàvới cách làm tương tự này (pha với tỷ lệ bằng nhau giữa các màu đứng cạnhnhau trên vòng tuần hoàn màu sắc) chúng ta sẽ có các màu bậc 4,5,6,…

Hình 2.5: Màu cao cấp gồm 6 màu

Hình 2.6: Vòng tuần hoàn màu sắc thể hiện sự tương quan giữa màu sơ cấp (Primary),

màu thứ cấp (Secondary) và màu cao cấp (Tertiary)

Trang 36

2.1.4 Các loại màu khác

Màu tương phản (Contrasting color)

Màu tương phản còn gọi là màu đối kháng nhau, vì khi đứng cạnh nhauthì màu này sẽ làm nổi bật màu kia hay ngược lại Chúng ta có 3 cặp màutương phản được kết hợp từ 1 màu sơ cấp và 1 màu thứ cấp như sau: Vàng –Tím, Đỏ – Lục, Lam – Cam

Màu nóng (Warm color), màu lạnh (Cool color)

Màu nóng là những màu ngả dần về phía màu đỏ như: Vàng, Cam Vàng,Cam, Cam Đỏ, Đỏ, chúng gây cảm giác ấm áp, gần gũi, kích thích thị giác.Còn những màu lạnh thì tạo nên cảm giác mát mẻ, dễ chịu hoặc có khi trởthành lạnh lẽo, xa cách, chúng bao gồm các màu ngả dần về xanh như: LụcVàng, Lục, Lục Lam, Lam, Tím Lam, Tím, Tím Đỏ

Màu trung tính (Neutral color)

Màu trung tính là màu không thuộc màu nóng, không thuộc màu lạnh,chúng bao gồm những màu sắc có nhiều yếu tố xám, như xám do đen phatrắng, xám do pha 2 màu tương phản với nhau, xám do pha 3 màu chính vớinhau,…

Hình 2.7: Một số màu sắc trung tính chúng ta thường gặp

Màu tương đồng (Analogous color)

Màu tương đồng là những màu nếu thoạt nhìn qua trông chúng có vẻgiống nhau Đây là nhóm màu đứng cạnh nhau trong vòng tuần hoàn màu

Trang 37

sắc, gồm một dãy các màu nối tiếp nhau, nhóm màu này liên kết nhau chặtchẽ, không phân biệt màu nóng, màu lạnh (màu tương đồng có độ mở rộng

cả khi pha thêm màu trắng hoặc đen)

Hình 2.8: Màu tương đồng bao gồm một dãy các màu nằm liên tiếp nhau trên vòng tuần hoàn màu sắc

Màu bổ túc xen kẽ

Vàng và Tím là một cặp màu tương phản Trong khi đó 2 màu tươngđồng với Tím là Tím Đỏ, Tím Lam là một cặp bổ túc xen kẽ của Vàng Cũngnhư Đỏ và Lục là một cặp màu tương phản Chúng ta sẽ có Lục Vàng, LụcLam là 2 màu tương đồng với Lục được xem là một cặp bổ túc xen kẽ của

Đỏ Tiếp tục với Lam và Cam cũng là một cặp màu tương phản Thì 2 màutương đồng với Cam là Cam Vàng, Cam Đỏ là một cặp bổ túc xen kẽ củaLam

2.1.5 Sự cảm nhận màu sắc của con người

Các vật trong tự nhiên tự chúng không có màu sắc, mà chỉ hấp thụ,truyền tải và phản xạ ánh sáng chiếu vào chúng Vì tính chất hấp thụ, truyền,

và phản xạ ánh sáng của vật này khác tính chất này ở vật khác, khi ánh sángphản xạ từ các vật khác nhau chui vào mắt ta, các tế bào trên võng mạc sẽghi nhận các bước sóng ánh sáng khác nhau từ các vật khác nhau Sau đócác tín hiệu về tỉ số giữa các vùng sóng và sáng – tối được truyền qua thầnkinh thị giác lên não để được xử lý như các màu khác nhau trong phổ ánhsáng nhìn thấy được như sau:

Trang 38

Hình 2.9: Bước sóng của các tia đơn sắc trong phổ ánh sáng mà mắt người có thể nhìn thấy

Vùng bước sóng ngắn hơn 380 nm nhưng dài hơn khoảng 10 nm (tia X)

là vùng tia cực tím (ultraviolet, viết tắt UV) Vùng bước sóng dài hơn 750

nm nhưng ngắn hơn khoảng 3.3 mm là vùng tia hồng ngoại (infrared, viết tắtIR) Mắt người không nhìn được hai vùng ánh sáng này song một số độngvật và côn trùng có thể nhìn thấy tia cực tím hoặc cảm nhận được nhiệt từ tiahồng ngoại Ánh sáng chui vào mắt người qua thủy tinh thể, rồi hội tụ trênvõng mạc Võng mạc gồm hàng triệu tế bào nhạy sáng làm nhiệm vụ truyềntín hiệu nhận được lên não qua thần kinh thị giác

2.2 Không gian màu cho phim

Không gian màu chuẩn được hiểu là không gian màu không phụ thuộcvào thiết bị Gần như tất cả các phần mềm quản lý màu sắc hiện nay đều sửdụng không gian màu độc lập với thiết bị, được định nghĩa bởi Ủy ban Quốc

tế Commission Internationale de l’Eclairage (CIE) vào năm 1931 Không

Trang 39

gian này nhằm mục đích mô tả tất cả các màu có thể nhìn thấy được bằngmắt thường, dựa trên khảo sát từ các phản ứng khác nhau của nhiều người cóthị lực bình thường (gọi là "đo màu chuẩn").

Các không gian màu được thể hiện ở một số dạng như: CIE x,y,z (1931),CIE L*a*b* và CIE L u' v' (1976) Mỗi dạng đều chứa cùng số lượng màusắc, tuy nhiên cách phân bố màu sắc khác nhau trong một không gian haichiều

Hình 2.10: không gian màu CIE - Tất cả các không gian màu 2D thể hiện độ chói ở mức 50% (Nguồn internet: https://www.cambridgeincolour.com/tutorials/color-spaces.htm)

CIE x,y,z: Dạng này dựa trên một đồ thị chứa các tín hiệu cảm nhận từcác tế bào màu sắc trong mắt con người Chúng được gọi là chức năngTristimulus X,Y và Z (chức năng tổng hợp từ ba màu sắc khác nhau, đượctao ra từ năm 1931) Tuy nhiên, ở dạng này các màu xanh lục được phân bổmột vùng rộng lớn, làm hạn chế và lấn ấp nhiều màu sắc khác trong một khuvục nhỏ còn lại

CIE L u' v' dạng này được tạo ra để sửa sai trường hợp trên, bằng cáchphân bổ lại các màu sắc với tỷ lệ cân xứng so với trước đó mà ta đã thấy.Một vùng lớn gấp đôi trong dạng u'v' này sẽ xuất hiện tạo ra hai lần khácbiệt về màu sắc, điều này rất hữu ích cho việc nhận dạng và so sánh nhữngmàu sắc khác nhau

CIE L*a*b* dạng này phân bổ lại các màu sắc, mở rộng trên hai trục vàlấp đầy chúng vào một hinh vuông Mỗ trục trong không gian màu L*a*b sẽ

dễ dạng thể hiện một thuộc tính màu sắc, chẳng hạn như chuyển đổi giữa

Trang 40

màu đỏ-lam và lục-vàng Những nét đặc trưng này làm cho không gian màuL*a*b trở nên hữu ích trong các phần mềm xử lý ảnh kỹ thuật số.

Gamut (phổ màu, gam màu) là thuật ngữ được sử dụng để mô tả toàn bộ

một dãy màu sắc mà một thiết bị ảnh số, màn hình, máy chiếu hoặc phầnmềm có thể đạt được gamut được hình dung dễ dàng nhất trên sơ đồ CIE; nóđược xác định bởi các màu sơ cấp, thường là trong vùng của Red, Green vàBlue và điểm trắng của nó Hình 2.11 cho biết gamut của Rec.709 Nó cũngchỉ ra một trong những nguồn sáng được miêu tả của CIE D65, hoặc 6500K.Khi màu được truyền từ một thiết bị này sang một thiết bị khác hoặc mộtkhông gian này sang một không gian màu khác, có thể một số điểm màunằm ngoài gamut

Hình 2.11: Các màu sơ cấp của không gian màu sắc Rec.709 HD được đo trên tọa độ CIE x, y, Y

Để có một sự hiểu biết chắc chắn về không gian màu khác nhau, khảnăng và giới hạn của chúng rất quan trọng đối với các nhà quay phim, nhàlàm màu, biên tập viên, người chỉnh sửa màu, người làm VFX và nhữngngười tham gia vào việc sản xuất và phân phối chương trình Sau đây là một

số không gian màu được sử dụng rộng rãi nhất trong công việc sản xuấtphim HD và UltraHD:

REC.709 và REC.2020

Ngày đăng: 02/01/2021, 22:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w