1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào giảng dạy ở các trường trung học phổ thông huyện cai lậy tỉnh tiền giang

159 50 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản thân tác giả đang làm công tác QL tại một trong năm trường THPT trong huyện Cai Lậy, có điều kiện tiếp xúc, thường xuyên trao đổi cũng như nắm bắt được những trăn trở của các HT về v

Trang 2

Phan Tấn Chí

Chuyên ngành : Quản lý giáo dục

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS HOÀNG TÂM SƠN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2008

Trang 3

uận văn này là kết quả của quá trình học tập tại trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và quá trình công tác của bản thân tại trường trung học phổ thông Tứ Kiệt huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang trong các năm qua

Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô đã tham gia giảng dạy lớp cao học khóa 16 chuyên ngành Quản lý giáo dục và các thầy cô ở phòng Khoa học công nghệ-Sau đại học, Khoa Tâm lý-Giáo dục của trường đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, lãnh đạo Sở Giáo dục-đào tạo tỉnh Tiền Giang, tất cả cán bộ quản lý và thầy cô năm trường trung học phổ thông huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành đề tài luận văn này

Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của tác giả đến Phó Giáo sư Tiến sĩ

Hoàng Tâm Sơn đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả nghiên cứu đề tài và hoàn

Phan Tấn Chí

L

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cám ơn 1

Mục lục 2

Danh mục các chữ viết tắt 3

Danh mục các bảng 4

Danh mục các biểu đồ 8

Mở đầu 9

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN 13

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 13

1.2 Các khái niệm liên quan 14

1.3 Ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy 25

1.4 HT QL việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy trong trường THPT 27

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình QL việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy 30

Chương 2 : THỰC TRẠNG QL VIỆC ỨNG DỤNG CNTT-TT VÀO GIẢNG DẠY Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN CAI LẬY 33

2.1 Khái quát về tình hình giáo dục bậc THPT huyện Cai Lậy 33

2.2 Thực trạng về các điều kiện phát triển và ứng dụng CNTT-TT ở các trường THPT ở huyện Cai Lậy 35

2.3 Thực trạng QL việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy ở các trường THPT huyện Cai Lậy 51

Chương 3 : ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP QL VIỆC ỨNG DỤNG CNTT-TT VÀO GIẢNG DẠY Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN CAI LẬY TRONG GIAI ĐOẠN MỚI 83

3.1 Cơ sở đề xuất một số biện pháp 83

3.2 Một số biện pháp đề xuất: 84

3.3 Những biện pháp “cần làm ngay” của HT 95

Chương 4 : KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC 111

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

bp : biện pháp

CĐ : Cao đẳng

CĐSP : Cao đẳng Sư phạm

CNTT : công nghệ thông tin

CNTT-TT : công nghệ thông tin và truyền thông

GAĐT : giáo án điện tử

GD-ĐT : giáo dục-đào tạo

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê tỉ lệ tốt nghiệp THPT hai năm học 2006-2007 và

2007-2008 34 Bảng 2.2 Thống kê ý kiến của HT, CBQL, GV về mốc thời gian thực hiện

việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy 35 Bảng 2.3 Thống kê số lần bồi dưỡng về CNTT-TT cho GV 36 Bảng 2.4 Tình hình CBQL các trường THPT huyện Cai Lậy năm học

2007 – 2008 37 Bảng 2.5 Thống kê tỉ lệ GV trên lớp và trình độ đào tạo của GV các

trường THPT huyện Cai Lậy 38 Bảng 2.6 Thống kê trình độ đào tạo của GV tin học các trường THPT

huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang hai năm học 2006-2007 và 2007-2008 40 Bảng 2.7 Kết quả xếp loại học lực của học sinh các trường THPT huyện

Cai Lậy hai năm học 2006-2007, 2007-2008 41 Bảng 2.8 Thống kê số HS được học tin học các trường THPT huyện Cai

Lậy trong hai năm học 2006-2007 và 2007-2008 42 Bảng 2.9 Tỉ lệ MVT/HS trong hai năm học 2006-2007 và 2007-2008 của

các trường THPT ở huyện Cai Lậy 47 Bảng 2.10 Số tiết dạy có ứng dụng CNTT-TT và môn học chưa ứng dụng

CNTT-TT vào giảng dạy hai năm học 2006-2007 và 2007-2008 48 Bảng 2.11 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và thứ bậc của

HT,CBQL, GV đánh giá việc thực hiện bước nhận thức trong qui

trình quản lý 51 Bảng 2.12 Thống kê mức đánh giá của GV đối với việc HT nắm bắt nhu

cầu ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy của đơn vị 52 Bảng 2.13 Thống kê đánh giá mức độ HT thực hiện việc nắm rõ thực trạng

ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy của đơn vị 53

Trang 7

Bảng 2.14 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và thứ bậc của

HT,CBQL, GV đánh giá việc thực hiện bước xác định mục tiêu 54 Bảng 2.15 Thống kê ý kiến về mục tiêu việc ứng dụng CNTT-TT 54 Bảng 2.16 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và thứ bậc của

HT,CBQL, GV đánh giá việc thực hiện bước xây dựng kế hoạch 55 Bảng 2.17 Thống kê mức đánh giá của GV về việc xây dựng kế hoạch thực

hiện mục tiêu của HT 56 Bảng 2.18 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và thứ bậc của

HT,CBQL, GV đánh giá việc thực hiện bước tổ chức trong qui

trình quản lý 56 Bảng 2.19 Thống kê ý kiến về việc HT qui định quyền hạn, trách nhiệm cho

cấp dưới 58 Bảng 2.20 Thống kê tỉ lệ chưa thực hiện việc đào tạo GV, nhân viên 59 Bảng 2.21 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và thứ bậc của

HT,CBQL, GV đánh giá việc thực hiện bước chỉ đạo trong qui

trình quản lý 59 Bảng 2.22 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và thứ bậc của

HT,CBQL, GV đánh giá việc thực hiện bước kiểm tra, đánh giá 60 Bảng 2.23 Thống kê mức đánh giá của GV về việc HT tổ chức kiểm tra 60 Bảng 2.24 Thống kê về việc HT tổ chức đánh giá việc thực hiện kế hoạch 61 Bảng 2.25 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và thứ bậc của

HT,CBQL, GV đánh giá việc thực hiện bước nhận thức trong qui

trình quản lý 61 Bảng 2.26 Giá trị trung bình, độ lệch chuẩn của HT, CBQL, GV trong đánh

giá việc thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy

từng giai đoạn 64 Bảng 2.27 Giá trị trung bình, độ lệch chuẩn của HT, CBQL, GV trong đánh

giá việc tổ chức chuyên đề 65

Trang 8

Bảng 2.28 Giá trị trung bình, độ lệch chuẩn của HT, CBQL, GV trong đánh

giá việc tổ chức, khai thác các PMGD 66 Bảng 2.29 Giá trị trung bình, độ lệch chuẩn của HT, CBQL, GV trong đánh

giá việc xây dựng tủ sách, báo, tạp chí 66 Bảng 2.30 Giá trị trung bình, độ lệch chuẩn của HT, CBQL, GV trong đánh

giá thực hiện việc tuyển dụng nhân sự 67 Bảng 2.31 Giá trị trung bình, độ lệch chuẩn của HT, CBQL, GV trong đánh

giá việc sử dụng biện pháp thi đua 68 Bảng 2.32 Thống kê ý kiến mức độ đồng ý tác động quản lý của HT chưa

nhiều đến việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy 70 Bảng 2.33 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, thứ bậc của HT,

CBQL, GV đánh giá về nguyên nhân khách quan 2.4 72 Bảng 2.34 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, thứ bậc của HT,

CBQL, GV đánh giá về nguyên nhân khách quan 2.1 72 Bảng 2.35 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, thứ bậc của HT,

CBQL, GV đánh giá về nguyên nhân khách quan 2.3 73 Bảng 2.36 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, thứ bậc của HT,

CBQL, GV đánh giá về nguyên nhân khách quan 2.2 73 Bảng 2.37 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, thứ bậc của HT,

CBQL, GV đánh giá về nguyên nhân chủ quan 1.4.1 74 Bảng 2.38 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, thứ bậc của HT,

CBQL, GV đánh giá về nguyên nhân chủ quan 1.6 75 Bảng 2.39 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, thứ bậc của HT,

CBQL, GV đánh giá về nguyên nhân 1.4.4 75 Bảng 2.40 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, thứ bậc của HT,

CBQL, GV đánh giá về nguyên nhân chủ quan 1.2.1 76 Bảng 2.41 Bảng hệ số tương quan giữa trình độ CNTT-TT và số các biện

pháp quản lý thực hiện tốt, khá của HT các trường THPT huyện

Cai Lậy 76

Trang 9

Bảng 2.42 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, thứ bậc của HT,

CBQL, GV đánh giá về nguyên nhân chủ quan 1.4.3 77 Bảng 2.43 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, thứ bậc của HT,

CBQL, GV đánh giá về nguyên nhân chủ quan 1.4.5 77 Bảng 2.44 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, thứ bậc của HT,

CBQL, GV đánh giá về nguyên nhân chủ quan 1.4.2 78 Bảng 2.45 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, thứ bậc của HT,

CBQL, GV đánh giá về nguyên nhân chủ quan 1.5 78 Bảng 2.46 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, thứ bậc của HT,

CBQL, GV đánh giá về nguyên nhân chủ quan 1.2.2 79 Bảng 2.47 Thống kê tỉ lệ GV theo thâm niên đồng ý việc HT chưa tạo được

sự đồng thuận trong tập thể 79 Bảng 2.48 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, thứ bậc của HT,

CBQL, GV đánh giá về nguyên nhân khách quan 1.2.3 80 Bảng 2.49 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, thứ bậc của HT,

CBQL, GV đánh giá về nguyên nhân chủ quan 1.1 81 Bảng 2.50 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, thứ bậc của HT,

CBQL, GV đánh giá về nguyên nhân khách quan 1.3 81 Bảng 3.1 So sánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, thứ bậc của ba nhóm

đối tượng khảo sát về những việc cần làm của HT để QL việc

ứng dụng CNTT-TT 95

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Theo dõi thâm niên GV trong 2 năm học 2006-2007 và

2007-2008……… 39

Biểu đồ 2.2 Số GV có trình độ A tin học trở lên……….…… 39

Biểu đồ 2.3 Tỉ lệ trình độ A Ngoại ngữ trở lên của GV……… 41

Biểu đồ 2.4 Thái độ của HS với các cách dạy……… 43

Biểu đồ 2.5 Mức đánh giá về ưu điểm tiết dạy có ứng dụng CNTT-TT 44

Biểu đồ 2.6 Trở ngại gặp phải của HS trong tiết học có ứng dụng CNTT-TT……… 45

Biểu đồ 2.7 Ý kiến HS về phòng MVT……… 46

Biểu đồ 2.8 Ý kiến của HS về môn học có nhiều tiết dạy ứng dụng CNTT-TT……… 48

Biểu đồ 2.9 Số tiết dạy có ứng dụng CNTT-TT……… 49

Biểu đồ 2.10 So sánh mức đánh giá hiệu quả quản lý việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy của HT……… 71

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) ngày nay được coi là cơ sở

hạ tầng của xã hội hiện đại Nó là một trong những động lực quan trọng của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội hiện đại Sự hội tụ giữa tin học cùng với truyền thông

và viễn thông đã làm cho thông tin và quá trình tiếp cận với thông tin ngày càng được rút ngắn và phát triển cực nhanh Xu hướng này đòi hỏi các trường học phải dạy cho học sinh (HS) “học cách học” để chúng có thể tiếp tục việc học suốt đời Mặt khác, CNTT-TT mở ra môi trường mới cung cấp những điều kiện và phương tiện thuận lợi cho các hình thức dạy và học phong phú, đa dạng Việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy một cách hợp lý giúp nâng cao chất lượng giáo dục dưới nhiều hình thức mà một trong số đó là giúp việc giảng dạy trở nên hấp dẫn, sát với thực tiễn cuộc sống Vì lẽ đó, ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy là một lĩnh vực ứng dụng vừa rộng, vừa sâu, vừa liên tục, vừa phát triển

Ở nước ta, việc “đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục-đào tạo (GD-ĐT), khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học” đã được khẳng định từ Nghị quyết TW2, khóa VIII Nghị quyết cũng đã nêu

rõ: “Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện vào quá trình dạy và học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS” [37] Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ chính trị cũng đã khẳng định phải:“đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học” [10] Chiến lược phát triển giáo dục 10 năm 2000-2010 cũng đã coi việc “sử dụng CNTT-TT vào giảng dạy nhằm phát huy mạnh mẽ tính tích cực, chủ động sáng tạo, kỹ năng thực hành và hứng thú học tập của học sinh là nội dung quan trọng trong giải pháp để đổi mới phương pháp và nâng cao hiệu quả dạy học”

[8] Việc ứng dụng này ngày càng được đẩy mạnh hơn trong giai đoạn tiến hành thay sách giáo khoa bậc trung học phổ thông (THPT) từ năm 2006 đến nay Từ mức

độ động viên khuyến khích thiếu sự tác động của các nhà quản lý (QL) những năm

Trang 12

đầu thực hiện chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, đến nay việc ứng dụng này ngày càng nhiều, tốc độ ngày một nhanh hơn trong đó có phần quan trọng do sự tác động từ phía các nhà QL Gần đây, ngày 10 tháng 4 năm 2007 Nghị định số 64 của Chính phủ về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước đã được ban hành, bên cạnh đó Bộ GD-ĐT đã có hướng dẫn 9854 thực hiện nhiệm vụ năm học

2007-2008 về CNTT “nhằm thúc đẩy nhanh việc dạy môn Tin học và ứng dụng CNTT trong nhà trường, góp phần đổi mới phương pháp dạy học” và nói rõ tiến tới

“lấy năm học 2008-2009 sẽ là năm học CNTT” [6] Do đó, tác động của các nhà

QL trường học về việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy trong nhà trường có tầm quan trọng đặc biệt

Ở Tỉnh Tiền Giang, để thực hiện tốt việc giảng dạy theo tinh thần thay sách giáo khoa bậc THPT, Sở GD-ĐT đã có những chỉ đạo đến các trường thúc đẩy việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy cũng như tăng cường đầu tư trang thiết bị cho các trường Cán bộ quản lý (CBQL) của các trường THPT cũng tỏ ra quan tâm đặc biệt việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy và coi đây là công cụ dạy học cho giáo viên (GV) Tuy nhiên, ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy là việc khó, QL việc ứng dụng này lại còn khó hơn và là vấn đề còn quá mới mẻ với những nhà QL ở các trường THPT trên địa bàn Huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang Do đó, để tiếp tục thực hiện tốt hơn chương trình mang tính quốc gia của Bộ GD-ĐT về CNTT-TT trong

giai đoạn 2005-2010 đạt được mục tiêu: “sử dụng CNTT nhằm nâng cao chất lượng dạy và học”, cần thiết có một nghiên cứu về thực trạng QL công tác này tại các

trường THPT trên địa bàn Huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang

Bản thân tác giả đang làm công tác QL tại một trong năm trường THPT trong huyện Cai Lậy, có điều kiện tiếp xúc, thường xuyên trao đổi cũng như nắm bắt được những trăn trở của các HT về vấn đề này nên tác giả có điều kiện thực hiện

nghiên cứu đề tài “Thực trạng quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin và

truyền thông vào giảng dạy ở các trường THPT Huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang” Đó là lý do mà tác giả chọn đề tài này làm luận văn tốt nghiệp cao học

chuyên ngành Quản lý giáo dục

Trang 13

2 Mục đích nghiên cứu

Điều tra thực trạng QL việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy ở các trường THPT Huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp QL việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy trong giai đoạn mới

3 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng QL việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy ở các trường THPT huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang

4 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động QL việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy của HT

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài

5.2 Thực trạng QL việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy ở các trường THPT huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang

5.3 Phân tích nguyên nhân dẫn đến các bất cập và yếu kém của công tác QL việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy ở các trường THPT huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang

5.4 Đề xuất một số biện pháp QL việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy ở các trường THPT Huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang trong giai đoạn mới

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ nghiên cứu thực trạng QL việc ứng dụng CNTT-TT với chủ thể

QL là HT của tất cả các trường THPT trên địa bàn huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang gồm: trường THPT Đốc Binh Kiều, THPT Lưu Tấn Phát, THPT Mỹ Phước Tây, THPT Phan Việt Thống và THPT BC Tứ Kiệt

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp đọc tài liệu

Nhằm phân tích, tổng hợp, hệ thống, khái quát hóa để xây dựng tổng luận của đề tài nghiên cứu

Trang 14

7.2 Phương pháp chuyên gia kết hợp phương pháp phỏng vấn

- Phỏng vấn CBQL Sở GD-ĐT, CBQL và GV các trường để tìm hiểu thực trạng

- Tham khảo ý kiến các chuyên gia để đưa ra một số biện pháp hữu hiệu

7.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu

-Gồm 2 bộ phiếu:

Bộ phiếu 1: Phiếu khảo sát thực trạng dành cho CBQL, GV và HS

Bộ phiếu 2: Phiếu khảo nghiệm các biện pháp QL dành cho CBQL và GV -Với mẫu điều tra: CBQL: 64, GV: 315, HS:700,

-Tình hình các phiếu điều tra (phụ lục 1)

7.4 Phương pháp xử lý số liệu

Cho điểm rồi tùy theo nội dung câu hỏi khảo sát mà tính phần trăm, thứ bậc, giá trị trung bình x, độ lệch chuẩn sx, hệ số tương quan r giữa các nhóm đối tượng hay giữa các nội dung, độ tin cậy t của giả thuyết cần kiểm định để từ đó rút ra các đánh giá, kết luận về sự tương quan Chủ yếu sử dụng kiến thức cơ bản về toán thống kê và thực hiện tính toán bởi các hàm trên phần mềm Microsoft Exel

8 Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm những phần:

Phần mở đầu: Giới thiệu khái quát về đề tài, mục đích nghiên cứu, nhiệm

vụ nghiên cứu

Phần kết quả nghiên cứu gồm ba chương:

-Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

-Chương 2: Thực trạng QL việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy ở các trường THPT huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang

-Chương 3: Đề xuất một số biện pháp QL việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy ở các trường THPT huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang trong giai đoạn mới

Phần kết luận và khuyến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 15

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề nghiên cứu việc ứng dụng CNTT-TT vào dạy học gần đây có nhiều tác giả đã có bài viết và công trình nghiên cứu như:

- Đề tài Sử dụng CNTT-viễn thông để nâng cao hiệu quả dạy học và đổi mới phương thức đào tạo của ThS Nguyễn Mạnh Cường, Viện nghiên cứu giáo dục [14]

- Công trình nghiên cứu CNTT với việc dạy và học trong nhà trường Việt Nam của Lưu Lâm đã phân tích những điểm mạnh, điểm yếu của việc sử dụng

CNTT trong dạy và học đồng thời nêu lên được việc ứng dụng CNTT trong dạy và học ở hiện tại và tương lai [29]

- Công trình nghiên cứu Đổi mới phương pháp giảng dạy (PPGD) bằng CNTT – Xu thế của thời đại của TS Quách Tuấn Ngọc báo cáo tại Hội thảo “Tin

học trong QL nhà trường” đã nêu quan niệm dạy và học theo nghĩa CNTT và trình bày một số thể nghiệm bước đầu công nghệ dạy và học thực hiện tại trung tâm CNTT Bộ GD-ĐT [41]

- Kỷ yếu hội thảo Về cải cách phương pháp dạy học theo hướng vận dụng CNTT và các thiết bị dạy học hiện đại để phát huy mạnh mẽ tính tích cực, chủ động sáng tạo, kỹ năng thực hành và hứng thú học tập của học sinh do Trường THPT

dân lập Ngôi sao TP.Hồ Chí Minh tổ chức vào tháng 3/2003 đã nêu được thực tiễn việc vận dụng CNTT tại một trường THPT dân lập ở TP.Hồ Chí Minh [53]

- Luận văn Thạc sĩ đề tài Một số biện pháp chỉ đạo của HT để đổi mới PPDH bằng sử dụng CNTT ở các trường THPT vùng ven thành phố Hồ Chí Minh của tác

giả Trần Phước Đức [18]

- Tổng quan về ứng dụng CNTT-TT trong giáo dục của Trần Khánh trường

ĐHSP Thái Nguyên cho cái nhìn khái quát về những thuận lợi khó khăn khi ứng dụng CNTT-TT trong giáo dục ở Việt Nam giai đoạn 2001-2005 [25]

- Đề án dạy học tin học và ứng dụng CNTT-TT trong trường phổ thông giai đoạn 2004-2006 của Bộ GD-ĐT [5]

Trang 16

- Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan Nhà nước [36]

- Hướng dẫn số 9854/BGDĐT-CNTT về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2007-2008 về CNTT của Bộ GD-ĐT ngày 07/9/2007 [6]

- Bài viết Ứng dụng CNTT-TT trong QL trường THCS - Thực trạng và giải pháp của TS Ngô Quang Sơn 10/2007 [45]

Tuy có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về việc ứng dụng CNTT-TT vào dạy học song những công trình nghiên cứu về thực trạng QL việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy ở các trường THPT, đặc biệt là ở địa phương Huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang còn ít được đề cập tới Vì vậy, để góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy ở địa phương, nghiên cứu thực trạng QL việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy ở các trường THPT Huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang là việc làm cấp thiết

1.2 Các khái niệm liên quan

1.2.1 Quản lý

Quản lý là một hoạt động lao động tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội loài người, nó được bắt nguồn và gắn chặt với sự phân công và hợp tác lao động

Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo thì: “Hoạt động QL gồm hai quá trình tích hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm sự coi sóc giữ gìn để duy trì tổ chức ở trạng thái ổn định, quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào phát triển”: như vậy QL chính là hoạt động tạo ra sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của tổ chức đến một trạng thái mới có chất lượng cao hơn” [3]

Tác giả Trần Kiểm định nghĩa: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong suốt quá trình lao động” [26]

Theo quan điểm hoạt động của một tổ chức: “Quản lý là những tác động có

định hướng, có kế hoạch của chủ thể QL đến đối tượng bị QL trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [58]

Trang 17

“Hoạt động QL là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [60]

Từ những điểm chung của các định nghĩa trên có thể hiểu quản lý là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của chủ thể QL lên khách thể QL bằng việc vận dụng các chức năng và phương tiện QL, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được các mục tiêu đặt ra

1.2.2 Quản lý trường trung học phổ thông

1.2.2.1 Trường trung học phổ thông

Theo điều lệ trường trung học do Bộ trưởng Bộ GD-ĐT ban hành theo quyết định 07/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 02/4/2007, trường THPT là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân Trường có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng Trường THPT có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác của Chương trình giáo dục phổ thông

Quản lý GV, cán bộ, nhân viên; tham gia tuyển dụng và điều động

Quản lý, sử dụng và bảo quản CSVC, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước

Tổ chức cho GV, nhân viên, HS tham gia hoạt động xã hội

Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục

Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật [17]

Trang 18

Luật Giáo dục năm 2005 ghi rõ: “Giáo dục THPT được thực hiện trong ba năm học, từ lớp 10 đến lớp 12” Mục tiêu của giáo dục THPT “nhằm giúp HS củng

cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông

và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học ĐH, CĐ, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”[30]

Ngoài việc thực hiện mục tiêu chung của giáo dục là “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện” mục tiêu cụ thể của giáo dục THPT còn có thêm những nội dung như: trung thực, sống lành mạnh, tự tin, có chí lập nghiệp, không cam chịu

nghèo hèn, có khả năng sử dụng một ngoại ngữ trong giao tiếp thông thường, có khả năng ứng dụng một số thành tựu của CNTT ở trình độ phổ thông trong giải quyết công việc, phát triển và nâng cao các kỹ năng học tập chung, kỹ năng vận

dụng kiến thức vào các tình huống học tập mới, vào thực tiễn sản xuất và cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng

Nội dung của giáo dục THPT là phải củng cố phát triển những nội dung đã học ở THCS, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông, ngoài nội dung chủ yếu nhằm đảm bảo chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho mọi HS còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của HS

Phương pháp giáo dục trong trường THPT là kiên trì thực hiện giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn với thực tế, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với xã hội Khắc phục tách biệt giữa lý thuyết và thực hành, giữa kiến thức

và kỹ năng, giữa giáo dục khoa học kỹ thuật và giáo dục nhân văn Mặt khác, phương pháp ấy phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của

HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS, đồng thời tạo cơ sở cho HS tiếp tục học suốt đời

Trang 19

Hoạt động giáo dục của trường THPT phải gắn với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của địa phương

Như vậy, nếu căn cứ vào tính chất, nhiệm vụ, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hoạt động của trường THPT có thể thấy đặc điểm của trường THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân nước ta hiện nay xét về mặt QL có những cái chung của một nhà trường nhưng lại có cái riêng không thể giống các trường khác về đối tượng QL, về hoạt động giảng dạy, giáo dục của GV, việc học tập rèn luyện của HS,

phục vụ cho hoạt động dạy và học của GV và HS, QL của HT đối với nhân viên,

CBQL, bộ máy QL, những phương tiện vật chất, tài chính và cả sự khác biệt về mục tiêu QL

1.2.2.2 Vai trò, nhiệm vụ của Hiệu trưởng

Điều 19 trong Điều lệ trường trung học ký ngày 02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT quy định nhiệm vụ và quyền hạn của HT như sau:

Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;

Thực hiện các Nghị quyết, Quyết nghị của Hội đồng trường;

Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;

Quản lý GV, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại GV, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật đối với GV, nhân viên theo quy định của Nhà nước; QL hồ sơ tuyển dụng

GV, nhân viên;

Quản lý HS và các hoạt động của HS do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại HS, ký xác nhận học bạ và quyết định khen thưởng,

kỷ luật HS theo quy định của Bộ GD-ĐT;

Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường;

Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với GV, nhân viên, HS; tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục của nhà trường

Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật;

Trang 20

Chịu trách nhiệm trước cấp trên về toàn bộ các nhiệm vụ được quy định [17]

Với những nhiệm vụ và quyền hạn to lớn như trên, người HT phải thường xuyên rèn luyện, phấn đấu để thể hiện tốt các vai trò sau đây:

- HT là nhà QL, là người đại diện Nhà nước về mặt hành chính, thực thi các hoạt động QL trường học dựa trên cơ sở của pháp luật

- HT là người tổ chức thực tiễn, luôn tìm tòi đổi mới hoạt động QL, đổi mới các hoạt động sư phạm của nhà trường

- HT là nhà sư phạm, nhà giáo dục mẫu mực có tâm hồn cao thượng, thường xuyên chăm lo việc nâng cao năng lực sư phạm và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cho đội ngũ GV, là người nhạy cảm, có sự đối xử khéo léo và có khả năng cảm hóa con người

- HT là nhà hoạt động chính trị-xã hội và là nhà văn hóa, là người duy trì, phát triển và sáng tạo các giá trị của nhà trường

- HT còn là nhà ngoại giao Để thực hiện các nhiệm vụ đổi mới giáo dục, người HT cần tận dụng kinh phí từ nhiều nguồn khác nhau Trong điều kiện nguồn kinh phí nhà trường chủ yếu do Nhà nước cung cấp thì có hạn, HT cần biết tận dụng các cơ hội để khai thác nguồn kinh phí to lớn ngoài xã hội

Như vậy, để làm tốt các chức năng của mình, người HT cần phải thể hiện tốt các vai trò chủ yếu: vừa là nhà QL, nhà giáo dục, nhà sư phạm, vừa là nhà hoạt động chính trị-văn hóa-xã hội, nhà ngoại giao và quan trọng hơn là nhà tổ chức trong thực tiễn

1.2.2.3 Chức năng quản lý của Hiệu trưởng

Trong nhà trường để mọi người cùng thực hiện mục tiêu giáo dục, tất yếu nảy sinh nhu cầu về những hoạt động cần thiết như tổ chức, phân công, phối hợp, điều hòa, hướng dẫn, động viên, kiểm tra Những hoạt động đó là hoạt động QL của người HT Nghiên cứu những hoạt động này người ta đã cố gắng tách riêng từng hoạt động ra, dựa trên tính tương đối độc lập của mỗi hoạt động Mỗi hoạt động tương đối độc lập được tách ra trong hoạt động QL được gọi là chức năng QL

Trang 21

“Chức năng QL là những dạng khác nhau của hoạt động QL, là những hình thái biểu hiện bản chất của QL, là kết quả của quá trình chuyên môn hóa trong QL”[58]

Như vậy có thể nói chức năng QL là toàn thể những việc thường xuyên mà

HT phải thực hiện vì nhiệm vụ của mình để giữ vai trò là người đứng đầu nhà trường

Hiện nay có nhiều quan điểm về các chức năng cơ bản của QL

Theo các tài liệu của UNESCO, công tác QL nói chung có bốn chức năng cơ bản, đó là kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra

Iu K Babanxki (Nga) cho rằng: “chức năng QL nhìn chung gồm ba yếu tố,

đó là: kích thích động viên, tạo động lực; tổ chức hoạt động và kiểm tra đánh giá Yếu tố kích thích động viên, tạo động lực được đặt lên hàng đầu và được xem là vấn đề rất quan trọng” [1]

Theo Thái Duy Tuyên: “ngoài bốn chức năng cơ bản mang tính công cụ là kế hoạch hóa; tổ chức hoạt động; chỉ đạo hoạt động và kiểm tra, đánh giá còn phải kể đến chức năng kích thích động viên, tạo động lực Đây được xem là chức năng cơ

sở có mặt trong mọi hoạt động của người QL để thực hiện tốt bốn chức năng kia”[61]

Theo tinh thần này QL của HT có các chức năng công cụ sau đây:

- Kế hoạch hóa: là việc đưa toàn bộ hoạt động của nhà trường vào kế hoạch, trong đó chỉ rõ các bước đi, các biện pháp thực hiện và đảm bảo các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã đề ra Nó có vai trò quan trọng là xác định phương hướng hoạt động và phát triển của nhà trường, xác định các kết quả cần đạt được trong tương lai Đây là một quá trình gồm các bước: nhận thức, xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu

- Tổ chức: là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra Chức năng tổ chức có vai trò hiện thực hóa mục tiêu kế hoạch và tạo nên sức mạnh của tập thể, nếu việc phân phối và sắp xếp các nguồn lực được tổ chức một cách khoa học và hợp lý

Trang 22

- Chỉ đạo: là quá trình tác động cụ thể của HT tới mọi thành viên của nhà trường, nhằm biến những nhiệm vụ chung của nhà trường thành hoạt động thực tiễn của từng người HT thực hiện chức năng chỉ đạo là thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai hoạt động giáo dục; thường xuyên điều chỉnh, sắp xếp, phối hợp và giám sát mọi người và các bộ phận thực hiện tốt kế hoạch theo sự bố trí đã xác định trong bước tổ chức

- Kiểm tra: là quá trình xem xét thực tiễn, để phát hiện đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục của trường, khuyến khích những nhân tố tích cực, phê phán những lệch lạc và đưa ra quyết định điều chỉnh kịp thời nhằm giúp các bộ phận và các cá nhân đạt được các mục tiêu đã đề ra

Trong quá trình thực hiện chức năng kiểm tra, HT cần phải xác định được chuẩn kiểm tra, đo lường việc thực thi nhiệm vụ, so sánh, đối chiếu với mục tiêu đã

đề ra và đưa ra quyết định điều chỉnh cần thiết Cần thường xuyên đánh giá, sơ kết những thay đổi có được, mà không phải đợi đến cuối kỳ hay cả năm học

- Kích thích động viên, tạo động lực

Đây là một chức năng cơ bản không kém phần quan trọng trong hoạt động

QL Nếu không biết kích thích, động viên, tạo động lực cho các thành viên cùng hoạt động thì dù có lập kế hoạch tốt, tổ chức thực hiện tài giỏi, chỉ đạo sâu sát, kiểm tra uốn nắn thường xuyên thì người HT vẫn có thể không thành công trong hoạt động QL Động lực là nhân tố thúc đẩy, phát triển hoạt động của con người Do đó,

để tạo động lực cho hoạt động giáo dục trong nhà trường của các GV, HT cần tác động đến nhu cầu được tôn trọng, được tự khẳng định mình, đồng thời có sự động viên về tinh thần và bồi dưỡng bằng vật chất thích đáng, tương xứng với khả năng

và sự cống hiến của mỗi người

Trường THPT là một tổ chức tập hợp những con người mà hoạt động của họ đều nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục Do đó, QL trường THPT về bản chất là QL con người Họ không những là khách thể mà còn là chủ thể QL Với tư cách là khách thể QL, GV và HS là đối tượng tác động của chủ thể QL, song với tư cách là chủ thể mọi hoạt động họ còn là người tham gia chủ động tích cực vào hoạt động

Trang 23

QL và biến toàn bộ hệ thống thành hệ tự QL Như vậy, HT quản lý con người chính

là QL các điều kiện mà trong đó con người lao động, không những giúp họ thực hiện vai trò của mình có hiệu quả mà còn kiểm tra, uốn nắn, đánh giá việc thực hiện

đó Nói một cách khác, QL trường THPT là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa trường THPT vận hành theo nguyên

lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục đặt ra cho trường THPT Nó là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể QL đến tập thể

GV, HS, các lực lượng xã hội trong ngoài trường THPT nhằm huy động và phối hợp sức lực trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến

1.2.3 Khái niệm về thông tin, tin học, dữ liệu, internet, trang web, multimedia, e-learning

1.2.3.1 Thông tin

“Thông tin là tất cả những gì có thể cung cấp cho con người những hiểu biết

về đối tượng được quan tâm trong tự nhiên và xã hội, về những sự kiện diễn ra trong không gian và thời gian, về những vấn đề chủ quan và khách quan” [32] Tóm lại, tất cả những gì có thể giúp cho con người hiểu đúng về đối tượng mà

họ quan tâm đều được gọi là thông tin

1.2.3.2 Tin học

“Tin học là ngành khoa học nghiên cứu việc xử lý bằng máy tính điện tử các tri thức của loài người dưới dạng thông tin trong các lĩnh vực kỹ thuật, kinh tế và xã hội” [20]

1.2.3.3 Dữ liệu

“Dữ liệu là sự biểu diễn của thông tin Dữ liệu sau khi tập hợp lại và xử lý sẽ cho ta thông tin Nói cách khác dữ liệu là nguồn gốc, là vật mang thông tin, là vật liệu sản xuất ra thông tin” [22]

1.2.3.4 Internet

“Internet là sự kết nối của hệ thống các mạng máy tính thông qua các phương tiện viễn thông trên toàn thế giới như vệ tinh viễn thông, cáp quang, đường điện

Trang 24

thoại…Khả năng truyền tải của những phương tiện này rất lớn, có thể chứa được nhiều loại thông tin như dữ liệu, hình ảnh, tiếng nói, hình ảnh động…”[59]

1.2.3.5 Trang web

“Trang web là một tập tin chương trình được lập trình bằng ngôn ngữ html (hyper text markup language), tạm gọi là tập tin html Chúng có khả năng liên kết với nhiều tập tin khác như tập tin ảnh, video, âm thanh, text,…kể cả các tập tin html khác Nơi chứa các trang web của một tổ chức hoặc cá nhân gọi là website” [59]

Web còn được gọi là đa phương tiện của mạng internet

1.2.3.6 Multimedia

Ngày nay với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, con người không chỉ sử dụng loại ngôn ngữ đơn giản là âm thanh và chữ viết mà còn sử dụng các loại phương tiện khác nhau như hình ảnh đồ họa, âm thanh, văn bản và các loại phương tiện nghe nhìn khác như video, phim ảnh và các loại mô phỏng được gọi chung là media (phương tiện) Sự kết hợp nhiều phương tiện khác nhau trong truyền thông được sử dụng với thuật ngữ “multimedia”, được dịch là “đa phương tiện” Như vậy đa phương tiện là sự sử dụng nhiều hơn một loại phương tiện trong cùng một thời gian, điều này có nghĩa là sự tích hợp giữa các phương tiện khác nhau trong cùng một thời gian truyền thông

1.2.3.7 E-Learning

Học tập (Learning) là việc xử lý những thông tin mà người học thu được, nó tạo nên sự thay đổi hoặc làm tăng kiến thức và khả năng, năng lực của người học E-Learning là việc thực hiện các chương trình giáo dục, học tập, đào tạo, bồi dưỡng thông qua các phương tiện điện tử E-Learning liên quan tới việc sử dụng máy tính hoặc các thiết bị điện tử trong một phương diện nào đó nhằm cung cấp tài liệu cho việc giáo dục, học tập, đào tạo, bồi dưỡng

1.2.4 Công nghệ thông tin và truyền thông

1.2.4.1 Công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lý thông tin Theo quan niệm này

Trang 25

thì “CNTT là hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công

cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa của con người” [10]

1.2.4.2 Truyền thông

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “truyền thông là quá trình trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau Hoạt động trao đổi thông điệp có tính phổ biến giữa nguồn phát với công chúng xã hội rộng rãi được gọi là truyền thông đại chúng” [62]

1.2.4.3 Công nghệ thông tin và truyền thông

Những năm gần đây, cả thế giới trong đó có Việt Nam đã quen với thuật ngữ ICT (Information and Communication Technology) ICT được dịch ra tiếng Việt là công nghệ thông tin và truyền thông

“CNTT-TT là tập hợp đa dạng các công cụ và tài nguyên công nghệ được sử dụng để truyền thông, kiến tạo, phổ biến, lưu giữ và QL thông tin Nó bao gồm công nghệ truyền thông (phát thanh, truyền hình) và điện thoại, các công nghệ kỹ thuật số mới như máy tính và internet Tất cả được coi là những công cụ tiềm năng mạnh mẽ có khả năng tạo ra những thay đổi và cải cách cho giáo dục” [56]

Trang 26

động qua lại giữa thầy và trò, làm cho trò lĩnh hội từng phần tri thức và kinh nghiệm của xã hội” [42]

“Hoạt động dạy là hoạt động có tổ chức điều khiển của GV đối với hoạt động nhận thức của HS Nói cách khác hoạt động dạy là sự truyền thụ những tri thức khoa học, những kỹ năng và phương pháp hành động” [42]

Theo quan điểm thông tin, giảng dạy là phát thông tin và giúp người học thực hiện quá trình thu nhận thông tin có định hướng, có sự tái tạo và phát triển thông tin một cách có hiệu quả

1.2.6 Khái niệm về bài giảng điện tử, giáo án điện tử, phần mềm giảng dạy

1.2.6.1 Bài giảng điện tử

Theo PGS TS Lê Công Triêm: “Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hóa

do GV điều khiển thông qua môi trường multimedia do máy vi tính (MVT) tạo ra”[59]

Đặc trưng cơ bản nhất của bài giảng điện tử là toàn bộ kiến thức của bài học, mọi hoạt động điều khiển của GV đều được multimedia hóa

Công văn số 261/SGD-ĐT-GDTrH về việc ứng dụng CNTT trong dạy-học ở trường trung học của Sở GD-ĐT tỉnh Tiền Giang nói rõ:

Giáo án nền (soạn trên máy tính): bao gồm toàn bộ các thành tố của quá trình dạy - học (mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức dạy - học, kiểm tra đánh giá), đồng thời phải đảm bảo đầy đủ yêu cầu của bộ môn

Bài giảng điện tử chủ yếu chỉ gồm những nội dung dạy - học được

GV chọn lọc từ “giáo án nền” để trình bày trên lớp bằng máy tính nhờ các phần mềm chuyên dụng với những hiệu ứng minh họa

Bài giảng điện tử là một bộ phận của giáo án điện tử (GAĐT), không bao gồm toàn bộ các thành tố của quá trình dạy - học[50]

Trang 27

1.2.6.2 Giáo án điện tử

“Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của GV trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được multimedia hóa một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc của bài học

Nó chính là bản thiết kế của bài giảng điện tử, chính vì vậy xây dựng GAĐT hay thiết kế bài giảng điện tử là hai cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể để có được bài giảng điện tử” [59]

“GAĐT là bài soạn trên máy tính (giáo án “nền”) có kèm theo một bài giảng điện tử” [50]

1.2.6.3 Phần mềm giảng dạy (PMGD)

“Là một trong những chương trình ứng dụng được xây dựng nhằm mục đích

để hỗ trợ cho việc giảng dạy, là tập hợp các câu lệnh được viết theo một ngôn ngữ lập trình nào đó, để yêu cầu máy tính thực hiện các thao tác cần thiết theo một kịch bản và yêu cầu đã được định trước Có thể nói đó là sản phẩm kết tinh từ hai loại chuyên gia: sư phạm và tin học”[59]

1.3 Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào giảng dạy

1.3.1 Khái niệm ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy, tích hợp CNTT-TT vào giảng dạy

Ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy là quá trình khai thác các phương tiện thông tin và truyền thông vào hoạt động dạy của người dạy nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động này

Tích hợp CNTT-TT vào giảng dạy là ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy ở mức cao hơn, tác động vào toàn bộ các khâu của hoạt động dạy của người dạy

1.3.2 Cơ sở lý luận dạy học của việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy

Đặc điểm nổi bật của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay là sự phát triển có tính chất bùng nổ của CNTT-TT Ở Việt Nam trong những năm gần đây, CNTT-TT đang xâm nhập mạnh mẽ vào mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội Xu hướng coi CNTT-TT như là một phương tiện dạy học hiện đại được sử dụng nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của tất cả các bộ môn đang được quan tâm, bởi vì

Trang 28

CNTT-TT ngày càng tỏ ra ưu việt ở những chỗ mà không một phương tiện truyền thống nào trước đây có thể giải quyết được Nhờ khả năng tương tác cao, sự tích hợp của nhiều khả năng khác mà CNTT-TT có được những đặc trưng mới về chất

so với các phương tiện dạy học trước đó

Chúng ta biết rằng một quá trình dạy học phải bao gồm trong đó các chức năng cơ bản: củng cố trình độ tri thức xuất phát của HS; xây dựng được tiến trình tiếp thu các tri thức mới; củng cố, lập luận và vận dụng các kiến thức đã tiếp thu; tổng kết, hệ thống hóa kiến thức và kiểm tra đánh giá trình độ nhận thức, kỹ năng

kỹ xảo của HS CNTT-TT nói chung và máy tính nói riêng đảm bảo được việc thực hiện tốt hơn các chức năng đó nhờ có khả năng cung cấp thông tin, làm tăng giá trị lượng tin, giúp cho việc trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn Mặt khác nhờ CNTT-TT, việc kiểm tra có thể thực hiện liên tục, giúp lưu trữ và xử

lý các kết quả một cách nhanh chóng, chính xác, khách quan Máy tính cũng đảm bảo mối liên hệ ngược trong, ngược ngoài, điều khiển và điều chỉnh kịp thời hoạt động học tập của HS nên là một phương tiện truyền thông có nhiều thế mạnh hơn các phương tiện truyền thông khác Ngày nay, với sự phát triển rộng rãi của mạng internet và multimedia thì chức năng này của máy tính càng được phát huy mạnh

mẽ hơn bao giờ hết

1.3.3 Hướng ứng dụng CNTT-TT trong giáo dục-đào tạo hiện nay ở Việt Nam

Theo ThS Nguyễn Văn Hiền hướng sử dụng CNTT-TT trong GD-ĐT hiện nay ở nước ta được minh họa theo sơ đồ sau:

Theo hướng nhìn nhận CNTT-TT là công cụ dạy học hiện nay trên thế giới có ba hướng ứng dụng:

Trang 29

1/ CNTT-TT là công cụ của người dạy Theo hướng này người dạy ứng dụng CNTT-TT phục vụ trực tiếp cho việc thiết kế và thể hiện bài giảng mà hiện nay quen gọi là GAĐT, bài giảng điện tử và phần mềm sử dụng phổ biến nhất là Microsoft PowerPoint

và một số phần mềm thông dụng khác

2/ CNTT-TT là công cụ dạy và học của cả người dạy và người học Hướng này được thí điểm ở Việt Nam từ năm 2004 với “Chương trình dạy học của Intel” mà nội dung chính là người dạy sử dụng CNTT-

TT để thiết kế bài dạy và các tài liệu hỗ trợ học tập, còn người học sử dụng CNTT-TT là phương tiện để “trả bài” theo yêu cầu người dạy

3/ CNTT-TT là “môi trường” học tập mới, môi trường học tập ảo Theo hướng này, CNTT-TT thay thế cho hình thức giáp mặt, nó trở thành môi trường chứa đựng thông tin và tình huống nhận thức, người học thành chủ thể hoạt động trong môi trường đó

Trong ba hướng ứng dụng trên, hướng thứ nhất hiện nay đang thịnh hành ở nước ta

Lý do theo hướng này về mặt khách quan là bởi hệ thống cơ sở hạ tầng của ta chưa đáp ứng được yêu cầu của hai hướng còn lại, đặc điểm phân phối chương trình chưa thuận lợi cho GV tổ chức, thực hiện theo hai hướng này

Về mặt chủ quan là GV chưa được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng dạy học theo hướng thứ hai và hướng thứ ba, trong khi ứng dụng theo hướng thứ nhất thì GV có thể tận dụng cơ sở hạ tầng hiện có và cách thức lên lớp theo hướng này cũng không khác nhiều với cách dạy hiện nay [21]

1.4 Hiệu trưởng quản lý việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy trong trường THPT

HT có thể thông qua các tổ chức trong nhà trường để QL con người và việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy tại trường Trong khi triển khai hoạt động của các tổ chức, thực tế công việc QL của HT thường diễn ra theo qui trình như sau:

Trang 30

soạn thảo kế hoạch, phổ biến kế hoạch, tổ chức cho các đơn vị lập kế hoạch, tổ chức

và chỉ đạo thực hiện kế hoạch, kiểm tra; đánh giá, kích thích động viên; tạo động lực

- Bước tổ chức:

Trước hết và chủ yếu là việc HT cần phải hình thành một cấu trúc tổ chức tối

ưu của hệ thống QL Đó là sự phân quyền và phân nhiệm cho phó HT và các tổ chuyên môn, là việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhân sự có trình độ tốt về CNTT, là những quy định về cơ chế hoạt động phối hợp giữa chuyên môn với các đoàn thể trong nhà trường, cùng bảo đảm thực hiện mục tiêu của việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy đã đề ra, là sự phân bổ nguồn lực và quy định thời gian cho các bộ phận nhằm thực hiện đúng kế hoạch đã định Ngoài ra, HT cũng cần phải xác lập được một mạng lưới các mối quan hệ tổ chức và giải quyết tốt các mối quan hệ giữa các bộ phận bên trong nhà trường, cũng như mối quan hệ giữa nhà trường với cộng đồng xã hội

- Bước chỉ đạo:

HT cần theo dõi và giám sát việc thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy để chỉ huy, ra lệnh cho các bộ phận và các hoạt động của nhà trường diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp được các lực lượng giáo dục trong nhà trường và phối hợp tối ưu với nhau HT cũng cần tạo được sự liên hệ giữa các thành

Trang 31

viên trong nhà trường, tập hợp, động viên và hướng dẫn, điều hành họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu trong việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy tại trường Khi thực hiện kế hoạch ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy ở tại trường có thể có một số vấn đề chưa phù hợp với thực tiễn cần phải điều chỉnh cho hợp lý hơn, HT phân tích nhanh chóng các vấn đề thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, sửa chữa, bù đắp, chỉnh lý kế hoạch để việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy đạt hiệu quả tối ưu Ngoài ra để chỉ đạo tốt việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy tại trường, HT cần thu thập thông tin chính xác, biết phân tích, xử lý các nguồn thông tin và đưa ra các quyết định đúng đắn Nguồn thu thập thông tin quan trọng

đó là kiểm tra, đánh giá

- Bước kiểm tra:

Là một nổ lực có hệ thống nhằm thực hiện ba chức năng: phát hiện, điều chỉnh và khuyến khích Thông qua việc kiểm tra mà HT có được thông tin để đánh giá kết quả việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy ở trường mình đã đạt đến đâu, ở mức nào từ đó có những điều chỉnh việc ứng dụng một cách đúng hướng nhằm đạt mục tiêu HT cũng cần phải xác định được chuẩn kiểm tra việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy ở trường mình Cần thường xuyên đánh giá, hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy trên cơ sở những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm

đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy tại trường

- Bước kích thích, động viên, tạo động lực:

Kích thích, động viên, tạo động lực là việc làm cần thiết cho bất cứ hoạt động nào trong nhà trường Do việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy là công việc còn mới mẻ, có ảnh hưởng trực tiếp đến hứng thú và quan trọng hơn là nó nằm trong tầm tay điều khiển của GV, vì vậy, HT cần có sự động viên kịp thời về mặt tinh thần cũng như có chế độ bồi dưỡng bằng vật chất thích đáng, tương xứng với khả năng và sự cống hiến của mỗi người trong việc thực hiện ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy tại trường

Trang 32

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình QL việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy

1.5.1 Các nhân tố chủ quan

1.5.1.1 Trình độ, năng lực, phẩm chất của Hiệu trưởng:

HT là người chịu trách nhiệm trước Đảng và Nhà nước về chất lượng và hiệu quả mọi hoạt động của trường mình Sự ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy có đạt hiệu quả như mong muốn hay không, trước hết phụ thuộc vào nhận thức, trình độ tổ chức và năng lực triển khai trong thực tiễn của HT Do đó, HT phải là người am hiểu sâu sắc về CNTT-TT và ứng dụng CNTT-TT trong ít nhất trong lĩnh vực chuyên môn của mình, để có thể làm mẫu, hướng dẫn người dưới quyền thực hiện

HT phải là người có trình độ tổ chức và năng lực triển khai ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy thực tiễn trường mình, biết tổ chức học tập và tổng kết kinh nghiệm để nhân ra diện rộng Ngoài ra, uy tín của HT trong tập thể sư phạm có tác dụng như chất xúc tác thúc đẩy sự phát triển ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy của nhà trường

1.5.1.2 Nhận thức, trình độ, kỹ năng CNTT-TT của giáo viên

Nếu GV chưa có nhận thức đúng về việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy thì không thể thực hiện tốt việc này dù nhà QL có tài giỏi đến đâu đi nữa Mặt khác,

để ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy GV còn phải có trình độ tin học nhất định và những kỹ năng CNTT-TT cần thiết Nếu GV có trình độ tin học thấp, có kỹ năng CNTT-TT yếu thì hiệu quả ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy của họ thấp, không đạt được mục tiêu mà nhà QL đề ra Việc xác định những năng lực ứng dụng CNTT-TT cần có ở người GV sẽ giúp HT thấy được thực trạng trình độ CNTT-TT của đội ngũ GV, từ đó có những biện pháp bồi dưỡng GV hợp lý Do đó đây là nhân

tố có ảnh hưởng không ít đến việc QL ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy của GV trong trường

Hiệp hội Quốc tế về công nghệ trong dạy học (International Society for Technology in Education-ISTE) đưa ra kỹ năng CNTT-TT của GV bao gồm những

kỹ năng sau: “khả năng cài đặt và vận hành MVT, khả năng lập kế hoạch và thiết kế

Trang 33

bài dạy dưới sự hỗ trợ của TT một cách hiệu quả, khả năng sử dụng

CNTT-TT để triển khai nhiều hình thức kiểm tra đánh giá hiệu quả, có hiểu biết về các vấn

đề xã hội, đạo đức, pháp luật liên quan đến CNTT-TT” [86]

Ở Việt Nam, TS Đào Thái Lai đề ra các kỹ năng CNTT-TT của GV gồm những nội dung sau:

GV phải có kiến thức cơ bản về tin học, các kỹ năng sử dụng máy tính

và một số thiết bị CNTT thông dụng nhất, kỹ năng sử dụng bộ phần mềm trợ giúp công việc văn phòng, kỹ năng sử dụng Internet, kỹ năng tìm kiếm thông tin trên Internet, gửi và nhận thông tin qua Internet, kỹ năng giao tiếp, hợp tác thông qua Internet, kỹ năng diễn đạt ý tưởng bằng công cụ CNTT-

TT, kỹ năng sử dụng các phần mềm dạy học trong chuyên môn, biết sử dụng các công cụ trợ giúp để tạo ra các sản phẩm phần mềm dạy học cá nhân, biết ứng dụng CNTT-TT khi giao tiếp trong chuyên môn, có khả năng nâng cao trình độ, học từ xa và cuối cùng là khả năng am hiểu hiểu các quy định về đạo đức, luật pháp… trong quá trình ứng dụng CNTT nói chung như sở hữu trí tuệ, luật bản quyền [28]

Như vậy ở Việt Nam, những nghiên cứu về chuẩn GV nói chung, xác định

kỹ năng CNTT-TT của GV nói riêng chưa được tiến hành nhiều nhưng cũng không ngoài những chuẩn mà ISTE đưa ra Khi QL việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy, HT cần nắm được các chuẩn này để đề ra mục tiêu và các yêu cầu sát hợp đối với GV

1.5.1.3 Phẩm chất và năng lực của học sinh

Phẩm chất và năng lực HS có ảnh hưởng quan trọng đến QL việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy Việc xác định phẩm chất và năng lực HS là một công việc phức tạp, vì nó phụ thuộc rất nhiều yếu tố: mặt sinh học, mặt xã hội, thành phần dân

cư, bản sắc văn hóa địa phương Nếu không nắm chắc, nắm rõ yếu tố này thì kế hoạch ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy đề ra của HT sẽ không sát và không đúng với tình hình thực tế Điều này đòi hỏi phải tiến hành điều tra khảo sát khá cẩn thận

Trang 34

để nắm vững đối tượng các lớp từ đầu cấp học, đầu năm học trước khi xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy ở trường

1.5.2 Các nhân tố khách quan

1.5.2.1 Chính sách, chủ trương về ứng dụng CNTT-TT trong giảng dạy:

Nghị quyết của các Đại hội Đảng toàn quốc đã định hướng cho việc ứng dụng CNTT-TT vào quá trình dạy học, các văn bản, chỉ thị của ngành GD-ĐT đã được các cấp QL cụ thể hóa và hướng dẫn thực hiện Đó là môi trường pháp lý thuận lợi cho việc ứng dụng CNTT-TT ở các trường THPT hiện nay

1.5.2.2 Điều kiện thực tế của nhà trường:

Ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy gắn liền với những yêu cầu về thiết bị dạy học, về thư viện, về các phương tiện kỹ thuật hiện đại, về CSVC nói chung Vì vậy, HT phải có kế hoạch xây dựng CSVC, thiết bị dạy học, có biện pháp huy động lực lượng hỗ trợ kinh phí để trang bị đồng bộ, từng bước chuẩn hóa, hiện đại hóa hệ thống CSVC, thiết bị dạy học theo hướng ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy

1.5.2.3 Gia đình, cộng đồng xã hội

HS không thể hưởng lợi ích từ việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy của các thầy cô nếu gia đình không tạo điều kiện, không khuyến khích, hỗ trợ con em mình kịp thời Mặt khác, cộng đồng xã hội gần gũi với HS có thể trở thành tác nhân thúc đẩy hoặc trở thành rào cản HS tiếp cận với phương pháp học tập mới từ sự ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy của thầy cô Bởi vậy tăng cường vai trò của gia đình, của cộng đồng xã hội trong việc tạo điều kiện, hướng dẫn HS ứng dụng CNTT-TT vào việc tự học là hết sức cần thiết

Trong quá trình QL ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy, thì các yếu tố chủ quan được xem là nội lực, còn các yếu tố khách quan được xem là ngoại lực Theo quy luật của sự phát triển, thì ngoại lực dù có quan trọng đến đâu cũng chỉ là nhân

tố hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện, nội lực mới là nhân tố quyết định sự phát triển bản thân sự vật

Trang 35

Chương 2 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC ỨNG DỤNG

CNTT-TT VÀO GIẢNG DẠY Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG 2.1 Khái quát về tình hình giáo dục bậc THPT huyện Cai Lậy tỉnh Tiền

Giang

Cai Lậy là Huyện lớn nhất Tỉnh Tiền Giang diện tích 436 km2, có 27 xã, thị

trấn với 191 ấp, khu phố, nằm trên trục lộ giao thông chiến lược Quốc lộ 1A cách

thành phố Mỹ Tho 30 km về hướng Tây Quốc lộ 1A chia Huyện ra làm hai phần

Bắc lộ và Nam lộ Dân số trung bình 324.246 người, mật độ dân số 743 người/km2,

thuộc vào loại đất hẹp người đông Giá trị sản xuất nông nghiệp, thủy sản chiếm gấp

đôi so với giá trị sản xuất công nghiệp ( nguồn niên giám thống kê huyện Cai Lậy

2006) Điều này cho thấy người dân sống chủ yếu nhờ vào sản xuất nông nghiệp

Thương mại, dịch vụ phần lớn chỉ phát triển ở thị trấn và các trung tâm xã

Thuộc tỉnh Tiền Giang, Cai Lậy được biết đến gắn với địa danh Ấp Bắc nổi

tiếng Đây là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, có truyền thống hiếu học Cả

Huyện có bốn trường THPT hệ công lập và một trường hệ bán công Năm trường

này được sắp xếp tại năm khu vực: trung tâm huyện là trường THPT Đốc Binh

Kiều, phía Bắc là trường THPT Mỹ Phước Tây, phía Nam là trường THPT Lưu Tấn

Phát, phía Tây là trường THPT Phan Việt Thống, phía Đông là trường THPT BC

Tứ Kiệt

Hàng năm, Huyện Cai Lậy có trên dưới 1.500 HS tốt nghiệp THCS và

khoảng 56% số HS này được tuyển vào lớp 10 các trường THPT trên địa bàn

(nguồn chỉ tiêu hướng dẫn kế hoạch phát triển GD-ĐT các năm học 2006-2007,

2007-2008 của Sở GD-ĐT tỉnh Tiền Giang)

Tình hình thiếu GV bậc THPT những năm gần đây được cải thiện một cách

đáng kể Tổng hợp các số liệu thống kê về tình hình đội ngũ GV trong kế hoạch

năm học 2007-2008 của các trường THPT ở huyện Cai Lậy cho thấy số giáo viên

THPT ở tại địa phương chiếm 70,3%, còn lại là từ nơi khác đến

Trang 36

2.1.1 Thuận lợi và thành tựu:

Hệ thống trường THPT cơ bản đáp ứng được đầy đủ nhu cầu học tập bậc THPT của nhân dân địa phương

Từ kết quả thống kê qua các báo cáo tổng kết và phương hướng nhiệm vụ năm học 2006-2007, 2007-2008 của Sở GD-ĐT tỉnh Tiền Giang và các trường THPT trên địa bàn huyện Cai Lậy có thể thấy chất lượng giáo dục các trường THPT của huyện Cai Lậy ổn định và có nhiều mặt phát triển, tỉ lệ HS được xếp loại khá; giỏi về học lực, tốt về hạnh kiểm gần sát với tỉ lệ chung của tỉnh

Bảng 2.1 Thống kê tỉ lệ tốt nghiệp THPT hai năm học 2006-2007 và 2007-2008

Năm học ĐBK LTP MPT PVT TK Huyện Tỉnh

2007-2008 97.14 86.86 82.23 92.39 41.21 79.97 81.45

Bảng 2.1 cho thấy kết quả thi tốt nghiệp cuối cấp học hàng năm tiệm cận với

tỉ lệ chung của tỉnh và độ bất định không lớn Từ năm 2001 đến năm 2006 luôn có

HS giỏi cấp quốc gia HS lớp 12 thi đỗ vào các trường ĐH, CĐ ổn định (nguồn báo cáo tổng kết và phương hướng nhiệm vụ năm học 2006-2007, 2007-2008 của Sở GD-ĐT tỉnh Tiền Giang và các trường THPT trên địa bàn huyện Cai Lậy)

Thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW của Ban Bí thư công tác bồi dưỡng, đào tạo, xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD bậc THPT rất được ngành quan tâm bằng nhiều giải pháp như: đưa đi đào tạo, liên kết đào tạo, bồi dưỡng Đến năm học 2007-2008 tỉ lệ đạt chuẩn của CBQL là 100%, GV là 97,3% (phụ lục 8), trên chuẩn

là 1,8% (bảng 2.5)

Từ năm học 2006-2007 đến nay, thực hiện chỉ đạo của Sở GD-ĐT, việc đổi mới PPGD ngày càng được chú trọng Trước yêu cầu thực hiện tốt chương trình theo sách giáo khoa mới, giảng dạy môn tin học trong nhà trường, việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy được đẩy mạnh và phát triển nhanh trong năm học 2007-

2008

Cơ sở vật chất - trang thiết bị được quan tâm đầu tư theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường và đáp ứng được yêu cầu phục vụ đổi mới chương trình giáo dục phổ

Trang 37

thông Huyện Cai Lậy có trường THPT Đốc Binh Kiều là trường đạt chuẩn quốc gia đầu tiên của tỉnh Tiền Giang Các trường còn lại đều được xây dựng khang trang theo hướng chuẩn quốc gia về mặt CSVC, đáp ứng yêu cầu học tập trong từng khu vực

Tỉ lệ GV trên lớp là 1,8 chưa đạt mức qui định (phụ lục 8)

“HS đa phần thuộc khu vực nông thôn, diện chính sách đông” [24], chưa tiếp xúc nhiều với MVT

“Nguồn kinh phí đầu tư theo hướng chuẩn hóa và hiện đại hóa trường lớp còn hạn hẹp” [63], mới có một trường THPT được công nhận đạt chuẩn quốc gia

“Công tác xã hội hóa giáo dục được quan tâm nhưng chưa thu hút được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng, tham gia” [63]

2.2 Thực trạng về các điều kiện phát triển và ứng dụng CNTT-TT ở các trường THPT ở huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang

2.2.1 Nhận thức về phát triển và ứng dụng CNTT-TT

Bảng 2.2 Thống kê ý kiến của HT, CBQL, GV về mốc thời gian thực hiện việc

ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy

1 Trước năm học 2006-2007 1 20% 13 24.5% 59 22% 22.4%

2 Trong năm học 2006-2007 2 40% 34 64.2% 124 46.3% 49.1%

3 Trong năm học 2007-2008 2 40% 6 11.3% 85 31.7% 28.5%

4 Trước chỉ đạo của Sở GD-ĐT 3 60% 14 26.4% 62 23.1% 24.2%

5 Sau chỉ đạo của Sở GD-ĐT 2 40% 39 73.6% 206 76.9% 75.8%

Trang 38

Qua bảng thống kê 2.2, có 22,4% ý kiến của cả ba đối tượng khảo sát cho rằng mốc thời gian thực hiện việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy là trước năm học 2006-2007, 49,1% cho là thực hiện trong năm học 2006-2007 và 28,5% đồng ý việc thực hiện chỉ mới trong năm học 2007-2008 Điều này cho thấy trước khi Sở GD-ĐT tỉnh Tiền Giang chỉ đạo đã có một số trường, một số GV thực hiện việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy nhưng còn ít (24,2% đồng ý) Năm học 2006-2007 thực hiện thay sách giáo khoa ở lớp 10, sau khi có chỉ đạo của Sở GD-ĐT việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy được đẩy mạnh ở tất cả các trường THPT trong huyện Cai Lậy (75,8% đồng ý) Trong các nguyên do dẫn đến ý kiến về mốc thời gian thực hiện việc ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy ở các trường THPT huyện Cai Lậy không giống nhau của các đối tượng khảo sát có nguyên do thuộc về nhận thức Bên cạnh HT quan tâm đến việc phát triển ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy vẫn còn HT nhận thức chưa thật đầy đủ về lợi ích của CNTT-TT trong giảng dạy, còn dè dặt trong việc đẩy mạnh tiến độ ứng dụng

2.2.2 Về cơ chế, chính sách đảm bảo cho việc phát triển và ứng dụng CNTT-TT

Bảng 2.3 Thống kê số lần bồi dưỡng về CNTT-TT cho GV

Nội dung Năm học ĐBK LTP MPT PVT TK Tổng số

Tuy vậy, vẫn còn nhược điểm là:

-Chưa tham mưu với các cấp lãnh đạo để xây dựng cơ chế cụ thể trong việc đầu tư CSVC, hỗ trợ tài chính cho việc phát triển ứng dụng CNTT-TT và bồi dưỡng, đào tạo nhân lực

Trang 39

-Trong bổ nhiệm, đề bạt CBQL chưa xây dựng được tiêu chuẩn cần trình độ tin học, ngoại ngữ ngoài các tiêu chuẩn truyền thống

-Chưa có cơ chế động viên khen thưởng người làm công tác tin học

Như vậy, việc xây dựng cơ chế để thực hiện phát triển ứng dụng CNTT-TT vào giảng dạy ở các trường THPT huyện Cai Lậy còn gặp khó khăn, chưa có biện pháp đủ mạnh, khả thi

2.2.3 Nhân lực và việc thực thi ứng dụng CNTT-TT

2.2.3.1 Tình hình đội ngũ CBQL

Bảng 2.4 Tình hình CBQL các trường THPT huyện Cai Lậy năm học

2007 – 2008 Thâm niên quản lý (t) Trình độ Trường tượng Đối lượng < 5 5 ≤t<10 10≤t<15 t≥15 Số học trở A tin

lên

A NN trở lên

Qua bảng 2.4 nhận thấy các trường đều có đủ số Phó HT theo loại trường

HT và các Phó HT đều tốt nghiệp ĐHSP và đã qua các lớp bồi dưỡng cán bộ QLGD

Trang 40

Các Tổ trưởng chuyên môn phần lớn là các GV có kinh nghiệm giảng dạy Kết quả bảng 2.4 cho thấy còn hai HT chưa có trình độ A tin học và đây là hai HT

có thâm niên QL trên 15 năm Các Phó HT và các Tổ trưởng chuyên môn đều có trình độ A tin học trở lên Ngoại trừ tổ trưởng có chuyên môn Ngoại ngữ, trình độ ngoại ngữ của các CBQL còn hạn chế (0% có bằng A Ngoại ngữ)

Nhìn chung, CBQL các trường THPT Huyện Cai Lậy đều đạt chuẩn đào tạo,

đa số có trình độ tin học ở mức cơ bản, còn yếu về Ngoại ngữ, thâm niên công tác

QL chưa nhiều Tuy nhiên, theo đánh giá của Sở GD-ĐT đây là lực lượng nòng cốt,

có năng lực QL, nhiệt tình và trách nhiệm trong công tác, luôn phấn đấu khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ, rất tích cực trong việc đổi mới QL và ứng dụng CNTT-TT

2.2.3.2 Tình hình đội ngũ giáo viên

Bảng 2.5 Thống kê tỉ lệ GV trên lớp và trình độ đào tạo của GV các trường

THPT huyện Cai Lậy Năm

học Nội dung Đơn vị ĐBK LTP MPT PVT TK Tổng

Ngày đăng: 02/01/2021, 13:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w