Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý việc cử tuyển học sinh các dân tộc vào các trường ĐH, CĐ và TCCN của nhiều tỉnh, thành nói chung và tỉnh DakLak nói riêng còn khá nhiều
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
LÊ TH Ị KIM OANH
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CAO ĐẲNG VÀ TRUNG CẤP
LU ẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Trang 3M ỤC LỤC
M ỤC LỤC 3
DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 7
L ỜI CẢM ƠN 8
M Ở ĐẦU 9
1 Lý do ch ọn đề tài: 9
2 M ục đích nghiên cứu: 10
3 Đối tượng và khách thể nghiền cứu: 10
3.1 Đối tượng nghiên cứu: 10
3.2 Khách th ể nghiên cứu: 10
4 Nhi ệm vụ nghiên cứu: 11
5 Ph ạm vi nghiên cứu: 11
6 Gi ả thuyết khoa học: 11
7 Phương pháp nghiên cứu: 12
7.1 Nghiên c ứu lý luận: 12
7.2 Nghiên c ứu thực tiễn: 12
7.2.2 X ử lý số liệu: 14
8 Đóng góp mới của luận văn: 15
9 C ấu trúc luận văn: 15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 17
1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề: 17
1.2 M ột số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu: 20
Trang 41.2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về vẩn đề phát triển dân tộc nói
chung và v ề công tác cử tuyển nổi riêng: 20
1.2.2 Qu ản lý 21
1.2.3 Qu ản lý giáo dục 23
1.2.4 Dân t ộc 25
1.2.5 C ử tuyển 26
1.2.6 Qu ản lý cử tuyển 27
1.3 N ội dung của hoạt động quản lý công tác cử tuyển: 27
1.3.1 Qu ản lý việc xây dựng kế hoạch cử tuyển 27
1.3.2 Qu ản lý việc chỉ đạo triển khai công tác cử tuyển 28
1.3.3 Qu ản lý việc triển khai công tác cử tuyển: 28
1.3.4 Qu ản lý việc theo dõi, phối hợp với các trường tiếp nhận học sinh cử tuyển: 30
1.5.5 Qu ản lý công tác bố trí việc làm cho học sinh được cử tuyển sau khi tốt nghiệp 30
1.3.6 Qu ản lý việc kiểm tra công tác cử tuyển 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VIỆC CỬ TUYỂN Ở TỈNH DAKLAK 32
2.1 Th ực trạng công tác quản lý việc cử tuyển 33
2.1.1 Vi ệc xây dựng kế hoạch cử tuyển 33
2.1.2 Vi ệc chỉ đạo triển khai công tác cử tuyển 35
2.1.3 Vi ệc triển khai công tác cử tuyển: 36
2.1.4 Vi ệc theo dõi, phổi hợp với các trường tiếp nhận học sinh cử tuyển: 43
2.1.5 Công tác qu ản lý việc bố trí việc làm cho sinh viên, học sinh diện cử tuyển sau khi t ốt nghiệp ra trường 43
2.1.6 Vi ệc kiểm tra công tác cử tuyển 45
2.1.7 K ết quả thực hiện chính sách cử tuyển ở tỉnh DakLak từ năm 1992 đến nay 46
Trang 52.1.8 Ưu nhược điểm của những thực trạng: 48
2.1.9 Nguyên nhân c ủa những nhược điểm: 51
2.2 So sánh k ết quả của cán bộ với phụ huynh học sinh và học sinh 53
2.2.1 So sánh m ột số công việc về quản lý cử tuyển: 53
2.2.2 So sánh đánh giá về những nhược điểm trong công tác quản lý cử tuyển: 55
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP 59
3.1 Cơ sở đề xuất các giải pháp: 59
3.1.1 Cơ sở lý luận: 59
3.1.2 Cơ sở thực tiễn: 60
3.2 N ội dung các giải pháp: 61
3.3 Tìm hi ểu sự cần thiết của một số giải pháp: 63
K ết luận chương 3: 64
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
1 K ết luận: 66
1.1 Th ực trạng công tác cử tuyển trong những năm qua đã được triển khai ở tỉnh DakLak theo nhi ều mặt thể hiện một cách tương đối rõ rệt 66
1.2 Công tác c ử tuyển còn có những ưu nhược điểm: 67
1.3 Nh ằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc quản lý công tác cử tuyển t ại tỉnh DakLak, tác giả đã nêu ra một số giải pháp thực hiện như sau: 68
2 Ki ến nghị: 69
2.1 Đối với Chính phủ: 69
2.2 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo: 69
2.3 Đối với các trường đào tạo: 70
2.4 Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh: 70
2.5 Đối với các huyện: 71
Trang 6TÀI LI ỆU THAM KHẢO 72
PH Ụ LỤC 75
PHI ẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN 75
PHI ẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN 80
CÁC CÂU H ỎI PHỎNG VẤN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CỬ TUYỂN 83
Trang 8L ỜI CẢM ƠN
V ới tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy, cô giáo tham gia
gi ảng dạy lớp Cao học Quản lý giáo dục khóa 15, của quý thầy cô Phòng Khoá học Công nghệ
Đào tạo DakLak, phòng Giáo dục Chuyên nghiệp - Sở Giáo dục và Đào tạo DakLak, tất cả các cán b ộ của các huyện, phòng Giáo dục, phụ huynh học sinh đã tận tình giúp đỡ, hợp tác, tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Bùi Ngọc Oánh, người đã
h ết lòng giúp đỡ và hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp
Dù đã có nhiều cổ gắng trong quá trình thực hiện, song chắc chắn rằng luận văn này sẽ không th ể tránh khỏi một vài thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy Cô
Trang 9M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài:
Nước ta là một quốc gia đa dân tộc Nếu không có đường lối đúng đắn thì việc lãnh đạo đất nước của Đảng ta rất khó khăn Một trong những đường lối lãnh đạo đất nước của Đảng ta
là quan tâm rất nhiều về những chế độ, chính sách cho người dân tộc
Trong quan điểm của Đảng ta vấn đề dân tộc là một vấn đề có tính chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam và phải tạo ra sự bình đẳng giữa các dân tộc trên năm mặt: kinh tế, chính trị, văn hoa, xã hội và an ninh quốc phòng.[1]
Để thực hiện nguyên tắc bình đẳng ở lĩnh vực giáo dục, Nhà nước ta đưa ra những chủ trương, chính sách nhằm tạo điều kiện phát triển giáo dục cho các dân tộc Một trong những
chủ trương đó là vấn đề cử tuyển học sinh các dân tộc vào các trường ĐH, CĐ và TCCN
Việc tuyển sinh vào ĐH, CĐ và TCCN theo chế độ cử tuyển đối với con em đồng bào các dân tộc ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn để đào tạo cán bộ công chức cho vùng này là một chủ trương, chính sách đúng đắn thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và phù họp với nguyện vọng của đồng bào các dân tộc
Vấn đề cử tuyển học sinh các dân tộc đi học tại các trường ĐH, CĐ và TCCN có một vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo cán bộ nguồn cho các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, nhất là trong tình hình chính trị của các tỉnh Tây Nguyên hiện nay Từ những năm 1990,
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tuyển sinh, mở các lóp riêng hệ cử tuyển tại một số trường ĐH, CĐ
và TCCN nhằm đáp ứng nhu cầu bức thiết về cán bộ là người dân tộc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, đảm
bảo an ninh quốc phòng ở các vùng đồng bào dân tộc và miền núi
Trong thời gian qua, tất cả các tỉnh, thành trong đó có tỉnh DakLak đã thực hiện chính sách cử tuyển học sinh các dân tộc vào các trường ĐH, CĐ và TCCN Cùng với hệ thống các trường dân tộc nội trú trong tỉnh, chủ trương cử tuyển học sinh các dân tộc đi học ĐH, CĐ và TCCN hàng năm đã góp phần nâng cao, cải thiện dân trí, tạo cơ hội học tập công bằng và bước
Trang 10đầu cung ứng nguồn cán bộ cần thiết cho vùng đặc biệt khó khăn, biên giới và các vùng sâu, vùng xa của địa phương Mặt khác, việc thực hiện chính sách cử tuyển học sinh các dân tộc vào các trường ĐH, CĐ và TCCN đã khích lệ tinh thần nỗ lực học tập của học sinh và được sự đồng tình, biết ơn của nhân dân ở vùng khó khăn đối với Đảng và Nhà nước ta
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý việc cử tuyển học sinh các dân tộc vào các trường ĐH, CĐ và TCCN của nhiều tỉnh, thành nói chung và tỉnh DakLak nói riêng còn khá nhiều tồn tại, bất cập cần nghiên cứu và ít nhiều ảnh hưởng đến vấn đề phát triển giáo
dục đào tạo ở vùng đồng bào dân tộc Vì thế, vấn đề đặt ra đối với ngành giáo dục nói chung và
từng địa phương nói riêng là làm sao phải có những giải pháp, chủ trương nâng cao hiệu quả và
chất lượng của việc quản lý công tác cử tuyển này
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc quản lý công tác cử tuyển và vấn đề này từ trước
đến nay chưa có ai nghiên cứu, tìm hiểu Bản thân nghiên cứu "Thực trạng công tác quản lý
vi ệc cử tuyển học sinh các dân tộc tỉnh DakLak đi học tại các trường ĐH, CĐ và TCCN"
với mong muốn góp phần hoàn thiện hơn qui trình xét tuyển, nâng cao chất lượng học sinh đi
học tại các trường ĐH, CĐ, TCCN theo chế độ cử tuyển và từ đó đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng việc quản lý công tác cử tuyển
2 M ục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu thực trạng quản lý việc cử tuyển học sinh các dân tộc tỉnh DakLak đi học tại các trường ĐH, CĐ và TCCN Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác cử tuyển tại tỉnh DakLak
3 Đối tượng và khách thể nghiền cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng công tác quản lý việc cử tuyển học sinh các dân tộc tỉnh DakLak đi học tại các trường ĐH, CĐ và TCCN
Trang 11− Học sinh các dân tộc hiện đang theo học tại trường Trung học phổ thông, trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh
− Phụ huynh của những học sinh thuộc diện cử tuyển
Mẫu được chọn gồm 64 cán bộ phụ trách công tác cử tuyển các cấp và 343 học sinh, phụ huynh học sinh diện cử tuyển hiện đang công tác và sinh sống ở tỉnh DakLak
4 Nhi ệm vụ nghiên cứu:
4.1 Những vấn đề lý luận liên quan đến công tác quản lý việc cử tuyển học sinh các dân
tộc tỉnh DakLak đi học tại các trường ĐH, CĐ và TCCN
4.2 Thực trạng công tác quản lý việc cử tuyển học sinh các dân tộc tỉnh DakLak đi học
− UBND các huyện Krông Păk, Krông Buk, Cư M'Gar, Buôn Đôn
có giải pháp quản lý Nếu có những giải pháp phù hợp sẽ giúp cho công tác quản lý việc thực
hiện chế độ cử tuyển được tốt hơn và chất lượng hơn
Trang 127 Phương pháp nghiên cứu:
7.1 Nghiên cứu lý luận:
Bao gồm việc nghiên cứu các tài liệu lý luận, các công trình nghiên cứu khoá học đã có
diễn ra theo các giai đoạn như phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa những tài liệu
lý luận, văn bản, nghị quyết cũng như những tổng kết kinh nghiệm của các tỉnh bạn đã được đãng tải trên intemet, trên tập san, sách báo, một số báo cáo về các vấn đề liên quan đến đề tài
nhằm thu thập tư liệu, tìm ra các căn cứ làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
7.2 Nghiên c ứu thực tiễn:
Nội dung nghiên cứu:
− Thực trạng quản lý việc xây dựng kế hoạch cử tuyển
− Thực trạng quản lý việc chỉ đạo triển khai công tác cử tuyển
− Thực trạng quản lý việc triển khai công tác cử tuyển
− Thực trạng việc quản lý theo dõi, phối với các trường tiếp nhận học sinh cử tuyển
− Thực trạng quản lý việc bố trí việc làm cho học sinh được cử tuyển sau khi tốt nghiệp
− Thực trạng quản lý việc kiểm tra công tác cử tuyển
− Tìm ra những ưu, khuyết điểm của công tác quản lý cử tuyển tại tỉnh DakLak
− Tìm ra nguyên nhân của những thực trạng và từ đó có những giải pháp khắc phục kịp
thời
Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
− Phương pháp phỏng vấn: Bằng việc soạn thảo hệ thống các câu hỏi về công tác quản lý
cử tuyển, tính hợp lý và khả thi của các giải pháp quản lý để phỏng vấn các cán bộ
quản lý liên quan trực tiếp đến cồng tác cử tuyển (các Phó chủ tịch huyện phụ trách giáo dục, cán bộ Phòng Tổ chức và Lao động xã hội huyện, Trưởng Ban Dân tộc, Giám đốc Sở Nội vụ, Trưởng phòng Giáo dục huyện )
− Phương pháp điều tra bằng các phiếu thăm dò: bằng việc xây dựng hệ thống câu hỏi điều tra theo những nguyên tắc và nội dung chủ định của người nghiên cứu, phương pháp này được sử dụng với mục đích chủ yếu là thu thập những thông tin nhằm minh
chứng thực trạng của việc cử tuyển học sinh các dân tộc tỉnh DakLak đi học tại các
Trang 13trường ĐH, CĐ và TCCN theo chế độ cử tuyển và từ đó thấy được thực trạng công tác
quản lý việc cử tuyển nhằm nâng cao chất lượng việc cử tuyển, cũng như công tác quản
lý việc cử tuyển tại tỉnh DakLak
− Phương pháp quan sát: quan sát các em học sinh, phụ huynh học sinh, các cán bộ phụ trách công tác cử tuyển
− Phương pháp chuyên gia
− Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê: Đây là phương pháp sử dụng một số thuật toán thống kê toán học trong nghiên cứu Phương pháp này được sử dụng với
mục đích xử lý các kết quả điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu, đồng thời đành giá
mức độ tin cậy của phương pháp điều tra
* Các giai đoạn điều tra thực tiễn:
Bước 1: Chuẩn bị phiếu điều tra và câu hỏi phỏng vấn
Căn cứ vào những nội dung cần nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý việc cử tuyển
tại tỉnh DakLak để từ đó xây dựng phiếu điều tra và câu hỏi phỏng vấn tập trung chủ yếu vào các vấn đề quản lý việc xây dựng kế hoạch xét tuyển cử tuyển, tổ chức công tác cử tuyển, chỉ đạo triển khai và tổ chức xét chọn học sinh, theo dõi và phối họp với các trường tiếp nhận học sinh cử tuyển, bố trí việc làm cho học cử tuyển sau khi tốt nghiệp, (câu hỏi chi tiết được trình bày cụ thể ở phần phụ lục)
Cách đánh giá theo các mức độ mang tính ý nghĩa từ tích cực đến không tích cực Những
trả lời mang tính tích cực được cho điểm 1 và tăng dần với các mức tiếp theo (2,3,4 hoặc 5)
Bước 2: Đi phỏng vấn, phát phiếu điều tra và thu thập phiếu điều tra
Do đặc thù riêng của đề tài phải điều tra các em học sinh thuộc diện cử tuyển nên ở bước này chia làm 3 giai đoạn như sau:
Trang 14Do bản thân người nghiên cứu là người trực tiếp phát hành, hướng dẫn làm hồ sơ đăng ký xét tuyển cho các học sinh diện cử tuyển nên việc phát và thu thập phiếu điều tra cho các đối tượng là học sinh diện cử tuyển và phụ huynh học sinh có những thuận lợi đáng kể Nhưng để điều tra được ở các đối tượng này phải từ 15/8/2006 mới có thể thực hiện vì đây là thời điểm
bắt đầu triển khai thực hiện công tác tuyển sinh cử tuyển Khi các phụ huynh học sinh và học sinh đến liên hệ để mua hồ sơ và được hướng dẫn người nghiên cứu phát phiếu điều tra và thu
thập ngay
Giai đoạn 3:
Ở thời điểm sau 5/9/2006 các em học sinh đã nhập học Vì vậy sau khi các trường phổ thông đã ổn định nề nếp, việc điều tra ở các em học sinh diện cử tuyển mới có thể thực hiện thuận lợi
Từ 10/9/2006, người nghiên cứu liên hệ với một số trường phổ thông để nắm thông tin về các em học sinh diện cử tuyển Nhờ sự giúp đỡ của Hiệu trưởng nhà trường và giáo viên chủ nhiệm của những lớp học có học sinh diện cử tuyển việc phát và thu thập phiếu điều tra đã được tiến hành
Bước 3: Phân tích và nhận xét kết quả khảo sát
7.2.2 X ử lý số liệu:
Số liệu thu thập được xử lý chủ yếu bằng bảng tính Excel, áp dụng các phương pháp cơ
bản của thống kê ứng dụng trong nghiên cứu giáo dục [20], [21]
- Cách cho điểm:
Trên thang điếm có các mức độ mang ý nghĩa từ tích cực đến không tích cực Khi xử lý,
những trả lời mang tính tích cực được cho điểm 1 và mức độ tích cực giảm dần với các mức
tiếp theo là 2, 3, 4 cho đến kém tích cực là 5 Do đó, điểm trung bình nào có trị số thấp, thì trả
lời đó mang tính tích cực cao hơn
Tỷ lệ phần trăm của các câu khi cộng lại không đạt 100% vì có một số ý kiến không trả
lời
Các lý thuyết, các khái niệm, các chỉ số và các công thức của thống kê mô tả sau đã được
sử dụng để phản ánh các đặc trưng của khách thể nghiên cứu:
Trang 15- Trung bình c ộng (arithmetic mean) được tính theo công thức:
i
X X n
8 Đóng góp mới của luận văn:
- Về mặt lý luận: Nghị quyết VII của Đảng đã chỉ cho chúng ta thấy rõ rằng vấn đề dân
tộc không đơn giản chỉ là vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa mà nó là một trong toàn bộ chiến lược lãnh đạo của Đảng Chính vì vậy nghiên cứu đề tài này góp phần thực hiện tốt chính sách dân
tộc của Đảng
- Về mặt thực tiễn: sẽ giúp cho những người quản lý công tác cử tuyển khắc phục những sai phạm về vấn đề quản lý công tác cử tuyển hiện nay để nâng cao hiệu quả của công tác cử tuyển tại tỉnh DakLak
9 C ấu trúc luận văn:
Luận văn gồm những phần:
- Ph ần mở đầu: Giới thiệu khái quát về đề tài, mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên
cứu
- Ph ần kết quả nghiên cứu: Gồm 3 chương
∗ Chương 1: Cơ sở lý luận
Trang 16∗ Chương 2: Thực trạng công tác quản lý việc cử tuyến ở tỉnh DakLak
∗ Chương 3: Đề xuất một số giải pháp
- Ph ần kết luận và kiến nghị
- Tài li ệu tham khảo
- Ph ụ lục
Trang 17
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề:
- Nghị quyết 22/NQ-TW ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị ban chấp hành trung ương Đảng khoá VI về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế- xã hội miền núi, trong
đó quy định: "Có chính sách ưu đãi trong tuyển sinh và học bổng và đặc biệt là đối với con em các dân tộc vùng cao Thực hiện nguyên tắc ưu tiên đào tạo cán bộ dân tộc, cán bộ công tác ở
miền núi học xong trở về địa phương phục vụ các đồng bào dân tộc"
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX về công tác dân
tộc, trong đó đã đề ra: "Tiếp tục thực hiện chính sách ưu tiên cử tuyển con em các dân tộc vào
học tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề"
- Quyết định số 72/QĐ-HĐBT ngày 13/3/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính
phủ) về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế-xã hội miền núi, trong đó quy định: "Các trường đại học, trường công nhân kỹ thuật của các ngành Trung ương có kế hoạch
mở các lớp riêng cho học sinh, sinh viên là người dân tộc ít người, nhất là vùng cao để đào tạo cho phù hợp và có hiệu quả cao Chú ý tuyển sinh người dân tộc theo địa chỉ, học xong trở về địa phương phục vụ"
- Luật Giáo dục đã được Quốc hội thông qua ngày 02/12/1998, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/1999, tại điều 78 đã qui định: "Nhà nước thực hiện tuyển sinh vào đại học và trung
học chuyên nghiệp theo chế độ cử tuyển đối với con em các dân tộc ở vùng kinh tế-xã hội đặc
biệt khó khăn để đào tạo cán bộ cho vùng này "
- Chỉ thị số 19-CT/TU ngày 26/7/1999 về việc đào tạo và sử dụng cán bộ dân tộc nhằm
thực hiện chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoa, hiện đại hoa đất nước
- Căn cứ vảo Nghị định số 43/NĐ-CP ngày 30/8/2000 của Chính phủ quy định chi tiết và hưởng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục, ngày 26/2/2001 liên Bộ Giáo dục và Đào
tạo, Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, Ủy ban Dân tộc và Miền núi đã ban hành Thông tư Liên
tịch số 04/200 l/TTLT-BGD&ĐT-UBDTMN về việc hướng dẫn tuyển sinh vào đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp theo chế độ cử tuyển, trong đó quy định rất rõ ràng về kế
Trang 18hoạch và quy trình tuyển chọn, điều kiện được tuyển chọn, thành phần Hội đồng tuyển sinh theo chế độ cử tuyển, chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng, chính sách đối với người học
- Ngày 30/10/2001, Hội đồng dân tộc Quốc hội khóa X đã có báo cáo kết quả giám sát
việc thực hiện chế độ cử tuyển của năm học 2000-2001 và sử dụng sinh viên cử tuyển tốt nghiệp ra trường Trong báo cáo cũng đã nêu được những mặt thực hiện tốt, những tồn tại, nguyên nhân và từ đó đề xuất một số kiến nghị đối với các cấp
- Ngày 18/12/2003, Ủy ban Dân tộc và Bộ Giáo dục - Đào tạo đã tổ chức hội thảo lấy ý
kiến về chính sách cử tuyển vào đại học, cao đẳng hiện hành Các ý kiến tại hội thảo đã góp
phần lý giải vì sao nhu cầu học sinh dân tộc thiểu số cần được đào tạo rất lớn nhưng nhiều năm nay chỉ tiêu cử tuyển vẫn chưa sử dụng hết; vì sao hiệu quả của chính sách cử tuyển chưa cao;
vì sao chất lượng đầu vào của các em được cử tuyển thấp; vì sao vấn đề bố trí việc làm cho học sinh, sinh viên được cử tuyển sau khi tốt nghiệp có nhiều bất cập và từ đó đề xuất các hướng
497-rõ được những thành tựu, tồn tại và kiến nghị với các cấp từ trung ương đến địa phương
- Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh DakLak-Quốc hội khoá XI ngày 26/12/2005 có thông báo
số 101/BC-ĐQH về việc thông báo ý kiến trả lời kiến nghị cử tri tỉnh DakLak của các Bộ ngành trung ương trong đó cử tri DakLak đề nghị một số vấn đề như quan tâm hơn đến việc phát triển giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn;
mở rộng diện được cử tuyển, quan tâm đến chất lượng đầu ra của công tác đào tạo học sinh hệ
cử tuyển
- Điều 90, Luật Giáo dục sửa đổi năm 2005 cũng đã quy định rõ: "Nhà nước thực hiện tuyển sinh vào đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp theo chế độ cử tuyển đối với học
Trang 19sinh các dân tộc ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn để đào tạo cán bộ, công
chức, viên chức cho vùng này
Nhà nước dành riêng chỉ tiêu cử tuyển đối với những dân tộc thiểu số chưa có hoặc có rất
ít cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp; có chính sách tạo nguồn tuyển sinh trên cơ sở
tạo điều kiện thuận lợi để học sinh các dân tộc này vào học trường phổ thông dân tộc nội trú và tăng thời gian học dự bị đại học
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, căn cứ vào nhu cầu của địa phương, có trách nhiệm đề xuất chỉ tiêu cử tuyển, phân bổ chỉ tiêu cử tuyển theo ngành nghề phù họp, cử người đi học cử tuyển theo đúng chỉ tiêu được duyệt và tiêu chuấn quy định, phân công công tác cho người được cử
đi học sau khi tốt nghiệp
Người được cử đi học theo chế độ cử tuyển phải chấp hành sự phân công công tác sau khi
tốt nghiệp
Chính phủ quy định cụ thể tiêu chuẩn và đối tượng được hưởng chế độ cử tuyển, việc tổ
chức thực hiện chế độ cử tuyển, việc bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo đối với người được cử
đi học theo chế độ cử tuyển sau khi tốt nghiệp không chấp hành sự phân công công tác"
- Kỷ yếu Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện chế độ cử tuyển 1990-2005 cũng đã tổng
họp được những mặt làm được, khó khăn, tồn tại, nguyên nhân và đề xuất của các tỉnh có học sinh được cử tuyển về công tác cử tuyển trong 15 năm qua
- Gần đây nhất, ngày 12/11/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 134/2006/NĐ-CP quy định về chế độ cử tuyển vào các cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc
hệ thống giáo dục quốc dân Trong đó quy định về đối tượng, tiêu chuẩn và việc tổ chức thực
hiện chế độ cử tuyển đối với người được cử tuyển vào đại học, cao đẳng, cao đẳng nghề Trong tất cả các Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị, Luật, các buổi hội thảo, hội nghị tổng
kết, báo cáo, thông báo, Nghị định liên quan đến vấn đề dân tộc nói chung và vấn đề tuyển sinh
cử tuyển nói riêng vừa nêu trên đã đưa ra được những thành tựu, những khó khăn tồn tại cần
khắc phục của công tác tuyển sinh cử tuyển nhưng có rất ít và hầu như chưa có thấy tác giả nào nghiên cứu trực tiếp về thực trạng công tác quản lý việc cử tuyển học sinh các dân tộc đi học tại các trường ĐH, CĐ và TCCN Tuy nhiên, những nghị quyết, nghị định, quyết đinh, chỉ thị, báo cáo, hội thảo đó có ý nghĩa rất quan trọng, giúp ích rất nhiều cho luận văn này trong việc
Trang 20nghiên cứu thực trạng công tác quản lý việc cử tuyển học sinh các dân tộc tỉnh DakLak đi học
tại các trường ĐH, CĐ và TCCN
1.2 M ột số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu:
1.2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về vẩn đề phát triển dân tộc nói chung và v ề công tác cử tuyển nổi riêng:
Nghị quyết 22/NQ-TW ngày 27 tháng 11 năm 1989 của Bộ Chính trị ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế-xã hội miền núi
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân
tộc, trong đó đã đề ra: "Tiếp tục thực hiện chính sách ưu tiên cử tuyển con em các dân tộc vào
học tại các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề"
Luật Giáo dục đã được Quốc Hội thông qua ngày 2/12/1998, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/06/1999, tại Điều 78 đã qui định rõ về chế độ cử tuyển
Quyết định số 72/QĐ-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế-xã hội miền núi
Đặc biệt, từ năm 2001, khi có Thông tư Liên tịch số BTCCBCP-UBDTMN, công tác tuyển sinh vào ĐH, CĐ và TCCN theo chế độ cử tuyển được
04/2001/TTLT-BGD&ĐT-tiến hành một cách quy cũ, bài bản và chặt chẽ hơn trước
Tại điều 90 của Luật Giáo dục 2005 cũng đã quy định rõ về chế độ cử tuyển
Và đặc biệt gần đây nhất Chính phủ ta đã ban hành Nghị định số 134/2006/NĐ-CP ngày
14 tháng 11 năm 2006 về quy định chế độ cử tuyển vào các cơ sở giáo dục trình độ ĐH, CĐ, TCCN thuộc hệ thống giáo dục quốc dân Trong đó đã quy định rất rõ về nguyên tác cử tuyển, quyền và nghĩa vụ của người học theo chế độ cử tuyển, đối tượng, tiêu chuẩn, tổ chức tuyển
chọn, tổ chức thực hiện, tổ chức đào tạo, kinh phí đào tạo, tiếp nhận, phân công công tác, bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo và kể cả thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chế độ cử tuyển [16] Thường vụ Tỉnh uỷ Tỉnh DakLak đã ra Chỉ thị số 19-CT7TU ngày 26/07/1999 về việc đào tạo và sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số và Ban Tổ chức Tỉnh ủy đã có công văn về việc bố trí, sắp xếp việc làm cho học sinh dân tộc
Trang 21Quan tâm sâu sắc đến công tác cử tuyển, Ủy ban nhân dân tỉnh DakLak thường xuyên có các văn bản chỉ đạo về quy trình tuyển sinh, đối tượng ưu tiên phù hợp với đặc thù của địa phương, xét duyệt phương án phân bổ chỉ tiêu và quyết định danh sách học sinh được chọn cử
lý, các tác giả thường gắn với các loại hình quản lý cụ thể Vậy quản lý là gì?
Quản lý (từ gốc Hy Lạp - Manus) :bàn tay, nghĩa bóng chỉ sự nắm vững một cái gì đó
Quản lý (Management): sự điều tiết
Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện cùng lúc với con người Nó được biểu hiện trong mối quan hệ giữa người và người Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý tùy theo quan điểm, tùy góc độ nghiên cứu Có thể nêu một số định nghĩa tiêu biểu như sau:
Quan điểm của các tác giả nước ngoài về quản lý:
− Theo lý thuyết thông tin thì "Quản lý là quá trình xử lý thông tin"
− Theo lý thuyết hành vi thì "Quản lý là hoàn thành công việc thông qua con người"
− Theo P.Taylo, người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động, đã nêu: "Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái gì đó thế nào bằng phương pháp
tốt nhất và rẻ nhất" [7,Tr.89]
− Nhà khoa học quản lý Ấn Độ M.Pinto cho rằng "Quản lý là một hoạt động thiết yếu,
nảy sinh khi có một nỗ lực tập thể nhằm thực hiện các mục tiêu chung" [30,Tr.6]
− Theo H.Koontz và O’Dormell trong tác phẩm "Những vấn đề cốt yếu của quản lý" thì nêu "Có lẽ không có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn là công việc
quản lý, bởi vì mọi nhà quản trị ở mọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có một nhiệm vụ
Trang 22cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định" [26,Tr.l9]
− James H.Donnelly, JR-James L.Gibson và John M.Ivancevich trong giáo trình "Quản
trị học căn bản" thì cho rằng "Quản trị là một quá trình do một hay nhiều người thực
hiện, nhằm phối họp các hoạt động của những người khác để đạt được những kết quả
mà một người hoạt động riêng lẽ không thể nào đạt được" [27,Tr.12]
Các Mác đã có một ý tưởng rất sâu sắc về hoạt động quản lý như sau: "Một nghệ sĩ vĩ cầm
thì t ự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng"
Quan điểm của các tác giả trong nước về quản lý
− "Quản lý" là một từ Hán Việt được ghép giữa từ "quản" và từ "lý" "Quản" là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; "lý" là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển Như vậy "quản lý" là trông coi, chăm sóc, sửa sang, làm cho sự vật
− Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của
chủ thể quản lý đến những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực
hiện được những mục tiêu dự kiến" [15]
− PGS.TS Đặng Quốc Bảo cho rằng công tác quản lý lãnh đạo một tổ chức xét cho cùng
là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: quản và lý Quá trình "Quản" gồm
sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái ổn định, quá trình "Lý" gồm việc sửa sang,
sắp xếp, đổi mới đưa vào thế "phát triển' [2]
− GS Đỗ Hoàng Toàn định nghĩa "Quản lý là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường" [19]
Tuy có nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau song có thế nói rằng: quản lý là hệ thống
những tác động có chủ định, phù họp quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng
Trang 23quản lý nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội của đối tượng quản lý
để đạt đến mục tiêu quản lý trong một môi trường luôn biến động
Hoạt động quản lý có thể thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Mô hình về quản lý
Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm người hay một tổ chức Cá nhân làm
chủ thể quản lý được gọi chung là cán bộ quản lý
Đối tượng quản lý cũng có thể là một cá nhân, một nhóm người hay một tổ chức
Công cụ quản lý là các phương tiện mà chủ thể quản lý dùng để tác động đến đối tượng
quản lý như các văn bản luật, quyết định, chỉ thị, kế hoạch
Phương pháp quản lý lả cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý Phương pháp quản lý rất phong phú và tuy theo tình huống cụ thể mà sử dụng các phương pháp khác nhau hoặc kết hợp các phương pháp với nhau
1.2.3 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một loại quản lý xã hội Quản lý giáo dục thực chất là quản lý nhà nước trong giáo dục, đó là sự sử dụng công quyền trong việc quản lý các hoại động thuộc lĩnh
vực giáo dục Theo Luật Giáo dục: "Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân
v ề mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử và
h ệ thống văn bằng Dựa vào khái niệm "quản lý" một số tác giả đã đưa ra khái niệm về quản lý
giáo dục như sau:
Trang 24Học giá nổi tiếng Kônđacốp.M.I định nghĩa quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp
tổ chức, phương pháp, cán bộ, giáo dục, kê hoạch hóa, tài chính, cung tiêu nhằm đảm báo vận hành bình thường cùa các cơ quan trong hệ thống giáo dục, dể tiếp tục phát triển và mở rộng hệ
thống cả về số lượng lần chất lượng" [29]
Khuđôminxky.P.V cho rằng: "Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có
mục đích của chú thể quản lý ở các cấp khác nhau để tất cả các khâu của hệ thống giáo dục
nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thể hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện
và hài hòa của họ", [28]
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã
hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thể hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội, Ngày nay, với sứ
mệnh phái triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người Tuy nhiên, trọng tâm vẫn là giáo dục thế hẹ trẻ cho nên quản lý giáo dục được
hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân [23]
Đặng Quốc Bảo trong bài giảng "những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục" có nêu:
"Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn cho thế hệ mà cho mọi người Cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân" [3]
Phạm Viết Vượng cho rằng: "Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức quá trình quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động,
tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội" [25]
Theo TS.Trần Kiểm trong "Khoa học quản lý giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn" thì khái niệm QLGD được hiểu ở hai cấp độ: cấp độ vĩ mô và cấp độ vi mô
Ở cấp vĩ mô:
- "Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế
hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ
cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục)) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục
Trang 25Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi (emergence) của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động
QLGD là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực)
phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội [13, Tr.36-Tr.37]
Ở cấp vi mô:
"QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế
hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập
thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực
hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục
- QLGD thực chất là những tác động của chủ thể quản lý váo quá trình giáo dục nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường" [13, Tr.37-Tr.38]
- Đỗ Ngọc Đạt trong giáo trình "Tổ chức nghiên cứu trong quản lý giáo dục" có ghi:
"Quản lý giáo dục là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng
quản lý trọng hệ thống giáo dục, sử dụng tốt nhất tiềm năng và điều kiện nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra theo đúng luật định và thông lệ hiện hành" [8, tr 8]
Có nhiều cách diễn đạt khác nhau, song các định nghĩa trên nêu lên bản chất của quản lý giáo dục là hệ thống tác động có chủ định của chủ thể quản lý giáo dục đến đối tượng quản lý trong hệ thống giáo dục nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội để đạt được mục tiêu giáo dục trong một môi trường luôn biến động
Trang 26Một số học thuyết quan trọng bậc nhất lịch sử cho rằng con người được phân thành các nhóm gọi là dân tộc Học thuyết này bản thân đã có tính triết lý và đạo lý Nó là khởi nguồn của
tư tưởng về chủ nghĩa dân tộc Người dân là thành viên của một dân tộc, họ được phân loại dựa vào đặc điểm chung, mà thường là dựa vào đặc điểm chung về nguồn gốc như tổ tiên, dòng
dõi Đặc điểm dân tộc cho biết điểm phân biệt giữa các dân tộc và của cả những người cùng thuộc một dân tộc Có rất nhiều tiêu chuẩn khác nhau ứng với mỗi trường hợp Sự khác biệt
nhỏ trong cách phát âm cũng đủ phân loại con người theo các dân tộc khác nhau [22]
1.2.5 Cử tuyển
Cử tuyển là chế độ tuyển sinh vào trường ĐH, CĐ và TCCN không qua kỳ thi tuyển sinh
nhằm mục đích đào tạo cán bộ, công chức cho các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn [16]
Nguyên tắc cử tuyển là phải đảm bảo đúng mục đích, đối tượng, tiêu chuẩn theo quy định; khách quan, công bằng, công khai, minh bạch; cơ quan cử người đi học theo chế độ cử tuyển có trách nhiệm tiếp nhận, phân công công tác cho người được cử đi học sau khi tốt nghiệp
Đối tượng cử tuyển là công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, thường trú ở vùng có điều
kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn từ 5 năm liên tục trở lên tính đến năm tuyển sinh, ưu tiên xét tuyển cử tuyển đối với các đối tượng là người dân tộc thiểu số Tỷ lệ người dân tộc Kinh được cử tuyển không vượt quá 15% so với tổng chỉ tiêu được giao Riêng đối với những công dân Việt Nam là người dân tộc thiểu số mà dân tộc đó chưa có hoặc có rất ít cán bộ đạt trình độ
ĐH, CĐ, TCCN so với số dân của dân tộc đó trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thường trú ở khu vực III, II (có thể xét cả đối tượng ở cả khu vực I trong trường hợp dân
tộc thiểu số đó có rất ít cán bộ đạt trình độ ĐH, CĐ, TCCN so với số dân của dân tộc đó trong
phạm vi cả nước hoặc việc cử tuyển đối với các đối tượng này ở khu vực III, II không đủ chỉ tiêu được giao) từ 5 năm liên tục trở lên tính đến nắm tuyển sinh cũng thuộc đối tượng cử tuyển
Tiêu chuẩn người được hưởng chế độ cử tuyển gồm: tốt nghiệp trung học phổ thông (hoặc trung cấp) đối với đối tượng được cử tuyển vào ĐH, CĐ và tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông đối với đối tượng được cử tuyển vào TCCN; xếp loại hạnh kiểm năm cuối
cấp (hoặc xếp loại rèn luyện năm cuối khoá) đạt loại khá trở lên; xếp loại học tập năm cuối cấp
Trang 27(hoặc cuối khoá) đạt trung bình trở lên đối với người dân tộc thiểu số và đạt loại khá trở lên đối
với người dân tộc Kinh; đạt các tiêu chuẩn sơ tuyển đối với các ngành, nghề có yêu cầu sơ tuyến; không quá 25 tuổi tính đến năm tuyển sinh, có đủ sức khoẻ theo quy định hiện hành; không thuộc biên chế Nhà nước
1.2.6 Quản lý cử tuyển
Hoạt động cử tuyển thực chất cũng chính là một trong những hoạt động giáo dục Như
vậy trong quản lý giáo dục bao hàm cả quản lý cử tuyển
Quản lý cử tuyển chính là quản lý tất cả các hoạt động liên quan đến công tác cử tuyển
Cụ thể như là quản lý việc xây dựng kế hoạch cử tuyển, quản lý việc chỉ đạo triển khai cử tuyển, quản lý việc triển khai công tác cử tuyển, quản lý việc theo dõi, phối hợp với các trường
tiếp nhận học sinh cử tuyển, quản lý công tác bố trí việc làm cho học sinh được cử tuyến sau khi tốt nghiệp ra trường, quản lý việc kiểm tra công tác cử tuyển
1.3 N ội dung của hoạt động quản lý công tác cử tuyển:
Hoạt động quản lý cử tuyển bao gồm những vấn đề chủ yếu sau:
1.3.1 Qu ản lý việc xây dựng kế hoạch cử tuyển
Kế hoạch hóa là căn cứ vào thực trạng ban đầu của tổ chức và căn cứ vào nhiệm vụ được giao mà vạch ra mục tiêu của tổ chức trong từng thời kỳ, từng giai đoạn để từ đó tìm ra con đường, biện pháp, cách thức đưa tổ chức đạt mục tiêu đã định
Căn cứ định hướng phát triển kinh tế-xã hội, chương trình phát triển giáo dục và quy
hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức của tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh có đối tượng học sinh cử tuyển phải xây dựng kế hoạch về nhu cầu đào tạo cán bộ, công chức theo chế độ cử tuyển về số lượng, trình độ và ngành nghề đào tạo để từ đó đề xuất chỉ tiêu cử tuyển theo ngành nghề, trình độ đào tạo với Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, theo
thẩm quyền, chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Bộ Tài chính, Ủy ban Dân
tộc xét và giao chỉ tiêu cử tuyển cho Ủy ban nhân dân các tỉnh theo đúng quy định
Sau khi được phân bổ chỉ tiêu cử tuyến học sinh đi học tại các trường ĐH, CĐ, TCCN,
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức tuyển chọn; đặt hàng đào tạo theo chế độ cử tuyển với các cơ
Trang 28sở giáo dục và quyết định cử người đi học theo đúng đối tượng, tiêu chuẩn quy định và chỉ tiêu được giao; báo cáo kết quả cử tuyển với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao đông - Thương binh
và Xã hội Hàng năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập Hội đồng tuyển sinh theo ché độ cử tuyển để giúp Ủy ban thực hiện công tác cử tuyển Thành phần Hội đồng tuyển sinh gồm có:
Chủ tịch Hội đồng là Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Phó chủ tịch thường trực Hội đồng là Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo; các thành viên khác gồm đại diện lãnh đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Nội vụ, Ban Dân tộc, Sở Kế hoạch và Đâầutư, Sở Tài chính; Trưởng phòng Giáo dục Chuyên nghiệp của Sở Giáo dục và Đào tạo, Trưởng phòng Quản lý đào tạo nghề của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
1.3.2 Qu ản lý việc chỉ đạo triển khai công tác cử tuyển
Chỉ đạo (lãnh đạo) chính là phương thức tác động của chủ thể quản lý nhằm điều hành tổ
chức - nhân lực đã có của đơn vị vận hành theo đúng kế hoạch Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác, động viên họ hoàn thành nhiệm vụ để đạt mục tiêu của tổ chức
Hàng năm, Bộ Giáo dục và Đào tạo đều có công văn hướng dẫn cụ thể về công tác tuyển sinh theo chế độ cử tuyển Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào các quy định và công văn hướng dẫn đế có hướng chỉ đạo cho Hội đồng tuyển sinh theo chế độ cử tuyển cấp tỉnh triển khai việc tuyển sinh; việc truyền thông về chế độ cử tuyển; việc thực hiện các quy trình xét tuyển; việc thực hiện chính sách đối với người được cử tuyển; việc theo dõi, phối họp với các trường tiếp nhận học sinh, sinh viên diện cử tuyển; việc phân công công tác cho người được cử
đi học sau khi tốt nghiệp; việc bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo đối với người được cử đi học theo chế độ cử tuyển sau khi tốt nghiệp không chấp hành sự phân công công tác
1.3.3 Qu ản lý việc triển khai công tác cử tuyển:
Hàng năm, Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định thành lập Hội đồng tuyển sinh theo chế độ
cử tuyển cấp tỉnh ủy ban nhân dân tỉnh sau khi thành lập Hội đồng tuyển sinh cấp tỉnh, luôn giám sát, theo dõi, quản lý hoạt động của Hội đồng để từ đó có những điều chỉnh, khắc phục
kịp thời nếu Hội đồng có sai sót
Việc xây dựng các tiêu chuẩn xét tuyển đi học tại các trường ĐH, CĐ và TCCN theo chế
độ cử tuyển cũng là một vấn đề cần quan tâm của Hội đồng tuyển sinh Theo Thông tư Liên
tịch số 04/2001/TTLT-BGD&ĐT-BTCCBCP-UBDTMN, tiêu chuẩn xét tuyển đi học được quy
Trang 29định như sau: đối tượng được tuyển sinh đi học tại các trường ĐH, CĐ và TCCN theo chế độ
cử tuyển là học sinh con em các dân tộc đã tốt nghiệp Trung học phổ thông hoặc tương đương không quá 03 năm tính đến năm tuyển sinh, xếp loại hạnh kiểm trong học bạ lóp cuối cấp đạt
loại khá trở lên, về học lực đạt loại khá trở lên đối với học sinh là người Kinh, đạt loại trung bình trở lên đối với học sinh là người dân tộc thiểu số; hiện đang sinh sống và có hộ khẩu thường trú đủ 03 năm trở lên (tính đến ngày 30/9 của năm tuyển sinh) tại vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, cùng xa, biên giới, hải đảo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; tuổi không quá 25 tính đến ngày 30/9 của năm tuyển sinh, có đủ sức khoe để
học tập và lao động theo quy định tại Thông tư liên bộ số 10/TT-LB ngày 13/03/1989
Căn cứ vào quy định về tiêu chuẩn xét tuyển nêu trên, Hội đồng tuyển sinh theo chế độ cử tuyển cấp tỉnh xây dựng tiêu chuẩn xét tuyển ở tỉnh mình sao cho phù hợp với tình hình, đặc thù của địa phương
Hội đồng tuyển sinh theo chế độ cử tuyển mà trực tiếp là Sở Giáo dục và Đào tạo thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng địa phương chỉ tiêu cử tuyển; tổ chức hướng dẫn cho học sinh diện cử tuyển làm hồ sơ Sau đó xem xét thu nhận hồ sơ tuyển sinh của
học sinh
Học sinh được cử đi học tại các trường ĐH, CĐ và TCCN được hưởng chính sách ưu tiên như: được hưởng học bổng theo Quyết định số 1121/1997/QĐ-TTg ngày 23/12/1997 của Thủ tưởng Chính phủ; được miễn phí sách giáo khoá, giáo trình thuộc chương trình học; được mi tiên bố trí ở trong ký túc xá sinh viên; được hưởng chế độ ưu tiên trong qua trình đào tạo theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Ngược lại, người học theo chế độ cử tuyển sau khi tốt nghiệp, có nghĩa vụ chấp hành sự điều động và bố trí công tác của Ủy ban nhân dân tỉnh nơi cử
đi học Thời gian làm việc tối thiểu theo sự điều động của Ủy ban nhân dân tỉnh do ưỷ ban nhân dân tỉnh quy định nhưng không được ít hơn hai lần thời gian được đào tạo Nếu không
chấp hành đúng sự điều động và bố trí công tác của Ủy ban nhân dân tỉnh, hoặc không làm việc
đủ thời gian tối thiểu theo sự điều động của Ủy ban nhân dân tỉnh, người được đào tạo theo chế
độ cử tuyển phải bồi hoàn học bổng và kinh phí đào tạo Như vậy việc quản lý việc thực hiện
chế độ chính sách đối với học sinh diện cử tuyển chính là quản lý việc thực hiện chính sách ưu tiên đối với người học theo chế độ cử tuyển và quản lý việc thực hiện nghĩa vụ sau khi tốt
Trang 30nghiệp của người học theo chế độ cử tuyển nhằm tránh thất thoát nguồn kinh phí đầu tư cho
việc đào tạo cán bộ nguồn tại các địa phương
Quản lý việc tổ chức cử tuyển chính là quản lý hoạt động của Hội đồng tuyển sinh theo
chế độ cử tuyển; quản lý việc xây dựng các tiêu chuẩn xét tuyển theo chế độ cử tuyển; quản lý
việc hướng dẫn, thu nhận hồ sơ của học sinh diện cử tuyển và quản lý việc thực hiện chính sách đối với học sinh được cử tuyển
1.3.4 Qu ản lý việc theo dõi, phối hợp với các trường tiếp nhận học sinh cử tuyển:
Người được cử tuyển để đào tạo trình độ ĐH, CĐ phải học một năm dự bị Việc tổ chức đào tạo và xét tuyển vào học chính thức tại các cơ sở giáo dục được thực hiện theo quy định
của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Sau khi kết thúc một năm dự bị, nếu người học không đủ điều kiện tuyển vào học chính
thức tại các cơ sở giáo dục thì được lưu ban không quá một năm Trong năm học lưu ban, người học được hưởng các quyền và thực hiện nghĩa vụ như năm thứ nhất
Khi học chính thức tại các cơ sở giáo dục, người học theo chế độ cử tuyển được đào tạo trong hệ thống giáo dục chính quy và bố trí học chung với các người học khác của cơ sở giáo
dục theo ngành đào tạo đã được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đặt hàng với các cơ sở giáo dục Hàng năm, Hội đồng tuyển sinh phải phối hợp với các cơ sở giáo dục có đào tạo học sinh, sinh viên diện cử tuyển để theo dõi về quá trình học tập của học sinh, sinh viên đó trong suốt
thời gian đào tạo tại trường
Uy ban nhân dân tỉnh bằng việc yêu cầu Hội đồng tuyển sinh theo chế độ cử tuyển thường xuyên báo cáo về tình hình học tập của học sinh, sinh viên được đi học theo chế độ cử tuyển có
thể quản lý được việc theo dõi, phối họp giữa tỉnh mình với các trường ĐH, CĐ, TCCN tiếp
nhận học sinh, sinh viên đi học theo chế độ cử tuyển về quá trình đào tạo ở các trường đó
1.5.5 Quản lý công tác bố trí việc làm cho học sinh được cử tuyển sau khi tốt nghiệp
Hàng năm, các trường ĐH, CĐ, TCCN có học sinh, sinh viên đi học theo chế độ cử tuyển
gửi danh sách, bàn giao hồ sơ và bằng tốt nghiệp của người theo học theo ché độ cử tuyển tốt nghiệp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Trang 31Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức tiếp nhận và phân công công tác cho học sinh, sinh được cử đi học theo ché độ cử tuyển sau khi tốt nghiệp
Thời gian học sinh, sinh viên được cử đi học theo chế độ cử tuyển chờ phân công công tác sau khi tốt nghiệp tối đa là 6 tháng, kể từ ngày được công nhận tốt nghiệp Quá thời hạn 6 tháng không nhận được sự phân công theo quy định thì học sinh, sinh viên đi học theo chế độ
cử tuyển có quyền tự đi tìm việc làm và không phải bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo
1.3.6 Qu ản lý việc kiểm tra công tác cử tuyển
Kiểm tra là hoạt động của chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý thông qua một
cá nhân, nhóm hay tổ chức để xem xét thực tế, đánh giá, giám sát thành quả hoạt động, đồng
thời tiến hành uốn nắn, sữa chữa, xử lý nếu có sai sót Đây chính là quá trình tự điều chỉnh của
hoạt động quản lý
Ủy ban nhân dân tỉnh khi ra quyết định thành lập Hội đồng tuyển sinh theo chế độ cử tuyển phải có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng để căn cứ từ đó thường xuyên kiểm tra các
hoạt động của việc thực hiện chế độ cử tuyển như kiểm tra việc tuyển sinh; việc truyền thông
về chế độ cử tuyển; việc thực hiện các quy trình xét tuyến; việc thực hiện chính sách đối với người được cử tuyển; việc theo dõi, phối hợp với các trường tiếp nhận học sinh, sinh viên diện
cử tuyển; việc phân công công tác cho người được cử đi học sau khi tốt nghiệp; việc bồi hoàn
học bổng, chi phí đào tạo đối với người được cử đi học theo chế độ cử tuyển sau khi tốt nghiệp không chấp hành sự phân công công tác
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ
sở giáo dục kiểm tra việc thực hiện chế độ cử tuyển theo thẩm quyền
Trang 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VIỆC CỬ
DakLak là một tỉnh miền núi có địa hình phức tạp, có vị trí chiến lược về kinh tế - chính
trị, quốc phòng an ninh của khu vực Tây Nguyên; với tổng diện tích 1.308.512 ha, 73km đường biên giới với Cambodia Toàn tỉnh có 12 huyện và Thành phố Buôn Ma Thuật, với 175 xã, phường, thị trấn (trong đó có 4 xã biên giới); 2199 thôn, buôn, tổ dân phố, trong đó có 1431 thôn, 522 buôn, 246 tổ dân phố Dân số toàn tỉnh trên 1,7 triệu người, với 44 dân tộc anh em cùng sinh sống; trong đó đồng bào dân tộc thiểu số nói chung chiếm khoảng 30% và đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ chiếm khoảng 19,31%
B ảng 2.1 Tình hình học sinh trung học phổ thông tỉnh DakLak
Ghi chú: T ừ năm học 2004 — 2005 theo sô liệu đã tách tỉnh DakLak và DakNông
(Nguồn phòng Kế hoạch - Tài chính, Sở Giáo dục và Đào tạo DakLak)
Tính đến năm học 2006 - 2007, tổng số học sinh Trung học phổ thông là 82.509 học sinh, trong đó có: 16.422 học sinh dân tộc thiểu số (chiếm tỷ lệ 19,903%) So với năm học 2005 -
2006, số lượng học sinh là người dân tộc thiểu số tăng 2.543 học sinh Nhìn chung những năm
gần đây số học sinh là người dân tộc thiểu số đi học đến bậc trung học phổ thông đã gia tăng đáng kể Tuy nhiên, cơ hội để các em học sinh này sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông có
thể đi học ở các bậc học cao hơn là rất khó
Theo thống kê của Ủy ban Dân tộc và Bộ Giáo dục - Đào tạo thì hiện nay số cán bộ có trình độ ĐH, CĐ trở lên ở vùng dân tộc miền núi thấp hon các khu vực khác Ở vùng núi phía
Bắc, tỷ lệ này là 12,3%; Bắc Trung bộ: 9,2%; Duyên hải miền Trung: 9,5%; Tây Nguyên: 2,1% và Đồng bằng Sông Cửu Long: 11,7% Trình độ học vấn của đội ngũ cán bộ là người dân
tộc thiểu số còn thấp hơn nhiều so với trình độ chung và nhất là so với cán bộ dân tộc Kinh Đến nay còn có 10 dân tộc chưa có cán bộ có trình độ ĐH; 5 dân tộc chưa có trình độ TCCN và
40 dân tộc chưa có cán bộ có trình độ trên ĐH (Nguồn Vietnamnet)
Trang 33Tỉnh DakLak là một trong những tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên có rất nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhưng số cán bộ là người dân tộc thiểu số có trình độ ĐH, CĐ rất
hiếm Với trình độ dân trí thấp đã nảy sinh ra nhiều vấn đề ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã
hội, chính trị của tỉnh như kinh tế chậm phát triển, một số phần tử xấu lợi dụng để kích động
và các vùng, quan tâm đến từng vùng và từng dân tộc tiến tới sự bình đẳng thực sự trên bình
diện kinh tế-chính trị, xã hội, văn hoá như Nghị quyết đại hội IX đã nêu
2.1 Th ực trạng công tác quản lý việc cử tuyển
2.1.1 Việc xây dựng kế hoạch cử tuyển
2.1.1.1 M ức độ thực hiện việc xây dựng kế hoạch cử tuyển
Kết quả nghiên cứu về mức độ thực hiện việc xây dựng kế hoạch cử tuyển được trình bày trong bảng 2.2 sau đây
Bảng 2.2 Mức độ thực hiện việc xây dựng kế hoạch cử tuyển
Nội dung
Mức độ thực hiện (Tỷ lệ)
X ĐLTC Không trả lời
Rất tốt Tốt Chưa tốt Xây dựng kế hoạch cử tuyển 31.3 60.9 7.8 1.77 0.584
Tô chức thực hiện kế hoạch 28.1 51.6 18.8 1.90 0.689 1
Phân bố chỉ tiêu cử tuyển 34.4 43.8 21.9 1.88 0.745
Chỉ đạo thực hiện chỉ tiêu 32.8 46.9 20.3 1.88 0.724
Phổ biến kế hoạch cử tuyển cho
Phổ biến chỉ tiêu cử tuyển 40.6 54.7 4.7 1.64 0.574
Trang 34Nhận xét bảng 2.2:
- Việc xây dựng kế hoạch cử tuyển: có đến 92,2% ý kiến cho rằng việc xây dựng kế hoạch
cử tuyển là rất tốt và tốt Chỉ có 7,8% ý kiến cho rằng việc xây dựng kế hoạch cử tuyển là chưa
tốt Điều này cho thấy từ trước đến nay việc xây dựng kế hoạch cử tuyển đảm bảo tốt Việc xây
dựng kế hoạch cử tuyển cũng được đánh giá cao hơn trung bình Độ lệch: 0,584 cho thấy ý kiến
trả lời rất tập trung
- Việc tổ chức thực hiện kế hoạch cử tuyển: có 79,7% ý kiến cho rằng việc tổ chức thực
hiện kế hoạch cử tuyển là rất tốt, tốt và 18,8% cho rằng việc tổ chức thực hiện kế hoạch cử tuyển là chưa tốt cho thấy việc tổ chức thực hiện kế hoạch cử tuyển đảm bảo tương đối tốt Độ
lệch: 0,689 cho thấy ý kiến trả lời tập trung
- Những nội dung của kế hoạch như phân bổ chỉ tiêu cử tuyển, chỉ đạo thực hiện chỉ tiêu,
phổ biến chỉ tiêu cử tuyển có tỷ lệ đánh giá cho thấy thực hiện rất tốt và tốt cũng cao Tuy nhiên, có tới 29,7% ý kiến cho rằng việc phổ biến kế hoạch cho người dân còn nhiều nhược điểm; 21,9% ý kiến cho rằng việc phân bổ chỉ tiêu cử tuyến còn chưa tốt và 20,3% ý kiến cho
rằng việc chỉ đạo thực hiện chỉ tiêu cử tuyển cũng chưa tốt Đây là những nhược điểm mà ta
cần phải rút kinh nghiệm
2.1.1.2 M ức độ phù hợp việc xây dựng kế hoạch cử tuyển
Kết quả nghiên cứu mức độ phù hợp việc xây dựng kế hoạch cử tuyển được trình bày trong bảng 2.3 sau đây:
B ảng 2.3 Mức độ phù hợp của việc xây dựng kế hoạch cử tuyển
Nội dung Rất phù Mức độ phù hợp (Tỷ lệ ) X ĐLTC Không trả lời
hợp Phù hợp Không phù hợp Xây dựng kê hoạch cử tuyển 31.3 54.7 6.3 1.73 0.582 5
Tổ chức thực hiện kế hoạch cử
Phân bố chỉ tiêu cử tuyển 35.9 38.2 23.4 1.86 0.798 5
Chỉ đạo thực hiện chỉ tiêu cử
Phổ biến kế hoạch cử tuyển
Phổ biến chỉ tiêu cử tuyển 37.5 46.9 7.8 1.68 0.628 5
Trang 35cử tuyển khá tập trung
Vì vậy, đây là những nhược điểm trong công tác quản lý cử tuyển mà ta cần có hướng
khắc phục trong thời gian tới
2.1.1.3 Tính công b ằng trong công tác cử tuyển
Kết quả nghiên cứu về tính công bằng trong công tác cử tuyển được trình bày trong bảng 2.4 sau đây:
B ảng 2.4 Tính công bằng trong công tác cử tuyển
Đảm bảo rất công bằng 14.6
Không đảm bảo công bằng 51.2
Không đảm bảo công bằng 33.6
Nhận xét bảng 2.4:
Chỉ có 14,6% ý kiến cho rằng đảm bảo rất công bằng trong việc cử tuyển trong khi đó có
tới 33,6% ý kiến cho rằng không đảm bảo công bằng Và tính công bằng trong công tác cử tuyển bị đánh giá là thấp hơn trung bình Đây cũng lả một nhược điểm cần phải khắc phục trong công tác cử tuyển
Qua phỏng vấn, quan sát và tiếp xúc trực tiếp với các cán bộ phụ trách công tác cử tuyển,
học sinh diện cử tuyển và phụ huynh học sinh kết quả cũng phù hợp như kết quả nghiên cứu trên
2.1.2 Việc chỉ đạo triển khai công tác cử tuyển
Kết quả nghiên cứu về mức độ thực hiện việc triển khai công tác cử tuyển được trình bày
ở bảng 2.5 sau đây:
Trang 36Bảng 2.5 Mức độ thực hiện việc chỉ đạo triển khai công tác cử tuyển
tuyển của Hội đồng tuyển sinh theo chế
độ cử tuyển cấp tỉnh 45.3 48.4 6.3 1.61 0.607
Tổ chức xét chọn của Hội đồng tuyển
sinh cử tuyển cấp huyện 25.0 54.7 18.8 1.94 0.669
Tổ chức xét chọn của Hội đồng tuyển
Nhận xét bảng 2.5:
- Chỉ có 6,3% ý kiến cho rằng việc chỉ đạo triển khai thực hiện chế độ cử tuyển của Hội đồng tuyển sinh cử tuyển cấp tỉnh là không tốt cho thấy công tác chỉ đạo triển khai việc thực
hiện chế độ cử tuyển của Hội đồng tuyển sinh cử tuyển cấp tỉnh là khá tốt
- Việc tổ chức xét chọn của Hội đồng tuyển sinh cử tuyển cấp huyện: có 79,7% ý kiến cho
rằng việc tổ chức thực hiện chế độ cử tuyển ở huyện là rất tốt và tốt, nhưng số ý kiến cho rằng
việc tổ chức thực hiện chế độ cử tuyển là chưa tốt cũng khá cao gần 19% Các ý kiến đánh giá
việc tổ chức xét chọn của Hội đồng tuyển sinh cử tuyển cấp huyện chỉ nhỉnh hơn trung bình rất
ít Các ý kiến đánh giá khá tập trung
- Việc tổ chức thực hiện chế độ cử tuyển của Hội đồng tuyển sinh cấp tỉnh được đánh giá
rất cao, có tới 98,5% ý kiến cho rằng công việc này được thực hiện rất tốt và tốt
2.1.3 Vi ệc triển khai công tác cử tuyển:
2.1.3.1 Đánh giá việc triển khai công tác cử tuyển:
Kết quả đánh giá việc triển khai công tác cử tuyển được trình bày trong bảng 2.6 sau đây:
Trang 37B ảng 2.6 Đánh giá việc triển khai công tác cử tuyển
Nội dung RMức độ đánh giá (Tỷ lệ) ất tốt Tốt Không tốt X ĐLTC Không trả lời Hoạt động của Hội đồng tuyển
sinh cử tuyển 34.4 62.5 3.1 1.69 0.531
Thời gian triển khai thực hiện chế
độ cử tuyển của Hội đồng tuyển
sinh cử tuyển 10.8 35.4 51.5 2.42 0.683 8
Tuyên truyền đến người dân của
Hội đồng tuyển sinh cử tuyển 14.3 46.2 37.4 2.24 0.689 7
Các tiêu chuẩn xét tuyển cử tuyển 39.1 53.1 4.7 1.72 0.701 l i
Tổ chức thu nhận hồ sơ cử tuyển 32.8 62.5 4.7 1.72 0.548
Các chính sách hỗ trợ cho học
sinh được cử tuyển 26.6 42.2 26.6 2.03 0.789 16
Nhận xét bảng 2.6:
- Chỉ có 3,1% ý kiến đánh giá cho rằng Hội đồng tuyển sinh cử tuyển hoạt động không
hiệu quả cho thấy rằng từ trước đến nay Hội đồng tuyển sinh cử tuyển của tỉnh hoạt động rất tốt
và đáp ứng được yêu cầu của người dân Độ lêch tiều chuẩn là 0,530 cho thấy ý kiến trả lời rất
tập trung
- Có tới 37,4% ý kiến cho rằng việc tuyên truyền đến người dân của Hội đồng tuyển sinh
cử tuyển là không tốt và chỉ có 60,5% ý kiến cho rằng việc tuyên truyền về cử tuyển là rất tốt
và tốt; đồng thời các ý kiến đánh giá việc tuyên truyền thấp hơn trung bình cho thấy việc tuyên truyền đến người dân về chế độ cử tuyển của Hội đồng tuyển sinh cử tuyển chưa thực hiện tốt
và cần phải có những hướng thực hiện tốt hơn nhiều cho những năm tiếp theo
- Thời gian triển khai thực hiện chế độ cử tuyển của Hội đồng tuyển sinh cử tuyển cũng là
một vấn đề cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp Có tới 51,5% ý kiến đánh giá (một tỉ lệ
phần trăm khá cao) cho rằng thời gian triển khai thực hiện chế độ cử tuyển chưa tốt Và thời gian triển khai thực hiện chế độ cử tuyển bị đánh giá thấp hơn trung bình khá nhiều, về nguyên nhân của vấn đề này có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan nhưng dù thế nào thì Hội đồng tuyển sinh cử tuyển cũng phải có sự lưu tâm để điều chỉnh cho hợp lý thời gian hon
- Chỉ có 4,7% ý kiến đánh giá của cán bộ cho rằng các tiêu chuẩn xét tuyển cử tuyển và
ệc tổ chức thu nhận hồ sơ là không phù hợp; có tới 92,2% ý kiến đánh giá của cán bộ cho
Trang 38rằng các tiêu chuẩn xét tuyển cử tuyển là rất phù hợp và phù họp và 85,3% ý kiến đánh giá của cán bộ cho rằng việc tổ chức thu nhận hồ sơ cử tuyển là rất phù hợp và phù hợp cho thấy các tiêu chuẩn xét tuyển cử tuyển và việc tổ chức thu nhận hồ sơ là rất phù hợp
- Tuy nhiên, tỷ lệ % ý kiến đánh giá các chính sách hỗ trợ cho học sinh được cử tuyến là không phù họp khá cao tới 26,6% cho thấy rằng việc đưa ra các chính sách hỗ trợ cho học sinh được cử tuyển còn phải nghiên cứu và bổ sung kịp thời nhằm tạo điều kiện cho các em có thể tham gia học tập tốt Điều này rất có ý nghĩa đối với các em có điều kiện kinh tế gia đình quá khó khăn Đây cũng là một nhược điểm cần được các cấp quan tâm hơn
2.1.3.2 Tính h ợp lý trong triển khai cử tuyển:
Kết quả nghiên cứu về tính hợp lý trong triển khai công tác cử tuyển được trình bày ở
Kết quả nghiên cứu về đánh giá của phụ huynh học sinh và học sinh đối với các công tác
thực hiện cử tuyển được trình bày trong bảng 2.8 sau đây:
Trang 39B ảng 2.8 Đánh giá của phụ huynh học sinh và học sinh về các công tác thực hiện cử
Phù hợp phù hKhông ợp Ý kiến khác Các tiêu chuẩn xét
mở rộng thêm vùng tuyển, ưu tiên cho các dân tộc thiểu số chưa có cán bộ ở trình độ ĐH, CĐ Đây là một nhược điểm mà ta cần phải có sự bổ sung để có thể xét chọn những đối tượng
đi học phù hợp với tình hình địa phưong
- Việc tổ chức thu nhận hồ sơ cử tuyển: chỉ có 16,1% ý kiến đánh giá của phụ huynh học sinh và học sinh cho rằng việc tổ chức thu nhận hồ sơ cử tuyển là rất phù họp trong khi đó có 12,6% ý kiến đánh giá của phụ huynh học sinh và học sinh cho rằng việc tổ chức thu nhận hồ
sơ cử tuyển là không phù họp Tuy tỷ lệ ý kiến đánh của phụ huynh học sinh và học sinh về
việc tổ chức thu nhận hồ sơ cử tuyển là họp lý đạt 60,8% nhưng với tỷ lệ phần % đánh giá là không phù hợp như vừa nêu trên cũng cho ta thấy đây là một nhược điểm cần khắc phục
- Cũng như ý kiến đánh giá của cán bộ về các chính sách hỗ trợ cho học sinh được cử tuyển, phụ huynh học sinh và học sinh cho rằng các chính sách này không phù họp là rất cao
tới 30,7% Như vậy, ta thấy rõ ràng rằng chính sách hỗ trợ cho học sinh được cử tuyển cần phải
có sự điều chỉnh cho phù hợp hơn
Trang 402.1.3.4 Đánh giá tính tích cực của việc tuyên truyền chế độ cử tuyển:
Kết quả nghiên cứu đánh giá tính tích cực của việc tuyên truyền về chế độ cử tuyển được trình bày trong bảng 2.9 dưới đây:
B ảng 2.9 Đánh giá tính tích cực của việc tuyên truyền về chế độ cử tuyến
cử tuyển chưa thực sự tích cực Đây cũng là một nhược điểm mà ta cần phải khắc phục
2.1 3.5 Đánh giá việc hướng dẫn, hướng nghiệp về chế độ cử tuyển:
Kết quả đánh giá mức độ của việc hướng dẫn, hướng nghiệp về chế độ cử tuyển cho học sinh được trình bày trong bảng 2.10 dưới đây:
B ảng 2.10 Việc hướng dẫn, hướng nghiệp về chế độ cử tuyển
Rất thường xuyên 8.8 Thường xuyên 26.6
Nhận xét bảng 2.10:
Chỉ có 8,8% ý kiến đánh giá cho rằng rất thường xuyên được hướng dẫn, hướng nghiệp
về chế độ cử tuyển; 26,6% ý kiến đánh giá cho rằng việc được hướng dẫn, hướng nghiệp về chế
độ cử tuyển ở mức thường xuyên; 17,0% ý kiến đánh giá cho rằng chỉ thỉnh thoảng mới được hướng dẫn, hướng nghiệp về chế độ cử tuyển và với tỷ lệ 15,2% ý kiến đánh giá cho rằng không khi nào được hướng dẫn, hướng nghiệp về chế độ cử tuyển cho thấy công tác hướng