Ở trường ngoài công lập, do CMHS đóng học phí cao cho con em để có thể tham gia môi trường học tập, chính vì vậy, sự kì vọng và mong đợi ở nhà trường càng cao, sự phó thác càng lớn, đến
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Tăng Thị Tuyết Trinh
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP
GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
NGOÀI CÔNG LẬP TẠI QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Tăng Thị Tuyết Trinh
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP
GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NGOÀI CÔNG LẬP TẠI QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Quản lí giáo dục
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN THỊ HƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học nghiên cứu của tôi, các nội
dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài “Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà
trường và gia đình ở các trường trung học cơ sở ngoài công lập tại Quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh” là trung thực và chưa từng công bố trong bất cứ công
trình nghiên cứu nào trước đây
Nếu phát hiện bất kì sự gian dối nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn Thạc sĩ, cũng như kết quả luận văn của mình
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Tăng Thị Tuyết Trinh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều tổ chức và cá nhân
Tôi xin trân trọng cảm ơn:
- Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Sau đại học
Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu khoa học
- PGS.TS Trần Thị Hương, Khoa Khoa học Giáo dục trường Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
- Quý Thầy, Cô đã giảng dạy và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học
tập tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
- Sở Giáo dục & Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh, cán bộ quản lí và
giáo viên 3 trường Trung học Phổ thông - Trung học cơ sở là THPT - THCS Sao Việt, THPT – THCS Đức Trí và THPT – THCS Canada, thuộc địa bàn Quận 7 Đã cung cấp tài liệu và có những ý kiến quý báu để tôi thực hiện luận văn này
- Bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã góp ý và tạo điều kiện tốt nhất để
tôi hoàn thành luận văn
Dù đã rất cố gắng, song luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót Kính mong quý Thầy, Cô và Hội đồng chấm luận văn góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Tăng Thị Tuyết Trinh
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề phối hợp nhà trường và gia đình 7
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động phối hợp nhà trường và gia đình 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản 8
1.2.1 Quản lý 8
1.2.2 Quản lý giáo dục 9
1.2.3 Quản lý nhà trường 11
1.2.4 Quản lý hoạt động phối hợp nhà trường - gia đình 12
1.3 Hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở trường trung học cơ sở 14
1.3.1 Vai trò của giáo dục nhà trường và giáo dục gia trong công tác giáo dục học sinh THCS ngoài công lập 14
1.3.2 Ý nghĩa của hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục học sinh 18
1.3.3 Mục tiêu của hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục học sinh 18
1.3.4 Nội dung của hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình 19
1.3.5 Phương pháp phối hợp giữa nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục học sinh 19
1.3.6 Đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục học sinh 21
1.4 Quản lý hoạt động phối hợp nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học sinh ở trường THCS ngoài công lập 21
Trang 61.4.1 Chức năng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình 21
1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động phối hợp nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học sinh ở trường THCS ngoài công lập 25
Tiểu kết chương 1 27
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG - GIA ĐÌNH Ở CÁC TRƯỜNG THCS NGOÀI CÔNG LẬP, QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 28
2.1 Khái quát về giáo dục THCS Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh 28
2.1.1 Quy mô 28
2.1.2 Chất lượng giáo dục 28
2.1.3 Chất lượng đội ngũ CBQL – GV 29
2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 31
2.2.1 Mẫu khảo sát 31
2.2.2 Cách thức khảo sát thực trạng 31
2.2.3 Cách thức xử lý số liệu 31
2.3 Thực trạng hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục học sinh 32
2.3.1 Nhận thức về vai trò của hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục học sinh 32
2.3.2 Thực trạng thực hiện nội dung phối hợp giữa nhà trường và gia đình 35
2.3.3 Thực trạng thực hiện các phương pháp phối hợp giữa nhà trường - gia 43
2.4 Thực trạng quản lý sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường THCS ngoài công lập tại Quận 7, Tp HCM 52
2.4.1 Xây dựng kế hoạch, chương trình phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh 52
2.4.2 Tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình 56
2.4.3 Kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình 59
2.5 Đánh giá chung và nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình 62
2.5.1 Đánh giá chung 62
2.5.2 Nguyên nhân của thực trạng 64
Trang 7Tiểu kết chương 2 70
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NGOÀI CÔNG LẬP 71
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 71
3.1.1 Nguyên tắc tính kế thừa 71
3.1.2 Nguyên tắc tính thực tiễn 71
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 72
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 72
3.2 Hệ thống biện pháp quản lý sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường THCS ngoài công lập, Quân 7, Thành phố Hồ Chí Minh 72
3.2.1 Nâng cao nhận thức của cán bộ, giáo viên và CMHS về hoạt động phối hợp nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục học sinh 72
3.2.2 Xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm cho hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 75
3.2.3 Xây dựng kế hoạch, tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 77
3.2.4 Kiểm tra, đánh giá sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình trong việc giáo dục học sinh 79
3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 82
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC
Trang 8
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Viết đầy đủ
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Mẫu khảo sát thực trạng 31
Bảng 2.2 Nhận thức về vai trò của hoạt động phối hợp nhà trường - gia đình 33
Bảng 2.3 Mức độ thực hiện các nội dung phối hợp nhà trường - gia đình theo đánh giá của CB, GV 36
Bảng 2.4 Mức độ thực hiện các nội dung phối hợp nhà trường - gia đình theo đánh giá của cha mẹ học sinh 40
Bảng 2.5 Mức độ thực hiện hoạt động phối hợp của cha mẹ học sinh với nhà trường, nơi con em mình đang theo học 41
Bảng 2.6 Mức độ thực hiện các phương pháp phối hợp giữa nhà trường - gia đình theo đánh giá của CBQL, GV 43
Bảng 2.7 Mức độ và hiệu quả thực hiện các phương pháp phối hợp giữa nhà trường - gia đình theo đánh giá của CMHS 48
Bảng 2.8 Xây dựng kế hoạch, chương trình phối hợp giữa nhà trường với gia đình 53
Bảng 2.9 Công tác tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động phối hợp 56
Bảng 2.10 Các hoạt động kiểm tra đánh giá thực hiện kế hoạch phối hợp 60
Bảng 2.11 Ảnh hưởng của các yếu tố từ nhà trường đến hiệu quả quản lý 64
Bảng 2.12 Ảnh hưởng của các yếu tố từ gia đình đến quản lý hoạt động phối hợp giáo dục học sinh 66
Bảng 2.13 Ảnh hướng của các yếu tố từ lãnh đạo ngành và địa phương đến quản lý hoạt động phối hợp giáo dục học sinh 68
Bảng 3.1 Biện pháp nâng cao nhận thức về hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình 82
Bảng 3.2 Biện pháp bồi dưỡng đội ngũ GVCN cho hoạt động phối hợp 84
Bảng 3.3 Biện pháp xây dựng kế hoạch, tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình 86
Bảng 3.4 Biện pháp tăng cường nguồn lực cho hoạt động phối hợp 88
Bảng 3.5 Biện pháp tổ chức chỉ đạo kiểm tra đánh giá 89
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhân loại đang bước vào nền văn minh trí tuệ, nền kinh tế tri thức, xã hội thông tin Thế giới đang chạy đua về tốc độ trong hệ thống kinh tế - xã hội Vì vậy, có thể nói: “Muốn biết tương lai một dân tộc ra sao hãy nhìn vào hiện tại xem dân tộc đó đang làm giáo dục như thế nào?”
Trong nền kinh tế tri thức, ưu thế không hoàn toàn lệ thuộc vào các nhân tố truyền thống như tài nguyên, đất đai, nhân công,… mà nhân tố có ý nghĩa quyết định
là trí tuệ con người Chỉ có đi bằng con đường phát triển giáo dục, phát triển năng lực sẵn có trong mỗi con người, chúng ta mới có thể xây dựng và phát triển đất nước Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của giáo dục trong việc phát huy nhân tố con người là kim chỉ nam để Đảng và Nhà nước ta xây dựng đường lối giáo dục và đào tạo trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước
Xã hội hóa giáo dục đang được áp dụng và triển khai rộng, đã mang lại những thành tựu đóng góp cho nền giáo dục nước nhà Việc phối hợp các lực lượng nhà trường - gia đình - xã hội vô cùng cần thiết đối với mọi nền giáo dục Thực tiễn nước
ta cũng cho thấy, ở đâu có hoạt động phối hợp chặt chẽ thì ở đó có kết quả giáo dục tốt đẹp Bác Hồ từng nói: “giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy mà thiếu giáo dục trong gia đình và xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” [14]
Một trong những đặc điểm của quá trình giáo dục là quá trình giáo dục diễn ra với những tác động phức hợp Trong quá trình giáo dục, người được giáo dục chịu tác động từ nhiều phía khác nhau: gia đình, nhà trường, xã hội và chịu ảnh hưởng của sự tác động khác nhau bởi những thành tố khác nhau của mỗi phía…Những tác động đó
có thể đan kết vào nhau rất mật thiết, tạo ra những ảnh hưởng tích cực đối với người được giáo dục, hoặc có thể ngược chiều nhau, tạo sự đối kháng gây khó khăn cho quá trình giáo dục
Đảng ta đã khẳng định “Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân” [14] Điều 3 chương
I, Luật giáo dục 2005 ghi rõ: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục phải kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với
thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” Điều
Trang 1193 đến điều 98 chương VI cũng đã qui định trách nhiệm của nhà trường, gia đình, xã hội đối với công tác giáo dục và đã thể hiện ý nghĩa quan trọng của hoạt động phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội [13]
Đối với học sinh THCS, lứa tuổi bắt đầu hình thành và phát triển tự ý thức đã gây nhiều ấn tượng sâu sắc đến đời sống tâm lý, hoạt động học tập và sự hình thành tổng thể các mối quan hệ Ý nghĩa quyết định để phát triển tự ý thức ở lứa tuổi học sinh THCS là cuộc sống tập thể, cuộc sống gia đình, nơi mà nhiều mối quan hệ giá trị sẽ hình thành ở các em lòng tự tin và sự đánh giá đúng mình
Hiện nay, theo chủ trương xã hội hóa giáo dục, giáo dục phổ thông có 2 hệ thống
cơ bản là giáo dục công lập và giáo dục ngoài công lập Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước Nơi đây do những yếu tố địa lý - chính trị, địa lý - văn hóa mà các hoạt động đều chứa đựng những yếu tố tích cực, nhạy bén, đáp ứng kịp thời những nhu cầu của xã hội, vì vậy, giáo dục ngoài công lập phát triển
và có vai trò như là điểm tích tụ cả 4 dạng nguồn lực xã hội để huy động và phát triển giáo dục: Nhân lực, vật lực, trí lực và tài lực
Thực tiễn giáo dục cho thấy nhận thức về hoạt động phối hợp nhà trường và gia đình chưa đúng Một số bậc CMHS còn xem nhà trường là môi trường giáo dục duy nhất cho trẻ Ở trường ngoài công lập, do CMHS đóng học phí cao cho con em để có thể tham gia môi trường học tập, chính vì vậy, sự kì vọng và mong đợi ở nhà trường càng cao, sự phó thác càng lớn, đến nỗi các bậc CMHS gần như quên đi vai trò, chức năng của sự giáo dục gia đình đối với con em mình, vì vậy, học sinh của các trường ngoài công lập có những đặc thù về tâm lý rất riêng, bắt buộc hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường cũng mang những sắc thái riêng, việc quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình vì thế cũng có những đặc thù nhất định
Với sự phát triển của xã hội như hiện nay, quản lý là một nhân tố quan trọng Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan với mọi người Các Mác coi quản lý là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội Ông viết “bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một qui mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo
để điều hòa những hoạt động cá nhân Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung,
Trang 12tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó”, “Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần
có một nhạc trưởng” [25] Như vậy C.Mác đã chỉ ra bản chất quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu quan trọng trong quá trình phát triển của xã hội loài người Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến ở mọi nơi, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và các liên quan đến mọi người Đó là một hoạt động bắt nguồn
từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên
cứu: “Quản lý hoạt động phối hợp nhà trường và gia đình ở các trường trung học cơ
sở ngoài công lập, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận, xác định thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường ở các trường THCS ngoài công lập tại Quận 7, Thành
phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà
trường - gia đình, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục toàn diện học
sinh khối THCS ngoài công lập
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động giáo dục học sinh ở trường THCS ngoài công lập
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động phối hợp nhà trường và gia đình ở các trường THCS ngoài công lập, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
4 Giả thuyết khoa học
Hoạt động phối hợp nhà trường - gia đình và quản lý hoạt động phối hợp nhà trường và gia đình ở các trường THCS ngoài công lập tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã được thực hiện nhưng còn hình thức, chưa triệt để nên hiệu quả không cao Đánh giá được thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa gia đình và nhà trường ở một số trường ngoài công lập trên địa bàn Quận7, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có cơ
Trang 13sở nhằm xây dựng những biện pháp quản lý phù hợp, đồng bộ, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục học sinh ở các trường THCS ngoài công lập trong giai đoạn mới
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phối hợp nhà trường và gia đình ở trường trung học phổ thông cơ sở ngoài công lập
5.2 Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động phối hợp nhà trường và gia đình ở các trường THCS ngoài công lập tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp nhà trường và gia đình ở Trường trung học cơ sở ngoài công lập
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn nội dung
Khảo sát thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động phối hợp trong công tác giáo dục học sinh giữa nhà trường và gia đình ở các trường THCS ngoài công lập tại Quân 7, Thành phố Hồ Chí Minh
6.2 Giới hạn địa bàn
Khảo sát tại 3 trường THCS ngoài công lập tại Quân 7, Thành phố Hồ Chí Minh: THCS-THPT Canada, THCS-THPT Đức Trí, THCS-THPT Sao Việt
6.3 Giới hạn đối tượng
Cán bộ quản lý, giáo viên, CMHS của 3 trường THCS ngoài công lập thuộc Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
6.4 Giới hạn thời gian
Trang 14cứu Có thể vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc vào những yếu tố của công tác quản lý hoạt động phối hợp lực lượng giữa nhà trường và gia đình: mục tiêu, nội dung, chủ thể, đối trượng, kết quả quản lý
7.1.2 Tiếp cận quan điểm lịch sử
Mỗi sự vật hiện tượng đều có quá trình phát triển của nó Vì vậy, khi xem xét sự vật hay một hiện tượng, chúng ta thường xem xét quá trình lịch sử của nó Từ đó thấy được mối quan hệ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai của đối tượng nghiên cứu
7.1.3 Tiếp cận quan điểm thực tiễn
Dựa trên khảo sát thực trạng quản lý hoạt động phối hợp ở các trường THCS ngoài công lập, để đề ra các biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình Qua khảo sát, phát hiện những mặt mạnh, mặt yếu, những nguyên nhân hạn chế, từ đó đề ra các biện pháp mang tính khả thi hơn
7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa nguồn tài liệu về những vấn đề lý luận trong các công trình khoa học, trong văn kiện của Đảng, luật pháp của Chính Phủ, các chỉ đạo của ngành giáo dục, sách và tạp chí chuyên ngành giáo dục… nhằm xác lập cơ sở pháp lý và cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Sử dụng bộ công cụ điều tra bằng bảng câu hỏi cho hai nhóm đối tượng là cán
bộ quản lý, giáo viên và CMHS nhằm thu thập thông tin về thực trạng
7.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn trực tiếp các đối tượng bao gồm: Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, GVCN, CMHS nhằm thu thập thông tin về công tác quản lý hoạt động phối hợp nhà trường và gia đình ở các trường THCS ngoài công lập
7.2.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Xin ý kiến của một số nhà quản lý giáo dục có kinh nghiệm, nhà lãnh đạo giáo dục và các chuyên viên, nhằm hiểu rõ thực trạng và một số đề xuất hợp lý
Trang 157.2.3 Thống kê toán học (xử lý thông tin)
Xử lý số liệu điều tra trên phần mềm (SPSS) để tính về số liệu phần trăm, điểm trung bình, từ đó phân tích, đánh giá Kết quả có được từ việc xử lý số liệu về nghiên cứu thực trạng và nguyên nhân của thực trạng, nhằm đưa ra những kết luận phù hợp, làm cơ sở đề xuất các biện pháp
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động phối hợp nhà trường và gia đình ở trường trung học cơ sở
Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường trung học cơ sở Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở các trường trung học cơ sở
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA ĐÌNH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề phối hợp nhà trường và gia đình
Hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình hiện nay đã và đang được xã hội
đề cao và quan tâm đến và là vấn đề bức xúc trong công tác giáo dục mà nhiều tác giả
đã quan tâm nghiên cứu Đặc biệt Đảng và Nhà Nước ta rất quan tâm đến việc phối hợp giáo dục giữa nhà trường gia đình và xã hội, coi đó là nguyên tắc cơ bản đề đảm bảo kết quả giáo dục trong các loại hình trường Các nhà giáo dục đã quan tâm nghiên cứu và từng bước giải quyết vấn đề này ở nhiều góc độ khác nhau Các công trình nghiên cứu về vấn đề này như sau:
- “Kết hợp việc giáo dục của nhà trường, gia đình và của xã hội”, chương 20 giáo trình giáo dục, Giáo dục học tập II, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội 1988 của tác giả
Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt
- “Nâng cao tính thống nhất giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội trong điều kiện mới”, tập thể tác giả ở Trung Tâm Giáo dục Học, thuộc Viện Khoa Học Giáo dục, 1993
- “Những quan điểm phương pháp luận của việc liên kết giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay”, tác giả Nguyễn Thị Kỷ, Viện Khoa học Giáo dục, 1996
- “Phối hợp việc giáo dục gia đình với nhà trường và các thể chế xã hội khác”, tác giả Phạm Khắc Chương (chủ biên), Nhà xuất bản Giáo dục, 1998
Những nghiên cứu trên đã đưa ra các cơ sở lý luận cơ bản và bước đầu đề xuất các mô hình tổ chức thực hiện hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục giữa nhà trường, gia đình, xã hội, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh Các tác giả
đã dùng các khái niệm khác nhau: “thống nhất”, “hợp tác”, “kết hợp”, “phối hợp”,
“liên kết”, các khái niệm về giáo dục (theo nghĩa rộng, theo nghĩa hẹp), mối tương quan giữa nhà trường với gia đình trong công tác giáo dục học sinh Các tác giả đã chỉ
Trang 17ra những lý luận về tính cần thiết phải kết hợp việc giáo dục của nhà trường với gia đình và của xã hội, đã chỉ ra vai trò quan trọng của gia đình trong việc giáo dục con
em, việc giáo dục học sinh và cần phải nâng cao tính thống nhất trong hoạt động phối hợp giữa nhà trường gia đình và xã hội
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động phối hợp nhà trường và gia đình
Những năm gần đây đã có một số tác giả nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động phối hợp nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục học sinh như:
- “Tổ chức liên kết giữa nhà trường với gia đình trong công tác giáo dục học sinh của một số trường trung học cơ sở ở thành phố Huế”, Lê Thị Hoa, luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục Đại học sư phạm Huế, 1999
- “Biện pháp tăng cường quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình của hiệu trưởng các trường trung học cơ sở huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp”, Nguyễn Minh Tâm, luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục, Đại học sư phạm Huế, 2007… Các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra những cơ sở lý luận cơ bản, những đề xuất về mô hình tổ chức thực hiện hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục giữa nhà trường - gia đình góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh Những nghiên cứu trên đồng thời cũng làm rõ các chức năng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường
- gia đình và đưa ra các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục học sinh Tuy nhiên vấn đề quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong công tác giáo dục học sinh trường trung học cơ sở ngoài công lập chưa được đề cập cụ thể, có hệ thống Đặc biệt ở Quận
7, Thành phố Hồ Chí Minh chưa có công trình nghiên cứu về vấn đề này Vì vậy, trong điều kiện công tác của mình, tác giả thấy cần có sự nghiên cứu về “Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình ở trường trung học cơ sở ngoài công lập tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh”, từ đó đề xuất một số biện pháp tăng cường hoạt động quản lý hoạt động phối hợp này của hiệu trưởng
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Quản lý là một nhân tố của sự phát triển xã hội Quản lý là một hoạt động phổ
Trang 18biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan với mọi người Các loại lao động xã hội được tiến hành trên một qui mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân
Theo Taylor PH.W (1856-1915), đã định nghĩa “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẽ nhất” [28]
Trong quá trình phát triển lý luận quản lý, có nhiều khái niệm khác nhau về quản
lý do các nhà nghiên cứu lý luận cũng như thực hành quản lý đưa ra :
“Quản lý được hiểu là việc bảo đảm hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển động của hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới” [21]
“Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” hay “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực trong và ngoài tổ chức, chủ yếu là nội lực một cách tối
ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [15]
Theo “Từ điển Tiếng Việt” do Viện Ngôn Ngữ năm 2005, quản lý được định nghĩa là: “trông coi và giữ gìn theo những nhu cầu nhất định, tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những nhu cầu nhất định” [23]
Từ các khái niệm quản lý khác nhau, có thể hiểu một cách khái quát: quản lý là
sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã đề ra
1.2.2 Quản lý giáo dục
Giáo dục là công việc rất quan trọng trong chiến lược đào tạo nguồn nhân lực, nhằm chuẩn bị đầy đủ những kiến thức, kỹ năng để trở thành những người công dân tốt Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản
lý, nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt hiệu quả cao nhất Quản lý giáo dục ở trường HCS được thực hiện trong phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường và thực hiện nhiệm vụ giáo dục
Trang 19Theo tác giả Trần Kiểm “giáo dục và quản lý giáo dục là tồn tại song hành Nếu nói giáo dục là hiện tượng xã hội tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài người thì cũng có thể nói như thế về quản lý giáo dục” Ở khái niệm về quản lý giáo dục ông đã đưa ra hai nhóm khái niệm quản lý giáo dục tương ứng: một cho quản lý một nền (hệ thống) giáo dục đó là quản lý vĩ mô và một cho quản lý một nhà trường là quản lý vi mô [9] Đối với cấp vĩ mô ông cho rằng “quản lý giáo dục được hiểu là những tác động
tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các hệ thống giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục.” [9]
“Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi (chỉ khả năng mới của hệ thống mà khi các phần tử đứng riêng rẽ thì không thể tạo ra được) của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự công bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động.” [9]
Đối với cấp vi mô ông cho rằng “quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, CMHS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [11]
Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường
Khái quát lại, nội hàm của khái niệm quản lý giáo dục chứa đựng những nhân tố đặc trưng cơ bản sau:
- Phải có thể chế quản lý giáo dục, ở tầm vĩ mô là quản lý nhà nước mà cơ quan trực tiếp quản lý là Bộ, Sở, Phòng Giáo dục và Đào Tạo, ở tầm vi mô là quản lý của hiệu trưởng nhà trường
Trang 20- Phải có hệ thống tác động quản lý theo một nội dung, chương trình, kế hoạch thống nhất từ trung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục đích giáo dục trong mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội, phải có một lực lượng đông đảo những người làm công tác giáo dục cùng với hệ thống cơ sở vật chất tương ứng
Tóm lại, QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt được kết quả mong muốn một cách có hiệu quả nhất
1.2.3 Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường (trường học) là quản lý nhà nước trên một lĩnh vực cụ thể là giáo dục, tại một đơn vị cụ thể là trường học Trong đó chủ thể của hoạt động quản lý nhà trường là hiệu trưởng thực hiện hoạt động điều hành, điều chỉnh khách thể của quá trình quản lý gồm các giáo viên, học sinh để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của nhà trường Quản lý nhà trường là một tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới
Quản lý nhà trường là một hoạt động thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét đặc thù riêng của nó Quản lý nhà trường được quy định bởi bản chất hoạt động sư phạm của người thầy; bản chất của quá trình dạy học, giáo dục trong mọi thành viên của nhà trường vừa là chủ thể của quản lý vừa là chủ thể hoạt động của bản thân mình Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập và rèn luyện theo mục tiêu giáo dục
và được xã hội thừa nhận
Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường
Trang 21Có nhiều cấp quản lý trường học: cấp cao nhất là Bộ GD&ĐT, nơi quản lý nhà trường bằng các biện pháp vĩ mô, có hai cấp trung gian quản lý trường học là Sở GD&ĐT ở các tỉnh và Phòng GD&ĐT ở các cấp Quận, Huyện Cấp quản lý quan trọng và trực tiếp của hoạt động giáo dục là cơ quan quản lý trong các nhà trường Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang có lên một trạng thái phát triển mới Bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục và tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người có tri thức, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân, gia đình và xã hội
Tóm lại: Quản lý nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý nhà trường, làm cho nhà trường vận hành theo đường lối quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được mục tiêu kế hoạch đào tạo của nhà trường, góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước” [4]
1.2.4 Quản lý hoạt động phối hợp nhà trường - gia đình
- Hợp tác: là chung sức, trợ giúp qua lại với nhau
- Kết hợp: là gắn chặt với nhau để bổ sung cho nhau
- Thống nhất: là hợp lại thành một khối
- Liên kết: là kết hợp nhiều thành phần, nhiều tổ chức để thực hiện
- Phối hợp: là cùng hành động, hoạt động hỗ trợ lẫn nhau
Các khái niệm trên có nghĩa gần giống với nhau Tuy nhiên khái niệm “Phối hợp” phản ánh một cách bản chất về tính thống nhất, chặt chẽ, liên tục, toàn vẹn của quá trình giáo dục Vì vậy, trong đề tài này, tác giả đã sử dụng khái niệm hoạt động
Trang 22phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học sinh
Phối hợp là hoạt động cùng nhau của hai hay nhiều cá nhân, tổ chức để hỗ trợ cho nhau thực hiện một công việc chung Hiệu trưởng phối hợp với các lực lượng giáo dục là nói đến hoạt động của hiệu trưởng, của nhà trường trong việc tổ chức các lực lượng xã hội thực hiện xã hội hóa giáo dục, đồng thời cũng nhấn mạnh đến sự chủ động, tích cực của nhà trường trong hoạt động này Để phối hợp có hiệu quả, hiệu trưởng phải xác định những lĩnh vực hoạt động chung; trong mỗi lĩnh vực ấy nội dung phối hợp là gì? mỗi tổ chức phải làm gì? có trách nhiệm nào?
Phối hợp các lực lượng giáo dục ngoài trường hay huy động cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển giáo dục là quá trình vận động (động viên, khuyến khích, thu hút) và tổ chức mọi thành viên trong cộng đồng tham gia vào việc xây dựng và phát triển nhà trường, từ việc xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy
và học, chăm lo đời sống giáo viên, tạo môi trường giáo dục thống nhất giữa nhà trường - gia đình - xã hội, đến việc tham gia giáo dục học sinh
1.2.4.2 Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình
Quản lý họat động phối hợp giữa nhà trường - gia đình là một trong những nội dung quản lý nhà trường của nhà quản lý, những tác động có ý thức của nhà quản lý nhằm định hướng, tổ chức, điều khiển và kiểm soát quá trình phối hợp giữa nhà trường
- gia đình trong công tác giáo dục học sinh đúng với nguyên lý giáo dục, phương pháp giáo dục; đảm bảo nguyên tắc quản lý về giáo dục làm cho chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao Đó là hoạt động vạch kế hoạch, tổ chức, phân công, kiểm tra đánh giá công tác phối hợp giữa nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục học sinh Trong quá trình quản lý, người quản lý phải vận dụng nhuần nhuyễn, linh hoạt và kết hợp các chức năng quản lý sao cho hiệu quả và thống nhất
Để thực hiện một chủ trương, một chương trình…kế hoạch hóa là bước đầu tiên của nhà quản lý, làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch, đó là căn cứ pháp lý quy định hành động của cả tổ chức, để thực hiện chức căng này, nhà quản lý phải thành lập một bộ máy, cơ cấu tổ chức, quy định chức năng, nhiệm vụ cho từng bộ phận và mối quan hệ giữa họ Chỉ đạo là nhiệm vụ tiếp theo, người quản lý phải vận dụng khéo léo, tinh tế các phương pháp và nghệ thuật quản lý để tạo nên thành công của kế hoạch dự
Trang 23kiến Cuối cùng là khâu kiểm tra đánh giá nhằm xem xét việc thực hiện các mục tiêu
đề ra từ trước, đây là đòi hỏi bắt buộc đối với mọi thành viên trong tổ chức
Tất cả các chức năng trên đều cần đến yếu tố thông tin Thông tin đầy đủ, kịp thời, cập nhật, chính xác chính là cơ sở để hoạch định kế hoạch, thông tin cũng cần cho các bộ phận trong tổ chức, là chất liệu quan trọng tạo quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức, thông tin chuyển tải mệnh lệnh chỉ đạo và phản hồi diễn biến hoạt động của tổ chức Thông tin từ kết quả hoạt động của tổ chức giúp cho người quản lý xem xét mức độ đạt mục tiêu của toàn tổ chức Thông tin cung cấp dữ liệu giúp người quản
lý điều khiển hệ thống hoạt động thống nhất như một chỉnh thể và là một trong những yêu cầu cốt lõi của hoạt động quản lý, quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình còn có ý nghĩa thực hiện Xã hội hóa trong công tác giáo dục, đem lại những thành công cho nhà trường, gia đình và xã hội
Trong quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình chủ thể quản lý hoạt động phối hợp là Ban Giám hiệu gồm Hiệu trưởng và các Phó hiệu trưởng Đối tượng quản lý là các hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình nhằm đạt được mục tiêu giáo dục toàn diện nhân cách học sinh với hiệu quả cao nhất
1.3 Hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở trường trung học cơ sở
1.3.1 Vai trò của giáo dục nhà trường và giáo dục gia trong công tác giáo dục học sinh THCS ngoài công lập
Đặc trưng của giáo dục nhà trường bao gồm: nhà trường là một thiết chế xã hội,
có kỷ luật chặt chẽ, có mục đích giáo dục đúng đắn, là nơi truyền thụ tri thức và giáo dục học sinh một cách toàn diện theo các nội dung giáo dục: đạo đức, trí tuệ, thể chất
Trang 24thẩm mỹ, lao động hướng nghiệp Nhà trường có đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao, có nghiệp vụ sư phạm, hiểu biết và nắm được các đặc điểm tâm sinh lý của từng lứa tuổi; là những người biết tổ chức các hoạt động giáo dục cho học sinh; là nơi
tổ chức hoạt động học tập, rèn luyện và giáo dục học sinh một cách có tổ chức, có kế hoạch, căn cứ vào các mục tiêu giáo dục cụ thể được nhà nước qui định Nhà trường phải thực hiện tốt nguyên lý giáo dục “Học đi đôi với hành, giáo dục phải kết hợp với
lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội” Nhà trường là nơi đề ra nội dung, biện
pháp phối hợp giáo dục, đóng vai trò chủ đạo trong việc phối hợp với gia đình và các lực lượng khác trong xã hội để cùng giáo dục học sinh Môi trường giáo dục của nhà
trường trong chừng mực nhất định tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh hình thành và phát triển tinh thần tập thể, tinh thần kỷ luật, trách nhiệm đối với bản thân và với mọi người, đặc biết đối với học sinh THCS ngoài công lập
Những mặt mạnh của giáo dục nhà trường, đó là: tính mục đích mang tính xã hội cao được quán triệt trong suốt quá trình giáo dục, hệ thống tri thức, kỹ năng, nhất là phương pháp tư duy mang tính hệ thống cơ bản và có thể mở rộng, hệ thống phương pháp, phương tiện khoa học tạo cơ sở cho sự trưởng thành của học sinh, sự lập nghiệp
và thành đạt cả đời người
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt mạnh đó nhà trường cũng có những hạn chế là: một số nhà trường chỉ chú ý nhiều đến việc cung cấp kiến thức, chưa thường xuyên giáo dục đạo đức, nhất là trong quan hệ đối xử với gia đình, bạn bè, với người lớn tuổi Giáo dục nhà trường thường chú ý, quan tâm tình hình chung của học sinh nên chưa quan tâm và chưa đủ điều kiện quan tâm đúng mức đến giáo dục cá biệt Giáo dục nhà trường nặng về lý thuyết, truyền đạt một chiều, chưa phát huy được tính chủ động của học sinh, quan hệ thầy trò chủ yếu trong giờ học, việc giúp đỡ, trao đổi, chuyện trò với học sinh ngoài giờ còn hạn chế
1.3.1.2 Giáo dục gia đình
Gia đình là một thiết chế xã hội hết sức quan trọng, một đơn vị kinh tế, một đơn
vị cơ sở, đồng thời là một nhóm tâm lý đặc thù Đó là nhân tố tích cực thúc đẩy sự phát triển của xã hội và hoàn thiện của cá nhân, thông qua việc thực hiện các chức năng quan trọng Một trong những chức năng hết sức quan trọng của gia đình là giáo
Trang 25dục con cái Đây là sự đóng góp của gia đình vào sự phát triển của giáo dục nói riêng,
sự tồn tại và phát triển của xã hội nói chung
Gia đình là một lực lượng giáo dục, một chủ thể giáo dục Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên của đứa trẻ, gia đình có trách nhiệm đầu tiên trong giáo dục con cái Khi trẻ đi học, gia đình còn là môi trường để trẻ thực hành những điều đã học ở trường, rèn luyện hành vi, Ảnh hưởng giáo dục của gia đình đối với đứa trẻ có ý nghĩa sâu sắc không chỉ khi chúng còn bé mà ngay cả lúc nó trưởng thành CMHS là
người “thầy” đầu tiên của con cái họ, là người xây dựng nền tảng nhân cách trẻ em
Nhiều nét cơ bản của nhân cách như tính người, tình người, đều bắt đầu ngay từ gia đình và từ giáo dục mầm non, tiểu học
Trẻ em tiếp xúc với các chuẩn mực đạo đức, các thói quen ứng xử đầu tiên từ gia đình, mọi sự kiện xã hội được trẻ em lĩnh hội qua thái độ và tình cảm của những thành viên trong gia đình, qua những định hướng giá trị của những người ruột thịt Gia đình
và giáo dục gia đình là một giá trị hết sức đặc trưng của nhân loại, nhất là ở phương Đông từ xưa tới nay
Giáo dục gia đình có những điểm mạnh Đó là tính xúc cảm cao, tính linh hoạt, tính thiết thực, thích ứng nhanh nhạy giữa yêu cầu của cuộc sống và đối tượng giáo dục là con cái Cùng với các giá trị của giáo dục gia đình, những điểm mạnh này có thể
bổ sung cho giáo dục nhà trường góp phần hoàn thiện quá trình hình thành và phát triển nhân cách học sinh
Giáo dục gia đình có những đặc thù như: giáo dục gia đình là giáo dục của cha
mẹ với con em mình, nhằm hình thành cho con em họ những năng lực, phẩm chất, nhân cách Quá trình giáo dục gia đình có thể thường xuyên liên tục, có được tổ chức một cách khoa học hay không, điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào sự quan tâm, trình độ hiểu biết, khả năng, kinh nghiệm hoàn cảnh ,… của gia đình Giáo dục gia đình là cơ
sở giáo dục đầu tiên, lâu dài và toàn diện, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, lứa tuổi của mỗi học sinh Giáo dục gia đình mang tính cá biệt rõ rệt, dựa trên cơ sở của cuộc sống tự nhiên, cởi mở trong gia đình Mỗi cá nhân sống trong gia đình thường là thời gian lâu dài, nên rất thuận lợi và hiệu quả trong việc giáo dục từ gia đình Gia đình giáo dục con em mình từ mọi khía cạnh của cuộc sống và trong các mối quan hệ vô
Trang 26cùng phong phú Cơ sở vật chất, trình độ văn hóa, sự hiểu biết của cha mẹ, nề nếp, truyền thống của gia đình, quan hệ ông bà, cha mẹ và con cái…có tác động lớn đến quá trình học tập của con cái Ở gia đình, trẻ được tiếp thu sự giáo dục của gia đình từ lúc còn thơ ấu, thời gian sống ở gia đình của trẻ là nhiều nhất cho đến tuổi trưởng thành, trẻ được tiếp thu những hành vi, ứng xử của các thành viên trong gia đình, trẻ
có được những tình cảm mang tính huyết thống, tính sâu sắc, đó là phương tiện thuận lợi để gia đình giáo dục trẻ Tuy nhiên chính tình cảm này cũng làm cho giáo dục gia đình đôi khi thiếu nghiêm khắc, có khi làm trẻ không ngoan…
Động cơ thúc đẩy cha mẹ và các thành phần khác trong gia đình thực hiện nhiệm
vụ giáo dục con cái không phải chỉ do trách nhiệm trước pháp luật mà còn xuất phát từ long thương yêu con em mình, luôn tạo điều kiện tốt nhất trong chừng mực có thể để con em mình được học tập và rèn luyện để trở thành người tốt, có ích cho xã hội Vì vậy, mặt mạnh của giáo dục gia đình là mang tính xúc cảm, tình cảm nên có khả năng cảm hóa rất lớn
Có thể nói những đặc điểm trên là mặt mạnh của gia đình, góp phần bổ sung những thiếu sót của giáo dục nhà trường.Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân mà giáo dục gia đình có những hạn chế nhất định như: nhiều gia đình tổ chức hoạt động giáo dục không thường xuyên liên tục, nội dung giáo dục chưa toàn diện Một số gia đình còn ít phối hợp với nhà trường trong việc giáo dục con cái, ngoài việc đến họp CMHS, dường như một số gia đình còn “khoán trắng” cho nhà trường, ỷ lại vào nhà trường trong việc giáo dục con em mình Cá biệt, có những gia đình do thiếu hiểu biết về tâm
lý lứa tuổi, thiếu kiến thức giáo dục, quá nuông chiều con cái dẫn đến những hành vi ngược lại sự tác động giáo dục học sinh từ phía nhà trường, làm hạn chế không nhỏ đến kết quả của quá trình giáo dục
Như vậy, có thể nhận định rằng: cả giáo dục nhà trường và giáo dục gia đình đều
có mặt mạnh và mặt hạn chế Vấn đề đặt ra là phải kế thừa, phát huy ưu điểm, đồng thời loại bỏ những nhược điểm, nhằm tạo những điều kiện thuận lợi nhất, tạo môi trường giáo dục lành mạnh để giúp học sinh hình thành và phát triển nhân cách của mình một cách toàn diện Mặt khác, giáo dục nhà trường và gia đình là hai “mắt xích quan trọng trong quá trình giáo dục, nếu thiếu một trong hai yếu tố này thì không thể
Trang 27tạo ra sản phẩm con người như mong muốn Vì vậy cần tổ chức phối hợp giữa nhà trường và gia đình như thể nào để thực hiện được sự thống nhất trong nhận thức và hành động, giáo dục theo cùng một hướng, tránh sự tách rời, sự mâu thuẫn và vô hiệu hóa lẫn nhau, luôn thống nhất về định hướng nhưng vẫn bao hàm khuyến khích sự đa dạng, tính đặc thù của mỗi loại hình giáo dục nhà trường và gia đình
1.3.2 Ý nghĩa của hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục học sinh
Mục đích và nội dung giáo dục của nhà trường - gia đình phải thống nhất với nhau nhằm giáo dục thế hệ trẻ thành những người có tài, có đức, có năng lực thực hành, năng động và sáng tạo…thành những người chủ tương lai của đất nước Chính vì xuất phát từ tinh thần trách nhiệm đối với dân tộc, tính thương yêu đối với con em mình mà nhà trường, gia đình phải phối hợp, liên kết chặt chẽ với nhau để chăm sóc, giáo dục họ thành những người có ích cho nước nhà
Giáo dục nhân cách cho học sinh là một quá trình khó khăn, phức tạp, lâu dài, nếu nhà trường và gia đình phối hợp thường xuyên và chặt chẽ, sẽ tạo nên một sức mạnh tổng hợp, tạo nên sự thống nhất và liên tục Học sinh sống và học tập không chỉ
ở nhà trường mà còn ở gia đình, vì vậy phải phối hợp giáo dục để nâng cao tinh thần trách nhiệm của cả hai phía nhà trường và gia đình, tạo điều kiện cho các em được giáo dục mọi nơi, mọi lúc
1.3.3 Mục tiêu của hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục học sinh
Mục tiêu của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình là những tiêu chuẩn định hướng ban đầu mà hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình cần phải đạt được trong quá trình giáo dục học sinh Mục tiêu hoạt động phối hợp là để có
sự thống nhất về quan điểm giáo dục, thống nhất về các nội dung và biện pháp giáo dục học sinh của nhà trường và gia đình, nhằm làm cho quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao nhất, tránh hiện tượng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” trong giáo dục Việc xác định mục tiêu phối hợp đúng giúp cho quá trình giáo dục giữa nhà trường và gia đình được thuận lợi, trôi chảy, nhịp nhàng và thường xuyên, hiệu quả hoạt động phối hợp cao hơn Tuy nhiên mục tiêu phối hợp cần phù hợp ở từng địa phương và tùy mức độ
Trang 28nhận thức của các thành viên, nếu mục tiêu quá khó và vược khả năng phối hợp thì sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình phối hợp
1.3.4 Nội dung của hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình
Nội dung của hoạt động phối hợp là những công việc cần thực hiện của nhà trường và gia đình trong hoạt động phối hợp giáo dục học sinh như là:
- Thống nhất quan điểm, nội dung, biện pháp, hình thức giáo dục học sinh cho cán bộ quản lý, giáo viên và CMHS
- Nhà trường theo định kỳ hoặc thường xuyên thông báo cho gia đình học sinh kết quả học tập, rèn luyện của học sinh
- Nhà trường làm cho gia đình hiểu rõ nhiệm vụ, chức năng của giáo dục gia đình, tạo điều kiện để CMHS nhận thức đúng về trách nhiệm phối hợp với nhà trường
- Nhà trường lập kế hoạch phối hợp giữa nhà trường và gia đình, tổ chức thực hiện kế hoạch, tổng kết đánh giá việc thực hiện kế hoạch
- Nhà trường tư vấn cho CMHS kiến thức về tâm lý học, giáo dục học và bồi dưỡng phương pháp giáo dục gia đình cho CMHS
- Nhà trường huy động khả năng tiềm lực của gia đình vào công tác giáo dục học sinh
- Nhà trường xây dựng các chương trình đồng hành cùng CMHS trong giáo dục kiến thức, kỹ năng và thái độ, thông qua các hoạt động làm ra sản phẩm trên nền tảng kiến thức học sinh đã học ở nhà trường kết hợp với kiến thức thực tiễn trong cuộc sống
1.3.5 Phương pháp phối hợp giữa nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục học sinh
Sự phối hợp của nhà trường với gia đình trong việc giáo dục học sinh cần có những phương pháp phù hợp bổ sung cho nhau:
- Phương pháp phối hợp bằng văn bản: biên bản cuộc họp giữa CMHS với nhà trường, triển khai những văn bản chỉ đạo của cấp trên (điều lệ Hội, những quyết định của nhà nước về tổ chức hội CMHS, luật giáo dục Việt Nam….), văn bản về kế hoạch phối hợp giữa nhà trường và gia đình, sổ liên lạc của học sinh, gửi thư, thông báo về gia đình học sinh khi cần thiết
Trang 29- Phương pháp tuyên truyền cho giáo viên và CMHS về hoạt động giáo dục Tổ chức các buổi hội thảo hướng dẫn, bồi dưỡng kinh nghiệm giáo dục cho CMHS Tổ chức cho họ báo cáo điển hình ở lớp, ở trường về cách giáo dục con với những gương điển hình
- Phương pháp phối hợp hành động: Thành lập hội CMHS, tổ chức định kỳ các cuộc họp CMHS, GVCN thường xuyên gặp gỡ trao đổi với CMHS, tổ chức thăm gia đình học sinh
- Phương pháp kiểm tra đánh giá rút kinh nghiệm thường xuyên, có qui định nhiệm vụ, tiêu chuẩn thi đua, phối hợp cho GVCN, động viên khen thưởng kịp thời
Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tổ chức các hoạt động phối hợp với CMHS cho GVCN
Cụ thể các phương pháp phối hợp:
- Họp CMHS định kỳ: trước mỗi cuộc họp, GVCN cần có sự chuẩn bị chu đáo về mục đích, nội dung, hình thức GVCN cần nắm vững chủ trương chung của nhà trường, tình hình học sinh lớp chủ nhiệm, để có thể giải thích, trả lời ngay những thắc mắc của CMHS, tránh sự hiểu lầm hoặc ứng xử không phù hợp, ảnh hưởng đến uy tín của nhà trường và bản thân GVCN
- Thông qua sổ liên lạc, sổ báo bài: ghi rõ kết quả học tập định kỳ hàng tuần/ hàng tháng, cùng với nhận xét đánh giá của GVCN, đặc biệt là những kiến nghị của GVCN đối với gia đình học sinh trong việc phối hợp giáo dục học sinh đồng thời ghi nhận ý kiến phản hồi của CMHS
- Thông qua Ban đại diện CMHS, chính quyền địa phương, tổ dân phố nơi học sinh sinh sống
- Thăm hỏi gia đình học sinh: GVCN cần xác định rõ mục đích, nội dung yêu cầu của cuộc gặp và thông báo đến CMHS để phối hợp tốt và tránh những tình huống khó
Trang 301.3.6 Đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục học sinh
Kiểm tra đánh giá rút kinh nghiệm hàng năm, từng học kỳ và những trường hợp đột xuất nổi bật có hiệu quả cao hay gặp khó khăn trở ngại, cần nắm chắc quan hệ giữa hiệu trưởng với hội CMHS, hoạt động phối hợp giữa GVCN với CMHS ở các lớp, giữa GVCN với giáo viên bộ môn và các bộ phận khác trong nhà trường, giữa BGH (BGH) với tổ chủ nhiệm Hiệu trưởng cần nắm được kế hoạch phối hợp giữa GVCN với CMHS của từng lớp Theo dõi các hoạt động qua báo cáo và qua kiểm tra thực tế
để kịp thời nhắc nhở, uốn nắn cũng như có những khen thưởng và động viên những gương điển hình Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình thể hiện qua các công việc như: Theo dõi kiểm tra việc xây dựng kế hoạch, điều chỉnh hoạt động của GVCN trong hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình, qui định các tiêu chuẩn đánh giá, kiểm tra đột xuất và định kỳ ở mỗi học kỳ và cuối năm Công tác tổng kết đánh giá cũng là một nội dung của hoạt động quản lý hoạt động phối hợp Đây là hoạt động của hiệu trưởng để xem lại kết quả quản lý hoạt động phối hợp của nhà trường với gia đình học sinh, hoạt động phối hợp tốt cũng có nghĩa là chất lượng giáo dục của nhà trường cao hơn, ngược lại chất lượng giáo dục chưa cao thì một phần cũng do hoạt động phối hợp này chưa tốt Tổng kết, đánh giá, kịp thời khen thưởng và động viên của nhà trường giúp thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục và CMHS nhận thức hơn về quan điểm giáo dục mới, nhiệm vụ giáo dục của gia đình mà trong luật giáo dục đã đề ra
1.4 Quản lý hoạt động phối hợp nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học sinh ở trường THCS ngoài công lập
1.4.1 Chức năng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình
1.4.1.1 Xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung phối hợp giữa nhà trường - gia đình
Hoạt động phối hợp giữa NT - GĐ là hoạt động thiết yếu, hỗ trợ cho tất cả các hoạt động giáo dục Vai trò quản lý của hiệu trưởng là vai trò chủ lực góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Mọi hoạt động phối hợp được bàn bạc thống nhất và đi đến thực hiện đều phải qua sự thống nhất của các tổ, nhóm, đoàn thể tham gia vào hoạt
Trang 31động phối hợp, từ đó, đảm bảo hiệu quả đúng theo mọi tiến độ của kế hoạch năm học
đã được xây dựng Bên cạnh đó, vai trò quản lý của tổ trưởng tổ chủ nhiệm góp phần không nhỏ vào việc hiện thực hóa kế hoạch chung
Lập kế hoạch là xuất phát điểm của hoạt động quản lý, là quá trình thiết lập các mục tiêu của hệ thống các hoạt động và là điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đề ra Để lập kế hoạch, nhà quản lý căn cứ vào thực trạng ban đầu của nhà trường, căn cứ vào nhiệm vụ được giao mà đề ra mục tiêu, nhiệm vụ cho nhà trường trong từng thời kỳ, từng giai đoạn với những phương thức, biện pháp cụ thể để đạt được mục tiêu cao nhất
Nếu chỉ tuyên bố về các mục tiêu đã lựa chọn thì mục tiêu vẫn chỉ là những ước muốn và hy vọng, mặc dù có tính toán, nghiên cứu kỹ lưỡng Muốn biến các mục tiêu thành hiện thực thì phải lập kế hoạch Việc lập kế hoạch là bước hiện thực hóa hệ thống mục tiêu tức là tìm các nguồn lực (nhân lực - vật lực - tài lực) và thời gian, không gian cần cho việc hoàn thành các mục tiêu
Về mặt tài chính, chi phí về tất cả các mặt phải được xác định Hơn nữa phải tìm
ra phương án chi phí thấp nhất cho việc thực hiện mỗi một mục tiêu Vì đạt được mục tiêu với chi phí thấp nhất là đạt được hiệu quả cao nhất Đó là điều mà bất kì người quản lý nào cũng mong muốn và cố gắng đạt được
Tính cân đối của kế hoạch đòi hỏi người quản lý phải tìm ra đủ các nguồn lực và điều kiện để thực hiện mỗi mục tiêu Cân đối giữa hệ thống mục tiêu và các nguồn lực
và điều kiện thực hiện chúng, hay nói khác đi, cân đối giữa yêu cầu và khả năng đòi hỏi người quản lý phải nắm vững khả năng mọi mặt của tổ chức mình, kể cả các tiềm năng có thể có, thấu hiểu từng mục tiêu và tính toán tỉ mỉ việc đầu tư cho mỗi mục tiêu theo một phương án tối ưu
1.4.1.2 Tổ chức thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình
Tổ chức là điều kiện của người quản lý, là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc cũng như phân bổ quyền hành và quyền lực cho các thành viên của tổ chức để học
có thể hoạt động và đạt được mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả Nội dung của chức năng này là xác lập liên kết bộ phận các chức năng riêng lẻ thành một hệ thống (bao gồm: nhân lực, vật lực, CSVC) Nếu tổ chức tốt cấu trúc này, nhà quản lý có thể
Trang 32tác động một cách có hiệu quả đến CBGV, CNV trong nhà trường, tạo động lực phát triển hệ thống và bền vững
Người hiệu trưởng phải có kế hoạch tổ chức, phân công các thành viên thực hiện
sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình trong công tác giáo dục học sinh của các thành viên trong nhà trường mà lực lượng chủ yếu là GVCN như:
- Hướng dẫn cách thức tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình
- Lựa chọn tổ trưởng tổ chủ nhiệm có năng lực điều hành
- Lựa chọn GVCN là người có khả năng tham gia phối hợp với gia đình
- Tổ chức các hoạt động chuyên đề thảo luận trao đổi kinh nghiệm trong công tác phối hợp giữa nhà trường - gia đình
1.4.1.3 Chỉ đạo, điều khiển hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình
Với kế hoạch phối hợp đã được đề ra thì hoạt động chỉ đạo, điều khiển của người hiệu trưởng là rất cần thiết trong suốt quá trình phối hợp giữa nhà trường -gia đình Điều này giúp cho hoạt động phối hợp tiến hành một cách thường xuyên liên tục đáp ứng cho công tác giáo dục học sinh diễn ra từng ngày Hiệu trưởng đề ra những công việc cụ thể cho từng giai đoạn của quá trình phối hợp, hướng dẫn việc thực hiện giải quyết những khó khăn vướng mắc, uốn nắn điều chỉnh những sai lệch trong quá trình phối hợp
Hiệu trưởng nhà trường tổ chức phối hợp giữa nhà trường và gia đình thông qua giáo viên bằng cách hướng dẫn giáo viên hình thức phối hợp, phương pháp phối hợp sao cho đảm bảo thống nhất mục tiêu phối hợp đã đề ra, chỉ đạo GVCN tham gia phối hợp với gia đình, phân công nhiệm vụ phối hợp với gia đình học sinh cụ thể, đúng người, đúng việc, phù hợp với khả năng của từng đối tượng trong từng hoàn cảnh nhất định
Hiệu trưởng nhà trường chỉ đạo thống nhất các thành viên tham gia vào công tác phối hợp về: nội dung, chương trình, phương pháp, tạo nên sự phối hợp nhịp nhàng, gắn kết với nhau như một chỉnh thể
Thông qua các chuyên đề thảo luận trao đổi kinh nghiệm trong công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình, Hiệu trưởng chỉ ra những mặt tích cực cần phát huy và những hạn chế cần khắc phục, từ đó điều chỉnh hoạt động phối hợp đi đúng hướng, đúng mục tiêu và đạt hiệu quả cao
Trang 33Hiệu trưởng nhà trường chỉ đạo, điều hành quản lý, giám sát việc thực hiện kế hoạch hoạt động giữa nhà trường - gia đình để có cơ sở đưa ra những biện pháp xử lý kịp thời việc thực hiện không đúng kế hoạch hay đi chệch mục tiêu, phương hướng ban đầu
1.4.1.4 Kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình
Kiểm tra đánh giá rút kinh nghiệm hàng năm, từng học kỳ và những trường hợp đột xuất nổi bật có hiệu quả cao hay gặp khó khăn trở ngại Quản lý hoạt động phối hợp cần nắm chắc quan hệ giữa hiệu trưởng với hội CMHS, hoạt động phối hợp giữa GVCN với CMHS ở các lớp, giữa GVCN với giáo viên bộ môn và các bộ phận khác trong nhà trường, giữa BGH với tổ chủ nhiệm Hiệu trưởng cần nắm được kế hoạch phối hợp giữa GVCN với CMHS của từng lớp Theo dõi các hoạt đông qua báo cáo và qua kiểm tra thực tế để kịp thời nhắc nhở uốn nắn cũng như có những khen thưởng và động viên những gương điển hình Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình thể hiện qua các công việc như: Theo dõi kiểm tra việc xây dựng
kế hoạch, điều chỉnh hoạt động của GVCN trong hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình, qui định các tiêu chuẩn đánh giá, kiểm tra đột xuất và định kỳ ở mỗi học kỳ
và cuối năm
Hiệu trưởng kiểm tra công tác phối hợp với gia đình học sinh của GVCN với mục đích làm cho GVCN: Ý thức được vai trò, trách nhiệm của mình đối với việc phối hợp với gia đình học sinh, thấy rằng đó là nhiệm vụ được quy định trong Điều lệ nhà trường Thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ, các yêu cầu, các quy định của trường trong công tác phối hợp với gia đình học sinh và tiến hành công tác đó một cách tự giác Khắc phục những trường hợp giáo viên có thái độ hời hợt, ngại đến thăm gia đình học sinh hoặc có những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ với gia đình học sinh
Qua xem xét hồ sơ chủ nhiệm; nghe ý kiến của CMHS; theo dõi việc thực hiện các nhiệm vụ phải làm, các yêu cầu cần đạt, các quy định cần tuân theo…Hiệu trưởng nắm bắt kịp thời tình hình phối hợp để uốn nắn điều chỉnh đúng hướng
Công tác tổng kết đánh giá cũng là một nội dung của hoạt động quản lý hoạt động phối hợp Đây là hoạt động của hiệu trưởng để xem lại kết quả quản lý hoạt động
Trang 34phối hợp của nhà trường với gia đình học sinh, hoạt động phối hợp tốt cũng có nghĩa là chất lượng giáo dục của nhà trường cao, ngược lại chất lượng giáo dục chưa cao thì một phần cũng do hoạt động phối hợp này chưa tốt
1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động phối hợp nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học sinh ở trường THCS ngoài công lập
1.4.2.1 Về phía nhà trường
Một số yếu tố từ phía nhà trường có ảnh hưởng tạo sự thuận lợi hay làm hạn chế hiệu quả quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường gia đình trong công tác giáo dục học sinh là: nhận thức của lãnh đạo nhà trường đối với hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình, nếu có nhận thức đúng từ lãnh đạo nhà trường sẽ có sự quan tâm trong từng khâu quản lý, từ xây dựng kế hoạch hoạt động phối hợp đến tổ chức, thực hiện và cuối cùng là kiểm tra đánh giá tạo nên những mắt xích liên kết chặt chẽ thì hoạt động phối hợp sẽ diễn ra nhịp nhàng, thống nhất và đạt mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất
Ngoài ra, nhận thức của các lực lượng giáo dục trong nhà trường về các hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình cũng không kém phần quan trọng, từ nhận thức được tầm quan trọng của công tác phối hợp, các lực lượng giáo dục trong nhà trường sẽ ý thức được trách nhiệm của mình trong từng hoạt động phối hợp với một tinh thần tự giác trách nhiệm cao
Vai trò của các lực lượng giáo dục trong nhà trường là yếu tố quan trọng, trước hết là vai trò nòng cốt của GVCN trong hoạt động phối hợp GVCN là người theo sát học sinh, cận kề với CMHS, qua tìm hiểu, GVCN sẽ nắm bắt tường tận mọi khía cạnh
về hoàn cảnh gia đình cũng như tâm sinh lý học sinh, những kỳ vọng của cha mẹ đối với con em mình, từ đó hỗ trợ tốt cho công tác phối hợp
Một đội ngũ giáo viên đủ năng lực, phẩm chất, phục vụ cho hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình càng nâng cao hiệu quả của hoạt động phối hợp góp phần tạo niềm tin, động lực để kêu gọi sự phối hợp đồng hành của CMHS
Năng lực, trình độ của cán bộ quản lý nhà trường: một hiệu trưởng có một tầm nhìn rộng, sự hiểu biết cao và có kỹ năng giao tiếp tốt cũng là một yếu tố thuận lợi cho hoạt động phối hợp Với vai trò là người đại diện của ngành giáo dục, của giáo viên, nhân viên nhà trường; người bảo vệ quyền lợi học sinh; người hiệu trưởng sẽ biết dung
Trang 35hòa lợi ích chung của nhà trường với nguyện vọng riêng của CMHS, hình thành niềm tin, sự tín nhiệm sâu sắc ở CMHS học sinh, CMHS học sinh sẽ sẵn sàng tham gia bất
kỳ một hoạt động phối hợp nào do hiệu trưởng phát động với một tinh thần hợp tác cao nhất
1.4.4.2 Về phía CMHS
Nhận thức được vai trò của gia đình đối với hoạt động phối hợp với nhà trường trong công tác giáo dục học sinh, từ đó, CMHS sẽ chủ động hơn trong hoạt động phối hợp với nhà trường, tạo mối quan hệ tốt giữa CMHS và thầy cô giáo trong sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình, chính cơ sở này đã thiết lập được một nền tảng tin yêu và thấu hiểu lẫn nhau CMHS nhận thức không đúng vai trò của mình sẽ dẫn đến tình trạng phó thác trách nhiệm giáo dục con em mình cho nhà trường, vì vậy sẽ không nắm bắt được tình hình học tập của con em mình và diễn biến tâm lý phức tạp trong giai đoạn học sinh THCS ngoài công lập
Bên cạnh đó, Ban đại diện CMHS cũng là một yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình, là tổ chức tự nguyện của CMHS - Ban đại diện CMHS được thành lập với sự hỗ trợ của nhà trường, tổ chức và hoạt động theo Điều lệ Hội CMHS, Điều lệ nhà trường Quan hệ giữa nhà trường và Ban đại diện CMHS là bình đẳng, hợp tác, vì vậy ban Đại diện CMHS có tầm quan trọng đặc biệt, là một trong các giải pháp phát huy vai trò của gia đình trong sự nghiệp giáo dục Qua Ban đại diện CMHS, gia đình tham gia công tác giáo dục một cách có tổ chức, tiếng nói của gia đình với nhà trường tăng “trọng lượng”, đồng thời phát huy sức mạnh tập thể của CMHS tham gia vào các hoạt động giáo dục và xây dựng nhà trường Ban đại diện CMHS là lực lượng xã hội gần gũi, gắn bó nhất của nhà trường, giúp đỡ đắc lực nhà trường về nhiều mặt, là lực lượng phối hợp thường xuyên, liên tục nhất Ban đại diện CMHS tạo thuận lợi cho mối quan hệ giữa nhà trường và CMHS để liên lạc với nhau tốt hơn, làm tăng tinh thần trách nhiệm của các bậc cha mẹ, khích lệ lao động sư phạm của giáo viên và học tập của học sinh Ban đại diện hỗ trợ nhà trường trong việc bảo dưỡng hoặc mua sắm các phương tiện và đồ dùng dạy học Ban đại diện không chỉ là cầu nối giữa nhà trường và gia đình mà trong nhiều trường hợp còn là cầu nối, là điểm tựa trong quan hệ giữa nhà trường với các lực lượng xã hội khác
Trang 36Tiểu kết chương 1
Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức, thông qua công cụ và phương pháp quản lý nhằm làm cho tổ chức đó vận hành thuận lợi và đạt được mục tiêu đã đề ra Quản lý giáo dục
là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt mục tiêu giáo dục đã đề ra
Việc phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội đối với việc chăm sóc giáo dục học sinh đã trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản giáo dục Sự phối hợp chặt chẽ trong giáo dục sẽ đảm bảo sự thống nhất trong nhận thức cũng như hoạt động giáo dục cùng một hướng, một mục đích, một tác động tổ hợp, đồng tâm tạo sức mạnh kích thích, thúc đẩy quá trình phát triển, định hướng các giá trị tốt đẹp của nhân cách Trong nhà trường, hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình cần phát huy vai trò nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục Việc quản lý có hiệu quả hoạt động phối hợp và quản lý điều kiện để hoạt động phối hợp đạt hiệu quả tốt là một trong những công tác trọng tâm, thường xuyên của người cán bộ quản lý
Trong công tác quản lý trường học thì quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình là một trong những nhiệm vụ quan trọng Mục đích giáo dục luôn thay đổi nhằm phục vụ sự phát triển của đất nước, do đó công tác quản lý của người hiệu trưởng cũng có sự thay đổi phù hợp với xu thế phát triển của khoa học, chính vì vậy quản lý hoạt động phối hợp của hiệu trưởng trong trường trung học cơ sở là công tác rất quan trọng và phải thường xuyên nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục của nhà trường
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP GIỮA NHÀ TRƯỜNG - GIA ĐÌNH Ở CÁC TRƯỜNG THCS NGOÀI CÔNG LẬP, QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Khái quát về giáo dục THCS Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 38Thực hiện nội dung giáo dục địa phương, lồng ghép tích hợp các nội dung vào một số môn học, đảm bảo góp phần thực hiện mục tiêu môn học, gắn lý luận với thực tiễn; liên hệ với thực tiễn hoạt động kinh tế - xã hội, văn hoá, lịch sử địa phương trong các bài dạy
Ngoài ra, Phòng giáo dục Quận 7 chú trọng tổ chức các hoạt động phối hợp giữa nhà trường và các tổ chức liên quan thông qua hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong trường học, các hoạt động được thực hiện thông qua hình thức phong phú như: tuyên truyền miệng, “Ngày pháp luật nước CHXHCN Việt Nam”, các hội thi, hoạt động ngoại khóa, lồng ghép trong giảng dạy các môn học chính khóa, thành lập tủ sách pháp luật, bảng tin pháp luật… Qua đó, kịp thời phổ biến những luật và văn bản dưới luật đến học sinh, công chức, viên chức ngành giáo dục; góp phần đưa chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đến với công chức, viên chức, học sinh và CMHS, chú trọng giáo dục nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, thói quen chấp hành pháp luật cho học sinh, CMHS và đội ngũ nhà giáo
Ngoài ra, công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh cũng được đẩy mạnh, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục và tạo tiếng nói chung giữa nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học sinh
2.1.3 Chất lượng đội ngũ CBQL – GV
Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ để nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, tạo bước chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao chất lượng Giáo dục và Đào tạo của Quận 7 Tính đến hết năm học 2015-2016, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý đã được chuẩn hoá về chất lượng một cách đồng bộ theo các mục tiêu và định hướng của ngành Đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý để làm nòng cốt trong việc không ngừng nâng cao chất lượng dạy học và quản lý nhà trường
Trong năm học 2015 - 2016, Phòng Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với các phòng, ban của quận tổ chức kiểm tra liên ngành đối với các đơn vị ba bậc học theo Kế hoạch kiểm tra số 281/KH-UBND ngày 24 tháng 9 năm 2015 và Kế hoạch số 2180/KH-UBND ngày 04 tháng 4 năm 2016 của Ủy ban nhân dân Quận 7
Trang 39Qua công tác kiểm tra đã chỉ đạo các đơn vị nghiêm túc thực hiện công tác công khai theo Thông tư số 09/2009/TT-BGDĐT ngày 07.5.2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã thu thập được nhiều thông tin về kết quả thực hiện nhiệm vụ năm học của các đơn vị như việc tổ chức triển khai thực hiện chủ đề năm học, các cuộc vận động của ngành và kết quả thực hiện các chỉ tiêu giáo dục… Đồng thời phát hiện những hạn chế trong công tác quản lý của hiệu trưởng ở một số đơn vị về công tác thu tiền đầu năm, công tác tuyển sinh; công tác nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc trẻ của các nhóm lớp không đảm bảo, từ đó giúp lãnh đạo ngành kịp thời chấn chỉnh những hạn chế của các đơn vị
Quận 7 tập trung chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá, từ đó định hướng việc đổi mới cách soạn, cách dạy, cách đánh giá học sinh thông qua các hoạt động chuyên môn của nhà trường và việc giảng dạy các môn học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng Trên cơ sở đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông, các đơn vị bậc học đã thực hiện kế hoạch giáo dục đúng khung thời gian năm học Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quy định Hướng dẫn các đơn vị thực hiện điều chỉnh nội dung giáo dục phổ thông theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo Chủ động phân phối thời gian dạy học các nội dung khó, tổ chức cho học sinh tự học có hướng dẫn của giáo viên, tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, văn nghệ thể thao, phụ đạo học sinh yếu kém, bồi dưỡng học sinh giỏi phù hợp từng đối tượng học sinh
Hoạt động chuyên môn tại các trường tiếp tục phát triển theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học, chú trọng "dạy học cá thể” Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện các phương pháp dạy học tích cực khác, dạy học các chủ đề tích hợp liên môn, tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật của học sinh đã giúp việc dạy - học của thầy - trò trở nên sinh động và hấp dẫn hơn Các trường đã chú trọng đến các hoạt động ngoại khóa, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục đạo đức - giáo dục pháp luật, công tác tư vấn học đường và xem đây là biện pháp quan trọng để giáo dục đạo đức, rèn kĩ năng sống cho học sinh
Trang 40
2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng
2.2.1 Mẫu khảo sát
Tác giả đã tiến hành khảo sát tại 3 trường THCS ngoài công lập thuộc địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, năm học 2015 - 2016 với số lượng phiếu cụ thể như bảng 2.1
lý, giáo viên; Mẫu 2 dành cho CMHS) và đã tiến hành khảo sát với hai đối tượng trên Nội dung khảo sát thực trạng gồm:
- Hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình: Nhận thức về vai trò của hoạt
động phối hợp hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học sinh Thực hiện hoạt động phối hợp của nhà trường với gia đình học sinh Đánh giá việc thực hiện các phương pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình học sinh
- Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình: Đánh giá công tác quản
lý sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình Đánh giá những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường - gia đình