1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn luyện các kỹ năng tự học cơ bản cho học viên học viện kỹ thuật quân sự thực trạng và một số biện pháp quản lý

129 88 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 3,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm vừa qua, Học viện đã không ngừng đổi mới quá trinh dạy - học và rèn luyện để nâng cao chất lượng đào tạo nhằm cống hiến cho Quân đội những lớp sỹ quan - kỹ sư - đảng viên

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

LỜI CẢM ƠN 6

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Mục đích nghiên cứu 9

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 9

4 Giả thuyết khoa học 9

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

5.1 Xác định cơ sở lý luận về kỹ năng tự học cơ bản, về quá trình rèn luyện để hình thành kỹ năng tự học và thích hợp với thực tiễn quản lý và giảng dạy ở Học viện KTQS 9

5.2 Khảo sát đánh giá thực trạng rèn luyện một số kỹ năng tự học cơ bản cho học viên 9

5.3 Đề xuất những biện pháp quản lý phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện một số kỹ năng tự học cơ bản 9

6 Giới hạn của đề tài 9

7 Phương pháp nghiên cứu 10

7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết 10

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 10

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 12

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 12

1.2 Ý nghĩa, vai trò của kỹ năng học tập đối với chất lượng đào tạo 13

1.2.1 Mục tiêu của nền Giáo dục Việt nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa 13

1.2.2 Mơi liên hệ giữa kiến thức - kỹ năng - thái độ 14

Trang 3

1.2.3 Vai trò của kỹ năng đối với chất lượng đào tạo 17

1.3 Khái niệm kỹ năng tự học và một số kỹ năng tự học cơ bản 18

1.3.1 Khái niệm kỹ năng 18

1.3.2 Khái niệm kỹ năng tự học 19

1.4 Khái niệm quản lý và hệ thông biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện kỹ năng tự học cho học viên 26

1.4.1 Khái niệm quản lý 26

1.4.2 Hệ thống biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện kỹ năng tự học cho học viên 28

1.5 Kết luận chương 1 30

Chương II : THỰC TRẠNG RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TỰ HỌC VÀ CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ Ở HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ 32

2.1 Vài nét về Học viện Kỹ thuật quân sự 32

2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển 32

2.1.2 về cơ cấu tổ chức công tác đào tạo và nghiên cứu 33

2.1.3 về công tác đào tạo 34

2.2 Thực trạng giảng dạy, quản lý và học tập nhằm rèn luyện kỹ năng tự học cho học viên ở Học viện Kỹ thuật quân sự 38

2.2.1 Vai trò của Ban Giám đốc và các phòng ban chức năng về hoạt động rèn luyện kỹ năng tự học cơ bản cho học viên 38

2.2.2 Thực trạng hoạt động giảng dạy của giáo viên đối với việc rèn luyện các kỹ năng tự học cơ bản cho học viên 40

2.2.3 Thực trạng hoạt động của cán bộ quản lý đôi vđi việc rèn luyện kỹ năng tự học của học viên 44

2.2.4 Thực trạng việc rèn luyện kỹ năng tự học của học viên 47

2.3 Một số nguyên nhân chủ yếu 53

2.4 Kết luận chương II 54

Chương III CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ RÈN LUYỆN MỘT SỐ KỸ NĂNG TỰ HỌC CƠ BẢN CHO HỌC VIÊN 56

Trang 4

3.1 Nâng cao vai trò của nhà trường và các phòng ban chức năng về quản

lý rèn luyện kỹ năng tự học cho học viên 56

3.1.1 Nâng cao nhận thức về ý nghĩa và vai trò của các kỹ năng tự học đối vởi chất lượng đào tạo 56 3.1.2 Đầu tư cơ sở vật chất và xây dựng các chính sách nhằm phát triển phong trào tự học và rèn luyện kỹ năng tự học 57 3.1.3 Tăng cường tổ chức các hoạt động phục vụ phong trào tự học và rèn luyện

kỹ năng tự học trong Học viện 58 3.1.4 Nâng cao vai trò của phòng Đào tạo đôi với việc tể chức rèn luyện kỹ năng

tự học cho học viên 59 3.1.5 Tăng cường quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học và rèn luyện kỹ năng tự học 59

3.2 Nâng cao vai trò của đội ngũ giáo viên 61

3.2.1 Đổi mới các phương pháp giảng dạy giúp học viên rèn luyện các kỹ năng tự học 61 3.2.2 Tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giáo viên 63 3.2.3 Tăng cường rèn luyện kỹ năng tự học cho học viên trên lớp 64 3.2.4 Tăng cường kiểm tra và đánh giá việc rèn luyện kỹ năng tự học của học viên 68

3.3 Nâng cao vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý 69

3.3.1 Hoàn thiện nội quy, quy chế quản lý học viên và tiêu chuẩn người cán bộ quản lý học viên 69 3.3.2 Hoàn thiện mối liên hệ giữa Hệ quản lý học viên, đội ngũ giáo viên và các phòng ban chức năng 69 3.3.3 Sâu sát, gần gũi và tăng cường quán triệt về thái độ, động cơ tự học và rèn luyện các kỹ năng tự học cho học viên 70 3.3.4 Tăng cường quản lý việc xây dựng kế hoạch tự học và rèn luyện kỹ năng tự học của học viên 70 3.3.5 Nâng cao việc quản lý thời gian tự học và rèn luyện các kỹ năng tự học 71 3.3.6 Tăng cường quản lý nội dung tự học và rèn luyện các kỹ năng tự học 72

3.4 Kết luận chương III 72 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤ LỤC 79

Phụ lục 1 79

Phụ lục 2 82

Phu lục 3 88

Phụ lục 3 97

Phụ lục 4 109

Phụ lục 5 114

Phụ lục 6 118

Phụ lục 7 121

Phụ lục 8 127

Trang 6

Đặc biệt là những lời biết ơn sâu sắc về công lao dìu dắt, sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của thầy giáo, người hướng dẫn khoa học - Phó Giáo sư, Tiến sỹ Lê Sơn đã giúp tôi hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp này

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thế giới hiện nay có những biến đổi cực kỳ nhanh chóng cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học - kỹ thuật và công nghệ Theo tổng kết thì khối lượng kiến thức của nhân loại tăng lên gấp đôi sau thời gian khoảng từ năm tới bảy năm Toàn cầu hóa là xu thế chung của thời đại, trong đó các dân tộc cùng bắt tay để giải quyết những vấn đề chung của nhân loại như: nghèo đói, ô nhiễm môi trường, bệnh tật, xung đột sắc tộc.vv

Nền kinh tế thế giới đang chuyển dần sang nền kinh tế tri thức với hàm lượng tri thức cao và có vai trò quyết định trong các sản phẩm Đặc biệt cơ cấu tư bản với hơn 70% là tư bản con người đã đạt ra các yêu cầu từ đào tạo chuyên môri sang hình thành trình độ chuyên môn, bớt lao động tay chân và tăng cường dịch vụ đòi hỏi mỗi cá nhân phải có khả năng tự học, tự bồi dưỡng kiến thức mới đáp ứng được các nhu cầu không ngừng phát triển của xã hội

Mặt khác, các tác giả bản báo cáo của OECD nhan đề “Hiểu biết để phát triển”

đã khẳng định rằng một nhân viên có bằng đại học kỹ thuật ở Mỹ sẽ phải dành trung bình một phần tám quãng đời nghề nghiệp của mình để bồi dưỡng thêm Nền giáo dục truyền thống cho rằng: số kiến thức và kỹ năng học được ở nhà trường lúc còn trẻ về cơ bản có thể dùng cho suốt đời Tuy nhiên, đo tốc độ bùng nổ thông tin, giáo dục truyền thống đã bộc lộ những thiếu sót của nó Một cuộc điều tra ở Mỹ chứng tỏ: học sinh tốt nghiệp năm 1970 đến năm 1980 kiến thức đã bị hao mòn 50% và đến năm 1986 thì kiến thức này đã bị lão hóa hoàn toàn; 80% số kiến thức do nhu cầu của công việc và đời sống đòi hỏi nhưng không được học trong các nhà trường Do đó, chúng: ta cần nhấn mạnh vào việc tăng cường giáo dục tại chức, tự học và tích cực học tập suốt đời [1]

Đảng và Nhà nước ta không ngừng quan tâm và coi trọng đến sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) của đất nước, với quan điểm chỉ đạo “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu”, “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển” Đặc biệt, tại Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành trung ương, khóa VIII

đã chỉ rõ:

“Nâng cao năng lực tự học và thực hành cho học sinh ”, “Bảo đảm điều kiện

và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh ” [8]

Trang 8

Trong Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã nêu “Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề” [7]

Những vấn đề trên đòi hỏi phải thay đổi tư duy kịp thời, từ cách nhìn, tầm nhìn đến những yêu cầu rất cao về sự thích nghi Trong khi đó, thời gian dành cho việc học tập ở nhà trường chỉ khoảng 16 - 18 năm Chất lượng đào tạo hiện nay còn rất nhiều hạn chế, chưa chú trọng đến các năng lực thực hành, kỹ năng sống

và lao động thích ứng; nhất là các kỹ năng tự học (đọc, ghi chép, ôn tập, tự kiểm tra và đánh giá, tìm tài liệu, làm việc nhóm và lạp kế hoạch ) nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường năng động, của việc học tập sáng tạo và nhất là nhu cầu

tự học của con người Đó là những vấn đề cấp bách cần sự quan tâm của mọi người và toàn xã hội

Học viện Kỹ thuật quân sự (Học viện KTQS) là một trung tâm đào - tạo cán bộ

kỹ thuật cho Quân đội, là một trong những trường đại học lớn trực thuộc Bộ Quốc phòng và chịu sự quản lý và chỉ đạo của Bộ Giáo Dục & Đào Tạo Trong những năm vừa qua, Học viện đã không ngừng đổi mới quá trinh dạy - học và rèn luyện để nâng cao chất lượng đào tạo nhằm cống hiến cho Quân đội những lớp sỹ quan - kỹ sư - đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực hành động để đáp ứng được những yêu cầu

và đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ mới

Tuy nhiên, thực trạng công tác quản lý, đào tạo và rèn luyện cho học viên Học viện KTQS về các kỹ năng tự học còn chưa được chú trọng và quan tâm đúng mức Nhưng đây là công việc quan trọng và rất cần thiết phải làm; nó đòi hỏi sự

cố gắng và nỗ lực của toàn thể cán bộ, giáo viên và các phòng ban chức năng nhằm bồi dưỡng và rèn luyện cho học viên những kỹ năng tự học - công cụ rất quan trọng và cần thiết để tự học, tự bồi dưỡng và học suốt đời

Từ những bức xúc về thực tiễn bồi dưỡng, rèn luyện kỹ năng tự hộc cho học viên ở Học viện Kỹ thuật Quân Sự và do yêu cầu cần đào tạo ra những con người hành động, chúng tôi chọn đề tài “Rèn luyện các kỹ năng tự học cơ bản cho học viên Học viện Kỹ thuật Quân Sự : thực trạng và một số giải pháp quản lý” làm đề tài nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp Hy vọng và mong muốn của chúng tôi là đóng góp một phần nhỏ cho việc cải tiến và nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường mà chúng tôi đang làm việc, công tác

Trang 9

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động tự học, quá trình dạy - học

và lý thuyết về quá trình dạy học, các cơ chế tâm lý trong quá trình học tập; thực trạng quản lý hoạt động tự học của học viên Học viện KTQS; đề ra các biện pháp tăng cường quản lý nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện các kỹ năng tự học cơ bản của học viên

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu là học viên đang học tập tại Học viện Kỹ thuật Quân sự Đối tượng là các hoạt động tổ chức quản lý: vai trò tổ chức, lãnh đạo của nhà trường và hoạt động của các phòng ban chức năng; hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên và các hoạt động sư phạm khác nhằm rèn luyện kỹ năng tự học cơ bản cho học viên; các điều kiện đảm bảo để học viên tự học và rèn luyện kỹ năng tự học

4 Giả thuyết khoa học

Nếu có các biện pháp quản lý phù hợp với đặc điểm của học viên Học viện KTQS thì việc rèn luyện một số kỹ năng tự học cơ bản của học viên sẽ đạt hiệu quả cao

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Xác định cơ sở lý luận về kỹ năng tự học cơ bản, về quá trình rèn luyện để hình thành kỹ năng tự học và thích hợp với thực tiễn quản lý và giảng dạy ở Học viện KTQS

5.2 Khảo sát đánh giá thực trạng rèn luyện một số kỹ năng tự học cơ bản cho học viên

5.3 Đề xuất những biện pháp quản lý phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện một số kỹ năng tự học cơ bản

6 Giới hạn của đề tài

Nghiên cứu quá trình học tập và rèn luyện các kỹ năng tự học cơ bản của học viên hệ chính quy Học viện KTQS trong những năm gần đây

Trang 10

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Nghiên cứu tài liệu, sách báo, tư liệu lưu trữ, thống kê, báo cáo, tổng kết, sản phẩm của quá trình học tập: kết quả học tập liên quan đến đề tài

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Khảo sát thực tế quản lý, giảng dạy và học tập ở Học viện KTQS

- Điều tra bằng phiếu câu hỏi đối với 500 học viên, cán bộ quản lý Hệ II (hệ quản lý học viên chính quy) và giáo viên về thực trạng công tác quản lý các hoạt động tự học, các biểu hiện về hứng thú và tinh thần học tập

- Quan sát :

+ Tinh thần học tập, ý thức xây dựng bài của học viên trên lớp

+ Các biểu hiện về hứng thú, nhu cầu học tập (đi thư viện, nhà sách, làm thêm các bài tập, tìm hiểu kiến thức mới )

Trang 11

Sơ đồ 1

Trang 12

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Trong thời đại ngày nay, vấn đề tự học được xã hội và mọi người hết sức quan tâm, chúng ta đã có Hội Khuyến học được tổ chức với mạng lưới rộng khắp trong cả nước; sự ra đời của Trung tâm Nghiên cứu và phát triển tự học, của tạp chí Tự học do Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn làm Tổng biên tập đã có những đóng góp nhất định trong việc tổ chức, hướng dẫn hoạt động tự học trong xã hội Trong quá trình nghiên cứu vấn đề tự học, nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đi sâu tìm hiểu các kỹ năng tự học cơ bản Các nhà giáo dục Xô viết như: M.Y Piskunov với cuốn Tổ chức dạy học lý thuyết cho sinh viên, X.G Enconin và v.v Xerebriannicov với tác phẩm Phương pháp giảng dạy các môn khoa học xã hội, B.p Exipov tác giả cuốn Những cơ sở của lý luận dạy học đã nghiên cứu và chỉ ra những kỹ năng tự học cần thiết nhằm nâng cao kết quả học tập, trong đó kỹ năng đọc được đánh giá là kỹ năng quan trọng nhất; còn V.Okon (tác giả cuốn Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề) lại khẳng định,

để tự học có hiệu quả, thi người học phải biết cách kế hoạch hóa toàn bộ hoạt động tự học [38]

Nhà tâm lý học người Mỹ Carl Rogers - tác giả cuốn sách Phương pháp dạy và học có hiệu quả [5], đã đề cập tới các phương pháp dạy học - tự học như: cần cung cấp tài liệu cho người học, dùng bảng giao ước, chia nhóm để dạy học, hướng dẫn cho người học cách khảo cứu, tự thẩm định

Ở trong nước, học giả Hoàng Xuân Việt đã đề cập về kỹ năng đọc trong cuốn Thuật đọc sách báo [42], với các khía cạnh: tạo sao đọc? đọc cái gì? đọc cách nào? và những kỹ năng đọc như: đọc nhiều hay ít, nhanh hay chậm, đọc với đầu

óc phê bình, với tinh thần tập trung, đọc mà cố ý tự học, đọc làm sao mà nhớ vv Các tác giả của cuốn Giáo dục học [18] là Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt

đã chỉ rõ các biện pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động tự học là: hình thành ý thức tự học; đảm bảo thời gian tự học, bồi dưỡng phương pháp tự học, đảm bảo các điều kiện vật chất cho tự học; kiểm tra thường xuyên Trong tài liệu Một số hình thức tổ chức dạy học ở đại học [23], tác giả Đặng Bá Lãm

đã đề xuất một số biện pháp sư phạm đối với giáo viên để nâng cao chất lượng

tự học của sinh viên là: hướng dẫn phương pháp tự học; hình thành thói quen đọc sách; có kế hoạch kiểm tra việc tự học của sinh viên Tác giả Trịnh Quang

Từ đã viết riêng một phần về một số kỹ năng tự học cơ bản như: kỹ năng xây

Trang 13

dựng kế hoạch tự học, nghe và ghi chép bài giảng, đọc tài liệu và ghi, kỹ năng đọc sách và tài liệu, kỹ năng thi và kiểm tra trong cuốn Phương pháp tự học [37] Vũ Thị TườngVi đã viết tài liệu Rèn luyện kỹ năng tự học |4()| và tài liệu

Tự học những kỹ năng cơ bản, tập 1 [21], trong đó đã đi sâu phân tích các nguyên tắc, yêu cầu, nội dung và quy trình hình thành các kỹ năng : lập kế hoạch, nghe và ghi chép bài giảng, đọc tài liệu và ghi chép, học nhóm, ôn tập -thi Trong bài : Một số kỹ năng tự học chủ yếu ở sinh viên Cao đẳng Sư phạm [15] đăng trong Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 10/2000 Trần Minh Hằng đã chia kỹ nâng tự học thành 03 nhóm: kỹ năng định hướng vấn để (xác định vấn

đề, lập kế hoạch ), kỹ năng thực hiện kế hoạch (xác định tư liệu, đọc, thực hành, luyện lập ), kỹ năng kiểm tra - đánh giá vv

Nhìn chung, các kỹ năng tự học được xem xét còn rải rác ở các công trình nghiên cứu, chưa tập trung và sắp xếp lại thành hệ thống, chưa có quy trình hình thành những kỹ năng đó Việc xác định con đường bồi dưỡng rèn luyện kỹ năng

tự học cho người học chưa rõ và chưa được xem xét nhiều Một số tác giả đã đi sâu phân tích về ý nghĩa, nội dung, cấu trúc, các nguyên tắc và yêu cầu của các kỹ năng tự học; các phương pháp dạy người học những kỹ năng tự học nhưng chưa chú ý đề cập tới các biện pháp tổ chức, quản lý nhằm tạo các điều kiện cho việc rèn luyện kỹ năng tự học được tiến hành một cách thuận lợi Vì vậy, trong nội dung luận văn này, chúng tôi đề cập nghiên cứu các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện một số kỹ năng tự học cơ bản cho học viên Học viện KTQS

1.2 Ý nghĩa, vai trò của kỹ năng học tập đối với chất lượng đào tạo

1.2.1 Mục tiêu của nền Giáo dục Việt nam trong thời kỳ công nghiệp hóa

- hiện đại hóa

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX - Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định:

“ Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và tự tôn dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy bén với cái mới, có ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ” [7]

Trang 14

Mục tiêu giáo dục trong thời kỳ mới có các điểm đáng chú ý như sau: - Chúng

ta cần chú trọnc; đào tạo những con người nhân văn, nhân bản và nhân ái, tự tôn dân tộc, có lý tưởng xã hội chủ nghĩa; những vấn đề này đặc biệt quan trọng trong điều kiện toàn cầu hóa, bước vào một thế giới hòa nhập như hiện nay

- Chí tiến thủ lập nghiệp, làm chủ kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy bén với cái mới, ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ hiện đại

là những phẩm chất mới rất cần được đào tạo nhằm chống lại lối học tập nhồi sọ, giáo điều và lý thuyết suông vốn là những điểm yếu lâu đời của nền giáo dục nước ta

Mục tiêu chung đòi hỏi nhà trường phải giúp cho học sinh trang bị những gì cần thiết để đi vào cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh”, giúp cho học sinh vừa chiếm lĩnh khoa học vừa làm theo khoa học vừa biết áp dụng kiến thức công nghệ kỹ thuật giải quyết những vấn đề thực tiễn, thích nghi nhanh chóng với cuộc sống cộng đồng đang đổi mới hàng ngày Từ chỗ nhà trường chỉ dạy kiến thức khoa học đơn thuần đến chỗ chuẩn bị con người tự chi, năng động sáng tạo, có năng lực đi vào thực tiễn kinh tế - xã hội; thì dạy học phải gắn liền với công nghệ kỹ thuật và gắn liền với xã hội: Khoa học - công nghệ - xã hội - phát triển nhân cách

Mục đích giáo dục trên là kim chỉ nam chỉ đạo việc biên soạn chương trình và

kế hoạch dạy học và giáo dục; chỉ đạo việc lựa chọn nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học và giáo dục nước ta

1.2.2 Mơi liên hệ giữa kiến thức - kỹ năng - thái độ

“ Học về bản chất là sự tiếp thu, xử lý thông tin chủ yếu bằng các thao tác trí tuệ dựa trên vốn sinh học và vốn đạt được của cá nhân, từ đó có được tri thức, kỹ năng, thái độ mới” [26] Như vậy, nhiệm vụ của nhà trường đại học là trang bị cho sinh viên những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng về một lĩnh vực khoa học kỹ thuật nhất định ở trình độ hiện đại để sau khi ra trường học có khả năng lập nghiệp

Như mọi người đều biết, nội dung của học vấn thường được xác định bởi ba thành phần cơ bản, đó là : kiến thức - kỹ năng - thái độ; trong đó thành tố thái

độ được hiểu bao gồm: đạo đức và giá trị Cả ba thành tố này là nội dung tạo nên giá tri của con người, đồng thời tạo cho con người khả năng làm ra giá trị

xã hội

Trang 15

* Kiến thức (sự hiểu biết) bao gồm cả hiểu biết có tính chất lý luận cũng như hiểu biết có tính chất kinh nghiệm nhằm trả lời các câu hỏi: cái gì? thế nào? Hiểu biết là nội dung của trí dục và là cơ sở của năng lực và phẩm chất Con người không hiểu biết tức là không có điều kiện, khả năng nhận thức và giải thích thế giới Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên của nhà trường là trang bị cho người học hệ thống tri thức chung của nhân loại, của xã hội Hiểu biết không đầy đủ, lệch lạc sẽ rất tai hại và nguy hiểm, chúng làm cho người học nhìn và xem xét

sự vật, hiện tượng, xã hội một cách phiến diện, không khoa học Sự thiếu hiểu biết như vậy sẽ dễ da đến các quan điểm không đúng như: hữu khuynh, giáo điều, duy ý chí, xa vời thực tế vv

* Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nhất định trên

cơ sở tri thức có được; là trình độ thành thạo nhiều hay ít trong việò vận dụng các hiểu biết để giải quyết những vấn đề thực tiễn Vì vậy có thể nói kỹ năng là tri thức trong hành động; đó là nKững điều kiện hết sức cần thiết để lĩnh hội kiến thức và giải quyết những vấn đề của thực tiễn một cách thuận lợi Thí dụ như: khi chúng ta có các kỹ năng về nhận thức như: đọc, ghi chép, tổng hợp và

hệ thống hóa, tìm tài liệu, làm việc nhóm thì việc lĩnh hội tri thức sẽ nhẹ nhàng và hiệu quả hơn

Do đó, việc rèn luyện và hình thành cho người học những kỹ năng cơ bản về nhận thức và hành động là nhiệm vụ cấp thiết của nhà trường và các nhà giáo dục; “ Nguyên tắc về sự học có nền tảng rộng sẽ được thể hiện qua cấp học đầu tiên là học cách chăm sóc giữ gìn, phát triển thể chất và sức khỏe cá nhân

và tiếp thu những kỹ năng học tập cơ bản đối với mọi trẻ em” [31] Chúng ta cần khắc phục cách thức đào tạo theo kiểu “hàn lâm”, giáo điều xa dời thực tế; nhất là trong hoàn cảnh nền kinh tế đang chuyển hóa sang nền kinh tế thị trường đầy những biến đổi và phức tạp nên rất cần những con người thực tế, năng động

Trang 16

quyết những vấn đề của thực tiễn, tức là họ đã có quan niệm riêng của mình về thế giới, về các giá trị tốt đẹp của xã hội và có thang giá trị cao hơn Và rõ ràng

là khi đã hiểu và ý thức được các giá trị về lao động và cống hiến, đã có những phẩm chất đạo đức tốt và các năng lực về nhận thức hoàn chỉnh thì người học càng ham muốn và có ý chí vươn lên để chiếm lĩnh những tầm cao mới về tri thức

Qua phân tích nội dung của ba khái niệm: hiểu biết, kỹ năng và thái độ chúng ta thấy chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau và gắn bó chặt chẽ với nhau tronc; một thể thống nhất; trong khái niệm này có bao hàm một số thành phần của hai khái niệm kia Việc trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo là cơ sở cho sự phát triển trí tuệ và giáo dục người học Giáo dục thế giới quan, niềm tin, thái

độ, đạo đức vừa là kết quả của trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và phát triển trí tuệ vừa là mục đích của dạy học Như vậy, hiểu biết là cơ sở cho kỹ năng và thái độ và nói cho đến cùng chỉ cần hai khái niệm kỹ năng và thái độ là

đủ vì hai khái niệm đó cộng lại đã bao hàm đầy đủ những nội dung của hiểu biết Kiến thức, kỹ năng và thái độ của một con người tạo nên nhân cách của con người đó

Do đó, trong quá trình đào tạo cần chú ý đào tạo cân đối cả ba nội dung trên, không được thiên lệch mặt nào; nếu quá nhấn mạnh đào tạo về kiến thức mà coi nhẹ bồi dưỡng kỹ năng và thái độ, sẽ có sản phẩm là những "con mọt sách", những người chỉ biết đến sách vở, kiến thức ma không có hoặc rất kém về các

kỹ năng hành động giải quyết những vấn đề của thực tiễn; Nhưng nếu chỉ chú trọng đào tạo về kỹ năng, thực hành thì sẽ có sản phẩm là những con người làm thực tế rất giỏi - con người kinh nghiệm chủ nghĩa mà không phải là con người lao động sáng tạo; và nếu chỉ lo bồi dưỡng cho người học những phẩm chất đạo đức của con người mới thì sản phẩm là những con người chỉ “hồng” mà không

Trang 17

1.2.3 Vai trò của kỹ năng đối với chất lượng đào tạo

Như chúng ta đã biết: một nhà trường, một cơ sở đào tạo có được đánh giá là có chất lượng hay không tùy thuộc vào “ mức độ kiến thức tiếp thu được, kỹ năng, thái độ và hệ thống giá trị” [27] của sản phẩm ở đầu ra có đáp ứng được các yêu cầu của thực tế hay không? Học viên của trường đó có đủ năng lực để vận dụng kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề của cuộc sống? để đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của xã hội?

Người học, nhất là những sinh viên năm đầu tiên ở trường đại học thường rất bỡ ngỡ trước khối lượng kiến thức rất lớn được truyền thụ trong mỗi tiết học và hết sức lúng túng vì phương pháp học tập trong nhà trường phổ thông không còn thích hợp ở bậc đại học Vì vậy, việc hướng dẫn, bồi dưỡng và rèn luyện cho người học những kỹ năng hành động nói chung và kỹ năng tự học (nói riêng) cùng các phương pháp học tập mới, thích hợp là một trong những yêu cầu cấp bách và cần thiết phải làm Khi người học được bồi dưỡng và rèn luyện các kỹ năng tự học như: đọc, ghi chép, hệ thống hóa, tự kiểm tra và đánh giá, tìm tài liệu, làm việc nhóm, lập kế hoạch có nghĩa là họ đã có được trong tay một hệ thống công cụ phục vụ đắc lực cho hoạt động nhận thức Quá trình tìm hiểu, tiếp thu kiến thức sẽ ii hao tốn sức lực, thần kinh và có hiệu quả hơn; học viên

có điều kiện để tìm tòi, để hợp tác, để đào sâu tìm hiểu và vận dụng kiến thức đã học; việc học tập và rèn luyện của học viên có thể lường trước những thuận lợi

và khó khăn để khắc phục, vượt qua Cùng với việc bồi dưỡng và rèn luyện các

kỹ năng tự học, nhà trường cần tổ chức hướng dẫn và cho học viên làm quen với những kỹ năng cần thiết với cuộc sống như: kỹ năng phát hiện vấn đề, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng thu nhận ttìỡng tin, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thương lượng, kỹ năng tổ chức và lãnh đạo vv

Khi học viên được trang bị kiến thức và những công cụ hỗ trợ như vậy, chắc chắn họ sẽ tích lũy được một lượng kiến thức rộng và sâu; họ cổ điều kiện và khả năng để giải quyết những vấn đề của thực tiễn và ngày càng hoàn thiện hệ thống giá trị của bản thân Như vậy, cùng với hệ thống kỹ năng hành động, các

kỹ năng tự học có một vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo

Như vậy, việc hình thành các kỹ năng hành động, các kỹ năng tự học và tự nghiên cứu cho học viên trong các nhà trường là một trong những tiêu chí rất quan trọng để đánh giá về chất lượng đào tạo của mỗi nhà trường

Trang 18

Quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo và các phẩm chất về năng lực trí tuệ, năng lực hành động là một quá trình lâu dài; chúng được bắt đầu từ sự hiểu biết, tích lũy tri thức và từ nhu cầu giải thích thế giới, giải quyết những vấn đề trong thực tiễn cuộc sống Quá trình tìm hiểu và giải thích thế giới sẽ phát triển dần từ thấp tới cao, từ đơn giản đến phức tạp và ngày càng đòi hỏi khối lượng kiến thức tổng hợp hơn, tuy duy phức tạp hơn và nhiều kỹ năng hành động hơn Hầu hết các kỹ năng, kỹ xảo và các phẩm chất năng lực được tích lũy trong quá trình học tập, đào tạo và trong thực tiễn cuộc sống

Do đó trong quá trình đào tạo, lãnh đạo nhà trường, bộ máy quản lý và nhất là đội ngũ giáo viên cần quán triệt các quan điểm “ lấy phát triển bền vững người làm trung tâm" [14]; dạy học lấy người học làm trung tâm và "Dạy tốt là phải dạy cách học cho người học, giúp người học từng bước tự khẳng định mình" [291; truyền thụ kiến thức vừa bồi dưỡng và phát huy các kỹ năng về nhận thức, các kỹ năng thực hành và các phẩm chất đạo đức, thái độ đối với công việc cho người học Chúng ta cần đào tạo ra những thế hệ khi ra trường là

có thể làm việc được ngay, có năng lực hợp tác và giải quyết những vấn đề của thực tế cuộc sống Trong thời gian vừa qua, có một số cơ sở đào tạo đã mở rộng đào tạo theo quan điểm "quảng canh" chạy theo số lượng mà xem nhẹ chất lượng Cho nên, chúng ta cần nhấn mạnh quan điểm đào tạo lấy chất lượng làm tiêu chuẩn hàng đầu, chú trọng bồi dưỡng cho người học các phẩm chất và năng lực, nhất là năng lực hành động

1.3 Khái niệm kỹ năng tự học và một số kỹ năng tự học cơ bản

1.3.1 Khái niệm kỹ năng

Theo quan điểm tâm lý học thì kỹ năng là năng lực sử dụng hệ thống tri thức, những dữ kiện, những khái niệm đã có để phát hiện ra những thuộc tính của sự vật hiện tượng và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận hay thực tiễn nhất định

Kỹ xảo là loại hành động được tự động hóa một cách có ý thức, nghĩa là được tự động hóa nhờ luyện tập

Việc hình thành kỹ xảo và quá trình luyện tập để hình thành kỹ xảo được diễn ra theo các quy luật sau :

Trang 19

Quy luật về sự tiến bộ không đồng đều của kỹ xảo: kết quả luyện tập kỹ xảo không chỉ phụ thuộc vào số lần lặp lại mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan và chủ quan khác

Quy luật đỉnh của phương pháp luyện tập: mỗi phương pháp luyện tập kỹ xảo chỉ đem lại một kết quả cao nhất đối với nó mà thôi Muốn đạt được kết quả cao hơn, phải không ngừng thay đổi phương pháp luyện tập, sử dụng phương pháp của đỉnh cao hơn Quy luật này cho thấy rõ sự cần thiết phải thay đổi thiíờng xuyên phiíơng pháp giảng dạy, học tập và công tác

Quy luật về sự tác động qua lại giữa kỹ xảo cũ và kỹ xảo mới: trong quá trình luyện tập kỹ xảo mới, những kỹ xảo cũ có ở người học có ảnh hưởng rõ rệt đến việc hình thành kỹ xảo mới Sự ảnh hưởng này có thể là tốt hoặc xấu Do đó, khi luyện tập kỹ xảo mới, ta cần chú ý tìm hiểu và tính đến có kỹ xảo đã có của người học

- Quy luật dập tắt kỹ xảo: một kỹ xảo đã được hình thành, nhưng nếu không được sử dụng thường xuyên thì sẽ bị suy yếu và cuối cùng có thể mất hẳn Cho nên cần lưu ý đến nguyên tắc "văn ồn, võ luyện" trong việc hình thành kỹ xảo [12]

1.3.2 Khái niệm kỹ năng tự học

1.3.2.1 Khái niệm

Tự học là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực và các phẩm chất nhân cách của bản thân người học bằng hành động của chính mình; là một hình thức tổ chức dạy học trong sự phối hợp với các hình thức tổ chức dạy học khác dưới sự tổ chức, điều khiển của giáo viên nhằm hoàn thành tốt mục đích và nhiệm vụ học tập

Tự học có hai mức độ, ở mức 1 là quá trinh cải thiện nhận thức mà ở đó giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng người học một đoạn đường nhất định để đi tới nhận thức tri thức nhân loại và thế giới xung quanh

Tự học ở mức độ 2 là quá trình cải tiến nhận thức của bản thân mà ở đó người học tự mình nhận thức, khám phá tri thức và thế giới xung quanh trên cơ sở các kiến thức đã lĩnh hội trước đó [21]

Trang 20

Kỹ năng tự học là hệ thống các thao tác tư duy, được thực hiện trong quá trình học tập nhằm thực hiện mục tiêu của hoạt động nhận thức do người học đề ra

Kỹ năng tự học là điều kiện bên trong rất quan trọng để người học thu được kết quả tự học theo yêu cầu của bản thân!

1.3.2.2 Phân loại kỹ năng tự học

Có nhiều cách phân loại kỹ năng tự học theo các tiêu chí khác nhau, ở phần trên chúng lôi đã phân loại tự học theo hai cấp độ là 1 và 2 Do đó tương ứng với hai cấp độ tự học ở trên, chúng ta có các kỹ năng tự học sau:

Trong quá trình tự học ở mức 1, người học cần có một số kỹ năng cơ bản như:

kỹ năng đọc, kỹ năng ghi chép, kỹ năng ôn tập, kỹ năng tự kiểm tra và đánh giá,

kỹ năng tìm tài liệu, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng lập kế hoạch vv Tự học

ở mức 2 đòi hỏi người học một số kỹ năng cơ bản như: kỹ năng tư duy sáng tạo,

kỹ năng đặt và lựa chọn bài toán, kỹ năng giải quyết vân đề, kỹ năng thu thập thông tin, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng tổ chức.vv [21] Trong luận văn này, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu công tác quản lý rèn luyện một

số kỹ năng tự học cơ bản ở mức tự học 1 cho học viên hệ dài hạn Học viện KTQS; và dưới đây là một số kỹ năng tự học cơ bản ở mức tự học 1

13.2.3 Một số kỹ năng tự học cơ bản

a Kỹ năng đọc

“Đọc là phát thành lời những điều đã được viết ra theo đúng trình tự; tiếp nhận nội dung của một tập hợp ký hiệu bằng cách nhìn vào các ký hiệu; hiểu thấu bằng cách nhìn vào các biểu hiện bề ngoài” [28]

Kỹ năng đọc là một quá trình nhận thức, trong đó người đọc nhận biết và vận dụng các thao tác tư duy để tìm hiểu và xác lập các mối liên hệ giữa kiến thức

đã có và kiến thức mới thu nhận nhằm phát hiện bản chất và các thuộc tính của

sự vật, hiện tượng được trình bày trong tài liệu

Vấn đề quan trọng nhất của kỹ năng đọc là đọc nhanh, hiểu và nắm bắt nhanh vấn đề đã được trình bày

Việc phân loại đọc rất phong phú và có nhiều cách đọc, theo tốc độ đọc ta có: đọc nhanh, đọc lướt, đọc chậm, vừa đọc vừa nghiền ngẫm v v; theo mục đích

Trang 21

đọc có các loại: xem, để biết, để giải trí, tìm hiểu, để học, để trau dồi kiến thức.v v; theo tư thế đọc có: vừa đi vừa đọc, đứng đọc, ngồi đọc, nằm đọc; theo phong cách đọc có các cách sau: đọc nghiên ngấu, đọc ào ào, đọc từ tốn chậm rãi, đọc có chọn lựa v v

Đọc có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động nhận thức, trong tự học của mỗi con người Hầu hết lượng kiến thức mà người học thu nhận được thông qua con đường nghe và đọc “Đọc ngoài mục đích tìm lạc thú tinh thần, còn mục đích chính là phát triển tinh thần, bổ khuyết vốn tri thức được cung cấp trong nhà trường và đáp ứng nhu cầu muôn mặt của con người trong công việc và cuộc sống” [42] và nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin, kinh tế tri thức và toàn cầu hóa như hiện nay

b Kỹ năng ghi chép Ghi chép là viết để lưu lại

Kỹ năng ghi chép là mức độ thành thạo của chủ thể khi viết ra những vấn đề muốn trình bày hoặc thể hiện những hiểu biết thu nhận được trong hoạt động nhận thức và trong cuộc sống

Yêu cầu của kỹ năng ghi chép là phải: ngắn gọn nhưng đủ ý, lôgic, mạch lạc và sạch sẽ Trong quá trình học tập, tùy theo mục đích và yêu cầu của nhiệm vụ học tập và của giá trị nội dung tài liệu mà người học có thể lựa chọn các ghi chép thích hợp:

Đề cương: là ghi lại những vấn đề cơ bản của nội dung tài liệu

Trích dẫn: là chép lại nguyên văn một câu nói, một luận điểm của tác giả

Luận đề: là hình thức trình bày ngắn gọn luận điểm của tác giả bằng ngôn ngữ của người viết

Tóm tắt: là trình bày ngắn gọn nội dung tài liệu, bài giảng (với số lượng từ ít nhất mà không làm thay đổi nội dung của tài liệu, bài giảng)

Ghi tự do: là ghi lại những suy nghĩ, nhận xét của bản thân với vấn đề đang xử

Tóm lại, chúng ta thường thấy hai cách ghi chép sau trong học tập, đó là:

Trang 22

- Ghi nguyên văn (trích dẫn), cách ghi này nhằm bổ sung các dữ kiện, tư liệu cho một công việc đang được tiến hành hoặc một kế hoạch sắp tiến hành

- Ghi tóm tắt, cách ghi này giúp người học rút ngắn thời gian khi cần đọc lại tài liệu, bài giảng

Cùng với kỹ năng đọc, kỹ năng ghi chép có tầm quan trọng rất lớn trong hoạt động học tập của cá nhân (nói riêng) và truyền bá tri thức, kinh nghiệm của nhân loại (nói chung); nếu như đọc để tìm hiểu, học và phát triển tinh thần thì ghi chép là một thao tác nhằm lưu giữ những thông tin, kiến thức, cảm xúc của con người - là cơ sở, là nguyên liệu cho quá trình tư duy của mỗi cá nhân, giúp từng con người có được hiểu biết, hình thành và phát triển những năng lực và phẩm chất và từng bước hoàn thiện hơn Trong quá trình ghi chép lại, lượng thông tin, kiến thức đã qua một quá trình tư duy (phân tích và tổng hợp) nhằm chế biến những kinh nghiệm và tri thức của nhân loại thành tri thức của người học Có thể nói một cách chắc chắn là, nếu không có sách, báo, tài liệu, bài giảng và những ghi chép của con người thì kho tàng tri thức của nhân loại sẽ

vô cùng nghèo nàn và phần lớn những tri thức và kinh nghiệm quý báu của con người sẽ mai một theo năm tháng; chúng ta không thể có một xã hội tiến hóa, văn minh như ngày nay

c Kỹ năng ôn tập (hệ thống hóa kiến thức)

“Ôn tập là học và luyện lại những điều đã học để nhớ, để nắm chắc” [28]

Kỹ năng ôn tập là những thao tác của tư duy nhằm hệ thống hóa kiến thức đã học (sắp xếp lại, tóm tắt, làm đề cương ) giúp người học nắm lại kiến thức đã học một cách hệ thống, cơ bản, chủ yếu nhằm biến kiến thức đã học hiểu biết của người học

Có thể đưa ra một số cách ôn tập chung nhất, cụ thể như sau:

Đọc lại các ghi chép, sau đó viết tóm tắt lại theo cách hiểu của bản thân

Phần nội dung ôn tập thành các phần nhỏ và bố trí thời lượng thích hợp cho mỗi phần

Cần ít nhất hai lần ôn cho một vấn đề, lần thứ nhất cần dành 2/3 thời gian để đọc lại toàn bộ kiến thức đã ghi chép và xác định các phần kiến thức cơ bản và ghi tóm tắt lại; ở lần thứ hai, viết lại thông tin như đã ôn ở lần đầu mà không

Trang 23

nhìn vào tài liệu, sau đó mở tài liệu để kiểm tra mức độ chính xác và bổ sung những thông tin còn thiếu

- Lập phiếu ôn tập, mặt trước để ghi các câu hỏi và mặt sau ghi các câu trả lời

- Tự trình bày lại vấn đề

- Tự lập các câu hỏi bằng cách chuyển các ý chính trong bài học thành câu hỏi

Ôn tập đóng một vai trò quan trọng trong quá trình học tập, giúp người học ghi nhớ lại kiến thức đã học một cách có hệ thống và chặt chẽ Đó là tiền đề quan trọng giúp người học vận dụng tốt kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề của thực tiễn cuộc sống

d Kỹ năng tự kiểm tra và đánh giá

Tự kiểm tra và đánh giá là hành động do chính chủ thể thực hiện nhằm xem xét mức độ hoàn thành công việc của bản thân theo kế hoạch đã được đề ra từ trước

Kỹ năng tự kiểm tra và đánh giá trong học tập là một trong các phẩm chất năng lực, được chính chủ thể thực hiện nhằm xem xét và đánh giá mức độ hoàn thành mục đích và nhiệm vụ học tập của mình

Tự kiểm tra và đánh giá kết quả trong học tập là một công việc rất quan trọng nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, phát hiện những sai sót trong quá trình học tập để tìm những biện pháp điều chỉnh (về thời gian, phương pháp và phương tiện ) và khắc phục (những lỗ hổng kiến thức hoặc những nhận thức sai lệch ) nhằm đạt kết quả học tập cao hơn Nhưng đây là một công việc khó khăn và phức tạp, nó đồi hỏi người học phải có ý chí, nghiêm khắc và luôn đòi hỏi cao ở bản thân; nó phải dựa vào những tiếu chuẩn khách quan của hoạt động nhận thức Kiến thức từ sách vở, tài liệu và bài giảng chỉ thực sự biến thành kiến thức của người học khi người học vận dụng và giải quyết được những vấn đề của học tập và thực tiễn cuộc sống Đối với các học viên đang học tập trong các trường đại học thì việc tự kiểm tra và đánh giá kết quả của hoạt động tự học có thể chỉ dừng ở mức: hiểu và nắm chắc kiến thức mới (cách đặt vấn đề, phương pháp luận và lôgic của vấn đề) và có thể vận dụng tự giải các dạng bài tập (nếu có) hoặc trình bày, thuyết trình lại toàn bộ hay một phần vấn

đề đã tìm hiểu

Trang 24

e Kỹ năng tìm tài liệu Tìm tài liệu là một phẩm chất tâm lý của người học nhằm xác định một cách nhanh nhất vị trí, số lượng và các dạng kiến thức cần quan tâm

Việc tìm kiếm và lựa chọn chính xác tài liệu liên quan với vấn đề mà mình đang quan tâm là một hoạt động có ý nghĩa rất lớn về mặt kinh tế nhằm tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc và tránh được những lãng phí vô ích trong học tập, nghiên cứu Với hai địa chỉ quen thuộc là nhà sách và thư viện, chúng ta cần cho học viên làm quen ngay với tủ phích tra cứu (đối với thư viện) và cách phân loại, sắp xếp sách ở các nhà sách (khoa học kỹ thuật, xã hội, tâm lý, tiểu thuyết, tham khảo, giáo khoa, truyện thiếu nhi ) Trên một số nhật báo thường có mục giới thiệu sách mới cũng cần được chúng ta quan tâm

Ngoài ra còn có công cụ tìm kiếm rất hữu hiệu trên mạng Internet, đó là http://www.yahoo.com, http://www.alltheweb.com, http://www.google.com ;

08/2000 thì http://www.google.com được đánh giá cao nhất Nếu chúng ta tìm kiếm tài liệu bằng tiếng Việt thì sử dụng http://www.vinaseek.com để tìm kiếm trong các trang Web trên lãnh thổ Việt Nam [21] Sau khi tìm được tài liệu thì công việc hết sức quan trọng là đánh giá và lựa chọn chính xác khối tài liệu cần thiết, liên quan tới vấn đề đang nghiên cứu Để làm được việc đó, công việc đầu tiên là đọc lướt Lời nói đầu, chương cuối cùng và Mục lục của tài liệu vì trong Lời nói đầu thường nêu tổng quan vấn đề và đề cập đến cách đặt và giải quyết vấn đề của tác giả, ở chương cuối cùng thường nêu những kết luận chính, tóm tắt các kết quả nghiên cứu, còn Mục lục cho chúng ta hình dung ra phạm vi, cấu trúc của vấn đề Sau đó bạn trả lời các câu hỏi sau; tại sao mình cần đọc tài liệu này? mình tìm kiếm được gì từ tài liệu này? tài liệu này đề cập đến vấn đề mà mình quan tâm như thế nào? các thông tin về xuất bản, tác giả từ đó cho chúng ta có thể lựa chọn được số lượng và chủng loại tài liệu cần thiết cho vấn

đề đang được quan tâm

Trang 25

f Kỹ năng làm việc nhóm

“Nhóm là một cộng đồng có từ hai người trở lên, giữa họ có một sự tương tác

và ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình thực hiện hoạt động chung” [16]

Kỹ năng làm việc nhóm là khả năng hợp tác của cá nhân với các thành viên của nhóm để cùng nhau giải quyết những vấn đề chung của nhóm và tập thể

Các yêu cầu khi làm việc theo nhóm là :

- Có một không khí thân thiện cởi mở và tin cậy lẫn nhau

- Có phương pháp giải quyết sự không nhất trí đới với một vấn đề

- Có sự thống nhất về các mục tiêu cần đạt

- Có sự thống nhất về các nguyên tắc trong quá trình làm việc

- Có cấu trúc tổ chức thích hợp (từ 4 - lo người) cho vấn đề cần giải quyết

- Vai trò của mỗi thành viên và mối quan hệ giữa các thành viên được xác định rõ ràng

Trong hoạt động học tập, có những loại nhiệm vụ khi làm việc với nhóm là:

- Học thuộc và đào sâu một vấn đề đã được trình bày

- Tổng kết, ôn tập kiến thức đã học để chuẩn bị cho hoạt động thi, kiểm tra

- Giải bài tập hoặc soạn thảo vấn đề mà giáo viên đề nghị

- Chuẩn bị các cuộc thi có tính sáng tạo

Làm việc nhóm có vai trò quan trọng trong việc hình thành và rèn luyện những phẩm chất vì mục đích chung của tập thể; nó còn giúp cho mỗi cá nhân nâng cao khả năng suy nghĩ, phát hiện vấn đề và nắm bắt thông tin; bổ sung phần kiến thức còn thiếu nhờ học hỏi lẫn nhau; tăng năng suất nêu ý tưởng và giải quyết vấn đề (khoảng 5 lần so với làm việc độc lập); nâng cao kỹ năng làm việc tập thể, kỹ năng thương lượng Nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin, toàn cầu hóa và kỷ nguyên tin học như hiện nay, ủy ban Quốc tế về giáo dục thế kỷ

Trang 26

XXI của UNESCO đã nêu 4 trụ cột của giáo dục, trong đó nêu rõ “ Học để chung sống, học cách sống với người khác” [13]

g Kỹ năng xây dựng kế hoạch tự học

Kế hoạch tự học là các nội dung học tập với các yêu cầu cụ thể được tiến hành trong thời gian hợp lý của mỗi cá nhân nhằm thực hiện tốt chương trình học tập

Kỹ năng xây dựng kế hoạch tự học là các thao tác tư duy nhằm bố trí, sắp xếp một cách hợp lý và khoa học các nội dung học tập với các yêu cầu cụ thể trong thời gian, không gian và các phương tiện học tập phù hợp với người lập kế hoạch nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ học tập của bản thân

Việc xây dựng kế hoạch tự học cần tuân theo các yêu cầu và nguyên tắc sau:

- Xác định đúng mục tiêu cần đạt tới

- Thời gian tự học phải phù hợp với lượng thông tin và yêu cầu của môn học

- Xen kẽ một cách hợp lỷ các dạng tự học, các môn học có tính chất khác nhau và giữa học tập và nghỉ ngơi

- Đảm bảo tính mềm dẻo và thực tiễn của kế hoạch

Việc xây dựng kế hoạch tự học có tầm quan trọng đặc biệt, giúp người học phân phối thời gian và công sức trong quá trình học tập một cách hợp lý; để có thể hình dung trước những khó khăn, thuận lợi khi tổ chức tự học để tìm cách khắc phục và chủ động hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập của mình

1.4 Khái niệm quản lý và hệ thông biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện kỹ năng tự học cho học viên

1.4.1 Khái niệm quản lý

1.4.1.1 Khái niệm và định nghĩa

Để tồn tại và phát triển, con người không thể hành động riêng lẻ mà cần phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung Quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần ngày càng được thực hiện trên quy mô lớn với tính chất và độ phức tạp ngày càng cao, càng đòi hỏi sự phân công và hợp tác để liên kết mọi người trong tổ chức Chính từ sự phân công, chuyên môn hóa lao động

Trang 27

đã xuất hiện một dạng lao động đặc biệt -lao động quản lý Hoạt động quản lý cần thiết với mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội, trong mỗi quốc gia và trên toàn cầu

Có nhiều định nghĩa về các khía cạnh khác nhau của quản lý, nhưng trong luận văn chỉ nêu một số định nghĩa tiêu biểu, đó là:

“Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường” [36]

“Quản lý là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người và với con người” [22]

1.4.1.2 Các nhân tố trong hoạt động quản lý

Trong quá trình quản lý có các nhân tố sau :

Kế hoạch hóa là việc xác định những mục tiêu và những quy định, thể thức, thời gian để đạt được những mục tiêu đó Kế hoạch hóa còn là bản hướng dẫn, để đầu tư nguồn lực theo nhu cầu để đạt được mục tiêu; là cơ sở để giám sát và đánh giá việc thực hiện các mục tiêu Như vậy, việc lập kế hoạch sẽ đi trước việc thực hiện các chức năng quản lý khác

Tổ chức là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên trong tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả Nhà quản lý cần lựa chọn cấu trúc hệ thống của tổ chức cho phù hợp với những mục tiêu và nguồn lực hiện có

Lãnh đạo là quá trình điều hành, tác động, huy động và giúp đỡ những cán bộ làm việc dưới quyền thực hiện những nhiệm vụ được phân công Đó là quá trình làm việc với con người như một nghệ thuật sao cho họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức

Chức năng quản lý của công tác kiểm tra và đánh giá là đo lường và chấn chỉnh những công việc đã và đang thực hiện nhằm bảo đảm rằng: các múc tiêu của tổ chức và các kế hoạch vạch ra để đạt tới các mục tiêu này đã, đang và sẽ được hoàn thành Nếu phát hiện có sự sai lệch thì cần điều chỉnh hoạt động, trong trường hợp cần thiết có thể điều chỉnh mục tiêu

Trang 28

1.4.1.3 Mục tiêu quản lý Mục tiêu quản lý là trạng thái được xác định trong tương lai của đối tượng quản

lý hay một số yếu tố cấu thành của nó

Mục tiêu quản lý không phải là năng suất hay chất lượng công tác của riêng một

cá nhân hay một nhóm mà là năng suất hay chất lượng của cả hệ thống nhờ đó

mà đạt được kết quả như mục tiêu chung đã đề ra

1.4.1.4 Mục tiêu quản lý quá trình GD&ĐT Mục tiêu quản lý quá trình GD&ĐT là chất lượng GD&ĐT toàn diện với các tiêu chuẩn về chính trị tư tưởng - đạo đức, văn hóa, khoa học kỹ thuật - công nghệ, tay nghề thực hành và thể chất Đó là kết quả tổng hợp của nhiều hoạt động của quá trình GD&ĐT và của các hoạt động đảm bảo cho quá trình đó Tổng quát, mục tiêu của quản lý quá trình GD&ĐT là: bảo đảm thực hiện đầy

đủ các mục tiêu, kế hoạch đào tạo và nội dung chương trình giảng dạy theo đúng tiến độ thời gian quy định (quản lý mục tiêu nội dung); đảm bảo quá trình GD&ĐT đạt chất lượng cao (quản lý mục tiêu chất lượng)

1.4.2 Hệ thống biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện kỹ năng tự học cho học viên

Trong các nội dung quản lý hoạt động tự học của học viên, ngoài việc hình thành cho người học động cơ, ý chí tự học; quản lý thời gian và kế hoạch tự học; quản lý nội dung tự học; quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học thì nội dung quản lý rèn luyện các kỹ năng tự học cơ bản (kỹ năng đọc, kỹ năng ghi chép, kỹ năng ôn tập, kỹ năng tự kiểm tra và đánh giá, kỹ năng tìm tài liệu, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng lập kế hoạch v v) cho học viên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Vì đó là những cơ sở cho các hoạt động nhận thức, cho hoạt động tự học của học viên

Để tổ chức quản lý rèn luyện kỹ năng tự học cho học viên có kết quả, cần áp dụng đồng bộ các biện pháp quản lý: từ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của nhà trường tới các hoạt động của các phòng ban chức năng, vai trò của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý

Trang 29

1.4.2.1 Nâng cao vai trò của nhà trường và các phòng ban chức năng về quản lý rèn luyện kỹ năng tự học cho học viên

Trong hoạt động của nhà trường thì vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của nhà trường và

sự phối hợp hành động của các phòng ban chức năng nhằm tổ chức rèn luyện kỹ năng tự học cho học viên có vai trò đặc biệt quan trọng Vì vậy, cần nâng cao nhận thức cho lãnh đạo nhà trường về ý nghĩa và vai trò của kỹ năng tự học đối với chất lượng đào tạo của nhà trường

Khi đã nhận thức được ý nghĩa và vai trò của kỹ năng tự học đối với chất lượng đào tạo thì việc đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng cơ chế chính sách, tổ chức các hoạt động sư phạm nhằm phát triển phong trào tự học và rèn luyện kỹ năng tự học trong nhà trường; đảm bảo các điều kiện cho các hoạt động tự học và rèn luyện kỹ năng tự học của học viên mới có trọng tâm và đi vào chiều sâu

Ngoài ra, các phòng ban chức năng trong nhà trường cần phối hợp với các khoa,

bộ môn và các Hệ quản lý học viên nhằm tổ chức tốt các điều kiện cho công tác rèn luyện kỹ năng tự học chò học viên Đặc biệt là phòng Đào tạo cần rà soát lại chương trình, sắp xếp thời khóa biểu tạo các điều kiện thuận lợi cho việc rèn luyện kỹ năng tự học cho học viên

1.4.2.2 Nâng cao vai trò của đội ngũ giáo viên Trong hoạt động rèn luyện kỹ năng tự học cho học viên thì đội ngũ giáo viên là yếu tố đóng vai trò quyết định

Từ nhận thức trên, lãnh đạo nhà trường, các phòng ban chức năng cần tổ chức bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên kiến thức về nghiệp vụ sư phạm; cần đổi mới quan niệm đánh giá về công tác giảng dạy của giáo viên Bằng các hoạt động thiết thực, giúp đội ngũ giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy mới nhằm phát huy tính tự lực, sáng tạo của học viên; cải tiến công tác biên soạn giáo án; thực hiện việc rèn luyện các kỹ năng tự học cho học viên ở trên lớp và tăng cường kiểm tra, đánh giá việc rèn luyện các kỹ năng tự học của học viên Nhà trường cần quan tâm tạo các điều kiện về vật chất và tinh thần, tạo ra cho đội ngũ giáo viên một động lực mới nhằm tổ chức lèn luyện các kỹ năng tự học cho học viên một cách hiệu quả

Trang 30

1.4.2.3 Nâng cao vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý

Để đáp ứng nhiệm vụ học tập, học viên Học viện KTQS phải ăn, ở, sinh hoạt, học tập và rèn luyện hoàn toàn trong môi trường quân sự suốt thời gian đào tạo Ngoài việc học tập trên lớp, các hoạt động khác như: ăn, ở, sinh hoạt và rèn luyện, tự học ở nhà của học viên đều do Hệ quản lý học viên quản lý Do đó, việc nâng cao vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý trong việc quản lý rèn luyện các kỹ năng tự học của học viên được coi là một biện pháp hỗ trợ cần thiết

Vì vậy, lãnh đạo nhà trường cần chỉ đạo các phòng ban chức năng tổ chức rà soát và hoàn thiện nội quy, quy chế quản lý học viên nhằm nâng cao hơn nữa vai trò quản lý, kiểm tra và giám sát của đội ngũ cán bộ quản lý; cần chuẩn hóa đội ngũ cán bộ quản lý học viên bằng những tiêu chuẩn về kiến thức, sức khỏe

và năng lực làm việc để cán bộ quản lý có thể sâu sát và giúp đỡ học viên về mọi mặt

Mặt khác, cần cải tiến và hoàn thiện mối liên hệ giữa Hệ quản lý học viên với đội ngũ giáo viên và các phòng ban chức năng để công tác quản lý việc học tập

và rèn luyện của học viên sâu sát và thực tế hơn

1.5 Kết luận chương 1

Trong thời đại bùng nổ thông tin và toàn cầu hóa kinh tế là xu thế chung của thời đại thì quan niệm phát triển bền vững đã gắn liền với xã hội hóa học tập và nguyên tắc học tập suốt đời ở Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản khái niệm học tập suốt đời đã có từ những năm 1970; ở Nhật Bản đã ban hành “Luật về duy trì hệ thống khuyến khích học tập suốt đời” vào 01/07/1990 trong đó đã nêu lên sự cần thiết phải dạy cho người học “những kỹ năng sống”; ở Trung Quốc khái niệm học tập suốt đời lần đầu tiên đã được Chính phủ mô tả và đề nghị chính thức trong Chương trình cải cách và phát triển giáo dục vào năm 1993; trong Kế hoạch chiến lược 1998 - 2002 của Bộ Giáo dục Mỹ, ở Mục tiêu chiến lược số 3

có nội dung “Đảm bảo con đường tiếp cận giáo dục sau trung học và học tập suốt đời” và trong Bảy ưu tiên của Bộ Giáo dục Mỹ (02/1997) thì yêu cầu đầu tiên đối với học sinh là “Tự học được vào cuối lớp ba” [6] Trong vấn đề học tập suốt đời thì tự học đóng vai trò then chốt, quyết định tương lai phát triển của mỗi cá nhân và mỗi quốc gia

Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng phát triển sự nghiệp giáo dục, với quan điểm chỉ đạo “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển” và chú trọng “Nâng cao

Trang 31

năng lực tự học và thực hành cho học sinh ”, “Bảo đảm điều kiện và thời gian

tự học, tự nghiên cứu cho học sinh ” đã luôn luôn tạo mọi điều kiện về vật chất

và tinh thần để mỗi cá nhân được học tập, rèn luyện và tu dưỡng nhằm phát triển đầy đủ các phẩm chất và tài năng của bản thân

Kỹ năng tự học có vai trò đặc biệt trong hoạt động nhận thức và trong hoạt động

tự học của mỗi cá nhân; nó là nền tảng để tiến hành các thao tác tư duy nhằm lĩnh hội kiến thức mới, cho các hoạt động nhằm áp dụng kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề mà thực tế đồi hỏi Trước đây, do nhận thức chưa đầy

đủ nên trong quá trình GD&ĐT chúng ta mới chỉ chú ý truyền thụ kiến thức và bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức cho người học mà coi nhẹ việc rèn luyện cho người học hệ thống kỹ năng, kỹ xảo, nhất là các kỹ năng giải quyết vấn đề của thực tế cuộc sống

Vì vậy, việc hình thành và rèn luyện cho người học những kỹ năng tự học cơ bản là mục tiêu và nhiệm vụ của mỗi người chúng ta, nhất là các thầy cô giáo và đội ngũ cán bộ quản lý; đó còn là trách nhiệm của mỗi người đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, với thế hệ mai sau

Trang 32

Chương II : THỰC TRẠNG RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TỰ HỌC VÀ CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ Ở HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ

2.1 Vài nét về Học viện Kỹ thuật quân sự

2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển

Học viện KTQS vừa là một trường đại học trong hệ thống các trường đại học của cả nước vừa là một trong 07 Học viện nằm trong hệ thống nhà trường của Quân đội nhân dân Việt Nam

Ngày 08 tháng 08 năm 1966 Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 146/CP thành lập Phân hiệu li Đại học Bách khoa với nhiệm vụ: đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật các loại có trình độ đại học, phục vụ yêu cầu riêng biệt của các binh chủng thuộc các lực lượng võ trang nhân dân; ngày 28 tháng 10 năm 1966, Bộ Quốc phòng cùng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp long trọng tổ chức lễ thành lập Phân hiệu II Đại học Bách khoa Hà Nội - tiền thân của Đại học Kỹ thuật quân sự (18/06/1968) và đến 16/02/1982 Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định công nhận là Học viện KTQS [19]

Học viện KTQS là một trung tâm GD&ĐT và khoa học công nghệ trong và ngoài quân đội với đội ngũ cán bộ giảng dạy đông đảo gồm 38 Giáo sư và Phó giáo sư (chiếm 7,6%), 389 Tiến sỹ và Thạc sỹ khoa học kỹ thuật (chiếm 69,8%); Học viện đào tạo kỹ sư quân sự thuộc các gốc ngành: Điện - điện tử, Tin học, Cơ khí, Động lực, Xây dựng và Hóa học; đồng thời đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ thuộc các ngành trên Ngoài ra Học viện còn được Chính phủ và Bộ Giáo Dục & Đào Tạo, Bộ Quốc phòng cho phép tuyển sinh đào tạo kỹ sư dân sự như các trường đại học công lập khác

Học viện có một thư viện với hơn 400.000 đầu sách, tạp chí và thường xuyên liên hệ chặt chẽ với hệ thống thư viện trong cả nước, đảm bảo cung cấp đầy đủ giáo trinh, tài liệu tham khảo phục vụ các hoạt động học tập và nghiên cứu của giáo viên và học viên

Với hệ thống các phòng thí nghiệm cơ bản và chuyên ngành, mạng máy tính nội

bộ và một Trung tâm huấn luyện thực hành hoàn chỉnh; hệ thống giảng đường với trang thiết bị dạy học tương đối hiện đại

Học viện luôn đảm bảo các điều kiện vật chất một cách tốt nhất để phục vụ các hoạt động học tập, thực hành và nghiên cứu trong nhà trường

Trang 33

(Mọi số hình ảnh về Học viện KTQS - Phụ lụcl)

2.1.2 về cơ cấu tổ chức công tác đào tạo và nghiên cứu

Về tổ chức, trong Ban giám đốc có:

- Giám đốc Học viện kỹ thuật quân sự phụ trách chung và phụ trách nghiên cứu

- Phó Giám đốc phụ trách đào tạo

Cơ quan giúp việc gồm: phòng Đào tạo, phòng Sau đại học, phòng Quản lý khoa học công nghệ và môi trường

Tư vấn cho ban Giám đốc có Hội đồng khoa học Học viện gồm 45 thành viên đều là các Giáo sư và Phó Giáo sư

3 Khoa Kỹ thuật điều khiển: giảng dạy, chủ trì đào tạo kỹ sư tên lửa, kỹ sư điều khiển tự động và đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ

4 Khoa Vũ khí: giảng dạy, chủ trì đào tạo kỹ sư các ngành vũ khí, đạn thuốc phóng thuốc nổ, khí tài quang học và đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ

5 Khoa Động lực: giảng dạy, chủ trì đào tạo kỹ sư các ngành xe quân sự (xe tăng, thiết giáp, xe máy công binh), các thiết bị động lực và thiết bị điện trên xe quân sự, tàu thủy và máy bay; đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ

6 Khoa Cơ khí: giảng dạy các môn kỹ thuật cơ sở thuộc gốc ngành điện; chủ trì đào tạo kỹ sư, thạc sỹ và tiến sỹ các ngành: chế tạo máy, gia công áp lực, nhiệt luyện và vật liệu

7 Khoa Vô tuyến điện tử: giảng dạy các môn kỹ thuật cơ sở thuộc gốc ngành điện; chủ trì đào tạo kỹ sư, thạc sỹ và tiến sỹ các ngành gốc thông tin, ra đa

Trang 34

8 Khoa Công trình quân sự: chủ trì đào tạo kỹ sư, thạc sỹ và tiến sỹ các ngành: công sự, công trình ngầm, cầu đường, sân bay và công trình biển đảo

9 Khoa Khoa học xã hội : giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn cho các đối tượng học viên

10 Khoa Quân sự : giảng dạy các môn về khoa học quân sự và TDTT

11 Khoa Chỉ huy tham mưu kỹ thuật : chủ trì đào tạo kỹ sư, thạc sỹ và tiến sỹ

về chỉ huy quản lý kỹ thuật và bổ túc ngắn ngày cho sỹ quan về lĩnh vực chỉ huy quản lý kỹ thuật

12 Khoa Ngoại ngữ: dạy tiếng Anh, tiếng Nga cho các đối tượng học viên và tiếng Việt cho học viên nước ngoài (Lào, Cămpuchia)

Các chuyên ngành đào tạo: Xe quân sự, Xe máy công binh, Động cơ máy bay, Máy tàu, Vũ khí, Đạn, Thiết bị hàng không, Thiết bị điện tàu, Pháo tàu, mìn, Tên lửa, phòng không, Vũ khí hàng không, Tên lửa và ngư lôi, Ra đa, Vô tuyến điện không quân, Vô tuyến điện hải quân, Thông tin, Công trình quốc phòng, Tin học, Khí tài quang học, Thuốc phóng thuốc nổ

Các văn bằng cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ do Học viện cấp là các văn bằng do nhà nước Việt Nam quản lý với trình độ học vấn chuẩn quốc gia

Để hỗ trợ cho việc học tập và rèn luyện của học viên, Học viện KTQS có các

Hệ quản lý học viên như: Hệ I, Hệ II (quản lý học viên chính quy 05 năm), Hệ III (quản lý học viên Lào, Cămpuchia), Hệ IV (quản lý học viên sỹ quan gồm chuyển cấp đại học, tại chức và bằng 2), Hệ V (quản lý học viên sỹ quan học cao học và nghiên cứu sinh), Hệ VI (quản lý học viên dân sự) Hệ quản lý học viên có các nhiệm vụ như sau: “ quản lý quá trình học tập, rèn luyện học viên

về mọi mặt; tổ chức công tác Đảng, công tác chính trị cùng các phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa trong đơn vị học viên; tổ chức các hoạt động về phương pháp học tập, xây dựng đơn vị” [20]

2.1.3 về công tác đào tạo

2.1.3.1 Mục tiêu và yêu cầu đào tạo

Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo (dài hạn 05 năm), học viên tốt nghiệp

ra trường sẽ được cấp bằng tốt nghiệp kỹ sư theo từng chuyên ngành đào tạo và được phong quân hàm sỹ quan về trình độ chuyên môn, học viên phải đạt được:

Trang 35

- Về chính trị tư tưởng : tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, yên tâm công tác, gắn bó lâu dài với binh nghiệp cách mạng, yêu ngành yêu nghề, có đủ sức khỏe để phục vụ lâu dài trong quân đội, sẩn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao

- Về chuyên môn nghiệp vụ : các kỹ sư quân sự có thể hoạt động ở các cương vị sau:

+ Làm trợ lý kỹ thuật của các trạm, xưởng sửa chữa, nhà máy sản xuất quốc phòng, các cơ sở nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự của quân đội

+ Làm trợ lý kỹ thuật ở các Phòng, Ban kỹ thuật cấp Trung đoàn, Lữ đoàn, Sư đoàn bộ binh, bộ binh cơ giới, các Quân đoàn, Quân khu và các Binh chủng kỹ thuật

+ Làm giáo viên khoa học kỹ thuật quân sự cho các trường trong quân đội

Sau thời gian công tác, học tập và rèn luyện ở đơn vị, các kỹ sư quân sự có thể phát triển theo các hướng:

+ Các kỹ sư quân sự có khả năng về khoa học kỹ thuật sẽ được tiếp tục bồi dưỡng, đào tạo cao học hoặc nghiên cứu sinh để trở thành chuyên gia kỹ thuật quân sự

+ Những kỹ sư quân sự có khả năng quản lý, chỉ huy sẽ được đào tạo tiếp để trở thành những cán bộ chỉ huy tham mưu kỹ thuật cấp chiến thuật chiến địch

2.1.3.2 Đối tượng và lưu lượng đào tạo

Hàng năm Học viện KTQS nhận đào tạo của khoảng hơn 3.500 học viên theo học các loại hình: quân sự dài hạn (05 năm), chuyển cấp đại học (03 năm), bổ túc (01 năm), chuyên loại kỹ sư (02 năm), cao học và nghiên cứu sinh (02 năm)

và hệ dân sự (05 năm)

a Đối tượng tuyển sinh hệ quân sự

Tất cả nam, nữ thanh niên đã tốt nghiệp trung học phổ thông, bổ túc văn hóa, trung học chuyên nghiệp có độ tuổi từ 17 - 21; quân nhân tại ngũ hoặc bộ đội

Trang 36

xuất ngũ từ 18 - 23 tuổi có nguyện vọng học tập và phục vụ lâu dài trong quân đội

Tiêu chuẩn : có phẩm chất tốt, đủ điều kiện trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam; lịch sử chính trị mọi thành viên trong gia đình trong sạch, rõ ràng; có sức khỏe loại 1

b Đối tượng tuyển sinh hệ dân sự: theo quy chế tuyển sinh của Bộ GD&ĐT

c Đặc điểm của học viên hệ quân sự dài hạn

Do đặc điểm của nhà trường quân sự vừa là nhà trường, vừa là đơn vị quân đội nên các học viên đang đào tạo được hưởng chế độ bao cấp về mọi mặt

từ ăn, mặc, học hành đến phụ cấp tiêu vặt (theo bậc quân hàm) trong suốt thời gian đào tạo Khi ra trường, học viên được phong hàm kỹ quan, có bằng Cử nhân và được bố trí sắp xếp công việc mà không phải thi thố tài năng để tìm việc làm Điều đó kích thích học viên thi tuyển vào các nhà trường quân sự nhưng không kích thích được sự nỗ lực, cố gắng vươn lên trong học tập

Mặt khác, do việc phân nhóm học tập ửiLíờng bị chi phối bởi biên chế nhóm, tổ theo các hoạt động rèn luyện quân sự trong nhà trường mà không được hình thành trên tinh thần tự nguyện hợp tác và biến đổi linh hoạt: về nội dung, địa điểm, mục đích và hứng thú học tập; hoạt động của học viên được bố trí theo thời gian biểu nghiêm ngặt “10 chế độ trong ngày” [3], thời gian tự học chỉ được tiến hành trong một khoảng thời gian nhất định và chịu sự quản lý, duy trì của cán bộ quản lý chuyên trách

Các đặc điểm trên có ảnh hưởng rất lớn đến việc rèn luyện các kỹ năng học tập

cơ bản của học viên Học viện KTQS và là một nét riêng, đặc thù khác với việc rèn luyện các kỹ năng học tập đồi với sinh viên trong hệ thống các trường đại học của cả nước

2.1.3.3 Quy trình đào tạo

Hiện nay tại Học viện KTQS có hai loại hình đào tạo chính là:

Đào tạo hệ quân sự dài hạn (05 năm học tập tại Học viện và 08 tháng học tập quân sự tại các trung tâm huấn luyện chiến sỹ mới đối với các thí sinh trúng tuyển tại kỳ thi tuyển sinh theo quy định của Bộ GD&ĐT và Bộ Quốc phòng), theo đúng quy chế học tập và kiểm tra, thi công nhận tốt nghiệp của Bộ GD&ĐT và Bộ Quốc phòng

Trang 37

Đào tạo chuyên tu (03 năm) đối với học viên là các sỹ quan quân đội đã được đào tạo qua các Trường sỹ quan Kỹ thuật và cũng phải qua kỳ thi tuyển sinh theo quy định của Bộ GD&ĐT và Bộ Quốc phòng (số học viên này xét lưu ban, lên lớp như loại hình đào tạo dài hạn)

Ngoài ra, Học viện còn đào tạo các hệ kỹ sư dân sự, hệ cao đẳng và trung học ngành công nghệ thông tin (dân sự) và đào tạo sau đại học (thạc sỹ và tiến sỹ), nhưng do đối tượng nghiên cứu của luận văn là học viên quân sự hệ dài hạn nên chúng tôi không đề cập tới quy trình đào tạo của các đối tượng này

Trang 38

Sơ đồ 2 HỆ THỐNG ĐÀO TẠO HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ

2.2 Thực trạng giảng dạy, quản lý và học tập nhằm rèn luyện kỹ năng tự học cho học viên ở Học viện Kỹ thuật quân sự

2.2.1 Vai trò của Ban Giám đốc và các phòng ban chức năng về hoạt động rèn luyện kỹ năng tự học cơ bản cho học viên

Đảng ủy và ban Giám đốc Học viện KTQS luôn quan tâm sâu sắc tới chất lƣợng đào tạo, tới kết quả học tập và tu dƣỡng của học viên Từ ngày 29/11/1988 Giám đốc Học viện đã ra chỉ thị cho các tổ chức nghiên cứu, giảng dạy của Học

Trang 39

viện phải nỗ lực “ thực hiện chủ trương biến quá trình đào tạo thành quá trình

tự đào tạo, nhằm trang bị cho học viên khả năng tư duy độc lập, năng động và sáng tạo” [19] Trong các Chỉ thị về nhiệm vụ năm học hàng năm, Giám đốc Học viện luôn nhấn mạnh yêu cầu phải đảm bảo duy trì và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo

Đối với học viên năm thứ nhất (sau khi hoàn thành công tác huấn luyện quân sự

ở các Trung tâm huấn luyện của Quân đội), ngay sau khi tập trung về Học viện, Đảng ủy và Ban Giám đốc đã cử đ/c Chủ nhiệm Chính trị gặp gỡ và nói chuyện

về truyền thống rèn luyện và trưởng thành của Học viện KTQS nhằm giáo dục cho học viên truyền thống hào hùng và vẻ vang của hơn 30 năm phấn đấu và phát triển của Học viện; về học phong trào tự học, phong trào nghiên cứu khoa học và nhĩíng thành tích của học viên trong các kỳ thi học sinh giỏi toàn quốc, các kỳ Olympic: toán, tin học, vật lý, cơ học v v Vào ngày 19/05 hàng năm, Học viện đều tổ chức Hội nghị công tác về nghiên cứu khoa học để đánh giá và khen thưởng các hoạt động nghiên cứu khoa học, cải tiến phương pháp học tập

và giảng dạy; để cán bộ, giáo viên và học viên báo cáo kết quả và thành tích nghiên cứu khoa học; để trao đổi kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy

Ban Quản lý đào tạo đã kết hợp cùng Nhóm phương pháp (thuộc phòng Đào tạo) và các Hệ quản lý học viên, nói chuyện về phương pháp học tập ở bậc đại học, nêu vai trò và tầm quan trọng của kỹ năng tự học trong việc học tập, giới thiệu một số kỹ năng tự học cơ bản v.v; phổ biến quy chế học tập, rèn luyện

và sinh hoạt cho học viên mới; giới thiệu cho học viên về cơ cấu tổ chức (các phòng, ban, khoa v.v) và hệ thống phục vụ các hoạt động học tập (giảng đường, thư viện, phòng máy tính, phòng thí nghiệp, xưởng thực hành, các trung tâm nghiên cứu vv) và sinh hoạt, rèn luyện (trung tâm thể thao, nhà ăn, ký túc xá )

Trang 40

2.2.2 Thực trạng hoạt động giảng dạy của giáo viên đối với việc rèn luyện các kỹ năng tự học cơ bản cho học viên

Khảo sát sự quan tâm chú ý của đội ngũ giáo viên đối với hoạt động tự học và rèn luyện kỹ năng tự học của học viên, qua Phiếu điều tra (Phụ lục 5) gồm 14 nội dung với một số cán bộ giáo viên ở các khoa, chúng tôi thu đƣợc kết quả nhƣ sau:

Nhƣ vậy, 100% ý kiến của giáo viên đƣợc hỏi đều đánh giá rất cao vai trò của

kỹ năng đọc đối với kết quả học tập của học viên và 85,31% ý kiến của giáo viên cho rằng việc ghi bài giảng của học viên ở trên lớp là cần thiết Kỹ năng ôn tập đƣợc 100% ý kiến của giáo viên cho là rất quan trọng và cần thiết; có 61,22% ý kiến của giáo viên về sự quan trọng và cần thiết của kỹ năng tự kiểm tra và đánh giá, nhƣng vẫn có 18,57% ý kiến của giáo viên cho rằng kỹ năng này không cần thiết trong quá trình học tập của học viên Có 80,39% ý kiến của giáo viên đánh giá kỹ năng tìm tài liệu là quan trọng và cần thiết; kỹ năng làm việc nhóm chỉ có 38,32% ý kiến đánh giá của giáo viên là không quan trọng và cần thiết, Kỹ năng lập kế hoạch đƣợc 82,31% giáo viên đánh giá cao

Nhƣ vậy, nhìn chung cả 07 kỹ năng tự học cơ bản đều đƣợc các thầy cô đánh giá: có vai trò quan trọng đối kết quả học tập của học viên; đó là tín hiệu đáng mừng bởi nó đã thể hiện đƣợc nhận thức của đội ngũ cán bộ giáo viên về vai trò của các kỹ năng tự học đối với kết quả học tập rèn luyện của học viên

Ngày đăng: 02/01/2021, 13:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w