Một trong những quan điểm chỉ đạo phát triển GD – ĐT của Đảng ta là: GD-ĐT phải phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu, cả về số lượng lẫn chất lượng, trọng tâm phải dần dần nâng cao chất lượn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Vương Thị Kim Hồn
QUẢN LÝ GIẢNG DẠY MƠN TIẾNG ANH CỦA TỔ TRƯỞNG BỘ MƠN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP NGỒI CƠNG LẬP TẠI TP HỒ CHÍ MINH
–THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS HỒNG TÂM SƠN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2008
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn:
- Lãnh đạo, các phòng, ban chức năng và Khoa tâm lý – Giáo dục
Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh;
- Các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ;
- Các Anh, Chị thuộc Phòng Khoa học Công nghệ & Sau đại học; các
Anh , Chị trong Khoa Tâm lý – Giáo dục; cùng các bạn đồng môn trong lớp Cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục – Khóa 16 ( 2005 – 2008);
- Lãnh đạo cùng các Anh, Chị đồng nghiệp ở các trường Trung cấp
chuyên nghiệp tư thục Kinh tế - Kỹ thuật Tây Nam Á, trường Trung cấp chuyên nghiệp tư thục Kinh tế - Kỹ thuật Phương Đông, trường Trung cấp chuyên nghiệp tư thục Kinh tế - Kỹ thuật Sài gòn, Trung cấp chuyên nghiệp dân lập Công nghệ thông tin Sài gòn,
đã tạo diều kiện thuận lợi, tận tình giảng dạy, hỗ trợ, giúp đỡ và động viên chúng tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn Thầy hướng dẫn – PGS TS Hoàng Tâm Sơn đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo và động viên chúng tôi trong quá trình tiến hành luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng, song luận văn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong Quý Thầy, Cô và các Anh, Chị đồng nghiệp tận tình chỉ bảo thêm
Tp HCM, tháng 01 năm 2008
Vương Thị Kim Hoàn
Trang 3- TCCN KT – KT Tây Nam Á: Trung cấp chuyên nghiệp kinh tế - kỹ
thuật Tây Nam Á
- TCCN KT – KT Phương Đông: Trung cấp chuyên nghiệp tư kinh tế -
kỹ thuật Phương Đông
- TCCN KT – KT Sài Gòn: Trung cấp chuyên nghiệp kinh tế - kỹ
thuật Sài Gòn
- TCCN CN – TT Sài Gòn: Trung cấp chuyên nghiệp công nghệ -
thông tin Sài Gòn
Trang 4MỞ ĐẦU Ø1 Lý do chọn đề tài:
Thế kỷ XXI là thế kỷ của văn minh trí tuệ với các nét đặc trưng đã rõ ràng, như
sự nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các cơng nghệ cao, cơng nghệ thơng tin, kinh tế tri thức …vào thực tế đời sống xã hội Xu thế thời đại là sự tồn cầu hố, khu vực hố với các mặt đối lập như: hợp tác và cạnh tranh, liên kết và độc lập…
Để đáp ứng nhiệm vụ cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước trong bối cảnh Việt nam là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới, thì việc quan trọng bậc nhất là đào tạo một nguồn nhân lực cĩ đủ phẩm chất và năng lực thực hiện nhiệm vụ trên Thực tế cho thấy trong thời gian vừa qua cơng tác đào tạo nguồn nhân lực của nước ta cịn cĩ một số vấn đề bất cập, dẫn đến sự thiếu hụt về nguồn lực cả về lượng lẫn về chất, trong đĩ sự thiếu hụt về chất là một vấn đề nghiêm trọng cần được quan tâm đặc biệt để từ đĩ tìm ra các giải pháp, biện pháp khắc phục
Một trong những quan điểm chỉ đạo phát triển GD – ĐT của Đảng ta là:
GD-ĐT phải phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu, cả về số lượng lẫn chất lượng, trọng tâm phải dần dần nâng cao chất lượng để người học đạt tới các chuẩn mực quốc tế về kiến thức
và kỹ năng, cĩ trình độ ngoại ngữ đủ để giao tiếp trong cuộc sống, giao dịch trong hoạt động nghề nghiệp GD-ĐT phải gĩp phần chuẩn bị con người cho nước ta hội nhập thành cơng.[ 3]
Trong bối cảnh tồn cầu hĩa và hội nhập quốc tế, hơn lúc nào hết, ngoại ngữ khơng chỉ là một cơng cụ giao tiếp mà cịn giúp cho người sử dụng nĩ tiếp thu các tư tưởng và kỹ thuật tiên tiến, đồng thời tạo lập những mối quan hệ cần thiết, nhiều khi cĩ tính quyết định cho thành cơng Với ngơn ngữ quốc tế, chúng ta cĩ thể tiếp thu cĩ chọn lọc những trào lưu tư tưởng văn hĩa lớn, những cơng nghệ tiên tiến cũng như làm cho thế giới hiểu rõ con người và bản sắc dân tộc Việt nam
Trang 5Để đáp ứng những yêu cầu trên, đòi hỏi chúng ta rất cần những giải pháp đồng
bộ từ chính sách vĩ mô của nhà nước, đến công tác triển khai thực hiện ở các cấp học, ngành học trong từng giai đoạn cụ thể Trong giai đoạn hiện nay, để khắc phục tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”của đất nước, nhà nước đã thực hiện chủ trương lớn là mở rộng các loại hình đào tạo, trong đó một trong những trọng tâm chú ý là đào tạo công nhân kỹ thuật, thông qua việc ưu tiên cấp phép thành lập các trường TCCN Trường TCCN là trường đào tạo các công nhân, kỹ thuật viên lành nghề Trường góp phần cung cấp nguồn nhân lực cho đất nước Trường có trách nhiệm đào tạo những HS đã tốt nghiệp phổ thông trung học không những phải giỏi về trình độ chuyên môn nghiệp
vụ mà còn phải giỏi về ngoại ngữ, trong đó có tiếng Anh, giúp cho họ có đủ năng lực
sử dụng tiếng Anh trong học tập và nghiên cứu, kết hợp với vốn kiến thức chuyên ngành được đào tạo để tiếp cận với công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Nâng cao chất lượng giảng dạy, trong đó có giảng dạy tiếng Anh ở các cấp học là đòi hỏi bức xúc của xã hội và chất lượng giảng dạy tiếng Anh tại các trường TCCN ngoài công lập cũng không là ngoại lệ QL việc giảng dạy tiếng Anh là một trong những giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng giảng dạy, qua đó sẽ nâng cao trình độ ngoại ngữ cho HS Thế nhưng, việc QL giảng dạy môn tiếng Anh ở một số trường TCCN ngoài công lập mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng vẫn còn có những bất cập khiến chưa đạt hiệu quả cao Đề tài “Quản lý giảng dạy môn tiếng Anh của tổ trưởng bộ môn ở một số trường Trung cấp chuyên nghiệp ngoài công lập tại TP.HCM – Thực trạng và giải pháp” là một trong những hướng nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ cho HS
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trước yêu cầu phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, trong đó có vấn đề trang bị ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng, trong thời gian qua có rất nhiều nhà khoa học, cán bộ giảng dạy đã
Trang 6tập trung nghiên cứu vấn đề QL việc dạy và học ngoại ngữ ở các cấp học và các loại hình đào tạo Có thể liệt kê một số đề tài sau:
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành QLGD của Nguyễn Đức Quyết “Thực trạng và một số giải pháp QL nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả sử dụng ngoại ngữ của cán bộ giảng dạy Trường Đại học Sư phạm TP HCM” năm 2002 Ở luận văn này, tác giả đã khảo sát thực trạng về trình độ ngoại ngữ, về hiệu quả sử dụng ngoại ngữ trong việc học tập cũng như việc nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên ở trường Đại học sư phạm, đã tìm ra nguyên nhân của thực trạng đó Trên cơ sở thực trạng, nguyên nhân và những quy định của chính phủ, tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả sử dụng ngoại ngữ của đội ngũ cán bộ giảng dạy trong trường Đại học sư phạm.[ 27]
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành QLGD của Trần Thị Bình “Thực trạng và biện pháp nâng cao hiệu quả công tác QL việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM” năm 2002 Ở luận văn này, tác giả
đã tìm hiểu thực trạng việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên tại Trường Đại học Sư phạm TP HCM, đã tìm ra nguyên nhân và trên cơ sở đó đưa ra những biện pháp cụ thể về công tác QL việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên tại Trường Đại học Sư phạm TP HCM.[2]
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành QLGD của Hà Thanh Hưng “ Khảo sát thực trạng dạy và học tiếng Anh tại Đại học Ngân hàng TP HCM để tìm ra giải pháp QL hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của trường” Ở luận văn này, tác giả đã nêu ra nhiều bất cập trong nội dung chương trình học, kế hoạch dạy – học, giáo trình, phương pháp dạy học, cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học dẫn đến chất lượng dạy học tiếng Anh bị hạn chế Trên cơ sở đó tác giả cũng đã đề xuất một số giải pháp QL hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của trường Đại học Ngân hàng TP HCM [19]
Trang 7Trong bài viết “Ngoại ngữ - một thành tố của chiến lược phát triển nền giáo dục quốc gia” PGS TS Ngô Văn Quyết đã nêu rõ vai trò của ngoại ngữ đối với sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước Ngoại ngữ phải được xem là một thành tố trong chiến lược phát triển giáo dục quốc gia Qua phân tích trong bài viết của mình, tác giả nêu rất rõ việc cần thiết phải hoàn thiện chương trình tiếng Anh và bổ sung tiếng Anh chuyên ngành trong các trường TCCN và Trung học nghề [ 28, tr.11 ]
Trong bài viết “Phương pháp học tiếng Anh” Th.S Nguyễn Quốc Hùng đã nêu
ra những phương pháp học tiếng Anh phổ biến trong nước cũng như trên thế giới Từ
đó có những nhận xét về hiệu quả của việc sử dụng phương pháp trực tiếp Tác giả cũng đã chỉ ra yếu tố cá nhân như sự kiên trì, sức sáng tạo và tình yêu ngôn ngữ là yếu
tố quyết định trong việc học ngoại ngữ [16, tr.14 ]
Trong bài viết “ Xây dựng mô hình dạy tiếng Anh cho người Việt” Th.S Nguyễn Quốc Hùng đã chỉ ra: Để có được những bộ tài liệu học tiếng Anh cho người Việt với chất lượng đào tạo cao, giúp cho họ đạt được trình độ giao tiếp thành công trong thời gian ngắn nhất thì phải tính đến những đặc điểm ngôn ngữ học của người Việt khác với người Anh, tính đến đặc điểm tâm lý, tính cách cũng như những nét sinh hoạt, phong tục, tập quán, thói quen [ 18, tr.34 ]
Trong bài viết “Lựa chọn phương pháp giảng dạy ngoại ngữ theo hướng nào?” Th.s Lê văn Canh đã viết: người dạy giữ vai trò trung tâm trong quá trình tìm kiếm những chiến lược dạy hiệu quả người dạy vừa là người nghiên cứu, người đưa ra các giả thuyết, tái hiện có phê phán các giả thuyết đó trong quá trình giảng dạy thông qua quá trình quan sát và tìm hiểu lớp học Thay vì đi tìm một phương pháp tối ưu trong giảng dạy, người dạy cần quan tâm hơn đến người học và môi trường dạy và học để xây dựng cho mình một phương pháp dạy ngày càng trở nên thích hợp giúp cho hoạt động dạy trở nên có hiệu quả hơn [8, tr.20 ]
Trong bài “Làm thế nào để giúp học sinh sử dụng tiếng Anh trong lớp học” Tác giả Catherine Cheehy Skeffington đã nêu ra tầm quan trọng của việc giúp HS nói tiếng
Trang 8Anh Tác giả đã chỉ ra nguyên nhân tại sao HS khơng sử dụng tiếng Anh trong lớp Từ
đĩ nêu ra những biện pháp cụ thể để giúp HS phát huy khả năng nĩi tiếng Anh trong lớp học [29, tr.25]
Trong bài viết “ Cần xem lại việc đào tạo ngoại ngữ trong hơn 40 năm nay”, tác giả Thanh Tùng đã điểm lại tình hình phát triển ngoại ngữ ớ nước ta từ 1945 đến nay, nêu ra vai trị, vị trí của mơn ngoại ngữ Từ đĩ, tác giả gĩp một số ý kiến về chiến lược đào tạo ngoại ngữ [31, tr.18 ]
Trong bài “ Dạy – học ngoại ngữ trong cơ chế thị trường”, PGS TS Trịnh Văn Minh khẳng định ngoại ngữ khơng chỉ là phương tiện giao tiếp, mà cịn là phương tiện nâng cao dân trí, mở rộng vốn văn hố chung, điều kiện cần cho giao lưu về các mặt và cho quá trình hồ nhập quốc tế [23, tr.24]
Các luận văn và các bài báo trên đã nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều mặt của việc giảng dạy ngoại ngữ nĩi chung và tiếng Anh nĩi riêng, song việc nghiên cứu giảng dạy
và QL giảng dạy tiếng Anh ở các trường TCCN cịn ít được chú ý Vì thế, chúng tơi mong rằng đề tài “QL giảng dạy mơn tiếng Anh của TTBM ở một số trường TCCN ngồi cơng lập tại TP HCM – Thực trạng và giải pháp” được nghiên cứu sẽ gĩp phần nâng cao chất lượng giảng dạy mơn tiếng Anh ở các trường TCCN, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước
3 Mục đích của đề tài nghiên cứu
Làm rõ thực trạng và giải pháp QL giảng dạy mơn tiếng Anh của TTBM ở một
số trường TCCN ngồi cơng lập tại TP.HCM Trên cơ sở thực trạng đề xuất một số giải pháp QL giảng dạy mơn tiếng Anh của TTBM trong giai đoạn mới nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng và giải pháp QL giảng dạy mơn tiếng
Anh của TTBM ở một số trường TCCN ngồi cơng lập tại TP.HCM
Trang 94.2 Khách thể nghiên cứu: Các HT, Phĩ HT, TTBM tiếng Anh , đội ngũ GV dạy tiếng Anh và HS ở một số trường TCCN ngồi cơng lập tại TP.HCM
5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài
5.1 Giới hạn nghiên cứu:
Luận văn chỉ nghiên cứu một số thực trạng và giải pháp QL giảng dạy mơn tiếng Anh của TTBM ở một số trường TCCN ngồi cơng lập tại TP.HCM
5.2 Phạm vi nghiên cứu:
Một số trường TCCN ngồi cơng lập tại TP HCM
- Trường Trung cấp Tư thục Kinh tế - Kỹ thuật Tây Nam Á
- Trường Trung cấp Tư thục Kinh tế - Kỹ thuật Sài gịn
- Trường Trung cấp Dân lập Kinh tế - Kỹ thuật Phương Đơng
- Trường Trung cấp Dân lập Cơng nghệ Thơng tin Sài gịn
6 Nhiệm vụ nghiên cứu:
6.1 Làm rõ cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu
6.2 Làm rõ và phân tích thực trạng giảng dạy mơn tiếng Anh và thực trạng giải pháp QL giảng dạy mơn tiếng Anh của TTBM ở một số trường TCCN ngồi cơng lập tại TP.HCM
6.3 Đề xuất một số giải pháp QL giảng dạy mơn tiếng Anh của TTBM ở một số trường TCCN ngồi cơng lập tại TP.HCM trong giai đoạn mới nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
7 Giả thuyết khoa học của đề tài:
Cơng tác QL giảng dạy tiếng Anh của TTBM ở một số trường TCCN ngồi cơng lập tại TP.HCM đã thực hiện được một số kết quả nhất định Tuy nhiên, cịn nhiều hạn chế, cần phải cĩ những giải pháp tồn diện và tích cực mới gĩp phần khắc phục được những hạn chế trong giai đoạn mới
Trang 108 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu tư liệu:
Phương pháp nghiên cứu tư liệu nhằm mục đích thu thập các tư liệu trong sách tham khảo và các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài để xây dựng tổng luận nghiên cứu
8.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến:
Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến nhằm mục đích làm rõ thực trạng giảng dạy môn tiếng Anh và thực trạng QL giảng dạy môn tiếng Anh của TTBM
ở một số trường TCCN tại TP HCM với đối tượng điều tra:
- CBQL ( HT, Phó HT, TTBM ) với mẫu đại diện là 10,
- GV dạy tiếng Anh với mẫu là 19,
- HS của 4 trường TTCN đã chọn với mẫu đại diện là 500 HS bằng phương pháp chọn ngẫu nhiên
Số liệu thu được được xử lý theo cách tính %
8.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm để đánh giá chất lượng
- Mục đích: Nắm rõ kết quả học tập về bộ môn tiếng Anh của HS ở một số trường TCCN ngoài công lập tại TP HCM trong những năm trước, nhận xét chất lượng học tập của HS từ đó đánh giá hiệu quả công tác QL giảng dạy môn tiếng Anh của TTBM ở một số trường TTCN ngoài công lập tại TP HCM
- Tổng kết điểm số đạt được về bộ môn tiếng Anh ở các khoa ( phân loại: giỏi, khá, trung bình và yếu) Thống kê tần số, tính tỷ lệ phần trăm (%) theo phân loại
8.4 Phương pháp quan sát và trò chuyện nhằm mục đích bổ trợ cho phương pháp điều tra bằng phiếu
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm công cụ:
1.1.1 Khái niệm về quản lý
Vấn đề QL có từ lúc con người biết hợp tác với nhau trong các tổ chức Đó là hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết hợp với nhau nhằm đạt mục tiêu chung Có nhiều khái niệm về QL:
- QL là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động, phát huy, kết hợp,
sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực ( nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài
tổ chức ( chủ yếu là nội lực ) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất [21, tr.15]
- QL là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động [30, tr.15]
- QL là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể QL đến đối tượng bị QL trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định [32, tr.130]
- QL có nghĩa là “coi chừng”, giữ gìn, trông coi tức là điều hành một đối tượng nào đó sao cho đối tượng ấy diễn ra một cách bình thường hoặc phát triển được theo những mục tiêu xác định [20, tr.5]
- QL là quá trình tiến hành chỉnh lý và xử lý về nhân lực, vật lực và các tài nguyên khác nhằm thực hiện một mục tiêu được xác định [25, tr.31]
Từ những khái niệm về QL như trên, ta thấy đều đề cập tới các yếu tố cơ bản:
- Hoạt động QL được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội
- Hoạt động QL là những tác động có tính hướng đích
- Hoạt động QL là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức
Trang 12Tóm lại, có thể nêu khái niệm: QL là một loại hoạt động trong đó chủ thể đề ra những mục tiêu cần phải đạt và những chủ trương, biện pháp kế hoạch phải thực hiện, lựa chọn nhân sự, thời gian, huy động và sử dụng vật lực và tài lực hiện có và sẽ có, tổ chức và điều hành bộ máy nhân lực để thực hiện những chủ trương, biện pháp và kế hoạch nói trên một cách đúng đắn, có chất lượng và hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu
mà chủ thể đã đề ra
1.1.2 Khái niệm về giảng dạy
Trong lịch sử phát triển của giáo dục và nhà trường, dạy học tồn tại như một hoạt động xã hội, nó gắn liền với hoạt động của con người Để thực hiện các nhiệm vụ giáo dục: giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mĩ và giáo dục lao động, nhà trường phải dựa vào nhiều con đường có mối quan hệ biện chứng với nhau là dạy học, lao động sản xuất, hoạt động chính trị - xã hội Trong đó, dạy học là con đường, là phương tiện quan trọng nhất
Dạy học là con đường cơ bản nhằm phát triển trí tuệ nói riêng, hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ nói chung Dạy học là con đường thuận lợi nhất giúp người học trong khoảng thời gian ngắn nhất có thể chiếm lĩnh một khối lượng tri thức, kỹ năng có chất lượng và hiệu quả cao nhất Bởi lẽ, dạy học là hoạt động được tiến hành một cách có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và phương pháp sư phạm của người GV phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và đặc điểm nhận thức của người học Nhờ vậy, HS tự giác, tích cực, chủ động lĩnh hội dễ dàng, nhanh chóng những tri thức khoa học [ 10, tr.25]
Dạy học là hoạt động kép bao gồm dạy (do thầy đảm nhận) và học ( do trò đảm nhận) nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học Dạy và học liên hệ, tác động lẫn nhau, không thể thiếu nhau GV giữ vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động học của
HS HS giữ vai trò tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học của bản thân [ 12, tr.12]
Trang 13Ở đây, luận văn chỉ nghiên cứu hoạt động giảng dạy của thầy, trong quá trình tương tác với hoạt động học tập của trò, nhằm đạt tới mục tiêu, chất lượng giáo dục Như vậy khái niệm giảng dạy bao gồm:
- Giảng dạy là sự tối ưu hoá quá trình HS chiếm lĩnh khái niệm khoa học, trong quá trình đó HS sẽ hình thành và phát triển nhân cách
- Giảng dạy có những mục đích cụ thể Nếu học nhằm chiếm lĩnh khái niệm khoa học, thì giảng dạy lại có mục đích là điều khiển sự học tập
- Giảng dạy có hai chức năng tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, đó là truyền đạt thông tin cần dạy và điều khiển hoạt động học
- Giảng dạy ở trường TCCN là quá trình hoạt động của thầy nhằm lãnh đạo, tổ chức, và điều khiển quá trình nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của HS trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật có liên quan đến nghề nghiệp tương lai của họ
Hoạt động học tập của HS TCCN có nhiều nét khác với HS phổ thông HS TCCN đòi hỏi có trình độ tư duy lý luận cao, tự giác nắm chân lý, kết hợp học tập với lao động sản xuất theo ngành nghề, với những thực nghiệm trong phòng thí nghiệm cũng như thực tập tại các khu công nghiệp hay những doanh nghiệp HS TCCN phải luôn ý thức làm chủ kiến thức để có tay nghề, kỹ năng, kỹ xảo của một nghề mà mình theo đuổi Chính vì vậy, người thầy đóng vai trò chủ thể tác động đến HS và HS không những là khách thể nhận sự tác động của thầy mà HS còn đóng vai trò chủ thể vì họ là những con người đã trưởng thành về mọi mặt Họ ý thức được yêu cầu và nhiệm vụ học tập, họ tích cực nhận sự tác động từ phía người thầy Vai trò chủ thể của trò càng được phát huy thì hiệu quả việc học càng cao Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh là trong quá trình dạy – học, hoạt động giảng dạy của thầy luôn đóng vai trò chỉ đạo, hướng dẫn, điều khiển hoạt động học của trò, nhưng không được đối lập với tính độc lập, sáng tạo, với vai trò chủ thể của trò Người thầy phải biết huy động và kích thích hứng thú, lợi ích của HS, tức là phát huy tính tích cực chủ động của HS, giúp HS phát triển kỹ năng “ giải quyết vấn đề” và khả năng “ tư duy sáng tạo”
Trang 14Theo đó, hoạt động giảng dạy ở trường TCCN có nhiệm vụ bồi dưỡng hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo gắn với nghề nghiệp tương lai của HS TCCN; phát triển ở họ năng lực và phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy nghề nghiệp; trên cơ sở đó hình thành thế giới quan khoa học, lý tưởng, ước mơ, hoài bão nghề nghiệp và những phẩm chất đạo đức, tác phong của những công nhân, kỹ thuật viên lành nghề
Dựa trên cơ sở mục đích, mục tiêu đào tạo của TCCN, sự tiến bộ của khoa học công nghệ, đặc điểm của quá trình dạy học ở TCCN, đặc điểm của HS TCCN, đặc điểm của thời đại và thực tiễn đất nước, giảng dạy ở TCCN có ba nhiệm vụ cụ thể sau:
(1) Dạy nghề: Trong quá trình giảng dạy, GV có nhiệm vụ trang bị cho HS những tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng về một lĩnh vực khoa học kỹ thuật nhất định
- GV phải cung cấp cho HS những tri thức tiên tiến nhất của khoa học kỹ thuật trên cơ sở nền tảng khoa học cơ bản Những tri thức đó có tác dụng làm cho thế giới quan của HS được hoàn thiện hơn, năng lực nhận thức phát triển hơn, hoạt động cá nhân phong phú và có hiệu quả hơn , nhờ đó, họ dễ dàng thích ứng với nhiệm vụ tương lai
- HS TCCN phải nắm được kiến thức chuyên ngành liên quan trực tiếp đến nghề nghiệp tương lai Ngoài ra, HS TCCN còn được trang bị các tri thức công cụ - đó
là những tri thức giúp HS có các công cụ phục vụ cho việc nắm tri thức chuyên ngành như: ngoại ngữ, tin học…
- Tuy nhiên, chỉ nắm tri thức thôi thì cũng chưa đủ, mà HS cần phải có kỹ năng vận dụng chúng vào thực tiễn Những kỹ năng này sẽ trở thành kinh nghiệm của mỗi
HS khi họ nắm vững và vận dụng trong hoạt động thực tiễn Đó chính là hệ thống kỹ năng, kỹ xảo
+ Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nhất định trên
cơ sở tri thức có được Kỹ năng là tri thức trong hành động
Trang 15+ Kỹ xảo là khả năng thực hiện một cách tự động hoá một thao tác hay một công việc nhất định, nó thể hiện sự thành thạo trong hành động của con người Kỹ xảo là kỹ năng được lặp đi lặp lại nhiều lần trở thành hành động tự động hoá [24,tr.70]
HS chỉ thực sự nắm được những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách hiệu quả khi
họ tự giác, tích cực, chủ động trong việc tiếp thu kiến thức trong quá trình dạy và học, biến chúng thành vốn riêng của mình thông qua việc kết hợp học tập với lao động sản xuất theo ngành nghề, với thực nghiệm tại xưởng trường hay những đợt thực tập tại các khu chế xuất, các doanh nghiệp…
(2) Dạy phương pháp: Trong quá trình giảng dạy GV phải giúp HS:
- Phát triển phẩm chất và năng lực hoạt động trí tuệ của HS Cụ thể là:
+ Những phẩm chất của hoạt động trí tuệ cơ bản là: tính định hướng, tính linh hoạt, tính mềm dẻo, tính độc lập, tính nhất quán, tính phê phán, tính khái quát
+ Năng lực hoạt động trí tuệ gồm: Năng lực nhận thức, năng lực tư duy, năng lực hành động
- Trong quá trình giảng dạy GV phải bồi dưỡng và rèn luyện cho HS phương pháp học Đó là:
+ Dạy cách lập kế hoạch học tập: Dạy cách lập kế hoạch trong học tập bao gồm việc xác định mục tiêu, phương pháp thực hiện, phân bổ thời gian cho chương trình học tập Việc xác định mục tiêu phải căn cứ vào năng lực, quỹ thời gian và chủ động thực hiện các công việc theo kế hoạch
+ Dạy cách nghe giảng và ghi bài trên lớp + Dạy cách học bài: Dạy cách tự học và dạy cách học theo nhóm + Dạy cách đọc sách: Dạy cách chọn sách, dạy cách đọc sách có ghi chép Trong quá trình tiếp thu tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, người HS TCCN phải xây dựng cho mình một phương pháp tự học tốt để có thể học suốt đời Phương pháp tự học của HS là cách thức hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, tự lực và sáng
Trang 16tạo nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục đích học tập Đây là một yêu cầu khách quan và cấp bách của thời đại
(3) Dạy thái độ:
Trong quá trình giảng dạy, GV cần bồi dưỡng cho HS lý tưởng, niềm tin, hình thành nên ở họ nhân sinh quan và thế giới quan khoa học; những phẩm chất cũng như thái độ, tác phong của những kỹ thuật viên lành nghề, có tri thức, có tay nghề vững vàng, có năng lực thực hành, năng động, sáng tạo GV cần quan tâm tới việc giáo dục
lý tưởng, đạo đức nghề nghiệp để cho HS tha thiết yêu nghề, từ đó quyết tâm đi sâu vào khoa học và nghề nghiệp để sau này trở thành những kỹ thuật viên có đạo đức tốt
và có năng lực giỏi
Ba nhiệm vụ dạy học này có mối quan hệ chặt chẽ không tách rời Trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo là cơ sở cho sự phát triển trí tuệ và giáo dục phẩm chất đạo đức cho HS; sự phát triển trí tuệ là kết quả của quá trình trang bị kiến thức; giáo dục phẩm chất đạo đức, thái độ, tác phong là kết quả của trang bị kiến thức và phát triển trí tuệ
Đó chính là mục đích của dạy học
1.1.3 Khái niệm về giảng dạy tiếng Anh
Ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng cũng là một bộ môn văn hoá cơ bản, nên khi giảng dạy ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng người GV cũng phải lãnh đạo, tổ chức, và điều khiển quá trình nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo qua đó hình thành những phẩm chất đạo đức con người cho HS Bên cạnh đó, do đặc trưng của môn ngoại ngữ là trang bị cho HS một công cụ giao tiếp mới nên GV trong quá trình giảng dạy của mình còn phải rèn luyện cho HS nắm và sử dụng được ngoại ngữ để có thể đọc, hiểu các sách báo khoa học, đồng thời có thể giao dịch trực tiếp với người nước ngoài về các vấn đề sinh hoạt gần gũi hàng ngày cũng như giao dịch trực tiếp với người nước ngoài về chính chuyên môn, ngành nghề mà mình đang theo học Theo đó, giảng dạy tiếng Anh có những nội dung sau:
Trang 17(1) Nội dung kỹ năng giao tiếp: Đây là vấn đề trọng tâm của nội dung giảng dạy
tiếng Anh Ngoài phần lý thuyết cần coi trọng vấn đề thực hành Hệ thống các bài tập thực hành giao tiếp không chỉ minh hoạ phần lý thuyết mà còn rèn luyện các kỹ năng giao tiếp Hoạt động chủ đạo của giảng dạy tiếng Anh là rèn luyện thành thạo bốn kỹ năng thực hành giao tiếp, nó bao gồm bốn dạng hoạt động giao tiếp là: nghe, nói, đọc, viết Cả bốn dạng hoạt động giao tiếp này đều có mặt thường trực trong suốt quá trình giảng dạy tiếng Anh
(2) Nội dung tri thức văn hoá: Nội dung tri thức văn hoá của tiếng Anh bao gồm 2
phần: tri thức ngôn ngữ học và tri thức đất nước học
- Tri thức ngôn ngữ học: đó là các quy luật ngôn ngữ mà HS phải nắm vững để
có thể vận dụng một cách chủ động tự giác vào việc nắm ngôn ngữ ấy như một công cụ giao tiếp Nội dung kiến thức ngôn ngữ học tiếng Anh là bao gồm những khái niệm cơ bản về hệ thống ngôn ngữ, cụ thể là: phụ âm, nguyên âm, danh từ, tính từ, động từ, trạng từ,v.v…và những kiểu câu đơn, câu phức,v.v…Những kiến thức ngôn ngữ được đưa vào chương trình phải thoả mãn yêu cầu thực hành giao tiếp và phù hợp với HS
- Tri thức đất nước học: Việc giảng dạy tiếng Anh phải luôn gắn liền với việc giới thiệu đất nước và con người Anh, với nền văn hoá của Anh, từ đó HS hiểu và thêm hứng thú đi sâu vào việc nắm vững tiếng Anh, biến nó thành công cụ làm giàu thêm vốn tri thức văn hoá của bản thân
(3) Nội dung tư tưởng đạo đức: Ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng có khả
năng góp phần hình thành thế giới quan và nhân sinh quan tiến bộ cho HS thông qua các bài học với những nội dung hết sức đa dạng, phong phú giúp HS xây dựng cho mình những thói quen đạo đức và hành vi văn minh cần thiết trong cuộc sống xã hội Thông qua việc học tập ngoại ngữ, HS có điều kiện so sánh và hiểu sâu các nền văn hoá, trong đó có nền văn hoá dân tộc Việt nam Từ đó xây dựng niềm tự hào chính đáng về các giá trị tinh thần và vật chất của dân tộc Bên cạnh đó, do ngoại ngữ là một môn học đòi hỏi sự cố gắng liên tục, sự kiên trì khắc phục các trở ngại ngôn ngữ, nên
Trang 18trong quá trình giảng dạy GV cần bồi dưỡng cho HS một ý chí và nghị lực vươn lên vượt mọi khó khăn để đạt được mục đích đã định
1.1.4 Khái niệm về QL giảng dạy ở TCCN
QL giảng dạy là trách nhiệm của HT, các phó HT và các TTBM Ở đây, luận văn chỉ nghiên cứu QL giảng dạy của TTBM Thực chất việc QL giảng dạy của TTBM
là QL GV trong việc thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy như trên đã đề cập
QL giảng dạy đó chính là quá trình mà người TTBM phải hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra – đánh giá hoạt động giảng dạy của GV nhằm đạt được mục tiêu giảng dạy đã đề ra Đây là một hoạt động phức tạp và khó khăn Trong quá trình QL của mình, TTBM chủ yếu chú trọng vào hoạt động dạy của thầy, trực tiếp QL thầy, gián tiếp với trò, thông qua QL hoạt động giảng dạy của thầy mà nắm được cũng như
QL được hoạt động học của trò
Theo đó, TTBM có các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Tổ chức thực hiện quá trình đào tạo, kế hoạch giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo chương trình, kế hoạch giảng dạy chung của nhà trường
- Tổ chức thực hiện các hoạt động thực nghiệm, nghiên cứu khoa học, dịch vụ khoa học và công nghệ, gắn đào tạo với sử dụng, phối hợp với các tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở sản xuất kinh doanh, gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội
- QL GV thuộc tổ theo phân cấp của HT
- Tổ chức biên soạn chương trình, giáo trình môn học, tài liệu giảng dạy do HT giao Tổ chức nghiên cứu cải tiến PPGD, học tập; đề xuất xây dựng kế hoạch bổ sung, bảo trì thiết bị dạy học, thực hành, thực tập và thực nghiệm khoa học
- Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho GV
Để hoàn thành được những nhiệm vụ trên, TTBM ngoài những tiêu chuẩn phải
có của người GV như:
Trang 19- Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
- Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ;
- Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp;
- Lý lịch bản thân rõ ràng [ 1, tr.58]
TTBM còn phải có nhân cách của người QL bao gồm hai mặt tài và đức Cụ thể là:
- Ngoài trình độ học vấn, người TTBM phải có tri thức và kỹ năng nghiệp vụ
QL và ở ngành nào thì phải có những tri thức chuyên môn của ngành đó ở một trình độ cần thiết mà thiếu nó, QL không có hiệu quả;
- Ngoài sự thể hiện một cách gương mẫu những phẩm chất đạo đức của một nhân cách bình thường, người TTBM còn phải có được sự tin tưởng của mọi người, luôn là tấm gương và là chỗ dựa tin cậy cho đồng nghiệp, là người thầy có uy tín với HS; biết gánh chịu trách nhiệm cuối cùng về mình; phải là người đức độ mới thu phục được các GV khác, cụ thể là trung thực, lời nói và hành động nhất quán, không tự mâu thuẫn
Nội dung QL hoạt động giảng dạy của TTBM ở TCCN bao gồm:
1.1.4.1 Xác định trình độ ban đầu của HS
Xác định trình độ ban đầu của HS là xem xét đến khả năng tiếp nhận những kiến thức, kỹ năng và thái độ học tập nhằm đáp ứng được với mục tiêu sẽ đề ra Việc xác định trình độ ban đầu của HS cho phép TTBM, GV xây dựng và thực hiện chương trình học phù hợp, cũng như cho phép họ chọn phương pháp dạy hợp lý, nhằm khích lệ
và phát triển khả năng sáng tạo của người học Các biện pháp đánh giá trình độ ban đầu của HS tập trung xác định các yếu tố sinh học, tâm lý học, giáo dục học và tiến hành tìm hiểu HS bằng cách trực tiếp trò chuyện hoặc qua lý lịch, qua việc tiến hành một bài kiểm tra, qua một bài test đầu vào
1.1.4.2 Quản lý mục tiêu môn học
QL mục tiêu môn học là phải dựa vào chất lượng đầu ra nghĩa là đánh giá được những kiến thức, kỹ năng và thái độ mà HS phải đạt được sau một quá trình học tập
Trang 20cũng như đánh giá được sự tiến bộ về các mặt từ khi HS vào trường cho tới khi HS ra trường QL mục tiêu môn học phải dựa trên các tiêu chí sau:
- Có mục tiêu dạy học riêng cho từng môn học, từng chương, từng bài…
- Có các tiêu chuẩn đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu dạy học, các tiêu chuẩn phải phù hợp với thực tế, có thể đo được, đánh giá được theo các mức: giỏi, khá, trung bình, yếu
- Đối với GV, dựa trên mục tiêu môn học để đề ra những biện pháp tương ứng trong soạn bài và tiến hành giảng dạy, còn đối với HS thì họ cần phải biết mục tiêu môn học để tự vạch kế hoạch học tập và chủ động học tập
1.1.4.3 Quản lý nội dung dạy học
Trước hết, nội dung dạy học được hiểu là một bộ phận được chọn lọc trong nền văn hoá của dân tộc và nhân loại – đó là hệ thống những tri thức, những cách thức hoạt động, những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo và những tiêu chuẩn về thái độ đối với thế giới, con người phù hợp về mặt sư phạm nhằm hình thành và phát triển nhân cách người học [12, tr.45]
Như vậy:
- QL nội dung dạy học ở TCCN cần dựa trên những nội dung sau đây trong từng
bộ môn, từng bài giảng:
+ Hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội, tư duy, kỹ thuật và phương pháp nhận thức Cụ thể là: Tri thức có tính chất kinh nghiệm; tri thức lý thuyết; tri thức thực hành; tri thức thiết kế sáng tạo; tri thức về phương pháp nghiên cứu và tư duy khoa học; tri thức đánh giá
+ Hệ thống kỹ năng, kỹ xảo hoạt động trí tuệ và thực hành
+ Hệ thống kinh nghiệm hoạt động sáng tạo: Kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
là tiền đề cho hoạt động sáng tạo Hệ thống kinh nghiệm hoạt động sáng tạo có tác dụng chuẩn bị cho HS khả năng tìm tòi, giải quyết vấn đề mới, tham gia cải biến một cách sáng tạo hiện thực khách quan
Trang 21+ Hệ thống những kinh nghiệm về thái độ đối với thế giới và con người Điều này thể hiện tính giáo dục của nội dung dạy học, nó bao gồm những chuẩn mực
về thái độ: thái độ đánh giá, thái độ ứng xử, thái độ xúc cảm đối với thế giới khách quan, con người và hoạt động Cùng với tri thức, kỹ năng, hệ thống kinh nghiệm này tạo điều kiện để hình thành niềm tin, lí tưởng, phẩm chất đạo đức, cách ứng xử đúng đắn, thích hợp của HS với thế giới và con người
- Nội dung dạy học phải quán triệt bốn mục tiêu nền tảng ( bốn trụ cột) của giáo dục thế kỷ 21 ( theo UNESCO – 1996) Đó là: Học: để biết, để làm, để làm người, để chung sống với nhau
- Nội dung dạy học phải phù hợp với trình độ đầu vào và yêu cầu thực tế khi HS
ra trường
- Trong điều kiện của những tiến bộ xã hội và tiến bộ khoa học – công nghệ, cần phải đổi mới nội dung dạy học theo hướng: hiện đại hóa nội dung dạy học; nội dung dạy học phải gắn liền với thực tiễn cuộc sống, tính đến nhu cầu xã hội và năng lực, nguyện vọng của người học đồng thời đảm bảo tính liên thông, liên kết giữa giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp; Tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, giáo dục tính nhân văn và tính dân tộc cho HS; nội dung dạy học phải gắn liền với khoa học, công nghệ, kinh tế, thương mại, thị trường… [ 12, tr.64]
Nội dung dạy học phải được cụ thể hoá trong kế hoạch, chương trình dạy học, giáo trình phù hợp với mục tiêu của TCCN
- Kế hoạch dạy học:
+ Thành phần các môn học cho từng lớp, số giờ dành cho từng môn học trong cả năm, trong từng tuần
+ Trình tự tiến hành các môn học + Các chuyên đề, các hoạt động giáo dục và thời lượng cần thiết cho mỗi hoạt động
Trang 22- Chương trình dạy học: Chương trình dạy học không còn được hiểu chỉ quy định mục đích yêu cầu, nội dung chi tiết môn học, thời gian dành cho môn học mà được hiểu là một bản thiết kế tổng hợp, đồng bộ, bao quát các hoạt động chính của một
kế hoạch giáo dục trong một thời gian xác định Chương trình được xây dựng theo từng môn học, bao gồm các thành tố sau:
+ Mục tiêu học tập môn học
+ Số lượng, phạm vi, mức độ nội dung học tập môn học
+ Các phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức học tập môn học + Cách thức đánh giá kết quả học tập môn học
Chương trình dạy học là căn cứ pháp lý để nhà trường và GV tiến hành giảng dạy, HS tiến hành học tập theo yêu cầu Vì vậy, TTBM cũng như GV phải nắm vững chương trình giảng dạy môn học, không được tuỳ tiện thay đổi, nhưng vận dụng linh hoạt trong chừng mực và phạm vi cho phép
- Giáo trình:
+ Là sách học và sách bài tập dành cho HS + Giáo trình, ngoài chức năng cung cấp kiến thức, còn củng cố, kiểm tra đánh giá tra cứu và tham khảo, ứng dụng, giúp hình thành và phát triển các kỹ năng, phương pháp, giáo dục đối với HS Đối với GV, giáo trình có chức năng cung cấp thông tin, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, giúp đỡ việc học tập và xác định tiến trình sư phạm
1.1.4.4.Quản lý cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật dạy học
Tính toán, phân phối, xây dựng các điều kiện không gian, thời gian, tài chính, các thiết bị và phương tiện dạy học sao cho phù hợp với mục tiêu đề ra cũng như phù hợp với đối tượng HS và nội dung giảng dạy Có bốn nhóm chủ yếu: Trường sở, thiết
bị dạy học, sách báo, đồ dùng HS
Trang 231.1.4.5 Quản lý việc thực hiện các phương pháp giảng dạy
Đây là một trong những lĩnh vực trọng tâm nhất của hoạt động QLGD vì PPGD
có vai trò quyết định chất lượng đào tạo và chính là sự vận động của nội dung, chương trình dạy học
TTBM phải là người hướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo các GV trong tổ mình thực hiện PPGD sao cho phát huy cao độ tính tích cực học tập của HS, đánh thức những tiềm năng sáng tạo của mỗi HS, kích thích nhu cầu, hứng thú học tập, tạo không khí thi đua, độc lập suy nghĩ, giải quyết vấn đề, tranh luận và cùng nhau hợp tác giải quyết vấn đề HS càng chủ động, càng tích cực bao nhiêu thì hiệu quả nhận thức càng cao bấy nhiêu
Ở trường TCCN, có nhiều PPGD được thực hiện, song PPGD có hiệu quả phải hướng vào việc phát huy cao độ năng lực tự học của HS, phải kích thích và tạo động lực cho tự học: dạy học phải lấy tự học làm mục tiêu và làm động lực Cụ thể là:
- Huy động sự tham gia tích cực của các HS trong quá trình học tập trên lớp bằng nhiều cách: biết nghe giảng, ghi chép độc lập, tiếp nhận thông tin, phát hiện vấn
đề một cách chủ động, tìm tòi, động não để giải quyết vấn đề một cách độc lập, sáng tạo, khẩn trương theo sự hướng dẫn của GV
- Tăng cường các hoạt động độc lập của HS ngoài lớp học như: giải quyết các bài tập, ôn tập, luyện tập, thực hành, thí nghiệm, tìm hiểu thực tiễn, điều tra, quan sát
- Tăng cường các hoạt động học tập của HS theo nhóm: Thảo luận cặp đôi, thảo luận nhóm nhỏ, nhóm chuyên sâu, tranh luận, nhóm thí nghiệm, nhóm nghiên cứu, học nhóm truyền thống,
- Tăng cường các hoạt động học tập độc lập tìm kiếm tri thức như: làm việc với sách, làm việc với computer, mạng internet và các phần mềm điện tử; viết báo cáo cho seminar hay báo cáo khoa học, nghiên cứu khoa học độc lập, thu nhận thông tin từ các nguồn thông tin đại chúng
Trang 24- Khuyến khích các hoạt động ứng dụng tri thức vào thực tiễn, tìm tòi, sáng tạo (sáng tác, sáng chế, thiết kế, )
1.1.4.6 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS
Việc kiểm tra đánh giá phải theo hướng phát triển trí thông minh sáng tạo của
HS, khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức kỹ năng đã học vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ của HS trước những vấn đề nóng hổi của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng [ 15, tr.52]
Việc kiểm tra đánh giá là yếu tố quan trọng trong quá trình dạy học, nhờ đó mà TTBM cũng như GV xem xét được hiệu quả của quá trình đào tạo so với mục tiêu đã
đề ra Hiệu quả này là chất lượng tri thức mà HS có được sau các quá trình học tập Việc kiểm tra đánh giá không những giúp cho GV cũng như các nhà QL nắm được chất lượng học tập của HS mà còn đánh giá được hiệu quả công việc của bản thân GV
và nhà QL Từ đó, nhà QL có những điều chỉnh thích đáng về nội dung, chương trình cũng như PPGD
1.1.4.7 Quản lý đội ngũ giáo viên giảng dạy
Nắm chắc số lượng đội ngũ GV, biết được điểm mạnh, điểm yếu của từng người
là một trong những nhiệm vụ của người làm công tác QL Điều này giúp cho người QL
sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực Đây là một điểm mấu chốt quyết định đến chất lượng dạy học
GV giảng dạy ở trường TCCN phải có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm hoặc có bằng tốt nghiệp đại học và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm [5, tr.14] Có như vậy thì GV mới có đủ khả năng để giáo dục, giảng dạy cũng như tham gia các thực nghiệm, nghiên cứu khoa học, viết giáo trình, tài liệu phục vụ giảng dạy – học tập, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào việc cải tiến, đổi mới PPGD, giáo dục HS góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
Trang 251.1.4.8 Quản lý tổ chức giảng dạy
TTBM kết hợp với lãnh đạo trường tổ chức một chuỗi các hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu đề ra Cụ thể là:
- QL chương trình đào tạo và lập kế hoạch giảng dạy
- Chỉ đạo việc tổ chức các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ: soạn giáo án, lên lớp, dự giờ…
- Phân công GV giảng dạy theo đúng năng lực, sở trường
- Tổ chức tốt việc sử dụng và bảo quản các trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy
và học tập
- Tổ chức, tiến hành việc kiểm tra hoạt động giảng dạy sao cho việc giảng dạy
đó phải theo đúng mục tiêu, chương trình, nội dung đã đề ra
1.2 Đặc điểm của trường TCCN ngoài công lập
- Trường TCCN ngoài công lập được hưởng các chính sách khuyến khích về cơ
sở vật chất, đất đai, về thuế, phí, lệ phí, tín dụng, bảo hiểm, khen thưởng và phong tặng danh hiệu theo quy định của Chính phủ
- Trường TCCN ngoài công lập bình đẳng với trường TCCN công lập về nhiệm
vụ, quyền hạn của nhà trường, của GV, nhân viên và HS trong việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục – đào tạo và các quy định liên quan đến tuyển sinh, dạy và học, thi, kiểm tra công nhận tốt nghiệp, cấp văn bằng, chứng chỉ
- Trường TCCN ngoài công lập chịu sự QL nhà nước của Bộ GD-ĐT và các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được giao; chịu sự QL trực tiếp của các cơ quan QLGD theo quy định trong điều lệ nhà trường TCCN Trường TCCN ngoài công lập có tư cách pháp nhân, có con dấu
- Các loại hình trường TCCN ngoài công lập là: dân lập và tư thục Đến nay đều được chuyển thành một loại hình là trường TCCN tư thục Trường TCCN tư thục là trường do cá nhân hoặc một nhóm cá nhân xin phép thành lập và tự đầu tư
Trang 26- Trường TCCN ngoài công lập có trách nhiệm xây dựng cơ cấu tổ chức QL sao cho vừa phù hợp quy định trong Điều lệ nhà trường vừa phù hợp với điều kiện và quy
mô của trường Nếu trường có từ hai thành viên góp vốn trở lên thì phải có HĐQT
- HĐQT là tổ chức đại diện quyền sở hữu của nhà trường, có trách nhiệm và quyền tự chủ quyết định những vấn đề quan trọng về quy hoạch, kế hoạch phát triển, tổ chức, nhân sự và tài chính, tài sản của trường Cụ thể HĐQT có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
+ Quyết định, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường + Xây dựng và quyết định các chế độ thu chi tài chính trong trường + Huy động các nguồn vốn để xây dựng trường; giám sát việc QL tài chính và tài sản của trường; phê duyệt dự toán và quyết toán ngân sách hàng năm
+ Phê duyệt phương án về tổ chức bộ máy, biên chế và các vấn đề có liên quan đến nhân sự của trường…
- HT trường TCCN ngoài công lập là người trực tiếp QL và điều hành các hoạt động của nhà trường; chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước cơ quan QLGD trực tiếp
về việc thực hiện các quy định, quy chế về giáo dục và đào tạo Bên cạnh đó, HT trường ngoài công lập còn có nhiệm vụ và quyền hạn:
+ Tổ chức thực hiện các quyết định của HĐQT
+ Kiến nghị biện pháp huy động, QL và sử dụng các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục, phát triển trường và các biện pháp bảo đảm chất lượng, hiệu quả GD – ĐT, hoạt động khoa học công nghệ
+ Đề xuất danh sách GV và là chủ tịch hoặc phó chủ tịch hội đồng tuyển chọn GV; thực hiện các quy định của Nhà nước về lao động - tiền lương, tiền công, bảo hiểm, học bổng, học phí, trợ cấp xã hội, khen thưởng, kỷ luật
- Trường TCCN ngoài công lập thực hiện chương trình GD - ĐT và kế hoạch dạy học theo quy định của Điều lệ trường TCCN
Trang 27- Quy mô của trường TCCN ngoài công lập là phải có ít nhất hai trăm HS cho các ngành nghề đăng ký đào tạo
- Trường TCCN ngoài công lập có cơ sở vật chất, trang thiết bị bao gồm đất đai nhà cửa trong một khuôn viên có tường rào bao quanh Tổng diện tích mặt bằng
của trường phải phù hợp với quy mô đào tạo, bình quân cho một HS không dưới 10m2; các khối công trình như khu hành chính, khu học tập, khu sân trường; cơ sở phục vụ ngoài trường như: trại trường, vườn trường, nơi sản xuất…; Có đủ thiết bị giáo dục, trang thiết bị kỹ thuật cần thiết để phục vụ thí nghiệm, thực hành, thực tập cho HS Trường TCCN ngoài công lập phải đảm bảo từ năm học đầu tiên tỷ lệ GV cơ hữu trên tổng số GV của trường là 30% GV( cơ hữu và thỉnh giảng ) phải đảm bảo không thấp hơn định mức về GV theo quy định của Nhà nước đối với trường TCCN CBQL, GV
cơ hữu và nhân viên của trường TCCN ngoài công lập không ở trong biên chế nhà nước.[ 6, tr.11]
1.3 Nội dung của công tác quản lý giảng dạy tiếng Anh của tổ trưởng bộ môn tiếng Anh ở trường TCCN
1.3.1 Xác định trình độ ban đầu của HS TCCN
Bộ GD - ĐT đã có quy định về mục tiêu và kế hoạch dạy học của trường phổ thông trung học Quy định này có hiệu lực từ ngày 22/03/2002 Một trong những mục tiêu xác định là HS sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông phải có khả năng sử dụng một ngoại ngữ trong giao tiếp thông thường Điều đó có nghĩa là khi nhập học vào trường TCCN HS có sự hiểu biết khái quát về đất nước, văn hoá, con người Anh và đã nắm được tiếng Anh ở mức cơ bản, đơn giản, phổ thông ở cả bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết Cụ thể là:
- Kỹ năng nghe:
+ Nghe hiểu các cuộc hội thoại trực tiếp bằng tiếng Anh ở mức độ đơn giản, phổ thông có liên quan đến các chủ điểm và nội dung ngôn ngữ đã được quy định trong chương trình
Trang 28+ Nghe hiểu ý chính các thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng có liên quan đến các chủ đề và nội dung ngôn ngữ đã học
- Kỹ năng nói:
+ Trao đổi trực tiếp bằng ngôn ngữ nói ở mức độ đơn giản các tình huống giao tiếp hàng ngày thông qua việc vận dụng các kiến thức ngôn ngữ cơ bản về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp
+ Diễn đạt được ý mình trong những tình huống giao tiếp thông thường
có liên quan đến những chủ điểm quen thuộc thông qua việc vận dụng các chức năng ngôn ngữ đã học
- Kỹ năng đọc:
+ Có kỹ năng đọc hiểu cơ bản các đoạn văn trong phạm vi 3.000 từ liên quan đến các chủ điểm và nội dung ngôn ngữ được quy định trong chương trình
+ Đọc hiểu nội dung chính các văn bản xác thực có nội dung phù hợp với
sở thích cá nhân, với những vấn đề văn hoá, xã hội, khoa học kỹ thuật phổ thông trên
cơ sở ngữliệu và chủ đề đã học có kết hợp với suy đoán và tra cứu
- Kỹ năng viết:
+ Viết để phục vụ các nhu cầu cá nhân và xã giao như viết thư cho bạn
bè, viết các thiệp mừng, thiệp mời sinh nhật…, mô tả hoặc tường thuật các hoạt động của cá nhân, của lớp học hoặc điền vào các phiếu, mẫu đơn các bảng điều tra…
+ Viết một đoạn văn ngắn ( từ khoảng 100 đến 150 từ) có liên quan đến chủ đề đã học trong phạm vi ngôn ngữ được quy định trong chương trình [ 4, tr.111]
1.3.2 Quản lý mục tiêu giảng dạy môn tiếng Anh ở trường TCCN
Tiếng Anh được đưa vào chương trình giáo dục TCCN nhằm đạt 3 mục tiêu: thực hành giao tiếp, nâng cao trình độ văn hoá và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức Cả ba mục tiêu trên đều quan trọng và có quan hệ mật thiết với nhau, song do đặc thù của bộ môn tiếng Anh mà mục tiêu thực hành giao tiếp trở nên cơ bản nhất Hai mục tiêu còn lại luôn bám chặt với mục tiêu thứ nhất và thông qua mục tiêu thực hành giao tiếp mà
Trang 29đạt tới những yêu cầu về nâng cao trình độ văn hoá và bồi dưỡng phẩm chất Bởi vậy,
QL mục tiêu giảng dạy môn tiếng Anh ở trường TCCN phải dựa vào chất lượng đầu ra nghĩa là đánh giá HS ở: khả năng sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp thật sự thể hiện ở bốn kỹ năng thực hành giao tiếp: nghe, nói, đọc, viết; kiến thức mà HS đã thu nhận được chủ yếu trên hai lĩnh vực là ngôn ngữ học và ngôn ngữ đất nước học Cụ thể sau khi học xong chương trình tiếng Anh TCCN HS sẽ đạt được những mục tiêu như sau:
- Có kiến thức và kỹ năng sử dụng tiếng Anh để tham gia vào các hoạt động giao tiếp xã hội thông thường;
- Có kiến thức và kỹ năng sử dụng tiếng Anh để tiếp cận với thông tin đơn giản
về ngành nghề của mình;
- Có sự hiểu biết cơ bản về văn hoá giao tiếp khi sử dụng tiếng Anh;
- Có kỹ năng và phương pháp sử dụng tiếng Anh cơ bản cần cho việc tiếp tục tự học tập nâng cao trình độ sử dụng tiếng Anh sau khi tốt nghiệp ( 7, tr.5 )
HS sẽ đạt 4 kỹ năng thực hành giao tiếp ở mức độ sau:
- Nghe, hiểu được người bản ngữ hỏi, đáp và nghe hiểu các trao đổi thông tin, bài nói được trình bày rõ ràng và có nội dung liên quan tới nghề nghiệp mình đang học, với vốn từ vựng trong phạm vi cơ bản khoảng 1500 từ;
- Hỏi, đáp và trình bày ý kiến cá nhân về một vấn đề xã hội cũng như vấn đề có liên quan tới nghề nghiệp với nội dung đơn giản, với độ chính xác và độ lưu loát tương đối tốt, đồng thời nhận biết được lỗi đã mắc và có khả năng sửa chữa lỗi trong quá trình thực hành tiếng;
- Đọc các bài viết đơn giản với ngữ cảnh mở rộng về các vấn đề xuất hiện trong
xã hội cũng như tài liệu chuyên ngành đơn giản với lượng từ trên 1500 từ, thông qua việc sử dụng từ điển có khả năng tự học từ, nắm cấu trúc mới và nội dung mới trong khi đọc;
Trang 30- Viết được thư cá nhân, đơn xin việc và các bài luận đơn giản có nội dung liên quan tới chương trình đã học, liên quan đến nghề nghiệp đang học, có khả năng nhận biết và sửa chữa lỗi cơ bản trong khi viết.[7, tr.27]
1.3.3.Quản lý nội dung giảng dạy môn tiếng Anh ở trường TCCN
Môn tiếng Anh được giảng dạy ở trường TCCN cũng phải có các nội dung cơ bản là: nội dung kỹ năng giao tiếp, nội dung tri thức văn hóa, nội dung tư tưởng đạo đức ( chúng tôi đã đề cập ở chương I phần 1.1.3)
QL nội dung giảng dạy môn tiếng Anh ở trường TCCN của TTBM được thể hiện cụ thể trong QL kế hoạch giảng dạy môn tiếng Anh, chương trình môn tiếng Anh
và giáo trình giảng dạy môn tiếng Anh
* Quản lý kế hoạch giảng dạy môn tiếng Anh: Căn cứ vào tính đa dạng của đối tượng
HS trong diện tuyển sinh mà thời lượng dành cho môn tiếng Anh Ở TCCN thay đổi từ
90 tiết ( 6 dvht ) đến 210 tiết (14dvht) Số tiết tiếng Anh được phân bổ trong năm thứ nhất ( tức 2 học kỳ đầu) của hệ TCCN Trung bình HS học từ 3 tiết/ 1 tuần đến 6 tiết/ 1 tuần
* QL chương trình giảng dạy môn tiếng Anh:
- Chương trình giảng dạy môn tiếng Anh tại các trường TCCN được xây dựng trên những cơ sở sau:
+ Mục tiêu chung của chương trình đào tạo TCCN do Bộ GD-ĐT qui định
+ Vị thế của môn học đối với sự phát triển chung của toàn xã hội: Ngoại ngữ là một công cụ tạo điều kiện cho đất nước hòa nhập với cộng đồng quốc tế và khu vực, tiếp cận những thông tin khoa học kỹ thuật của thế giới và với các nền văn hóa khác cũng như giới thiệu nền văn hóa Việt Nam với cộng đồng quốc tế
+ Tính hệ thống và tính kế thừa các bậc học trước
+ Tính đặc thù của môn tiếng Anh theo những lý luận khoa học và thực tiễn về giảng dạy tiếng Anh hiện đại trong nước và trên thế giới
Trang 31+ Đặc điểm và nhu cầu của HS TCCN
- Chương trình môn tiếng Anh tại các trường TCCN phải nhằm vào mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể sau:
Mục tiêu chung:
Phát triển và nâng cao các kiến thức, kỹ năng , phương pháp học tập và ý thức
sử dụng tiếng Anh và các năng lực tư duy cần thiết để phục vụ quá trình học tập chuyên môn, mở mang kiến thức xã hội và ứng dụng vào cuộc sống lao động, đồng thời góp phần phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế
+ Tiếp tục phát triển các kỹ năng sử dụng tiếng Anh như một công cụ độc lập nhằm khai thác các nguồn thông tin bên ngoài lớp học, hỗ trợ quá trình phát triển các phẩm chất trí tuệ, kỹ năng sống và nâng cao trình độ chuyên môn
+ Tạo cơ hội cho HS nâng cao kiến thức và ý thức về những khác biệt văn hóa liên quan đến việc sử dụng tiếng Anh nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, phát triển tình hữu nghị và hợp tác trong lao động và giao tiếp với thành viên của các cộng đồng văn hóa khác [ 7, tr.5 ]
Trên cơ sở những mục tiêu và căn cứ vào tính đa dạng của đối tượng HS, chương trình tiếng Anh cho các trường TCCN được chia thành 7 mô-đun kết nối liên tục theo thứ tự Với 7 mô – đun có độ khó tăng dần, vừa kế tiếp nhau nhưng vừa có tính độc lập tương đối giữa các mô- đun, chương trình cho phép người sử dụng có thể linh hoạt kết nối toàn bộ 7 mô – đun hoặc bóc tách sử dụng các mô – đun theo cách kết
Trang 32hợp tùy chọn để phục vụ các yêu cầu cụ thể khác nhau, phù hợp với thời lượng và mục tiêu đào tạo
Theo đó, chương trình tiếng Anh cho HS TCCN vừa nâng cao kiến thức tiếng Anh tổng quát vừa cung cấp kiến thức tiếng Anh chuyên ngành giúp họ có thể tham khảo tài liệu chuyên ngành trong học tập, trong giao tiếp cả ở lĩnh vực xã hội và cả trong lĩnh vực chuyên môn Chương trình tiếng Anh cho HS TCCN gồm:
- Tiếng Anh tổng quát cho HS TCCN nhằm giúp cho họ nắm vững thêm kiến thức ngôn ngữ để thực hiện được các chức năng giao tiếp bằng tiếng Anh
- Tiếng Anh chuyên ngành cung cấp cho HS TCCN những kiến thức đại cương,
cơ bản nhất về chuyên ngành mà họ đang quan tâm, bao gồm các thuật ngữ khoa học bằng tiếng Anh, các dạng cấu trúc câu thường dùng
* QL giáo trình giảng dạy môn tiếng Anh ở trường TCCN
Giáo trình được lựa chọn hoặc biên soạn theo kế hoạch dạy học và chương trình dạy học Nội dung chương trình được thể hiện cụ thể, chi tiết, liên tục, có hệ thống trong giáo trình Theo đó, giáo trình được dạy cho hệ TCCN có 2 loại: giáo trình tiếng Anh tổng quát và giáo trình tiếng Anh chuyên ngành Giáo trình góp phần thực hiện tốt mục tiêu đào tạo, trong đó ưu tiên hình thành và phát triển phương pháp tự học của HS, nâng cao năng lực độc lập, sáng tạo, có quan tâm đúng mức tới các loại trình độ học tập của HS( giỏi, khá, trung bình, yếu)
Bên cạnh giáo trình, còn có các loại tài liệu học tập khác như: sách, báo, tạp chí, sách tra cứu, từ điển, băng, đĩa, mạng internet…
1.3.4 Quản lý cơ sở vật chất và phương tiện, trang thiết bị giảng dạy môn tiếng Anh ở TCCN
- Phải có khu dành riêng cho việc dạy học tiếng Anh ( do đặc thù của bộ môn tiếng Anh ) để khỏi ảnh hưởng tới việc dạy học các bộ môn khác; sắp xếp số HS trong một lớp học tiếng Anh không quá 30 HS; môi trường xung quanh lớp học tiếng Anh
Trang 33phải không quá ồn làm ảnh hưởng tới việc nghe nói của HS trong lớp; phòng học phải đảm bảo đầy đủ ánh sáng, thoáng mát
- Phải có đầy đủ sách, giáo trình và tài liệu phong phú phục vụ cho việc dạy và học
- Phải có trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy tiếng Anh như âmli, cassette, máy đèn chiếu, băng hình, và các giáo cụ trực quan như vật thật, tranh ảnh hình cắt từ tạp chí, bưu thiếp, các tấm bìa hình, bản đồ, bảng biểu, phiếu khai…[9, tr.143]
- Bàn ghế, bảng và các thiết bị dạy học phải được bố trí thật khoa học
1.3.5 Quản lý phương pháp giảng dạy môn tiếng Anh ở trường TCCN
PPGD là một trong những lĩnh vực trọng tâm nhất của hoạt động QLGD Nó là đối tượng chỉ đạo, tổ chức thực hiện của trường, của TTBM, của từng cá nhân GV và của cả HS PPGD có vai trò quyết định chất lượng đào tạo – PPGD là sự vận động của nội dung dạy học Mục tiêu giáo dục có đạt được hay không, có thực thi hay không chính là ở khả năng và trình độ triển khai thực hiện của từng GV đứng trên bục giảng trong nhà trường Như vậy, việc QL PPGD củaTTBM được quy về việc tổ chức GV triển khai vận dụng PPGD đảm bảo chất lượng giảng dạy Cái khó, cái phức tạp của việc QL này chính là sự QL làm chuyển biến ý thức, khả năng của từng GV, trong khi hoạt động giảng dạy của họ có tính độc lập tự chủ Người QL gặp khó khăn trong việc kiểm soát, điều khiển công việc hằng ngày và trong các tình huống giảng dạy cụ thể của từng GV Nếu không kiểm soát, điều khiển được, hoặc điều khiển kém hoạt động của từng GV thì coi như PPGD không được QL
Môn tiếng Anh ở trường TCCN được giảng dạy nhằm 3 mục đích: thực hành giao tiếp, nâng cao trình độ văn hóa và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức Do đặc thù của
bộ môn tiếng Anh mà mục đích thực hành giao tiếp trở thành cơ bản nhất Xuất phát từ mục đích dạy học đó, PPGD tiếng Anh ở trường TCCN phải là một quá trình mà trong
đó GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS, hướng dẫn HS tham gia tích cực vào hoạt động thực hành giao tiếp, thông qua các hoạt động cá nhân, theo cặp, theo nhóm,
Trang 34thông qua việc dự đoán, đưa giả thuyết, tham gia tranh luận và giải quyết các tình huống có vấn đề…
Có nhiều PPGD tiếng Anh, chúng tôi xin được dẫn một số phương pháp hiện đang được sử dụng phổ biến ở Việt Nam
* Phương pháp ngữ pháp – phiên dịch
Mục đích cơ bản của việc dạy - học tiếng Anh theo định hướng phương pháp ngữ pháp – phiên dịch là giúp người học nhanh chóng và có hiệu quả tiếp xúc với các văn bản Nội dung chủ yếu của quá trình dạy - học theo phương pháp này là giới thiệu một cách có hệ thống toàn bộ ngữ pháp gắn với việc đưa những ví dụ minh họa cho những hiện tượng ngữ pháp đó GV giảng dạy theo phương pháp ngữ pháp – phiên dịch sẽ tập trung phân tích, diễn giải các quy tắc ngữ pháp khó, phức tạp GV thường dùng tiếng Việt để giải thích GV dạy từ vựng một cách riêng lẻ, HS ghi nhớ máy móc bảng từ Hệ thống bài tập thực hành tập trung cho việc rèn luyện, nắm vững những qui tắc ngữ pháp Vận dụng những kiến thức ngữ pháp này để giải quyết các nhiệm vụ đọc dịch đúng văn bản, diễn đạt được nội dung sang tiếng Anh, chủ yếu dưới dạng viết dịch Phương pháp ngữ pháp – phiên dịch chủ yếu chú trọng đến hai kỹ năng đọc - dịch các văn bản mà không chú trọng đến kỹ năng nghe – nói
Phương pháp ngữ pháp – phiên dịch tỏ ra có hiệu quả khi được sủ dụng để dạy cho những người lớn tuổi học tiếng Anh Những người học tiếng Anh cốt đạt được mục đích đọc, hiểu để nắm bắt thông tin qua sách báo nước ngoài
* Phương pháp nghe – nói
GV sử dụng phương pháp nghe – nói nhằm giúp cho HS thực hành giao tiếp một cách rất máy móc và tự động HS bắt chước và nhắc lại từng từ, từng câu trong bài theo GV và học thuộc lòng các bài đọc hay các bài hội thoại Phương pháp này chú trọng đến phát âm, đến ngữ điệu của câu GV sử dụng phương pháp này thường không
sử dụng tiếng Việt để diễn giải hay dịch, vì thế HS có thói quen tốt là nói tiếng Anh trong giờ học Đối với phương pháp này, dạy kỹ năng nghe - nói là chủ yếu Với việc
Trang 35sử dụng phương pháp này, GV phải tích cực sử dụng thiết bị hỗ trợ như các phương tiện nghe nhìn nhằm giúp HS hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghe – nói ( máy ghi âm, băng, đĩa, phim, ảnh…)
Nguyên tắc cơ bản của phương pháp nghe – nói là:[ 14, tr189]
- Đảm bảo tính giao tiếp
- Đảm bảo khẩu ngữ đi trước một bước
- Đảm bảo mô hình hóa ngữ liệu dạy - học
- Đảm bảo hình thành hệ thống các kỹ xảo ngôn ngữ ( nghe, nói, đọc, viết )
- Có tính đến đặc điểm của tiếng mẹ đẻ
- Đảm bảo phương tiện nghe – nói
Phương pháp này chủ yếu hướng HS vào việc bắt chước và ghi nhớ máy móc từng từ, từng câu Mà hành vi máy móc, thụ động không phải là đặc trưng hoạt động của con người, cho nên nếu dạy theo phương pháp trên sẽ không đem đến cho HS kỹ năng giao tiếp thực sự, vì tình huống giao tiếp sinh động, muôn hình muôn vẻ, đòi hỏi người nghe, người nói phải tích cực, chủ động, sáng tạo mới đạt được mục đích, yêu cầu trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ
* Phương pháp giao tiếp
Phương pháp giao tiếp là phương pháp mà bốn kỹ năng giao tiếp được kết hợp cùng một lúc Phương pháp giao tiếp rất quan tâm đến yếu tố “thực” trong các bài tập rèn luyện khả năng giao tiếp Phương pháp giao tiếp nghiêng về xu hướng cho rằng lỗi ngữ pháp cần phải được tha thứ trong giao tiếp và sự mắc lỗi phải được coi là sự phát triển tự nhiên của quy trình xây dựng năng lực giao tiếp Chỉ có lỗi can thiệp vào nội dung giao tiếp là không được chấp nhận mà thôi Dịch trong phương pháp này không cấm, nhưng chỉ dịch khi cần thiết, như khi giải thích các trường hợp mang tính trừu tượng Khi sử dụng phương pháp giao tiếp trong giảng dạy, GV phải bằng mọi cách tạo điều kiện tối đa để động viên, khuyến khích HS hoạt động, sử dụng tiếng Anh trong
Trang 36học tập Theo Ths Nguyễn Quốc Hùng thì phương pháp giao tiếp nhấn mạnh vào năm điểm:
- Mọi bài rèn luyện phải mang tính giao tiếp, đặc biệt phải có khoảng trống thông tin
- Ngôn ngữ và văn hóa phải được quan tâm như nhau
- Tính thích hợp của sự lựa chọn
- Mắc lỗi trong giao tiếp là lẽ tự nhiên
- Mục tiêu cuối cùng của việc học ngoại ngữ là năng lực giao tiếp ( trước hết là giao tiếp bằng lời ) [ 17, tr.11]
Phương pháp giao tiếp là phương pháp dạy tiếng Anh có hiệu quả nhất Nó giúp cho HS sử dụng ngôn ngữ để thực hành giao tiếp trong nhiều tình huống khác nhau
PPGD tiếng Anh chuyên ngành rất đa dạng và cơ bản cũng như PPGD tiếng Anh tổng quát, cho dù nội dung của việc học tiếng Anh chuyên ngành có thay đổi so với việc học tiếng Anh tổng quát Cái gốc của việc dạy tiếng Anh chuyên ngành vẫn là năng lực giao tiếp bằng tiếng Anh trong lĩnh vực chuyên môn [ 13, tr.112]
Trong việc giảng dạy tiếng Anh ở trường TCCN, GV cần sử dụng hài hòa cả ba phương pháp trên thì việc giảng dạy sẽ đạt hiệu quả cao Trong thực tế các phương pháp này bao giờ cũng có sự bổ sung cho nhau nhằm hoàn thiện và phát triển chính bản thân mình Chẳng hạn như phương pháp giao tiếp ban đầu phủ định phương pháp ngữ pháp - dịch, nhưng dần dần các nhà giáo học pháp theo trường phái phương pháp giao tiếp đã phải cho phép dạy ngữ pháp và dùng tiếng mẹ đẻ ở mức độ nhất định PPGD tiếng Anh thích hợp chính là phương pháp không cứng nhắc, được sử dụng sinh động cho người dạy và người học PPGD thực chất được xây dựng và phát triển từ chính sự năng động của quá trình dạy học, là kết quả của sự tương tác giữa người dạy, người học, tài liệu dạy, chương trình học và các hoạt động học cũng như nhiệm vụ dạy học ngay trên lớp PPGD tiếng Anh được lựa chọn và xây dựng trên cơ sở nghiên cứu tìm hiểu những gì xảy ra bên trong lớp học, tức là chúng ta phải tính đến vai trò của
Trang 37người học Người học phải làm gì để đạt được mục đích học tập PPGD do vậy phải được xây dựng sao cho HS biết được những “bí quyết” để học tiếng Anh thành công cũng như xây dựng cho HS một chiến lược học phù hợp với họ Cụ thể, GV có nhiệm
vụ khuyến khích HS mạnh dạn tham gia các hoạt động giao tiếp, mạnh dạn thử nghiệm những hình thức diễn đạt mới, biết cách tự đánh giá khả năng tiến bộ của bản thân, biết cách chuyển những lỗi ngôn ngữ của mình thành những tri thức bổ ích, biết cách ghi nhớ và tự học, tự chịu trách nhiệm về quá trình học tập của bản thân GV có trách nhiệm giúp HS hiểu “học” không chỉ là học các kỹ năng, tiếp thu tri thức mà “học” bao hàm khái niệm học cách học, học cách tư duy, điều chỉnh thái độ, tiếp thu các giá trị xã hội và xây dựng hứng thú Người ta nhận thấy rằng phần lớn quá trình học tiếng Anh xảy ra trong điều kiện phi học đường, từ trong sách báo, từ các phương tiện thông tin đại chúng và trong thực tế giao tiếp bằng ngôn ngữ Vì thế phương pháp dạy tiếng Anh phải giúp cho HS có những kỹ năng giao tiếp thành thạo bên ngoài lớp học đồng thời tạo điều kiện cho HS tiếp tục học tiếng Anh suốt đời
1.3.6 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh của
HS trường TCCN
Kiểm tra, đánh giá là khâu cuối cùng của quá trình dạy học Kiểm tra, đánh giá nhằm khảo sát, xem xét cả về định lượng và định tính kết quả học tập, đánh giá mức độ chiếm lĩnh nội dung học vấn của HS Vì vậy TTBM phải xây dựng kế hoạch và quy trình kiểm tra và yêu cầu GV thực hiện Kiểm tra, đánh giá có ý nghĩa vô cùng quan trọng:
- Đối với GV: kết quả kiểm tra, đánh giá giúp cho GV nắm được trình độ học tập, lĩnh hội tri thức của HS Bên cạnh đó, GV có cơ sở tự đánh giá vốn tri thức, trình
độ chuyên môn, năng lực sư phạm, nhân cách và uy tín của mình với HS Từ đó, GV tự điều chỉnh, tự hoàn thiện mình đáp ứng nhiệm vụ giảng dạy đã đề ra
- Đối với TTBM cũng như các cấp QL khác trong trường: kiểm tra, đánh giá giúp cho người QL nhìn nhận thực chất hoạt động dạy học của thầy và trò, đánh giá
Trang 38chính xác chất lượng giảng dạy của tổ bộ môn Từ đó có những chủ trương, biện pháp chỉ đạo, uốn nắn kịp thời và sâu sát, khuyến khích và hỗ trợ những sáng kiến nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy Đồng thời, kết quả kiểm tra đánh giá cũng là cơ sở để xây dựng mục tiêu, xây dựng đội ngũ GV, chọn nội dung, chương trình cũng như lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học
Do việc giảng dạy môn tiếng Anh có mục đích là trang bị cho HS một công cụ giao tiếp mới để đáp ứng nhu cầu hội nhập, giao lưu trong và ngoài nước mà việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh của HS TCCN được hiểu là kiểm tra, đánh giá năng lực giao tiếp hay năng lực thực hành tiếng Anh
Nói đến đánh giá năng lực thực hành tiếng Anh là nhấn mạnh khía cạnh đánh giá năng lực giao tiếp của HS Tuy nhiên, không thể có năng lực giao tiếp khi không có kiến thức ngôn ngữ Kiến thức ngôn ngữ giúp HS thực hiện nhiệm vụ giao tiếp đặt trong một bối cảnh cụ thể Vì vậy, nội dung yêu cầu thi kiểm tra kiến thức ngôn ngữ được lồng vào bài thi kiểm tra các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết qua các loại bài tập giao tiếp như: chuyển hóa thông tin, điền thông tin, ghép hay chắp nối thông tin Cách kiểm tra đánh giá này phù hợp với nhu cầu sử dụng ngoại ngữ hiện nay trong xã hội, và
đã tác động trực tiếp đến nội dung, đổi mới PPGD theo hướng giúp HS có khả năng giao tiếp một cách trôi chảy, phù hợp với các tình huống giao tiếp đích thực
Theo quy định của Bộ GD-ĐT, việc thi, kiểm tra môn tiếng Anh được thực hiện như sau:
- GV tăng cường kiểm tra việc tự học của HS trong các giờ học bằng phương pháp vấn đáp, đối thoại trực tiếp trò – trò, thầy – trò
- Mỗi học phần phải tổ chức ba lần kiểm tra và một lần thi
- Phối hợp nhiều hình thức kiểm tra: kiểm tra vấn đáp, kiểm tra viết Kiểm tra viết theo hình thức trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận… để việc đánh giá được khách quan
Trang 39- Coi trọng giờ luyện tập, giờ thảo luận Đó là cách đánh giá chính xác chất lượng học tập và nhận thức của HS
Những yêu cầu cơ bản đối với việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS: Đảm bảo tính khách quan; Đảm bảo tính toàn diện; Đảm bảo tính hệ thống; Đảm bảo tính phát triển
Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh của HS được tiến hành một cách khách quan có ý nghĩa thiết thực thúc đẩy, khích lệ HS học tập tốt hơn Đồng thời, việc kiểm tra, đánh giá còn góp phần điều chỉnh nội dung, chương trình đào tạo, phương pháp dạy của thầy, phương pháp học tập của trò nhằm nâng cao chất lượng dạy
và học môn tiếng Anh
1.3.7 Quản lý trình độ của GV giảng dạy môn tiếng Anh ở trường TCCN
Nắm chắc số lượng đội ngũ GV, biết được điểm mạnh, điểm yếu của từng người
là một trong những nhiệm vụ của người làm công tác QL Điều này giúp cho người QL
sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực Đây là một điểm mấu chốt quyết định đến chất lượng dạy học
Tiếng Anh được đưa vào chương trình TCCN nhằm mục đích thực hành giao tiếp Thông qua mục đích giao tiếp mà đạt tới yêu cầu về nâng cao trình độ văn hóa và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức Chính vì vậy, ngoài việc phải có phẩm chất đạo đức tốt,
có nhận thức đúng đắn về nghề dạy học, GV phải có năng lực sư phạm: hệ thống tri thức khoa học có liên quan đến bộ môn tiếng Anh mà mình giảng dạy, những hiểu biết cần thiết về những khoa học lân cận với chuyên môn của mình, đặc biệt là GV phải nắm vững PPGD môn tiếng Anh
GV giảng dạy môn tiếng Anh ở TCCN tối thiểu phải có trình độ học vị cử nhân tiếng Anh Để thực hiện giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành cho HS TCCN, GV vừa phải nắm vững toàn bộ chương trình bộ môn vừa phải mở rộng tầm nhìn qua các tài liệu chuyên môn để đảm bảo chất lượng và hiệu quả cho việc giảng dạy Bên cạnh giáo trình bộ môn, GV phải có những tài liệu bổ trợ như: giáo trình chuyên ngành đào tạo,
Trang 40từ điển chuyên ngành, sách tham khảo liên quan đến kiến thức trong chương trình, tạp chí, sách báo nước ngoài liên quan đến bộ môn, các thông tin trên mạng internet phục
vụ cho việc dạy và học tiếng Anh chuyên ngành…
Tiềm lực và khả năng của đội ngũ GV quyết định chất lượng đào tạo Vì vậy, ngoài việc có bằng cấp chuyên môn thì kinh nghiệm giảng dạy của GV cũng rất quan trọng
1.3.8 Quản lý về tổ chức giảng dạy môn tiếng Anh ở trường TCCN
Muốn cho việc giảng dạy tiếng Anh có chất lượng và đạt hiệu quả cao thì rất cần nhân tố tổ chức và QL Nhân tố tổ chức và QL có ý nghĩa quyết định trước tiên và cuối cùng đối với sự thành công của việc dạy - học tiếng Anh trong nhà trường Những vấn đề then chốt nhất trong việc QL về tổ chức điều khiển quá trình giảng dạy tiếng Anh trong trường TCCN của TTBM tiếng Anh là:
- Lập kế hoạch phân bố quỹ thời gian: Thời gian là một điều kiện vật chât đầu tiên ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy - học tiếng Anh ở TCCN Để hoàn thành chương trình tiếng Anh cho các trường TCCN ( 7 mô- đun ) thì thời lượng cho môn tiếng Anh dao động từ 90 tiết đến 210 tiết tùy thuộc vào trình độ đầu vào của HS [ 14, tr.9] Như vậy, nếu thời lượng môn tiếng Anh là 210 tiết thì mỗi Mô – đun có 30 tiết thực học trên lớp Nếu phân phối môn tiếng Anh chỉ học năm đầu trong tổng số 2 năm TCCN thì mỗi tuần sẽ có 5 tiết tiếng Anh TTBM tiếng Anh có nhiệm vụ lên kế hoạch giảng dạy và tổ chức chỉ đạo thực hiện việc giảng dạy theo đúng lịch trình bộ môn tiếng Anh Cụ thể là xây dựng và thông báo kế hoạch giảng dạy bộ môn toàn khóa
và năm học cho từng người, làm cho mỗi thành viên trong tổ tự giác chấp nhận kế hoạch và tự nguyện hành động theo kế hoạch đã đề ra
- Phân bố nội dung: Sau khi đã xác định rõ các giai đoạn và phân bố thời gian cho việc giảng dạy bộ môn tiếng Anh, TTBM có trách nhiệm phân bố nội dung chương trình sách giáo khoa hay giáo trình phù hợp với nội dung giáo dục phẩm chất, nội dung