1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của giáo viên bộ môn ở các trường trung học phổ thông tư thục tại thành phố hồ chí minh

129 21 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận xét thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của giáo viên bộ môn ở các trường THPT tư thục trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay...65 Ti ểu kết chương 2 ...

Trang 1

Nguy ễn Thị Mỹ Tiên

Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TƯ THỤC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2016

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TƯ THỤC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Qu ản lí giáo dục

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2016

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Hồng Các số liệu và kết quả nghiên

cứu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, tài liệu phục vụ đề tài nghiên cứu đều được trích dẫn, có chú thích rõ ràng, minh bạch

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của luận văn này

Tác giả NGUYỄN THỊ MỸ TIÊN

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo trường, các chuyên viên phòng Sau Đại

học và các Thầy giáo, Cô giáo đã giảng dạy cho tôi Cảm ơn khoa Khoa học Quản lý

của trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo môi trường học tập và điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành chương trình cao học

Với tình cảm chân thành và lòng tri ân sâu sắc của mình, tôi xin được cảm ơn

Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Hồng, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành

luận văn Tiến sĩ không những hướng dẫn tôi về ý tưởng và phương pháp nghiên cứu

mà còn là người truyền cảm hứng đến tôi về tâm huyết và sự nghiêm túc trong nghiên

cứu một đề tài khoa học

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các Ông, Bà lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh, các trường THPT tư thục tại Thành phố Hồ Chí Minh mà

luận văn đề cập đã nhiệt tình cộng tác, cung cấp số liệu, cho ý kiến để luận văn được hoàn thành có ý nghĩa thực tiễn

Xin cảm ơn gia đình yêu quý của tôi, cảm ơn những bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và nghiên

cứu trong suốt thời gian qua

Mặc dù luận văn này đã được tôi đầu tư nhiều công sức, cố gắng hoàn thành, nhưng sẽ không thể tránh khỏi những sai sót Kính mong nhận được sự thông cảm và góp ý của quý Thầy Cô và các nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm tới những vẫn đề được trình bày trong luận văn

Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn tất cả quý ân nhân của tôi!

Tác giả NGUYỄN THỊ MỸ TIÊN

Trang 5

M ỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục từ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

M Ở ĐẦU 1

Chương 1 LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO H ỌC SINH CỦA GIÁO VIÊN BỘ MÔN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TƯ THỤC T ẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 9

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9

1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước 9

1.1.2 Nghiên cứu trong nước 11

1.2 Các khái niệm liên quan 15

1.2.1 Quản lý 15

1.2.2 Quản lý giáo dục 16

1.2.3 Quản lý nhà trường 17

1.2.4 Trường trung học phổ thông tư thục 19

1.2.5 Giáo viên bộ môn 20

1.2.6 Giáo dục đạo đức 22

1.3 Hoạt động giáo dục đạo đức học sinh của giáo viên bộ môn ở trường THPT tư thục 25

1.3.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức của GVBM tại trường THPT tư thục 26

1.3.2 Nhiệm vụ của GDĐĐ của GVBM tại trường THPT tư thục 28

1.3.3 Yêu cầu về phẩm chất và năng lực của giáo viên bộ môn 29

1.3.4 Nội dung giáo dục đạo đức của GVBM tại trường THPT tư thục 30

1.3.5 Các phương pháp giáo dục đạo đức 31

Trang 6

1.3.6 Các hình thức giáo dục đạo đức 32 1.4 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh Trung học phổ thông 35 1.4.1 Lập kế hoạch GDĐĐ cho học sinh của GVBM ở trường THPT tư thục 35 1.4.2 Tổ chức hoạt động GDĐĐ cho học sinh của GVBM ở trường THPT

tư thục 36 1.4.3 Chỉ đạo hoạt động GDĐĐ cho học sinh của GVBM ở trường THPT

tư thục 37 1.4.4 Kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch hoạt động GDĐĐ cho học sinh

của GVBM ở trường THPT tư thục 38

Ti ểu kết chương 1 40 Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO

ĐỨC CHO HỌC SINH CỦA GIÁO VIÊN BỘ MÔN Ở CÁC TRƯỜNG THPT TƯ THỤC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 41

2.1 Tình hình hoạt động giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THPT tư thục tại thành phố Hồ Chí Minh 41 2.2 Thể thức nghiên cứu 43 2.3 Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh của giáo viên bộ môn ở các trường THPT tư thục tại thành phố Hồ Chí Minh 45 2.4 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của giáo viên

bộ môn ở các trường THPT tư thục tại thành phố Hồ Chí Minh 52 2.5 Nhận xét thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của giáo viên bộ môn ở các trường THPT tư thục trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 65

Ti ểu kết chương 2 67 Chương 3 BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

GIÁO D ỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CỦA GIÁO VIÊN BỘ MÔN CÁC TRƯỜNG THPT TƯ THỤC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 68

3.1 Cơ sở đề xuất 68

Trang 7

3.1.1 Cơ sở pháp lý 68

3.1.2 Cơ sở lý luận 71

3.1.3 Cơ sở thực tiễn 72

3.2 Nguyên tắc đề xuất 74

3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 74

3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 74

3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ và toàn diện 75

3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi và hiệu quả 75

3.3 Nội dung các biện pháp 75

3.3.1 Khảo sát tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp 75

3.3.2 Nội dung các biện pháp 77

Ti ểu kết chương 3 85

K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 89

PH Ụ LỤC

Trang 8

DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT

BGH : Ban giám hiệu

CBQL : Cán bộ quản lí

GDĐĐ : Giáo dục đạo đức

GVBM : Giáo viên bộ môn

GVCN : Giáo viên chủ nhiệm

HS : Học sinh

QLGD : Quản lí giáo dục

THPT : Trung học phổ thông

Trang 9

GDĐĐ cho học sinh của GVBM 46

Bảng 2.5 Đánh giá mức độ thực hiện các nội dung giáo dục đạo đức của

Bảng 2.13 So sánh nhận định của CBQL và giáo viên bộ môn về việc BGH lập

kế hoạch hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM (tỉ lệ %) 56

Bảng 2.14 So sánh nhận định của CBQL và GV về việc BGH tổ chức hoạt động

giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM (tỉ lệ %) 58

Bảng 2.15 So sánh nhận định của CBQL và giáo viên bộ môn về việc BGH chỉ

đạo hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM (tỉ lệ %) 60

Bảng 2.16 So sánh nhận định của CBQL và GV về việc BGH kiểm tra hoạt

động giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM (tỉ lệ %) 61

Bảng 2.17 Đánh giá của CBQL về nguyên nhân khiến GVBM ít chú trọng công

tác GDĐĐ cho học sinh (%) 63

Bảng 3 1 Danh sách cán bộ quản lý được khảo sát 76

Trang 10

DANH M ỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Mô hình quản lý 16Hình 3.1 Đánh giá mức khả thi và mức hiệu quả của các biện pháp quản lý hoạt

động giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM trường tư thục (%) 76

Trang 11

M Ở ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng và góp phần trực tiếp trong việc bồi dưỡng và đào tạo con người Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII khẳng định: “Thực hiện giáo dục toàn diện đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học (hết sức coi trọng giáo dục đạo đức)”, đến năm 2013, Nghị quyết 29 của Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản

Việt Nam khoá XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu

cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đặt ra yêu cầu cấp bách cho GDĐĐ hiện nay là

“Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và

tư tưởng Hồ Chí Minh”, qua đó thấy rằng Đảng và Nhà nước đang chỉ đạo quyết liệt

nhằm đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục nước nhà, đưa giáo dục Việt Nam

trở thành nền giáo dục tiên tiến, hội nhập quốc tế đồng thời giữ được những giá trị văn hóa xã hội của dân tộc

Bên cạnh những thành tựu ngành giáo dục đạt được, chúng ta đang đối diện với tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống; sự gia tăng tệ nạn xã hội và tội

phạm; đáng lo ngại nhất là vấn đề tiêu cực trong học tập, thi cử; vấn đề bạo lực học đường ngày càng gia tăng Một số học sinh chạy theo lối sống thực dụng, chưa có ý

thức trong việc rèn luyện đạo đức Không ít học sinh thiếu tích cực trong học tập và rèn luyện; không chịu phấn đấu; thiếu niềm tin, lý tưởng sống Thực trạng học sinh

mắc vào các tệ nạn xã hội, đánh nhau, bạo lực học đường… đã và đang là mối lo lớn

của toàn xã hội

Giáo dục phổ thông là giai đoạn giáo dục quan trọng, trong đó cấp THPT là cấp

học mà học sinh có nhiều thay đổi về mặt tâm, sinh lý cũng như là giai đoạn quan

trọng để các em chuẩn bị trưởng thành bước vào đời sống thực tế Điều đó đòi hỏi học sinh không những có đủ các kiến thức hàn lâm mà còn phải có phẩm chất đạo đức, có

ý chí vững vàng và định hướng bản thân phù hợp; có lối sống lành mạnh và nhận thức

Trang 12

về thế giới quan đúng đắn Vì vậy, song song với dạy kiến thức các môn khoa học thì

việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT là vô cùng cần thiết và cấp bách trong ngành giáo dục Đó là sứ mệnh của các tổ chức giáo dục, các đơn vị sự nghiệp trong công cuộc đào tạo của mình Các trường THPT tư thục tại thành phố Hồ CHí Minh cũng không nằm ngoài sứ mệnh ấy Tuy nhiên, việc GDĐĐ cho học sinh ở các trường

tư thục vẫn chưa được thực hiện hoặc thực hiện còn sơ sài, thiếu đồng bộ và chưa có chiều sâu; chỉ giới hạn ở giáo viên dạy môn Giáo dục công dân, GVCN lớp, bộ phận giám thị (quản sinh) nhưng phương pháp giáo dục còn đơn điệu, chủ yếu là áp dụng các hình thức kỷ luật như trách phạt, lập biên bản, mời phụ huynh… mà chưa có sự

uốn nắn, dạy dỗ học sinh Trong khi đó, ở nhà trường, ngoài các lực lượng kể trên thì GVBM là người có lượng thời gian tiếp cận học sinh nhiều nhất GVBM đến lớp truyền thụ kiến thức và tiếp xúc với học sinh ở hầu hết thời gian ở trường Vì vậy, với

tư cách là một nhà sư phạm, GVBM có nhiệm vụ và sứ mệnh uốn nắn, rèn giũa các em

học sinh có một đạo đức tốt đẹp, một lối sống đúng đắn Kết hợp với dạy kiến thức chuyên môn, GVBM có thể dẫn chứng, liên hệ với bài học để giáo dục tư tưởng cho

học trò để ngoài kiến thức phổ thông học sinh còn vững vàng về lý tưởng và có niềm tin đúng đắn Ở trường THPT tư thục – một môi trường đòi hỏi GVBM phải đảm bảo

chất lượng và số lượng học sinh, phải dạy cho các em học sinh ở đủ các trình độ khác nhau, nhận thức khác nhau và hoàn cảnh cũng khác nhau GVBM ở môi trường tư thục

phải chịu áp lực với Hội đồng quản trị với tỉ lệ học sinh lên lớp, học sinh ra trường,

học sinh thi điểm cao môn mình phụ trách

Quản lý GDĐĐ cho học sinh của GVBM nghĩa là làm sao cho GVBM có thể giáo dục được học sinh trong mỗi giờ dạy của mình, lồng ghép, tích học các vấn đề đạo đức vào từng bài học cụ thể Có như vậy, học sinh mới rèn luyện được những

phẩm chất đạo đức tốt đẹp và toàn diện

Tuy nhiên, công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh của GVBM ở các trường THPT tư thục vẫn chưa được thực hiện hoặc thực hiện còn sơ sài, thiếu đồng

bộ và chưa có chiều sâu Phần lớn cán bộ quản lý chưa có nhận thức sâu sắc về trách nhiệm, vai trò của GVBM trong hoạt động GDĐĐ Bên cạnh đó, năng lực của cán bộ

quản lý còn khá hạn chế dẫn đến việc lập kế hoạch, tổ chức, điều hành còn yếu kém,

Trang 13

công tác kiểm tra còn lỏng lẻo, thiếu nhất quán Việc quản lý hoạt động GDĐĐ của GVBM là vấn đề hết sức cấp thiết để xây dựng một lực lượng GDĐĐ hùng hậu sẵn có trong nhà trường và là một thành tố nhằm giáo dục học sinh một cách toàn diện nhất

Vì vậy, việc quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh THPT tại trường tư thục của GVBM là một vấn đề hết sức khó khăn và bức thiết, cần được nhìn nhận và đánh giá đúng thực trạng để đề ra những giải pháp hữu ích nhằm quản lý tốt việc giáo dục đạo đức cho các em học sinh học tập tại môi trường tư thục

Vì lẽ đó, cần thiết nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho

học sinh của giáo viên bộ môn ở các trường THPT tư thục tại thành phố Hồ Chí Minh,

từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm năng cao hiệu quả công tác quản lý của nhà trường

2 M ục đích nghiên cứu

Xác định thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT của GVBM ở các trường THPT tư thục tại thành phố Hồ Chí Minh Từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho

học sinh của GVBM trong trường trung học phổ thông tư thục

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Khách th ể nghiên cứu

Công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức ở trường trung học phổ thông tư

thục

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT của giáo viên

bộ môn ở các trường THPT tư thục tại thành phố Hồ Chí Minh

4 Gi ả thuyết nghiên cứu

− Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM ở các trường THPT tư

thục tại thành phố Hồ Chí Minh đã được thực hiện nhưng còn thiếu hiệu quả Đa số GVBM chưa được tiếp cận và triển khai thực hiện có hệ thống các nội dung giáo dục đạo đức cũng như hình thức hoạt động giáo dục

− Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM ở các trường THPT tư thục tại thành phố Hồ Chí Minh còn hạn chế trong việc thực hiện các chức

Trang 14

năng quản lý như chức năng lập kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo và

kiểm tra, đánh giá, nguyên nhân do ý thức trách nhiệm và năng lực tổ chức, chỉ đạo và

kiểm tra đánh giá của cán bộ quản lý còn hạn chế, thực trạng đó đòi hỏi phải cải tiến

biện pháp quản lý để nâng cao nhận thức và thúc đẩy thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM

5 Nhi ệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM tại các trường THPT tư thục

5.2 Đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM tại các trường THPT tư thục tại thành phố Hồ Chí Minh

5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM tại các trường THPT tư thục tại thành phố Hồ Chí Minh

6 Ph ạm vi nghiên cứu

− Đề tài tập trung khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM tại các trường THPT tư thục không có yếu tố nước ngoài trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, theo hướng tiếp cận chức năng quản lý như chức năng lập kế

hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra, đánh giá

− Đề tài nghiên cứu chỉ tập trung vào việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM trong giờ lên lớp và thông qua các tình huống sư phạm

− Các dữ liệu nghiên cứu được lấy trong giai đoạn từ năm 2013 – 2016

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận

Quan điểm hệ thống - cấu trúc:

Bất kỳ một sự vật, hiện tượng tồn tại đều không nằm riêng lẻ mà nằm trong một

hệ thống nhất định, chịu sự ảnh hưởng và điều phối của hệ thống đó Khi nghiên cứu

một hiện tượng giáo dục cần phải xem xét một cách toàn diện, nhiều mặt trong trạng thái vận động và phát triển, trong hoàn cảnh và điều kiện cụ thể để tìm ra bản chất và

Trang 15

các quy luật vận động của đối tượng; xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của

hệ thống để tìm quy luật phát triển

Nghiên cứu công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM tại các trường THPT tư thục phải nghiên cứu một cách toàn diện, trên nhiều

mặt Thấy được môi trường của hoạt động này là hệ thống giáo dục quốc dân cùng với

hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội, chịu ảnh hưởng của nền giáo dục tri thức thế giới GVBM khi tiến hành hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh chịu tác động từ các

yếu tố như chế độ lương bổng, đãi ngộ, giờ nghỉ, yếu tố gia đình, khuynh hướng cá nhân, yếu tố chính trị vì vậy khi nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM phải lưu ý các yếu tố trên

Khi đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM tại các trường THPT tư thục, các biện pháp được sắp

xếp trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau và theo một chỉnh thể thống nhất Các biện pháp được đề xuất trên cơ sở kết quả khảo sát thực tế và qua ý kiến của chuyên gia,

thống nhất với lý luận khoa học

− Quan điểm lịch sử - logic:

Khi nghiên cứu các hiện tượng giáo dục phải tìm hiểu, phát hiện sự nảy sinh, phát triển của giáo dục trong khoảng thời gian và không gian cụ thể với những điều

kiện và hoàn cảnh cụ thể để phát hiện ra qui luật tất yếu của quá trình dạy học – giáo

dục

Nghiên cứu các tư liệu về hoạt động giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM tại các trường THPT tư thục tại thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu các sự kiện lịch sử về vấn đề này và nghiên cứu xu thế phát triển lịch sử giáo dục để nghiên cứu thực tiễn giáo dục, tìm ra các khả năng mới, tìm hiểu và xác định thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM và quản lý hoạt động giáo

dục đạo đức cho học sinh trong chiều dài của hệ thống giáo dục bằng cách tìm hiểu, phát hiện sự nảy sinh, phát triển của vấn đề tại những khoảng thời gian và không gian xác định, với những điều kiện hoàn cảnh cụ thể để điều tra thu thập số liệu chính xác

nhằm phát hiện những ưu điểm cần phát huy và những tồn tại cần khắc phục, từ đó đề

xuất các biện pháp phù hợp thực tiễn

Trang 16

− Quan điểm thực tiễn:

Quan điểm thực tiễn đòi hỏi người nghiên cứu khoa học giáo dục phải bám sát

thực tiễn, phục vụ cho sự nghiệp giáo dục của đất nước Thực tiễn là nguồn gốc, động

lực, tiêu chuẩn và mục đích của toàn bộ quá trình nghiên cứu khoa học

Vận dụng quan điểm thực tiễn vào đề tài này, người nghiên cứu phân tích và đánh giá công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM tại các trường THPT tư thục trong điều kiện cụ thể của thành phố Hồ Chí Minh Các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý phải dựa vào điều kiện thực tiễn về nhân lực,

khả năng và điều kiện thực hiện của các trường trên địa bàn thành phố, từ đó đưa ra các biện pháp quản lý mang tính khả thi góp phần nâng cao hiệu quả quản lý công tác này tại trường trung học phổ thông tư thục

7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các văn bản, nghị quyết; các tài liệu, sách, báo; các thông tin trên internet về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM tại các trường THPT tư thục; tham khảo các công trình nghiên cứu, các vấn đề

có liên quan đến nội dung quản lý công tác này để hệ thống hóa cơ sở lý luận

7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.2.1 Phương pháp quan sát

Quan sát hoạt động của các GVBM ở trường THPT tư thục tại thành phố Hồ Chí Minh nhằm tìm hiểu hình thức và phương pháp tổ chức quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của GVBM Tác giả quan sát các hoạt động GDĐĐ của GVBM thông qua dự

giờ 2 tiết/trường tại 2 trường là THCS, THPT Quang Trung Nguyễn Huệ và trường THPT Hồng Đức, quan sát cách ứng xử của GVBM khi tiếp xúc với học sinh giờ ra chơi ở 5 trường: THPT Trần Nhân Tông, THPT Duy Tân, THCS, THPT Quang Trung Nguyễn Huệ, THPT Hồng Đức và THPT Trương Vĩnh Ký Trên cơ sở đó thiết kế nội dung phiếu khảo sát đồng thời giúp tác giả nắm bắt thêm một số thông tin về quản lý

hoạt động GDĐĐ nói chung, thu thập thông tin về nhận thức, nhu cầu của học sinh khi tham gia các hoạt động GDĐĐ để đề xuất biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ phù

hợp

Trang 17

7.2.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Để khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM ở trường THPT tư thục tại thành phố Hồ Chí Minh chúng tôi tiến hành sử dụng các mẫu phiếu:

− Phiếu dành cho CBQL nhằm tìm hiểu về công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM

− Phiếu dành cho GVBM nhằm tìm hiểu về công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của CBQL và hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các lớp họ phụ trách

giảng dạy

7.2.2.3 Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn 01 Hiệu trưởng và 02 Phó Hiệu trưởng về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM, đánh giá về tình hình triển khai và thực hiện hoạt động giáo dục này hiện nay

Phỏng vấn 05 GVBM về phương thức làm việc, hoạt động quản lý, giáo dục học sinh, các thuận lợi và khó khăn

7.2.2.4 Phương pháp chuyên gia

Lấy ý kiến chuyên gia để xây dựng biện pháp quản lý và nhận định tính hiệu quả,

khả thi của các biện pháp đề xuất

7.2.2.5 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo công tác đối với giáo viên bộ môn, các báo cáo

tổng kết năm học về hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của BGH… nhằm phát

hiện những hạn chế trong công tác quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM

7.2.2.6 Phương pháp thống kê số liệu

Để phân tích và xử lý các số liệu thu được, chúng tôi tiến hành sử dụng phần

mềm SPSS Statistics 20

8 C ấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:

CHƯƠNG 1: Lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của giáo viên bộ môn ở các trường THPT tư thục tại thành phố Hồ Chí Minh

Trang 18

CHƯƠNG 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của giáo viên bộ môn ở các trường THPT tư thục tại thành phố Hồ Chí Minh

CHƯƠNG 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh của giáo viên bộ môn ở các trường THPT tư thục tại thành phố Hồ Chí Minh

Trang 19

Chương 1

LÝ LU ẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

CHO H ỌC SINH CỦA GIÁO VIÊN BỘ MÔN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC

PH Ổ THÔNG TƯ THỤC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp các qui tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiến bộ xã hội trong quan hệ cá nhân - cá nhân và quan hệ cá nhân - xã hội Đạo đức với các giá trị của nó đã được hình thành từ nhiều thế kỷ trước đây trong triết học Phương Đông lẫn triết học Phương Tây

Giáo dục đạo đức cho thanh thiếu niên nhất là học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường luôn là vấn đề quan trọng nhằm hình thành và phát triển nhân cách toàn diện

của người công dân, vì thế đã có rất nhiều nhà giáo dục ở trong cũng như ở ngoài nước quan tâm nghiên cứu

Nghiên c ứu ngoài nước

1.1.1.

Nói về phương Đông, từ thời phong kiến Trung Hoa, Khổng Tử (551 - 479 Trước công nguyên) đã rất coi trọng việc giáo dục đạo đức trong nhân cách con người

Đó là việc giáo dục lòng nhân ái và “biết sống có trên dưới; trung thực, thủy chung; có

kỷ cương từ gia đình đến xã hội nhằm giữ trọn bổn phận của tôi đối với vua, vợ đối

với chồng, con cái đối với cha mẹ, em đối với anh, trò đối với thầy, bạn bè đối với nhau… có được như vậy thì gia đình sẽ được yên ấm, xã hội được bình an.”[4, tr.62]

Với tư tưởng đó, học trò Mạnh Tử đã ghi chép thành câu “Nhân chi sơ, tính bổn thiện” nhấn mạnh yếu tố giáo dục trong nhà trường và cộng đồng xã hội, rằng con người sinh ra bản tính ban đầu vốn thiện và tốt lành, khi lớn lên, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố mà tính tình trở nên thay đổi, tính ác có thể phát sinh, do đó cần phải luôn được giáo dục, giữ gìn và rèn luyện cho đời sống lành mạnh thì tính lành mới giữ được

và phát triển, để tính dữ không có điều kiện nảy sinh[4]

Nói về phương Tây, nhà giáo dục J.A Comenxki (1592 - 1670), ông tổ của nền giáo dục cận đại đã đưa ra phương pháp giáo dục đạo đức trong đó chú trọng đến hành

Trang 20

vi là động cơ đạo đức Ông chỉ ra “Nhà trường chính là nơi đào tạo nên những con người chân chính, là cái xưởng để chế tạo ra nhân đạo và hạnh phúc” Khi nói về kỷ

luật để giáo dục đạo đức cho học sinh ông khẳng định một cách nhân văn tư tưởng của mình là “Kỷ luật là cần thiết đối với những người lệch lạc không phải vì họ lệch lạc

mà để họ đừng lệch lạc nữa” Ngoài ra, J.A Comenxki đề cao phương pháp nêu gương trong việc giáo dục học trò, những người lớn như cha mẹ, thầy cô, vú nuôi… phải là

tấm gương sáng cho trẻ noi theo [1, tr.88]

Cùng với J.A Comenxki đề cao giáo dục đạo đức, quan điểm của Petxtalôdi (1746

- 1827), một trong ba nhà giáo dục tiêu biểu của thế kỷ XIX, đã đánh giá rất cao vai trò

của giáo dục đạo đức trong gia đình Ông cho rằng nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục là giáo dục đạo đức (đức dục) cho trẻ em trên cơ sở chung nhất là tình yêu về con người Tình yêu ấy bắt nguồn từ gia đình; trước hết là đối với cha mẹ, anh chị em rồi đến bạn

bè và mọi người trong xã hội Tình thương yêu con người của trẻ em sớm hình thành trong gia đình sẽ tiếp tục được củng cố và phát triển ở trường học [1]

Anton Makarenko (1888 - 1939), đại diện cho nền giáo dục đương đại, đã nhấn

mạnh đến vai trò của giáo dục đạo đức và các biện pháp giáo dục đúng đắn như sự nêu gương, “giáo dục trong tập thể và giáo dục bằng tập thể” trong tác phẩm “Bài ca sư

phạm” Ông kết luận: “Nhiệm vụ của chúng ta nói tóm lại là giáo dục tập thể” Điều đó

có nghĩa là hình thành nhận thức, tình cảm, hành vi, thói quen tập thể; là góp phần tạo

ra nhân sinh quan Xã hội chủ nghĩa, bộ mặt đạo đức chủ yếu của con người mới Xã

hội chủ nghĩa để phân biệt với con người của giai cấp bóc lột - con người ích kỷ, cá nhân [1, tr.216]

Nhà giáo dục học Mỹ - John Dewey chỉ ra rằng, “Triết lí là lí luận giáo dục xét như

một thực tiễn được thực hiện một cách có chủ tâm” Nhà trường chính là môi trường

sống, là đời sống cộng đồng, cho nên không được tháo rời giữa nhà trường và xã hội, ông viết “sản phẩm cao quý nhất của nhà trường là ở chỗ nhà trường tạo ra khuynh hướng học hỏi từ bản thân đời sống và nó cung cấp điều kiện sống nào đó để tất cả

mọi người sẽ học trong quá trình họ đang sống”, “làm cho HS tham gia vào những

hoạt động…theo cách sao cho HS học được kỹ năng chân tay và hiệu quả kỹ thuật và

Trang 21

tìm thấy sự thỏa mãn trực tiếp trong khi làm việc, đồng thời được chuẩn bị cho sự có ích sau này”

Còn theo quan điểm học thuyết Mác – Lênin thì đạo đức có nguồn gốc từ lao động

xã hội và đời sống cộng đồng xã hội, nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã

hội Khi tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức xã hội cũng thay đổi theo Chính vì vậy đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc

Nghiên c ứu trong nước

1.1.2.

Từ xưa, ông cha ta đã đúc kết một cách sâu sắc kinh nghiệm về giáo dục “Tiên

học lễ, hậu học văn”, coi trọng việc GDĐĐ, giáo dục lễ nghĩa, đối nhân xử thế cho con

em mình Ngày nay, phương châm “Dạy người, dạy chữ, dạy nghề” cũng thể hiện rõ

tầm quan trọng của hoạt động giáo dục đạo đức cho người học Truyền thống nhân đạo, đoàn kết, yêu thương được đề cập nhiều qua các câu ca dao, tục ngữ như “Đói cho sạch, rách cho thơm”, “Giấy rách phải giữ lấy lề”, “Anh em như thể tay chân, anh

em hòa thuận hai thân vui vầy”…

Trong giai đoạn đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, thanh thiếu niên cần phải dốc lòng

học tập, nâng cao vượt bậc trình độ khoa học – kỹ thuật và quản lý rèn luyện tác phong công nghiệp, trong lúc đó vẫn phải coi trọng đạo đức lý tưởng, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh: “Dạy cũng như học, phải chú trọng cả tài lẫn đức Đức là đạo đức cách

mạng Đó là cái gốc quan trọng Nếu thiếu đạo đức, con người sẽ không phải là con người bình thường và cuộc sống xã hội sẽ không phải là cuộc sống xã hội bình thường,

ổn định ”[4, tr.329] Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói: “Có tài không có đức

chỉ là người vô dụng Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Bác

dạy “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài là văn hoá, chuyên môn, đức là chính trị

Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức”[4, tr.492] Thấm nhuần tư tưởng

đó, Đảng ta đã chủ trương: “Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng, đạo đức, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác – Lê Nin, đưa việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh vào nhà trường phù hợp với từng lứa tuổi và bậc học ”[1] Bởi vậy, tu dưỡng và rèn luyện bản thân để trở thành người có nhân cách, vừa có đức vừa có tài là hết sức quan

trọng đối với mỗi con người, là nhiệm vụ giáo dục hàng đầu của nhà trường phổ thông

Trang 22

Nghị quyết Hội nghị lần thứ X Ban chấp hành Trung ương khóa IX (07/ 2004)

Đảng ta xác định nhiệm vụ cụ thể của thời kỳ đổi mới đó là: “Đẩy mạnh giáo dục xã

hội chủ nghĩa, bồi dưỡng lòng yêu nước, tạo sự chuyển biến rõ rệt về bản lĩnh chính

trị, đạo đức, lối sống, năng lực trí tuệ con người Việt nam, đủ sức thực hiện thành công

sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.” [23, tr.60] Hai trong ba nhiệm vụ trọng tâm đó là:

“Tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội…” và “Nâng cao chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ xây

dựng con người Việt Nam” theo năm đức tính được xác định trong Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) [24] Nghị quyết của hội nghị lần II của Ban chấp hành Trung

ương Đảng khóa VIII khẳng định: “Mục tiêu chủ yếu là giáo dục toàn diện đức, trí,

thể, mỹ ở tất cả các bậc học, hết sức coi trọng giáo dục chính trị tư tưởng, nhân cách,

khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành”.[21]

Đại hội XI, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức; cơ chế quản lý; nội dung; phương pháp dạy và học; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa chất lượng nền giáo dục Việt Nam” Nghị quyết 29

của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá XI ngày 23/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập

quốc tế, đặt ra mục tiêu giáo dục hiện nay là “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về

chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây

dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả” Trong

đó nhấn mạnh yêu cầu cấp bách cho giáo dục đạo đức hiện nay là: “Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân Tập trung vào

những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp” [22]

Trang 23

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu những quan điểm đạo đức Mác - Lênin và thật sự làm nên một cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức Người

gọi đó là đạo đức mới - Đạo đức cách mạng: “Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ

cựu, nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải là danh vọng của cá nhân mà vì

lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người.” [4, tr.337]

Đạo đức cách mạng mà Hồ Chí Minh quan tâm và đề cao không chỉ là đạo đức theo nghĩa thông thường mà là khẳng định những giá trị đạo đức truyền thống, đồng

thời tiếp thu phát triển tinh hoa đạo đức của nhân loại, đặc biệt là nội dung tư tưởng đạo đức của chủ nghĩa Mác - Lênin

Nghị quyết 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá XI ngày 23/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, nhấn mạnh yêu cầu cấp bách cho giáo dục đạo đức hiện nay

là “Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp”

Tiếp nối tinh thần đó, tác giả Trần Viết Lưu đã viết về: “Gắn cuộc vận động “Học

tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” nói đến việc giáo dục đạo đức cho

học sinh phổ thông [46] Việc giáo dục cho học sinh THPT là vấn đề bức thiết nhất là trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay, GS.TS Phạm Minh Hạc đã nghiên cứu đề tài: “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH, HĐH”, trong đó, đã nêu lên các định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước và nêu lên giải pháp cơ bản về GDĐĐ cho học sinh: “Tiếp tục đổi mới nội dung, hình

thức giáo dục đạo đức trong các trường học, củng cố ý tưởng giáo dục ở gia đình và

cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường trong việc giáo dục đạo đức cho con người, kết hợp chặt chẽ giáo dục đạo đức với việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp của các cơ quan thi hành pháp luật; tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức, lối sống cho toàn dân, trước hết cho cán bộ

Trang 24

Đảng viên, cho thầy cô các trường học; xây dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống

nhất toàn xã hội, về giáo dục đạo đức, nâng cao nhận thức cho mọi người” [28, tr.171- 176]

Các giá trị xã hội trong đó có giá trị sống được nhóm tác Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Đinh Thị Kim Thoa - Trần Văn Tính - Vũ Phương Liên làm rõ qua đề tài: “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh THPT”[44]

Năm 2010, tác giả Đặng Quốc Bảo và cộng sự có viết: “Đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục Việt Nam” [2]

Về thực trạng đạo đức và các biện pháp giáo dục đạo đức, trong nước đã có nhiều tác giả nghiên cứu, cụ thể là:

Tác giả Hà Nhật Thăng viết bài: “Thực trạng đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống

của thanh niên - học sinh - sinh viên” [51]

Tác giả Phạm Khắc Chương, trường Đại học Sư phạm Hà Nội nghiên cứu: “Một số

vấn đề GDĐĐ ở trường THPT - Rèn ý thức đạo đức công dân” [19]

Tác giả Nguyễn Thị Hồng với đề tài: “ Biện pháp quản lý GDĐĐ cho học sinh các trường THPT thuộc khu vực đô thị hoá huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội” [30]

Tác giả Dương Thị Trúc Bạch với đề tài: “Những biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh THPT của người Hiệu trưởng” [3]

Tác giả Huỳnh Lệ Giang có nghiên cứu: “Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THPT Thành phố Biên Hòa, Đồng Nai” [26]

Qua những đề tài trên, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu thực trạng công tác quản lý GDĐĐ tại các cơ sở giáo dục đào tạo, các vùng địa bàn khác nhau; đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của các biện pháp quản lý, ứng dụng phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế từng cơ sở giáo dục, từng địa bàn với những đặc thù riêng của vùng

miền và chính sách giáo dục

Song vấn đề giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của GVBM ở trường THPT tư thục tại thành phố Hồ Chí Minh về mặt lý luận và

thực tiễn chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống Do đó việc nghiên cứu, làm rõ

cơ sở lý luận về hoạt động GDĐĐ, quản lý hoạt động GDĐĐ của GVBM để đề xuất

Trang 25

một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động GDĐĐ ở trường THPT

tư thục, thành phố Hồ Chí Minh là việc làm cần thiết và cấp bách

1.2 Các khái ni ệm liên quan

Qu ản lý

1.2.1.

Thuật ngữ “quản lý” có rất nhiều cách tiếp cận và góc độ tiếp cận khác nhau từ các tác giả ngoài nước đến trong nước do khái niệm “quản lý” là một hoạt động mang tính xã hội, lịch sử Quản lý gắn liền với hoạt động của con người, đặc biệt là hoạt động lao động rất đa dạng và phức tạp Vì vậy từ nhiều góc độ khác nhau, các nhà nghiên cứu lý luận đã đưa ra những khái niệm về quản lý như sau:

Mary Paker Follett đưa ra định nghĩa khá nổi tiếng về quản lý và được trích dẫn khá nhiều là “Nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác”.[39]

Harol Koontz quan niệm: “Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã

đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác” [38]

Trong nước, tác giả Trần Kiểm có định nghĩa về quản lý là: “ Quản lý là tác động

có mục đích đến tập thể người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong suốt quá trình lao động” [37]

Hay “Quản lý là phải biết đào tạo, bồi dưỡng, chia sẻ trách nhiệm, quyền hạn và

phải biết ủy quyền” của tác giả Lê Hùng Lâm [39]

Dù là khái niệm nào thì “quản lý” nhìn chung là những tác động có định hướng,

có hướng đích của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều khiển, làm cho hệ thống chuyển động, biến đổi phù hợp với quy luật khách quan, đạt được các mục tiêu mà chủ thể

quản lý đã xác định

Qua cách hiểu trên và cụ thể hơn là theo lý luận về quản lý hành chính Nhà nước,

hoạt động quản lý có sự hiện diện của các yếu tố:

Chủ thể quản lý: Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các hoạt động quản lý Chủ

thể luôn là con người hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý

bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định

Trang 26

Đối tượng quản lý: Đối tượng quản lý tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể

quản lý Tùy theo từng đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau

Khách thể quản lý: Khách thể quản lý chịu sự tác động và sự điều chỉnh từ chủ

thể quản lý (đó là hành vi của con người, các quá trình xã hội)

Mục tiêu quản lý: Mục tiêu quản lý là cái đích cần đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các tác động quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp

Khi xem xét hoạt động quản lý trong mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách

thể quản lý, ta có thể mô hình hóa hoạt động quản lý như sau:

Hình 1.1 Mô hình qu ản lý

Qu ản lý giáo dục

1.2.2.

Cũng như quản lý xã hội, quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người

nhằm theo đuổi những mục đích của mình

Trong tài liệu “Tổng quan về quản lý giáo dục” của trường Cán bộ quản lý Giáo

dục có nêu: “Quản lý giáo dục là một loại hình được hiểu là sự tác động có ý thức của

chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo

dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất.”

Chủ thể quản lý giáo dục là nhà quản lý, tập thể các nhà quản lý hay là bộ máy

quản lý giáo dục Trong trường học đó là Hiệu trưởng (cùng với bộ máy giúp việc của

Hiệu trưởng) đến tập thể giáo viên, các tổ chức Đoàn thể

Khách thể quản lý giáo dục bao gồm trường học hoặc là sự nghiệp giáo dục trên địa bàn (cơ quan quản lý giáo dục các cấp), trong đó có bốn thành tố của một hệ thống

xã hội: tư tưởng (quan điểm đường lối, nguyên lý chính sách chế độ, giáo dục…); con

Trang 27

người (giáo viên, cán bộ, công nhân viên và các hoạt động của họ); quá trình giáo dục (diễn ra trong không gian và thời gian); vật chất, tài chính (trường sở; trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho giáo dục; ngân sách, ngân quỹ)

Từ các khái niệm trên ta có thể thấy rõ bốn yếu tố cơ bản của quản lý giáo dục,

đó là: Chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý và khách thể quản lý (thông qua

việc thực hiện các chức năng quản lý bằng những công cụ và phương pháp) nhằm đạt được mục tiêu quản lý

Qu ản lý nhà trường

1.2.3.

Dẫn theo M.I.Kônđacôp: “Quản lý nhà trường là một hệ thống xã hội - sư phạm chuyên biệt Hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch hướng đích

của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo vận hành

tối ưu về các mặt xã hội - kinh tế, tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục

thế hệ đang trưởng thành” [31]

Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh và cộng sự thì cho rằng: "Quản lý trường học

là hoạt động của các cơ quan quản lý giáo dục nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động

của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường"

Theo tác giả Phạm Viết Vượng: "Quản lý trường học là lao động của các cơ quan

quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường" [55]

Từ ba khái niệm trên có thể khẳng định quản lý nhà trường thực chất là quản lý

hoạt động dạy học - giáo dục mà cụ thể là quản lý quá trình lao động sư phạm của giáo viên, hoạt động học tập - tự giáo dục của học sinh diễn ra trong quá trình dạy học - giáo dục

Tóm lại, quản lý nhà trường là quá trình tác động có định hướng, có kế hoạch của

chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực theo nguyên lý giáo dục Nhằm thúc đẩy các

hoạt động của nhà trường tiến tới mục tiêu giáo dục mà trọng tâm là đưa hoạt động

dạy và học tiến lên trạng thái mới về chất

Trang 28

Công tác quản lý trường học bao gồm quản lý sự tác động qua lại giữa trường

học và xã hội, đồng thời quản lý chính nhà trường Quản lý quá trình giáo dục đào tạo trong nhà trường được coi như một hệ thống, bao gồm các thành tố:

Thành tố tinh thần: Mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, biện pháp giáo dục Thành tố con người: Cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh

Thành tố vật chất: Cơ sở vật chất, các phương tiện, trang thiết bị phục vụ cho dạy

và học

Quản lý nhà trường gồm có quản lý các hoạt động giáo dục diễn ra trong nhà trường và các quan hệ giữa nhà trường với xã hội theo các nội dung:

+ Quản lý hoạt động dạy - học

+ Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức

+ Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

+ Quản lý hoạt động xã hội của nhà trường, hoạt động của các đoàn thể trong nhà trường

+ Quản lý sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính

Trong nhà trường thì người trực tiếp quản lý và chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động của nhà trường là hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng giúp việc hiệu trưởng Người hiệu trưởng cần quan tâm quản lý các mặt cụ thể:

+ Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, hiệu quả chất lượng quá trình đào tạo trên cơ sở xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục lên lớp, hoạt động lao động

+ Xây dựng tập thể giáo viên - học sinh đoàn kết, các tổ chức đoàn thể trong trường; chăm lo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và đời sống tinh thần, vật

chất cho cán bộ giáo viên; thực hiện hoạt động tổ chức cán bộ, đảm bảo chế độ chính sách cho mọi thành viên trong trường

+ Thường xuyên tiến hành kiểm tra, kết hợp với sự thanh tra từ bên ngoài trường nhằm bảo đảm mối liên hệ thường xuyên và bền vững nhằm đánh giá khách quan chất lượng hiệu quả giáo dục của nhà trường

+ Xây dựng, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà trường,

+ Quản lý tốt tài chính kết hợp thống nhất với hoạt động giáo dục đào tạo

Trang 29

+ Tổ chức, thu hút và phối hợp sự tham gia hỗ trợ của các lực lượng xã hội ngoài nhà trường vào việc xây dựng nhà trường (xã hội hóa giáo dục) tạo ra môi trường giáo dục tốt đẹp, thống nhất

Trường trung học phổ thông tư thục

1.2.4.

Theo Thông tư ban hành Điều lệ trường trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học số 12/2011/TT-BGDĐT do Bộ Giáo dục và Đào

tạo ban hành, Điều 4 có nêu:

“Trường trung học được tổ chức theo hai loại hình: công lập và tư thục

a) Trường công lập do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập và Nhà nước trực tiếp quản lý Nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và kinh phí cho chi thường xuyên chủ yếu do ngân sách nhà nước bảo đảm;

b) Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép Nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động của trường tư thục là nguồn ngoài ngân sách nhà nước.”

Chương 1, điều 2, Quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo số BGDĐT ngày 28/3/2011 về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của các trường ngoài công lập qui định: “Trường phổ thông tư thục là cơ sở giáo dục phổ thông thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân tự đảm bảo kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở vật

13/2011/TT-chất và hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách Nhà nước; được cơ quan Nhà nước có

thẩm quyền cho phép thành lập và hoạt động giáo dục; Trường phổ thông tư thục có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng thương mại”

Về hoạt động giáo dục của trường phổ thông, được nêu trong Quyết định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo số 13/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của các trường ngoài công lập: “Các hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trong giờ lên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng

cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, xây dựng tư cách và

Trang 30

trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động.”

Về quyền hạn và trách nhiệm của trường THPT cũng được quy định tại Điều 3 trong Điều lệ trường trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học số 12/2011/TT-BGDĐT do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành như sau:

“Trường trung học có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1 Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông dành cho cấp THCS và cấp THPT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công khai mục tiêu, nội dung các hoạt động giáo dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục

2 Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên theo quy định của pháp luật

3 Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh; vận động học sinh đến trường; quản lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

4 Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công

5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục Phối hợp

với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục

6 Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước

7 Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội

8 Thực hiện các hoạt động về kiểm định chất lượng giáo dục

9 Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.”

Như vậy, trường THPT tư thục là một loại hình trường hợp pháp, có con dấu riêng và được qui định trong các các văn bản pháp luật của nhà nước Với loại hình trường này, chủ cơ sở giáo dục phải tuân thủ các qui định của Luật Giáo dục và các văn bản liên quan nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục toàn diện cho học sinh

Giáo viên b ộ môn

1.2.5.

Điều 30, Thông tư ban hành Điều lệ trường trung học cơ sở, trung học phổ thông

và trường phổ thông có nhiều cấp học số 12/2011/TT-BGDĐT quy định giáo viên trung học là:

Trang 31

“Giáo viên trường trung học là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, gồm: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên bộ môn, giáo viên làm công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (bí thư, phó bí thư hoặc trợ lý thanh niên,

cố vấn Đoàn), giáo viên làm tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (đối với trường trung học có cấp tiểu học hoặc cấp THCS), giáo viên làm công tác tư

vấn cho học sinh” [6]

Cùng văn bản trên cũng qui đinh các nhiệm vụ của người giáo viên, trong đó có:

“Giáo viên bộ môn có những nhiệm vụ sau đây:

a) Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục, kế hoạch dạy học

của nhà trường theo chế độ làm việc của giáo viên do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào

tạo quy định; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giáo dục; tham gia nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng;

b) Tham gia công tác phổ cập giáo dục ở địa phương;

c) Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục; vận dụng các phương pháp dạy

học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo, rèn luyện phương pháp

tự học của học sinh;

d) Thực hiện Điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của Hiệu trưởng, chịu sự

kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục;

đ) Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước học sinh; thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; tạo dựng môi trường học

tập và làm việc dân chủ, thân thiện, hợp tác, an toàn và lành mạnh;

e) Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học sinh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong

dạy học và giáo dục học sinh;

g) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.”

GVBM khi tiến hành hoạt động GDĐĐ cho học sinh phải thông qua Tổ trưởng chuyên môn Tổ trưởng chuyên môn có vai trò quan trọng trong việc định hướng cho

Trang 32

các hoạt động của GVBM Tổ trưởng chuyên môn có nhiệm vụ truyền đạt, phổ biến lại các chủ trương, kế hoạch của nhà trường về hoạt động GDĐĐ đến cho các thành viên trong tổ Song song đó, tổ trưởng chuyên môn còn là nơi phê duyệt, góp ý cho GVBM;

là nơi để GVBM đề đạt nguyện vọng của mình lên cấp trên

Như vậy, giáo viên là người giảng dạy, giáo dục cho học sinh, lên kế hoạch, tiến hành các tiết dạy học, thực hành và phát triển các khóa học nằm trong chương trình

giảng dạy của nhà trường đồng thời cũng là người kiểm tra, ra đề, chấm điểm thi cho

học sinh để đánh gia chất lượng từng học trò Giáo viên tham gia công tác giáo dục đạo đức, rèn luyện phẩm chất và định hướng cho học sinh để các em hướng đến các giá trị đúng đắn và trở thành người “Con ngoan, trò giỏi, người công dân hữu ích”

Giáo d ục đạo đức

1.2.6.

Đạo đức là một hiện tượng xã hội, là hình thái ý thức xã hội đặc biệt phản ánh các mối quan hệ hiện thực của đời sống con người, bắt nguồn từ bản thân cuộc sống con người của xã hội Đồng thời đạo đức cũng nảy sinh từ nhu cầu của xã hội, điều hòa và thống nhất mâu thuẫn giữa lợi ích chung và lợi ích riêng nhằm đảm bảo trật tự

xã hội, khả năng phát triển xã hội và cá nhân để giải quyết các mâu thuẫn đó, đề ra các yêu cầu dưới dạng những chuẩn mực giá trị được mọi người công nhận và được củng

cố bằng sức mạnh của phong tục, tập quán, dư luận, lương tâm Quan niệm về “đạo đức” của giới triết học, đạo đức học, xã hội học… khá khác nhau Có nhiều những định nghĩa khác nhau về đạo đức như sau:

Theo Makarenko: “Giáo dục đạo đức có nghĩa là rèn luyện những phẩm chất tốt cho học sinh (tính trung thực, thật thà, thái độ tận tâm, tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ

luật, lòng yêu thích học tập, thái độ xã hội chủ nghĩa đối với người lao động, chủ nghĩa yêu nước) và trên cơ sở đó uốn nắn những sai sót của chúng” [32, tr.18]

Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: "GDĐĐ là quá trình biến các chuẩn

mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi

hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo

dục" [45]

Trang 33

Còn theo tác giả Phạm Viết Vượng: “GDĐĐ là quá trình tác động tới người học

để hình thành cho họ ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức, đích cuối cùng và quan trọng

nhất là tạo lập được những thói quen hành vi đạo đức” [55, tr.16]

Qua ba khái niện trên ta có thể hiểu GDĐĐ là sự tác động có hệ thống của các nhà giáo dục lên người được giáo dục một cách có mục đích, có kế hoạch những phẩm

chất và tư tưởng mà nhà giáo dục kỳ vọng, chuyển hoá những quan điểm, yêu cầu và ý

thức xã hội có liên quan thành phẩm chất đạo đức, tư tưởng và hành vi đạo đức của

mỗi cá nhân

Về bản chất, GDĐĐ là quá trình biến hệ thống các chuẩn mực đạo đức từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục Mà mục tiêu quan

trọng nhất của GDĐĐ là hình thành thói quen hành vi đạo đức cho học sinh Đây cũng

là một nhiệm vụ bao trùm, xuyên suốt toàn bộ hoạt động của gia đình, nhà trường và

xã hội Trong đó giáo dục trong nhà trường giữ vai trò chủ đạo định hướng GDĐĐ cho học sinh là bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của GD trong nhà trường xã

hội chủ nghĩa

GDĐĐ có mối quan hệ chặt chẽ với giáo dục chính trị - tư tưởng, có tác dụng xây dựng cơ sở thế giới quan Mác - Lênin và định hướng chính trị xã hội theo quan điểm và đường lối của Đảng Cộng sản cho ý thức và hành động đạo đức

GDĐĐ còn gắn bó chặt chẽ với việc giáo dục pháp luật Giáo dục pháp luật có nhiệm vụ giới thiệu cho người học các chuẩn mực về luật pháp của nhà nước, các quyền lợi và nghĩa vụ của người công dân Việt Nam, do đó có tác dụng củng cố nhận

thức các chuẩn mực đạo đức và thúc đẩy việc thực hiện các yêu cầu đạo đức

GDĐĐ học sinh là quá trình hình thành và phát triển các phẩm chất đạo đức

của nhân cách học sinh dưới những tác động và ảnh hưởng có mục đích, được tổ chức

có kế hoạch; có sự lựa chọn về nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục với vai trò chủ đạo của giáo viên đến học sinh nhằm:

+ Giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn

Trang 34

+ Giúp học sinh có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ: cá nhân với xã hội, cá nhân với lao động, cá nhân với môi trường tự nhiên và cá nhân với chính mình

Vì thế, GDĐĐ cho học sinh là giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật, làm cho học sinh có tinh thần yêu nước,

thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thật sự say mê học tập, có ý thức tổ chức kỷ

luật, kính thầy, yêu bạn, có nếp sống lành mạnh, biết tôn trọng pháp luật Điều này đã được ghi trong chiến lược phát triển giáo dục 2011- 2020 của Chính phủ ban hành kèm theo quyết định số 711/QĐ-TTg, nhấn mạnh “Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọng GDĐĐ, lối sống…” [17]

Trong bách khoa triết học của Nga (tập 30) có định nghĩa: “ Đạo đức là tập hợp

những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp vói lợi ích hạnh phúc và tiến bộ chung của xã hội trong mối quan hệ của con người với con người, giữa cá nhân với xã hội ”[48, tr.25]

GS Nguyễn Văn Lê nhấn mạnh đến tính chuẩn mực của các quy tắc ứng xử trong quan hệ con người với con người; con người với tập thể, cộng đồng, GS Nguyễn Văn Lê viết: “Đạo đức là toàn bộ những quy tắc, chuẩn mực xã hội nhờ đó con người

tự giác điều chỉnh hành vi của mình trong quan hệ với xã hội, với tự nhiên và với bản thân mình.” [40, tr.7]

Theo tác giả Phạm Khắc Chương: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh những tồn tại xã hội, phản ánh những quan hệ xã hội hiện thực trên cơ sở kinh tế

Sự phát triển của đạo đức xã hội từ thấp đến cao như những nấc thang giá trị của văn minh con người trên cơ sở phát triển của sức sản xuất và thông qua sự đấu tranh gạn

lọc, kế thừa mà nội dung đạo đức ngày càng phong phú và hoàn thiện hơn.” [19, tr.25] Theo từ điển Triết học thì: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc, quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội Đạo đức là những

phẩm chất tốt đẹp của con người theo những tiêu chuẩn đạo đức của một giai cấp nhất định.” [33, tr.211]

Một số nhà nghiên cứu khác, một mặt khẳng định đạo đức là một hệ thống quy

tắc mang tính chuẩn mực xã hội trong ứng xử, mặt khác đặt đạo đức trong mối quan hệ

Trang 35

với văn hóa, tôn giáo, triết học; coi đạo đức như là một hình thái ý thức xã hội đặc

biệt TS Trần Hậu Kiêm cho rằng: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm; những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội Nhờ đó, con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa

Đạo đức là một phạm trù lịch sử Nó biến đổi và phát triển cùng với sự biến đổi

và phát triển về kinh tế, xã hội, chính trị Đạo đức là một yếu tố cực kì quan trọng trong cấu trúc nhân cách Nó có tác dụng: Đảm bảo những chuẩn mực xã hội trong quan hệ ứng xử của con người với con người, con người với cộng đồng và ở một mức

cụ thể nào đó, con người với môi trường tự nhiên (trong đó con người tồn tại và phát triển) Hình thành những thói quen, hành vi đạo đức và lương tâm con người trong ứng

xử

Trên cơ sở một số điểm chung, chúng ta có thể hiểu khái niệm đạo đức như sau:

“Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội nảy sinh và phát triển của xã hội loài người, là

một hệ thống những quy tắc ứng xử chuẩn mực của con người trong cuộc sống”

1.3 Ho ạt động giáo dục đạo đức học sinh của giáo viên bộ môn ở trường THPT

tư thục

Hoạt động GDĐĐ là quá trình tác động đến người học để hình thành cho họ ý

thức, tình cảm, niềm tin và hành vi, đích cuối cùng và quan trọng nhất là tạo lập cho

học sinh những thói quen hành vi đạo đức Có thể hiểu hoạt động giáo dục đạo đức là

một hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch nhằm biến đổi những nhu cầu tư tưởng đạo đức, giá trị đạo đức của cá nhân phù hợp với chuẩn mực đạo đức; góp phần phát triển nhân cách của mỗi cá nhân và thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ của xã hội

Trang 36

Trong tất cả các mặt giáo dục, GDĐĐ giữ một vị trí hết sức quan trọng Từ xưa, ông cha ta đã đúc kết một cách sâu sắc kinh nghiệm về giáo dục: “Tiên học lễ, hậu học văn” Ngày nay phương châm: “Dạy người, dạy chữ, dạy nghề” cũng thể hiện rõ tầm quan trọng của hoạt động giáo dục đạo đức Bởi vậy, khi dạy tri thức chuyên môn nhất thiết phải dạy đạo đức nhằm tạo ra sản phẩm là những công dân vừa “hồng” vừa

“chuyên”

Hoạt động GDĐĐ giống như các hoạt động giáo dục khác là có sự tham gia của

chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục Chủ thể tham gia vào hoạt động GDĐĐ cho

học sinh là thầy cô giáo, cha mẹ học sinh, các lực lượng giáo dục trong xã hội Trong trường THPT đó là tập thể sư phạm nhà trường, tổ chức Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh… và người Hiệu trưởng với vai trò là người quản lý, chỉ đạo và phối hợp

với các lực lượng để thực hiện các hoạt động GDĐĐ cho học sinh Học sinh là đối tượng của hoạt động giáo dục, chịu tác động của giáo viên và các lực lượng giáo dục khác Học sinh còn là chủ thể tích cực, tự giác tiếp thu các chuẩn mực đạo đức và tham gia các hoạt động để thể hiện các giá trị đạo đức

M ục tiêu giáo dục đạo đức của GVBM tại trường THPT tư thục

1.3.1.

Mục tiêu của GDĐĐ là giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng đắn các giá trị đạo đức, biết hành động theo lẽ phải, công bằng và nhân đạo, biết sống vì mọi người, vì gia đình, vì sự tiến bộ xã hội và phồn vinh của đất nước.Trong đó mục đích quan trọng

nhất của GDĐĐ là tạo lập những thói quen hành vi đạo đức

Đối với học sinh THPT xác định mục tiêu GDĐĐ như sau:

Về nhận thức: Giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng bản chất của đạo đức, các nguyên tắc, nội dung, các chuẩn mực đạo đức của người Việt Nam thời kỳ CNH - HĐH đất nước Học sinh hiểu sự cần thiết phải tu dưỡng, rèn luyện mình theo yêu cầu

của các chuẩn mực đạo đức để trở thành những công dân tương lai, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước

Mục tiêu GDĐĐ cho học sinh nói chung và học sinh THPT nói riêng nằm trong

mục tiêu xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới Điều đó được Đảng ta chuyển hóa thành nhiệm vụ cụ thể, ghi rõ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ V

Trang 37

Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII “Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn mới với những đức tính:

+ Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết

với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ

xã hội

+ Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung

+ Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng, có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái

+ Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội

+ Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết trình độ chuyên môn, trình độ thẩm

mỹ và thể lực” [24]

Đến Nghị quyết Hội nghị lần thứ X Ban chấp hành Trung ương khóa IX (07/ 2004), Đảng ta xác định: “Tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội ” và “Nâng cao chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam theo năm đức tính được xác định trong Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII)” [23]

Về thái độ, tình cảm: Có thái độ tình cảm đạo đức đúng đắn, trong sáng trong các

mối quan hệ với mọi người và với môi trường sống Có tình cảm và lòng biết ơn sâu

sắc đối với thế hệ cha anh Có thái độ rõ ràng đối với các hiện tượng đạo đức chính trị trong xã hội, ủng hộ những việc làm tốt, phản ứng trước những hành vi sai trái

Về hành vi, kỹ năng: Tích cực rèn luyện trong lao động, hoạt động tập thể, hoạt động xã hội Thường xuyên rèn luyện hành vi đạo đức trong ứng xử, trong các vấn đề

của các lĩnh vực hoạt động và quan hệ xã hội Biết sống lành mạnh, trong sáng, thể

hiện được tư cách của người học sinh Tích cực đấu tranh với những biểu hiện của lối

sống sa đọa, đồi trụy, chỉ biết hưởng thụ, chạy theo đồng tiền, theo chủ nghĩa thực

dụng, thờ ơ với các vấn đề của cuộc sống; tích cực học tập, nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, hoạt động xã hội chuẩn bị cho “ngày mai lập nghiệp” được vững vàng

Trang 38

Nhi ệm vụ của GDĐĐ của GVBM tại trường THPT tư thục

1.3.2.

Điều 30, Thông tư ban hành Điều lệ trường trung học cơ sở, trung học phổ thông

và trường phổ thông có nhiều cấp học số 12/2011/TT-BGDĐT quy định nhiệm vụ của GVBM là:

a) Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục, kế hoạch dạy học của nhà trường theo chế độ làm việc của giáo viên do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giáo dục; tham gia nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng;

b) Tham gia công tác phổ cập giáo dục ở địa phương;

c) Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục; vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học của học sinh;

d) Thực hiện Điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của Hiệu trưởng, chịu sự kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục;

đ) Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước học sinh; thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; tạo dựng môi trường học tập và làm việc dân chủ, thân thiện, hợp tác, an toàn và lành mạnh;

e) Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học sinh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong dạy học và giáo dục học sinh;

g) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật

Vậy, trong nhà trường, nhiệm vụ GDĐĐ của GVBM là:

Giáo dục ý thức đạo đức: Giáo dục ý thức đạo đức là cung cấp cho người được giáo dục những tri thức cơ bản về các phẩm chất đạo đức và các chuẩn mực đạo đức, trên cơ sở đó giúp họ hình thành niềm tin đạo đức

Giáo dục tình cảm đạo đức: Giáo dục tình cảm đạo đức là khơi dậy người được giáo dục những rung động, những xúc cảm với hiện thực xung quanh, biết yêu ghét rõ

Trang 39

ràng và có thái độ đúng đắn đối với các hiện tượng phức tạp trong đời sống xã hội và

tập thể

Giáo dục thói quen đạo đức: Giáo dục thói quen đạo đức là giáo dục hành vi thói quen, tổ chức cho người được giáo dục lặp đi lặp lại nhiều lần những hành động đạo đức trong học tập, trong sinh hoạt và trong cuộc sống nhằm tạo được hành vi đạo đức bên trong và từ đó có thói quen đạo đức bền vững

Yêu c ầu về phẩm chất và năng lực của giáo viên bộ môn

1.3.3.

− Về năng lực: được quy định trong Điều lệ trường trung học cơ sở, trung học

phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, giáo viên phải “Có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm hoặc có bằng tốt nghiệp đại học và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ

sư phạm đối với giáo viên THPT”

− Về phẩm chất: được quy định như sau:

Điều 34 Hành vi, ngôn ngữ ứng xử, trang phục của giáo viên

1 Hành vi, ngôn ngữ ứng xử của giáo viên phải đúng mực, có tác dụng giáo dục đối với học sinh

2 Trang phục của giáo viên phải chỉnh tề, phù hợp với hoạt động sư phạm, theo quy định của Chính phủ về trang phục của viên chức Nhà nước

Điều 35 Các hành vi giáo viên không được làm

Giáo viên không được có các hành vi sau đây:

1 Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể của học sinh và đồng nghiệp

2 Gian lận trong kiểm tra, thi cử, tuyển sinh; gian lận trong đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học sinh

3 Xuyên tạc nội dung giáo dục; dạy sai nội dung kiến thức, không đúng với quan điểm, đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước Việt Nam

4 Ép buộc học sinh học thêm để thu tiền

5 Hút thuốc lá, uống rượu, bia và sử dụng các chất kích thích khác khi đang tham gia các hoạt động giáo dục; sử dụng điện thoại di động khi đang dạy học trên lớp

6 Bỏ giờ, bỏ buổi dạy, tùy tiện cắt xén chương trình giáo dục

Trang 40

N ội dung giáo dục đạo đức của GVBM tại trường THPT tư thục

1.3.4.

Nội dung GDĐĐ được thể hiện ở những chuẩn mực giá trị đạo đức nhân văn Hệ

thống những giá trị đạo đức nhân văn là những chuẩn mực đạo đức bao quát những

mối quan hệ chủ yếu của chủ thể (con người) với môi trường xung quanh từ vĩ mô đến

vi mô, phản ánh sự phát triển của quá khứ, hiện tại, tương lai

GDĐĐ nhìn chung bao gồm những nội dung sau:

− Trang bị cho đối tượng giáo dục những hiểu biết và niềm tin về các chuẩn mực

và quy tắc đạo đức khi giáo dục ý thức về mục đích cuộc sống bản thân, giáo dục ý

thức về lối sống cá nhân, giáo dục ý thức về các mối quan hệ trong gia đình, trong tập

thể và ngoài xã hội, giáo dục ý thức về cuộc sống lao động sáng tạo, về nghĩa vụ lao động và bảo vệ Tổ quốc

− Xây dựng hành vi và thói quen đạo đức phù hợp với các chuẩn mực xã hội, tạo

lập cho đối tượng giáo dục ý chí đạo đức vững vàng

− Hình thành cho đối tượng giáo dục nhu cầu, động cơ, tình cảm đạo đức phù hợp

với nền đạo đức mới, đạo đức xã hội chủ nghĩa

Nội dung GDĐĐ cho đối tượng học sinh THPT theo văn bản “Mục tiêu và kế

hoạch đào tạo phổ thông trung học”, đó là: “Giáo dục thế giới quan, tư tưởng, chính

trị, pháp luật, đạo đức và cư xử có văn hóa” Văn bản nêu rõ những nội dung GDĐĐ

cụ thể: về kiến thức phải giúp học sinh hiểu quy luật phát triển tự nhiên xã hội con người, hiểu đúng đắn lý tưởng và các giá trị xã hội cơ bản, hiểu đường lối của Đảng,

hiểu Hiến pháp và các đạo luật ở nước ta, quyền và nghĩa vụ của công dân…

Trong nội dung GDĐĐ cho học sinh THPT không chỉ yêu cầu học sinh nắm

vững các kiến thức mà còn phải có các kỹ năng vận dụng, biết thực hiện các nội dung

và có thái độ đúng, tích cực khi tiếp nhận và thực hiện các nội dung đó Giáo dục cho

học sinh các chuẩn mực đạo đức, tư tưởng, lối sống có thể chia ra làm 5 nhóm như sau:

− Giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, và tinh thần quốc tế vô sản Tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước Giáo dục cho học sinh niềm tự hào

và ý thức giữ gìn, phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, có lý tưởng xã hội

chủ nghĩa, sống lao động và học tập vì lý tưởng ấy

Ngày đăng: 02/01/2021, 13:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w