1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Về tham tố đứng sau vị từ trạng thái tiếng việt xét từ phương diện cú pháp và ngữ nghĩa

158 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nó căn cứ trên những tiêu chí ngữ pháp, được thực hiện rõ nhất trên bình diện hình thái học, nhưng cũng được thể hiện trên bình diện cú pháp: chức năng tiêu biểu của verb là làm vị ngữ,

Trang 1

Nguyễn Thị Nhung

VỀ THAM TỐ ĐỨNG SAU VỊ TỪ TRẠNG THÁI

TIẾNG VIỆT – XÉT TỪ PHƯƠNG DIỆN

CÚ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014

Trang 2

Nguyễn Thị Nhung

VỀ THAM TỐ ĐỨNG SAU VỊ TỪ TRẠNG THÁI

TIẾNG VIỆT – XÉT TỪ PHƯƠNG DIỆN

CÚ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA

Chuyên ngành : Ng ôn ngữ học

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS LÊ KÍNH THẮNG

Thành phố Hồ Chí Minh –2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với TS Lê Kính Thắng, người

đã dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn tôi từ những bước đầu khó khăn cho đến khi tôi hoàn thành công việc nghiên cứu của mình Bên cạnh đó, trong thời gian qua, thầy cũng là người giúp đỡ và động viên tôi về mọi mặt

Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý thầy cô Trường Đại học Sư phạm TpHồChí Minh (đặc biệt là các thầy cô của Khoa Ngữ văn) trong những năm qua đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ và góp những ý kiến quý báu cho chúng tôi

Người viết cũng xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Trường Đại học Sư phạm Tp

Hồ Chí Minh và Phòng Sau Đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình học tập và làm luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời tri ân chân thành nhất đến gia đình, bạn bè – những người đã giúp đỡ cả tinh thần lẫn vật chất để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN 10

1.1 Khái niệm và phân loại vị từ 10

1.1.1 Khái niệm vị từ 10

1.1.2 Phân loại vị từ 16

1.2 Vị từ trạng thái 23

1.2.1 Khái niệm vị từ trạng thái 23

1.2.2 Phân loại vị từ trạng thái 27

1.2.3 Đặc trưng của vị từ trạng thái 29

1.3 Tham tố và cấu trúc tham tố của vị từ trạng thái 30

1.3.1 Khái niệm tham tố 30

1.3.2 Phân loại tham tố 32

1.3.3 Cấu trúc tham tố của vị từ trạng thái tiếng Việt 39

1.4 Bổ ngữ và trạng ngữ 40

1.4.1 Bổ ngữ 40

1.4.2 Trạng ngữ 47

1.5 Mối quan hệ giữa cú pháp và ngữ nghĩa 48

1.6 Tiểu kết 54

Chương 2 THÀNH PHẦN ĐỨNG SAU VỊ TỪ TRẠNG THÁI TIẾNG VIỆT – XÉT TỪ PHƯƠNG DIỆN CẤU TRÚC CÚ PHÁP 55

2.1 Thành phần đứng sau vị từ trạng thái tiếng Việt với tư cách là một ngữ đoạn bắt buộc 58

2.1.1 Bổ ngữ trực tiếp 59

2.1.2 Bổ ngữ gián tiếp 69

Trang 6

2.2 Thành phần đứng sau vị từ trạng thái tiếng Việt với tư cách là một ngữ

đoạn tự do 70

2.2.1 Trạng ngữ chỉ thời gian 71

2.2.2 Trạng ngữ chỉ không gian, nơi chốn 71

2.2.3 Trạng ngữ phương thức 72

2.2.4 Trạng ngữ nguyên nhân 72

Chương 3 THÀNH PHẦN ĐỨNG SAU VỊ TỪ TRẠNG THÁI TIẾNG VIỆT – XÉT TỪ PHƯƠNG DIỆN CẤU TRÚC THAM TỐ 74

3.1 Diễn tố của vị từ trạng thái 75

3.1.1 Vai Phương diện 75

3.1.2 Vai Nội dung 77

3.1.3 Vai Đối thể 78

3.1.4 Vai Nguồn 80

3.2 Chu tố của vị từ trạng thái 82

3.2.1 Vai Liên đới 82

3.2.2 Vai Nguyên nhân 83

3.2.3 Vai Thời lượng 84

3.2.4 Vai Bị đồng nhất thể 84

3.3 Tiểu kết 90

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Đối tượng nghiên cứu và lý do chọn đề tài

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đặc điểm ngữ nghĩa, cú pháp của ngữ đoạn đứng sau vị từ trạng thái trong tiếng Việt

Dựa vào những điểm tương đồng về phương diện cú pháp, chức năng, các nhà Việt ngữ học có xu hướng gộp động từ và tính từ thành một từ loại duy nhất với

tên gọi vị từ Quan điểm này được xem là cứu cánh cho vấn đề nhập nhằng giữa

động từ và tính từ trong tiếng Việt

Trước hết ta thấy rằng thuật ngữ động từ trong tiếng Việt được dịch từ các thuật ngữ như verb, verbe, verbum,… Còn thuật ngữ tĩnh từ (về sau được đổi thành

tính từ) thì được dịch từ thuật ngữ adjective, adjective, adjectivum, … Theo quan

niệm của đa số các nhà nghiên cứu Việt ngữ thì động từ biểu thị những sự việc, quá trình, tức là những sự thể động, còn tính từ biểu thị những trạng thái, tính chất, tức

là những sự thể tĩnh Sự đối lập giữa động và tĩnh không hề có trong hai thuật ngữ

verb và adjective Theo đó, verb có nghĩa là lời, là hành động nói, là thứ từ dùng để nói một điều gì (một vật gì), trong khi adjective có nghĩa là từ được đặt bên cạnh, kèm theo (một từ khác – một danh từ) Như vậy hai thuật ngữ động từ và tính từ có những nội dung không tương ứng với verb và adjective

Trong phần lớn ngôn ngữ châu Âu, sự phân biệt giữa verb và adjective, cũng

như sự phân biệt giữa các từ loại nói chung, là một sự phân biệt ngữ pháp Nó căn

cứ trên những tiêu chí ngữ pháp, được thực hiện rõ nhất trên bình diện hình thái

học, nhưng cũng được thể hiện trên bình diện cú pháp: chức năng tiêu biểu của verb

là làm vị ngữ, nghĩa là làm thành một ngữ đoạn có tính cách thành phần trực tiếp

của câu; trong khi chức năng tiêu biểu của adjective là làm định ngữ của danh từ (noun) hay bổ ngữ của verb, nghĩa là đóng một vai trò phụ thuộc trong ngữ đoạn chứ tự nó không thể làm thành một ngữ đoạn trực tiếp của câu Verb biến hình theo ngôi, số của chủ ngữ theo một hệ đối vị, còn adjective, cũng giống như noun, biến

hình theo cách, giống, số và cách biến hình này rập theo cách biến hình của các danh từ mà nó phụ thuộc vào ở bên trong ngữ đoạn danh từ, hay thông qua hệ từ

Trang 8

Những điều được nói ở trên không có liên quan gì đến tính chất động hay

tĩnh Vì vậy, trong khuôn khổ của luận văn này, khái niệm vị từ trạng thái mà chúng

tôi sử dụng bao gồm cả hai nhóm là động từ chỉ trạng thái và tính từ chỉ trạng thái, tính chất trong tiếng Việt

Qua việc xem xét đặc điểm cú pháp, ngữ nghĩa, luận văn muốn góp phần tìm hiểu sâu hơn bản chất của nhóm vị từ trạng thái trong tiếng Việt và mối quan hệ giữa cú pháp với ngữ nghĩa của tham tố đứng sau chúng

Thành phần câu trong đó có thành phần bổ ngữ, trạng ngữ đứng sau vị từ cũng như đặc điểm về cú pháp và ngữ nghĩa của thành phần này là những vấn đề cốt lõi của nghiên cứu ngôn ngữ Việc nghiên cứu này không chỉ có tác dụng xác định

rõ tư cách cú pháp, đặc điểm ngữ nghĩa của thành phần đang xét mà còn góp phần hiểu sâu hơn bản chất của vị từ chi phối nó

Bên cạnh đó, trong hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu tiếng Việt, việc nắm vững đặc điểm về mặt ngữ nghĩa, cú pháp của các tham tố đứng sau của vị

từ trạng thái không chỉ giúp sử dụng tiếng Việt đúng ngữ pháp mà còn nâng cao hiệu quả giao tiếp

Chính vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Về tham tố đứng sau vị từ

trạng thái trong tiếng Việt (xét từ phương diện cú pháp và ngữ nghĩa)”để tiến hành

nghiên cứu, khảo sát Thông qua việc thực hiện đề tài, chúng tôi hi vọng có thể đưa

ra cái nhìn toàn diện và khái quát hơn về bản chất của tham tố đứng sau của vị từ trạng thái tiếng Việt

2 Lịch sử vấn đề

Về vấn đề lịch sử nghiên cứu thành phần đứng sau vị từ trạng thái trong tiếng Việt đã nhận được sự quan tâm từ khá sớm của các nhà Việt ngữ học Tuy nhiên mức độ quan tâm, hướng tiếp cận vấn đề có sự khác biệt giữa các tác giả hoặc nhóm tác giả

Các nhà ngữ pháp học truyền thống trong công trình của mình khi tiến hành phân chia hệ thống từ loại tiếng Việt, cũng đã đề cập đến những thành phần đứng sau của lớp vị từ trạng thái (bao gồm cả động từ trạng thái và tính từ theo quan điểm của ngữ pháp học truyền thống)

Trang 9

Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm (1940) trong Việt Nam văn

phạm đã dựa vào mối quan hệ của động từ với bổ ngữ đứng sau đã chia động tự

(động từ) thành hai tiểu loại: động tự có túc từ và động tự không có túc từ Theo tác giả, có một số động từ cần phải dùng thêm những tiếng để “làm cho lọn nghĩa” (tức

động tự có túc từ), còn một số khác khi biểu diễn một cái thể hay một sự biến hiện thay đổi không cần túc từ (tức động tự không có túc từ) Ta thấy rằng dù lấy tiêu chí nghĩa: trọn nghĩa hay không trọn nghĩa, nhưng cách gọi có túc từ hay không có túc

từ cho thấy các tác giả có chú ý tới mối quan hệ cú pháp của động từ khi phân loại

Bùi Đức Tịnh (1952) trong Việt Nam văn phạm khi nghiên cứu về tính từ cho rằng “có khi ý nghĩa của các tĩnh từ tự nó không đầy đủ Bởi thế nó cần một bổ túc

ngữ thêm vào” [48, tr.253] Ông cũng lưu ý thêm rằng bổ túc ngữ của tĩnh từ thường

là những danh từ, nhưng đôi khi “ta cũng dùng những động từ nguyên thức” [48,

tr.254] Tương tự, trong phần động từ tác giả dựa vào tiêu chí ý nghĩa để phân loại

động từ ra thành: động từ viên ý, động từ khuyết ý, động từ thụ trạng, trợ động từ

Theo đó, ông cũng đề cập đến những thành phần đứng sau của động từ trong tiểu

loại động từ khuyết ý, do “ý nghĩa của một động từ khuyết ý tự nó không đầy đủ Nó

cần được một danh từ hay một đại từ bổ túc” [48, tr.269] Cụ thể hơn, ông đã đưa ra

hai bổ túc ngữ của động từ khuyết ý là bổ túc ngữ thuộc động hoặc can động Ngoài

ra còn có thể có thêm những bổ túc ngữ chỉ về hoàn cảnh

Năm 1955, Phan Khôi trong Việt ngữ nghiên cứu với khuynh hướng cú bản

vị đã đề cập đến thành phần đứng sau của vị từ với tư cách thành phần câu Theo

đó, ngoài hai thành phần chính: chủ ngữ và vị ngữ, câu còn có thành phần liên đới

và thành phần phụ gia Thành phần liên đới bao gồm tân ngữ và bổ túc ngữ Và ông

chỉ ra rằng: “Trong một câu có thành phần liên đới hay không có, là quyết định ở

thứ vị ngữ nào đã dùng” [27, tr.197] và ông lý giải về bổ túc ngữ như sau: “Có khi cái chủ ngữ không động tác gì mà chỉ cần thuyết minh nó “là” cái gì, “có” cái gì,

“giống” cái gì, thì khi ấy phải dùng chuẩn động từ làm vị ngữ Những chuẩn động

từ ấy có đeo theo thực thể từ làm bổ túc ngữ (trừ ra thứ chuẩn động từ làm bằng hình dung từ thì không có)” [27, tr.198] Tuy vậy, tác giả chỉ dừng ở mức độ này

Trang 10

chứ chưa bàn sâu những thành phần đứng sau động từ là gì, cũng như chưa có sự lý giải cụ thể ở từng vị từ cụ thể

Một công trình khác cũng đề cập đến vấn đề này Đó là quyển Khảo luận về

ngữ pháp Việt Nam của Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963) Trong công

trình của mình, các tác giả đã thể hiện một cách nhìn khá mới mẻ về cách phân chia

từ loại nói chung và vị từ nói riêng Theo đó, các tác giả dùng thuật ngữ trạng từ để thay thế cho cả động từ và tính từ theo cách gọi truyền thống Các trạng từ được các

tác giả chia thành trạng từ trọn nghĩa và trạng từ không trọn nghĩa [14, tr.220-221]

Ngoài tiêu chí nghĩa, các tác giả còn dùng đến tiêu chí kết hợp hay không kết hợp

với khách thể (gồm khách thể chính – tức bổ ngữ trực tiếp và khách thể thứ - tức bổ

ngữ gián tiếp) Tuy nhiên ở tiêu chí này, các tác giả đã không chú ý đầy đủ đến

những dấu hiệu hình thức và điều này gây khó khăn trong việc nhận diện trạng từ

Sau đó, năm 1964, Nguyễn Kim Thản xuất bản quyển Nghiên cứu về Ngữ

pháp tiếng Việt Ông đã có những nghiên cứu sâu hơn về hệ thống vị từ tiếng Việt,

cụ thể ông chia hệ thống từ loại tiếng Việt thành 12 nhóm: danh từ, thời vị từ, số từ, động từ, tính từ, đại từ, phó từ, giới từ, liên từ, hệ từ, trợ từ, thán từ Mặc dù có nhìn thấy đặc điểm chung của nhóm động từ và tính từ nhưng ông vẫn kiên quyết tách chúng thành hai nhóm từ loại riêng biệt và đưa ra những tiêu chí để nhận diện và

phân biệt chúng đã phân chia động từ tiếng Việt thành 6 tiểu loại như: động từ khái

quát và vận động xác định, động từ hoạt động có phương hướng, động từ hoạt động không phương hướng, động từ trạng thái, động từ tình cảm, và động từ tri giác

Theo đó, thành phần đứng sau của động từ trạng thái theo cách gọi của ông là một tiểu loại của vị từ trạng thái mà chúng ta đang xét, được tác giả lưu ý như sau:

Chúng có thể kết hợp với phó động từ phương hướng nhưng ít khi có thể điền một thể từ biểu thị mục đích điểm vào sau được Những động từ này phần lớn chỉ kết hợp với một số trong 6 phó động từ phương hướng” [40, tr.209] Những phó động

từ phương hướng được tác giả dẫn ra là: ra, vào, lên, xuống, đi, lại Về phần tính từ,

trong công trình này chưa thấy tác giả đề cập đến thành phần đứng sau của nó

Một tác giả khác cũng có đề cập khá kỹ đến thành phần đứng sau của vị từ trạng thái là Nguyễn Tài Cẩn (1975) Khi xem xét các động ngữ và tính ngữ, tác giả

Trang 11

đã đề cập đến thành phần sau chúng Cụ thể, ông cho rằng: “xét về mặt ý nghĩa,

thành phần cuối của động ngữ có thể chia ra thành khá nhiều kiểu loại Nhưng xét

về mặt hình thức tổ chức dùng để diễn đạt các ý nghĩa đó thì lại chỉ có thể có hai khả năng là khả năng diễn đạt bằng một từ, một ngữ; và khả năng diễn đạt bằng cả một mệnh đề” [7, tr.275] Tiếp sau đó, tác giả lần lượt liệt kê những kiểu thành tố

phụ quan trọng nhất của hai loại này, bao gồm 16 kiểu trong loại 1 và 7 trường hợp đáng kể trong loại 2

Tuy bàn về câu nhưng Hoàng Trọng Phiến (1980) cũng có những lưu ý đáng

kể liên quan đến thành phần đứng sau của vị từ trạng thái Tác giả cho rằng: “Việc

chia động từ thành nội động và ngoại động là căn cứ vào ngữ nghĩa thuần túy, do vậy không bao quát được cái sâu bên trong của từ loại” [36, tr.137-138] Ông cũng

thấy được những khó khăn trong việc áp dụng tiêu chí hính thức để xác định bổ ngữ

trực tiếp “Sự có mặt hay vắng mặt hư từ còn do sự điều hòa âm hưởng, do âm luật

cân đối cấu trúc quy định” [36, tr.139] Qua đó có thể thấy trong quan điểm của tác

giả những thành phần bổ ngữ của động từ hay tính từ chịu sự chi phối bởi sự “điều

hòa âm hưởng, do âm luật cân đối cấu trúc quyết định”

Nhóm tác giả thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1983) trong Ngữ

pháptiếng Việt đã đề cập khá chi tiết những “khu vực sau” của động từ và tính từ Ở

phần động từ, khu vực sau của nó bao gồm hai loại phụ tố: phụ tố do chính tố yêu

cầu riêng (là loại phụ tố cần có một cách tất yếu và tương đối gắn bó với chính tố)

phụ tố không do chính tố yêu cầu riêng (là loại phụ tố có thể có hay không có

một cách tùy nghi) Trong phần phụ tố không do chính tố yêu cầu riêng, tác giả đề

cập đến những loại sau đây: phụ tố đối tượng, phụ tố phương hướng, phụ tố nội

dung ý chí, phụ tố sự vật tồn tại, phụ tố kết quả biến hóa, … Còn khu vực sau của

tính từ, tác giả cũng đề cập đến những phụ tố do chính tố yêu cầu, bao gồm những

nhóm như: phụ tố chỉ phạm vi thể hiện của tính chất; phụ tố chỉ số lượng đo lường,

tính toán hay tiêu chuẩn đo lường, tính toán Còn phụ tố không do chính tố yêu cầu

của tính ngữ bao gồm: phụ tố so sánh; phụ tố miêu tả sắc thái của tính chất

Tuy không dùng đến khái niệm diễn tố nhưng tác giả của Ngữ pháp tiếng

Việt -từ loại (1986) cũng đã nêu ra khá nhiều thí dụ về các yếu tố đứng sau tính từ

Trang 12

đặc biệt là những yếu tố có quan hệ lỏng về ngữ nghĩa nhưng chặt về cú pháp Ông

lý giải: “Do cách thức phản ánh của người bản ngữ, một đặc trưng trong quan hệ

thông báo có thể hình dung như là một trạng thái, xa hơn, cái trạng thái đó có thể hoạt động và gây ra tác động đến những đối tượng nhất định Đó là lí do về mặt ngữ nghĩa của việc hình thành các hiện tượng gọi là “bổ ngữ của tính từ” trong tiếng Việt.” [18, tr.166]

Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung trong Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2

(1992) đã đi sâu vào miêu tả các thành phần phụ đứng sau thành phần chính tố trong cụm động từ trên các phương diện chức năng cú pháp và từ loại

Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp trong Thành phần câu tiếngViệt

(1998) cũng có những miêu tả rất chi tiết về vấn đề bổ ngữ trực tiếp và xem nó là

một thành phần câu Ông cho rằng: “Các bổ ngữ tham gia nòng cốt câu cùng với

chủ ngữ, theo hệ thống miêu tả của chúng tôi, là các nhãn hiệu cú pháp hình thức của các diễn tố được khung vị từ vị ngữ của câu giả định” [47, tr.208]

Qua các công trình đã được điểm qua ở trên, ta thấy rằng các tác giả Việt ngữ học chưa thật sự có những nghiên cứu sâu sắc và tập trung vào nhóm vị từ trạng thái cũng như thành phần đứng sau của nhóm này Các tác giả chỉ dừng lại ở việc đề cập đến chúng trong mối quan hệ với những vấn đề khác mà các tác giả nghiên cứu như: ngữ đoạn, thành phần câu, từ loại, …

Những năm gần đây, nhất là từ khi xuất hiện quyển Sơ thảo Ngữ pháp chức

năng của Cao Xuân Hạo, vấn đề vị từ và các tham tố của nó được nghiên cứu một

cách sâu sắc và hệ thống hơn Cao Xuân Hạo và các cộng sự đã gộp chung động từ

và tính từ thành nhóm vị từ Quan điểm này được coi là chịu ảnh hưởng của các nhà ngôn ngữ học người Nga Trong tiếng Nga, một ngôn ngữ biến hình, người ta thường phân biệt vị từ và thể từ Theo đó vị từ là những từ biến đổi theo ngôi, thời, thể, thức, dạng (chỉ gồm động từ) Tiếng Việt không biến đổi hình thái, vị từ có thể được xác định là những từ có thể trực tiếp làm vị ngữ trong câu, bao gồm động từ

và tính từ Nhóm tác giả này đã phân chia vị từ thành các tiểu loại và chứng minh được khả năng kết hợp với các diễn tố của vị từ Đây là điểm nổi bật nhất về sự tương đồng giữa tính từ và động từ trong vai trò vị ngữ ở bình diện cú pháp

Trang 13

Nguyễn Văn Lộc trong chuyên luận “Kết trị của động từ tiếng Việt” (1995)

đã giới thiệu, vận dụng những quan niệm về tham tố của L.Tesnière và một số nhà ngôn ngữ học Nga để miêu tả về các loại kết trị của động từ tiếng Việt Sau khi

phân biệt các loại kết trị: kết trị hình thức và kết trị nội dung; kết trị bắt buộc và kết

trị tự do, tác giả giới thiệu kết trị bắt buộc của động từ và tập trung miêu tả kết tố chủ thể và kết tố đối thể

Cùng thời gian này, Nguyễn Thị Quy (1995) hoàn thành chuyên luận “Vị từ hành động tiếng Việt và các tham tố của nó” Như tên gọi, trong chuyên luận này Nguyễn Thị Quy đã vận dụng những thành tựu của ngữ pháp chức năng vào việc nghiên cứu vị từ tiếng Việt Ngoài tiêu chí về nghĩa, tác giả đã vận dụng những tiêu chí về tham tố (số lượng và đặc điểm) để phân loại và miêu tả vị từ tiếng Việt Đây

có thể coi là công trình đi tiên phong trong việc xem xét vị từ tiếng Việt ở cả hai phương diện cú pháp và cấu trúc nghĩa Tuy nhiên, chuyên luận này mới chỉ tập trung ở nhóm vị từ hành động trong tiếng Việt

Lê Kính Thắng (2002) trong luận án “Phạm trù nội động/ ngoại động trong tiếng Việt (đối chiếu với tiếng Anh)” tập trung khảo sát các phương diện liên quan đến sự đối lập nội động/ ngoại động của vị từ trong tiếng Việt Luận án đã bàn sâu

về mối quan hệ giữa cấu trúc cú pháp và cấu trúc ngữ nghĩa của các nhóm vị từ trong tiếng Việt Cấu trúc cú pháp được xem là cấu trúc bề nổi và chịu sự chi phối

từ cấu trúc sâu hơn là cấu trúc tham tố của vị từ Luận án và một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành của tác giả cũng đề cập tới những vấn đề liên quan đến thành phần đứng sau vị từ trong tiếng Việt như hiện tượng vị từ điển hình/ kém điển hình, chuyển đổi diễn trị và hiện tượng chuyển loại vị từ trong tiếng Việt, cấu trúc tham

tố của tính từ tiếng Việt Những luận điểm trong các công trình này cũng là gợi ý quan trọng cho chúng tôi thực hiện đề tài luận văn

Qua phần lược khảo trên, ta thấy rằng thành phần sau của vị từ đã được nghiên cứu ở khá nhiều phương diện và theo hướng ngày càng sâu hơn Nếu như trong các công trình ngữ pháp giai đoạn đầu, thành phần này chỉ được đề cập sơ lược thì về sau đã xuất hiện những công trình, chuyên luận nghiên cứu nó đầy đủ hơn Về hướng tiếp cận, từ chỗ thành phần đứng sau vị từ nói chung và vị từ trạng

Trang 14

thái nói riêng chỉ được đề cập ở phương diện cú pháp đến chỗ nó đã được xem xét ở phương diện cấu trúc ngữ nghĩa Tuy số lượng công trình liên quan đến đề tài luận văn chưa nhiều nhưng cũng đủ phản ánh tầm quan trọng của nó và cho thấy sự cần thiết phải có những nghiên cứu đầy đủ, toàn diện hơn

4 Phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích, miêu tả: dùng để khảo sát thành phần đứng sau của

vị từ trạng thái ở phương diện cú pháp và ngữ nghĩa Đây là phương pháp nghiên cứu chính của luận văn này

- Phương pháp đối chiếu: dùng để chỉ ra những tương đồng, khác biệt về đặc điểm cú pháp và ngữ nghĩa của thành phần đứng sau vị từ trạng thái trong tiếng Việt với các ngôn ngữ đã được nghiên cứu kỹ (chẳng hạn, tiếng Anh), qua đó biện giải, làm rõ thêm đặc điểm cú pháp, ngữ nghĩa của thành phần này trong tiếng Việt

5 Đóng góp của luận văn

Về phương diện lý luận: luận văn cố gắng xác định và phân loại những thành phần đứng sau của vị từ trạng thái tiếng Việt từ phương diện ngữ nghĩa và cấu trúc tham tố

Về phương diện thực tiễn: những ngữ liệu, phân tích trong luận văn cũng giúp cho người học ngoại ngữ (đặc biệt các ngôn ngữ biến hình, chẳng hạn, tiếng Anh) thuận lợi hơn trong quá trình nhận diện và sử dụng các cấu trúc có chứa vị từ trạng thái

Trang 15

6 Bố cục luận văn

Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ đặt ra, ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương:

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

Chương 2: THÀNH PHẦN ĐỨNG SAU VỊ TỪ TRẠNG THÁI TIẾNG

VIỆT - XÉT TỪ PHƯƠNG DIỆN CẤU TRÚC CÚ PHÁP Chương 3: THÀNH PHẦN ĐỨNG SAU VỊ TỪ TRẠNG THÁI TIẾNG

VIỆT - XÉT TỪ PHƯƠNG DIỆN CẤU TRÚC THAM TỐ

Trang 16

C hương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

1.1 Khái niệm và phân loại vị từ

1.1.1 Khái niệm vị từ

Khi nghiên cứu về từ loại nói chung và vị từ nói riêng, các tác giả thường dựa vào những tiêu chí khác nhau để xác định nội hàm khái niệm của chúng Nhìn chung các tác giả thường dựa vào 4 tiêu chí chủ yếu sau: ý nghĩa nội dung khái quát, hình thái, phân bố hình thức và chức năng cú pháp cơ bản Tùy vào việc lựa chọn tiêu chí nào và bao nhiêu tiêu chí mà các tác giả đưa ra những sự biện giải khác nhau về khái niệm vị từ

Dựa vào tiêu chí ý nghĩa nội dung khái quát của từ để định nghĩa vị từ được coi là cách định nghĩa lâu đời nhất vì nó xuất hiện từ khá sớm Platon (khoảng năm 429-347 TCN) – là người đầu tiên phân biệt rạch ròi hai từ loại danh từ và động từ Tuy nhiên, cần lưu ý rằng hai từ loại được Platon xác định là danh từ và động từ không phải có cùng ngoại diên như những từ loại mang nhãn hiệu này trong các hệ thống phân tích về sau làm nền tảng cho các ngữ pháp nhà trường chúng ta Theo

đó, ông xác định danh từ là từ ngữ có thể hoạt động trong câu với tư cách là chủ ngữ của một phát biểu, còn động từ là từ ngữ có thể diễn đạt hành động hay phẩm chất được phát biểu Qua cách định nghĩa của ông, ta thấy rằng danh từ và động từ được thực hiện trên cơ sở logic học: nghĩa là những thành tố của mệnh đề Và những đơn vị mà ngày nay chúng ta gọi là tính từ và động từ đều được gộp chung vào một lớp: động từ Đây có thể xem là một quan điểm sớm nhất về vị từ [33, tr.27]

Về sau, nhà triết học Aristotle (384-322 TCN) cũng đồng ý với cách phân chia trên của Platon (ngoài việc thêm vào một lớp riêng biệt nữa đó là liên từ) Cũng tán đồng quan điểm dựa vào ý nghĩa để phân chia từ loại, một số tác giả thuộc trường phái tư biện ở Châu Âu khoảng nửa sau thế kỷ XIII đã phân loại các từ loại cơ bản dựa trên mức độ ổn định về thời gian, nghĩa là dựa vào đặc tính của đối tượng (động hay tĩnh, biến đổi nhanh hay chậm ) mà các từ loại phản ánh Th.Erfurt cho rằng vị

từ dùng để thể hiện các trạng thái mau lẹ, những đối tượng thiếu ổn định, và gián đoạn [63, tr.16]

Trang 17

Nửa cuối thế kỷ 20, một số nhà ngôn ngữ học khác cũng đã dựa vào lối định nghĩa trên để xác định từ loại Chẳng hạn, T Givón đã cho rằng sự phân biệt các từ loại chỉ có tính chất tương đối, các từ loại được đặt trên một thang độ về tính ổn định trên phương diện thời gian (time-stability scale) - nghĩa là đứng ở một vị trí nào đó giữa hai thái cực Trong đó, theo tác giả vị từ nằm về thái cực ‘ổn định’,

‘bền vững’ Hai từ loại này (danh từ và vị từ) cũng được ông xem là có tính phổ quát, các từ loại còn lại tùy thuộc vào từng ngôn ngữ [59, tr.51-52]

Như vậy theo tiêu chí ý nghĩa nội dung khái quát này thì vị từ được xác định trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài Tuy vậy nó cũng bộc lộ thiếu sót khi không khái quát được rất nhiều những vị từ vốn trống nghĩa hoặc mờ nghĩa từ vựng

và ngay cả khi có ý nghĩa từ vựng thì ý nghĩa hành động trạng thái của chúng không

rõ ràng

Chính vì những mặt hạn chế đó mà quan điểm này đã bị nhiều người phê phán Một trong những lời phê phán thông thường nhất đối với cách định nghĩa truyền thống là chúng luẩn quẩn Người ta đã chỉ ra rằng nếu lớp danh từ được định nghĩa một cách theo “ý niệm” là lớp đơn vị từ vựng chỉ người, nơi chốn và sự vật, thì định nghĩa đó không thể áp dụng mà không đi vòng quanh để xác định cương vị

của các từ tiếng Anh như truth, beauty, electric… Sự luẩn quẩn nằm ở chỗ là lý do

duy nhất khiến ta nói truth, beauty, electric… là “sự vật”, đó là do những từ chỉ chúng trong tiếng Anh là danh từ Trong thực tế, hầu như ngôn ngữ nào cũng có hàng loạt từ được xếp vào các từ loại khác nhau nhưng cùng mang một kiểu ý nghĩa, và ngược lại hàng loạt từ nếu xét về mặt ý nghĩa chúng cần phải đưa vào từ loại khác so với cách xếp loại đã áp đặt cho chúng

Nhìn chung, cách phân loại và định nghĩa vị từ dựa vào ý nghĩa nội dung khái quát (dù đã mở rộng như Givón) cũng vẫn không bao chứa được hết các từ loại, nó chỉ dùng để xác định các từ loại ‘từ vựng’ như danh từ, vị từ, trạng từ Hơn nữa lối phân loại này buộc phải chấp nhận sự tồn tại của những vùng giao thoa lớn giữa các

từ loại (hiện tượng trung gian), không triệt để cho vấn đề phân chia từ loại

Một quan điểm phân chia từ loại khác là dựa vào tiêu chí hình thái Đây là lối phân loại chú ý đến các tiêu chí thuộc về cấu trúc hay đặc điểm nội tại của ngôn

Trang 18

ngữ Theo đó, một số nhà ngôn ngữ khi định nghĩa vị từ thường chỉ nêu ra tiêu chí hình thái hoặc xem đó là tiêu chí quan trọng Với cách hiểu này các nhà ngôn ngữ học phương Tây đã thấy trong ngôn ngữ biến hình của họ những cơ sở khách quan, khoa học cho sự phân biệt các từ loại Sự khác biệt đó ở cả hình thức biến đổi phù hợp với các phạm trù ngữ pháp do quan hệ ngữ pháp trong câu quy định và cả ở hình thức cấu tạo từ Dionysius Thrax (cuối thế kỷ II TCN) đưa ra các định nghĩa về danh từ, động từ và giới từ (và được hầu hết các đồ đệ của ông thuộc dòng chính thống của ngữ pháp truyền thống phương Tây kế thừa) Theo đó vị từ (tác giả gọi là động từ) được ông quan niệm “là thành phần lời nói không có biến hình cách mà có biến hình về thời, ngôi và số, có nghĩa là một hoạt động hay bị tác động đến” [Dẫn theo Lyons, 33, tr.504]

W.Croft cũng đã sử dụng phương pháp tương tự để xác định vị từ: “Nếu một

thân từ từ vựng có thể thích hợp trong một cấu trúc (câu đơn giản) mà lại nhận các biến tố chỉ số, ngôi, thời thì đó là vị từ” [54, tr.7]

Cách phân loại dựa trên dấu hiệu hình thái này đối với các ngôn ngữ biến hình vẫn còn bộc lộ nhiều thiếu sót Trước hết, biến hình không phải là đặc điểm phổ quát của ngôn ngữ Ngay cả các ngôn ngữ biến hình không nhất thiết phải có sự biến hình động từ để thể hiện các phạm trù cách, số và thời

Một số nhà ngôn ngữ học khác lại chủ trương hoàn toàn dựa vào sự phân bố

hình thức – tức dựa vào sự kết hợp các từ chứng bao quanh từ đang xét C.Fries

(1952) đã lập ra một số mô hình để xác định các từ loại trong tiếng Anh (tác giả gọi

là các nhóm: 1, 2, 3, …) [57, tr.77-78] Không đi theo hướng truyền thống tìm kiếm tiêu chí về nội dung rồi mới gán cho các đơn vị đó những thuật ngữ có tính kỹ thuật,

C Fries đã hiển ngôn phương pháp làm việc của mình như sau: “Chúng tôi cố gắng

trước hết tìm các đặc tính hình thức nhờ đó để nhận diện từng đơn vị và cấu trúc chức năng rồi sau đó mới đưa ra câu hỏi các cấu trúc này thể hiện những ý nghĩa gì” [57, tr.175]

Trước đó nhiều năm, trong giới Việt ngữ học, Lê Văn Lý (1948) cũng dựa vào tiêu chí tương tự để phân chia hệ thống từ loại tiếng Việt Tác giả đưa ra khái niệm

chứng tự, nghĩa là những tự ngữ có thể phối hợp với một số tự ngữ này, và không

Trang 19

thể phối hợp với một số tự ngữ khác Bao nhiêu những tự ngữ có thể phối hợp được với các chứng tự nào đó sẽ thuộc về cùng một tự loại với nhau” [32, tr.28] Trên cơ

sở đó, tác giả phân chia vốn từ tiếng Việt ra thành 3 nhóm lớn (A, B, C) Ba nhóm trên theo tác giả nếu cần thiết có thể tách ra thành sáu nhóm gần gũi với cách gọi truyền thống: danh từ, động từ, tính từ, từ chỉ ngôi, số từ và tiểu từ Ưu điểm của cách phân loại này ngoài chỗ thuận tiện cho thao tác nhận diện, còn ở chỗ thấy được

sự gần gũi của động từ và tính từ (tác giả gọi B và B’) – 2 từ loại mà ngày nay đã được nhiều tác giả gộp lại thành vị từ

Một tác giả khác là P Honey cũng bằng cách tương tự như Lê Văn Lý đã chia

từ tiếng Việt thành 12 loại, trong đó mỗi từ loại cũng được xác định dựa trên khả năng kết hợp với các từ chứng Chẳng hạn để xác định từ loại 2 (tương đương với vị

từ), tác giả đã lập luận như sau: “Tất cả những từ tiếng Việt đứng ngay trước chứ

không phải đứng sau một trong hai từ “nhiều” hoặc “lắm” và không bao giờ đứng ngay sau một trong hai từ “hơi” hoặc “rất” thì được xếp vào nhóm các từ loại 2”

[61, tr.14-15]

Tuy vậy, tiêu chí này có những khuyết điểm như khó khăn trong việc tìm một

số khuôn mẫu, từ chứng tiêu biểu để tránh sự chồng chéo, để hạn chế ngoại lệ, những mô hình này chỉ có tác dụng miêu tả từ loại cho từng ngôn ngữ cụ thể vì mỗi ngôn ngữ đều có những quy định về trật tự sắp xếp, kết hợp từ ngữ cũng như danh sách các từ chứng khác nhau

Tiêu chí còn lại có thể kể đến để phân chia từ loại là tiêu chí dựa vào chức năng cú pháp cơ bản của chúng Cách định nghĩa này vừa phân biệt được động từ và tính từ trong đa số các ngôn ngữ Ấn – Âu, lại vừa cho thấy nét chung rất cơ bản không thể bỏ qua giữa động từ và tính từ trong những ngôn ngữ như tiếng Việt Một

số nhà Hán học như A Dragunov, A Reformatskij đã phân loại tiếng Hán dựa trên chức năng cú pháp, từ đó đã xếp chung tính từ và động từ vào một nhóm gọi là vị

từ Cũng dựa trên chức năng cú pháp, L.Thomspon đã thấy ‘verb’ trong tiếng Việt phải bao gồm cả một số lớn “các hình thức hầu như là thích hợp gán cho các tính từ tiếng Anh theo sau hình thức nào đó của động từ ‘tobe’[66, tr.217] Tác giả Cao Xuân Hạo khi định nghĩa vị từ cũng chú trọng tiêu chí cú pháp khi cho rằng vị từ là

Trang 20

một từ “có thể tự mình làm thành một vị ngữ (hay một ngữ đoạn biểu thị nội dung

của cái sự tình được trần thuật trong câu) hoặc làm trung tâm cho ngữ đoạn ấy”

[22, tr.355-256] Có thể nói, chức năng cú pháp đã được nhiều nhà ngôn ngữ học coi đây là tiêu chí duy nhất hoặc cơ bản để định nghĩa vị từ trong những ngôn ngữ không biến hình như tiếng Việt

Nguyễn Tài Cẩn trong Ngữ pháp tiếng Việt, Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ (1975) đã nhận thấy rằng có những từ có khả năng đứng làm trung tâm của đoản ngữ, có những từ lại không có khả năng đứng làm trung tâm của đoản ngữ như thế;

có những từ chỉ có khả năng làm trung tâm của đoản ngữ kiểu này, có những từ lại

có khả năng làm trung tâm của đoản ngữ kiểu khác Đoản ngữ chính là một nơi thể hiện rất rõ những đặc trưng khác nhau của những loại, những nhóm từ khác nhau

Chính vì vậy hoàn toàn có thể căn cứ vào tổ chức của đoản ngữ, lấy tổ chức của đoản ngữ làm một tiêu chuẩn để chia kho từ vựng thành những loại, tiểu loại, hoặc nhóm nhỏ khác nhau” [7, tr.303] Mặc dù có nói đến sự cần thiết phải bổ sung thêm

tiêu chí “dựa vào mệnh đề” nhưng việc nhấn mạnh vai trò quan trọng của đoản ngữ trong việc xác lập tư cách từ loại của các vị từ cho thấy hướng đi của tác giả là nhất quán, có giá trị

Lưu Văn Lăng, dựa vào hoạt động cú pháp của từ trong ngữ đoạn tầng bậc hạt nhân, vào vai trò, vị trí, chức năng của từ trong ngữ đoạn đã chia vốn từ tiếng Việt

ra thành 2 loại lớn (từ nòng cốt và từ phụ gia) trong đó vị từ (bao gồm động từ và tính từ) được đặt trong thế đối lập với nhóm thể từ (bao gồm danh từ và đại từ) và hai nhóm này xếp chung vào loại từ nòng cốt Lối phân loại này thuận lợi trong thao tác nhưng thực ra vẫn phải dựa vào tiêu chí ý nghĩa trong tất cả các tầng bậc phân loại

Qua việc điểm qua các quan điểm phân chia từ loại dựa trên một tiêu chí như vừa đề cập, ta thấy các hướng tiếp cận này dù được coi là triệt để, khách quan nhưng vẫn còn những khuyết điểm, hạn chế nhất định Do đó, một số tác giả đã chọn con đường trung dung, có ý nghĩa về mặt thực tiễn hơn, đó là sử dụng kết hợp nhiều tiêu chí

Trang 21

C.Fries sau khi đưa ra những dẫn chứng chứng minh tính thiếu nhất quán trong lối định nghĩa các từ loại, cũng như thiếu khả năng bao quát của một số định

nghĩa về từ loại đã đưa kết luận: “Chúng ta không thể dùng ‘nghĩa từ vựng’ làm cơ

sở cho định nghĩa một vài từ loại, dùng ‘chức năng trong câu’ cho một số loại khác, còn ‘tiêu chí hình thức’ cho những từ loại còn lại Chúng ta cần phải tìm một tập hợp các tiêu chí có thể áp dụng triệt để cho việc phân chia các từ loại” [57, tr.69]

Theo P Schachter, từ loại cần phải được định nghĩa dựa trên các tiêu chí ngữ pháp Cụ thể tác giả nêu ra ba tiêu chí: (i) sự phân bố của từ (trong câu); (ii) phạm

vi chức năng cú pháp mà từ đảm nhiệm; (iii) các phạm trù cú pháp hoặc hình thái

mà từ thể hiện [63, tr.3]

Một giải pháp khác mang tính dung hòa hơn là sử dụng nhiều tiêu chí bao gồm

cả những tiêu chí thuộc về ngữ nghĩa/chức năng và cả những tiêu chí thuộc về cấu trúc nội tại của ngôn ngữ để phân chia từ loại Chẳng hạn, E.Gorden và I.Krylova sau khi nêu ra ba tiêu chí chung cho việc phân chia từ loại trong các ngôn ngữ [60, tr.6] Các tác giả đã định nghĩa vị từ dựa vào 3 tiêu chí sau: (i) nội dung (nghĩa từ vựng): dùng để chỉ các hành động, quá trình, quan hệ, …; (ii) hình thức: thể hiện các phạm trù ngữ pháp như thì, thể, dạng, …; (iii) chức năng: làm vị ngữ của câu [60, tr.8]

Trong giới Việt ngữ học, một số tác giả cũng sử dụng kết hợp nhiều tiêu chí để

xác định từ loại tiếng Việt Có thể kể đến Lê Cận - Phan Thiều, trong Giáo trình

Ngữ pháp tiếng Việt, căn cứ vào chức năng cú pháp, ý nghĩa phạm trù và khả năng

kết hợp; Đinh Văn Đức, trong Ngữ pháp tiếng Việt, sử dụng kết hợp các tiêu chí

như ý nghĩa phạm trù, chức năng cú pháp và cả ý nghĩa từ vựng - ngữ pháp, Diệp

Quang Ban và Hoàng Văn Thung, trong Ngữ pháp tiếng Việt, dựa vào các tiêu chí

như ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp, chức năng cú pháp, Lê Kính Thắng (2009, 2013), Nguyễn Hồng Cổn (2013) sử dụng cả tiêu chí cú pháp và tiêu chí khả năng chi phối tham tố để nhận diện, phân chia các lớp từ từ vựng

Trên cơ sở những phân tích trên, chúng tôi cho rằng để có một định nghĩa về

từ loại nói chung và vị từ nói riêng có thể áp dụng cho nhiều ngôn ngữ cần phải kết hợp nhiều tiêu chí Việc sử dụng một tiêu chí duy nhất sẽ không phản ánh được đầy

Trang 22

đủ bản chất cũng như hoạt động phức tạp của vị từ trong các ngôn ngữ thuộc những loại hình ngôn ngữ khác nhau Về cơ bản, chúng tôi đồng ý với cách phân định từ loại của Nguyễn Tài Cẩn, theo đó vị từ là một từ loại có thể làm trung tâm của đoản ngữ để hình thành đoản ngữ vị từ, có khả năng kết hợp với một số thành tố phụ Nhưng khác với tác giả ở chỗ, chúng tôi không tiến hành phân biệt rõ động từ và tính từ mà gộp chúng vào chung một nhóm vị từ

1.1.2 Phân loại vị từ

Vị từ có thể được phân loại dựa vào nghĩa biểu hiện, vào số lượng diễn tố mà

nó chi phối, sự kết hợp cả tiêu chí ý nghĩa và chức năng hay sự có mặt hay vắng mặt của bổ ngữ trực tiếp Dưới đây chúng tôi sẽ lần lượt tìm hiểu từng cách phân loại cụ thể của vị từ

1.1.2.1 Phân loại vị từ theo nghĩa biểu hiện

Phân loại vị từ theo nghĩa biểu hiện sự tình là cách phân loại chú ý đến mối quan hệ giữa vị từ với thế giới bên ngoài Đây là lối phân loại có lẽ xuất hiện sớm nhất Ngày nay cách phân loại này vẫn được nhiều các tác giả sử dụng với một số chỉnh sửa, bổ sung

W Chafe sau khi chia vị từ ra thành hai nhóm lớn (vị từ trạng thái và vị từ phi trạng thái) đã đưa ra một bảng phân loại vị từ gồm 6 tiểu loại: (i) vị từ trạng thái, (ii)

vị từ quá trình, (iii) vị từ hành động, (iv) vị từ quá trình hành động, (v) vị từ trạng thái hoàn cảnh, (vi) vị từ hành động hoàn cảnh

R Dixon cho rằng vốn từ trong tất cả các ngôn ngữ đều có thể được phân loại dựa vào một số kiểu ngữ nghĩa phổ biến Trong đó, vị từ có khoảng 20 kiểu, chẳng hạn: vị từ chỉ sự chuyển động, cho tặng, yêu thích, … Tuy nhiên, ông cũng nhận thấy trong các ngôn ngữ thường có hiện tượng một số vị từ cùng chia sẻ đặc tính cú pháp nhưng ý nghĩa có thể rất khác nhau

Bằng việc mô tả câu ở bình diện nghĩa biểu hiện, M Halliday phân loại quá trình (quá trình được thể hiện là vị từ ở bình diện hình thức cú pháp) thành 3 kiểu cơ bản (quá trình vật chất, quá trình tinh thần, quá trình quan hệ) và ba kiểu trung gian (quá trình hành vi, quá trình phát ngôn, quá trình hiện hữu) [20, tr.205-207]

Trang 23

Tổng hợp lại, dựa vào nghĩa biểu hiện ta có thể chia vị từ thành 2 loại: vị từ biểu hiện nội dung sự tình và vị từ tình thái

(i) Vị từ biểu thị nội dung sự tình

Đây là những vị từ biểu thị những đặc tính, những biểu hiện và những mối liên

hệ của các thực thể ở thế giới bên ngoài Nhóm vị từ này có thể được tiếp tục được phân loại chi tiết hơn dựa vào một số tiêu chí ngữ nghĩa cụ thể

S.C.Dik trong phần tìm hiểu về loại hình học về các sự tình đã đưa ra cách hiểu về sự tình và thông số để phân biệt các loại sự tình Ông cho rằng kết cấu vị ngữ hạt nhân bao gồm những ngữ định danh chỉ các thực thể trong một thế giới nào

đó, những vị từ chỉ thuộc tính của các thực thể hay quan hệ giữa các thực thể ấy Kết cấu vị ngữ hạt nhân là một chỉnh thể chỉ định một tập hợp các sự tình, trong đó, mỗi sự tình được xác định bằng cái thuộc tính hay quan hệ cụ thể được chỉ định bằng vị từ (mà các vị từ này) đặc trưng cho thực thể hoặc các thực thể mà ngữ định

danh biểu thị Theo đó, thuật ngữ sự tình theo ông “được dùng theo nghĩa rộng của

cái có thể là tình huống trong một thế giới nào đó” [15, tr.48]

Hai thông số cơ bản được S.C.Dik sử dụng để phân biệt các loại sự tình đó là

Động (dynamism) và Chủ ý (control) Ông lý giải rằng một sự tình động là “sự tình

không bao hàm bất kỳ sự biến đổi nào, tức là những thực thể không đổi ở bất kỳ thời điểm nào trong suốt thời gian tồn tại của sự tình” [15, tr.49] Còn một sự tình

là chủ ý “nếu một trong những thực thể hàm chứa trong nó, kẻ chủ ý, có năng lực

quyết định các sự tình đó tồn tại hay không” [15, tr.49]

Và từ hai thông số này, S.C.Dik đã xác định được 4 kiểu sự tình sau đây: Trạng thái = tình huống không chủ ý = sự tình không động không chủ ý

Quá trình = sự kiện không chủ ý = sự tình động không chủ ý

Tư thế = tình huống chủ ý = sự tình không động chủ ý

Hành động = Sự kiện chủ ý = sự tình động chủ ý

Bốn loại sự tình cơ bản này được tác giả cụ thể qua bảng dưới đây:

Trang 24

SỰ TÌNH + Động

SỰ KIỆN

- Động TÌNH HUỐNG

Trang 25

đáp Khi nói ra câu (d) người nói đinh ninh rằng sự tình ở thế giới bên ngoài đã là hiện thực, nhưng lại nhận được thông tin không phải như thế, nên hỏi với vẻ ngạc nhiên Khi nói ra câu (e), người nói phỏng đoán rằng sự tình có khả năng là hiện thực trong tương lai Khi nói ra hai câu (f) và (g) người nói phủ định tính chân thực của sự tình trong tương lai Khi nói ra hai câu (h) và (i) người nói khẳng định sự tình chắc chắn là hiện thực trong tương lai Những nội dung nhìn nhận, đánh giá

khác nhau của người nói chung quanh nội dung mệnh đề “Lãm gặp Nguyệt” như

vừa nêu là những biểu hiện cụ thể, đa dạng của tình thái [6, tr.218]

Trong những ngôn ngữ thiên chủ đề như tiếng Việt, nơi mà sự quy định đặc tính vai nghĩa không chặt chẽ như trong các ngôn ngữ thiên chủ ngữ, có thể xuất hiện nhiều trường hợp vị từ tình thái không nhất thiết phải cùng với vị từ ngôn liệu

bị chi phối bởi đề mà có thể gắn với người nói (kiểu: Có lẽ là Lãm sẽ gặp Nguyệt)

Nhìn chung, lối phân loại vị từ dựa vào nghĩa biểu hiện có thể áp dụng cho mọi ngôn ngữ

1.1.2.2 Phân loại vị từ theo số lượng diễn tố

Về mặt bản chất, vị từ quy định sự hiện diện của các thành phần còn lại của câu – nghĩa là quy định số lượng và kiểu ngữ nghĩa của những ngữ đoạn danh từ bắt buộc hoặc có thể xuất hiện trong câu Những ngữ đoạn bắt buộc phải xuất hiện do ý nghĩa của vị từ quy định gọi là diễn tố Số lượng các diễn tố của một vị từ là diễn trị Dựa vào tiêu chí diễn trị, vị từ được chia thành các loại như sau: vị từ vô trị, vị

từ đơn trị, vị từ song trị, vị từ tam trị

(i) Vị từ vô trị / vị từ không có diễn tố

Những vị từ vô trị chủ yếu thể hiện những hiện tượng, trạng thái phổ biến như thiên nhiên, thời tiết Lúc này không có một tham tố bắt buộc nào tham gia sự tình

Theo W Chafe, vị từ kiểu này thường gắn với kiểu câu mà dường như “không chứa

đựng một cái gì khác ngoài vị từ và trong đó không có một đối tượng nào để tiến hành vị từ hóa” [12, tr.130] Trong một số ngôn ngữ như tiếng Việt, vị từ vô trị có

thể một mình hoặc kết hợp với các chu tố mở rộng để tạo câu

[2]

a Gió

Trang 26

b Gió mạnh

(ii) Vị từ đơn trị/ vị từ có một diễn tố

Vị từ một diễn tố có thể thuộc vào nhiều tiểu loại khác nhau: vị từ hành động, vị từ quá trình, vị từ trạng thái, vị từ tư thế Đây là những vị từ đòi hỏi phải có một tham tố bắt buộc Trong phần lớn câu đơn giản, vị từ này đi sau diễn tố đóng vai trò đề/ chủ ngữ của câu Đối với những vị từ khác nhau diễn tố này có thể có các

vai nghĩa khác nhau Ví dụ như với vị từ hành động diễn tố này là Hành thể, với vị

từ trạng thái diễn tố này là Nghiệm thể, …

[3]

a Xe chạy

b Đứa bé ngã

(iii) Vị từ song trị / vị từ có hai diễn tố

Đây là vị từ đòi hỏi phải có hai tham tố tham gia vào sự tình: một diễn tố xuất hiện trên bề mặt cú pháp là Đề/chủ ngữ, một diễn tố là bổ ngữ Phần lớn vị từ

có hai diễn tố thuộc loại vị từ hành động nếu xét về đặc tính ngữ nghĩa, tuy nhiên cũng có trường hợp chúng thuộc về những vị từ khác Hai diễn tố này có thể mang hai vai nghĩa khác nhau tùy thuộc vào nghĩa của vị từ chi phối chúng

[4]

a Anh ấy vẽ tranh

b Nông dân đang cắt lúa

(iv) Vị từ tam trị / vị từ có ba diễn tố

Các vị từ loại này đòi hỏi phải có ba diễn tố: một diễn tố xuất hiện trên bề mặt cú pháp là đề / chủ ngữ, hai diễn tố còn lại thường là một bổ ngữ trực tiếp và một bổ ngữ gián tiếp Hầu hết các vị từ tam trị thuộc vị từ hành động và các diễn tố của vị từ loại này thường mang các vai nghĩa như: Tác thể, Đối thể và Tiếp thể

[5]

a Lan tặng hoa cho cô giáo

b Nó biếu bà một quả cam

Trang 27

Ngoài bốn kiểu vị từ trên, một số vị từ có thể có 4 diễn tố, tuy nhiên nhóm vị

từ này có khối lượng không đáng kể Trong thực tế sử dụng thường ít khi dùng cả 4 diễn tố, tùy từng trường hợp sẽ loại bỏ một hay vài diễn tố

[6]

Lớp trưởng thu bài tập của các bạn sinh viên cho thầy giáo

Bên cạnh cách phân loại trên, một số tác giả khác cũng dựa vào diễn trị nhưng lại cho những kết quả khác hẳn Chẳng hạn như Ch.Li & Thompson đã chia

vị từ tiếng Hán ra thành các loại sau: (i) vị từ nội động (không có bổ ngữ); (ii) vị từ ngoại động (có một bổ ngữ trực tiếp); (iii) vị từ song chuyển (có một bổ ngữ trực tiếp và một bổ ngữ gián tiếp) Như vậy, cách phân loại của các tác giả này là sự kết hợp của hai tiêu chí phân loại dựa vào diễn trị và phân loại dựa vào sự có mặt của

bổ ngữ

Một tác giả khác là R Dixon cũng dựa vào diễn trị để phân loại vị từ và đưa

ra kết quả là: vị từ nội động (nhận một vai nghĩa), vị từ ngoại động (nhận hai hoặc hơn hai vai nghĩa) I Schlesinger cũng có quan điểm tương tự khi cho rằng việc phân chia vị từ thành vị từ nội động và vị từ ngoại động là căn cứ vào số lượng tham tố nòng cốt mà vị từ đòi hỏi

Như vậy, ta thấy rằng các tác giả trên đã đánh đồng số lượng vai nghĩa với đặc điểm cú pháp Đây là một cách làm chưa thật đúng đắn vì trong nhiều ngôn ngữ, một số vị từ có hai hoặc hơn hai diễn tố nhưng thể hiện trên bình diện cú pháp vẫn không có bổ ngữ trực tiếp, do đó không thể xếp chúng vào nhóm vị từ ngoại động Trong tiếng Việt cũng bắt gặp hiện tượng này

[7]

Anh ta lên trên Đà Lạt

Vị từ trong ví dụ trên vẫn cần những ngữ danh từ đi sau bổ nghĩa, hay đứng

từ phương diện cấu trúc ngữ nghĩa, các vị từ này vẫn cần phải có một diễn tố chỉ vị trí Tuy nhiên chúng lại không mang hình thức của những bổ ngữ trực tiếp (chúng

có giới từ đi trước) Bổ ngữ bắt buộc ở đây không phải là bổ ngữ trực tiếp Sự thiếu vắng bổ ngữ trực tiếp đã tước đi tư cách ngoại động của các vị từ trong những câu trên

Trang 28

1.1.2.3 Phân loại vị từ dựa trên sự kết hợp ý nghĩa và chức năng

Những tác giả này phân loại vị từ dựa vào sự kết hợp cả ý nghĩa và chức năng, kết quả của cách phân loại này là chia vị từ thành 2 hay 3 tiểu loại nhỏ hơn Có tác giả chia vị từ thành: vị từ nội động, vị từ ngoại động và vị từ trợ/ vị từ nối Có tác giả chỉ chia vị từ thành hai nhóm là giữ nguyên nhóm vị từ trợ và gom hai nhóm vị

từ nội động và vị từ ngoại động vào một nhóm gọi là vị từ không nối/ vị từ miêu tả/

vị từ có nghĩa từ vựng

Như vậy ngoài một khác biệt nhỏ về việc gom hay tách nhóm vị từ ngoại động

và vị từ nội động, còn lại về cơ bản hai cách phân loại này thống nhất ở cách hiểu các khái niệm Nói chung, các vị từ trong nhóm đầu là mờ nghĩa từ vựng hoặc trống nghĩa, chúng luôn đi trước vị từ từ vựng trong các vị từ chuỗi để thông tin về tình thái; hoặc, trong một số ngôn ngữ, chúng đi trước các từ loại khác để thông tin về thời, thể, ngôi, … và cùng hợp thành vị ngữ, tạo tính hoàn chỉnh về ngữ pháp Ngược lại, các vị từ thuộc nhóm vị từ nội động và vị từ ngoại động có nghĩa từ vựng và có thể đảm trách chức năng cú pháp trong câu

Nhìn chung cách phân loại này thiếu tính triệt để trong việc sử dụng các tiêu chí Sự đối lập vị từ nối với hai loại còn lại là dựa trên tiêu chí nghĩa, trong khi đó,

sự phân biệt vị từ nội động với vị từ ngoại động lại dựa trên tiêu chí ngữ pháp

1.1.2.4 Phân loại vị từ dựa vào tiêu chí kết hợp với bổ ngữ trực tiếp

Đây là cách phân loại phổ biến và khá gần gũi với cách phân loại dựa vào sự kết hợp ý nghĩa và chức năng ở trên Theo hướng này, vị từ được chia thành hai nhóm: vị từ có bổ ngữ trực tiếp (vị từ ngoại động) và nhóm vị từ không có bổ ngữ trực tiếp (vị từ nội động) Khác với cách phân loại dựa vào sự kết hợp ý nghĩa và chức năng ở trên, cách phân loại này là cách phân loại có tính ngữ pháp (vì nó chú ý mối quan hệ của vị từ với các thành phần chức năng khác trong câu) Đây là cách phân loại có thể áp dụng cho hầu hết các ngôn ngữ Hạn chế của cách phân loại này

là không tính đến hoạt động của nhóm vị từ nối – một nhóm khá phổ biến trong rất nhiều ngôn ngữ

Trong luận văn này, chúng tôi áp dụng cách phân loại vị từ dựa vào nghĩa biểu hiện Theo đó, các tiêu chí phân loại vị từ theo nghĩa có thể trình bày như sau:

Trang 29

-

- +/-

+

- +

- +/-

1.2 Vị từ trạng thái

1.2.1 Khái niệm vị từ trạng thái

Để có thể hiểu vị từ trạng thái là gì, trước hết chúng ta cần tìm hiểu khái niệm

sự tình Như đã biết, trong ngữ pháp chức năng, theo quan niệm của S.C.Dik, nghĩa biểu hiện của câu đề cập đến một sự tình trong thực tế khách quan Đồng thời, để xác định các loại sự tình, S.C.Dik đã căn cứ vào hai tiêu chí chủ yếu là (+/- Chủ ý)

và (+/- Động) từ đó phân biệt sự tình thành bốn loại cơ bản là: sự tình hành động, sự tình quá trình, sự tình tư thế, sự tình trạng thái Điều này chúng tôi đã có đề cập cụ thể ở những phần trên

Nhận xét về lược đồ phân loại sự tình của S.C.Dik, Cao Xuân Hạo cho rằng:

Dựa trên hai tiêu chí này, Dik đã cho ta một lược đồ phân loại cực kỳ trang nhã Nhưng ý hướng mang tới sự đơn giản và trang nhã đã làm cho lược đồ của Dik không ứng dụng được một cách hữu hiệu” [21, tr.430] Cụ thể, ông đưa ra những lý

giải về tính không hữu hiệu trong lược đồ của S.C.Dik trong ô Tư thế (+ chủ ý, - động) Cao Xuân Hạo cho rằng ô này không cân bằng chút nào với ba ô còn lại: Hành động, Quá trình, Trạng thái bởi số lượng vị từ làm hạt nhân cho loại câu này (đứng, ngồi, nằm, quỳ, …) rất ít, không bằng 0,2 phần trăm số các vị từ làm hạt

nhân cho 3 loại kia Thêm nữa, với trường hợp những câu định vị (Ví dụ: Con cá

Trang 30

nằm trên thớt) thì tuy dùng vị từ nằm nhưng không thể xếp nó vào nhóm vị từ tư thế

vì thiếu mất tiêu chí “+chủ động”, và cũng không thể xếp chúng vào loại nào trong

4 loại đã kể trên

Nhận ra sự thiếu sót đó của S.C.Dik, Cao Xuân Hạo đưa ra một mô hình phân loại sự tình cụ thể hơn Ông đưa thêm vào lược đồ của mình tiêu chí Tồn tại (hiện hữu) vào hàng sự tình cơ bản, bậc một (ngang hàng với Biến cố và Tình hình), và thay ô Tư thế (bậc hai) của S.C.Dik bằng loại quan hệ (được Halliday coi như một trong ba loại “quá trình” lớn của ông, bên cạnh các “quá trình vật chất” và “quá trình tinh thần”), và đặt nó ngang hàng với loại Trạng thái trong cái loại lớn của những sự tình tĩnh (-động) được S.C.Dik gọi là Tình hình

Theo đó, sự tình Trạng thái được Cao Xuân Hao đặt trong sự đối lập với sự tình Quan hệ bởi tiêu chí “+/- nội tại” Ông lý giải rằng: “nếu Trạng thái là tình hình của một thực thể xét trong bản thân nó, thì Quan hệ là một tình hình của thực thể xét

từ bên ngoài có đối chiếu với một thực thể khác” [21, tr.430-431]

Từ những cơ sở trên, Cao Xuân Hạo đã đưa ra một hệ thống loại hình các sự tình được trình bày dưới hình thức biểu đồ dưới đây:

Trang 31

SỰ TÌNH

chuy ển thái chuy ển vị

t ạo tác

h ủy diệt + h ướng

- h ướng

c ửđộng ứng xử chuy ển thái chuy ển vị

t ạo tác

h ủy diệt chuy ển thái chuy ển vị

n ảy sinh

di ệt vong th.tính (+ sinh) th.tính (- sinh) trí tuệ

Ph ẩm chất (+ th ể chất)

Tính khí (- th ể chất)

- chuy ển tác

+ chuy ển tác

- chuy ển tác

Tính chất (+ th ường tồn)

Tình trạng (- th ường tồn)

V ật thể

S ự tình

Hành động (+ ch ủý)

Quá trình (- ch ủý)

Tr ạng thái (+ n ội tại)

Quan h ệ (- n ội tại)

Bi ến cố (+ động)

T ồn tại

Tình hình (- động)

+ định vị

- định vị

Trang 32

Qua biểu đồ trên ta có thể hình dung như sau: Các sự tình, được biểu hiện trong ngôn ngữ bằng những câu mà hạt nhân là khung vị ngữ, gồm lõi vị ngữ và các tham tố của nó, có thể chia làm ba loại: câu tồn tại, câu biến cố và câu tình hình Trong câu chỉ tình hình có thể phân biệt câu chỉ trạng thái với câu chỉ quan hệ Theo

đó, Cao Xuân Hạo cho rằng: “trạng thái là một tình hình có mặt trong bản thân chủ

thể (thực thể mang nó, hay “ở trong trạng thái” đó)” và nó được đặt trong sự đối

lập với Quan hệ “là một tình hình mà nội dung là một cái gì ở giữa hai sự vật, dù đó

là một sự tiếp xúc, một khoảng cách, một mối dây nhân quả, hay một sự so sánh”

[21, tr.433-434]

Dựa vào quan niệm của Cao Xuân Hạo ta có thể hiểu trạng thái là tình trạng, dạng thức xuất hiện trong cùng một thời điểm (dài – ngắn khác nhau) của sự vật Nói cách khác, trạng thái vừa là những thuộc tính (cụ thể - cá thể) vừa có tính quá trình: mỗi trạng thái được đặc trưng bằng một thuộc tính nhưng thuộc tính đó tồn tại trong một thời gian dài hoặc ngắn thì tùy nhưng nhất thiết đến lúc nào đó phải đổi sang thuộc tính khác, trạng thái có tính chất thời gian

Trên cơ sở cách hiểu về trạng thái, Cao Xuân Hạo và các cộng sự đã đưa ra

định nghĩa về vị từ trạng thái như sau: “Vị từ trạng thái là vị từ biểu thị tính chất và

tình trạng của người, động vật và những vật vô tri hoặc biểu thị quan hệ giữa các

sự vật” [23, tr.38] Các tác giả đưa ra những ví dụ như:

- Ác, dốt, hiền, nhác, siêng, …

- Buồn, cáu, đáng, ganh, khoái, mong, …

- Ải, bại, cảm, choáng, đúng, khẩn, lạnh, …

- Bằng, hơn, kém, thua, …

Qua định nghĩa trên của Cao Xuân Hạo và các cộng sự, ta có thể hiểu vị từ trạng thái là những vị từ biểu hiện tính chất có tính thời gian – tức là những vị từ

biểu hiện trạng thái nhất thời của sự vật Chẳng hạn, bản chất (đặc tính) của hoa là

đẹp, nhưng hoa có lúc ở trạng thái tươi và có lúc chuyển sang trạng thái héo, úa

Cho nên héo, úa là những trạng thái nhất thời của hoa

Trang 33

1.2.2 Phân loại vị từ trạng thái

Dựa vào tiêu chí thường tồn và không thường tồn vị từ trạng thái được Cao Xuân Hạo và các cộng sự chia thành các loại sau:

(i) Thường tồn:

Một trạng thái thường tồn là một trạng thái luôn gắn liền với người, động vật

và vật (vô tri) mang nó Nói cho rõ hơn, trạng thái thường tồn của sự vật nói chung

là tính chất hoặc là phẩm chất của sự vật Tính chất (hoặc phẩm chất) có thể thuộc

về chất, có thể thuộc về tinh thần Tính chất về tinh thần gọi là tính khí

Chẳng hạn, trong những câu sau đây:

[8]

a Gà trống hay gà mái thì cũng là gà

b Ông ấy coi vậy mà hiền lắm

Các từ trống, mái, trong những ví dụ trên biểu thị những trạng thái thường tồn của một loại động vật là gà; vị từ hiền biểu thị một trạng thái thường tồn về tinh thần (tính khí) của một người (ông ấy)

(ii) Không thường tồn

Một trạng thái không thường tồn là một trạng thái có tính chất nhất thời ở

người, động vật và những vật vô tri Loại trạng thái không thường tồn được gọi là

tìnhtrạng Tình trạng có thể gắn liền với thể chất (thể trạng), có thể gắn với tinh

thần (tâm trạng)

[9]

a Hôm nay ông ấy không được khỏe

b Ngôi nhà này cao mười tầng

c Bà ấy thương kẻ nghèo

Vị từ khỏe biểu thị một trạng thái không thường tồn về thể chất của một người là ông ấy; vị từ cao biểu thị một trạng thái không thường tồn của một vật được gọi là ngôi nhà này; vị từ thương biểu thị trạng thái không thường tồn về tinh thần (tâm trạng) của một người được gọi là bà ấy

Những trạng thái về thể chất (thường tồn hoặc không thường tồn) có ở các

vật hữu sinh, gọi là thể trạng; cũng có thể có ở các vật vô sinh, gọi là vật trạng Sự

Trang 34

phân biệt về thể trạng và vật trạng có liên quan đến các vai nghĩa của các vị từ biểu thị các trạng thái này

Căn cứ vào các tiêu chí trên, vị từ trạng thái có thể được chia thành các tiểu loại sau đây:

(1) Vị từ trạng thái thường tồn (tính chất)

- Vị từ tính chất thể chất

+ Vị từ thể trạng + Vị từ vật trạng

- Vị từ tính chất tinh thần (tính khí)

(2) Vị từ trạng thái không thường tồn (tình trạng)

- Vị từ tình trạng thể chất

+ Vị từ thể trạng + Vị từ vật trạng

thực thể được coi như người hoặc động vật Chẳng hạn: âu, bận, cáu, chăm, dỗi,

ganh, khoái, thích, thương, yêu, …

* Vị từ thể trạng: là loại vị từ trạng thái (thường tồn hoặc không thường tồn) biểu thị những tính chất hoặc tình trạng thuộc về cơ thể của người hoặc / và của động vật và những thực thể được coi như người hoặc động vật Tiểu loại này bao

Trang 35

gồm các đơn vị như: béo, câm, còm, đau, đui, khỏe, lả, mập, nghẹn, ngọng, rêm,

sống, thức, vụng, xỉu, yếu, …

* Vị từ vật trạng: là loại vị từ trạng thái (thường tồn hoặc không thường tồn)

biểu thị tính chất hoặc tình trạng của các vật vô tri (đồ vật) Chẳng hạn: ải, ảo,

bằng, bấy, bổ, cao, chéo, dẻo, dột, đặc, đỏ, hấy, hôi, lõm, mẻ, ngắn, nhạy, óp, rắn, sắc, thật, xấu, …

1.2.3 Đặc trưng của vị từ trạng thái

Các sự thể trong thế giới khách quan phân biệt với nhau chủ yếu dựa trên hai chiều: chiều của sự đối lập về tính [+/- động] và chiều của sự đối lập về tính [+/- chủ ý] Sự phân biệt dựa vào hai chiều này đã chỉ ra hai điều:

Thứ nhất, sự khác biệt giữa những sự thể động với những sự thể tĩnh là ở chỗ: những sự thể động, tức là những biến cố, những sự việc, những thay đổi có thể xảy ra trong thời gian tương đối ngắn và chấm dứt ngay sau đó Ngược lại những sự thể tĩnh, tức những tình trạng, trạng thái, tính chất có thể tồn tại một cách lâu dài, thậm chí là vĩnh viễn

[10]

a Con bé vừa đi vừa khóc

b Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Trong ví dụ (a) những sự thể động như “đi”, “khóc” có bắt đầu, diễn biến và kết thúc Chúng ta có thể đoán biết được thời gian kết thúc của chúng Còn ví dụ (b)

“trắng”, “tròn” là những tính chất, trạng thái có thể tồn tại ở “thân em” một cách dài hạn

Thứ hai, sự phân biệt giữa các sự thể còn là sự phân biệt giữa những sự thể diễn ra hay tồn tại mà có sự điều khiển của một hoặc nhiều con người, cũng có thể

là do con vật hay thần linh – theo trí tưởng tượng của con người với những sự tình không do chủ ý mà ra (những quá trình, trạng thái của những bất động vật hoặc của động vật nhưng không có sự tự điều khiển của chúng)

[11]

a Con mèo mà trèo cây cau

b Cỏ non xanh rợn chân trời

Trang 36

Hành động “trèo” trong ví dụ (a) diễn ra với sự điều khiển của động vật là

“con mèo”, còn tính chất “xanh rợn” thì không hề có một sự chủ ý hay tự điều khiển nào cả

Từ những trình bày trên, chúng tôi nhận thấy đối tượng nghiên cứu của mình,

vị từ trạng thái, có những đặc trưng cơ bản là tính [-động] và [-chủ ý] Đây là những đặc trưng cơ bản để phân biệt vị từ trạng thái với các tiểu loại khác của vị từ

1.3 Tham tố và cấu trúc tham tố của vị từ trạng thái

1.3.1 Khái niệm tham tố

Tham tố (argument / participant) là một khái niệm gắn liền với những nghiên cứu của Tesnière về cấu trúc câu và của C Fillmore về các quan hệ cách (case

relationship) Tesnière đã đưa ra khái niệm diễn trị (valence) và các khái niệm có liên quan khác trong đó có diễn tố (actants) và chu tố (circumstants) vào nghĩa học của cú pháp Cú pháp dựa trên nghĩa học (semantically based syntax) của Tesnière

đã khiến ông trở thành một trong những nhà sáng lập ra lý thuyết diễn trị (valency theory) – cách phân tích câu dựa trên cấu trúc nghĩa của cácvai (roles) Theo ông

cấu trúc cú pháp của câu xoay quanh động từ và các diễn tố làm bổ ngữ cho nó Chủ ngữ chẳng qua là một trong các bổ ngữ đó” [Dẫn theo Cao Xuân Hạo, 21,

tr.42]

Tesnière phân biệt diễn tố với chu tố - cái vẽ nên bối cảnh (setting) – và các chi tiết phụ họa (incidental details) của cái sự tình mà vị từ miêu tả; vì vậy mà toàn

bộ một câu vẽ nên một màn kịch nhỏ (mini drama) và diễn đạt trực tiếp một sự tình

trọn vẹn Chỗ đáng quan tâm về công trình theo quan điểm cú pháp dựa trên nghĩa

học này của Tesnière là về nguyên tắc diễn tố do vị từ quy định còn chu tố là yếu tố

phụ mang tính tiềm năng có trong bất kỳ câu nào, bất chấp vị từ với kiểu câu diễn trị gì đang thực sự chiếm giữ vị trí trung tâm của vị ngữ trong câu Ví dụ như theo

Tesnière, trong câu sau đây Alfred, that Bible và to Charles đều là diễn tố còn

repeatedly, in Strasbourg và on Tuesday đều là chu tố

[12]

Trang 37

Alfred repeatedly OFFERED that Bible to Charles in Strasbourg on Tuesday (Thứ ba Alfred lặp lại đề nghị tặng quyển Kinh Thánh đó cho Charles ở Strasbourg)

Chính vì dựa trên nguyên tắc như vậy mà Tesnière đã đơn giản hóa vấn đề: ông khẳng định mã hóa diễn tố - cái yếu tố bắt buộc phải đi kèm theo vị từ trong vị ngữ của câu – là danh ngữ, còn trạng ngữ mã hóa chu tố - cái yếu tố không bắt buộc phải hiển lộ trong câu Tesnière không nhận ra rằng cùng vẽ nên bối cảnh cho “một màn kịch nhỏ”, trạng ngữ có thể được dùng để mã hóa vai Chu cảnh hoặc làm chu

tố chỉ đích (Terminus) trong (1) là một câu hành động hoặc làm diễn tố chỉ địa điểm (Location) trong (2) là một câu tồn tại Đây chính là những hạn chế của Tesnière

[13]

a He HAS already GONE to Hanoi (Anh ấy đi Hà Nội rồi.)

He HAS GONE already (Anh ấy đi rồi.)

b He LIVES in Ha noi (Anh ấy sống ở Hà Nội.)

* He LIVES (* Anh ấy sống)

C.J Fillmore (1968), trong một bài viết nổi tiếng mang tên Biện hộ cho cách

(The case for case) đã chủ trương rằng có thể xác định một tập hợp của các mối quan hệ giữa một vị từ và các tham tố của nó Các mối quan hệ mà Fillmore gọi là quan hệ cách này theo ông có tính chất phổ quát và có số lượng hữu hạn

Về sau, nhiều nhà ngữ pháp chức năng tiếp tục nghiên cứu và bổ sung vào

hệ thống lý thuyết này Chẳng hạn như S Dik chú ý tới cấu trúc nghĩa của vị từ Ông đã có những miêu tả sâu sắc về tham tố và phân loại tham tố thành diễn tố và chu tố T Givón cho rằng ngữ nghĩa của mệnh đề liên quan tới hai mặt của mệnh đề

là sự đặc tính hóa của nó như là một trạng thái, sự kiện hoặc hành động và đặc tính của các tham tố trong mệnh đề như là các vai ngữ nghĩa trong quan hệ với đặc tính của vị từ Từ một hướng tiếp cận ít nhiều khác biệt, M Halliday trong công trình

“Dẫn luận ngữ pháp chức năng” khi xem xét cấu trúc ngữ nghĩa của các cú đã đưa

ra ba thành tố là (i) quá trình, (ii) các tham tố trong quá trình, (iii) các chu cảnh liên quan đến quá trình

Trang 38

Tất cả các tác giả nêu trên mặc dù có khác nhau trong cách sử dụng khái niệm và mô hình đưa ra nhưng nhìn chung đều nói đến hai bộ phận trong cấu trúc ngữ nghĩa của mệnh đề: vị từ và các tham tố của nó Vị từ trong câu đóng vai trò trung tâm ngữ nghĩa và cú pháp Vị từ tạo thành những cái nút (nodes), cái khung (frame) mà từ đó các ngữ đoạn liên kết với nhau, chèn lấp vào làm rõ, xác định sự tình, để hoàn chỉnh chức năng thông báo Còn tham tố chính là các vai nghĩa tham gia vào cái “màn kịch nhỏ” đó do vị từ làm trung tâm Các tham tố cùng với vị từ tạo thành nội dung ngữ nghĩa cho câu – thực hiện chức năng thể hiện “thế giới kinh nghiệm” (experiental world), chức năng phản ánh sự tình Đứng từ góc độ này thì những vai nghĩa cơ bản được coi là có số lượng hữu hạn và tồn tại trong tất cả các ngôn ngữ vì chúng phản ánh mối quan hệ sâu – quan hệ ngữ nghĩa với vị từ

Trong các mệnh đề, vị từ thường đóng vai trò quyết định Chính ý nghĩa của

vị từ sẽ chi phối, quyết định đến số lượng tham tố (cần bao nhiêu và có thể có tối đa bao nhiêu) và đặc tính ngữ nghĩa của các tham tố (các kiểu vai nghĩa)

1.3.2 Phân loại tham tố

Việc phân loại tham tố có thể thực hiện dựa vào những tiêu chí khác nhau Nhìn chung trong các tài liệu ngôn ngữ học hiện nay, tham tố thường được phân loại như sau:

(i) Tham tố bắt buộc và tham tố tùy ý

(ii) Tham tố ngoại tại và tham tố nội tại

(iii) Tham tố trực tiếp và tham tố gián tiếp

(iv) Tham tố ngầm ẩn

(v) Tham tố bị lược bỏ

(vi) Tham tố sự kiện

Về sự đối lập giữa tham tố nội tại và tham tố ngoại tại, cơ sở của sự lưỡng phân này là mối quan hệ giữa các tham tố với cấu trúc của vị từ làm vị ngữ Đề / Chủ ngữ là tham tố nằm ngoài cấu trúc của vị từ làm vị ngữ, do đó nó được gọi là tham tố ngoại tại; trong khi đó các bổ ngữ (trực tiếp, gián tiếp) có quan hệ nội tại với vị từ (nằm trong cấu trúc ngữ vị từ) Lối phân chia này xuất phát từ lư thuyết về quan hệ chi phối/ ràng buộc được đề xướng bởi nhà ngữ pháp tạo sinh (E William

Trang 39

1980, N Chomsky 1981), theo đó, chủ ngữ bị chi phối trực tiếp bởi câu còn các bổ ngữ bị chi phối trực tiếp bởi vị từ Mặc dù có quan hệ nghĩa với vị từ nhýng về phýõng diện ngữ pháp, chủ ngữ ðýợc xem là ngữ ðoạn chức nãng ðộc lập, nằm

ngoài cấu trúc cú pháp của vị từ Ví dụ trong câu sau Mai đóng vai trň chủ ngữ của câu lŕ một tham tố ngoại tại do nó nằm ngoŕi cấu trúc của vị từ bơi làm vị ngữ, ngược lại giỏi là một tham tố nội tại

[14]

Mai bơi rất giỏi

Đối lập giữa tham tố trực tiếp và tham tố gián tiếp dựa trên tiêu chí [+/- giới từ] trước tham tố Tham tố kết hợp với giới từ gọi là tham tố gián tiếp trong khi đó tham tố không kết hợp với giới từ gọi là tham tố trực tiếp Trong ví dụ dưới đây,

quyển sách là tham tố trực tiếp, bàn là tham tố gián tiếp (đứng sau giới từ trên)

[15]

An đặt quyển sách trên bàn

Sự đối lập giữa tham tố trực tiếp và tham tố gián tiếp chú ý đến hình thức thể hiện của tham tố trên bình diện cú pháp Tham tố gián tiếp có quan hệ rất gần gũi với khái niệm bổ ngữ bắt buộc có giới từ đi kèm

Tham tố ngầm ẩn là một tham tố hình thành từ một tham tố ngoại tại trong cấu trúc chủ động bị giáng cấp thành ngữ đoạn tùy ý trong cấu trúc bị động Trong

một ngôn ngữ như tiếng Anh, ngữ đoạn chỉ tác thể đứng sau giới từ by trong cấu

trúc chủ động được gọi là tham tố kiểu này Sở dĩ gọi chúng là tham tố ngầm ẩn là bởi chúng tồn tại trong cấu trúc nghĩa của vị từ nhưng không cần thiết phải xuất hiện ở bình diện cấu trúc cú pháp Có thể nói, tham tố kiểu này tồn tại trong cấu trúc nghĩa nhưng xuất hiện tùy ý trong cấu trúc cú pháp

[16]

a The cat bited mouse

b The mouse was bited (by the cat)

Trong ví dụ thứ hai, the cat là tham tố ngầm ẩn, nó vốn là tham tố ngoại tại làm chủ ngữ (the cat) trong cấu trúc chủ động ở câu thứ nhất Việc đặt tham tố này

trong ngoặc đơn để chỉ tham tố này có tính tùy ý Tham tố ngầm ẩn rất gần (nhưng

Trang 40

có khác biệt quan trọng) với tham tố bị tỉnh lược – tham tố không được phép xuất hiện trong cấu trúc tham tố cũng như trong cấu trúc cú pháp

[17]

a The movie frightened John (Bộ phim đã làm John hoảng sợ)

b John frightens easily (John dễ bị hoảng sợ)

c * John frightens easily by the movie

Tham tố giữ vai chủ ngữ (the movie) trong câu (a) không được phép xuất

hiện trong câu (b) – một câu được coi là phái sinh từ chính câu (a) Câu (c) là câu sai bởi sự có mặt của tham tố này Kiểu câu chứa một tham tố tỉnh lược (câu b trong

ví dụ trên) được coi là câu trung tính (middle sentences)

Một số tác giả còn được đề cập đến một loại tham tố dùng để đánh dấu câu hành động – tham tố sự kiện Điều này có nghĩa là các kiểu câu khác, chẳng hạn câu trạng thái, sẽ không có loại tham tố này Có tác giả, chẳng hạn J Grimshaw (1990), cho rằng tham tố sự kiện là một kiểu tham tố ngoại tại

Trong các lối phân loại trên, tác giả luận văn dựa theo lối phân loại dựa trên tính chất, mức độ quan hệ giữa tham tố với vị từ (chia tham tố thành tham tố bắt buộc và tham tố tùy ý) Cách phân loại này góp phần đáng kể vào việc phân loại vị

từ trong tiếng Việt

Như đã nói ở trên cấu trúc bao gồm vị từ và các thành tố bổ sung của nó được gọi là cấu trúc ngữ vị từ Trong cấu trúc ngữ vị từ, vị từ được bổ sung được gọi là hạt nhân, còn các thành tố bổ sung sẽ được gọi là các tham tố Có hai loại tham tố: tham tố bắt buộc (diễn tố) và tham tố tùy ý (chu tố)

Để xác định hai loại tham tố này, chúng ta có thể dựa vào thủ pháp lược bỏ Trong số các tham tố có thể có bên cạnh vị từ, những tham tố mà việc lược bỏ chúng làm cho cấu trúc vị từ mất khả năng hoạt động với tư cách một câu trọn vẹn (độc lập) về ngữ pháp, sẽ được coi là tham tố bắt buộc Những tham tố không có đặc điểm này sẽ là tham tố tự do Các tham tố bắt buộc chính là các tham tố tạo thành ‘bối cảnh tối ưu” của vị từ, còn các tham tố tùy ý là các tham tố tạo thành

“bối cảnh dư” của vị từ

[18]

Ngày đăng: 02/01/2021, 13:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm