Để đạt được những mục đích trên, chúng tôi đặt ra cho mình những nhiệm vụ sau: - Thứ nhất, khảo sát, thống kê, phân loại những thành ngữ xuất hiện trong một số tiểu thuyết của nhà văn Hồ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH TRANG BÌA PHỤ
Phan Quan Thông
THÀNH NGỮ TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA HỒ BIỂU CHÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
VÀ VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI
Thành phố Hồ Chí Minh - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH TRANG BÌA PHỤ
Phan Quan Thông
THÀNH NGỮ TRONG TIỂU THUYẾT
CỦA HỒ BIỂU CHÁNH
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 60 22 02 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
VÀ VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI MẠNH HÙNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn này, trước hết tác giả xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Mạnh Hùng Xin cảm ơn thầy đã hướng dẫn tận tình để tôi có cơ hội tiếp cận, nghiên cứu sâu hơn về thành ngữ trong tiểu thuyết của nhà văn Hồ Biểu Chánh
Tác giả luận văn cũng xin chân thành cảm ơn Khoa Ngữ văn, Phòng Sau đại học Trường ĐHSP Tp Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu, thực hiện và bảo vệ thành công luận văn Xin cảm ơn các thầy cô trong Hội đồng bảo vệ luận văn ngành Ngôn ngữ học ngày 07/11/2015 tại Trường ĐHSP
Tp Hồ Chí Minh đã chân thành nhận xét và đóng góp ý kiến để tác giả hoàn thiện luận văn
Cuối cùng, xin chân thành biết ơn sự động viên, giúp đỡ của gia đình, bạn
bè cùng tập thể học viên lớp Cao học Ngôn ngữ học K24, Trường ĐHSP Tp Hồ Chí Minh để tác giả hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Phan Quan Thông
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phan Quan Thông
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
C hương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 9
1.1 Khái quát về thành ngữ tiếng Việt 9
1.1.1 Khái niệm thành ngữ tiếng Việt 9
1.1.2 Những con đường hình thành thành ngữ tiếng Việt 11
1.1.3 Phân biệt thành ngữ với với cụm từ tự do, tục ngữ 17
1.1.4 Phân loại thành ngữ tiếng Việt 22
1.2 Thành ngữ tiếng Việt trong văn bản nghệ thuật 25
1.2.1 Diện mạo thành ngữ tiếng Việt trong các văn bản nghệ thuật 25
1.2.2 Các phương thức sử dụng thành ngữ thường gặp 26
1.2.3 Giá trị của thành ngữ trong các văn bản nghệ thuật 28
1.3 Hồ Biểu Chánh và sự cách tân về ngôn ngữ tiểu thuyết 30
1.3.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Hồ Biểu Chánh 30
1.3.2 Sự cách tân ngôn ngữ tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh 32
Chương 2 KHẢO SÁT, THỐNG KÊ VÀ PHÂN LOẠI CÁC ĐƠN VỊ THÀNH NGỮ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA HỒ BIỂU CHÁNH 38
2.1 Khảo sát, thống kê và phân loại thành ngữ dựa vào nguồn gốc 38
2.1.1 Thành ngữ thuần Việt 38
2.1.2 Thành ngữ Hán Việt 40
2.2 Khảo sát, thống kê và phân loại thành ngữ dựa vào cấu trúc 42
2.2.1 Thành ngữ đối xứng 43
Trang 62.2.2 Thành ngữ phi đối xứng 48
2.3 Khảo sát, thống kê và phân loại thành ngữ dựa vào đặc điểm sử dụng của tác giả 52
2.3.1 Thành ngữ nguyên mẫu 53
2.3.2 Thành ngữ cải biến 54
2.3.3 Tổ hợp mang tính thành ngữ 55
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG THÀNH NGỮ CỦA HỒ BIỂU CHÁNH TRONG SÁNG TÁC T IỂU THUYẾT 59
3.1 Các phương thức vận dụng và cải biến thành ngữ của Hồ Biểu Chánh trong sáng tác tiểu thuyết 59
3.1.1 Vận dụng tối đa thành ngữ nguyên mẫu 59
3.1.2 Cải biến thành ngữ nguyên mẫu 62
3.2 Tác dụng của thành ngữ trong lối văn chương cổ súy đạo lý truyền thống của Hồ Biểu Chánh 73
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC NHỮNG BÀI BÁO KHOA HỌC CỦA HỌC VIÊN CÓ LIÊN QU AN ĐẾN LUẬN VĂN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Phân biệt thành ngữ và cụm từ tự do 17 Bảng 1.2 Phân biệt thành ngữ và tục ngữ 22 Bảng 2.1 Phân loại thành ngữ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh theo
nguồn gốc và đặc điểm sử dụng 57 Bảng 2.2 Phân loại thành ngữ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh theo
đặc điểm cấu trúc 57 Bảng 3.1 Một số kiểu biến thể âm chính xuất hiện trong thành ngữ 63
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Phân loại thành ngữ kiểu 1 24
Sơ đồ 1.2 Phân loại thành ngữ kiểu 2 24
Trang 9và dễ gây xúc động cho người đọc
Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ mang tính chất dân tộc sâu sắc Cùng với tục ngữ và ca dao, thành ngữ đã góp phần tạo nên kho tàng ngôn ngữ giàu và đẹp của dân tộc Việt Nam Thành ngữ thường xuyên có mặt trong lời ăn tiếng nói của mỗi người dân trong cuộc sống Bất kì nơi đâu, trong thời gian nào, thành ngữ cũng có thể xuất hiện, cả trong khi viết và giao tiếp bằng lời nói… Nói cách khác, thành ngữ được sáng tạo ra trong quá trình sinh hoạt xã hội của quần chúng Vì thế, loại đơn vị ngôn ngữ này, như đã nói ở trên, thường xuất hiện trong môi trường dân dã Tất cả những đặc điểm này làm cho thành ngữ trở thành một đối tượng hấp dẫn đối với giới nghiên cứu không chỉ ở ngành ngôn ngữ học mà còn ở nhiều ngành khác như dân tộc học, văn hóa học… Do đó, nghiên cứu thành ngữ là điều rất cần thiết trong việc miêu tả một ngôn ngữ cũng như đối chiếu các ngôn ngữ với nhau
Trang 10Hồ Biểu Chánh, trong các tác phẩm của mình, đã vận dụng khá thành công thành ngữ trong việc khắc họa hình ảnh nhân vật, miêu tả hiện thực cuộc sống những năm đầu thế kỷ XX Nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh cùng những tiểu thuyết của ông từ trước tới nay đã có nhiều công trình khác nhau nhưng những công trình này mới chỉ dừng lại ở việc nêu ra được đặc điểm này hay đặc điểm khác trong việc sử dụng từ ngữ của ông Trong khi đó, cách sử dụng thành ngữ của tác giả lại chưa được chú ý đúng mức Đó chính là lí do chúng tôi chọn đề tài “Thành ngữ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh”
Thực hiện đề tài này, chúng tôi đặt ra những mục đích sau:
- Thứ nhất, xác lập khái quát diện mạo các đơn vị thành ngữ xuất hiện trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh về số lượng, kiểu loại, cấu trúc Với mục đích này, kết quả khảo sát của đề tài sẽ cung cấp nguồn ngữ liệu đáng tin cậy cho việc tìm hiểu và nghiên cứu ngôn ngữ tiểu thuyết của tác giả Hồ Biểu Chánh, cũng như việc sưu tầm và biên soạn từ điển thành ngữ
- Thứ hai, tìm hiểu và đánh giá đặc điểm sử dụng thành ngữ của Hồ Biểu Chánh trong sáng tác tiểu thuyết
- Thứ ba, góp phần làm rõ phong cách ngôn ngữ cũng như đóng góp của tác giả đối với ngôn ngữ dân tộc nói chung, với thành ngữ tiếng Việt nói riêng
Để đạt được những mục đích trên, chúng tôi đặt ra cho mình những nhiệm
vụ sau:
- Thứ nhất, khảo sát, thống kê, phân loại những thành ngữ xuất hiện trong một số tiểu thuyết của nhà văn Hồ Biểu Chánh trong mối quan hệ với những đặc điểm của thành ngữ tiếng Việt
- Thứ hai, tìm hiểu cách vận dụng thành ngữ của Hồ Biểu Chánh trong sáng tác tiểu thuyết; xác lập và làm rõ các phương thức cải biến thành ngữ của tác giả
Trang 11- Thứ ba, đánh giá những đóng góp của nhà văn đối với việc cách tân ngôn ngữ tiểu thuyết những năm đầu thế kỉ XX thông qua sự vận dụng và cải biến thành ngữ tiếng Việt
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống các đơn vị thành ngữ xuất hiện trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
Phạm vi nghiên cứu của đề tài xoay quanh những đặc điểm, cách sử dụng
và giá trị của hệ thống các thành ngữ xuất hiện trong một số tiểu thuyết của nhà văn Hồ Biểu Chánh
Tư liệu nghiên cứu của chúng tôi là 32 trong tổng số 64 quyển tiểu thuyết của nhà văn Hồ Biểu Chánh Cụ thể, đây là các tác phẩm tiêu biểu của tác giả trải dài trong suốt quá trình sáng tác từ 1912 đến 1957 Sở dĩ, như vậy là vì chúng tôi muốn nguồn ngữ liệu thu thập được mang tính bao quát, không tập trung bất kì giai đoạn sáng tác nào Và do đó, sự đánh giá cũng sẽ trở nên khách quan hơn
Sau đây là danh sách cụ thể 32 tiểu thuyết được khảo sát trong luận văn:
1 Ai làm được (viết tại Cà Mau, 1912 ; nhuận sắc tại Sài Gòn, 1922), in trong
Văn xuôi Nam Bộ nửa đầu thế kỷ 20, tập 1, trang 63 – 171, Nxb Văn nghệ TP
Hồ Chí Minh và Trung tâm nghiên cứu Quốc học, 1999
2 Chúa tàu Kim Quy (Sài Gòn, 1922), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2006
3 Cay đắng mùi đời (Sài Gòn, 1923), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2006
4 Tiền bạc, bạc tiền (Sài Gòn, 1925), in trong Văn xuôi Nam Bộ nửa đầu thế kỷ
20, tập 1, trang 172 - 245, Nxb Văn nghệ TP Hồ Chí Minh và Trung tâm nghiên cứu Quốc học, 1999
5 Thầy thông ngôn (Sài Gòn, 1926), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2006
6 Ngọn cỏ gió đùa (Sài Gòn, 1926 ; Càng Long, 1928), Nxb Văn hóa Sài Gòn,
2006
Trang 127 Chút phận linh đinh (Càng Long, 1928), in trong Văn xuôi lãng mạn Việt
Nam 1887 - 2000, tập I (1887-1932), quyển 1, trang 695 - 821, Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2005
8 Kẻ làm người chịu (Càng Long, 1928), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2006
9 Vì nghĩa vì tình (Càng Long, 1929), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2005
10 Cha con nghĩa nặng (Càng Long, 1929), Nxb Tổng hợp Tiền Giang, 1988
11 Khóc thầm (Càng Long, 1929), in trong Văn xuôi lãng mạn Việt Nam
1887-2000, tập I (1887 - 1932), quyển 1, trang 821 - 922, Nxb Văn hóa Sài Gòn,
2005
12 Con nhà giàu (Càng Long, 1930), Nxb Phụ Nữ, 2005
13 Con nhà nghèo (Càng Long, 1931), Nxb Văn Nghệ, 1999
14 Ăn theo thuở, ở theo thời (Sài Gòn, 1935), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2006
15 Ông Cử (Sài Gòn, 1935), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2006
16 Một đời tài sắc (Sài Gòn, 1935), Nxb Tổng hợp Tiền Giang, 1988
17 Cười gượng (Sài Gòn, 1935), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2006
18 Nợ đời (Vĩnh Hội, 1936), Nxb Tổng hợp Tiền Giang, 1988
19 Tân phong nữ sĩ (Vĩnh Hội, 1937), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2006
20 Lời thề trước miễu (Vĩnh Hội, 1938), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2006
21 Tại tôi (Vĩnh Hội, 1938), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2006
22 Bỏ chồng (Vĩnh Hội, 1938), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2006
23 Ðoạn tình (Vĩnh Hội, 1939), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2005
24 Ái tình miếu (Vĩnh Hội, 1941), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2006
25 Cư kỉnh (Vĩnh Hội, 1941), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2005
26 Mẹ ghẻ, con ghẻ (Vĩnh Hội, 1943), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2006
27 Đỗ Nương Nương báo oán (Sài Gòn 1954), Nxb Sông Kiên, 1961
28 Tơ hồng vương vấn (2 tập, Sài Gòn, 1955), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2005
29 Những điều nghe thấy (4 tập, Sài Gòn, 1955 – 1956), Nxb Văn hóa Sài
Gòn, 2005
Trang 1330 Sống thác với tình (Phú Nhuận, 1957), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2005
31 Nợ tình (Phú Nhuận, 1957), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2006
32 Chị Ðào, chị Lý (Phú Nhuận, 1957), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2005
5.1 Lịch sử nghiên cứu thành ngữ trong tác phẩm văn học
Thành ngữ là một trong những đơn vị ngôn ngữ bắt nguồn từ lời ăn tiếng nói của nhân dân lao động Việc sử dụng thành ngữ trong sáng tác văn chương
sẽ làm cho tác phẩm trở nên gần gũi, bình dân và giản dị hơn, góp phần đưa tác phẩm đến gần với công chúng hơn Do đó, một trong những khía cạnh nghiên cứu thành ngữ được quan tâm đó chính là nghệ thuật sử dụng thành ngữ của các nhà văn, nhà thơ - những tác giả lớn Một loạt những luận văn thạc sĩ, những khóa luận tốt nghiệp cũng như nhiều báo cáo khoa học, nhiều bài viết đăng trên các tạp chí về vấn đề sử dụng thành ngữ của những tên tuổi lớn như Nguyễn Du,
Hồ Chí Minh, Nam Cao, Nguyễn Bính, Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng, Ma Văn
Kháng… xuất hiện trong thời gian gần đây
Các công trình mà chúng tôi tìm được theo hướng nghiên cứu này thường thuộc vào một trong hai cách tiếp cận sau:
Thứ nhất, nghiên cứu thành ngữ trong tác phẩm của các tác giả với tư cách là một đề tài độc lập Theo hướng nghiên cứu này, có các công trình tiêu
biểu sau: Khảo sát thành ngữ trong tác phẩm Hồ Chí Minh toàn tập - Kiều Thanh Hương (1997), Thành ngữ trong ngôn ngữ độc thoại của nhân vật truyện
Ki ều - Đinh Thị Khang (2005), Nghệ thuật sử dụng thành ngữ trong thơ Nguyễn Bính - Hoàng Thị Huế (2010)
Thứ hai, nghiên cứu thành ngữ trong các tác phẩm văn học với tư cách là một trong hai đối tượng nghiên cứu chính của đề tài Đối tượng còn lại thường là
tục ngữ Theo hướng nghiên cứu này, có các công trình tiêu biểu sau: Tìm hiểu cách vận dụng thành ngữ, tục ngữ trong tác phẩm của Sơn Nam - Dương Thị Thuý Hằng - Nguyễn Văn Nở (2010), Thành ngữ, tục ngữ trong truyện ngắn
Trang 14Nguyễn Quang Sáng - Lâm Thị Thiên Lan (2011), Thành ngữ, tục ngữ trong sáng tác của nhà văn Nam Cao - Lương Mai Hiếu (2012), Thành ngữ, tục ngữ
trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng - Lê Thị Phương Thanh (2013)
Tuy nhiên, dù đi theo cách tiếp cận nào, các đề tài cũng thường dựa trên
cơ sở khảo sát, thống kê, từ đó tìm hiểu nghệ thuật sử dụng thành ngữ của các tác giả, góp phần làm rõ phong cách nghệ thuật của họ
5.2 Lịch sử nghiên cứu thành ngữ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
Ngôn ngữ tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh là một đề tài khá hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu Nhiều nhà ngôn ngữ học cũng như những người quan tâm đã dành nhiều thời gian cho việc khám phá những đặc điểm ngôn ngữ tiểu
thuyết của Hồ Biểu Chánh như phong cách viết như nói của Hồ Biểu Chánh
(Một vài suy nghĩ về ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, Cù Đình Tú), nét đặc sắc tạo nên phong cách của Hồ Biểu Chánh nhìn từ góc độ phương ngữ Nam Bộ (Vài nét về phong cách ngôn ngữ tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, Huỳnh Thị Lan Phương, Nguyễn Văn Nở), ngôn ngữ của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh dưới góc nhìn của ngôn ngữ học và văn hóa học (Ngôn ngữ của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Vy Khanh), đặc điểm khẩu ngữ Nam Bộ trong tiểu thuyết của
Hổ Biểu Chánh trên hai bình diện từ vựng và cú pháp (Đặc điểm khẩu ngữ Nam
Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, Châu Minh Hiền)…
Tuy nhiên, về vấn đề cách sử dụng thành ngữ của tác giả vẫn chưa được chú ý đúng mực Nếu có được nhắc đến thì thành ngữ chỉ đóng vai trò là đối tượng thứ yếu trong các công trình nghiên cứu này mà thôi Từ thực tế đó, chúng
ta có thể thấy chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu nào về đối tượng thú vị này trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
Trang 156 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: nhằm hệ thống hóa và phân loại theo từng đặc điểm cụ thể của những thành ngữ xuất hiện trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
- Phương pháp miêu tả, phân tích: nhằm làm rõ đặc điểm cấu trúc hệ thống các thành ngữ, phân tích cách vận dụng và đánh giá phong cách của Hồ Biểu Chánh trong việc sử dụng thành ngữ, cũng như sự đóng góp của nhà văn cho kho tàng ngôn ngữ dân tộc
7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
7.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn góp phần làm rõ thêm thành ngữ tiếng Việt, đặc biệt là thành ngữ trong hoạt động giao tiếp; góp phần nghiên cứu về văn hóa ngôn ngữ qua một kiểu đơn vị từ vựng đặc thù là thành ngữ; góp phần nghiên cứu phong cách ngôn ngữ của một nhà văn mang đậm văn hóa Nam Bộ; góp phần thúc đẩy việc vận dụng ngôn ngữ học vào nghiên cứu văn học
7.1 Ý nghĩa thực tiễn
Trước nhất, thông qua việc khảo sát, hệ thống và phân tích những thành ngữ xuất hiện trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống cách vận dụng và cải biến của Hồ Biểu Chánh trong việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc, đặc biệt là thành ngữ tiếng Việt Bên cạnh đó, bằng việc nghiên cứu, phân tích những đặc điểm thành ngữ về cấu trúc, ngữ nghĩa, phân loại về loại hình, về phản ánh cách tư duy, về văn hóa ngôn từ trong giao tiếp, luận văn có thể cung cấp thêm nhiều ngữ liệu cho việc biên soạn những cuốn từ điển thành ngữ sau này, cũng như cung cấp tư liệu nghiên cứu, học tập và giảng dạy về thành ngữ và ngôn ngữ tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
Trang 168 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm ba phần, ngoài Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung chia thành 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề chung
Trong chương này, chúng tôi sẽ khái quát về những vấn đề chung có liên quan trực tiếp đến đề tài Đó là các vấn đề: thành ngữ tiếng Việt; việc sử dụng thành ngữ tiếng Việt trong tác phẩm văn học; Hồ Biểu Chánh và sự cách tân về ngôn ngữ tiểu thuyết
Chương 2 Khảo sát, thống kê và phân loại các đơn vị thành ngữ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày kết quả khảo sát, thống kê và phân loại những thành ngữ thu thập được trên cứ liệu 32 tiểu thuyết của tác giả
Hồ Biểu Chánh Việc khảo sát, thống kê và phân loại sẽ dựa trên 3 tiêu chí nguồn gốc, cấu trúc của thành ngữ và đặc điểm sử dụng của tác giả
Chương 3 Đặc điểm sử dụng thành ngữ của Hồ Biểu Chánh trong sáng tác tiểu thuyết
Trên cơ sở kết quả khảo sát, thống kê và phân loại ở Chương 2, chúng tôi
sẽ sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ để làm rõ đặc điểm sử dụng thành ngữ của tác giả đồng thời làm sáng tỏ tác dụng của thành ngữ trong trong sự hình thành lối văn chương cổ súy đạo lý truyền thống của Hồ Biểu Chánh
Cuối cùng là Danh mục các bài báo khoa học có liên quan đến luận văn
của học viên, Thư mục tài liệu tham khảo và Phụ lục (Danh sách thành ngữ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh phân loại theo nguồn gốc, cấu trúc và đặc
điểm sử dụng của tác giả)
Trang 171.1.1 Khái niệm thành ngữ tiếng Việt
Trong tiếng Việt, đã từ lâu người ta nhận thấy có những đơn vị ngôn ngữ
có tính tạo hình, được đặc trưng bởi những kết cấu đặc biệt, có tiết tấu, có vần điệu rõ ràng hoặc có cả lối lặp âm hài hoà Những đơn vị như thế thường được dùng với mục đích tu từ, phương tiện biểu cảm Gốc rễ của chúng thường ăn sâu vào quá khứ hằng bao thế kỷ Đó chính là thành ngữ
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thành ngữ Tuy không định nghĩa một
cách cụ thể nhưng hai tác giả của cuốn từ điển “Thành ngữ tiếng Việt” (1978), Nguyễn Lực và Lương Văn Đang đã xác định “ranh giới” của thành ngữ cũng như trình bày quan điểm của mình đối với thành ngữ như sau: “Giới hạn sẽ gặp
ở bậc thấp nhất của thành ngữ là từ ghép Giới hạn sẽ gặp ở bậc cao nhất của thành ngữ là câu Thành ngữ tiếng Việt là đơn vị giáp ranh, nằm ở giữa hai đơn
vị này” [43, tr.13]
“Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên (2005) định nghĩa: “Thành ngữ là tập hợp từ cố định, đã quen dùng mà nghĩa thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó” [50, tr.915]
Thống nhất với quan điểm này, “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” do Nguyễn Như Ý chủ biên định nghĩa “Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu” [67, tr.27]
Trong công trình “Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại” (1976), giáo sư
Nguyễn Văn Tu cũng định nghĩa: “Thành ngữ – đó là cụm từ cố định, trong đó các từ phần lớn đã mất đi tính độc lập ngữ nghĩa của chúng, và sau khi kết hợp với nhau, chúng tạo thành một thể thống nhất bền chặt Nghĩa của kết hợp đó
Trang 18không được tạo nên bởi nghĩa của những thành tố (hình vị) nằm trong thành phần của nó” [62, tr.185]
Ở công trình “Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại” (1976) Hồ Lê cũng cho rằng “Thành ngữ là một tổ hợp từ cố định về cấu trúc, có nghĩa bóng, được sử dụng để miêu tả những hình ảnh, những hiện tượng, tính cách hoặc quan hệ” [42, tr.97]
Còn Hoàng Văn Hành trong “Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ” (1988) và
“Thành ng ữ học tiếng Việt” (2004) lại nhấn mạnh đến tính “bóng bẩy” về nghĩa của thành ngữ Ông cho rằng “thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững
về hình thái – cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp thường ngày” [25, tr.27]
Đồng quan điểm này, Nguyễn Thiện Giáp (1998) trong “Từ vựng học tiếng Việt” có ý kiến tương tự: “thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm” [20, tr.77]
Nguyễn Văn Hằng (1999) trong “Thành ngữ bốn yếu tố trong tiếng Việt hiện đại” đã xác định: “Thành ngữ là một loại cụm từ đặc biệt có cấu trúc rất bền chặt (cố định), có vần điệu và thành phần ngữ âm đặc biệt; nghĩa của thành ngữ không thể suy ra từ tổng số nghĩa của các yếu tố cấu thành nó: thành ngữ
có nghĩa bóng, nghĩa hình ảnh - khái quát, thường có kèm theo giá trị biểu cảm; thành ngữ thường dùng để định danh những hiện tượng của hiện thực và thường hoạt động trong câu với tư cách là một bộ phận cấu thành của nó” [28, tr.71]
Qua những định nghĩa trên, có thể thấy, dù được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng chung quy lại thành ngữ được quan niệm một cách thống nhất
ở hai vấn đề: Thứ nhất là thành ngữ có tính chất cố định về cấu trúc; thứ hai là thành ngữ có tính hoàn chỉnh về nghĩa và mang sắc thái biểu cảm cao
Đặc trưng thứ nhất thể hiện ở chỗ thành phần từ vựng của thành ngữ nói chung là ổn định, tức là các yếu tố tạo nên thành ngữ hầu như được giữ nguyên trong khi sử dụng Ngoài ra thành ngữ cũng có tính bền vững về cấu trúc thể
Trang 19hiện ở sự cố định về thành phần từ vựng và cấu trúc của thành ngữ hình thành là
do thói quen sử dụng của người bản ngữ Dạng ổn định của thành ngữ là dạng chuẩn, mang tính xã hội cao Tuy vậy, dạng chuẩn này của thành ngữ trong khi
sử dụng vẫn uyển chuyển Nói là chuẩn vì có sự bắt buộc, có tính quyết định của
xã hội, nhưng không vì thế mà hạn chế sự sáng tạo ở cá nhân, đặc biệt là của những cây bút tài năng Đó chính là điều giải thích cái riêng trong phong cách ngôn ngữ của tác giả
Đặc trưng thứ hai thể hiện ở chỗ thành ngữ biểu thị những khái niệm hay biểu tượng trọn vẹn về các thuộc tính, quá trình hay sự vật Nói cách khác, thành ngữ là những đơn vị định danh của ngôn ngữ Tuy nhiên, khác với các đơn vị từ vựng bình thường, thành ngữ là loại đơn vị định danh bậc hai, nghĩa là nội dung của thành ngữ không hướng đến điều được nêu trong nghĩa đen của các từ ngữ tạo nên thành ngữ, mà ngụ ý điều gì đó loại suy ra từ chúng Ví dụ, thành ngữ
“Cá nằm trên thớt” không phải miêu tả con cá nằm trên thớt mà ngụ ý nói đến
hiện tượng là ở trạng thái nguy hiểm đối với sự sống còn Đó là nghĩa bóng hay nghĩa biểu trưng được hình thành nhờ quá trình biểu trưng hoá
Có hai loại biểu trưng hóa Biểu trưng hóa dựa vào quan hệ tương thích giữa âm và nghĩa là giá trị biểu trưng hóa ngữ âm Biểu trưng hóa dựa vào quan
hệ tương đồng và tương cận trong quá trình liên hội ngữ nghĩa gọi là giá trị biểu trưng hóa ngữ nghĩa Hình thái liên hội ngữ nghĩa theo quan hệ tương đồng là so sánh Và nghĩa của thành ngữ tiếng Việt thường là kết quả hai hình thái biểu trưng hóa: hình thái tỉ dụ (so sánh), hình thái ẩn dụ (so sánh ngầm)
1.1.2 Những con đường hình thành thành ngữ tiếng Việt
Giống như các từ trong ngôn ngữ, thành ngữ là những đơn vị có sẵn, xuất hiện dần từ nhiều nguồn, vào nhiều thời điểm khác nhau và được sử dụng rộng rãi, tự nhiên trong xã hội Các kết quả nghiên cứu đã xác nhận rằng các yếu tố tạo nên thành ngữ vốn là những từ độc lập, tức những đơn vị định danh có nghĩa
Trang 20từ vựng và có chức năng cú pháp ổn định Đó là các thành ngữ kiểu như: đầu cua tai nheo, được voi đòi tiên, tay làm hàm nhai…
Tuy vậy, trong hệ thống thành ngữ mỗi ngôn ngữ, cũng có những thành
ngữ nếu xét trên quan điểm đồng đại, không dễ dàng nhận biết được nghĩa của các yếu tố; do đó, việc suy xét nghĩa của thành ngữ cũng như việc tìm kiếm nguồn gốc của nó cũng trở nên khó khăn Trong tiếng Việt, loại thành ngữ này
rất nhiều: đồng không mông quạnh, chân đăm đá chân chiêu, khoẻ như vâm, tai vách mạch dừng… hoặc thành ngữ gốc Hán như: xập xí xập ngầu, lang bạt kì
hồ, du thủ du thực, dĩ thực vi tiên, kính nhi viễn chi, thiên tải nhất thì, bạo hổ bằng hà, kiến giả nhất phận…
Ngoài ra, việc tồn tại các biến thể của thành ngữ biểu đạt cùng một ý nghĩa hay biểu đạt các ý nghĩa, các sắc thái khác nhau, cũng gây khó khăn đáng
kể cho việc luận giải nghĩa thành ngữ và truy tìm xuất xứ của nó Nhưng nhờ vào khảo sát những trường hợp phổ biến, có quy luật về ngữ nghĩa, cấu tạo của thành ngữ của các ngôn ngữ khác nhau, người ta cũng phát hiện ra được những nguồn chủ yếu, phổ biến, tạo nên hệ thống thành ngữ một ngôn ngữ
Thành ngữ tiếng Việt được hình thành từ những con đường sau:
1.1.2.1 Sử dụng thành ngữ tiếng Hán dưới các hình thức khác nhau
Trong tiếng Việt, thành ngữ được vay mượn từ tiếng nước ngoài chủ yếu
là các thành ngữ gốc Hán Những thành ngữ này khi đi vào tiếng Việt, có thể
được giữ nguyên hình thái – ngữ nghĩa hoặc Việt hoá cả về từ vựng, ngữ nghĩa lẫn cấu trúc
a Giữ nguyên hình thái – ngữ nghĩa thành ngữ gốc
Những thành ngữ vay mượn được sử dụng dưới hình thức nguyên dạng chiếm tỉ lệ khá lớn trong toàn bộ thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt Đó là
những thành ngữ: chí công vô tư, đồng tâm hợp lực, đồng cam cộng khổ, xuất đầu lộ diện, an cư lạc nghiệp, thiên biến vạn hóa, giả nhân giả nghĩa, xuất khẩu thành chương, tâm thần bất định, thiên kinh địa nghĩa, thiên la địa võng, sinh li
Trang 21tử biệt, hữu danh vô thực, tầm chương trích cú, danh chính ngôn thuận, tự lực cánh sinh, tự cấp tự túc, tự tư tự lợi, bất tỉnh nhân sự…
Hầu hết thành ngữ gốc Hán đều được mượn từ tiếng Hán Bạch thoại Song, do quá trình tiếp xúc trực tiếp giữa người Việt với dân cư Trung Quốc là người Quảng Đông, Quảng Tây, trong tiếng Việt xuất hiện một ít thành ngữ
mượn nguyên dạng nhưng được đọc theo âm Quảng Đông Ví dụ: xập xí xập ngầu (âm Hán Việt là thập tứ thập ngũ)
Thành ngữ gốc Hán mượn nguyên dạng chủ yếu dùng trong văn viết và mang tính chất sách vở rõ rệt Chúng ta có thể tìm thấy các thành ngữ này trong các tác phẩm văn học cổ, trong văn phong chính luận trước và nay
b Việt hoá thành ngữ gốc Hán
Ở trường hợp này, những thành ngữ gốc Hán thường được Việt hoá cả về
từ vựng, ngữ nghĩa lẫn cấu trúc bằng những cách thức sau:
- Dịch một bộ phận thành ngữ gốc Hán ra tiếng Việt bên cạnh việc giữ nguyên bộ phận còn lại và cấu trúc thành ngữ gốc
cửu tử nhất sinh →thập tử nhất sinh
bài binh bố trận → bày binh bố trận…
Nhờ tính tổng thể về nghĩa mà khi chúng ta thay đổi một vài yếu tố gốc Hán bằng yếu tố thuần Việt, các thành ngữ được Việt hoá vẫn giữ nguyên ý nghĩa so với thành ngữ gốc
Trang 22- Dịch toàn bộ các yếu tố của thành ngữ gốc Hán ra tiếng Việt tương đương và giữ nguyên cấu trúc
Ví dụ:
y giá phạn nang →giá áo túi cơm
xuy mao cầu tuỳ → b ới lông tìm vết
hồng diệp xích thằng → l á thắm chỉ hồng
phá kính trùng viên → g ương vỡ lại lành
bình thuỷ tương phùng → bèo n ước gặp nhau
dĩ huyết tẩy huyết →nợ máu phải trả bằng máu
diệp lạc quy căn →lá rụng về cội
lâm khát quật tỉnh →nước đến chân mới nhảy…
- Thay đổi trật tự các yếu tố của thành ngữ gốc
Ví dụ:
Hà Đông sư tử → sư tử Hà Đông
cùng cốc thâm sơn → thâm sơn cùng cốc
sơn minh thệ hải → thệ hải minh sơn
nhục cốt tử sinh → cốt nhục tử sinh…
- Để góp phần làm phong phú thêm thành ngữ tiếng Việt, bên cạnh những biện pháp đã được nêu ở trên, còn một biện pháp nữa cũng được sử dụng, đó là: dùng từ gốc Hán như những yếu tố tạo từ để tạo ra những thành ngữ mới chỉ thông dụng trong tiếng Việt, thậm chí chỉ người Việt mới hiểu (mặc dù những yếu tố tạo thành đều là gốc Hán)
Trang 23Ví dụ:
nóng như Trương Phi
đa nghi như Tào Tháo
cửa Khổng sân Trình
phú quý sinh lễ nghĩa
âm cực dương hồi
quần ngư tranh thực…
1.1.2.2 Tạo lập thành ngữ Việt bằng chất liệu dân tộc
Bộ phận chủ yếu của hệ thống thành ngữ tiếng Việt là những đơn vị được
cấu tạo từ chất liệu Việt ngữ bằng ba con đường sau: định danh hoá các tổ hợp
từ tự do, tạo thành ngữ mới theo mẫu của thành ngữ đã có trước và liên kết các thành ngữ có nguồn gốc khác nhau tạo thành một thành ngữ mới
Trong số các phương thức trên, phương thức biến tổ hợp từ tự do thành thành ngữ và phương thức mô phỏng theo mẫu có sẵn giữ vai trò quan trọng hàng đầu
a Phương thức định danh hoá tổ hợp tự do
Tạo thành ngữ mới bằng phương thức định danh hoá là con đường biến các tổ hợp từ tự do thành một cụm từ cố định, có tính ổn định về thành phần,
chặt chẽ về cấu trúc, hoàn chỉnh về ngữ nghĩa Những thành ngữ như: hai bàn tay trắng, áo gấm đi đêm, cháy nhà ra mặt chuột, thừa gió bẻ măng, gửi trứng cho ác, vạch áo cho người xem lưng… là những thành ngữ xuất hiện theo con
đường này Từ tổ hợp từ tự do đến thành ngữ là quá trình chuyển từ quan hệ cú pháp thành quan hệ hình thái Kết quả của quá trình này là sự cố định hoá thành phần và cấu trúc của tổ hợp tự do, hiện tượng nhược hoá ngữ nghĩa của các thành tố từ nghĩa đen sang nghĩa bóng và hiện tượng nảy sinh nghĩa từ vựng mới
có tính biểu trưng
Tuy nhiên, quá trình này chỉ diễn ra dần dần trong đời sống ngôn ngữ với những điều kiện sau:
Trang 24- Thứ nhất, tổ hợp từ tự do phải được sử dụng thường xuyên, lặp đi lặp lại trong thời gian dài với nghĩa bóng, nghĩa biểu trưng hoá của nó
- Thứ hai, tổ hợp từ tự do phải được sử dụng thường xuyên để biểu đạt một khái niệm đơn nhất, chỉnh thể, có tính chất định danh và thuộc vào những khái niệm quan trọng, nổi bật của thời kì thành ngữ hình thành
Trên quan điểm giao tiếp ngôn ngữ, nguyên nhân của việc chuyển từ tổ hợp tự do thành thành ngữ chính là do nhu cầu phản ánh một cách hình ảnh, cô đọng các khái niệm vốn đã có cái biểu đạt trước đó trong ngôn ngữ Những
thành ngữ như: cầm đèn chạy trước ô tô, nhà ngói cây mít, nhà lầu xe hơi… đều
xuất hiện bằng con đường nói trên Điều này cũng giải thích tại sao truyện cổ
tích, ca dao, dân ca thường là nơi xuất xứ của các thành ngữ như: nợ như chúa Chổm, vắt cổ chày ra nước, sư tử Hà Đông…
b Phương thức mô phỏng theo mẫu cấu trúc thành ngữ có sẵn
Mô phỏng theo mẫu cấu trúc của các thành ngữ có trước là phương thức phổ biến hơn cả trong các phương thức tạo lập thành ngữ Việt Ưu thế của phương thức này là cho phép tạo ra một cách dễ dàng, nhanh chóng và hàng loạt các đơn vị ngôn ngữ có tính thành ngữ cao trong một thời gian ngắn Nói cách khác, phương thức này cho phép tạo ra các đơn vị thành ngữ tính không cần qua thời gian sử dụng lâu dài như phương thức thành ngữ hoá tổ hợp từ tự do nói
trên Ví dụ, dựa vào cấu trúc của thành ngữ nhất vợ nhì trời nhiều tổ hợp thành ngữ tính đã xuất hiện như: nhất thân nhì quen, nhất cận thân nhì cận lân, nhất
cự ly nhì cường độ…
Chính vì vậy, dựa vào nguyên tắc cấu tạo này, chúng ta có thể tìm ra các
mô hình cấu trúc ngữ pháp của hệ thống thành ngữ tiếng Việt một cách khá dễ dàng Cũng từ đó mà việc thống kê, phân loại và nghiên cứu đặc điểm của từng loại thành ngữ cũng trở nên hợp lý và khoa học hơn
Trang 251.1 3 Phân biệt thành ngữ với với cụm từ tự do, tục ngữ
1.1 3.1 Phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do
Cả thành ngữ và cụm từ tự do đều là những tổ hợp do từ cấu tạo nên và hoạt động với tư cách là những bộ phận cấu thành câu Sự khác nhau giữa chúng
có thể được cụ thể hoá qua Bảng 1.1:
Bảng 1.1 Phân biệt thành ngữ và cụm từ tự do
Cấu tạo ngữ pháp
- Là một kết hợp tạm thời, mỗi lần dùng đều được cấu tạo mới và chỉ tồn tại trong phạm vi một văn cảnh nhất định
- Những bộ phận cấu thành cụm từ tự do có thể được thay thế bằng những từ khác cùng loại, chỉ làm tăng giảm nghĩa của từ cụ thể còn nghĩa của cụm từ không bị phá
vỡ
- Là đơn vị ngôn ngữ
có sẵn, có cấu trúc bền vững luôn được tái hiện dưới dạng có sẵn với cùng một thành phần, yếu tố cố định
- Thành ngữ không thể
bỏ đi hay thay thế bất kì yếu tố nào mà không phá vỡ nghĩa của toàn thể thành ngữ
Nội dung ý nghĩa
- Nghĩa của cụm từ tự
do là nghĩa tổng hợp của các từ riêng lẻ
- Thường có ý nghĩa hình ảnh ẩn dụ, không thể suy trực tiếp từ nghĩa của các yếu tố cấu thành
như thành ngữ nhưng
- Dùng để gọi tên (định danh) hiện tượng
Trang 26không có giá trị tạo hình, biểu cảm
sự vật tính chất, trạng thái… nhưng mang giá trị tạo hình, biểu cảm
Nhạc điệu
- Sự kết hợp chỉ phục tùng những chuẩn mực
từ vựng, ngữ pháp và thường không có nhạc điệu
- Thường có tổ chức
âm điệu, tiết tấu của toàn cấu trúc và có tính nhạc
Như vậy, có thể nói không có ranh giới rõ ràng, tuyệt đối để phân biệt cụm từ tự do và thành ngữ Bởi lẽ nếu những cụm từ tự do trở nên cố định và nghĩa của nó trở nên “bóng bẩy” và mang tính biểu cảm cao thì nó sẽ trở thành thành ngữ
1.1 3.2 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ
Phân biệt thành ngữ và tục ngữ là một công việc vô cùng khó khăn đối với các nhà nghiên cứu Và trên thực tế, có thể nói sự lẫn lộn giữa hai đơn vị này là rất phổ biến, phổ biến đến mức người ta không còn coi nó như một sai phạm
nữa Sự phân biệt thành ngữ và tục ngữ lần đầu tiên được đặt ra trong “Việt Nam văn học sử yếu” (1943) của cố học giả Dương Quảng Hàm Ông cho rằng:
“Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì; còn thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè” [22, tr.15]
Tác giả Vũ Ngọc Phan trong “Tục ngữ và dân ca Việt Nam” (1956) lại
không tán thành với ý kiến trên và đã định nghĩa lại như sau trong bộ Tục ngữ –
ca dao – dân ca của ông: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán Còn thành ngữ chỉ là một phần câu sẵn có, một bộ phận của câu mà nhiều
Trang 27người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn” [49,
tr.27]
Cù Đình Tú ở bài viết “Góp ý kiến về phân biệt tục ngữ với thành ngữ”
(1976) đã dùng chức năng làm tiêu chí phân biệt tục ngữ, thành ngữ Ông cho
rằng “sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là sự khác nhau về chức năng” “thành ngữ là những đơn vị có sẵn, mang chức năng định danh”; còn
“Tục ngữ […] có chức năng khác hẳn”, đảm nhiệm phận sự “thông báo: […] thông báo một nhận định, một kết luận về một phương diện nào đó của thế giới khách quan Do vậy, mỗi tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng ” [63, tr.41]
Còn Nguyễn Văn Mệnh cho rằng để phân biệt thành ngữ và tục ngữ cần
dựa vào nội dung và hình thức ngữ pháp Theo ý kiến của tác giả, thành ngữ là
đơn vị có nội dung bên trong miêu tả hình ảnh của các hiện tượng cũng như của các hành động và quan hệ Về mặt hình thái, theo tác giả, đa số thành ngữ là cụm từ cố định Trong khi đó, tục ngữ là đơn vị có nội dung bên trong chứa đựng những vấn đề triết lý, tư tưởng đạo đức, kinh nghiệm sản xuất, đấu tranh
xã hội, hành vi của con người trong xã hội Nội dung tương tự như thế được biểu hiện rõ nhất trong những câu nêu lên những lời khuyên răn đạo đức dựa trên kinh nghiệm sống
Nguyễn Văn Mệnh nhấn mạnh: “Nội dung của thành ngữ là tính hình ảnh, còn nội dung của tục ngữ là quy tắc…” [45, tr.26] “Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu […] Tục ngữ thì khác hẳn Mỗi tục ngữ tối thiểu phải là một câu” [45, tr.26]
Các tác giả Nguyễn Lực, Lương Văn Đang trong “Thành ngữ tiếng Việt”
(1978) đã đưa ra tiêu chí nội dung để phân loại thành ngữ và tục ngữ Các tác
giả cho rằng “Nội dung của thành ngữ là những khái niệm, nội dung của tục ngữ là những phán đoán Quan hệ giữa thành ngữ và tục ngữ là quan hệ giữa các hình thức khái niệm và phán đoán Tục ngữ là một hiện tượng ý thức xã hội,
Trang 28phản ánh lối sống của thời đại, lối nghĩ của nhân dân, lối nói của dân tộc Thành ngữ thuộc hiện tượng ngôn ngữ, là công cụ giao tiếp chung của cộng đồng dân tộc Chính trong lối nghĩ, lối nói của nhân dân thường không thể nào tách rời hình thức biểu đạt của nó” [43, tr.21 - 22]
Nguyễn Thiện Giáp dựa vào sự đối lập giữa hình thái và nội dung để phân
biệt thành ngữ và tục ngữ Tác giả viết: “Tục ngữ là một cấu trúc cố định trong
đó nêu ra một cách đầy đủ kinh ngiệm sống, kinh nghiệm xã hội – lịch sử của nhân dân lao động” còn “Thành ngữ là đơn vị trung gian giữa một bên là ngữ, quán ngữ và một bên là tục ngữ” Tính chất trung gian ấy thể hiện ở chỗ thành ngữ đồng thời “thống nhất về nghĩa và chia cắt về từ vựng” và mặc dù thành ngữ cũng là một phán đoán, nhưng “trong thành ngữ phán đoán được biểu hiện dưới dạng khái niệm, trong khi đó phán đoán trong tục ngữ không gắn bó với khái niệm nào cả” [21, tr.52]
Hoàng Văn Hành trong “Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ” (1988) và
“Thành ngữ học tiếng Việt” (2004) đã nhận xét: thành ngữ tuy có nhiều nét
tương đồng với tục ngữ nhưng khác tục ngữ về bản chất Sự khác biệt này thể
hiện ở chỗ: “Thành ngữ là những tổ hợp từ “đặc biệt”, biểu thị những khái niệm một cách bóng bẩy, còn tục ngữ là những câu - ngôn bản đặc biệt, biểu thị những phán đoán một cách nghệ thuật” [25, tr.31]
Gần đây nhất là quan niệm dùng hình thức ngữ pháp đơn giản để phân lập
thành ngữ và tục ngữ của tác giả Triều Nguyên trong “Khảo luận về tục ngữ người Việt” (2006) Theo tác giả thì “hình thức ngữ pháp vẫn là cơ sở nổi trội
để phân biệt thành ngữ với tục ngữ” [48, tr.31] Trên cơ sở này, Triều Nguyên
đã thống kê và miêu tả khái quát 24 mô hình ngữ pháp thành ngữ phân biệt với
tục ngữ Và ông cho rằng “kho tàng thành ngữ tiếng Việt chung quy chỉ thuộc vào 24 mô hình” này, vì thế “việc phân định thành ngữ và tục ngữ không còn là vấn đề nữa” [48, tr.46]
Trang 29Chung quy, để phân biệt thành ngữ với tục ngữ, chúng ta không thể chỉ dựa vào một hay một vài tiêu chí độc lập mà nên có sự phân biệt dựa trên nhiều bình diện khác nhau Theo chúng tôi, để phân biệt thành ngữ với tục ngữ, cần dựa vào bốn bình diện sau đây:
Thứ nhất là cấu trúc ngữ pháp Như hầu hết các nhà nghiên cứu đã thống
nhất, thành ngữ là một cụm từ (ngữ) cố định có giá trị tương đương với một từ,
là một trong những thành tố tạo nên câu Còn tục ngữ tối thiểu là một câu hoàn chỉnh về cấu trúc ngữ pháp Tiêu chí này có vai trò quyết định các tiêu chí còn lại Cho nên sự khác biệt về cấu trúc (từ - câu) là tiêu chí quan trọng nhất để phân biệt thành ngữ và tục ngữ
Thứ hai là hình thức tư duy lôgich Nội dung của thành ngữ là những
khái niệm còn nội dung của tục ngữ là những phán đoán Quan hệ giữa thành ngữ và tục ngữ phản ánh quan hệ giữa các hình thức khái niệm và phán đoán Cả thành ngữ và tục ngữ đều chứa đựng và phản ánh tri thức của nhân dân về các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan Tuy nhiên, khi những tri thức ấy được rút lại thành khái niệm thì ta có thành ngữ, còn khi được trình bày, diễn giải thành những phán đoán thì ta có tục ngữ
Thứ ba là chức năng ngôn ngữ Thành ngữ có chức năng định danh còn
tục ngữ có chức năng thông báo Thành ngữ, như bên trên đã nói, là một cụm từ
cố định có chức năng như một ngữ định danh, nội dung của thành ngữ là những khái niệm, do vậy, thành ngữ có chức năng định danh Trong khi đó, tục ngữ là một câu hoàn chỉnh về cấu trúc ngữ pháp đồng thời nội dung của tục ngữ là những phán đoán, do vậy, tục ngữ có chức năng thông báo Từ đó có thể thấy, sự khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ về cơ bản là sự khác nhau giữa một hiện tượng thuộc về ngôn ngữ và một hiện tượng thuộc về ý thức xã hội
Thứ tư là chức năng văn học Tục ngữ là một câu nói hoàn chỉnh diễn đạt
trọn vẹn một nội dung, nhận xét về quan hệ xã hội, truyền đạt kinh nghiệm sống, khuyên răn hay phê phán… Do đó, tục ngữ được coi là một tác phẩm văn học
Trang 30hoàn chỉnh vì nó mang trong mình cả ba chức năng cơ bản của văn học là chức năng nhận thức, chức năng thẩm mỹ và chức năng giáo dục Còn thành ngữ chỉ
là một cụm từ quen dùng đã trở nên cố định, nó không nêu lên một nhận xét, một kinh nghiệm, một bài học luân lý hay một sự phê phán nào mà nó chỉ miêu
tả những hình ảnh về một hiện tượng cũng như hành động hay quan hệ nào đó
mà thôi Do vậy, thành ngữ thường chỉ mang chức năng thẩm mỹ Dù được diễn đạt một cách bóng bẩy, có hình ảnh nhưng thành ngữ không mang lại cho con người hiểu biết về cuộc sống và một bài học nào về quan hệ con người trong xã hội Vì thế, thành ngữ không được xem là một tác phẩm văn học như tục ngữ
Để tiện so sánh, xin tóm tắt thành Bảng 1.2 dưới đây:
Chức năng
ngôn ngữ
Chức năng định danh thực hiện bởi các từ ngữ (hiện tượng thuộc lĩnh vực
ngôn ngữ)
Chức năng thông báo thuộc lĩnh vực nhận thức (hiện tượng ý thức
xã hội)
Chức năng
Chức năng nhận thức Chức năng thẩm mỹ Chức năng giáo dục
1.1 4 Phân loại thành ngữ tiếng Việt
Trong “Từ vựng học tiếng Việt”, theo Nguyễn Thiện Giáp, căn cứ vào cơ chế cấu tạo có thể chia thành ngữ ra hai loại lớn đó là thành ngữ hợp kết và
Trang 31thành ngữ hòa kết Thành ngữ hợp kết được hình thành do sự kết hợp của một thành tố biểu thị thuộc tính chung của đối tượng với các thành tố biểu thị thuộc
tính riêng của đối tượng Ví dụ: bạc như vôi, đau như dau cắt, dai như bò đái…
Nó cũng được hình thành nhờ sự kết hợp của hai thành tố biểu thị những mặt
riêng của một đối tượng chung hơn cần diễn đạt Ví dụ: ăn no ngủ kỹ, ăn trên ngồi trước, mẹ góa con côi, thuần phong mỹ tục… Còn thành ngữ hoà kết được hình thành trên cơ sở của một ẩn dụ toàn bộ Ví dụ: chó ngáp phải ruồi, nước đổ
lá khoai, gậy ông đập lưng ông…
Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến trong
“Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” đã đưa ra hai cơ sở để phân loại thành ngữ
tiếng Việt Thứ nhất, dựa vào cơ chế cấu tạo cả nội dung lẫn hình thức để chia thành ngữ tiếng Việt ra hai loại: thành ngữ so sánh và thành ngữ miêu tả ẩn dụ Thứ hai, dựa vào số tiếng để phân loại thành ngữ Theo các tác giả, nét nổi bật đáng chú ý của thành ngữ tiếng Việt là các thành ngữ có số tiếng chẵn (bốn
tiếng, sáu tiếng, tám tiếng) chiếm ưu thế áp đảo về số lượng (xấp xỉ 85%)
Trong khi đó, tác giả Triều Nguyên trong “Khảo luận về tục ngữ người Việt” đã phân loại thành ngữ bằng các mô hình ngữ pháp Theo ông, thành ngữ
tiếng Việt chỉ bao gồm 24 mô hình ngữ pháp thuộc vào 3 nhóm sau: (a) nhóm
mô hình so sánh, (b) nhóm mô hình 4 (hoặc 6, 8) tiếng, chia thành hai cặp đối xứng, (c) các mô hình không thuộc vào hai nhóm (a) và (b)
Trong “Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ” và “Thành ngữ học tiếng Việt”, Hoàng Văn Hành cho rằng nếu căn cứ vào phương thức tạo nghĩa, chúng ta có thể chia vốn thành ngữ tiếng Việt thành hai loại lớn là: thành ngữ so sánh và thành ngữ ẩn dụ hoá Và nếu căn cứ vào đặc điểm tính đối xứng trong cấu trúc, lại có thể chia thành ngữ ẩn dụ hoá thành hai tiểu loại là: thành ngữ ẩn dụ hoá
đối xứng (Ví dụ: an cư lạc nghiệp, bầm gan tím ruột, dãi nắng dầm mưa,…) và thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng (Ví dụ: anh hùng rơm, công tử bột, chuột sa
hũ nếp,…) Có thể cụ thể hoá sự phân loại thành Sơ đồ 1.1 dưới đây:
Trang 32Sơ đồ 1.1 Phân loại thành ngữ kiểu 1 (Nguồn: Hoàng Văn hành)
Tuy nhiên, Hoàng Văn Hành cũng cho rằng nếu xét về mặt cấu trúc thì thành ngữ so sánh cũng là thành ngữ phi đối xứng Vì thế, chúng ta cũng có thể hình dung sự phân loại thành ngữ như Sơ đồ 1.2 bên dưới:
Sơ đồ 1.2 Phân loại thành ngữ kiểu 2 (Nguồn: Hoàng Văn hành)
Thành ngữ
Thành ngữ
ẩn dụ hoá đối xứng
Thành ngữ
Thành ngữ
đối xứng phi đối xứng Thành ngữ
Thành ngữ phi đối xứng
ẩn dụ hoá (Thành ngữ miêu tả)
Thành ngữ phi đối xứng
so sánh (Thành ngữ so sánh)
Trang 33Về thực chất thì hệ thống phân loại thành ngữ được thể hiện ở hai sơ đồ trên là một Sự khác nhau của hai hệ thống phân loại này chỉ ở cách chọn tiêu chí phân loại cho từng bậc mà thôi
Trong đề tài này, chúng tôi sẽ tiến hành phân loại, phân tích các thành ngữ xuất hiện trong một số tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh theo sự phân loại thành ngữ thành hai loại thành ngữ đối xứng và phi đối xứng như cách phân loại của tác giả Hoàng Văn Hành Đồng thời, chúng tôi cũng sẽ đi sâu vào các kết cấu của thành ngữ bằng việc sử dụng 24 mô hình ngữ pháp thành ngữ của tác giả Triều Nguyên
1.2 Thành ngữ tiếng Việt trong văn bản nghệ thuật
Nhờ khả năng nhấn mạnh nghĩa bằng sự diễn đạt sinh động, có nghệ thuật nên thành ngữ không chỉ là kho báu trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày mà còn
là nguồn chất liệu quý giá trong sáng tác văn học Nhiều nhà văn, nhà thơ đã vận dụng nhuần nhuyễn thành ngữ giúp cho câu văn, lời thơ thêm biểu cảm; giàu
hình tượng, hàm súc và đậm đà bản sắc truyền thống
1.2.1 Diện mạo thành ngữ tiếng Việt trong các văn bản nghệ thuật
Thành ngữ được sử dụng khá đa dạng trong các văn bản nghệ thuật, bao gồm cả thành ngữ thuần Việt lẫn thành ngữ Hán Việt Thành ngữ Hán Việt được
sử dụng đan xen với thành ngữ thuần Việt khiến cho sự diễn đạt vừa truyền thống vừa hiện đại, vừa mang tính bác học lại vừa bình dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói của đại đa số quần chúng nhân dân Chính đặc điểm sử dụng này đã góp phần tạo nên sự thành công của các tác phẩm văn học từ cổ chí kim
Chẳng hạn, theo Thanh Công [45], trong Truyện Kiều, Đại thi hào Nguyễn Du đã vận dụng khéo léo, tài hoa cả thành ngữ thuần Việt và thành ngữ
Hán Việt tạo nên nét đặc sắc rất riêng của tác phẩm Về thành ngữ Hán Việt,
Nguyễn Du thường căn cứ vào đặc điểm về âm thanh và ngữ điệu của tiếng Việt
để dịch những thành ngữ Hán ra thành ngữ Việt Chẳng hạn như: “thiên nhai hải giác” thành “c hân trời góc bể”; “hồng diệp xích thằng” thành “lá thắm chỉ
Trang 34hồng” Cũng có không ít trường hợp Nguyễn Du giữ nguyên thành ngữ Hán Việt nhằm tạo màu sắc cổ kính, uy nghiêm như “thanh thiên bạch nhật” trong câu “ Ba quân đông mặt pháp trường/ Thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi” (câu 2395-2396); “b ình địa ba đào” trong câu “Gặp cơn bình địa ba đào/ Vậy
đem duyên chị buộc vào duyên em” (câu 3065-3066)
Về thành ngữ thuần Việt: có nhiều loại thành ngữ được Nguyễn Du sử
dụng Thành ngữ ba âm tiết: “nói như ru” trong câu “Nặng nghe lời nói như ru/ Chiều thu dễ khiến nét thu ngại ngùng” (câu 347-348); “bạc như vôi” trong câu
“Phận sao phận bạc như vôi/ Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng” (câu 754); “m a đưa lối”, “quỉ đưa đường” trong câu “Ma đưa lối quỷ đưa đường/
753-Lại tìm những chốn đoạn đường mà đi” (câu 2665-2666)… Thành ngữ 4 âm
tiết: “nửa ở nửa về” trong câu “Dùng dằng nửa ở nửa về/ Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần” (câu 133-134); “đội trời đạp đất” trong câu “Đội trời đạp
đất ở đời/ Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông” (câu 2171- 2172)… Thành ngữ
gồm 6 âm tiết: “thân lươn bao quản lâm đầu” trong câu “Thân lươn bao quản lâm đầu/ Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa” (câu 1147-1148); “tình sâu mong trả nghĩa dày” trong câu “Tình sâu mong trả nghĩa dày/ Hoa kia đã chắp
cánh này cho chưa?” (câu 1263-1264)… Thành ngữ 8 âm tiết: “càng cay nghiệt
lắm, càng oan trái nhiều” trong câu “Dễ dàng là thói hồng nhan/ Càng cay
n ghiệt lắm càng oan trái nhiều” (câu 2361-2362)…
1.2.2 Các ph ương thức sử dụng thành ngữ thường gặp
Bản chất của thành ngữ là sự sử dụng sáng tạo ngôn ngữ của quần chúng nhân dân qua chiều dài lịch sử Do đó nhân dân ta sử dụng thành ngữ không phải chỉ với cái vốn sẵn có mà luôn luôn thay đổi và sáng tạo theo mô hình nào đó Trong quá trình sáng tác, các nhà văn, nhà thơ vừa vận dụng tối đa vốn thành ngữ có sẵn vừa gia công cải biến, sáng tạo, góp phần làm phong phú ngôn ngữ dân tộc
Trang 35Chẳng hạn, theo Đặng Thanh Hòa [68], trong thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, thành ngữ được vận dụng với hai phương thức chính: sử dụng trực tiếp
và dẫn ý
Phương thức thứ nhất là vận dụng trực tiếp thành ngữ vào thơ, tức là lấy nguyên văn, nguyên dạng những thành ngữ vốn có của dân gian để đưa vào thơ
như trường hợp: “xanh như lá”, “bạc như vôi” (Đừng xanh như lá, bạc như vôi
– Mời trầu); “nòng nọc đứt đuôi” (Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé – Khóc Tổng
Cóc); “năm thì mười hoạ” (Năm thì mười hoạ chăng hay chớ – Làm lẽ); “cố đấm ăn xôi” (Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm – Làm lẽ); “bảy nổi ba chìm” (Bảy nổi
ba chìm với nước non – Bánh trôi nước); “mỏi gối chồn chân” (Mỏi gối chồn
chân vẫn muốn trèo – Đèo Ba Dội); “bán lợi mua danh” (Bán lợi mua danh nào
những kẻ – Chơi chợ chùa Thầy) Cách xử lí này tương đối khó khăn bởi vì nó đòi hỏi tác giả phải có một khả năng cảm nhận hết sức tinh tế về nghĩa của những câu thành ngữ mà họ định sử dụng để xem nó có phù hợp với ý thơ mà mình định trình bày ở trong câu và trong bài hay không Đồng thời, tác giả cũng phải là người có khả năng xử lí ngôn từ để có thể tách, ghép các yếu tố của mỗi thành ngữ vào với những từ ngữ khác để tạo nên một câu thơ hoàn chỉnh mà không bị cứng nhắc, gượng ép về nghĩa cũng như về vần điệu Tuy nhiên những khó khăn nói trên đã được Hồ Xuân Hương xử lí thành công một cách tuyệt vời
Phương thức thứ hai là chỉ lấy ý của thành ngữ để chuyển vào trong thơ
chứ không áp dụng hoàn toàn như ở cách thứ nhất Chẳng hạn như: “thăm ván bán thuyền” (Ấy ai thăm ván cam lòng vậy – Tự tình III); “gọt gáy bôi vôi” (Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi – Khóc Tổng Cóc); “làm mướn không công” (Cầm bằng làm mướn, mướn không công – Làm lẽ); “đầu trỏ xuống, cuống trỏ lên” (Còn kẻ nào hay cuống với đầu – Quan thị); “lăn lóc như cóc bôi vôi” (Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi – Con ốc nhồi) Cách xử lí này thường tạo nên tính ẩn ý kín đáo cho câu thơ và đôi lúc khiến cho câu thơ như có hơi hướng
của những câu đố, ví dụ như trường hợp của “Đố ai biết đó vông hay trốc”
Trang 36(Quan thị) hay như “Còn kẻ nào hay cuống với đầu” (Quan thị) Những câu thơ
được sáng tác theo kiểu này thường tạo cho người đọc có những sự liên tưởng rộng hơn, thích thú hơn và đầy ấn tượng hơn bởi vì dấu ấn thành ngữ, tục ngữ thường chỉ tồn tại phảng phất trong câu thơ chứ không hiện hữu rõ ràng như ở cách thứ nhất Do đó, muốn phát hiện ra trong câu thơ ấy tác giả có sử dụng các môtip của thành ngữ, tục ngữ để diễn đạt nội dung hay không thì người đọc phải
có một vốn thành ngữ, tục ngữ nhất định để làm cơ sở quy chiếu so sánh thì mới nhận ra được
Hay như trường hợp của Ngô Tất Tố và Nam Cao, thành ngữ cũng được vận dụng linh hoạt: có những thành ngữ nguyên dạng đã được lưu truyền phổ biến trong dân gian; có những thành ngữ được vận dụng sáng tạo bằng cách thay đổi trật tự từ, thêm bớt từ hoặc mượn ý của một thành ngữ nào đó với cách diễn
đạt mới Chẳng hạn thành ngữ “chạy ngược chạy xuôi” được đảo thành “chạy xuôi chạy ngược” trong câu văn: “… Phó lý, trương tuần cũng như tộc biểu, tuần phu tuy không phải làm việc gỡ, ai nấy vẫn xơ tóc gáy, chạy xuôi chạy ngược” (Tắt đèn); thành ngữ “cưỡi đầu cưỡi cổ” được thêm từ thành “cưỡi lên đầu lên cổ” (Chí Phèo); thành ngữ “chuột gặm chân mèo” biến đổi thành:“c huột lại cứ đòi gặm chân mèo” (Rình trộm)…
1.2.3 Giá trị của thành ngữ trong các văn bản nghệ thuật
Việc vận dụng thành ngữ sẽ đem lại hiệu quả nghệ thuật cao cho các tác phẩm văn học Khi vận dụng đúng lúc, đúng nơi, thành ngữ sẽ góp phần làm tăng sức thuyết phục cho sự diễn đạt, giúp cho tác giả thu ngắn khoảng cách giữa nội dung tác phẩm với sự tiếp nhận của đại đa số quần chúng nhân dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ý thức rất rõ điều này Người đã xác định đối tượng hướng đến là đại đa số quần chúng nên cách diễn đạt rất gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân, trong đó có thành ngữ Chẳng hạn, trong một bài đăng trên báo Nhân dân số ra ngày 14/3/1967, Người viết:
Trang 37“Trong cán b ộ, có những đồng chí tốt, miệng nói tay làm, nhưng cũng có một số đồng chí chỉ tay năm ngón không chịu làm”
Hay trong “ Lịch sử nước ta”, Bác viết:
“ Nhiều phen đánh Bắc dẹp Đông Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên”
Ngoài ra, việc vận dụng thành ngữ còn giúp nhà văn miêu tả một cách sinh động ngoại hình, tâm hồn, tính cách và thân phận nhân vật Chẳng hạn, để miêu tả bộ dạng của Tây đầm ngày thất thế trong Vỡ bờ, Nguyễn Đình Thi đã
viết: “Nhìn bọn Tây đầm thuộc địa ngày thường ồn ào, hống hách, bây giờ cứ
cắm mặt xuống tiu nghỉu như mèo bị cắt tai, Toàn hả ngầm trong dạ.” Hay chỉ
với thành ngữ “một thước cắm dùi không có”, Nam Cao đó diễn tả tình cảnh
cùng đường của Chí Phèo sau khi ở tù về làng Vũ Đại: “…Đi ở tù còn có cơm
để mà ăn, bây giờ về làng về nước, một thước cắm dùi không có, chả làm gì
nên ăn Bẩm cụ, con lại đi kêu cụ, cụ lại cho con đi ở tù" Và chân dung của
nhân vật Thị Nở cũng khiến người đọc nhớ mãi nhờ một thành ngữ được Nam
Cao dùng rất đúng chỗ: “xấu ma chê quỷ hờn”
Không chỉ làm nổi bật hoàn cảnh, diện mạo, tính cách, thành ngữ còn thể hiện rất tinh tế đời sống tinh thần của nhân vật Đến với Tắt đèn, người đọc không khỏi xót xa trước tình cảnh của gia đình chị Dậu và càng xót xa khi
chứng kiến cảnh người mẹ nghèo “nhũng nhẵng dẫn con và chó” đến nhà Nghị Quế qua hai thành ngữ “cố sống cố chết, giả câm giả điếc”:
“… Với những tiếng thổn thức trong đáy tim và những giọt nước mắt luôn
đọng ở gò má, chị Dậu cố sống cố chết, nhũng nhẵng dẫn con và chó lẽo đẽo
dưới ánh nắng mùa hè Con vẫn lướt mướt khóc, chó vẫn í ẳng kêu, chị vẫn nhất
định giả câm giả điếc mong cho chóng đến nhà cụ Nghị”
Trang 381.3 Hồ Biểu Chánh và sự cách tân về ngôn ngữ tiểu thuyết
1.3.1 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Hồ Biểu Chánh
1.3.1.1 Cuộc đời Hồ Biểu Chánh
Hồ Biểu Chánh tên thật là Hồ Văn Trung, tự là Biểu Chánh, hiệu là Thứ Tiên Ông sinh ngày 01/10/1885 (năm Ất Dậu) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công nay là tỉnh Tiền Giang
Xuất thân trong một gia đình nghèo, thuở nhỏ Hồ Biểu Chánh phải chịu nhiều vất vả, thiếu thốn Năm lên 8 tuổi, Hồ Biểu Chánh theo học chữ Nho tại trường làng Bình Thành Đến năm 12 tuổi, cha mẹ chuyển nhà tới chợ Giồng ông Huê, ông mới học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp tại trường tổng Vĩnh Lợi (1896 – 1898), rồi được đưa lên học ở trường tỉnh Gò Công (1898 – 1901) Sau
đó, ông được cấp học bổng để học trường trung học Mỹ Tho (1902 – 1903) rồi trường Chasseloup – Laubat ở Sài Gòn (1904 – 1905) Cuối 1905, ông thi bằng Thành Chung đậu hạng nhì
Sau khi thi đậu bằng Thành Chung, Hồ Biểu Chánh định xin làm giáo viên nhưng một vị thầy cũ khuyên ông thi vào ngạch Ký lục để sau có tương lai hơn Năm 1906, ông thi đậu ký lục Soái phủ Nam Kỳ Từ đó cho đến 1936, ba mươi năm chẵn, ông làm việc cho Chính phủ Pháp, thăng dần tới Đốc phủ sứ
Ông mất ngày 04/11/1958 (tức ngày 23/9 năm Mậu Tuất) tại Phú Nhuận, Sài Gòn nay là Thành phố Hồ Chí Minh
Trong suốt cuộc đời làm chính trị Hồ Biểu Chánh luôn giữ cho mình một cuộc sống thanh tao, lấy tấm lòng hiền đức để đối đãi với mọi người Mặc dù vẫn còn có nhiều bàn luận về cuộc đời chính trị của Hồ Biểu Chánh nhưng xét trên phương diện văn học thì không ai có thể phủ nhận những đóng góp của ông cho văn học nước nhà
1.3.1.2 Sự nghiệp sáng tác của Hồ Biểu Chánh
Hồ Biểu Chánh say mê với sự nghiệp sáng tác văn chương Ông đã để lại một sự nghiệp sáng tác đa diện và đồ sộ: khoảng 64 tiểu thuyết, 12 tập truyện
Trang 39ngắn và truyện kể, 12 vở hài kịch và ca kịch, 5 tập thơ và truyện thơ, 8 tập ký,
28 tập khảo cứu – phê bình Ngoài ra, còn có các bài diễn thuyết và 2 tác phẩm
dịch
Khi nghiên cứu về cuộc đời của Hồ Biểu Chánh, chúng tôi nhận thấy có nhiều biến cố quan trọng cả về chính trị lẫn văn học đã xảy ra trong suốt 74 năm ông sống và sáng tác Có thể chia sự nghiệp sáng tác của ông thành 5 giai đoạn:
a Tập sự viết văn, làm thơ (1906 – 1917)
Trong thời gian này, ông dành gần 3 năm nghiên cứu các sách Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử
Cuốn Tân Soạn Cổ Tích (1909) được xem là kết quả của quá trình ông học chữ Hán và tập dịch Hán văn Trong đó, có 3 tác phẩm ảnh hưởng đến
hướng sáng tác của ông; đó là: Hoàng Tố Anh hàm oan (Trần Chánh Chiếu), Truyện thầy Lazarô Phiền (Nguyễn Trọng Quản) và Phan Yên Ngoại Sử
(Trương Duy Toản)
Năm 1909, ông viết truyện thơ U tình lục Năm 1912, ông viết quyển tiểu thuyết văn xuôi đầu tay Ai làm được Trong 2 năm 1916 - 1917, ông viết hài kịch Vì nghĩa quên tình
b Viết báo (1918 – 1925)
Năm 1918, ông hợp tác xuất bản Đại Việt tạp chí Trong những năm từ
1919 đến 1925, ông bắt đầu viết bài cho nhiều tờ báo như: Công Luận Báo, Đông Pháp Thời Báo, Quốc Dân Diễn Đàn…
Năm 1922, ông viết tiểu thuyết: Chúa tàu Kim Quy, Cay đắng mùi đời, Tỉnh mộng, Một chữ tình, Nam cực tinh huy… Cùng thời điểm này ông cũng cho
ra đời vở hài kịch: Tình anh em và Toại chí bình sanh
Năm 1925, ông ra khỏi làng báo và chỉ tập trung viết tiểu thuyết
c Viết tiểu thuyết (1925 – 1941)
Đây là giai đoạn quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Hồ Biểu Chánh
Có ba nguyên do mà chúng tôi khẳng định như thế Thứ nhất là do trong giai
Trang 40đoạn này ông viết được đến 34 cuốn tiểu thuyết (trong tổng số 64 cuốn) Thứ hai, vì đây là mốc đánh dấu năm ông về hưu Và thứ ba, vì đây cũng là mốc đánh dấu sự chuyển hướng của Hồ Biểu Chánh trên con đường văn nghệ của
mình Các tác phẩm trong giai đoạn này gồm: Nhơn tình ấm lạnh, Cư kỉnh…
d Làm báo, biên khảo (1942 – 1952)
Từ năm 1942 đến năm 1944, ông cho xuất bản Nam Kỳ Làng Báo và Đại Việt Tập Ký dưới sự trợ cấp của Sở Thông Tin Tuyên Truyền Pháp Trong giai đoạn này, ông rất chú tâm đến vấn đề khảo cứu
e Viết lại tiểu thuyết (1953 – 1958)
Do nhu cầu của người đọc mà ông viết lại tiểu thuyết vào năm 1953 Từ năm 1953 đến 1957, ông viết được 24 cuốn tiểu thuyết
Như vậy chúng ta có thể thấy, trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, Hồ Biểu Chánh đóng rất nhiều vai trò khác nhau Ông vừa là một nhà văn, một nhà thơ, vừa là một nhà biên khảo, nhà báo, dịch thuật Tuy nhiên, khi nhắc đến Hồ Biểu Chánh là chúng ta lại nghĩ ngay đến một nhà tiểu thuyết Tiểu thuyết của
Hồ Biểu Chánh bao quát những mảng hiện thực, những nét văn hóa đặc trưng của Nam Bộ vào những thập niên đầu của thế kỷ XX Đó là sự tha hóa của con người trước sự lớn lên vùn vụt của đầu óc trọng thương, là số phận đáng thương của những thường dân rơi vào cảnh cùng quẫn, là những câu chuyện thế sự giàu chất nhân văn của những con người trên vùng đất mới…
Hồ Biểu Chánh đã bước vào con đường văn nghệ bằng tiểu thuyết và đã
dành trọn cuộc đời để theo đuổi thể loại này Từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên là Ai Làm Được vào năm 1912, ông đã viết một cách say mê cho đến quyển cuối cùng mang tựa đề Hy Sinh, đang viết dang dở vào năm 1958 Ông được xem là một
nhà văn tiên phong của miền Nam và là một trong những tiểu thuyết gia đầu tiên
ở Nam Bộ mở màn cho thể loại tiểu thuyết hiện đại
1.3.2 Sự cách tân ngôn ngữ tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
Hồ Biểu Chánh là một tác giả có nhiều đóng góp cho văn học Việt