Tuy vậy ở công trình này luận văn chỉ tập trung khảo sát vốn từ vựng, về sự hình thành và cấu tạo của từ vựng trong thơ Tố Hữu; còn xét ở sự tồn tại của từ vựng thì chúng tôi chỉ đi sâu
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Thị Tính
Trang 6M Ở ĐẦU
Tố Hữu tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 4 -10 -1920, quê ở làng Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên -Huế Ông thân sinh là một nhà nho nghèo, tuy không đỗ đạt và chật vật để kiếm sống bằng nhiều nghề nhưng lại ham thơ và thích sưu tầm ca dao, tục ngữ Từ thuở nhỏ, Tố
Hữu đã được cha dạy làm thơ theo những lối cổ Mẹ Tố Hữu là con một nhà nho, thuộc nhiều ca dao, dân ca xứ Huế và rất giàu tình thương con Tố Hữu mồ côi
mẹ từ năm mười hai tuổi và một năm sau lại xa gia đình vào học trường Quốc
học Huế
Ở thơ Tố Hữu, con người chính trị và con người nhà thơ thống nhất chặt
chẽ, sự nghiệp thơ gắn liền với sự nghiệp cách mạng, trở thành một bộ phận của
sự nghiệp cách mạng Tố Hữu đến với thơ và cách mạng cùng một lúc Năm
1937, những bài thơ đầu của Tố Hữu đã đem đến một tiếng thơ mới mẻ cho thơ
ca cách mạng đương thời Vào thời gian ấy, phong trào Thơ Mới đã hoàn toàn
thắng thế, công cuộc hiện đại hóa thơ ca đã thực hiện thành công Là người cùng
thế hệ với nhiều nhà Thơ Mới, Tố Hữu trước khi giác ngộ cách mạng cũng nhìn
thấy ở họ những tâm trạng gần gũi với mình trong lúc đang "Băn khoăn đi kiếm
lẽ yêu đời” Bởi vậy, một cách tự nhiên, Tố Hữu đã tiếp nhận những thành tựu
nghệ thuật của Thơ Mới để làm giàu cho thơ ca Cách mạng Nhưng con đường thơ Tố Hữu đã khác hẳn với con đường của các nhà Thơ Mới, vì nó gắn liền với
lý tưởng Cộng sản và cuộc đấu tranh cách mạng
Từ năm 1938 đến năm 2002, Tố Hữu đã để lại cho chúng ta bảy tập thơ
gồm 283 bài thơ Cả bảy tập này đều được chính tác giả chọn lọc lần cuối cùng theo cách nhìn khái quát gần trọn cuộc đời thơ, một chặng đường dài trên sáu
thập kỷ của một nhà thơ cách mạng tiêu biểu:
Tập thơ Từ ấy (1937 - 1946), gồm 67 bài thơ, là chặng đường mười năm đầu hoạt động sôi nổi Tập thơ Việt Bắc (1947 - 1954), gồm 22 bài thơ, là chặng
Trang 7đường trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp Tập thơ Gió lộng
(1955 - 1961), gồm 25 bài thơ, là niềm vui, niềm tự hào, tin tưởng ở công cuộc xây dựng cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc, tình cảm với miền Nam và ý chí thống nhất Tổ quốc Tập thơ Ra trận (1961 - 1971), gồm 35 bài
thơ, là chặng đường thơ trong những năm kháng chiến chống Mĩ, là khúc ca ra
trận, là mệnh lệnh tiến công và lời kêu gọi Tập thơ Máu và hoa (1912 - 1977),
13 bài thơ, cũng có nội dung như vậy Tập Một tiếng đơn (1979 - 1992) gồm 73 bài thơ; và tập Ta với ta (1993 - 2002) gồm 48 bài thơ, nhà thơ muốn chiêm
nghiệm về cuộc sống, về lẽ đời, hướng tới những quy luật phổ quát và tìm kiếm
những giá trị bền vững
Khi nói đến "văn chương" thì phải nói đến "chữ nghĩa" vì không có thứ văn chương nào lửng lơ ngoài chữ nghĩa [25, 9] Thế nhưng, theo chủ quan của
chúng tôi, hình như việc dạy và học văn trong nhà trường hiện nay chưa ý thức
rõ sự nỗ lực từ phía ngôn ngữ để khai thác và tiếp cận văn học (trong mối liên hệ chuyển hóa vốn rất sinh động và khách quan giữa hai phạm vi này) Nguyễn Lai
đã nhận xét:
Trong khi phân tích, bình giảng văn học từ góc độ ngôn ngữ, nhiều người
có thiên hướng muốn đẩy sự biến động thực của địa hạt ngữ nghĩa từ vựng sang lĩnh vực tu từ Họ tự đặt mình phần nào vào chỗ đứng của sự nhầm lẫn không tự giác: tách rời ngữ nghĩa giữa nguồn mạch của tư duy; tách ngôn từ nghệ thuật khỏi sức mạnh cảm xúc theo thói quen hình thức (do nhìn vấn đề một cách tĩnh tại) [11, 10-11]
Do vậy, chúng tôi hiểu rằng muốn giảng dạy và bình thơ hay, chúng tôi không thể thiếu một số kiến thức tối thiểu về ngôn ngữ học (đặc biệt là từ vựng) trong mối liên hệ với văn học Đây là một trong những lý do khiến chúng tôi quay về với việc tìm hiểu ngôn ngữ văn chương
Trang 8Chúng ta đều biết, gần 70 năm qua thơ Tố Hữu luôn là tiếng nói vừa hào hùng vừa đằm thắm về cuộc hành trình đầy thử thách của Tổ quốc và nhân dân
Việt Nam qua những chặng đường lịch sử và giữ một vị trí quan trọng trong quá trình phát triển của văn học Việt và tiếng Việt Do vậy, các nhà nghiên cứu đều
nhất trí cho rằng thơ Tố Hữu là sự kiện văn chương quan trọng trong lịch sử văn
học Việt Nam và một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã chọn thơ ông để nghiên cứu
Ở luận văn này, chúng tôi ý thức rằng sự đóng góp của thơ Tố Hữu về mặt ngôn ngữ, nhất là các bình diện từ vựng cần phải được xem xét Đây là một yêu
cầu chính đáng, sẽ góp thêm một số kết quả, điều chỉnh, bổ sung hay khẳng định
những nhận định trước đây về thơ Tố Hữu (trên ấn tượng chủ quan) để đi đến
những kết luận khách quan hơn, có căn cứ cụ thể hơn trong khi giảng dạy thơ Tố
Hữu, góp phần thúc đẩy sự nỗ lực từ phía ngôn ngữ giúp khai thác văn học phục
vụ giảng dạy như đã nói ở trên
Từ những năm 40 của thế kỷ XX đến nay đã có hàng trăm công trình nghiên cứu thơ Tố Hữu Trong đó có các công trình bàn nhiều về nhạc điệu (Nguyễn Trung Thu - 1968), về phong vị ca dao dân ca (Nguyễn Phú Trọng -1968), về phong cách (Nguyễn Văn Hạnh - 1970), về thể tài (Trần Đình sử -1985) và về thi pháp (Trần Đình sử - 1987, Đỗ Lai Thúy - 1989),
Về ngôn ngữ, thơ Tố Hữu cũng đã được giới nghiên cứu chú ý Tuy nhiên
số bài viết không nhiều, đặc biệt là không có bài nghiên cứu kỹ về từ vựng (bằng phương pháp thống kê định lượng) Có thể kể:
Nguyễn Đức Quyền (1970) với bài viết Ta với mình trong bài thơ "Việt
Bắc" của Tố Hữu, tạp chí Văn học, số 3
Lê Anh Hiền (1971) nghiên cứu Về cách dùng tính từ chỉ màu sắc của Tố
H ữu, tạp chí Ngôn ngữ, số 4
Trang 9Với Trần Đình sử (1987), mặc dù ông rất thành công với Thi pháp thơ Tố
H ữu nhưng ông cũng chỉ dành những dòng ít ỏi để nhận định rằng:
Thơ Tố Hữu rõ ràng là tiếng nói lớn của thời đại Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta đã rõ các đặc điểm làm nên hình thức của thơ ông, nhận thức đúng sự đổi mới về thơ mà Tố Hữu mang lại cho thơ ca dân tộc cũng như các
gi ới hạn nhận thức và thể hiện đời sống của nó Đó sẽ là công việc lâu dài của
l ịch sử [20, 233-234] Ngôn ngữ thơ Tố Hữu thuộc ngôn ngữ thơ trữ tình điệu nói, khác v ới lời thơ cổ điển thuộc lối thơ trữ tình ngâm vịnh Là một thành tựu
xu ất sắc của thơ Việt Nam hiện đại, thơ Tố Hữu khác với thơ cổ điển về một số nguyên t ắc tổ chức lời thơ [20, 234-235]
Và như vậy Trần Đình Sử cũng chưa đề cập đến một lớp từ vựng cụ thể nào trong thơ Tố Hữu
Xuân Nguyên (1991) cũng chỉ tập trung nghiên cứu một nhóm từ với bài
viết Từ địa phương miền Trung trong thơ Tố Hữu
Trần Hữu Tá (2000), trong sách Văn học lớp 12, tập 1, khi giới thiệu về Tố
Hữu cũng chỉ đưa ra một nhận định khái quát về giọng điệu, hơi thơ và thể thơ,
chứ không đề cập đến ngôn từ [21, 152]
Gần đây, có Nguyễn Thị Thúy Quỳnh (2003) nghiên cứu Vần và hiệp vần
trong thơ Tố Hữu; Nguyễn Thị Bích Thủy (2005) nghiên cứu về Tổ chức lời thơ trong thơ Tố Hữu
Nhìn chung, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào mang tính toàn diện, sâu sắc và có hệ thống về ngôn từ trong thơ Tố Hữu Tuy vậy, những ý kiến,
những nhận định của các tác giả nghiên cứu thơ Tố Hữu ở mảng văn học hay ngôn ngữ học đều xác đáng, và do đó, có thể làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu, đối chiếu, triển khai của chúng tôi Trên tinh thần kế thừa những kết quả nghiên
cứu về thống kê ngôn ngữ học, chúng tôi đã xử lý toàn bộ vốn từ vựng trong thơ
Tố Hữu, tổng hợp những tài liệu có liên quan, từ những tài liệu thuộc về văn học
Trang 10đến những tư liệu về ngôn ngữ học như là công cụ để nghiên cứu, để dựng lên
một bức tranh tổng thể về ngôn từ trong thơ Tố Hữu trên các bình diện theo lý thuyết của từ vựng học
Như đã xác định, đề tài khảo sát của luận văn này là: "Ngôn từ trong thơ Tố
H ữu (nhìn từ bình diện từ vựng)'' tức luận văn phải đạt được những vấn đề cần
nghiên cứu như: vốn từ vựng, sự hình thành, sự cấu tạo, sự tồn tại, về cơ cấu nghĩa, về sự biến đổi của từ vựng qua các giai đoạn sáng tác Tuy vậy ở công trình này luận văn chỉ tập trung khảo sát vốn từ vựng, về sự hình thành và cấu
tạo của từ vựng trong thơ Tố Hữu; còn xét ở sự tồn tại của từ vựng thì chúng tôi
chỉ đi sâu tìm hiểu phạm vi sử dụng và mức độ sử dụng mà không phân tích từ
vựng về mặt phong cách học Về cơ cấu nghĩa, quả đây là một vấn đề phức tạp, vượt ra ngoài giới hạn nghiên cứu của chúng tôi, do vậy dù đã thật cố gắng nhưng luận văn cũng chỉ tập trung được ở việc nghiên cứu một số trường từ
vựng - ngữ nghĩa mà kết quả thống kê đã chỉ ra những "điểm nhấn" Cũng vậy, chúng tôi ý thức rằng nghiên cứu sự biến đổi của từ vựng qua các chặng đường sáng tác của tác giả là một việc làm có ích, để có thể có được nhận nhận xét chính xác về sự nghiệp sáng tác hay dùng làm cứ liệu so sánh với các tác giả khác, nhưng luận văn cũng chưa vượt qua được khó khăn để đạt mục đích này Tóm lại, luận văn này đã thu thập và xử lý toàn bộ từ vựng trong 283 bài thơ ở bảy tập thơ của nhà thơ Tố Hữu và chỉ tiến hành khảo sát, phân tích những
vấn đề được chỉ ra ở Chương 1, Chương2 và Chương 3 của luận văn
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Để khảo sát toàn bộ thơ Tố Hữu, chúng tôi sử dụng trực tiếp một số tư liệu sau:
- Thơ Tố Hữu (Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 2002),
- T ừ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 2004),
Trang 11- T ừ điển Thành ngữ - Tục ngữ Việt Nam (Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ
Quang Hào),
- T ừ điển Từ láy tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, 1995)
- Hán- Vi ệt từ điển (Đào Duy Anh, 1957)
- Th ống kê ngôn ngữ học (Nguyễn Đức Dân, Đặng Thái Minh),
- T ừ vựng học tiếng Việt (Nguyễn Thiện Giáp, 1993),
- T ừ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt (Đỗ Hữu Châu, 1981),
- Thi pháp thơ Tố Hữu (Trần Đình Sử, 1987)
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thông kê - phân loại:
Luận văn đặt vấn đề là tìm hiểu ngôn từ trong thơ Tố Hữu nhìn từ bình diện
từ vựng, cho nên phương pháp thống kê - phân loại là phương pháp chủ đạo, giúp chúng tôi đưa ra những chứng cứ cụ thể, chính xác khi nghiên cứu, từ đó
những nhận định trong luận văn sẽ có tính thuyết phục
Trước khi tiến hành thống kê, chúng tôi đã lựa chọn văn bản thống kê là toàn bộ 283 bài thơ trong bảy tập thơ của tác giả trong tác phẩm Thơ Tố Hữu,
năm 2004, Nxb Văn hóa thông tin Đơn vị thống kê là những đơn vị rõ ràng là từ,
là những từ tổ cố định (mà trong nhiều trường hợp rất khó xác định là từ hay là
ngữ, nhất là khi nghĩa của tổ hợp không phải chỉ đơn giản là sự tổ hợp nghĩa của các thành tố), thành ngữ, tên riêng, số đếm trong dãy số tự nhiên, cụm từ trỏ con
số, cụm con số trỏ ngày tháng năm cụ thể và đơn vị viết tắt Tuy vậy, đơn vị từ
vựng được chúng tôi xét đến để làm cứ liệu phân tích chỉ là từ, từ tổ cố định và
thành ngữ (tên riêng được xét ở một khía cạnh khác) Chẳng hạn trong câu sau
đây có 5 đơn vị từ vựng: Mặt trời/chân lý/chói/qua /tim Cũng cần nói thêm rằng
tất cả các đơn vị từ vựng được thống kê đều được tra cứu và đối chiếu theo các
T ừ điển đã chỉ ra ở trên
Trang 12Diện mạo của đơn vị từ vựng như trên được cố định trong suốt thời gian chúng tôi thống kê, tức là cần đảm bảo sự nhất quán cho toàn bộ quá trình thu
thập, xử lý và diễn giải số liệu, bởi vì các kết quả quan sát sẽ rất khác nhau khi
ta áp dụng các tiêu chí nhận diện khác nhau cho cùng một đối tượng Tuy nhiên,
vì số lượng đơn vị từ vựng cần thống kế trong bảy tập thơ là quá lớn (60099 lượt
từ) nên chúng tôi khó lòng tránh khỏi sai sót
Quá trình thống kê của chúng tôi cũng hết sức đơn giản, khả thi với những điều kiện vật chất chấp nhận được: sử dụng phần mềm Excel trên máy vi tính
với sự trợ giúp của người làm thống kê Đó là chúng tôi phải thống nhất và vạch ranh giới đơn vị thống kê cho máy tính thực hiện theo yêu cầu
Phương pháp định lượng:
Trong văn bản đã được thống kê, sau khi xác định đơn vị từ vựng (gồm từ,
từ tổ cố định và thành ngữ), chúng tôi ghi số lần xuất hiện của từng đơn vị từ
vựng đó (gọi tắt là từ)P
1
P trên văn bản thống kê gọi là tần số của từ [4, 61] Đem
chia văn bản thống kê ra theo từng bài thơ, số lượng các bài thơ có mặt một từ
nào đó là chỉ số độ phân bố của từ vựng đó Chẳng hạn từ tôi xuất hiện trong
137 bài thơ, vậy 137 là chỉ số độ phân bố của từ này Chỉ số về độ phân bố
L
R
N
= cho biết mức độ sử dụng rộng rãi hay hạn chế (tính phổ biến) của từ Hai
từ có cùng tần số nhưng từ nào có độ phân bố lớn hơn thì từ đó được dùng phổ
biến hơn Điều tra về độ phân bố (hay độ phủ văn bản) của từ có ý nghĩa thực
tiễn rất lớn Điều này sẽ được chúng tôi làm rõ ở các chương sau
Bậc của một từ, khi so sánh hai từ với nhau, từ nào có tần số lớn hơn thì có
bậc cao hơn, có nghĩa là từ nào có tần số cao nhất được xếp ở bậc 1 Như vậy, tiêu chuẩn để xếp hạng cho mỗi đơn vị từ vựng là tần số Tần số và bậc giúp ta định lượng được vốn từ
1 Từ đây cho đến cuối luận văn khái niệm từ được hiểu là đơn vị từ vựng (gồm từ đơn, từ ghép,
t ừ láy và thành ngữ)
Trang 13Ví dụ, kết quả thống kê một số từ như sau: bậc (1), từ (2), tần số (3), độ phân bố (4):
Bảng 1.1 Kết quả thống kê một số từ trong thơ Tố Hữu
Để đi đến một nhận xét có tính tổng hợp, chúng tôi phải đi vào những kết
quả khảo sát là những yếu tố ngôn ngữ có giá trị biểu hiện nghĩa, buộc chúng tôi
phải phân tích từng số liệu thống kê để minh xác vấn đề Phương pháp này tỏ ra
rất hiệu quả trong việc đem lại những nhận thức mới từ vấn đề nghiên cứu
Phương pháp so sánh:
Ở một vài chỗ cần so sánh với các thể loại văn bản khác, chúng tôi đã sử
dụng phương pháp này đưa ra nhận xét cho kết quả thống kê một cách khách quan hơn
Bốn phương pháp trên đây không phải thực hiện riêng lẻ, biệt lập mà phối
hợp với nhau trong suốt quá trình nghiên cứu, giải quyết những vấn đề mà luận văn đề ra
Trang 146 Nh ững đóng góp của luận văn
Về phương diện lý luận, luận văn trình bày một bức tranh tổng quát về vấn
đề ngôn từ trong thơ Tố Hữu (xét trên phương diện từ vựng) thông qua việc
thống kê định lượng Từ đó, luận văn mong góp phần làm sáng tỏ hơn đặc điểm
của ngôn từ trong thơ Tố Hữu: chính là vì ngôn ngữ thơ nói chung, thơ Tố Hữu nói riêng, toàn bộ gánh nặng diễn đạt các ý nghĩa được đặt trên vai các phương
tiện từ vựng, khiến cho từ vựng trong thơ Tố Hữu vô cùng phong phú Độ phong phú của từ vựng cũng như ý nghĩa của sự phong phú ấy được trình bày chi tiết trong luận văn là một bằng chứng điển hình Hoặc các trường từ vựng - ngữ
nghĩa với số lượng từ vựng phong phú và đa dạng về ý nghĩa cũng là bằng
chứng tương tự Điều này có thể mở ra một cái nhìn mới trong công việc nghiên
cứu ngôn từ trong thơ: những nét đặc thù của ngôn ngữ thơ, cái linh hồn của ngôn ngữ thơ, hay nói cách khác, những điểm dị biệt của ngôn ngữ thơ so với các thể loại văn chương khác không phải chỉ ở độ phong phú từ vựng, mà còn ở
cấu trúc từ vựng - ngữ nghĩa trong ngôn ngữ thơ Mặt khác, cũng qua đây luận văn góp phần khẳng định giá trị của phương pháp thống kê định lượng trong nghiên cứu ngôn ngữ văn chương
Về mặt thực tiễn, những kết quả thống kê định lượng của luận văn là những
cứ liệu đo đếm được một cách ngẫu nhiên và khách quan, phản ánh bản chất của
hiện tượng được khảo sát, giúp ích cho người nghiên cứu và giảng dạy thơ Tố
Hữu có niềm tin và hướng đến những nhận xét có căn cứ khi xem xét những sự
kiện ngôn ngữ Ngoài ra, luận văn còn cung cấp nhiều danh sách từ vựng theo
từng bình diện hay theo từng trường nghĩa, là chất liệu cần thiết cho trích dẫn và
giảm bớt cho người nghiên cứu công phu truy tìm tra cứu
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm
ba chương, tập trung vào các vấn đề sau:
Trang 15Trong chương 1, luận văn chủ yếu tập trung vào một vấn đề cơ bản là vốn
từ vựng Trong chương 2, luận văn đi vào khảo sát từ vựng trong thơ Tố Hữu trên các bình diện như cấu tạo, nguồn gốc và phạm vi sử dụng để qua đó chúng tôi xác định hiệu quả của kết quả thống kê và làm rõ giá trị biểu đạt của những con số ấy Cuối cùng, ở chương 3, luận văn chủ yếu khảo sát các chất liệu làm nên một số trường từ vựng - ngữ nghĩa mà người viết quan tâm
Trang 16Chương 1: TỔ CHỨC ĐỊNH LƯỢNG VỐN TỪ TRONG THƠ TỐ HỮU
Như chúng ta biết, thơ Tố Hữu đã có những thành công đáng kể trong thơ
ca cách mạng và kế tục một truyền thống tốt đẹp của thơ ca Việt Nam qua nhiều
thời đại Sức thu hút của thơ Tố Hữu với những thế hệ người đọc mấy chục năm qua chủ yếu là ở niềm say mê lý tưởng và tính dân tộc đậm đà trong nội dung và hình thức của thơ ông Vì vậy đi sâu nghiên cứu tổ chức định lượng vốn từ của thơ Tố Hữu là việc làm cần thiết
Tìm hiểu về tổ chức định lượng vốn từ là chúng ta xem xét cơ cấu tần số
của vốn từ (ví dụ có bao nhiêu từ xuất hiện 1 lần); xem xét kích thước của vốn từ,
tức là tìm tổng số từ khác nhau (L); xem xét kích thước của văn bản (độ dài của văn bản), tức là tìm tổng số lượt từ xuất hiện (N)
Tại đây, với số liệu thống kê toàn tập, chúng ta có thể tìm hiểu độ phân bố
t ừ vựng (hay độ phủ văn bản của từ) thuộc vùng tần số cao và thấp, giúp chúng
ta có số liệu để kết luận về từ thường dùng nhất hay các từ ít dùng có số lượng
như thế nào và độ phủ văn bản của chúng ra sao Cũng có thể chúng ta xét độ
phong phú từ vựng, vì hướng khảo sát này sẽ cho ra một chỉ số có thể dùng để
đánh giá vốn từ cũng như độ phong phú từ vựng, vì tính dễ hiểu của từ trong thơ
Tố Hữu Đây là nội dung quan trọng của thống kê từ vựng (ở chương này) dựa
trên t ừ điển tần số P
2
P (có đảm bảo một cách tương đối về tính chân thực của kết
quả đo đếm) Cuối cùng, chúng ta cũng có thể quan tâm đến từ có tần số xuất
hiện cao nhất, vì ở đây, chúng ta có thể tìm ra một phần ý nghĩa nội dung của văn bản đang xét
2 Ở đây ta xem như vấn đề nhận dạng từ đã được giải quyết, nghĩa là ta có thể nhận dạng được cái gọi là từ trong văn bản Khi đó ta phải nhận dạng ra được đâu là từ A, đâu là từ B, và
đếm được trên văn bản mà ta khảo sát có bao nhiêu từ A, bao nhiêu từ B, Kết quả đo đếm
được phản ánh trong một từ điển tần số tức là một danh sách mà ở đó mỗi phần tử mang ít
nhất hai thông tin: dạng thức của đối tượng được thống kê và tần số xuất hiện của nó trong
văn bản.
Trang 17Tương tự như vậy, với số liệu thống kê của từng tập, chúng tôi dễ dàng có
cơ hội để thực hiện hai thao tác, đó là so sánh độ phong phú từ vựng của các tập
với nhau (tuy chưa phải là cách làm tối ưu) và có thể theo dõi được tốc độ tăng
thêm t ừ mới khi số lượng tác phẩm tăng dần qua từng chặng đường thơ của tác
1.2 Phân tích kết quả định lượng vốn từ
1.2.1 Với số liệu thống kê toàn tập
Trong văn bản thơ Tố Hữu, chúng tôi đã thống kê được 60099 đơn vị Trong số đó có:
2520 tên riêng, chiếm 4,19% (ví dụ: Hồ Chí Minh, Trường Sơn, Nga,
Nguyễn Trãi, … )
54 số đếm trong dãy số tự nhiên, chiếm 0,09%
4 cụm số đếm gồm số và chữ, chiếm 0,01% (ví dụ: 31 triệu, 50 triệu, 75
tri ệu),
7 cụm số chỉ ngày tháng năm cụ thể, chiếm 0,01% (ví dụ: 5-8, 9-8, 13-8),
và 175 cụm từ chỉ số đếm, chiếm 0,29% (ví dụ: sáu trăm triệu, nghìn chín trăm
b ảy chín, hai mươi lăm triệu, )
Như vậy, tổng số lượt từ không tham gia vào việc định lượng vốn từ (ở chương 1 và chương 2) là 2760, còn lại N = 57339 lượt từ Trong số này có L =
6102 từ khác nhau
Như đã chỉ ra ở mục 1.1, ở chương này chúng tôi tập trung xét độ phân bố
và độ phong phú của từ vựng ở các phần sau nay
Trang 18Theo T ừ điển tần số (phụ lục 12), chúng tôi tạm chia từ vựng trong thơ Tố
Hữu theo hai vùng tần số để tiện xem xét độ phân bố (độ phủ văn bản) của
chúng: vùng tần số cao (là những từ có tần số lớn hơn 11) và vùng tần số thấp (là những từ có tần số nhỏ hơn 11)
a Độ phân bố của các từ thuộc vùng tần số cao
Chúng tôi xét độ phân bố của từ vựng có tần số cao là nhằm chỉ ra một cách cụ thể mức độ sử dụng rộng rãi (tính phổ biến) của chúng, bằng cách lập
bảng gồm 8 vùng tần số Trong mỗi vùng, chúng tôi tính 7 chỉ số (ở 7 cột) và có
ý nghĩa cụ thể như sau (lấy vùng tần số 500 → 587 trong bảng 1.2 để minh họa):
- Cột (1): Vùng tần số: Trong vùng này, tần số thấp nhất là là 500 và tần
số cao nhất là 587
- Cột (2): Số lượng từ khác nhau: Trong vùng này có Li = 2 từ khác nhau
- Cột (3): Toàn tập thơ Tố Hữu có L = 6102 từ khác nhau, vậy số lượng các từ khác nhau trong vùng này chiếm một tỉ lệ là:
2
6102
Li L
- Cột (4): Tổng số từ khác nhau ở các vùng trước đó và vùng này gộp lại
- Cột (7): Cho tới vùng này, tổng tần số của các từ của tất cả các vùng đã
phủ bao nhiêu phần trăm văn bản: 1,43% + 1,90% = 3,33%
Trang 19Điều này cho chúng ta biết rằng 3 từ hay dùng nhất (đó là các từ ta, một,
nh ững) trong thơ Tố Hữu đã chiếm tới 3,33% văn bản thơ Tố Hữu
Các kết quả chi tiết được trình bày trong bảng 1.2:
B ảng 1.2 Độ phân bố của từ thuộc vùng tần số cao trong thơ Tố Hữu
(Xin xem T ừ điển tần số để biết danh sách các từ thuộc 8 vùng tần số cao
này)
b Độ phân bố của các từ thuộc vùng tần số thấp
Thực hiện sự tính toán tương tự cho các từ có tần số thấp nhất, từ 10 trở
xuống, chúng tôi được bảng 1.3:
Bảng 1.3 Độ phân bố của từ thuộc vùng tần số thấp trong thơ Tố Hữu
Trang 20(Xin xem T ừ điển tần số để biết danh sách của các từ thuộc vùng tần số
B ảng 1.4 Độ phân bố (độ phủ văn bản) từ có tần số cao và từ có tần số
th ấp trong thơ Tố Hữu
Như vậy, xét trong sự đối lập với từ thuộc vùng tần số cao, từ thuộc vùng
tần số thấp chiếm 85,45%, tương đương với 5215 từ khác nhau, nhiều gấp 5,88
lần số từ thuộc vùng tần số cao Hay nói cách khác, số từ xuất hiện từ 11 lần trở lên chỉ chiếm gần một phần sáu tổng số từ khác nhau (6102 từ) Đây chính là số
liệu chứng minh cho độ phong phú từ vựng của thơ Tố Hữu mà chúng tôi sẽ xem
xét cụ thể dưới đây
1.2.1.2 Độ phong phú từ vựng
Trang 21Phần này chúng tôi đánh giá vốn từ hay độ phong phú từ vựng dựa vào quan niệm một văn bản mà từ ngữ càng ít lặp lại thì độ phong phú của nó càng cao thông qua tỉ số R L
Như vậy trung bình cứ khoảng 10.000 lượt từ thống kê ở thơ Tố Hữu, sẽ có
1060 từ khác nhau hay cứ khoảng 1000 lượt từ thống kê ở thơ Tố Hữu, sẽ có
106 từ khác nhau Ở các loại văn bản khác nhau, tỷ số này cũng khác nhau
Chẳng hạn như ở ngôn ngữ báo chí – chính luận, với độ dài N bằng 120.000 từ,
có L bằng 7260; tỷ số này sẽ là:
7260 0,060 [22,58]
120000
L R N
Đúng là nếu độ dài văn bản càng lớn thì tỉ số R càng nhỏ đi bởi vì vốn từ
là có hạn, khi độ dài văn bản khảo sát càng lớn thì càng nhiều từ lặp lại Do vậy,
độ dài của văn bản báo chí – chính luận lớn hơn độ dài văn bản của thơ Tố Hữu
gấp gần 2 lần nên tỉ số R của nó nhỏ hơn tỉ số R của thơ Tố Hữu gần 2 lần cũng
là điều dễ hiểu Điểm đáng lưu ý là, N của báo chí - chính luận nhiều gấp hơn 2
lần N của thơ Tố Hữu nhưng L của báo chí - chính luận lại không lớn hơn L của thơ Tố Hữu bao nhiêu Như vậy, vốn từ trong thơ Tố Hữu phong phú hơn Điều này có thể giải thích được Các bài báo, các tác phẩm chính luận thường viết về
một số đề tài nhất định Xoay quanh đề tài này, trong nhiều bài báo khác nhau, nhiều tác phẩm chính luận khác nhau có một khối lượng từ nhất định được lặp
Trang 22lại Trong thơ Tố Hữu, các vấn đề được đề cập rộng rãi hơn, toàn diện hơn về
cuộc sống đấu tranh giành độc lập và xây dựng xã hội trong suốt một chặng đường dài hơn 60 năm Hơn nữa, ở thể loại thơ ca, tác giả được phép sử dụng
vốn từ phong phú hơn và có liên quan nhiều đến phong cách của tác giả Ở báo chí - chính luận hay truyện kí, điểm này rất khó thể hiện
Tuy vậy, chúng tôi cũng ý thức rằng sự so sánh tỉ số R giữa hai văn bản có
độ dài N chênh lệch nhau gấp hai lần là chưa đủ cơ sở để kết luận về độ phong phú từ vựng Do vậy, chúng tôi tiếp tục theo dõi sự giảm dần của từng khoảng
tần số và thấy rằng số lượng từ khác nhau tăng lên rất nhanh Ta có thể xem đây cũng là cứ liệu để kiểm tra độ phong phú từ vựng Cụ thể là:
B ảng 1.5 Khảo sát tần số và lượng từ khác nhau của toàn tập thơ
Trong đó:
fi: khoảng tần số;
Li: số lượng từ khác nhau của từng khoảng tần số;
L: số lượng từ khác nhau của toàn văn bản
Số lượng từ chỉ xuất hiện 1 lần là 2772 từ, chiếm tỉ lệ 45,42% Số lượng từ
xuất hiện 2 lần là 923, chiếm tỉ lệ 15,12% Số lượng từ xuất hiện 1 và 2 lần là
3695, chiếm 60,54% tổng số từ, nghĩa là trong kho từ của thơ Tố Hữu, hơn 60% trường hợp Tố Hữu đã dùng từ chỉ lặp lại một lần hoặc không lặp lại lần nào
Trang 23Nếu so sánh văn bản truyện ký với thơ Tố Hữu bằng bảng số liệu và đồ thị sau đây thì về phương diện các từ chỉ dùng một lần, vốn từ của ngôn ngữ thơ Tố
Hữu cũng phong phú hơn của truyện kí Việt Nam:
Về tính dễ hiểu, thơ Tố Hữu thể hiện rõ đặc điểm này khi ta tìm hiểu tổng
số lần xuất hiện của những từ có tần số cao nhất trong thơ ông Kết quả thống kê
của chúng tôi cho thấy 1000 từ tác giả hay dùng nhất có lổng số lần xuất hiện là
44686, chiếm tỷ lệ 77,93% độ dài văn bản khảo sát; 2000 từ hay dùng nhất có
tổng số lần xuất hiện là 51497, chiếm 89,81% Như vậy, độc giả muốn đọc thơ
Tố Hữu, nắm vững 2000 từ thông dụng nhất họ có thể hiểu được khoảng 89,81%
tổng số từ gặp trong thơ ông Mặt khác, Vũ Thế Thạch, Phạm Thị Cơi [22] đã
kết luận: ở ngôn ngữ báo chí - chính luận, 2000 từ hay dùng nhất có tổng số lần
xuất hiện chiếm 91% độ dài văn bản khảo sát Nghĩa là, nắm được 2000 từ hay dùng nhất ở thể loại này, người ta có thể hiểu được tới 91% tổng số từ gặp trong
một bài báo hay một tác phẩm chính luận bất kỳ Như vậy, thơ Tố Hữu cũng gần
Trang 24gũi với thể loại chính luận (tỉ lệ 82,96% và 91%) Mà thể loại văn chính luận là
thể văn của quần chúng, thường là dễ hiểu nên kết quả so sánh này cũng giúp ta
có căn cứ để kết luận về tính dễ hiểu của thơ Tố Hữu
Kết quả thống kê độ phân bố của từ có tần số cao ở mục 1.2.1.1 đã giúp chúng tôi dễ nhận ra những từ có tần số cao đặc biệt
Chúng tôi thấy có 22 từ xuất hiện hơn 200 lần, 10 từ xuất hiện hơn 300 lần,
4 từ xuất hiện hơn 400 lần, 3 từ xuất hiện trên 500 lần và từ ta xuất hiện đến 821
lần, cụ thể như bảng 1.6 :
B ảng 1.6 Thống kê từ xuất hiện trên 200 lần
Với : (1) Từ, (2) Tần số, (3) Bậc, (4) Độ phủ văn bản
Trang 25Xét bảng thống kê trên đây, nếu trừ những hư từ và những từ tuy không
thật là “hư” nhưng mang giá trị như là những yếu tố “đưa đẩy” thì còn lại là
những thực từ, với hầu hết là từ đơn: ta, tôi, anh, em, người, ai, con, đi, nhớ, đời,
năm, … Đặc biệt, từ ta xuất hiện đến 809 lần và từ tôi xuất hiện 333 lần Ta đây
là dân tộc, là nhân dân, là mỗi người Việt Nam, là bản thân nhà thơ và mang lại cho thơ ông một màu sắc tình cảm đặc biệt thấm thía:
(1) Ta đi giữa ban ngày / Trên đường cái ung dung ta bước /
Trần Đình sử cũng có nhận xét về cách dùng từ ta của nhà thơ Tố Hữu:
Hầu hết thơ Tố Hữu đều bắt đầu từ một chữ "Tôi" ("ta", "chúng ta ") Đó
là một thế giới, một tiếng nói trước thế giới Thiếu đại từ này, nhà thơ dường như chỉ trữ tình bằng mắt, bằng ý, bằng tâm, mà miệng thì câm lặng Thiếu đại
Trang 26t ừ này thì nhà thơ hòa tan vào thế giới xung quanh, làm lu mờ bản ngã Cái tôi tro ng thơ Tố Hữu khơi một nguồn năng lượng mới trong thơ ca cách mạng của
ta Đó là yếu tố thứ nhất tạo nên tiếng nói quyền uy cách mạng của nhà thơ Tố
H ữu
Cái "tôi" mà Tố Hữu nói lên trong mấy bài Giữa thành phố trụi, Lên Tây
B ắc, Bắn, không bao giờ là một cá nhân tự quay vào mình, tự đóng cửa tâm
hồn để soi gương, mà trái lại đó là một tâm hồn đang muốn suy nghĩ, ca hát, căm giận cùng với những cảnh, những người của kháng chiến
Với từ anh, tác giả dùng để tự xưng với các em nhỏ, với người yêu Tác giả cũng dùng từ này để gọi Bác Hồ là Anh hay gọi anh Lưu, anh Diểu, anh Phạm
H ồng Thái, anh Vawn Thiên Tường, anh Nguyễn Văn Trỗi, anh No-man Đặc
biệt tác giả đã dùng một số lượng lớn từ anh để gọi người thợ, người dân quê,
n gười Thượng, người bạn tù, đồng bào, anh nông dân, anh vệ quốc quân, anh chi ến lũy, anh bộ đội, anh pháo binh, anh xung kích, anh dân công, anh công nhân, anh gi ải phóng quân, anh xã đội, anh thương binh, anh họa sĩ, Tố Hữu
còn gọi nước Nga và thành Rôm là anh và gọi bạn bè quốc tế cũng là anh
Trên đây là kết quả thống kê toàn văn bản, phần tiếp theo là kết quả thống
kê cho từng tập
1.2.2 Với số liệu thống kê từng tập
Xin được nhắc lại, chúng toi dùng số liệu thống kê của từng tập thể để so sánh độ phong phú từ vựng của các tập với nhau và theo dõi được tốc độ tăng thêm từ mới khi văn bản dần dài hơn Sau đây là kết quả thống kê tổng quát của
từng tập thơ
B ảng 1.7 Kết quả thống kê N và L của từng tập thơ
Trang 27Kết quả thống kê ở bảng 1.4 cho thấy: tập Từ ấy và tập Ra trận có N và L
lớn nhất vì là hai giai đoạn sáng tác quan trọng của tác giả
Như trên đây đã xét, tỉ số R của từng tập cũng được coi là một tiêu chí xác định vốn từ của từng tập Theo các tập của văn bản, chúng tôi chia văn bản thành 7 đoạn Số các từ khác nhau trong tập thứ nhất (theo thứ tự: Từ ấy, Việt
Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa, Một tiếng đờn, Ta với ta) được kí hiệu là L1 và tổng số lượt từ khác nhau của tập thứ nhất được kí hiệu là N1 Quan hệ
Trang 28giữa L1 và N1 là tỉ số L1/N1 Kết quả điều tra được trình bày ở bảng 1.8: Bảng
1.8 T ỉ số Ni Li c ủa từng tập thơ (i đi từ 1 đến 7)
Bảng thống kê trên cho kết quả của những hiện tượng đặc biệt trong vốn từ
của các tập Trước hết, vốn từ ở tập Ta với ta là phong phú hơn cả:
Có thể lý giải độ phong phú từ vựng ở hai tập này như sau: Tập thơ Máu và
hoa (1972 - 1977) với 35 bài thơ, là chặng đường thơ Tố Hữu trong những năm kháng chiến chống Mỹ quyết liệt và hào hùng của dân tộc cho tới ngày toàn
thắng Thơ Tố Hữu lúc này là khúc ca ra trận, là mệnh lệnh tiến công và lời kêu
gọi, cổ vũ hào hùng cho toàn dân tộc trong cuộc chiến đấu ở cả hai miền Nam,
Bắc Khẳng định ý nghĩa lớn lao cao cả của cuộc kháng chiến chống Mỹ đối với
lịch sử dân tộc và thời đại, thơ Tố Hữu ở tập này cũng thể hiện những suy nghĩ, phát hiện của nhà thơ về dân tộc và con người Việt Nam mà tác giả luôn luôn ca
ngợi với niềm tự hào và cảm phục Đó là nguyên nhân chủ quan khiến từ ngữ trong thơ ông ở giai đoạn này thật phong phú để đáng được lưu tâm
Tập thơ Ta với ta (1993 - 2002) với 48 bài thơ, tuy đây không phải là giai
đoạn đất nước có chiến tranh nhưng không phải vì thế mà thơ ông trở nên nghèo nàn Trái lại, bằng khuynh hướng trữ tình chính trị, với sự nhạy cảm trước các
vấn đề thời sự, tuy vẫn dễ nhận ra nét ổn định của thơ Tố Hữu nhưng đã không
Trang 29còn là mạch cảm hứng duy nhất hay nổi trội nhất Đã qua những thăng trầm, trải nghiệm trước cuộc đời, như một lẽ thường, nhà thơ muốn chiêm nghiệm về cuộc
sống, về lẽ đời, hướng tới những quy luật phổ quát và kiếm tìm những giá trị
bền vững Điều đáng chú ý hơn cả, cái làm nên sự phong phú trong vốn từ
vựng của ông ở tập thơ này là vì Tố Hữu vẫn kiên định niềm tin vào lý tưởng và con đường cách mạng Nếu không dùng kết quả thống kê để kiểm tra về vấn đề này thì chúng ta dễ bị rơi vào cảm giác là thơ ông đã bắt đầu có sự khuôn sáo Sau hai tập trên, tập Việt Bắc có tỉ số độ phong phú từ vựng là:
trạng thái phong phú, đa dạng: tình quân dân "cá nước", nghĩa tình hậu phương
với tiền tuyến, miềm ngược với miền xuôi, nghĩa tình gắn bó người cán bộ với
quần chúng, lòng kính yêu của nhân dân với lãnh tụ, tình cảm ấy chi phối cả cái nhìn và cảm xúc về thiên nhiên đất nước với ý thức tự hào của con người làm
chủ Và tất nhiên những yếu tố này cũng đã chi phối đến độ phong phú từ vựng Riêng tập thơ Từ ấy là có vốn từ vựng ít nhất Có thể hiểu điều này là một
lẽ hiển nhiên Trong mười năm đầu hoạt động, Tố Hữu là một thanh niên học sinh mới giác ngộ, say mê với lý tưởng nhưng chưa thể hiểu rõ được bước đi của
lịch sử, với đường lối của Cách mạng Việt Nam Buổi đầu, thơ ông chỉ là những tình cảm yêu ghét hồn nhiên, có khi còn gượng gạo, đối với người và việc trước
mắt Đó là những lý do dễ thấy để hiểu rằng vốn từ vựng trong thơ Tố Hữu ở
tập Từ ấy là chưa thật sự trưởng thành
Trở lại vấn đề xét độ phong phú của từ vựng, quả thật, nếu chúng ta chỉ so sánh tỉ số R giữa các tập có độ dài N chênh lệch nhau là chưa đủ cơ sở Do vậy,
phần tiếp sau đây chúng tôi sẽ chuyển sang một hướng tiếp cận khác: tính tốc độ
tăng thêm từ mới ở từng tập nhằm một lần nữa có thêm cứ liệu để so sánh độ
Trang 30phong phú từ vựng các tập thơ khi chúng vẫn còn được xét ở những độ dài khác nhau (vì mỗi tập thơ mang ý nghĩa của một giai đoạn sáng tác nên chúng ta khó
có thể tách chúng ra để chia đều toàn văn bản) Từ đó chúng ta có thể trả lời câu
hỏi có hay không giữa nhu cầu sáng tác và nhu cầu sử dụng từ vựng mới của tác
giả Sau đây là kết quả thống kê tốc độ tăng từ mới ở bảng 1.9
B ảng 1.9 Tốc độ tăng từ mới ở từng tập thơ Tố Hữu
Kí hiệu:
i Tập thứ i (từ 1 đến 7 theo thứ tự Từ ấy, Việt Bắc, Gió
lộng, Ra trận, Máu và hoa, Một tiếng đờn, Ta với ta),
ni Độ dài văn bản của tập thứ i,
li Số lượng từ khác nhau trong tập thứ i,
Ni = ∑ni Tổng độ dài của i tập đầu,
ai Số lượng các từ không có mặt trong i – 1 tập đầu và có
Trang 31B ảng 1.10 So sánh độ phong phú (1) và độ tăng từ mới (2) của từng tập
thơ
Thật thú vị khi chúng tôi nhận ra sự trùng khớp giữa độ phong phú từ vựng
và độ tăng từ mới ở hai tập Máu và hoa và tập Ta với ta Đây là hai tập có lượng
từ mới tăng đột biến, phù hợp với độ tăng độ phong phú từ vựng và cũng phù
hợp với giai đoạn sáng tác của tác giả (như chúng tôi đã có nhận xét ở trên)
1.3 Nhận xét khái quát về vốn từ vựng trong thơ Tố Hữu
Đến đây ta có thể nói rằng vốn từ trong thơ Tố Hữu là phong phú và đa
dạng Tổng số từ tác giả đã sử dụng lên đến 6102 Ưu điểm này tuy chưa phải là
chủ yếu đối với một nhà thơ, nhưng thực tế nó rất quan trọng Bởi vì vốn từ phong phú của nhà thơ chứng tỏ một vốn sống rộng rãi, những kiến thức nhiều
mặt và một sự học tập tích lũy dài ngày để nắm lấy cái kho nguyên liệu cần vào
bậc nhất ấy Cùng với những biện pháp nghệ thuật khác, vốn từ vựng phong phú
của Tố Hữu đã giúp cho tiếng thơ ông tập trung về nhiều đề tài và quy tụ vào
một mục đích chính: nhân dân và cách mạng
Cũng cần nói thêm rằng, cách Tố Hữu làm giàu vốn từ ngữ có những điểm đáng chú ý Tố Hữu rất thông thạo tiếng Huế và đã từng sống nhiều năm ở nhiều địa phương khác nhau nhưng tiếng địa phương không phải là nguồn tốt nhất có
thể làm giàu vốn từ của tác giả Kết quả thống kê vốn từ địa phương chỉ có 82 từ, chiếm tỉ lệ 0,92% Nguồn từ vựng chủ yếu vẫn là trong ngôn ngữ toàn dân
Trang 32Cách làm giàu về vốn từ của nhà thơ còn là sự phát triển của từ đồng sở chỉ Trong thơ Tố Hữu, các nhóm từ này đặc biệt phong phú Chẳng hạn, để diễn đạt
một trạng thái tâm lý - tình cảm là nỗi buồn, thơ Tố Hữu đã dùng: buồn lo, buồn
đau, buồn tênh, buồn thảm, buồn thiu, hay là về tình thương, Tố Hữu dùng: thương, cảm thương, thương mến, thương đau, thương nhớ, thương yêu; hay là
trong lớp từ xưng gọi, tác giả thường xưng mình bằng đứa, anh, con, cháu, bạn,
ta, chú, chúng con Chúng ta nhận thấy những từ đồng sở chỉ này mang nhiều
chức năng gợi cảm và khả năng diễn tả riêng, có tác dụng phân biệt nghĩa, do
vậy chúng dễ làm thỏa mãn yêu cầu to lớn trong sự biểu đạt của tác giả Những
từ như thương yêu, yêu thương, thương mến, mến thương có khi chúng không
có sự khác biệt về sắc thái ý nghĩa, nhưng rất cần để tác giả tránh lặp khi phải dùng nhiều lần một khái niệm Đây cũng là một trong những lý do góp phần làm nên sự phong phú từ vựng trong thơ Tố Hữu
Những kết quả thống kê và những nhận xét rút ra trên đây ít nhiều đã phản ánh được đặc điểm về vốn từ vựng trong thơ Tố Hữu Để hoàn chỉnh hơn mặt này, trên cơ sở tư liệu thống kê như vậy, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu những
vấn đề khác ở chương tiếp theo dưới đây, chẳng hạn như về bình diện cấu tạo từ, bình diện nguồn gốc của từ, bình diện phạm vi sử dụng hay mức độ sử dụng của
từ
Trang 33Chương 2: CÁC BÌNH DIỆN CỦA TỪ VỰNG TRONG THƠ TỐ HỮU
Như chúng ta biết, Từ vựng học nghiên cứu các bình diện: cấu tạo, nguồn
g ốc, phạm vi sử dụng và mức độ sử dụng của từ Đó là cơ sở để luận văn này tìm
hiểu từ vựng trong thơ Tố Hữu với các bình diện như trên
Cấu tạo từ là một trong các bình diện của hình thức mà chúng tôi xét đến khi nghiên cứu ngôn từ trong thơ Tố Hữu Chúng tôi xem đây là một nhiệm vụ hàng đầu nếu muốn thực hiện một cách tốt nhất việc xem xét từ vựng của một tác giả
Ở bình diện này luận văn xét đến các trường hợp từ đơn, từ ghép, từ láy và thành ngữ Sau đây là kết quả thống kê
B ảng 2.1 Phân loại từ ngữ về phương diện cấu tạo từ của từng tập thơ
Trang 342.1.1 T ừ đơn trong thơ Tố Hữu
Về mặt số lượng, theo kết quả thống kê, từ đơn trong thơ Tố Hữu lên đến
47991 lượt từ, chiếm khoảng 83,70% tổng số lượt từ So với các nhà thơ cùng giai đoạn Thơ Mới, theo thống kê của Vũ Thị Ân [1, 211], tỉ lệ lượt từ đơn trong các tác phẩm thơ của các nhà Thơ Mới là khoảng 88,53% (trong tổng số lượt từ) Như vậy thơ Tố Hữu có tỉ lệ từ đơn thấp hơn, song từ đơn vẫn là đơn vị nòng cốt trong vốn từ vựng của thơ Tố Hữu xét về mặt cấu tạo từ Với chức năng của mình, từ đơn có khả năng phản ánh các loại đối tượng khác nhau trong hiện thực (từ chỉ sự vật, hiện tượng, hành động, quá trình, trạng thái, tính chất); biểu thị các phạm trù (thời gian: đang, đã, sẽ , nguyên nhân: bởi, do, vì , phủ định:
chưa, không, đừng , đồng nhất: cũng, cùng; tiếp diễn: cứ, vẫn, quan hệ: hay, và,
v ới, mức độ: rất, hơi) ; dùng để nhấn mạnh như các từ: cái, cho, hàng, là, mà, thì, r ằng (ví dụ: cái lũ giặc già, vằn cho nát mặt, hàng dây tiếng rủa nguyền trên
mi ệng chủ, tôi đã là con của vạn nhà, mà dẫu phải mai đây rồi sức kiệt, lạnh thì
n ằm chòng queo, anh đã biết rằng ); dùng để chỉ tình cảm (ví dụ: a các anh chi ến lũy, ô tiếng hót vui say, chao hiu quạnh trên vùng khô đỏ chạch );
Theo kết quả thống kê của Hồ Lê trên một số từ điển tiếng ViệtP
3
P
, có gần
8000 từ đơn [12, 183] Theo thống kê của chúng tôi trên bảy tập thơ của Tố Hữu,
tổng số từ đơn khác nhau là 2617 từ, chiếm tỉ lệ 32,71% (so với tổng số 8000 từ) Theo chúng tôi, tỉ lệ này cho ta biết vốn từ đơn trong thơ Tố Hữu đạt đến độ phong phú
Tại sao trong thơ Tố Hữu nói riêng và trong thơ các nhà thơ Việt Nam khác nói chung, từ đơn chiếm số lượng "áp đảo"? Theo Vũ Thị An:
Đây là nguyên do về loại hình của tiếng Việt - một ngôn ngữ đơn lập điển hình có lượng từ đơn cao" và sự cần thiết để diễn tả những rung động sâu xa sâu kín c ủa tâm hồn bằng tiếng mẹ đẻ - tiếng Việt - làm cho lượng từ đơn được
3Đào Văn Tập, Từ điển Việt Nam phổ thông, Sài Gòn, 1951
Thanh Nghị, Việt Nam tân từ điển, Sài Gòn, 1952
Trang 35dùng v ới tần số cũng như độ phân bố cao Ngoài ra, có lẽ không thể không kể đến nguyên do đặc điểm của ngôn ngữ thi ca, đặc điểm nội dung biểu hiện, cảm
h ứng chủ đạo cũng như phạm vi đề tài của tác phẩm [1, 153]
Nhận định trên đây của Vũ Thị Ân cũng được chứng minh bằng kết quả nghiên cứu cụ thể của chúng tôi trong thơ Tố Hữu Đó là trong số 109 từ có tần
Trang 37Ở cả bảy tập thơ của Tố Hữu, số lượng từ đơn không giảm dần hay tăng
dần một cách đều đặn mà ổn định (có biến đổi nhưng không đáng kể) Chúng ta tham khảo bảng 2.3 để hiểu rõ nội dung này, Cũng cần lưu ý trường hợp ở tập
Vi ệt Bắc và tập Máu và hoa, đây là hai giai đoạn sáng tác quan trọng của tác giả
và lượng từ đơn được sử dụng nhiều Chúng ta lý giải hiện tượng này như thế nào? Theo chúng tôi, suốt chặng đường thơ của Tố Hữu đều diễn ra trong một
thời đại mà dường như làm thơ cũng chính là hành động, thơ không phải là cái
cần dùng để tự giải thoát, càng không phải vì muốn có một sự nghiệp thơ ca Hơn thế nữa, tình cảm và tiếng nói của Tố Hữu bao giờ cũng mộc mạc đơn giản
Trang 38– cái đơn giản thật thà của cuộc chiến đấu nghiêm khắc, và đạt đến cái thật đơn
giản của cuộc sống Như vậy đây là mảnh đất tốt cho từ đơn tiếng Việt hoạt động trong thơ Tố Hữu
B ảng 2.3 Tỉ lệ từ đơn của các tập thơ
2.1.2 T ừ ghép5
Xét về mặt ngữ âm, từ ghép trong tiếng Việt là từ có nhiều âm tiết (ví dụ:
đồng chí, anh hùng, quê hương, cách mạng, con người, anh em, chiến sĩ) Theo
kết quả thống kê, về mặt số lượng, từ ghép chiếm khoảng 13,30% tổng số lượt
từ Số lượng tuyệt đối của từ ghép trong thơ Tố Hữu là 7628 lượt từ (trong tổng
số 57339 lượt từ của toàn tập)
6
Bên c ạnh những đơn vị rõ ràng là từ đơn, trong tiếng Việt nói chung thơ Tố Hữu nói riêng
có m ột số lượng rất lớn đơn vị từ vựng, có người cho là từ ghép, có người cho là ngữ (cố
định), như hôm nay, loài người, sáng ngời, … Ranh giới của từ trong tiếng Việt là một vấn đề
c ực kỳ phức tạp, trong nhiều trường hợp ý kiến chưa có được sự nhất trí Trong tình hình như
vậy, luận văn này tạm gọi là từ ghép cho các từ rõ ràng là ghép và cho cả ngữ cố định Ví dụ
hôm nay là từ ghép
7
T ỉ lệ giữa số từ đơn khác nhau với số từ đơn toàn tập Ở phần từ ghép chúng tôi cũng sử
d ụng công thức này
Trang 39Như chúng ta đều biết, "từ ghép có khả năng biểu thị khái niệm một cách
ổn định và xác định là điều kiện cần thiết và quan trọng để thực hiện chức năng thông báo ngày càng phức tạp của xã hội" [12, 355] Vì vậy, tuy số lượt từ
chỉ bằng 15,89% so với từ đơn nhưng số lượng từ khác nhau của từ ghép lại nhiều hơn số lượng từ khác nhau của từ đơn là 175 từ Mặt khác, trong tổng số
2772 từ khác nhau chỉ xuất hiện 1 lần của toàn tập thì có đến 1708 từ ghép, chiếm tỉ lệ 61,62% (trong khi đó chỉ có 681 từ đơn có tần số bằng 1, chiếm tỉ lệ 24,57%) Từ ghép trong thơ Tố Hữu đã đóng một vai trò quan trọng như vậy Cũng như từ đơn, số lượng từ ghép không tăng dần mà thậm chí còn giảm
ở tập Việt Bắc và tập Máu và hoa Tập Ta với ta có số lượng từ ghép là phong
phú hơn cả, bởi có thể đề tài và nội dung cần phản ánh trong thơ đã thay đổi, khiến nhà thơ không thể không sử dụng lớp từ ghép – lớp từ phái sinh thường có nghĩa biểu thị các khái niệm, các phạm trù thuộc lĩnh vực chính trị xã hội ở bảng 2.3
B ảng 2.4 Bảng tỉ lệ từ ghép giữa các tập thơ
Sau đây là bảng tóm tắt mô tả lượng từ đơn và từ ghép ở các tập
Trang 40B ảng 2.5 So sánh tỉ lệ từ đơn và từ ghép
Trên đây chúng tôi đã cố gắng khảo sát lượng từ đơn và từ ghép trong thơ
Tố Hữu Từ đơn luôn chiếm số lượng "áp đảo" ở các tập nhưng không có nghĩa
là tác giả không đủ nguyên liệu để biểu thị các khái niệm, các phạm trù thuộc lĩnh vực chính trị xã hội, mà hầu như, ở mọi lúc, mọi nơi thơ Tố Hữu luôn chở đầy hiện thực cuộc sống của toàn dân tộc Như vậy, ở bước khảo sát này, ý nghĩa của kết quả thống kê không nhằm để chỉ ra độ phong phú của từ vựng cũng như độ phủ văn bản mà chỉ nhằm xem xét bình diện cấu tạo của từ vựng
T ừ láy - loại từ có giá trị cao không chỉ về phương diện nhạc tính do cấu
t ạo đặc biệt của nó mà còn do khả năng gợi tả ngữ nghĩa của nó [29, 155]
Nh ững bộ phận trong từ láy được tạo ra một cách có ý thức và dựa trên một số nguyên t ắc nhất định nào đó, chứ không phải hoàn toàn ngẫu nhiên [12, 110]
Từ láy trong thơ Tố Hữu cũng không nằm ngoài những đặc tính ấy
Về mặt số lượng, thơ Tố Hữu có 1613 lượt từ láy (trong tổng số 57339 lượt
từ của toàn tập), chiếm tỉ lệ 2,81% Tổng số từ láy khác nhau là 591 từ So với từ