1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thành phần loài cá ở các cảng cá tỉnh bình thuận

170 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 12,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó, chúng tôi nhận thấy cần phải tiếp tục nghiên cứu về thành phần loài cá biển nơi đây để khẳng định sự đa dạng và phong phú của các loài cá; đồng thời, qua đó điều tra tình hình ngu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TỐNG XUÂN TÁM

Thành phố Hồ Chí Minh - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Tống Xuân Tám

Mọi số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được công

bố trong bất cứ công trình nào khác

Các trích dẫn về bảng biểu, kết quả nghiên cứu của những tác giả khác, tài liệu tham khảo trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng và đúng theo quy định

TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2017

Tác giả luận văn

Đỗ Khánh Vân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn TS Tống Xuân Tám - người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô của Trường, Phòng Sau đại học, Khoa Sinh học - Bộ môn Sinh thái học, Động vật học - Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, Chi cục Thủy Sản Bình Thuận và người dân địa phương ở Thành phố Phan Thiết, Thị xã La Gi và huyện đảo Phú Quý đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện luận văn này

Trong quá trình đi thu mẫu ở Bình Thuận, tôi đã được các cán bộ của Chi cục Thủy sản tỉnh Bình Thuận, Ban Quản lý các bến cá, Ban Quản lý tàu cá huyện đảo Phú Quý đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành công việc Nhân đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với những sự giúp đỡ quý báu ấy, đặc biệt là sự giúp đỡ nhiệt thành của KS Huỳnh Quang Huy, Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản tỉnh Bình Thuận

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tận đáy lòng đến các bạn Huỳnh Thị Diệu Thủy, Danh Văn Lâm, Qua Đồng Công Thành, Thổ Thị Thái Thưa, Lê Thị Kim Anh, Nguyễn Duy Hải đã rất nhiệt tình giúp đỡ tôi khi đi thu mẫu trên đảo Phú Quý cũng như đã chăm sóc tôi những lúc say sóng khi di chuyển ra đảo

Qua đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến mẹ và em gái tôi, cùng những người thân yêu đã luôn ở bên cạnh chăm sóc và tạo động lực giúp tôi hoàn thành luận văn này

TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2017

Tác giả luận văn

Đỗ Khánh Vân

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Phụ lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN 4

1.1 Lược sử nghiên cứu khu hệ cá biển trên thế giới, ở việt nam và tỉnh Bình Thuận 4

1.1.1 Tình hình nghiên cứu khu hệ cá biển trên thế giới 4

1.1.2 Lược sử nghiên cứu khu hệ cá biển ở Việt Nam 4

1.1.3 Lược sử nghiên cứu khu hệ cá ở vùng biển tỉnh Bình Thuận 6

1.2 Đặc điểm tự nhiên và xã hội của tỉnh Bình Thuận 11

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên của tỉnh Bình Thuận 11

1.2.2 Đặc điểm chung về kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Thuận 16

1.3 Tình hình khai thác nguồn lợi cá ở tỉnh Bình Thuận 17

1.3.1 Năng lực tàu thuyền khai thác hải sản 17

1.3.2 Cơ cấu ngành nghề khai thác hải sản 17

1.3.3 Biến động thành phần các nhóm loài khai thác 20

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Thời gian, địa điểm và tư liệu nghiên cứu 23

2.1.1 Thời gian nghiên cứu 23

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 23

2.2 Phương pháp nghiên cứu cá 23

2.2.1 Ngoài thực địa 23

2.2.2 Trong phòng thí nghiệm 25

2.2.3 Phương pháp xây dựng bộ sưu tập cá 28

2.2.4 Phương pháp đánh giá nguồn lợi cá 29

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Thành phần các loài cá ở các cảng cá tỉnh Bình Thuận 30

Trang 6

3.1.1 Danh sách các loài cá ở các cảng cá tỉnh Bình Thuận 30

3.1.2 Đặc điểm khu hệ cá ở các cảng cá tỉnh Bình Thuận 56

3.1.3 Tình hình các loài cá biển trong Sách Đỏ thu được ỏ tỉnh Bình Thuận 66

3.1.4 So sánh mức độ gần gũi với các khu hệ cá khác 68

3.1.5 Cấu trúc về sinh thái của khu hệ cá ở các cảng cá tỉnh Bình Thuận 69

3.2 Giá trị sử dụng của các loài cá thu được ở các cảng cá tỉnh Bình Thuận 71

3.2.1 Cá khai thác tự nhiên làm thực phẩm 71

3.2.2 Cá có tiềm năng nuôi làm cảnh 71

3.2.3 Cá có khả năng nuôi thương phẩm 72

3.3 Nguyên nhân ảnh hưởng đến nguồn lợi cá 73

3.3.1 Khai thác quá mức 73

3.3.2 Ô nhiễm môi trường 74

3.3.3 Công tác quản lí và ý thức của người dân 75

3.4 Các biện pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi 75

3.4.1 Bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường 76

3.4.2 Tổ chức quản lí khai thác nguồn lợi thủy hải sản 76

3.4.3 Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức 78

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 7

Phụ lục 4 Một số hình ảnh về phương pháp nghiên cứu PL 63

Phụ lục 5 Phiếu điều tra cá ……… PL 65

Phụ lục 6 Nhãn cá dán trên lọ mẫu vật trưng bày PL 66

Phụ lục 7 Phiếu thu mẫu cá PL 66

Phụ lục 8 Biểu mẫu phân tích cá PL 67

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Số lượng tàu thuyền của từng nghề khai thác hải sản ở Bình Thuận 18

Bảng 1.2 Sản lượng khai thác các nhóm loài hải sản của các nghề khai thác 20

Bảng 2.1 Thời gian, địa điểm thu mẫu 23

Bảng 3.1 Danh sách các loài cá thu được ở các cảng cá tỉnh Bình Thuận 31

Bảng 3.2 Tỉ lệ các họ, giống, loài trong những bộ cá ở tỉnh Bình Thuận 56

Bảng 3.3 Thành phần và tỉ lệ các giống, loài trong những họ cá ở KVNC 57

Bảng 3.4 Tỷ lệ các bậc phân loại của hai lớp cá ở các cảng cá tỉnh Bình Thuận 61

Bảng 3.5 Các loài cá trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) ở KVNC 67

Bảng 3.6 So sánh các đơn vị phân loại ở KVNC với các khu hệ cá khác 68

Bảng 3.7 Tỷ lệ các nhóm sinh thái của khu hệ cá ở tỉnh Bình Thuận 69

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 1.1 Bản đồ huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận 12

Hình 1.2 Bản đồ tỉnh Bình Thuận 13

Hình 2.1 Sơ đồ chỉ dẫn các số đo ở cá xương (theo Rainboth W J., 1996) 26

Hình 2.2 Sơ dồ chỉ dẫn số đo ở cá đuối (theo Nguyễn Khắc Hường, 2001) 27

Hình 3.1 Biểu đồ thể hiện số lượng và tỷ lệ các bậc phân loại trong hai lớp cá

ở các cảng cá tỉnh Bình Thuận 62

Hình 3.2 Biểu đồ tỉ lệ % họ, giống, loài trong các bộ cá ở KVNC 65

Hình 3.3 Biểu đồ so sánh số loài cá phân bố theo mùa ở KVNC 66

Hình 3.4 Biểu đồ so sánh các đơn vị phân loại cá ở KVNC với các khu hệ khác 68

Hình 3.5 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ % các nhóm sinh thái của khu hệ cá ở các cảng cá tỉnh Bình Thuận 69

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Bình Thuận là tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, có vùng biển rộng với diện tích 52.000 km2 cùng nhiều điều kiện khá thuận lợi đã giúp tỉnh trở thành một trong những ngư trường lớn của Việt Nam Trung tâm tỉnh là thành phố Phan Thiết nằm cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 200 km về phía nam Cùng với thị xã La

Gi và huyện đảo Phú Quý, thành phố Phan Thiết là một trong 3 ngư trường trọng điểm của tỉnh Bình Thuận Với vùng biển rộng, có hoạt động tích cực của nước trồi vào các tháng gió mùa Tây Nam, nhiều sinh vật phù du, nước biển trong và sạch, đây

là nơi thích hợp cho sự phát triển của các loài cá Do đó có thể nói, cá biển nơi đây rất đa dạng và phong phú Thêm vào đó, lợi thế về biển đã giúp Bình Thuận có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành kinh tế biển; đặc biệt là khai thác và chế biến cá biển Từ đó, chúng tôi nhận thấy cần phải tiếp tục nghiên cứu về thành phần loài cá biển nơi đây để khẳng định sự đa dạng và phong phú của các loài cá; đồng thời, qua đó điều tra tình hình nguồn lợi, thực trạng khai thác và bảo vệ nguồn cá biển

ở tỉnh Bình Thuận

Mặc khác, vào dịp hè mỗi năm, Khoa Sinh học - Trường Đại học Sư phạm TP

Hồ Chí Minh thường tổ chức cho sinh viên năm 3 đi thực tập thiên nhiên Đợt thực tập này có ý nghĩa thiết thực nhằm củng cố các học phần đã học, trong đó có học phần Động vật học 2 (Động vật có xương sống) Khoa thường tổ chức cho sinh viên đi thực tập thiên nhiên ở thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận để giảm chi phí cho Nhà trường và sinh viên Tuy nhiên, tài liệu về thành phần loài cá biển ở nơi đây hầu như chưa đầy đủ, vì thế gây nhiều khó khăn cho sinh viên trong quá trình tập nhận biết nhanh và chính xác các loài cá khi đi thực tập thiên nhiên tại thành phố Phan Thiết - tỉnh Bình Thuận

Do đó, việc nghiên cứu thành phần loài cá biển ở thành phố Phan Thiết - tỉnh Bình Thuận để xây dựng nguồn tài liệu cho Khoa sinh học - Trường Đại học Sư phạm

TP Hồ Chí Minh là hết sức cần thiết, làm cơ sở cho việc định loại nhanh, hiệu quả, chính xác là một việc làm có ý nghĩa thiết thực nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

Trang 12

Từ những lí do trên, luận văn với đề tài “Nghiên cứu thành phần loài cá ở các cảng cá tỉnh Bình Thuận” được thực hiện

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu thành phần loài cá ở các cảng cá tỉnh Bình Thuận, qua đó giúp xây dựng bộ mẫu và tài liệu định loại những loài cá biển thường gặp ở tỉnh Bình Thuận, phục vụ việc thực tập thực tế thiên nhiên của sinh viên Khoa Sinh học – Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Các loài cá thu được ở ven biển tỉnh Bình Thuận

4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1 Thu thập các loài cá ở các cảng cá tỉnh Bình Thuận vào các mùa khác nhau

để đánh giá tần suất xuất hiện

2 Phân tích, định loại, lập danh sách các loài cá, sắp xếp theo hệ thống và mô

tả chi tiết bổ sung những đặc điểm sai khác về hình thái cá so với các mô tả của các tác giả nghiên cứu trước

3 So sánh mức độ gần gũi về thành phần loài cá biển ở các cảng cá tỉnh Bình Thuận với các khu hệ cá khác

4 Xây dựng bộ mẫu và tài liệu định loại những loài cá biển thường gặp ở tỉnh Bình Thuận Cấu trúc về tài liệu định loại mỗi loài cá gồm hệ thống phân loại

đầy đủ: tên đồng vật (synonym), tên tiếng Anh (English name), tên địa phương (local name), số mẫu nghiên cứu (total sample), địa điểm thu mẫu (sampling locations), mô tả (description) gồm các chỉ số đo đếm, đặc điểm

về hình thái, màu sắc của mẫu cá trưởng thành hoặc con non, mẫu vật

(specimens), phân bố (distribution), sinh học - sinh thái (biology - environment), giá trị sử dụng (the value used), ngư cụ khai thác (fishing gear), tình trạng (status), phân hạng (classification), biện pháp bảo vệ (protection method) và hình chụp minh họa

5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Trang 13

1 Các loài cá ở biển Bình Thuận thu được trong những đợt đi thu mẫu từ tháng 8/2016 - 7/2017

2 Thời gian và kinh phí có hạn nên tác giả chỉ làm trên địa bàn một số ngư trường trọng điểm của tỉnh Bình Thuận là Phú Quý, La Gi và Phan Thiết

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU KHU HỆ CÁ BIỂN TRÊN THẾ GIỚI, Ở VIỆT NAM VÀ TỈNH BÌNH THUẬN

1.1.1 Tình hình nghiên cứu khu hệ cá biển trên thế giới

Theo thống kê của Eschmeyer W N (2017); Tổ chức FAO (2017), Eschmeyer

W N & Fong J D (2017); Froese R & Pauly D (2017), Fish Base thì trên thế giới

có khoảng 33.600 loài cá, với 319.100 tên gọi khác nhau (tính đến tháng 6/2017) Số còn lại chưa được mô tả hiện sống ở các vực nước trên Trái Đất khá nhiều Tuy nhiên, các tác giả này không tách riêng nhóm cá nước ngọt và nhóm cá biển nên chúng ta khó có thể biết được số loài cá biển hiện nay đã phát hiện trên thế giới có khoảng bao nhiêu loài [60]

Cơ sở dữ liệu về từng loài cá thì nằm rải rác ở các tài liệu và các website khác nhau Các website này tuy dễ dàng tra cứu định loại các loài cá về hệ thống phân loại, hình ảnh màu minh họa, vị trí phân bố,… nhưng được viết bằng tiếng Latin (hệ thống phân loại), tiếng Anh, tiếng Pháp,… và các loài mô tả còn sơ sài về các chỉ số đo, đếm, đặc điểm hình thái và màu sắc và thiếu rất nhiều cơ sở dữ liệu khác nên gây không ít khó khăn cho những người định loại cá ở trong nước, n hất là đối với những người nghiên cứu và học viên, sinh viên mới bắt đầu làm quen với công việc định loại cá

1.1.2 Lược sử nghiên cứu khu hệ cá biển ở Việt Nam

Việt Nam là quốc gia có lợi thế rất lớn về biển với đường bờ biển dài trên 3.260

km trải dài từ Bắc xuống Nam và diện tích biển khoảng 1 triệu km2 Cá biển ở Việt Nam rất đa dạng, phong phú về số lượng và thành phần loài Theo thống kê của tác giả Nguyễn Hữu Phụng và cộng sự thì cá biển Việt Nam có khoảng 2.000 loài, trong

đó có trên 100 loài có sản lượng cao, thường gặp trong đánh bắt, góp phần to lớn trong việc cung cấp thực phẩm Ngoài việc cung cấp thực phẩm cho con người thì cá biển còn có ý nghĩa trong các hoạt động dịch vụ, giải trí và trong nghiên cứu khoa

Trang 15

học Tính đến thời điểm hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cá biển Việt Nam như:

Viện Nghiên cứu Biển, Ủy ban Khoa học và Kĩ thuật Nhà nước (1971), Cá kinh

tế vịnh Bắc Bộ, gồm 65 loài, thuộc 34 họ, trong đó có 40 loài có giá trị kinh tế lớn [41]

Nguyễn Khắc Hường (1991), Cá biển Việt Nam (Ganoidomorpha, Clupeomorpha), gồm 65 loài, thuộc 15 họ và 7 bộ [13]

Nguyễn Nhật Thi (1991), Cá biển Việt Nam, Cá xương Vịnh Bắc Bộ, gồm 218 loài, 104 giống, thuộc 15 họ [34]

Nguyễn Khắc Hường, Nguyễn Nhật Thi (1992), Cá biển Việt Nam (Amphioxi, Chondrichthyes), gồm 89 loài thuộc 24 họ và 11 bộ [14]

Nguyễn Khắc Hường (1993), Cá biển Việt Nam (Anguillomorpha, Cyprinomorpha, Atherinomorpha), gồm 74 loài, thuộc 18 họ và 4 bộ [15]

Nguyễn Khắc Hường (1993), Cá biển Việt Nam, (Parapercomorpha, Percomorpha), gồm 50 loài, thuộc 13 họ và 6 bộ [16]

Nguyễn Nhật Thi (2000), Động vật chí Việt Nam, Cá biển, phân bộ cá Bống

(Gobioidei), gồm 92 loài, thuộc 54 giống, 4 họ và 1 phân bộ [35]

Nguyễn Khắc Hường (2001), Động vật chí Việt Nam, gồm 132 loài, thuộc 33

họ và 13 bộ [17]

Nguyễn Hữu Phụng (2001), Động vật chí Việt Nam, Cá biển, Bộ cá Cháo biển (Elopiformes), gồm 127 loài, thuộc 15 họ và 4 bộ [26]

Nguyễn Hữu Phụng (Chủ biên), Nguyễn Nhật Thi, Nguyễn Phi Đính, Đỗ Thị

Như Nhung (2001), Danh mục cá biển Việt Nam, Bộ cá Vược (Perciformes), tiếp từ phân bộ cá Bàng chài (Labroidei) đến phân bộ cá Chim trắng (Stromateoidei), gồm

341 loài, 142 giống, 30 họ và 11 phân bộ thuộc bộ cá Vược (Perciformes) [27] Thái Thanh Dương (2001), Một số loài cá biển thường gặp ở Việt Nam, gồm

230 loài, thuộc 86 họ [11]

Nguyễn Khắc Hường, Trương Sỹ Kỳ (2007), Động vật chí Việt Nam, Cá biển (Beloniformes, Cyprinodontiformes, Atheriniformes, Salmonitiformes, Gadiformes,

Trang 16

Lampridiformes, Zeiformes, Beryciformes, Mugiliformes, Pegasiformes, Lophiiformes, Syngnathiformes), gồm có 179 loài, thuộc 37 họ và 12 bộ [18]

Nguyễn Văn Lục, Lê Thị Thu Thảo, Nguyễn Phi Uy Vũ (2007), Động vật chí

Việt Nam, Cá biển: Bộ cá Vược - Perciformes (Carangidae, Mullidae, Chaetodontidae, Labridae, Scombridae), gồm 183 loài , thuộc 63 giống, 5 họ, 3 phân

giống, 63 họ và 17 bộ, với bộ cá Vược (Perciformes) chiếm số lượng nhiều nhất (gồm

33 họ, 57 giống, 90 loài) Trong đó, có 3 loài thuộc Sách Đỏ Việt Nam 2007 là cá

Cháo lớn Megalops cyprinoides, cá Đường Otolithoides biauritus bậc VU, cá Mòi không răng Anodontostoma chacunda bậc VU,… [33]

Nhận xét: Ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu thuộc nhiều lưu vực khác

nhau nên thành phần các loài cá ở Việt Nam được phát hiện ngày càng nhiều, góp phần vào công tác điều tra nguồn lợi cá nói chung của Việt Nam Các công trình nghiên cứu không những lập danh sách thành phần loài mà còn mô tả chi tiết về các đặc điểm phân bố, hình thái, sinh lí, sinh học, sinh thái, giá trị sử dụng và tình trạng bảo vệ Tuy nhiên, các tác giả chưa thống nhất trong việc sắp xếp thành phần loài theo một hệ thống phân loại nhất định nên việc đối chiếu và so sánh còn gặp rất nhiều khó khăn Cần phải có một công trình nghiên cứu, sắp xếp tất cả các loài cá phát hiện được cho đến thời điểm hiện nay ở Việt Nam theo hệ thống phân loại cá của Eschmeyer W N & Fong J D (2017) Hơn nữa, cần có một công trình mang tính tổng hợp tất cả các nghiên cứu về khu hệ cá ở Việt Nam để cho thấy bức tranh tổng quát về đa dạng sinh học cá ở biển Việt Nam

1.1.3 Lược sử nghiên cứu khu hệ cá ở vùng biển tỉnh Bình Thuận

Trang 17

Trước đây, các nghiên cứu về khu hệ cá biển ở tỉnh Bình Thuận (gộp chung với tỉnh Ninh Thuận hợp thành tỉnh Thuận Hải) chủ yếu được tổng hợp chung trong các công trình của khu vực và cả nước

Giai đoạn 1978-1980, Viện Nghiên cứu Hải sản đã thực hiện đề tài “Điều tra nguồn lợi cá tầng giữa và tầng trên ở vùng biển Thuận Hải – Minh Hải” và đã phát hành ấn phẩm “Nghiên cứu nguồn lợi cá biển Thuận Hải” vào năm 1985 [42]

Năm 1990, Lê Đức Tố và nnk đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu điều kiện tự nhiên và nguồn lợi vùng biển Thuận Hải”, nhóm tác giả đã đưa ra những dẫn liệu cơ bản về mối quan hệ giữa các đặc trưng môi trường và nguồn lợi hải sản tại đây; bên cạnh đó, đề tài còn giúp xây dựng được bản đồ hải dương học ngư nghiệp cho vùng biển Thuận Hải (trước đây) [37]

Năm 1992, Vũ Huy Thủ và Trần Văn Bun đã công bố ấn phẩm “Nguồn lợi hải sản vùng biển Trung Bộ Việt Nam” [36]

Vào tháng 5-7/1993 và tháng 4-5/1995, Viện Hải dương học Nha Trang tiến hành khảo sát vùng biển Cù Lao Cau để tìm hiểu về đa dạng sinh học và nguồn lợi cá rạn san hô ở vùng biển này [38]

Năm 1996, Nguyễn Xuân Huấn đã thực hiện luận án Phó tiến sĩ Sinh học với đề tài “Đặc điểm sinh trưởng, biến động trữ lượng và dự báo khả năng khai thác một số loài cá kinh tế ở vùng biển Bình Thuận – Ninh Thuận” [12]

Từ năm 1998 đến 2000, Viện Hải dương học Nha Trang đã thực hiện đề tài

“Điều tra các điều kiện tự nhiên, môi trường, nguồn lợi vùng ven bờ vịnh Phan Thiết

và xây dựng định hướng chính phát triển bền vững kinh tế xã hội địa phương” [38] Năm 2001, Sở Thủy sản tỉnh Bình Thuận thực hiện đề tài “Nghiên cứu biện pháp nâng cao hiệu quả thả chà tập trung cá tại Bình Thuận” [29]

Từ năm 2000 đến 2003, Sở Thủy sản tỉnh Bình Thuận thực hiện đề tài “Khảo sát điều tra đánh giá thực trạng nghề cá khai thác ven bờ tỉnh Bình Thuận” [30] Tiếp đó vào năm 2005-2006, Sở Thủy sản tỉnh Bình Thuận thực hiện dự án

“Quy hoạch phát triển kinh tế thủy sản tình Bình Thuận đến năm 2010” và sau đó là

Trang 18

dự án “Rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Bình Thuận đến năm 2010, định hướng 2020” [31]

Kết quả các dự án của Sở Thủy sản Bình Thuận đã cung cấp nhiều thông tin về đặc điểm tự nhiên của các ngư trường trọng điểm của tỉnh và nhiều số liệu điều tra có giá trị về nghề khai thác và sản lượng khai thác thủy sản tại vùng biển tỉnh Bình Thuận; từ đó định hướng cho việc quản lý và phát triển nguồn lợi kinh tế biển của tỉnh nói riêng và cả nước nói chung

Nguyễn Thành Nam, Vũ Trung Tạng (2007) với đề tài “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá vùng vịnh Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận”, tác giả đã xác định được

176 loài cá nằm trong 135 giống, 75 họ và 19 bộ với mức độ đa dạng cao về bậc bộ

và họ Trong số đó có 106 loài cá san hô thuộc hầu hết các họ cá san hô điển hình và

91 loài cá có giá trị kinh tế: 65 loài cá có giá trị thương phẩm và 29 loài cá có giá trị làm cảnh [24]

Vũ Trung Tạng, Nguyễn Thành Nam (2008) với công trình “Nghiên cứu thành phần loài cá san hô vịnh Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận”, tác giả đã xác định được 119 loài cá san hô thuộc 96 giống, 54 họ và 12 bộ với mức đa dạng rất cao về bậc bộ và bậc họ Bộ cá chiếm ưu thế tuyệt đối ở tất cả các bậc phân loại là bộ cá Vược

(Perciformes) với họ nhiều loài nhất là họ cá Nục (Carangidae) Trung bình mỗi bộ

có 4,5 họ; 8,0 giống và 9,9 loài Mỗi họ trung bình có 1,8 giống và 2,2 loài Đặc biệt, nghiên cứu đã ghi nhận được đại diện của hầu hết các họ cá san hô điển hình (chỉ trừ

họ Zanclidae) Trong số 119 loài cá san hô ghi nhận được có đến 68 loài (chiếm

54,14%) có giá trị kinh tế với 44 loài cá thương phẩm và 26 loài có giá trị làm cảnh Tất cả mẫu cá hiện nay đang được lưu trữ tại bảo tàng Sinh vật – khoa Sinh học Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội [32]

Năm 2008, Viện Hải dương học Nha Trang với sự tài trợ của WWF đã tiếp tục thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học vùng biển xung quanh Cù Lao Cau tỉnh Bình Thuận” [40]

Trang 19

Năm 2009-2010, Viện Nghiên cứu Hải sản đã thực hiện dự án “Xây dựng Quy hoạch chi tiết Khu bảo tồn Biển Phú Quý - Bình Thuận” Dự án đã xác định được 154 loài cá rạn san hô thuộc 42 họ, 10 bộ tại vùng biển Phú Quý [43]

Năm 2014, Nguyễn Thành Nam với đề tài luận án Tiến sĩ “Nghiên cứu khu hệ

cá biển ven bờ tỉnh Bình Thuận và đề xuất giải pháp khai thác hợp lý, bảo vệ nguồn lợi” đã tiến hành thu mẫu trực tiếp theo tàu đánh cá ra biển khơi và thu mẫu gián tiếp

ở các khu vực cảng cá Phan Rí (thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong), khu vực cảng cá Cồn Chà (thành phố Phan Thiết), khu vực bến cá Kê Gà (xã Tân Thành, huyện Hàm Thuận Nam), khu vực cảng cá La Gi (thị xã La Gi) cùng các điểm tập kết

cá nhỏ lẽ dọc tuyến đường du lịch ven biển từ bến cá Kê Gà đi Phan Thiết (30 km) trong khoảng thời gian chia làm 6 đợt từ ngày 6 tháng 1 năm 2009 đến ngày 25 tháng

9 năm 2013; kết hợp với các mẫu đã thu vào 2 đợt thực địa năm 2006 và 2007 tại Phan Thiết Công trình đã nghiên cứu trực tiếp xác định được 481 loài (417 loài có mẫu và 64 loài có ảnh chụp) và tham khảo 160 loài từ các nghiên cứu liên quan đến khu hệ cá biển Bình Thuận Kết quả tổng hợp lại, tác giả đã xác định được 641 loài

cá nằm trong 364 giống, 140 họ, 28 bộ, 2 lớp; trong đó có 197 loài cá nằm trong Sách

Đỏ Việt Nam 2007 và Danh lục Đỏ IUCN version 2012.3, nhưng chỉ có 14 loài (2,2% tổng số loài) thuộc Sách Đỏ Việt Nam Danh sách cá biển ven bờ tỉnh Bình Thuận được sắp xếp theo hệ thống của Eschmeyer (1999, 2013) với 30 đối tượng ở các bậc phân loại khác nhau có sự điều chỉnh so với hệ thống của Rass T.S & Lindberg G.U (1971) So với thành phần loài cá biển Thuận Hải (1985), nghiên cứu đã bổ sung cho khu hệ cá biển Thuận Hải (gồm Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay) 203 loài, 79 giống, 13 họ và 2 bộ; qua đó xác định tại vùng biển Ninh Thuận và Bình Thuận có

731 loài cá, thuộc 423 giống, 152 họ, 35 bộ, 2 lớp Nghiên cứu này cũng đã xác định thành phần loài cá có giá trị sử dụng ở vùng biển ven bờ Bình Thuận gồm 295 loài (46,0% tổng số loài) với 3 nhóm giá trị: khai thác tự nhiên làm thực phẩm, có tiềm năng làm cảnh và có khả năng nuôi thương phẩm Nhóm cá khai thác tự nhiên được xác định gồm 140 loài, trong đó có 53 loài được khai thác thường xuyên với hai loài

chiếm sản lượng cao nhất là cá Nục sò Decapterus maruadsi và cá Nục thuôn

Trang 20

Decapterus macrosoma; nhóm cá có tiềm năng làm cảnh có 183 loài với nhiều loài

đang được nuôi cảnh phổ biến trên thế giới; nhóm cá có thể nuôi thương phẩm có 49 loài và có 13 loài nằm trong danh sách các loài được nuôi phổ biến ở châu Á Bên cạnh đó, tác giả còn đề xuất các giải pháp giúp khai thác và bảo vệ nguồn lợi với 5 quan điểm phát triển và định hướng, mục tiêu, giải pháp khá cụ thể cho: khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, nuôi trồng thủy sản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, dịch

vụ thủy sản, nâng cao đời sống cộng đồng dân cư ven biển Cho đến thời điểm này, đây là kết quả nghiên cứu trực tiếp và đầy đủ nhất về khu hệ cá biển ven bờ của Bình Thuận [21]

Nguyễn Thành Nam, Huỳnh Quang Huy, Nguyễn Minh Quang, Nguyễn Xuân Huấn (2015) với đề tài “Phân tích thực trạng nghề cá tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2001-2012”, kết quả cho thấy công tác tổ chức sản xuất và ứng dụng trang thiết bị, công nghệ và quản lý nghề cá của tỉnh Bình Thuận được thực hiện khá tốt, mang lại hiệu quả trong sản xuất và góp phần bảo vệ nguồn lợi Bên cạnh đó, số liệu điều tra của nhóm tác giả cho biết số lượng tàu thuyền đánh bắt tăng mạnh trung bình 4,83%/năm; công suất máy bình quân của đội thuyền khai thác hải sản tăng dần và đạt 89,8 CV/tàu vào năm 2012; nghề khai thác hải sản tập trung vào 8 nhóm nghề chính với nghề lưới

rẽ chiếm tỷ trọng cao nhất (35,8%); sản lượng khai thác toàn tỉnh đạt trên 150.000 tấn/năm trong khoảng 10 năm nay; năng suất đánh bắt giảm liên tục, từ mức 0,6 tấn /CV vào năm 2001 chỉ còn 0,25 tấn/CV vào năm 2012 [23]

Nguyễn Thành Nam, Nguyễn Phương Anh (2016) với đề tài “Khảo sát thành phần loài cá được khai thác bằng thuyền thúng máy tại xã Tân Thành, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận”, nhóm tác giả đã xác định được 71 loài cá thuộc 60 giống, 40 họ và 12 bộ thuộc 2 lớp cá được khai thác bằng thuyền thúng máy Trong

đó, bộ cá Vược chiếm ưu thế cả về bậc họ, bậc giống và loài (23 họ chiếm 57,5%, 38 giống chiếm 63,3% và 47 loài chiếm 66,2%) Theo sinh cảnh, nhóm cá đáy và gần đáy chiếm ưu thế so với cá nổi; trong đó có 46 loài có khả năng sống ở môi trường nước lợ và 10 loài có khả năng xâm nhập ngọt Bên cạnh đó, đề tài còn xác định được

28 loài cá (chiếm 39,4%) có giá trị kinh tế với 12 loài được khai thác thường xuyên;

Trang 21

1 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) là cá Cháo lớn Megalops cyprioides,

được xếp ở bậc VU (sẽ nguy cấp) và 10 loài được phân hạng ở các mức độ NT (sắp

bị đe dọa), LC (ít lo ngại), DD (thiếu dẫn liệu) trong danh lục Đỏ của IUCN ver 2015-4 [22]

Nhận xét: Các kết quả nghiên cứu về khu hệ cá biển tỉnh Bình Thuận đã tạo cơ

sở khoa học đáng tin cậy cho việc tiến hành các nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo về đặc điểm sinh học, sinh thái học của một số loài cá có giá trị sử dụng cao nói riêng cũng như về sinh thái học nói chung cho khu vực biển ven bờ của tỉnh Bình Thuận Đồng thời, trên cơ sở đó, chúng tôi muốn bổ sung thêm thành phần các loài cá biển ở tỉnh Bình Thuận (đặc biệt là ở huyện đảo Phú Quý), góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn lợi cá ở biển tỉnh Bình Thuận

1.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CỦA TỈNH BÌNH THUẬN

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên của tỉnh Bình Thuận

a) Vị trí địa lí

Bình Thuận là tỉnh duyên hải cực Nam Trung Bộ, thuộc vùng kinh tế Đông Nam

Bộ và nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam Tọa độ địa lý từ 10033'42'' đến 11033'18'' vĩ độ Bắc và từ 107023'41'' đến 108052'42'' kinh độ Đông

- Phía Bắc giáp với tỉnh Lâm Đồng và Ninh Thuận

- Phía Tây giáp với tỉnh Đồng Nai

- Phía Tây Nam giáp với tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

- Phía Đông và Đông Nam giáp với biển Đông với đường bờ biển dài 192 km

từ mũi Đá Chẹt giáp Cà Ná ( Ninh Thuận) đến bãi bồi Bình Châu (Bà Rịa – Vũng Tàu); tổng diện tích vùng lãnh hải là 52.000 km2

Ngoài khơi có đảo Phú Quý với tọa độ là 11011'43'' vĩ độ Bắc đến 107031'34'' kinh độ Đông, cách thành phố Phan Thiết 120 km về phía Đông Trung tâm tỉnh cách thành phố Hồ Chí Minh 200 km, cách thành phố Nha Trang 250 km, cách thành phố Buôn Ma Thuột 270 km, cách thành phố Đà Lạt 130 km, có quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam chạy qua nối Bình Thuận với các tỉnh phía Bắc và phía Nam của cả nước,

Trang 22

quốc lộ 28 nối liền thành phố Phan Thiết với các tỉnh Lâm Đồng, quốc lộ 55 nối với trung tâm dịch vụ dầu khí và du lịch Vũng Tàu với các tỉnh Tây Nguyên [52]

Hình 1.1 Bản đồ huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận [51]

Trang 23

Hình 1.2 Bản đồ tỉnh Bình Thuận [54]

Trang 24

b) Đặc điểm địa hình

Đại bộ phận lãnh thổ là đồi núi thấp, đồng bằng ven biển nhỏ hẹp, địa hình hẹp ngang kéo theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, phân hóa thành 4 dạng địa hình:

- Đất cát và cồn cát ven biển chiếm 18,22% diện tích đất tự nhiên

- Đồng bằng phù sa chiếm 9,43% diện tích đất tự nhiên

- Vùng đồi gò chiếm 31,65% diện tích đất tự nhiên

- Vùng núi thấp chiếm 40,7% diện tích đất tự nhiên

Với địa hình này đã tạo điều kiện cho tỉnh phát triển kinh tế đa dạng [55]

c) Đặc điểm khí hậu

Bình Thuận nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo điển hình, nhiều nắng, nhiều gió, không có mùa đông và khô hạn nhất so với cả nước với 2 mùa

rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

Do đường bờ của vùng biển tỉnh Bình Thuận chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam cộng với sự xen kẽ của các dãy núi và cồn cát chạy dọc bờ biển nên vùng biển chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam Bên cạnh đó, vào khoảng từ tháng 9, 10, 11 hàng năm, vùng biển tỉnh Bình Thuận thường xuất hiện nhiều cơn bão kèm theo những cơn dông và ảnh hưởng nặng nề của áp thấp nhiệt đới [37]

Nhiệt độ cao đều, trung bình trong năm là 26,5-27,5oC, số giờ nắng trung bình năm là khoảng 2903 giờ, tổng nhiệt lượng trung bình trong năm tương đối lớn từ 6.800-9.900oC, độ ẩm trung bình khoảng 75-85% Lượng mưa trung bình trong năm thấp, khoảng 800-1600 mm/năm, phân hóa theo mùa và khu vực, tăng dần về phía Nam [55]

d) Đặc điểm thủy – hải văn

Đặc điểm thủy văn

Bình Thuận có 7 con sông chính bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh thuộc tỉnh Lâm Đồng chảy qua Bình Thuận để ra biển là sông Lòng Sông, sông Lũy, sông Cái

Trang 25

(sông Quao), sông Cà Ty, sông Phan, sông Dinh và sông La Ngà Tổng diện tích lưu vực các sông là 9.880 km2 với tổng chiều dài các sông suối là 663 km [37]

Bình Thuận có đường bờ biển dài 192 km từ mũi Đá Chẹt (xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong) giáp biển Cà Ná (Ninh Thuận) đến cửa Ba Đăng (xã Tân Thắng, huyện Hàm Tân) giáp bãi bồi Bình Châu (Bà Rịa – Vũng Tàu); tổng diện tích vùng lãnh hải

là 52.000 km2 Dọc theo bờ biển có những đoạn nhô ra tạo thành các mũi như: Mũi

La Gàn, Mũi Né, Mũi Kê Gà và tạo thành 2 vịnh lớn là vịnh Phan Rí với vịnh Phan Thiết, thuận lợi cho tàu thuyền neo đậu Dọc ven bờ biển của tỉnh từ Bắc vào Nam có

6 cửa sông chính hình thành nên các cảng biển thuận lợi cho việc buôn bán và vận chuyển thủy sản: cửa Liên Hương (sông Lòng Sông), cửa Phan Rí (sông Lũy), cửa Phú Hải (sông Cái Phan Thiết), cửa Thương Chánh (sông Cà Ty), cửa Ba Đăng (sông Phan), cửa La Gi (sông Dinh) Vùng biển của tỉnh có 2 đảo lớn là đảo Cù Lao Cau (huyện Tuy Phong) và đảo Cù Lao Thu/đảo Phú Quý (huyện đảo Phú Quý) Đảo Phú Quý được xem như một căn cứ quan trọng cho việc đánh bắt xa bờ của tỉnh nói riêng

và khu vực nói chung [31]

Phần đáy biển nhìn chung có địa hình nghiêng theo hướng độ sâu tăng dần từ

bờ ra ngoài khơi và độ nghiêng càng giảm dần về phía Nam với địa mạo khá phức tạp Vùng biển tỉnh Bình Thuận được chia thành các khu vực theo độ sâu khác nhau: Vùng biển có độ sâu nhỏ hơn 30 m nước trở vào bờ có diện tích khoảng 5.500 km2; vùng biển có độ sâu nhỏ hơn 50 m nước trở vào bờ có diện tích khoảng 14.500 km2; vùng biển có độ sâu nhỏ hơn 100 m nước trở vào bờ có diện tích khoảng 23.500 km2

[30]

Đặc điểm hải văn

* Chế độ thủy triều: Vùng biển tỉnh Bình Thuận có 2 chế độ thủy triều là nhật

triều không đều phân bố từ khu vực mũi Kê Gà kéo dài về phía Bắc và bán nhật triều không đều phân bố từ khu vực mũi Kê Gà kéo dài về phía Nam [30], [37]

* Dòng chảy: Vùng biển tỉnh Bình Thuận có hệ thống dòng chảy tương đối phức

tạp Hướng dòng chảy thay đổi theo chế độ thủy học, địa hình và chế độ gió mùa Đối với khu vực biển Bình Thuận nói riêng và các vùng biển Trung Bộ nói chung có sự

Trang 26

xuất hiện những dòng nước lạnh vào mùa gió Đông Bắc và dòng nước ấm vào mùa gió Tây Nam, đã tạo cho khu vực này sự đa dạng về thành phần thủy sinh vật có nguồn gốc từ các vùng biển nhiệt đới, cận nhiệt đới, xích đạo và ôn đới [36]

* Chế độ sóng: Gió mùa có ảnh hưởng đến hướng và độ cao sóng biển Ở vùng

biển tỉnh Bình Thuận, nhìn chung, vào mùa gió Đông Bắc sóng có độ cao lớn hơn trong mùa gió Tây Nam Riêng vùng biển ở phía Đông Nam đảo Phú Quý có độ cao sóng lớn hơn cả các vùng biển khác [30], [37]

Nhận xét: Nhìn chung, tỉnh Bình Thuận là tỉnh có điều kiện tự nhiên rất phong

phú, hệ thống sông ngòi dày đặc và tiếp giáp với biển nên tạo điều kiện thuận lợi cho các loài cá phát triển

1.2.2 Đặc điểm chung về kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Thuận

a) Đơn vị hành chính và đặc điểm dân số

Tỉnh Bình Thuận có 10 đơn vị hành chính gồm thành phố Phan Thiết, thị xã La

Gi và 7 huyện trên đất liền: huyện Tuy Phong, huyện Bắc Bình, huyện Hàm Thuận Bắc, huyện Hàm Thuận Nam, huyện Tánh Linh, huyện Đức Linh, huyện Hàm Tân

và 1 huyện đảo Phú Quý

Theo số liệu thống kê năm 2012, dân số của tỉnh Bình Thuận là 1.245 triệu người, mật độ dân số đạt 151 người/km2, phân bố tương đối đồng đều giữa thành thị

và nông thôn Trong đó, số người trong độ tuổi lao động xã hội toàn tỉnh khoảng 628 nghìn người (chiếm 63% dân số)

Bình Thuận là một trong những tỉnh có thành phần dân cư đa dạng và phong phú nhất ở Việt Nam Trên địa bàn tỉnh hiện có 34 dân tộc sinh sống, trong đó đông nhất là dân tộc Kinh, tiếp đến là các dân tộc Chăm, Ra-glai, Hoa, Cơ-ho, Nùng, Mường…[55]

b) Đặc điểm kinh tế, văn hoá - xã hội

Bình Thuận có vị trí thuận lợi để phát triển kinh tế, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 200 km, cách Bà Rịa Vũng Tàu 120 km, cách thành phố Nha Trang 250 km, cách thành phố Buôn Ma Thuột 270 km, cách thành phố Đà Lạt 130 km, có Quốc lộ 1A, Quốc lộ 55, Quốc lộ 28, đường sắt Bắc - Nam đi qua Thiên nhiên đã ưu đãi cho

Trang 27

Bình Thuận nguồn tài nguyên tương đối phong phú và đa dạng để phát triển ngành dịch vụ du lịch, nông lâm nghiệp, công nghiệp chế biến, khai thác và đặc biệt là kinh

tế biển

Bình Thuận có ngư trường rộng khoảng 52.000 km2 Biển Bình Thuận là một trong những ngư trường lớn của cả nước, trữ lượng hải sản từ 220 đến 240 ngàn tấn, phong phú về chủng loại với nhiều loại hải sản đặc sản quý hiếm có giá trị kinh tế cao như tôm, điệp, sò lông, dòm, bàn mai vv Diện tích ven sông ven biển có khả năng phát triển nuôi tôm bán thâm canh khoảng 1.000 ha Các vùng ven biển và đảo

có thể phát triển nuôi cá lồng bè các loại hải đặc sản như cá mú, tôm hùm Trên biển Đông, huyện đảo Phú Quý rất gần đường hàng hải quốc tế, là điểm giao lưu Bắc Nam

và ngư trường Trường Sa, thuận lợi để phát triển ngành chế biến hải sản, phát triển dịch vụ hàng hải, du lịch [55]

1.3 TÌNH HÌNH KHAI THÁC NGUỒN LỢI CÁ Ở TỈNH BÌNH THUẬN

1.3.1 Năng lực tàu thuyền khai thác hải sản

Bình Thuận cùng với Ninh Thuận và Bà Rịa – Vũng Tàu là một trong 4 ngư trường trọng điểm của Việt Nam; là một trong 11 tỉnh nghề cá trọng điểm của nước

ta, có ngành khai thác thủy hải sản phát triển với quy mô đội tàu thuyền khai thác tính đến ngày 20 tháng 8 năm 2017 là 7.123 chiếc với tổng công suất trên 700.000 CV

[9]

Do ngư trường nguồn lợi vùng biển gần bờ ngày càng cạn kiệt, hoạt động khai thác gần bờ kém hiệu quả nên ngư dân Bình Thuận bắt buộc đầu tư tàu thuyền công suất lớn để vươn ra khơi, tìm kiếm ngư trường mới Tỉnh Bình Thuận có 7 đơn vị cấp huyện ven biển (TP Phan Thiết, Thị xã La Gi (từ năm 2006), huyện Hàm Tân, huyện Hàm Thuận Nam, huyện Tuy Phong, huyện Bắc Bình và huyện đảo Phú Quý) nhưng thực tế khai thác hải sản của tỉnh tập trung vào 5 đơn vị là TP Phan Thiết, Thị xã La

Gi, huyện Hàm Tân, huyện Tuy Phong và huyện đảo Phú Quý với số lượng tàu thuyền cũng như sản lượng khai thác luôn chiếm trên 98% của toàn tỉnh Bình Thuận [21]

1.3.2 Cơ cấu ngành nghề khai thác hải sản [5], [9]

Trang 28

Cơ cấu nghề khai thác hải sản của Bình Thuận tính đến ngày 20 tháng 8 năm

2017 được tóm lược trong bảng sau:

Bảng 1.1 Số lượng tàu thuyền của từng nghề khai thác hải sản ở Bình Thuận

Lưới

Lưới vây

Câu Pha

xúc

Vó mành

Lặn Lồng

bẫy

Tàu dịch vụ

là 452 kg/tàu/ngày, còn lưới kéo đôi là 2746 kg/tàu/ngày

 Nghề Lưới Rê: tính đến ngày 20 tháng 8 năm 2017, toàn tỉnh có 2.130 chiếc (chiếm 29,9% tổng số tàu thuyền toàn tỉnh) Nhóm tàu lưới rê có công suất từ

90 CV trở lên là 307 tàu, tập trung chủ yếu tại Phan Thiết, La Gi và Tuy Phong Hoạt động khai thác của nhóm nghề này tập trung ở vùng biển của tỉnh, xung quanh giàn khoan, vùng biển đảo Côn Sơn (Côn Đảo - Bà Rịa, Vũng Tàu) Số ngày hoạt động bình quân 21 ngày/ tháng; đối tượng khai thác chính là các loại cá khơi (Thu, Ngừ, ) và các loại ghẹ, tôm, mực ; năng suất khai thác trung bình 74 kg/tàu/ngày

Trang 29

 Nghề Lưới Vây: tính đến ngày 20 tháng 8 năm 2017, toàn tỉnh có 467 chiếc (chiếm 6,56% tổng tàu thuyền toàn tỉnh) Nhóm công suất từ 90 CV trở lên có

443 chiếc, tập trung tại Tuy Phong, Phan Thiết và La Gi Nhóm tàu hoạt động nghề lưới vây tập trung tại Tân Hải-La Gi và Đức Long-Phan Thiết, đối tượng khai thác chủ yếu các loài cá nổi gần bờ, nhất là cá Cơm, Nục, Ngân, Chỉ vàng, Tráo, Bạc má, Nghề vây rút chì khai thác quanh năm, đây là nghề có tính cơ động cao Số ngày hoạt động bình quân 20 ngày/tháng; riêng các tàu hoạt động khai thác tại vùng biển

xa có thời gian hoạt động hơn 1 tháng trong một chuyến biển

 Nghề câu: tính đến ngày 20 tháng 8 năm 2017, số thuyền hoạt động nghề câu có 1949 chiếc (chiếm 27,36% tổng tàu thuyền toàn tỉnh), trong đó số tàu có công suất từ 90 CV trở lên có khoảng 630 chiếc, tập trung nhiều tại thị xã La Gi và huyện đảo Phú Quý Nghề câu khơi hoạt động tại các bãi rạn, gò ở vùng biển khơi,

xa bờ, khu vực quần đảo Trường Sa, khu vực DK 1, vùng biển tiếp giáp với các nước Đối tượng khai thác thường là những loài có giá trị kinh tế cao như cá Mập, cá Nhám,

cá Cờ, cá Thu, các loại cá rạn (Mú, Đổng, Cam, Hồng, Mó, )

 Nghề Pha xúc: tính đến ngày 20 tháng 8 năm 2017, tổng số tàu là 118 chiếc (chiếm 1,66% tổng tàu thuyền toàn tỉnh) Trong đó, chỉ có 1 chiếc có công suất

từ 50 đến 90 CV, còn lại là có công suất từ 90 CV trở lên có 117 chiếc (chiếm 99,2%) Đối tượng khai thác chủ yếu là cá Cơm, Kình nhỏ, cá Mòi, cá Trích…

 Nhóm nghề vó mành: tính đến ngày 20 tháng 8 năm 2017, toàn tỉnh có

299 chiếc (chiếm 4,2% tổng tàu thuyền toàn tỉnh) Riêng tàu có công suất từ 90 CV trở lên có 151 chiếc, tập trung chủ yếu tại Phan Thiết, La Gi và Phú Quý Nghề lưới mành gồm nghề mành chà, mành đèn (chong đèn đánh bắt cá, mực vào ban đêm) Đối tượng khai thác chính là mực ống và các loài cá nổi như Nục, Ngừ chù, Chỉ vàng, Ngân, Bạc má, …

 Nghề lặn hải đặc sản: tính đến ngày 20 tháng 8 năm 2017, toàn tỉnh có

261 chiếc (chiếm 3,66% tổng tàu thuyền toàn tỉnh) Riêng tàu có công suất từ 90 CV trở lên có 116 chiếc, tập trung quanh các bãi rạn, từ độ sâu 18m nước trở vào như Một Đỏ, Hai Đỏ, Đập, ngoài Hòn Bà, Tân Thắng Năng suất khai thác bình quân là

Trang 30

780 kg/tàu/ngày; số ngày hoạt động trung bình là 11 ngày/tháng Nhìn chung hoạt động khai thác của nghề lặn gặp nhiều khó khăn khi thời tiết diễn biến thất thường Bên cạnh đó, trong khoảng 1 năm trở lại đây, việc nghiêm cấm khai thác các loại hải đặc sản như sò lông, điệp quạt đã khiến cho hoạt động lặn giảm đáng kể Tháng 12 năm 2015, sản lượng hải đặc sản của nghề lặn là 20.526 tấn; đến tháng 12 năm 2016, sản lượng hải đặc sản của nghề lặn giảm còn 15.945 tấn; tính đến tháng 8 năm 2017, sản lượng hải đặc sản của nghề lặn là 585.214 kg và dự kiến đến cuối năm 2017 sẽ giảm nhiều hơn so với cuối năm 2016 Đối tượng khai thác chủ yếu là Sò lông, Điệp quạt, Điệp bay, Sò ngọt, Bàn mai, Dòm, Nghêu, các loại ốc, các loài cá nổi như cá Nục (sản lưởng nhiều nhất), Trích, Chỉ vàng, Cơm, Bạc má, Trác, Ngân, Ngừ, Trong đó có 5 loài bị cấm khái thác 4 tháng từ ngày 1/4 đến ngày 31/7 là Sò lông, Điệp, Dòm mai, Bàn mai, Nghêu lụa để hạn chế nguy cơ cạn kiệt các loài này [57]

 Nghề lồng bẫy: tính đến ngày 20 tháng 8 năm 2017, toàn tỉnh có 501 chiếc (chiếm 7,03% tổng tàu thuyền toàn tỉnh) Riêng tàu có công suất từ 90 CV trở lên có 215 chiếc, tập trung khai thác chủ yếu tập trung tại các vùng biển ven bờ trong tỉnh Năng suất đánh bắt bình quân là 87 kg/tàu/ngày; số ngày hoạt động là 19 ngày/tháng

1.3.3 Biến động thành phần các nhóm loài khai thác [7]

Bảng 1.2 Sản lượng khai thác các nhóm loài hải sản của các nghề khai thác

tính đến tháng 8 năm 2017

Nghề Kéo

đôi

Kéo đơn

Lưới

Lưới vây

Câu Pha

xúc

Vó mành

Trang 31

Tính đến ngày 20 tháng 8 năm 2017, trong thành phần nhóm loài khai thác của các nghề, cá chiếm tỷ lệ cao nhất, trong khoảng 86%, mực chiếm 7,54%, các hải đặc sản (Nghêu lụa, Sò điệp, Sò ngọt, ) cũng chiếm tỷ lệ tương đối lớn là 2,31%; trong khi đó, các loài hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm, ghẹ lại có tỷ trọng thấp (ghẹ: 3,15%, tôm 0,89%) Điều đó cho thấy, cá vẫn là nguồn lợi to lớn đối với ngành khai thác thủy hải sản của Bình Thuận; bên cạnh đó, những năm gần đây nguồn lợi các loài hải sản có giá trị kinh tế cao như mực, tôm, ghẹ và các loài hải sản khác ngày càng giảm Riêng nghề lặn chỉ khai thác các loài hải đặc sản, trước đây được đánh bắt nhiều nhưng ngày nay, hầu như sản lượng khai thác được rất ít

Trang 32

Theo thông tin ở bảng 3.10, hầu như các nghề đều chủ yếu khai thác cá, trừ nghề lặn và lồng bẫy khai thác rất ít hoặc hầu như không khai thác cá (nghề lặn chủ yếu khai thác hải đặc sản, nghề lồng bẫy chủ yếu khai thác ghẹ, mực) Trong 9 nghề này thì nghề lưới vây có sản lượng khai thác cao nhất chiếm 25,16%, tiếp đến là nghề lưới kéo đôi chiếm 21,03% và nghề kéo lưới đơn chiếm 20,99%

Ngoài ra sản lượng khai thác còn phụ thuộc vào thời vụ Ở vùng biển tỉnh Bình Thuận, ngư dân phân thành hai mùa khai thác rõ rệt: [4], [5]

- Vụ Nam (thời gian là từ tháng 4 đến tháng 9, tập trung nhiều vào tháng 6 đến tháng 9) là mùa khai thác chính trong năm Trong vụ Nam, đa số các tàu thuyền đều hoạt động khá mạnh, đặc biệt là các tàu đánh bắt cá nổi như lưới vây, lưới rê, mành, pha xúc, … đánh bắt chủ yếu ở các ngư trường trong tỉnh

- Vụ Bắc (thời gian còn lại): do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc hoạt động mạnh nên tàu thuyền gặp nhiều khó khăn khi khai thác Trong mùa Bắc, chỉ một số tàu thuyền hoạt động và sản lượng khai thác yếu Nhiều tàu thuyền phải di chuyển ra khơi xa, sang một số tỉnh lân cận để khai thác

Trang 33

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1.1 Thời gian nghiên cứu

- Thu mẫu cá trực tiếp: từ tháng 8/2016 - 7/2017 gồm 6 đợt, mỗi đợt trực tiếp thu từ 3 - 5 ngày Số đợt cụ thể và thời gian thu mẫu trong bảng 2.1

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

- Thu mẫu cá: các điểm chính đại diện cho các ngư trường trọng điểm của tỉnh Bình Thuận là Phú Quý, La Gi và Phan Thiết

- Phân tích mẫu cá tại Phòng thí nghiệm Động vật - Khoa Sinh học - Trường Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh

Bảng 2.1 Thời gian, địa điểm thu mẫu

2.1.3 Tư liệu nghiên cứu

- Các mẫu cá thu được từ những lần đi thu mẫu (trực tiếp và gián tiếp)

- Nhật kí thực địa; phiếu điều tra, phỏng vấn, các biểu mẫu; hồ sơ cá; phim, hình chụp ngoài thực địa

- Ngoài ra còn chụp hình cá trong phòng thí nghiệm; hình chụp các loài cá và các tài liệu khác có liên quan đến đề tài

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CÁ

2.2.1 Ngoài thực địa

- Phương pháp thu mẫu cá

Trang 34

+ Thu mẫu định tính: Thu trực tiếp trên các phương tiện đánh bắt cho phép như

chài, lưới, câu, đăng, vó,… Thu tại bến cá hoặc đặt thùng mẫu có đựng dung dịch formalin 8% tại thuyền, bè hoặc nhà của ngư dân để nhờ thu hộ Mỗi loài thu từ 3 - 5 con hoặc hàng chục con ở mỗi địa điểm nghiên cứu là tùy thuộc vào kích thước của

cá hoặc mức độ thường gặp Các mẫu quý hiếm và các loài cá mới lạ cố gắng thu 1 mẫu Cá thường thu có kích thước từ 15-30 cm nhiều loài cá phải thu cá nhỏ, một số loài cá lạ, hiếm quý có thể thu mẫu to hơn (nếu có) Thu các mẫu cá tươi có hình dạng đẹp, vây vảy nguyên vẹn, cá tươi màu sắc đẹp, mẫu cá trưởng thành, mẫu cá đực, cá cái và cá con

+ Thu mẫu định lượng: thu trên từng ngư cụ và đếm số cá thể của từng loài cá

đánh bắt được mỗi lần, ở mỗi địa điểm thu mẫu vào các mùa khác nhau để cho thấy mức độ thường gặp

- Phương pháp ghi nhãn cá

Vì nhãn được bảo quản trong dung dịch formalin nên phải được bảo vệ để tránh

sự hủy hoại Do đó, nên ghi nhãn bằng bút chì đen mềm hoặc bút bi nước trên giấy không thấm (giấy bóng mờ) để chữ không bị rửa trôi hoặc phai màu Cần ghi lên nhãn những thông tin như: số thứ tự mẫu, tên phổ thông, địa điểm thu mẫu, thời gian thu mẫu để dễ dàng khi tiến hành định loại cá tại phòng thí nghiệm

Sau đó, lật ngửa bụng con cá lên và quay đầu hướng ra phía ngoài, gấp nhỏ nhãn đặt vào dưới nắp mang bên phải của cá Cá có mang nhỏ hoặc cá con thì sau khi chụp hình, cho cá và nhãn cá vào trong cùng một túi nilon (có đục lỗ để khi ngâm dung dịch formalin ngấm đều vào cá), bịt đầu túi nilon lại rồi ngâm chung vào thùng đựng

cá có chứa dung dịch formalin 7 - 8%

- Phương pháp chụp ảnh:

Sau khi thu mẫu cần phải chụp hình ngay để cá còn tươi, sống, chưa mất màu bởi dung dịch formalin Chọn khay nhựa có kích thước lớn, màu xanh da trời để làm nền, nổi bật hình cá khi chụp hình Lật ngửa khay nhựa lên rồi đặt cá nằm ngay ngắn trên khay sao cho đầu cá quay về phía tay trái Phía dưới bụng cá đặt thước đo để cho thấy kích thước thật của cá Một tay xòe vây cá, một tay cầm cây cọ phết formol

Trang 35

nguyên chất lên các vây lưng, vây ngực, vây bụng, vây hậu môn, vây đuôi để các vây này xòe đều Cá chụp lên hình sẽ đúng kĩ thuật và đẹp Ngoài ra cần phải chụp ảnh, quay phim sinh cảnh thu mẫu

2.2.2 Trong phòng thí nghiệm

 Định loại cá

Để định danh sách các loài cá trước hết phải tập trung được các khóa định loại tốt nhất đã có và các mô tả các loài cá có trong vùng và các vùng lân cận Quá trình định loại bao gồm:

- Tra theo khóa để định mẫu cá thuộc bộ, họ, phân họ, giống và loài cụ thể

- Kiểm tra lại tên đã định có đúng hay không

- Sau khi đã xem xét kĩ các tiêu chuẩn quyết định đặt tên khoa học và các tên đồng vật (synonym) cho mẫu cá Đồng thời phân tích sự giống nhau hoặc khác nhau

ít nhiều của mẫu ở vùng nghiên cứu với các nơi khác hoặc mẫu chuẩn

- Nếu nghi là loài cá lạ hoặc loài cá mới, cần đo đạc, mô tả theo trình tự Cần gửi mẫu đến bảo tàng để các nhà chuyên môn giám định và cho ý kiến cụ thể

Dựa vào các tài liệu chính của Nguyễn Khắc Hường (1993) [15], Nguyễn Khắc Hường, Trương Sỹ Kỳ (2007) [18], Nguyễn Văn Lục, Lê Thị Thu Thảo, Nguyễn Phi

Uy Vũ (2007) [20], Đỗ Thị Như Nhung (2007) [25], Nguyễn Nhật Thi (2000) [35],

- Phân tích hình thái cá theo Rainboth W J (1996) để làm cơ sở định loại

 Phương pháp phân tích số liê ̣u hình thái cá xương

Trang 36

Hình 2.1 Sơ đồ chỉ dẫn các số đo ở cá xương (theo Rainboth W J., 1996)

- Các chỉ số đo hình thái (tính bằng mm):

+ Chiều dài cá (trừ vây đuôi) (Lo);

+ Đường kính mắt (O);

+ Khoảng cách giữa hai ổ mắt (OO);

+ Chiều dài đầu (T);

+ Chiều cao lớn nhất của thân (H)

- Các chỉ số đếm:

+ Số lượng tia vây lưng (D);

Vây lưng trước (D1);

Vây lưng sau (D2);

+ Số lượng tia vây hậu môn (A);

+ Số lượng tia vây ngực (P);

+ Số lượng tia vây bụng (V);

Trang 37

+ Số vảy bên (Sq): Số vảy trên đường bên và số vảy dưới đường bên đặt phía dưới gạch ngang

Những tia vây không phân nhánh, không phân đốt, gai cứng, các tia vây biểu thị bằng chữ số La Mã Các tia vây phân nhánh và các tia đơn không hoá xương (tia mềm) được biểu thị bằng chữ số Ả Rập, cách nhau bởi dấu (.), dao động giữa từng loại tia vây với nhau biểu thị bằng gạch nối (-) Tia vây cứng, tia vây mềm riêng Tia

vây thứ nhất là tia vây chìa ra ngoài lớp da

 Phương pháp phân tích số liê ̣u hình thái cá đuối

Hình 2.2 Sơ dồ chỉ dẫn số đo ở cá đuối (theo Nguyễn Khắc Hường, 2001)

A Mặt lưng B Mặt bụng

* Chu ́ thích: 1 Mõm; 2 Mắt; 3 Lỗ phun nước; 4 Lỗ mũi; 5 Van mũi trên; 6

Miê ̣ng; 7 Khe mang; 8 Gai; 9 Hâ ̣u môn; 10 Vây ngực; 11 Vây bu ̣ng; 12 Gai giao cấu; 13 Vây lưng thứ nhất; 14 Vây lưng thứ hai; 15 Vây đuôi; 16 Chiều rô ̣ng miê ̣ng;

17, 18 Chiều rộng đĩa thân; A-H: Chiều dài toàn thân; A-M: Chiều dài thân; A-B:

Trang 38

Chiều dài mõm; B-C: Đường kính mắt; A-E: Chiều dài đĩa thân; F-I: Chiều dài gốc vây lưng thứ nhất; J-K: Chiều dài gốc vây lưng thứ hai; I-J: Khoảng cách giữa hai vây lưng; Q-P: Chiều dài vây bu ̣ng; V-T: Chiều dài đầu; U-V: Chiều dài mõm trước miê ̣ng; V-Q: Chiều dài thân trước hâ ̣u môn; N-Q: Chiều dài đuôi

 Phương pháp đánh giá độ gần gũi

+ Để tính mức độ gần gũi về thành phần loài cá giữa 2 khu hệ nghiên cứu, đề tài sử dụng công thức của Stugren-Radulescu (1961):

2Rs + Rss (X + Y) - Z (X’ + Y’) – Z’

Trong đó:

R: là hệ số tương quan giữa 2 khu hệ phân bố

RS: là hệ số tương quan giữa 2 khu hệ phân bố ở mức độ loài

RSS: là hệ số tương quan giữa 2 khu hệ phân bố ở mức độ phân loài

X (X’): là số loài (phân loài) có ở khu hệ A mà không có ở khu hệ B

Y (Y’): là số loài (phân loài) có ở khu hệ B mà không có ở khu hệ A

Z (Z’): là số loài (phân loài) có cả ở 2 khu hệ A và B

R biến thiên từ -1 đến +1 và được phân chia theo mức độ sau:

 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu

+ Thu thập tất cả các bảng số liệu và nhật kí thực địa;

+ Phân loại các số liệu theo chủ đề thích hợp như theo khu vực, theo người quan sát hay theo thời gian;

+ Sau khi thu thập số liệu tiến hành phân tích các số liệu đó

2.2.3 Phương pháp xây dựng bộ sưu tập cá

Trang 39

Sau khi định loại, cho cá vào lọ nhựa có kích thước phù hợp, đầu cá quay xuống dưới đáy lọ; đổ dung dịch formalin 8-10% ngập cá để cá không bị hư hỏng trong quá trình trưng bày lâu dài về sau này; đậy kín nắp Bên ngoài lọ nhựa phải dán nhãn cá

để trưng bày gồm các thông tin như: địa điểm lưu trữ mẫu, tên phổ thông và tên khoa học (tên Latin) của loài, tên giống, họ (phân họ), bộ (phân bộ), địa điểm thu mẫu, ngày thu mẫu

2.2.4 Phương pháp đánh giá nguồn lợi cá

Sử dụng các phương pháp phỏng vấn, bảng hỏi đối với ngư dân ở các khu vực nghiên cứu để điều tra các vấn đề về hoạt động khai thác và bảo vệ nguồn lợi cá

Trang 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 THÀNH PHẦN CÁC LOÀI CÁ Ở CÁC CẢNG CÁ TỈNH BÌNH THUẬN

3.1.1 Danh sách các loài cá ở các cảng cá tỉnh Bình Thuận

Qua tổng hợp, tra cứu, đối chiếu tu chỉnh tên loài, tên đồng vật (Synonym) và sắp xếp lại các loài theo trật tự của hệ thống phân loại cá của Eschmeyer W N & Fong J D (2017) [58], chuẩn tên loài theo FAO (2017) [59] và Froese R & Pauly D (2017) [60] đã xác định được cá ở vùng ven biển tỉnh Bình Thuận gồm 297 loài (290 loài có mẫu và 7 loài có ảnh chụp), thuộc 202 giống, 92 họ, 21 bộ và 2 lớp (Xem bảng 3.1)

Đề tài đã bổ sung cho công trình nghiên cứu trước đây của Nguyễn Thành Nam (2014) là 143 loài, 111 giống, 60 họ và 15 bộ Trong đó, lớp cá Mang tấm Elasmobranchii bổ sung thêm 5 loài thuộc 5 giống, 3 họ, 3 bộ; và lớp cá Vây tia Actinopterygii đã bổ sung thêm 138 loài thuộc 106 giống, 57 họ và 12 bộ (Xem phụ lục 4)

Ngày đăng: 02/01/2021, 12:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm