Nguyễn Kim Thản và Nguyễn Anh Quế mới chỉ nghiên cứu trợ từ một cách độc lập trong câu mà nó xuất hiện chưa đặt chúng vào một ngữ cảnh rộng trong mối quan hệ với các thành tố tác động và
Trang 2Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tình của PGS Nguyễn Thị Hai và sự góp ý quý báu của PGS Đặng Ngọc Lệ, hai người thầy tận tâm đã hết lòng giúp đỡ để em hoàn thành được luận văn này
Tác giả
Nguyễn Thị Thùy Nhung
Trang 3
1 Trong luận văn Có sử dụng một số kí hiệu được qui ước như sau
(+) : kết câu đúng ,tồn tại trong tiếng Việt
(-) ; kết cấu sai , không tồn tại trong thực tế
= ; tương đương, giống nhau về ý nghĩa
/ ; hay là
-> : có thể biến đổi thành
A : người nói
B : người nghe
A > B : vai xã hội của người nói lớn hơn hoặc ngang hàng với người nghe
A < B : vai xã hội của người nói nhỏ hơn người nghe
2 Các lài liệu, sách tham khảo được ghi theo số thứ tự của chúng trong danh mục tài liệu tham khảo và đặt trong dấu ngoặc vuông, sau dấu phẩy là số trang ( nếu có )
Ví dụ [10,325 ], đọc là “ lài liệu số 10 trang 325
3 Luận văn đã sử dụng một số ví dụ được trích dẫn từ các sách báo Cách trích dẫn là : tên tác giả, tên tác phẩm, số tang ( nếu có) đặt trong dấu ngoặc đơn và ghi ở cuối câu trích dẫn
Ví dụ : ( DK - TTIL, 137), đọc là Duy Khán, Tuổi thơ im lặng trang 137
Nếu câu ví dụ quá dài chúng tôi lược bớt những chỗ không cần thiết, chỗ lược được thay bằng dấu ( )
Trang 4
Mục lục
DẪN LUẬN 1
CHƯƠNG I: TỪ VÀ NGHĨA CỦA TỪ 7
1.1 Quan niệm về từ 7
1 2 Quan niệm về nghĩa của từ 7
2.1.1 Nghĩa sở chỉ 8
2.2.1 Nghĩa sở biểu 8
2.3.1 Nghĩa sở dụng 9
2.4.1 Nghĩa kết cấu 9
1.3 các nhân tố chính tác động và chi phối việc lựa chọn và chi phối việc lực chọn và sử dụng từ trong giao tiếp 10
Chương 2:: TRỢ TỪ TRONG HỆ THỐNG HƯ TỪ TIẾNG VIỆT 13
2.1 Hư từ tiếng việt 13
2.1.Từ loại trợ từ 14
2.1.1 Tên gọi 14
2.2.2 Khái niệm: 14
2.2.3 Ý nghĩa 14
2.1.4 Chức năng: 15
2.1.5 Vị trí cuả trợ từ trong câu 16
2.1.6 Phân loại 16
Chương 3: CÁC TRỢ TỪ BỔ SUNG Ý NGHĨA CHO CẤU TRÚC CÂU 19
3.1 Phân loại 19
3.2 Miêu tả các trợ từ bổ sung ý nghĩa cho cấu trúc câu 19
3.2.1 Các trợ từ dùng để hỏi: 19
2.1.2 Các trợ từ dùng để cầu khiến 36
2.1.3 các trợ từ dùng để biểu thị thái độ, tình cảm 43
3.2.4 Các trợ từ dùng để đưa đẩy 74
3.3 Nhận xét chung 75
Trang 53.3.1 Vị trí của các trợ từ tình thái trong câu 75
3.3.2 Đặc trưng ngữ nghĩa 76
3.3.3 Cách sử dụng 78
3.3.4 Nguồn gốc của các trợ từ 82
CHƯƠNG IV: TRỢ TỪ TÌNH THÁI TRONG PHƯƠNG NGỮ CÁC VÙNG VÀ VIỆC DẠY HỌC TỪ LOẠI NÀY TRONG NHÀ TRƯỜNG 85
4.1 Trợ từ trong phương ngữ các vùng 85
4.2.Việc dạy – học từ loai trợ từ trong nhà trường 88
KẾT LUẬN 90
PHỤ LỤC 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 6
DẪN LUẬN
1 Lí do chọn đề tài và muc đích nghiên cứu
Nói năng là một hoạt động: hoạt động giao tiếp Hoạt động giao tiếp của con người
có mục đích tác động: tác động vào nhận thức, tác động vào tình cảm và tác động vào hành động Hiệu quả giao tiếp được đánh giá tùy theo các mục đích trên đạt đưọc nhiều hay ít Để giao tiếp và tư duy con người phải sử dụng công cụ ngôn ngữ Đơn vị cơ bản của ngôn ngữ đó chính là từ
Trong kho tàng từ vựng phong phú của tiếng Việt, trợ từ là một trong số các từ loại
hư từ có số lượng không nhiều và khi giao tiếp trợ từ chỉ đóng vai trò khiêm tốn là phần phụ tình thái bổ sung ý nghĩa cho thông báo của câu Thế nhưng trong hoạt động giao tiếp, nếu sử dụng từ loại này không chính xác cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả giao tiếp, đến việc biểu hiện thái độ lịch sự, bất lịch sự của người nói
Với luận văn này hướng nghiên cứu của người viết là đi vào khảo sát trợ từ dưới góc độ ngữ pháp chức năng và ngữ dụng học nhằm chỉ ra những đặc trưng bản chất và cơ chế tác động của trợ từ trong giao tiếp
Thực hiện đề tài này chúng tôi đặt ra cho mình nhiệm vụ:
1 Khảo sát các sắc thái ý nghĩa của một số trợ từ tình thái tiếng việt
2 Chỉ ra cách thức sử dụng của các đơn vị ấy trong giao tiếp
3 Trên cơ sở đó nêu một số nhận xét bước đầu về việc sử dụng một số trợ từ tình thái trong phương ngữ các vùng và việc dạy học từ loại này trong trường phổ thông hiện nay
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Là một từ loại thuộc nhóm hư từ, trợ từ đã được nhiều nhà Việt ngữ học khảo sát khi họ đi vào miêu tả hệ thống từ loại tiếng Việt
Từ trước đến nay, từ loại này đã được gọi bằng nhiều tên khác như :
1 Ngữ khí hiện từ: cách gọi của Bùi Đức Tinh [ 1]
2 Trợ ngữ từ : cách gọi cuả Trần Trọng Kim [50]
3 Tiểu từ hậu trí: cách gọi của Hoàng Tuệ [21]
Trang 74 Ngữ khí từ: cách gọi của Trương Văn Chình – Nguyễn Hiến Lê [52], Nguyễn Kim Thản [44], Nguyễn Anh Quế [40]
5 Phụ từ cảm thán: cách gọi của Lê Văn Lý [30]
6 Trợ từ: cách gọi của Nguyễn Tài Cẩn [31], Hoàng Phê [18], Hồ Lê [52] Hoàng Văn Thung [20], Nguyễn Hữu Quỳnh [41], các tác giả sách giáo trình tiếng Việt [3]
7 Từ đệm : Cách gọi của Trịnh Mạnh – Nguyễn Huy Đàn [54] Đái Xuân Ninh [8]
8 Tình thái từ ( hay tiểu từ tình thái): cách gọi của Diệp Quang Ban [6], Đinh VĂn Đức [9] Đinh Trọng Lạc [10], Nguyễn Thị Từơng [39]
………
Số đông các nhà nghiên cứu đều xếp trợ từ vào nhóm các hư từ câu tiếng Việt Ngoài ra còn có quan điểm xếp trợ từ vào nhóm “tình thái từ” tiêu biểu là ý kiến của Đinh Văn Đức [9] và Hữu Quỳnh [41] ( các tác giả này phân chia kho từ vựng tiếng việt thành 3 nhóm : thực từ, hư từ và tình thái từ)
Cách nhìn nhận về phạm vi của từ loại này trong quan niệm của các nhà nghiên cứu cũng không thật nhất quán :
- Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê xếp chung vào nhóm trợ từ ( hay ngữ khí từ) cả những đơn vị mà ngữ pháp truyền thống vẫn gọi là thán từ
- còn “trợ từ” theo quan niệm của Đinh Văn Đức chỉ bao gồm các từ “biểu đạt ý nghĩa tình thái với mục đích nhấn mạnh, tăng cường” [9,189] Tác giả xếp vào nhóm tiểu
từ tình thái các từ ngữ khí : à, ư, nhỉ, nhé… và cả các thán từ: ái chà, ôi chao, than ôi, hỡi ôi…
- Hồ lê gọi chung những từ như : à, ư, nhỉ, nhé, đi, rồi… cùng với các từ chẳng lẽ… sao, chẳng phải… là gì, có lẽ… đều là “ trợ từ”
- Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Phê, và các tác giả sách giáo trình tiếng việt cùng thuật ngữ “ trợ từ” để gọi chung hai nhóm:
+ Ngay, cả , chính, nhưng, hàng, đích, cũng (1 )
+ À, ư, nhỉ, nhé, đi, chứ, thôi, ( 2 )
- Diệp Quang Ban Hoàng Văn Thung Nguyễn Anh Quế” chỉ coi nhóm (1) là trợ
từ, nhóm (2) được các tác giả gọi là “tình thái từ, hoặc : ngữ khí từ”
Trang 8Việc phân loại và miêu tả đặc điểm, chức năng của các đơn vị trợ từ đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập với mức độ đậm nhạt khác nhau Trong số đó, đi sâu khảo sát về ý nghĩa và cách sử dụng của trợ từ phải kể đến của tác giả Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Anh Quế
Bàn về ý nghĩa của ngự khí từ, Nguyễn Kim Thản cho rằng: “ ngữ khí từ không có
ý nghĩa từ vựng không ai định nghĩa được à, nhé,… là gì cả Nhưng đặt vào trong câu thì
nó có tác dụng làm cho loại hình của câu được xác định [44,411] Theo ông, ngữ khí từ “ không phục vụ cho một từ nào riêng biệt trong câu mà phục vụ cho cả câu” [44,412] và chức năng cơ bản của nó là tạo kiểu câu ( nghi vấn, mệnh lệnh, cảm thán) hoặc biểu thị thái độ tình cảm của người nói
Nguyễn Anh Quế tách biệt “trợ từ” và “ngữ khí tứ” ông quan niệm “trợ từ” là loại
hư từ” phụ trợ cho một yếu tố(một từ) trong đoản ngữ hoặc trong câu” [40,216] Theo ông, “xét về mặt ý nghĩa, mức độ hư hóa của các ngữ khí từ không đồng đều, có từ hư hóa khá triệt để nhưng cũng có những từ mối liên hệ ngữ nghĩa giữa chúng với các thực
từ vốn là từ xuất phát còn khá rõ” [40, 221] Đề cập đến chức năng của ngữ khí từ, cũng như Nguyễn Kim Thản, ông khẳng định “ có ngữ khí từ dùng để tạo các kiểu câu khác nhau( nghi vấn, mệnh lệnh, khẳng định, phủ định…) có ngữ khí từ chỉ dùng để biểu thị một thái độ trong khi nói ( kính trọng, lễ phép, thân mật…) Do vậy ông phân ngữ khí từ
ra thành hai nhóm: các ngữ khí từ tạo câu và các ngữ khí từ biểu thị thái độ Điều trùng hợp giữa Nguyễn Anh Quế và nguyễn Kim Thản là cả hai ông đều miêu tả khá chi tiết cách dùng của 22 trợ từ, trong số đó có 20/22 trợ từ giống nhau
Tuy nhiên, cũng như số đông các nhà Việt ngữ học Nguyễn Kim Thản và Nguyễn Anh Quế mới chỉ nghiên cứu trợ từ một cách độc lập trong câu mà nó xuất hiện chưa đặt chúng vào một ngữ cảnh rộng trong mối quan hệ với các thành tố tác động và chi phối quá trình giao tiếp ( hoàn cảnh giao tiếp, quan hệ vai xã hội và quan hệ tình cảm của những người tham gia giao tiếp) nên kết quả nghiên cứu vẫn còn hạn chế”
Trợ từ không chỉ được miêu tả với tư cách là một trong số các từ loại của tiếng Việt
mà còn được khảo sát từ góc độ là phương tiện biểu thị câu nghi vấn Hoàng trọng Phiến[19], Diệp Quang Ban [6], Cao Xuân Hạo[4]… đã nêu lên một số nhận xét sơ bộ về
đặc trưng của những câu hỏi kết thúc bẳng các từ nhỉ, nhé, à, ư tu, hả… từ đó chỉ ra vai
trò là công cụ biểu đạt tình thái hỏi và ý nghĩa biểu hiện các sắc thái nói năng của các đơn vị này Đi theo hướng này, Nguyễn Thị Từơng đã gắn việc khảo sát “ một số tiểu từ
tình thái dứt câu trong tiếng Việt” ( chứ, ạ, nhỉ, nhé) với lý thuyết lịch sự” có thể xem tiểu
tư tình thái dứt câu như là những chỉ một số điều chỉnh tính lịch sự trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, góp phần đáng kể vào việc đạt/ không đạt hiệu quả giao tiếp “ [39,68] Đây là
Trang 9một hướng tiếp cận lý thú, gợi mở nhiều điều mới mẻ về khả năng hoạt động và phạm vi
sử dụng của các trợ từ trên trong giao tiếp
Trợ từ còn được nghiên cứu theo một hướng khác, giáo sư Nguyễn Đức Dân đã khảo sát các trợ từ : Cũng, chính, cả, ngay, có những, với dưới góc độ logic ngữ nghĩa [35] và đã có những kiến giải xác đáng, giàu sức thuyết phục về sắc thái ý nghĩa và vai trò của các đơn vị ấy trong giao tiếp
Tuy nhiên, đó chưa phải là nhưng công trình nghiên cứu toàn diện về trợ từ, kết quả nghiên cứu chỉ mới ở mức khái quát hoặc dừng lại ở việc khảo sát một số đơn vị ít ỏi Nhìn chung, từ trước đến nay đã có không ít các công trình nghiên cứu đề cập đến trợ từ, một số đơn vị của từ loại này đã được khảo sát từ nhiều góc độ khác nhau Các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng: trợ từ tuy là một từ loại cư số tượng rất nhỏ nhưng lại có vai trò quan trọng giao tiếp và đã nêu đưọc một số nhận xét chính xác, khoa học về vai trò, ý nghĩa và cách dùng của một số các trợ từ song, hầu như chưa có một công trình chuyên sâu nào khảo sát một cách toàn diện, hệ thống các đơn vị của từ loại này và đặt chúng vào một ngữ cảnh rộng trong mối quan hệ với các thành tố tác động và chi phối quá trình giao tiếp (hoàn cảnh giao tiếp, quan hệ vai xã hội và quan hệ tình cảm của những người tham gia giao tiếp ( người nói, người nghe ) để xem xét vai trò, ý nghĩa và phạm vi hoạt động của chúng
Tiếp thu và kế thừa thành quả của những người đi trước, ở đề tài này người viết sẽ
đi vào khảo sát một số trợ từ tình thái bổ sung ý nghĩa cho cấu trúc câu tiếng Việt Nguyên lí làm nền tảng cho công việc của chúng tôi là : xem xét các sự kiện ngôn ngữ dựa trên mối quan hệ chức năng giữa ba bình diện cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng
3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ đi vào khảo sát 42 đơn vị trợ từ tình thái bổ sung ý nghĩa cho cấu trúc câu Đây là nhưng trợ từ được sử dụng khá phổ biến, có khả năng đảm nhận nhiều vai trò khác nhau trong giao tiếp, mang nhiều ý nghĩa tình thái phong phú và có nguồn gốc khác nhau Chúng tôi lựa chọn khảo sát danh sách này nhằm mục tiêu thông qua việc nghiên cứu từng đơn vị cụ thể, khái quát được nhưng đặc điểm chung về ngữ nghĩa, chức năng
và bản chất của nhóm các trợ từ tình thái bổ sung ý nghĩa cho cấu trúc câu tiếng Việt
Một số nhận xét bước đầu được nêu ra trong đề tài này về sự khác biệt trong việc
sử dung trợ từ ở các vùng phương ngữ giới hạn ở việc so sánh, đối chiếu giữa phương ngữ Bắc bộ và phương ngữ Nam Bộ dựa trên kết quả khảo sát các đơn vị nêu trên
4 phương pháp nghiên cứu
Trang 10Thực hiện đề tài này chúng tôi đã phối hợp vận dụng các phương pháp thống kê, phân loại, miêu tả, so sánh đối chiếu và phân tích ngữ cảnh của ngữ dụng học Quá trình nghiên cứu được tiến hành như sau:
- Thống kê tất cả ngữ cảnh mà các trợ từ tình thái được lựa chọn khảo sát có thể xuất hiện
- Phân loại các trợ từ tình thái ấy thành một nhóm căn cứ vào ý nghĩa mà chúng biểu thị và chức năng của chúng trong câu
- Miêu tả đặc trưng ngữ nghĩa và cách sử dụng của từng trợ từ trong thế so sánh, đối chiếu với các từ khác trong cùng một nhóm hoặc khác nhóm để chỉ ra nét nghĩa riêng và khả năng hoạt động của chúng trong giao tiếp ở bước này người viết cũng đã sử dụng phương pháp phân tích ngữ cảnh của ngữ dụng học khi đặt các trợ từ vào một ngữ cảnh rộng trong mối quan hệ với các thành tố tác động và chi phối quá trình giao tiếp để khảo sát chúng
Như vây, để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra chúng tôi đã vận dụng hai phương pháp nghiên cứu chuyên nghành: phương pháp nghiên cứu cấu trúc ngôn ngữ với các thủ pháp thống kê, phân loại, miêu tả, so sánh, đối chiếu ngôn ngữ và phương pháp phân tích ngữ cảnh
Các cứ liệu ngôn ngữ sử dụng trong đề tài này được trích từ các tác phẩm văn học ra đời ở nhiều miền đất nước và trải ra trong những thời kì khác nhau, ngoài ra người viết cũng dựa vào cảm nhận của người bản ngữ để nhận xét và chứng minh cho các luận điểm của mình
5 Đóng góp của luận văn
Thực hiện đề tài này, người viết mong muốn góp một tiếng nói khiêm tốn vào việc miêu tả đặc trưng ngữ nghĩa và chỉ ra cách thức sử dụng của một số trợ từ tình thái tiếng Việt Bên cạnh đó, việc thực hiện đề tài này sẽ góp thêm cứ liệu về việc phân biệt ranh giới giữa các từ loại thuộc nhóm hư từ, chỉ ra sự khác biệt cua vệc sử dụng trợ từ trong các vùng phương ngữ Danh sách về các trợ từ tính thái bổ sung ý nghĩa cho cấu trúc câu
sẽ cung cấp tư liệu chi tiết cho việc lập trình của máy vi tính xử lí văn bản tiếng Việt Gắn việc nghiên cứu với việc dạy- học tiếng việt trong nhà trường, người thực hiện
đề tài cũng mong được góp thêm những ý kiến cụ thể và thiết thực về việc giảng dạy tiếng Việt nói chung và từ loại trợ từ nói riêng
6.Cấu trúc của luận văn
Trang 11Luận văn gồm 103 trang, trong đó có 93 trnag chính văn, một bản phụ lục danh sách các trợ từ được khảo sát trong luận văn Luận văn được chia làm ba phần: dẫn luận, đặc trưng ngữ nghĩa và cách sử dụng một số trợ từ tính thái tiếng Việt và kết luận
Phần thứ hai là phần chính của luận văn, phần này gồm 4 chương:
Chương I : Từ và nghĩa của từ
Chương II ; Trợ từ trong hệ thống hư từ tiếng Việt
Chương III : Các trợ từ bổ sung ý nghĩa cho cấu trúc câu tiếng Việt
Chương IV : Trợ từ trong phương ngữ các vùng và việc dạy - học từ loại này trong trường phổ thông
Trang 12
ĐẶC TRƯNG NGỮ NGHĨA VÀ CÁCH SỬ DỤNG MỘT SỐ TRỢ TỪ TÌNH THÁI TIẾNG VIỆT
CHƯƠNG I: TỪ VÀ NGHĨA CỦA TỪ 1.1 Quan niệm về từ
Từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên, sẵn có của ngôn ngữ F.De saussure đã nhấn mạnh :
“ người bản ngữ thấy thế nào thì ngôn ngữ là như vậy” chính tổng thể vốn từ của một dân tộc là vật liệu cần yếu để xây dựng ngôi ngôn ngữ của dân tộc ấy, thiếu nó thì không thể kiến tạo được ngôi nhà đó Do vậy, từ chẳng những là đơn vị cơ bản của từ vựng học
mà còn là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ nói chúng
Hiện nay tồn tại trên 300 định nghĩa khác nhau về từ nhưng lại không có một định nghĩa nào làm thỏa mãn tất cả mọi người sở dĩ có tình trạng này là vì do có sự khác biệt
về cách định hình, về chức năng, về đặc điểm ý nghĩa của từ: “ có từ mang chức năng định danh, có từ không mang chức năng định danh ( số từ, thán từ, phụ từ), có từ biểu thị khái niệm, có từ chỉ là dấu hiệu của những cảm xúc nào đó ( thán từ), có từ liên hệ với những sự vật, hiện tượng ngoài thực tế, có từ lại chỉ biểu thị những quan hệ trong nội bộ ngôn ngữ mà thôi, có từ tồn tại trong nhiều dạng thức ngữ pháp khác nhau, có từ chỉ tồn tại trong một dạng thức mà thôi, có từ tồn tại trong một dạng thức mà thôi” [44,61]
Từ là đơn vị cơ bản và hiện thực của ngôn ngữ độc lập về ý nghĩa, có kết cấu bền chặt, cố định, được vận dụng tự do trong lời nói như một chỉnh thể thống nhất về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp để trực tiếp cấu tạo ngữ doạn
1 2 Quan niệm về nghĩa của từ
Trong các ngôn ngữ, không có mội từ nào lại không mang một ý nghĩa nào đó Nghĩa của từ là “ kết quả của một quá trình trừu tượng hóa từ nhưng trường hợp sử dụng
tư ngữ trong ngôn từ, Trong những câu nói cụ thể “ [4 ,54 ] Bản chất ý nghĩa của từ bộc
lộ qua các chức năng tín hiệu học mà chúng đảm nhiệm, phản ánh mối quan hệ giữa từ (ngôn ngữ )với thực tại,với tư duy, với người sử dụng và quan hệ giữa các từ với nhau trong nội hộ ngôn ngữ Nghĩa của từ do vậy là một phức thể gồm nhiều thành tố tạo thành có thể hình dung các thành phần ý nghĩa của từ qua sơ đồ sau :
Trang 132.1.1 Nghĩa sở chỉ
Thể hiện mối quan hệ của từ với đối tượng mà từ biểu thị Đối tượng ấy có thể là những sự vật, những thuộc tính, hành động, phẩm chất hoặc hiện tượng thực tế nào đó được gọi là cái sở chỉ của từ
Cái sở chỉ của từ chỉ lộ ra trong những tình huống nói năng cụ thể Tuy vậy trong ngôn ngữ có những từ bao giờ cũng có sở chỉ và luôn xác định Đó là các đại từ nhân xưng, đại từ trực chỉ ( đây, đó, này ấy, kia, thế…), các danh ngữ được xác định bằng từ trực chỉ và các danh từ riêng
2.2.1 Nghĩa sở biểu
Thể hiện mối quan hệ của từ với khái niệm hoặc biểu tượng mà từ biểu hiện ( khái niệm hoặc biểu tượng ấy được gọi là cái sở biểu của từ) Nghĩa sở biểu của từ là cái có tính chất ổn định và lệ thuộc vào hệ thống ngôn ngữ
“Cái sở biểu và cái sở chỉ của một từ có quan hệ chặt chẽ với nhau Cái sở biểu chính là sự phản ánh của cái sở chỉ trong nhận thức của con người (…) một cái sở biểu
có thể ứng với nhiều cái sở chỉ khác nhau, và ngược lại một cái sở chỉ có thể thuộc vào những cái sở biểu khác nhau” [14,79]
Ví dụ: một phụ nữ trong gia đình được các con gọi bằng mẹ, được cụ thân sinh gọi bằng con, được ông anh gọi bằng cô, được cô em gọi bằng chị Đến xí nghiệp người phụ
nữ ấy được công nhân gọi là quản đốc phân xưởng và các công đoàn viên trong xí nghiệp gọi là chủ tịch công đoàn Các từ ngữ “ mẹ”, “con” “ cô”, “ chị”, “ quản đốc”, “ chủ tịch công đoàn” là đồng sở chỉ vì cùng chỉ một người cụ thể
Trang 142.3.1 Nghĩa sở dụng
Thể hiện mối quan hệ của từ với người sử dụng ( người nói, người viết, người nghe, người đọc ) Trong giao tiếp và tư duy, con người hoàn toàn không thờ ơ đối với từ ngữ mình dùng Người nói bao giờ cũng hàm thêm ý tình thái, người nghe phải rút ra thái độ, tình cảm của người nói thể hiện trong lời
Ví dụ: Quyển sách ấy giá có mười nghìn
Tư “có” trong câu trên chứa đựng hàm ý giá của quyển sách ấy là rẻ
Bằng từ ngữ và qua từ ngữ, người sử dụng bộc lộ thái độ, cảm xúc của mình Ý nghĩa dụng pháp của từ được đúc kết từ thực tế sử dụng ngôn từ của con người
2.4.1 Nghĩa kết cấu
Thể hiện mối quan hệ giữa các từ với nhau trong nội bộ ngôn ngữ Thực tại cho thấy mỗi từ đều nằm trong một hệ thống từ vựng có quan hệ đa dạng và phức tạp với những từ khác nhau Theo F de Sausure, mọi cơ chế của ngôn ngữ đều xoay xung quanh hai trục : trục ngữ đoạn và trục đối vị Các từ nằm trên trục ngữ đoạn có quan hệ kết hợp ( còn được gọi là quan hệ ngữ đoạn – syntagmatic relation), các từ nằm trên trục đối vị có quan hệ liên tưởng ( còn gọi là quan hệ đối vị - paradigmatic relayion) Quan hệ của từ với các từ khác trên trục ngữ đoạn tạo nên ngữ trị ( nghĩa cú pháp) và quan hệ của từ với các từ khác trên trục đối vị tạo nên giá trị ( nghĩa khu biệt) của từ
Ngự trị của từ chính là khả năng kết hợp từ vựng và khả năng kết hợp cú pháp của
từ ( khả năng sử dụng từ trong những cấu trúc nhất định)
Ý nghĩa của từ vừa là cái riêng của từng từ, vừa là cái chung cho những từ cùng loại Khảo sát ý nghĩa của từ ta không chỉ tìm hiểu để nắm bắt nét nghĩa riêng của từng từ
mà cả cái chung về ý nghĩa từ loại của cả nhóm, có thế mới thật sự hiểu từ, hiểu được những nét nghĩa tinh tế trong từ
Trang 151.3 các nhân tố chính tác động và chi phối việc lựa chọn và chi phối việc lực chọn và sử dụng từ trong giao tiếp
Theo quan điểm của lí thuyết dụng học giao tiếp là một quá trình tương tác chịu tác động của nhiều nhân tố Do vậy khi nghiên cứu một phát ngôn nào đó, người nghiên cứu cần xem xét phát ngôn ấy mội cách tổng hợp không chỉ ở cấu trúc bên trong của phát ngôn mà cả với các yếu tố nằm ngoài phát ngôn nhưng lại có quan hệ mật thiết đến giá trị biểu đạt hoặc khả năng đánh giá về phát ngôn đó
Theo S M Ervin Tripp [49] một quá trình giao tiếp sẽ chịu tác động của các thành tố:
- Hoàn cảnh giao tiếp
- Người tham gia giao tiếp
- Đề tài giao tiếp
- Chức năng giao tiếp
- Đặc điểm của hình thức giao tiếp
Trong năm thành tố trên , nhiều nhà nghiên cứu cho rằng hai thành tố quan trọng nhất Trong quá trình giao tiếp là hoàn cảnh giao tiếp và người tham gia giao tiếp
Quá trình giao tiếp bao giờ cũng diễn ra trong một hoàn cảnh nhất định Hoàn cảnh giao tiếp đóng vai trò quyết định Trong việc tạo ra và tiếp nhận các phát ngôn cả về hình thức và nội dung R Lakoff [ 48 ] đã nêu lên quan niệm về hoàn cảnh giao tiếp gắn với
lý thuyết lịch sự (theory of politeness ) Tác giả chia hoàn cảnh giao tiếp thành hai loại cơ bản :
1 Bối cảnh nghi lễ chính thức hay Trong ngoại giao, loại này thường mang tính hình thức, trang trọng
2 Bối cảnh không nghi lễ chính thức
Loại này được tác giả chia thành hai mức độ :
- Bối cảnh giao tiếp bình thường
- Bối cảnh giao tiếp thân mật, gần gũi
Trang 16Giáo sư Như Ý đã có những ý kiến cụ thể và xác đáng khi bàn về nhân tố người tham gia giao tiếp Trong bài viết “ Vai xã hội và ứng xử xã hội trong giao tiếp “ [ 46] của mình tác giả nhận định; “ Con người trong giao tiếp ngôn ngữ không phải là người nói hoặc người nghe mà là các thành viên của hệ thống xã hội cụ thể và các thành viên đó bao giờ cũng ở vào một địa vị xã hội nhất định với các quan hệ xã hội nhất định theo các qui tắc thiết chế và chuẩn mực xã hội của từng hệ thống “ ông quan niệm vai xã hội của người tham gia giao tiếp là: “ vị trí hay chức trách và các quan hệ xã hội ấn định cho một
cá nhân nào đó trong một hệ thống xã hội” và phân chia vai xã hội của những người tham gia giao tiếp thành hai nhóm :
- Vai thường xuyên: được đặc trưng bởi giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp
- Vai lâm thời gồm có:
+ Vai lâm thời thể chế: giám đốc - công nhân, giáo viên - học sinh
+ Vai lâm thời tình huống: người bán hàng - người mua hàng, chủ - khách,
Căn cứ vào mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên trong cặp vai, tác giả của bài viết trên chia quan hệ vai thành hai nhóm:
1 Vai người nói ngang hàngvới người nghe ( A = B với A; người nói, B : người
nghe
2 Vai người nói không ngang hàng với người nghe, bao gồm :
- Vai người nói thấp hơn vai người nghe ( A < B ) :
Ví dụ : con cái - cha mẹ học sinh - thầy giáo
- Vai người nói cao hơn vai người nghe ( A > B ) :
Ví dụ : ông - cháu , thủ trưỏng - nhân viên
Theo tác giả mỗi cá nhân không phải bao giờ cũng chỉ ứng với một vai xã hội Trong thực tế “con người luôn luôn ở vào thế quan hệ giao tiếp đa dạng với nhiều lớp người, loại người khác nhau về địa vị xã hội, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, học vấn, uy tín xã hội “ Do vậy khi “các mối quan hệ của cá nhân càng rộng, càng đa hướng thì số vai anh ta mang càng phong phú”
Vai xã hội đã để lại dấu ấn hết sức đậm nét trong hành vi ngôn ngữ của con người Trong giao tiếp mỗi cặp vai xã hội có một cách sử dụng ngôn ngữ riêng phù hợp
Trang 17với chuẩn mực ứng xử xã hội và tương ứng với một biến thể ngôn ngữ cá nhân của vai
đó
Bên cạnh quan hệ vai xã hội, quan hệ tình cảm của những người đối thoại cũng ià một nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến việc lựa chọn và sử dụng từ ngữ trong giao tiếp
Từ thực tế sử dụng ngôn ngữ chúng ta nhận thấy để đánh giá một phát ngôn là lịch
sư hay thiếu lịch sự ( tức có đạt hiệu quả giao tiếp hay không ) ta phải căn cứ vào các nhân tố nằm ngoài phát ngôn, Cụ thể :
- Hoàn cảnh diễn ra cuộc thoại ( có tính chất nghi lẽ hay không nghi lễ, trang trọng hay bình thường)
- Quan hệ vai xã hội của A và B ( A ở cương vị xã hội nào, cao hay thấp)
- Tình cảm của A đối với B ở thời điểm đối thoại ( bực tức, hoài nghi, trung hòa hay thân mật, kính trọng)
Ví dụ: giả định có hai phát ngôn của A và B
A ( Bà): cháu đến chơi đấy hử? (+) (1)
B( cháu ): Bà đến chơi đây hử ? ( - ) ( 2 )
Nội dung của hai phát ngôn là như nhau, nhưng do quan hệ vai của A > B nên phát ngôn ( 1 ) được chấp nhận , còn phát ngôn ( 2 ) bị xem là vô lễ để đạt hiệu quả giao tiếp, thể hiện sự lễ phép, kính trọng đối với A, B phải lựa chọn và sử dụng các từ ngữ phù hợp
vớ vị thế < A của mình ( Bà đến chơi ạ.)
Tóm lại, phép lịch sự Trong giao tiếp đã tác động và chi phối đến việc lựa chọn và
sử dụng ngôn ngữ Trong giao tiếp Trong đó ba nhân tố chính có ảnh hưởng trực tiếp đến việc biểu thị tính lịch sự của các phát ngôn đó là: hoàn cảnh giao tiếp, quan hệ vai xã hội
và quan hệ tình cảm của những người tham gia giao tiếp
Trang 18
Chương 2:: TRỢ TỪ TRONG HỆ THỐNG HƯ TỪ TIẾNG VIỆT
2.1 Hư từ tiếng việt
Xuất phát từ quan niệm từ loại là một phổ niệm của mọi ngôn ngữ và dựa vào các tiêu chí về ngữ nghĩa, vào tổ chức đoản ngữ, vào chức năng cú pháp hoặc dựa vào một tập hợp các tiêu chí về ngữ nghĩa, về khả năng hoạt động của từ, số đông các nhà việt ngữ học đã phân chia kho tàng từ vựng tiếng Việt thành hai loại lớn: thực từ và hư từ đối lập nhau về ý nghĩa và hoạt động cú pháp Thực từ bao gồm các loại từ ( định từ, phó từ), quan hệ từ ( kết từ), trợ từ và thán từ ( hay gộp chung là tiểu từ) Đại diện cho khuynh hướng này là các tên tuổi : Nguyễn Tài Cẩn [31], Nguyễn Kim Thản [44], Nguyễn Anh Quế [40], Nguyễn Minh Thuyết [45],…
Ngoài ra còn có quan điểm phân vốn từ tiếng Việt thành ba nhóm: thực từ ( gồm danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ), hư từ ( gồm phó từ, quan hệ từ) và” tình thái từ” ( gồm trợ từ và thán từ) Tiêu biểu cho quan điểm này là các giáo sư Đinh Văn Đức và Hữu Quỳnh Khi đối lập “ hư từ” ( phó tứ, quan hệ từ)và “ tình thái từ” ( trợ từ, thán từ) Đinh Văn Đức cho rằng: “ bản chất ý nghĩa của hư từ là tính chất ngữ pháp, là phương tiện biểu đạt mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy theo cách thức phản ánh bằng ngôn ngữ cảu người bản ngữ” [9,120], trong khi đó “ tình thái từ không có ý nghĩa từ vựng và cũng không có ý nghĩa ngữ pháp Ý nghĩa của các từ tình thái diễn đạt mối quan hệ giữa người nói với thực tại, nhờ đó góp phần hình thành mục đích phát ngôn” [9,121]
Không thể cho rằng “hư từ” có ý nghĩa ngữ pháp, còn “tình thái từ” không có ý nghĩa ngữ pháp bất kì một từ nào trong ngôn ngữ cũng đều có ngữ trị của chúng Đó là khả năng kết hợp của từ và khả năng sử dụng từ trong những câu trúc nhất định Trợ từ
và thán từ mang nhiều đặc điểm chung gần gũivới phụ từ và quan hệ từ Việc tách biệt trợ
từ và thán từ thành nhóm tình thái từ ( trong thế đối lập với thực từ và hư từ ) theo người viết là không thật cần thiết và thoả đáng Mặt khác, trong tiếng Việt không chỉ có trợ từ
và thán từ biểu lộ tình thái Khái niệm tình thái ( hiểu theo nghĩa rộng ) không chỉ là những sắc thái tình cảm, cảm xúc của người nói khi phát ngôn mà còn là các tình thái của hành động phát ngôn ( trần thuật, cầu khiến, nghi vấn,phủ định), các tình thái của nội dung mệnh đề Khảo sát kho từ vựng tiếng Việt, chúng ta có thể phân biệt 3 loại từ tình thái : Các động từ tình thái, các phó từ tình thái và các trợ từ tình thái
Các từ loại phụ từ, quan hệ từ, trợ từ và thán từ được xếp vào nhóm hư từ (hư : trống rỗng) bởi vì các từ loại này có ý nghĩa vật chất mờ nhạt, không biểu hiện các sự vật, hiện tượng như thực từ, không thể làm trung tâm của ngữ hay thành phần chính của câu chúng chỉ có thể hoặc giữ chức năng nối kết các đơn vị hay biểu thị các quan hệ cú pháp Tuy nhiên hư từ “ có vai trò quan trọng trong sự hình thành nghĩa của câu, những nghĩa
Trang 19đó độc lập với thực từ”, chúng không chỉ có ý nghĩa tình thái và biểu thị các quan hệ khác nhau, mà còn “ biểu hiện điều kiện cùng của câu, biểu hiện các hành vi ngôn ngữ, biểu hiện các hàm ý” [35,175]
2.1.Từ loại trợ từ
2.1.1 Tên gọi
Từ trước đến nay trợ từ được gọi bằng nhiều tên khác nhau: ngữ khí hiện từ, phụ từ cảm thán, từ đệm, từ ngữ khí, tiểu từ tính thái… các tên gọi phần nào đã nói lên đặc điểm của từ loại này: là hư từ phụ trợ nằm ngoài cấu trúc của đoản ngữ, trong giao tiếp nó chỉ đóng vai trò là phần phụ tình thái được đệm thêm vào lời nói
2.2.2 Khái niệm:
Trợ từ là những hư từ dùng trong câu nhằm thể hiện thái độ của người nói đối với hiện thực khách quan và quan hệ về nhiều mặt giữa người nói với người nghe ( như quan
hệ vai xã hội, quan hệ tình cảm giữa họ với nhau )
Các trợ từ thường dùng : cũng, chính, ngay, cả, những , đích, à, ư, nhỉ, nhé,
chứ, kia, thôi, đấy
Ví dụ : - Gớm, cái bà Nghị, giàu thế mà còn làm điêu (NTT - TĐ)
- Ông đến ngay nhé ! (NCH – TNTC)
- Bầm ơi sớm sớm chiều chiều
Thương con bầm chớ lo nhiều bầm nghe ![ TH – TPT ]
2.2.3 Ý nghĩa
Nét nghĩa đặc trưng của trợ từ là biểu thị tình thái nhằm thể hiện thái độ, tình cảm, hàm ý của người nói đối với hiện thực khách quan và với đối tượng tham dự giao tiếp Thái độ cảu người nói đối với hiện thực khách quan và với đối tượng tham dự giao tiếp mang tính chất chủ quan Chính vì thế ý nghĩa tình thái do trợ từ tạo ra là ý nghĩa bổ sung cho thông báo của câu
Ví dụ 1: - san ăn hai quả chuối (1)
- San ăn những hai quả chuối (2) (NC –TTNC)
Trang 20- Hai câu trên cùng miêu tả một sự kiện, sự có mặt trợ từ những ở câu (2) khiến câu mang thêm hàm nghĩa : san ăn (những ) hai quả chuối là nhiều
Ví dụ 2 : - Anh dùng bia ạ ? ( 3 )
- Anh dùng bia nhé'! ( 4 )
Về cơ bản hai câu trên là như nhau ( ạ, nhé cùng dánh dấu hành động ngôn trung hõi (mời)), tuy nhiên sắc thái tình cảm và hàm ý của chung khác nhau Câu (3) biểu thị thái độ kính trọng của người nói, nội dung giao tiếp của người hướng đến người nghe chỉ đơn thuần là hỏi: tôi nghĩa rằng anh dùng bia, có phải không ? câu (4) không chỉ biểu thị thái độ thân mật của người nói đối với người nghe mà còn có hàm ý gợi ý : theo tôi, anh hùng bia thì hơn, anh hãy dùng bia
2.1.4 Chức năng:
Trong giao tiếp, từ loại Trợ từ đảm nhận các vai trò sau :
1 Bổ sung ý nghĩa tình thái cho thành tố của ngữ, cho thành phần câu hoặc cho câu
Ví dụ ; - Ngay như mấy anh Tây đoan không can thiệp gì mà ông ấy cũng quy lụy
(NCH - HĐC)
- câu nào đến tếu
2 Phục vụ cho việc cấu tạo các kiểu câu chỉ rõ mục đích phát ngôn ( tạo dạng câu nghi vấn, cầu khiến, cảm thán )
Ví dụ : - Chị xuông xe ở đây à ?
- Nhớ viết thư nhé
- Đau đón thay phận đàn bà (ND - TK )
Khi thêm một trợ từ vào sau một từ hoặc một cụm từ (đẳng lập, chính phụ), chúng
có tác dụng biến các từ hay cụm từ đó thành phát ngôn
Ví dụ : - Cà phê - Cà phê nhé ?
- Ăn phở - Ăn phở cơ !
3 Hướng tới người đối thoại, tạo mạch liên kết giao tiếp giữa người nói và người nghe
Ví dụ : - Mai chị đi ư?
Trang 21- Mấy giơ tàu đến anh nhỉ?
2.1.5 Vị trí cuả trợ từ trong câu
Do chức năng bổ sung ý nghĩa tình thái cho thành tố, thành phần hoặc cho câu trợ từ thường ở hai vị trí
1 khi bổ sung ý nghĩa tình thái cho thành tố hay thành phần nào, trợ từ thường đứng
ở vị trí trước thành tố hay thành phần ấy
Ví dụ: - Chính tôi trông thấy nó
- Ngay cả làm con tính cộng nó cũng không biết
Đặc điểm này rất giống với đặc điểm của các phụ từ chỉ lượng
2 Khi bổ sung ý nghĩa tình thái cho thông báo của câu, trợ từ thuờng đứng ở cuối câu hoặc cuối phần câu
Ví dụ : - Em đứng ở đây anh toàn nhé!
- Anh toàn em đứng ở đây nhé?
- Em đứng ở đây nhé anh toàn?
Chính nhờ sự xuất hiện của trợ từ ở vị trí này mà mục đích thông báo của câu được thể hiện
Không phải ngẫu nhiên mà trợ từ còn được gọi là “ ngữ khí từ” khi nói năng các từ này được phát âm với một giọng điệu đặc biệt thể hiện rõ mục đích phát ngôn ( hỏi, cầu khiến, cảm thán) hoặc biểu hiện thái độ, tình cảm của người nói ( ngạc nhiên, nhấn mạnh, phê phán, chê bai…) khi viết sắc thái phát ngôn được thể hiện bằng các dấu câu ren văn bản các dấu câu trong trường hợp này đã phát huy tác dụng của nó trong việc biểu thị nghĩa tình thái của hành động phát ngôn
Phần lớn trợ từ dùng trong phong cách khẩu ngữ Dựa vào sự xuất hiện của chúng,
ta có thể khẳng định văn bản được đề cập là văn bản hội thoại
2.1.6 Phân loại
Căn cứ vào ý nghĩa và chức năng, nhiều nhà Việt ngữ học đã chia trợ từ thành hai loại:
Trang 221 trợ từ bổ sung ý nghĩa tình tháicho một yếu tố tong đoản ngữ hoặc trong câu loại này gồm các từ như : cũng, chính, ngay, cả, những, đích, cái, hàng…
ví dụ: - Gớm, cái bà nghị, giàu thế mà còm làm điêu ( Ngô Tất Tố - Tắt đèn)
- Chính tôi đã mua quyển sách này
- Cả bà cụ cũng ra đình xem hát
Các trợ từ thuộc loại này luôn luôn đứng ở vị trí trước thành tố của ngữ hay thành phần của câu được nó bổ sung ý nghĩa
2 trợ từ bổ ung ý nghĩa tình thái cho cả cấu trúc câu
Loại này gồm các từ như : à, ư, nhỉ, nhé, đi, chứ, thôi, kia, đấy, phỏng, hở, hử…
Ví dụ: - Anh về rồi ư ?
- Gió mát quá nhỉ ?
- Lại còn thế nữa kia?
Các trợ từ thuộc loại này còn được phân thành các nhóm nhỏ dựa vào tiêu chí chức năng hoặc vị trí của chúng trong câu
Căn cứ vào chức năng, các trợ từ bổ sung ý nghĩa tình thái cho câu được phân thành hai nhóm: các trợ từ tạo câu và các trợ từ biểu thị thái độ Riêng nhóm các trợ từ tạo câu lại được chia thành 3 nhóm nhỏ dựa theo chức năng tạo dạng câu mà chúng đảm nhận
- Các trợ từ tạo câ nghi vấn: à, ư, chứ, chăng, hả…
- Các trợ từ tạo câu mệnh lệnh: đi, đã, thôi, nào…
- Các trợ từ tạo câu cảm thán: thay, sao…
Căn cứ vào vị trí của chúng trong câu, các trợ từ được phân chia thành 3 nhóm:
- Các trợ từ có khuynh hướng đứng đầu các phát ngôn như: à, thế, đấy…
- Các trợ từ có khuynh hướng đứng cuối các phát ngôn : ư, nhỉ, nhé, ấy, vậy, thôi,
mà…
- Các trợ từ đứng được ở cá câu đầu và cấu cuối phát ngôn: ấy, đấy, đó, kia,
vậy…
Trang 23Các trợ tử bổ sung ý nghĩa tình thái cho các cấu trúc câu là đối tượng khảo sát của người viết ở luận văn này
Trang 24Chương 3: CÁC TRỢ TỪ BỔ SUNG Ý NGHĨA CHO CẤU TRÚC CÂU 3.1 Phân loại
Dựa vào ý nghĩa và chức năng, người viết chia các trợ từ tình thái bổ sung ý nghĩa cho cả cấu trúc câu thành 4 tiểu loại:
3.2 Miêu tả các trợ từ bổ sung ý nghĩa cho cấu trúc câu
Trợ từ a được dùng để biểu thị ý hỏi hơi lấy làm lạ hoặc có ý mỉa mai
Ví dụ : - áo tía, dai vàng bác đấy a? (1)
- Có tiền việc ấy mà xong nhỉ
- Đời trước làm quan cũng thế a? (2) (NK- TNK) Khảo sát các phát ngôn (1) và (2) chúng ta nhận thấy: chính sự có mặt của trợ từ a
đã tạo dạng thức nghi vấn cho phát ngôn, ngoài ra nó còn biểu thị thái độ của người nó được bôc lộ ở các hàm ý:
(1): Bác khác trước, tôi không dám chắc đấy là bác
(2) : Đời này quan lại xấu xa
Trang 25Trợ từ a không chỉ được dùng tring văn viết mà còn được dùng trong giao tiếp hàng
ngày: tạo câu hỏi với sắc thái than mật có pha chút ngặc nhiên
Ví dụ: - Nó đi rồi a? (3)
- Nó làm vậy a? (4) (HBC – CNG)
Đây là cách nói quen thuộc của phương ngữ nam bộ
Trợ từ thường được dùng trong bối cảnh giao tiếp thông thường hoặc giao tiếp thân mật, nó hầu như không bị khống chế bởi quan hệ vai xã hội giữa người nói và người nghe ( có thể vai xã hội A = B hoặc A<B với A: người nói, B: người nghe) quan hệ tình cảm giữa A và B là gần gũi, thân thiết
2 À
Trợ từ à có thể bổ sung cho phát ngôn các ý nghĩa tình thái sau:
1.- biểu thị ý hỏi thân mật để hiểu rõ thêm về điều đó
Ví dụ: - bên đó chưa nhặt lá à? (TNHBTN,5)
- Ông xã chị cũng công tác như chị à? (TNHBTN, 18)
Người đặt câu hỏi này ở trong tình trạng hồ nghi, chỉ phỏng đoán là thế và đặt câu hỏi để biết đích xác hơn
2 – biểu thị ý ngạc nhiên về nội dung hỏi
Ví dụ: - Chị khóc đấy à? ( tiền giả định: A bắt gặp B đang khóc, điều này là trái với suy nghĩ của B)
- Mưa à? ( tiền giả định: lúc nãy trời đang nắng)
à không chỉ tạo dạng cho câu hỏi mà còn biểu thị thái độ ngạc nhiên của người nói
trước tình huống đang chứng kiến hoặc được thông báo
3.- Biểu thị thái độ phản bác ý kiến của người khác
Ví dụ 1: - cậu tưởng dễ lắm à?
Phát ngôn trên chứa đựng tiền giả định trái với hàm ý của người nói
- Tiền giả định : B ( người nghe) cho rằng việc ấy là dễ
Trang 26- Hàm ý ( của A): việc ấy là khó
Trợ từ à biểu thị ý hỏi với ngữ điệu nhấn mạnh vào điều được tiền giả định tỏ thái độ phản ứng, không đồng tình của người nói với người nghe
Ví dụ 2: - anh biết việc đó sao không nói với tôi?
- Tôi biết à? ( tiền giả định, tôi không biết)
Phát ngôn “tôi biết à” ? “ trong ví dụ trên tương đương với” ai bảo tôi biết?”
Trợ từ à nhấn mạnh thêm hàm ý: tôi không hề biết việc đó
Trong các trường hợp này, ngữ cảnh và ngữ điệu của câu sẽ giúp ta nắm rõ nội dung người nói muốn biểu hiện
4.- Biểu thị ý phê phán, nhắc nhở
Ví dụ : - anh không thể im lặng được à? ( tình huống phát ngôn : thầy giáo bắt gặp
sinh viên đang nói chuyện trong giờ học)
- Chị không biết mấy giờ rồi à? ( giám đốc bắt gặp công nhân đi làm muộn)
Trợ từ à trong trường hợp này không có nghĩa hồ nghi mà trái lại xác định một sự việc đã xảy ra rõ ràng dưới hình thức nghi vấn và hàm ý trách móc, phê phán
Câu nghi vấn với trợ từ à được dùng trong giao tiếp thông thường, vai xã hội của người nói lớn hơn hoặc ngang hàng với người nghe( A B), cũng có khi vai xã hội của A nhỏ hơn B ( A<B) nhưng giữa họ có quan hệ tình cảm thân thiết
3 Ạ
Khi được dùng để tạo dạng câu nghi vấn, ạ biểu thị ý muốn hỏi với sắc thái lễ phép,
kính trọng đối với người đối thoại
ví dụ: - ông bà dùng bia ạ? (1) ( tình huống giao tiếp : nhân viên mà hàng hỏi
khách)
- Thưa có phải thế không ạ? (2) (NC-NM) ( tình huống giao tiếp: bác nhân viên
bưu điện hỏi chuyện khách)
Các phát ngôn trên là sự thăm dò, gợi ý của người nói Nó mang tiền giả định:
Trang 27Ông bà dùng bia/ Tôi nghĩ là thế Tuy nhiên, người nói không áp đặt ý kiến chủ quan của mình mà hoàn toàn để ngỏ sự lựa chọn cho người nghe, thể hiện thái độ lịch thiệp, tôn trọng khách hàng Câu trả lời của người đối thoại có thể là:
(1) : - vâng, anh lấy cho tôi 4 lon bia
Hoặc: - không , chúng tôi uống nước ngọt
(2): - Đúng thế
Hoặc: - không, không phải thế
Câu hỏi với trợ từ ạ còn biểu thị một yêu cầu lịch sự được thực hiện dưới hình thức hỏi
Ví dụ:- anh ngồi nhích vào một chút có được không ạ?
- Chị trông cháu bé giúp em một chút có được không ạ?
Hành động ngôn trung được thực hiện ở đây không phải là hành động hỏi mà là hành động cầu khiến
Ạ còn đi kèm với các từ nghi vấn khác như : sao, không, chưa, gì, đâu…, lúc này ạ không có vai trò tạo dạng câu hỏi mà chỉ bổ sung cho các phát ngôn sắc thái lễ phép, kính trọng
Khi dùng để hỏi, các trợ từ a, à, ạ không thể thay thế cho nhau bởi sắc thái hỏi của chúng khác nhau So sánh ba phát ngôn:
Phạm vi sử dụng của trợ từ ạ rất rộng Ạ không chỉ được dùng trong giao tiếp thông thường, mà còn được dùng trong hoàn cảnh giao tiếp chính thức, trang trọng, với vai xã hội của A<B, quan hệ tình cảm giữa A và B có thể xa lạ hoặc gần gũi, thân thiết
4 chăng
Trang 28Trợ từ chăng biểu thị ý hỏi, tỏ ra còn mộ chút nghi ngờ về khả năng hiện thực điều được đề cập
Ví dụ : - Thuyền ơi có nhớ bến chăng? (CD)
- Quân đưa chàng ruổi trên đường Liễu Dương biết thiếp đoạn trường này chăng? (ĐTĐ – CPNDC, 16) Người đặt các câu hỏi trên biết là thế: thuyền có nhớ bến chăng/ chàng biết thiếp buồn khổ nhưng chưa dám quả quyết
Ngoài ra câu hỏi với trợ từ chăng còn mang sắc thái nghi vấn tu từ: hỏi nhưng thật
ra là để khẳng định
Ví dụ: - hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? (CLV –TTCLV)
Câu thơ trên mang hàm ý : tổ quốc ta chưa bao giờ đẹp như thế!
Để tạo câu hỏi, chăng còn xuất hiện trong một vài kết hợp khác: phải chăng?, phải vậy chăng?, phải thế chăng?, trong nhóm ấy phải chăng có thể đứng ở đầu và giữa câu hỏi
Ví dụ : - phải chăng thanh niên ngày nay chỉ biết hưởng thụ?
- Cách đầu tư tốt nhất cho tương lai phải chăng lào học tập ? (BTT) Trợ từ chăng thường được dùng trong phong cách ngôn ngữ văn chương và trong giao tiếp bình thường, thân mật, quan hệ xã hội và quan hệ tình cảm giữa người nói và người nghe không bó buộc
Chăng có thể được thay bằng không nhưng khi ấy sắc thái hỏi của câu đã thay đổi, thử so sánh hai câu:
- Anh đi chăng? (1)
- Anh đi không (2)
Câu (1) biểu thị ý hỏi với một ít hoài nghi, nghiêng về khả năng được trả lời là có (
ừ, vâng), câu (2) hỏi để xác định có hay không có, phải hay không phải, khả năng trả lời giữa “có” và “ không” (đi/ không) là như nhau
5 chứ
Câu hỏi với chứ biểu thị ý ít nhiều đã khẳng định về điều được nêu ra để hỏi
Ví dụ: - anh dùng bia chứ? (1)
Trang 29- mai chị đến sớm chứ? (2)
Tiền giả định của những câu này là:
(1) : anh thích dùng bia
(2) : chị thường đến cơ quan sớm
Mục đích hỏi chỉ là để xác định lại điều đó, Giáo sư Xuân Hạo cho rằng: “ loại câu hỏi này thên về tính chân xác cảu mệnh đề được tiền giả định nhiều hơn, tôi biết rằng P, nhưng tôi muốn nah xác nhận thêm ( tuy rằng có khả năng là anh phủ định như khả năng này không cao” [4, 74] Đây là một nhận xét rất tinh tế và chính xác
Thử so sánh hai câu:
- Anh đi xem phim chứ? (3)
- Anh đi xem phim không ? (4)
Chúng ta nhận thấy khi A hỏi B: “anh đi xem phim chứ? , câu hỏi của A thiên về ý cho rằng B sẽ đi, việc hỏi lại chỉ là để khẳng định chắc chắn hơn và câu trả lời của B cũng nghiêng về ý tán thành Trái với khi hỏi” anh đi xem phim không ?” A không biết đích xác ý định của B và câu trả lời của B có thể là “có” hoặc “ không” cân bằng cả hai khả năng
Cùng được dùng để tạo câu nghi vấn, nhưng sắc thái nghi vấn của trợ từ à, chăng và chứ có khác nhau
Ví dụ: - anh đồng ý à? (5) ( tiền giả định: có một việc gì đó và tôi không rõ anh có đồng ý hay không)
- Anh đồng ý chứ? (6) ( tiền giả định : Tôi biết rằng anh đồng ý)
- Anh đồng ý chăng? (7) ( tiền giả định : Tôi nghĩ là anh đồng ý nhưng còm một chút nghi ngờ về điều đó)
Trong 3 phát ngôn trên, khả năng được trả lời khẳng định của phát ngôn (6) là cao nhất, kế đó là phát ngôn (7) và thấp nhất là phát ngôn (5)
Chứ có thể kết hợp với nhỉ tạo thành chứ nhỉ Nghĩ của câu nghi vấn với tổ hợp trợ
từ chứ nhỉ có tính chất hướng đến người đối thoại nhiều hơn so với câu nghi vấn kết thúc bằng trợ từ chứ, người nói hàm ý rằng “ tôi nghĩ rằng anhc ũng nghĩ như tôi”
Ví dụ: - mai ta về chứ?
- Mai ta về chứ nhỉ?
Trang 30Chứ có biền thể ngữ âm là chớ, chớ thường được dùng trong phương ngư Nam Bộ
Ví dụ: - Anh hứa chắc chớ?
- Ông bà cụ còn song toàn chớ? (HBC – YVT) Chứ thường được dùng trong hoàn cảnh giao tiếp bình thường, thân mật, vai xã hội của A là cao hơn hoặc ngang hàng với B (A B) và giữa họ có quan hệ tình cảm gần gũi, thân thiết trong hoàn cảnh giao tiếp có tính chất nghi lễ chính thức, vai xã hội của A thấp hơn B, quan hệ giữa A và B là lạnh nhạt, xa lạ, dùng trợ từ chứ sẽ bị đánh giá là thiếu lịch
sự, ( khi vai xã hội của A thấp hơn B thì cho dù A và B giao tiếp trong hoàn cảnh bình thường và quan hệ tình cảm giữa A và B là gần gũi, song nếu A dùng trợ từ chứ A vẫn bị đánh giá là kém lễ độ )
Ví dụ: cháu hỏi bà: bà thấy khỏe chứ? (-)
Học sinh hỏi thầy giáo: Thầy sẽ đi cắm trại với chúng em chứ ? (-)
Ở các trường hợp trên nên thêm ạ vào cuối câu để biểu thị sự kính trọng và lễ độ (
Bà thấy khỏe chứ ạ? / Thầy sẽ đi cắm trại với chúng em chứ ạ?)
- Lúa coi tốt ghê anh Xuân há! ( HBC – YVT) (2)
Có thể diễn giải phát ngôn (1) như sau: Nội dung P mà A hỏi (Mưa lớn quá há) là hiện thực đang phơi bày trước mắt ( trời đang mưa lớn), A nghĩ rằng đó cũng chính là nhận xét, suy nghĩ của B( Mưa lớn) A thực hiện hành động hỏi không hẳn để biết ý kiến
ủa B( vì A biết chắc rằng B sẽ đồng ý với mình) mà để nêu lên nhận xét của mình với B một cách thân mật
Trong văn chương cổ trợ từ há cũng được dùng để biểu thị ý như muốn hỏi nhưng thật ra là để khẳng định rằng không có lẽ nào lại như thế
Ví dụ: - một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi huơu
Trang 31(NĐC – VTNSCG)
- Ta há chịu bó tay
Tính chất nghi vấn của các phát ngôn chứa trợ từ há không cao: hỏi nhưng thật ra là
để khẳng định, hỏi nhưng đã biết trước một cách chắc chắn câu trả lời có lẽ vì thế mà những câu có chứa trợ từ há thường không kết thúc bằng dấu chấm hỏi mà được đánh dấu bằng dấu chấm cảm (!)
Các trợ từ hén (hen) và há tuy cùng là phương ngữ Nam Bộ và đều được dùng để biểu thị ý như muốn hỏi nhưng sắc thái ý nghĩa của chúng không đồng nhất với nhau: các phát ngôn chứa trợ từ hén(hen) hướng đến việc tranh thủ sự đồng tình của người đối thoại còn các phát ngôn chứa trợ từ há lại nhằm vào việc khẳng định ý kiến của mình và tỏ thái
độ thân mật với người nghe
Hiện nay, trợ từ há chỉ còn dược dùng trong phương ngữ Nam Bộ với nghĩa tương đương như nhỉ hoặc nhé trong phương ngữ Bắc Bộ ( tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể), vai xã hội giữa người nói và người nghe là A B, quan hệ tình cảm giữa A và B là gần gũi, thân thiết
Ví dụ: - trời lạnh ghê há != trời lạnh ghê nhỉ!
- mai anh dẫn em đi xem phim, anh há!= mai anh dẫn em đi xem phim, anh nhé!
Ví dụ: - dân Hà Nội thứ thiệt hả cậu? (NTKC – TTVT, 59)
- mày không vô hả? (NT- CXT)
2 biểu thị sự ngạc nhiên
Ví dụ: - Anh gọi tôi hả? (tiền gải định : hình như anh không gọi tôi.)
- Nó đi rồi hả? (tiền giả định nó chưa đi)
Trang 32Các phát ngôn trên chứa đựng các tiền giả định trái ngược với nội dung hỏi, ngươi nói tỏ thái độ lấy làm lạ trước sự việc diễn ra vì nó khác với điều mình đoán định
3 câu nghi vấn với trợ từ hả? (1) ( tiền giả định: B nói một điều gì đó mà A cho là nặng nề, có tính chất xúc phạm)
- giờ này mà sớm hả? (2) (tiền gỉa định: B cho rằng giờ này hãy còn sớm nhưng A không đồng tình)
Các phát ngôn trên mang hàm ý:
(1) : nói như thế là sai
(2) Giờ này đã muộn
Hả có các biến thể ngữ âm là hở, hử, hỉ (phương ngữ vùng Thừa Thiên Huế), ha ( phương ngữ Nam Bộ) chúng có thể thay thế cho nhau trong hầu hết các trường hợp, tuy vậy giữa hả, hở, hỉ, và ha cũng có điểm khác biệt:
- câu hỏi với trợ từ hở cũng biểu thị ý hỏi thân mật như hả nhưng có sắc thái ân cần, thân thiết, ngọt ngào hơn
Ví dụ: - con mệt lắm hở?
- lá này gọi là xoan đào Tương tư gọi nó thế nào hở em?
- trợ từ hỉ không chỉ được dùng với nghĩa hả, mà còn được dùng với nghĩa như nhỉ
Ví dụ: - vui quá nhỉ = vui quá hỉ
- ở đây gió mát quá nhỉ? = ở đây gió mát quá hỉ?
- trợ từ ha chỉ được dùng trong câu nghi vấn biểu thị ý hỏi thân mật khi nói
mà thôi
Ví dụ: - nó đảo chánh thiệt ha mấy cha? (NT- CXT, 39)
- vậy chớ trên chưa có lịnh ha? (NT – CXT, 40) Các câu hỏi với trợ từ à có thể thay bằng hả, nhưng chỉ có một số câu hỏi có trợ từ
hả có thể thay bằng à
Ví dụ: - chị công tác ở đây à? chị công tác ở đây hả? (+)
- anh giận chị ấy à? Anh giận chị ấy hả? (+)
Trang 33- Trời mát đi chơi vui quá hả? trời mát đi chơi vui quá à? (-) (HBC- YVT, 173)
- Liệu cháu có sao không hả chị? liệu cháu có sao không à chị ? (-)
À và hả có thể cùng có sắc thái thân mật, nhưng à hướng về cách dùng lịch sự, lễ
độ, còn hả thì theo hương ngược lại, từ thân mật đến thân mật, suồng sã/ kém lịch sự, lễ
độ
Hả cũng đi kèm với các từ nghi vấn khác như ; sao không, đâu, gì, thế… tất nhiên lúc này vai trò tạo dạng câu nghi vấn của hả rất mờ nhạt, “ chủ yếu hả được dùng để tỏ thái độ hoặc để xưng gọi” [ 40, 228]
Ví dụ: - cậu có đi không? cậu có đi không hả?
- đang nghĩ ngợi gì thế? đang nghĩ ngợi gì thế hả?
- mẹ cháu đi đâu? Mẹ cháu đi đâu hả Tuấn?
Hả được dùng trong giao tiếp thông thường hoặc giao tiếp thân mật, vai xã hội của người nói thường là cao hơn hoặc ngang hàng với người nghe (A B) trong giao tiếp thân mật có thể dùng hả để nói với người ở bậc trên mình, sau hả phải có từ xưng hô gọi người đối thoại nếu không sẽ bị xem là thiếu lễ độ
Ví dụ: Con hỏi ba: - Má con đi đi đâu hả? (-)
- Má con đi đâu hả ba? (+) Cháu hỏi bà: - thế con miu của chú có sao không hả bà? (+) ( NĐT – CTCMC)
- thế con miu của cháu co sao không hả? (-)
8 Hén ( hen)
Trong phương ngữ Nam Bộ, trợ từ hén(hen) được dùng để biểu thị ý như muốn hỏi với hàm ý mong mỏi, chờ đợi người đối thoại tán thành ý kiến, đề nghị của mình
Ví dụ: - anh ba nghề bắn máy bay hén má? ( NT- CXT)
- ngày mai tụi mình đi xúc tép hen?
- má cho con đi hén má? ( LVT – TNCL) Nếu bỏ đi các trợ từ hén (hen) đứng ở cuối câu, các phát ngôn trên chỉ đơn thuần nêu lên một ý kiến của người nói mà không thể hiện mộ sắc thái biểu cảm nào (Anh ba nghề bắn máy bay/ Ngày mai tụi mình đi xúc tép/ Má cho con đi) Chính sự có mặt của các trợ từ hén, hen đã biến các phát ngôn trên trở thành câu hỏi hoặc ngang ý hỏi, có tính
Trang 34chất hướng đến người đối ngoại, tỏ ý mong mỏi ở người nghe một thái độ đồng tình Câu trả lời thích ứng nhất với loại phát ngôn này là câu trả lời tán thành ( ừ, đồng ý…) tuy nhiên khả năng trả lời phủ định vẫn có
Trong phương ngữ nam Bộ còn có các trợ từ nghe, nghen được dùng tương tự như hén (hen) chúng có khả năng thay thế cho nhau trong nhiều trường hợp
Ví dụ: - con cho heo ăn cơm cháy hen má? con cho heo ăn cơm cháy nghen má? (NDT – ƠXTN, 149)
- thôi, tôi đi hen anh? thôi, tôi đi nghen anh? (AD9- HĐ, 151) Tuy nhiên hén (hen) có khả năng được dùng trong các phát ngôn nêu lên một nhận xét của người nói ( phát ngôn này hướng đến người nghe, chờ đợi câu trả lời biểu thị thái
độ đồng tình), còn các trợ từ nghe, nghen không có khả năng này
Ví dụ: - chị ấy hát hay quá hén anh? (+) chị ấy hát hay quá nghen ( nghe ) anh? (-)
- lúa tốt thấy mê hén anh? (+) lúa tốt thấy mê nghen ( nghe) anh? (-) Trong trường hợp trên câu hỏi với trợ từ hén tưng thức với câu hỏi chứa trợ từ há( chị ấy hát hay quá anh há?/ Lúa tốt thấy mê anh há?)
So sánh trợ từ hén ( hen) với các trợ từ khác nằm trong mảng ngôn ngữ toàn dân, ta nhận thấy nghãi của chúng tương đương với các trợ từ nhỉ hoặc nhé
Ví dụ: - ngày mai tụi mình đi xúc tép hen? = ngày mai tụi mình đi xúc téo nhé?
- khúc sông này rộng quá hén? = khúc sông này rộng quá nhỉ?
Trợ từ hén ( hen) được dùng trong giao tiếp thân mật, quan hệ vai xã hội giữa người nói và người nghe là A B hoặc A <B, giữa họ thường có quan hệ tình cảm thân thiết
9 không
Ở cương vị một trợ từ dùng để hỏi, không biểu thị ý hỏi về điều có hay không có, đúng hay không đúng, với loại câu hỏi này nội dung trả lời của ngươi nghe hạn định giữa hai khả năng “có” và “không”
Ví dụ : - ( ) em còn đủ tiền trả cho chủ không? (NKC - TTVT, 84 )
- Lúc nãy mẹ con mày ăn cám phải không? ( NC - N )
Trang 35Câu hỏi kết thúc bằng trợ từ không là dạng thức rút gọn của câu hỏi có không; Tuy nhiên , câu hỏi có không nhấn mạnh nhiều hơn đến tình huống có tuy rằng khả năng trả lời vẫn chia đều cho cả hai : Có hoặc không
Ví dụ : - Hai, mày đem đồ cho ông đại diện coi có đúng vậy không? =
- Hai, mày đem đồ cho ông đại diện coi đúng vậy không? ( NT - ƠXTN )
- Em làm thế này có đúng không? = Em làm thế này đúng không?
Không còn kết hợp với các trợ từ khác như nhỉ, hả
Ví dụ : - Cô ấy xinh không hả?
- Con bác ấy đỗ không nhỉ ?
Trong các phát ngôn trên, không đóng vai trò chính trong việc tạo dạng câu hỏi, còn các trợ từ đi sau ( hả, nhỉ ) bổ sung ý nghĩa tình thái cho câu ( biểu thị ý hỏi thân mật hoặc mong muốn người đối thoại giải đáp băn khoăn của mình )
Câu nghi vấn chứa trợ từ không có phạm vi sử dụng rất rộng Nó được dùng trong bối cảnh giao tiếp chính thức, Trang trọng và cả Trong giao tiếp bình thường hoặc thân mật , quan hệ vai xã hội giữa A và B thường là A > B Do vậy, khi giao tiếp với người có
vị thế, thứ bậc lớn hơn, nếu dùng dạng câu hỏi này nên thêm ạ vào cuối câu để thể hiện thái độ tôn trọng người đối thoại- một tiêu chuẩn của lịch sự giao tiếp
Ví dụ : Học sinh hỏi thầy giáo : - Thầy cần gặp lớp phó không ? ( - )
- Thằng Hai làm tới giám đốc lận ?
Trong trường hợp này, trợ từ lận đồng nghĩa với các trợ từ à, kia, kia à, trong ngôn ngữ toàn dân
Ví dụ : - Nhiều dữ vậy lận ? -> Nhiều dữ vậy à ?
Trang 36-Thằng Hai làm tới giám đốc lận ! Thằng Hai làm tới giám đốc kia à?
có nhiều đến thế; nội dung hỏi ; Có đúng là Q nhiều như vậy không ? ) Hai phát ngôn trên chỉ khác nhau (3 một điểm: sự có mặt của trợ từ lận đứng cuối phát ngôn (2) Vậy có thể nói rằng chức năng của trợ từ lận Trong Trường hợp này là tạo dạng câu hỏi và biểu thị thái độ ngạc nhiên của người hỏi
Trợ từ lận còn xuất hiện trong câu hỏi có các từ nghi vấn khác như gì, sao, nào, đầu Khi ấy lận không có vai trò tạo dạng cho câu nghi vấn mà chỉ bổ sung cho phát ngôn các ý nghĩa tình thái
Ví dụ : - Xài giống gì mà bốn năm trăm đồng bạc mới hơn một tháng nay đã tiêu hết lận? ( HBC - CNG 39 )
Ví dụ 1 : - Tôi mai chúng ta đi xem phim nhé ?
(Tình huống phát ngôn: chàng trai nói với người yêu )
Phát ngôn trên chứa đựng một tiền giả định : Tối mai có phim, anh và em có thể đi xem
Nội dung hỏi : Anh muốn đưa em đi xem phim, hẳn là em đồng ý phải không?
Trang 37Khả năng trả lời : -Vâng, lâu rồi em chưa đi xem phim ( 1)
- Không được đâu, tối mai em bận trực cơ quan (2 )
Ví dụ 2 : - Con ăn kem dừa nhé?
(Tình huống phát ngôn : vào quán kem, mẹ hỏi con )
Tiền giả định cuả phát ngốn trên là : Có kem dừa và con có thể ăn
Nội dung hỏi : Mẹ đoán là con thích ăn kem dừa, hẳn là con đồng ý, phải không?
Khả năng trả lời ; - Tuyệt quá, hoan hô mẹ ! (1)
- Không, con ăn kem sầu riêng cơ ( 2 )
Ở các ví dụ trên, các câu trả lời (1) là tích cực đáp ứng yêu cầu của người hỏi (mong muốn được đồng ý ); các câu trả lời (2) là tiêu cực không đáp ứng yêu cầu của người hỏi
Qua đó ta có thể khẳng định: câu hỏi với trợ từ nhé có tình huống tới người đối thoại và yêu cầu một câu trả lời tán thành ( ừ vâng đồng ý ) ( tuy khả năng trả lời phủ định bác bỏ vẫn có nhưng loại câu hỏi này thiên về khả năng được trả lời khẳng định nhiều hơn ) Hành động ngôn trung mà trợ từ nhé đảm nhận là hành động hỏi - cầu khiến
Câu hỏi với nhé được dùng Trong giao tiếp thông thường, thân mật và cả trong giao tiếp nghi lễ trang trọng, nó không bị chi phối bởi quan hệ vai xã hội và quan hệ tình cảm giữa A và B
12 Nhỉ
Khi được dùng để hỏi trợ từ nhỉ có thể mang các sắc thái nghĩa sau :
1 Hiểu thị ý mong muốn được người đối thoại giải đáp các băn khoăn, thắc mắc của mình
Ví dụ : - Tên cô ấy là gì nhỉ ? ( 1 )
- Sao anh ấy chưa đến nhỉ? ( 2 )
Các phát ngôn trên mang tiền giả định : Tôi không biết tên cô ấy (1) / Đã muộn nhưng anh ấy chưa tới ( 2 ) Hàm ý của người nói ở các phát ngôn này là :
Trang 38( 1 ) : Hãy cho tôi biết tên của cô ấy
( 2 ) : Hãy cho tôi biết vì sao anh ấy chưa đến
Thử so sánh hai câu: - Họ đi đâu? (3)
- Họ đi đâu nhỉ ( 4 ) Chúng ta nhận thấy phần nghĩa mệnh đề của hai phát ngôn là như nhau, hành động ngôn trung được thực hiện ở đây là hành động hỏi song với sự có mặt của trợ từ nhỉ câu ( 4 )
đã khiến câu hỏi này mang thêm hàm ý mong đợi một câu trả lời trực tiếp từ người đối thoại
Khi nhỉ đi kèm với các từ nghi vấn khác như: thế, thế nào, đạ, chưa, đã, chưa, không, có…, không, đâu, gì,… nhỉ không có vai trò tạo dạng cho câu nghi vấn, nó chỉ bổ sung cho câu hỏi này tính chất hướng đến người đối thoại và hàm ý mong mỏi, chờ đợi người nghe bày tỏ ý kiến của mình về vấn đề được nêu ra mà thôi
Ví dụ: - anh gặp giám độc chưa? anh gặp giám đốc chưa nhỉ?
- Tay ấy là người thế nào? tay ấy là người thế nào nhỉ?
- Chuyến tàu này có đến đúng giờ không? chuyến tàu này có đến đúng giờ không nhỉ?
2 Nhỉ còn biểu thị ý mỉa mai, khinh thị Lúc này câu hỏi chứa trợ từ nhỉ được phát
âm với ngữ điệu kéo dài hoặc dằn giọng
Ví dụ : - Đẹp mặt nhỉ ?
- Anh to gan nhỉ?
Tiền giả định của các phát ngôn này là : B đã làm một việc gì hoặc có một hành động nào đó mà A cho là xấu xa, liều lĩnh Câu hỏi của A mang hàm ý phê phán, mỉa mai hành động của B
Nhỉ được dùng trong giao tiếp thông thường và giao tiếp thân mật, vai xã hội của A
B , quan hệ tình cảm giữa A và B là gần gũi, thân tình
13 Phỏng
Là hình thức rút gọn của phải không, phỏng được dùng đ6ẻ biểu thị ý như muốn hỏi, mức độ nghi vấn của loại câu hỏi này không cao lắm
Trang 3914 Sao
Khi được dùng để tạo dạng câu nghi vấn, trợ từ sao bổ sung cho phát ngôn các sắc thái nghĩa sau :
1 biểu thị ý hỏi với sắc thái ngạc nhiên
2 Ví dụ : - Anh cũng đi sao ? (1)
(tình huống giao tiếp : A trông thấy B chuẩn bị đi )
- Bác ấy về quê rồi sao? (2)
(Tình huống giao tiếp : thông báo với A bác ấy đã về quê )
- Việc ấy mà anh chưa biết sao ? (3)
(Tình huống giao tiếp : H tỏ ra chưa biết gì về việc ấy )
Các phát ngôn trên mang tiền giả định : Anh không đi (1) / Bác ấy chưa về Quê (2) / Anh đã biết việc ấy (3)
Nội dung được hỏi trong các phát ngôn trên là trái với các tiền giả định của người nói, đối tượng được hỏi đã thông báo hay làm mội việc gì khiến cho người nói ngạc nhiên
Câu trả lời phù hợp với các phát ngôn trên là câu trả lời khẳng định (ừ, vâng ) Khả năng được trả lời khẳng định của loại câu hỏi này là lớn hơn so với khả năng được trả lời khẳng định của câu hỏi có – không
2 biểu thị ý hỏi với hàm ý mỉa mai, phê phán
Trang 40Ví dụ : - Anh chưa chết bờ, chết bụi sao? ( Tình huống phát ngôn : ông bố quát cậu con trai say rượu đang lảo đảo đi vào nhà)
- mày còn biết đường về nhà sao?
( tình huống phát ngôn : anh quát em đi chơi về muộn)
Ở các phát ngôn trên người hỏi có ý đưa ra một tiền giả định xấu, trái ngược với hiện thực để mỉa mai, chê trách người nghe Trong trường hợp này câu hỏi với trợ từ sao được phát âm với ngữ điệu gằn giọng
3 Hỏi nhưng thật ra là để khẳng định
Ví dụ : - Chị tưởng em không biết xấu hổ sao?
( Hàm ý : em cảm thấy xấu hổ )
- Con khổ, mẹ vui được sao? (Hàm ý : mẹ buồn khổ )
Hành động ngôn trung được thực hiện ở những phát ngôn này là hành động khẳng định
Câu nghi vấn với trợ từ sao được dùng Trong giao tiếp thông thường và giao tiếp thân mật nó hầu như không bị chi phối bởi quan hệ vai xã hội và quan hệ tình cảm giữa người nói và người nghe
15 ư
Ở cương vị một trợ từ dùng để hỏi trợ từ ư có thể mang các sắc thái nghĩa sau :
1 biểu thị ý hỏi với hàm ý bản khoăn, hơi lấy làm lạ
Ví dụ : - Bé mới sài, chứ lên năm rồi còn sài ư? ( NC - NM ) (1)
- Nhiều đây ư em, mấy tuổi rồi ? ( TH - MT )
Có thể diễn giải phát ngôn (1) như sau : Phát ngôn hàm chứa tiền giả định ; Cháu bé lên năm bị sài ; thực tế ấy khác với suy nghĩ vốn có của người nói Trợ từ ư Trong phát ngôn tỏ thái độ lấy làm lạ và thắc mắc của người nói
2.trợ từ ư còn được dùng dùng những câu hỏi hiểu thị thái độ ngạc nhiên trước một
sự việc đột xuất, bất ngờ Sự việc này người nói đã biết nhưng chưa đủ để tin, hoặc không thể tin vì quá khác thường, được nêu ra như để hỏi lại người đối thoại hoặc để tự hỏi mình